Tin tức ngày nay (Lê Thị Tám và Lê Kim Chung)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa một trong những người bạn thân và có ảnh hưởng nhiều đến nền ca nhạc Trung Học Hà Tiên là bạn Lê Công Hưởng. Lê Công Hưởng nhà ở đường Đống Đa, phía sau Trường Tiểu Học Hà Tiên.. Bạn Hưởng có người anh trai tên là anh Lê Kim Chung và cô em gái tên là Lê Thị Tám.

Lê Thị Tám vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên và cũng có một thời gian làm việc thơ ký tại trường Trung Học Hà Tiên nầy (khoảng từ năm 1973). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hiện Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Nhân dịp Lê Thị Tám có tổ chức đám cưới dâu cho con trai (trong những ngày hôm nay 19 và 20/07/2019), người bạn học cùng lớp với Lê Thị Tám là Huỳnh Ngọc Tuyết có đi dự lễ (tại nhà riêng đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), do đó bạn Huỳnh Ngọc Tuyết có nhã ý chia sẻ hình ảnh bạn Lê Thị Tám hiện nay cho chúng ta biết. Nhân tiện cũng có hình của anh Lê Kim Chung, anh Lê Kim Chung, anh của bạn Hưởng ngày xưa, anh Chung học cùng lớp với anh Đỗ Thành Tâm, Lâm Hữu Dư (1960-1961: lớp Đệ Thất). Được biết tin hiện tại là anh Lê Kim Chung sinh sống ở Tịnh Biên (Châu Đốc).

Lê Thị Tám (em gái của bạn Lê Công Hưởng), hiện Tám sinh sống tại đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

LeKimChung_2019.jpg

Anh Lê Kim Chung (anh trai của bạn Lê Công Hưởng), anh Lê Kim Chung ngày xưa là học sinh Trung Học Hà Tiên, hiện anh sinh sống tại Tịnh Biên (Châu Đốc). Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », chân thành cám ơn bạn Huỳnh Ngọc Tuyết đã đóng góp thông tin và chia sẻ hình ảnh cho bài viết nầy. (TVM)

Publicités

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay mình sẽ kể một câu chuyện vui:  Đầu tiên thì một bên đã định cư ở nước Pháp nầy từ những năm đầu của thập niên 80, còn một bên thì định cư ở Pháp vào những năm giữa thập niên 80…cùng ở ngoại ô thủ đô Paris mà rốt cuộc không hay biết gì cả…Mấy chục năm trôi qua, nhờ vừa rồi có bài vở, hình ảnh và clip nói về cuộc họp mặt của Hội Đồng Hương Hà Tiên, người nầy nhìn ra người kia,…thật là hay và rất quý. Số là vì mình có giới thiệu cho quý hội viên đồng hương Hà Tiên xem bài vở và hình ảnh trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của mình, rốt cuộc có người chị ở Hà Tiên ngày xưa nhìn ra hình mình và đã liên lạc được với nhau. Đó là chị Tô Thanh Phượng, chị Phượng là chị của bạn Tô Vĩnh Tuấn, bạn Tô Vĩnh Tuấn là bạn học cùng lớp các các bạn « Đệ Tứ Quốc Tế »: Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trang Lệ Thủy,….và còn nhiều bạn khác nữa…Ngày xưa nhà của chị Phương và Tuấn ở đường bến Trần Hầu, nhìn ra Đài Kỷ Niệm, gần quán nhà của Nguyễn Thúy Vân đó…Má của chị Phượng và Tuấn là cô Loan, ngày xưa thường hay giữ tiệm thuốc tây Thanh Bình, bạn nào ngày xưa có mua thuốc tây ở tiệm Thanh Bình thì sẽ nhớ rỏ. Ngày xưa tuy mình và Tô Vĩnh Tuấn học khác lớp (hai người học cách nhau một lớp) nhưng cũng có một thời gian mình và Tuấn cũng thường đi chơi với nhau. Chị Tô Thanh Phượng thì thuộc thế hệ đàn chị của Trung Học Hà Tiên, chị học trên mình rất nhiều lớp, chị Phượng học ở Trung Học Hà Tiên vài năm rồi sau đó chị lên Sài Gòn tiếp tục học và sau đó về sinh sống với gia đình ở Long Xuyên.

Khi đã liên lạc được với nhau rồi, chị có nhã ý mời mình và Ngọc Tiếng đến nhà chị chơi, chị khao cho một bữa cơm có rất nhiều món ăn độc đáo đầy hương vị quê hương Hà Tiên: canh nấm tràm, mấm chưng, ăn tráng miệng thì có món « xôi nước » và các loại trái cây,…Tất cả đều do chính tay chị làm nấu nướng ra, nguyên liệu nấm tràm và mấm thì chính gốc ở Việt Nam (Hà Tiên) đem qua…Bữa ăn rất ngon, hòa lẫn với niềm vui được gặp lại người đồng hương, đồng trường nên mọi người rất vui vẻ, rất mến nhau, cùng nhắc lại chuyện ngày xưa và những người quen biết ở Hà Tiên. Qua bài viết nầy mình xin gởi đến chị Tô Thanh Phượng lời cám ơn và lòng cảm kích sự tiếp đón thân tình của chị và công khó của chị đã bỏ thời giờ chuẩn bị các món ăn ngon.

Vì mình vốn là « con mọt » hình ảnh Hà Tiên xưa nên cũng không quên hỏi thăm chị xem chị có còn giữ một số hình ảnh ngày xưa, thời đi học hay không…Chị vui vẻ mở ra xem vài tập hình ảnh cũ và cuối cùng mình cũng được phép chị chia sẻ vài hình ảnh để thầy cô và các bạn xem lại để nhớ thầy cô và bạn xưa.

Chị Tô Thanh Phượng

Ngoài ra chị Tô Thanh Phượng còn có vài tấm hình thầy cô thời Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên như sau đây:

H1: Bức hình xưa chụp trước ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đường Mạc Công Du, thầy đứng giữa hình là thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, từ trái qua phải: chị Nguyệt (con của thầy Trịnh Học Ký, em của các anh Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng), kế là chị Lâm Xuân Hương (chị Chín Hương chị của chị Lâm Xuân Cúc), thứ nhì bìa bên phải là chị Tô Thanh Phượng. Còn các vị thầy và học trò khác thì không nhìn ra.

H2: Bức hình nầy hình như chụp ở Đài Kỹ Niệm Hà Tiên, phía sau là chiếc tàu của Quan Thuế Hà Tiên, xa xa là Pháo Đài. Bìa phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy Lý Hóa Trung Học Hà Tiên xưa), cô mang kiếng đen quần áo trắng là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa), đứng bìa trái là anh Đỗ Thành Tâm.

H3: Hình như bức hình chụp ở bãi Mũi Nai Hà Tiên, cô trong hình hình như là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

H4: Hình thầy cô và học sinh đi chơi bãi biển Hà Tiên, người mặc áo đen có thể là thầy Bùi Hữu Trí (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm..Trần Văn Mãnh, chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (07/2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm.. chị Tô Thanh Phượng và Trần Văn Mãnh (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa qua buổi họp Hội Đồng Hương Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, qua hình ảnh những lần gặp gỡ trong các buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên ở tiểu bang California do cô Tiền Ngọc Thanh tổ chức (điển hình là vào năm 2017…) mình thấy đó quả thật là một dịp thuận tiện để cùng một lúc gặp lại thầy cô và bạn bè rất là vui…Vì thế trong đầu óc mình nảy ra ý nghĩ là tại sao mình không tham dự một lần ngày họp Hội Đồng Hương Hà Tiên vào năm 2019 nầy đây…Quyết định xong, bàn với Ngọc Tiếng thì hai đứa đều đồng ý là mình sẽ làm một chuyến đi Mỹ tới đây để dự ngày Hội Đồng Hương Hà Tiên…Sau đó mình có thông báo cho cô Tiền Ngọc Thanh biết ý định và cô cũng rất vui khi biết tin nầy…Lúc trước Ngọc Tiếng có người anh ruột ở thành phố Anaheim (thuộc tiểu bang California) mình và Ngọc Tiếng cũng đã có nhiều lần đến thăm nhà người anh ở đây…Tuy nhiên hiện tại gia đình người anh của Ngọc Tiếng không còn ở Anaheim nữa nên mình tỏ ý với cô Thanh là chưa biết sẽ trú ngụ tại đâu khi sang đó,..cô Thanh có nhã ý đề nghị hai vợ chồng mình ở ngay nhà cô ở thành phố Duarte thuộc tiểu bang California trong thời gian qua Mỹ dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, thật là may mắn, mình và Ngọc Tiếng cám ơn sự giúp đở rất tử tế của cô Thanh…

Chuẩn bị xong xuôi, ngày lên đường đến rồi, theo lịch của Hội thì ngày họp mặt là ngày chúa nhật 09/06/2019, mình quyết định đi qua Mỹ một tuần lễ từ ngày 06/06/2019 đến ngày 12/06/2019…Trước khi đi cũng có liên lạc với cô Thanh và một số bạn bè bên đó để thông báo cho biết sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt, bạn bè ai nấy cũng đều rất vui mừng, trông ngóng cho đến ngày họp để gặp tụi mình, vì dù là đã giao tiếp với nhau rất chặc chẻ trên mạng fb nhưng đã rất lâu rồi, có hơn vài chục năm chưa hề gặp lại nhau, có người thì mình chỉ biết qua hình ảnh, tuy là cùng quê hương Hà Tiên nhưng chưa bao giờ diện kiến…Ai nấy đều rất nôn nóng được gặp lại nhau…

Chuyến bay đưa mình và Ngọc Tiếng đáp xuống phi trường Los Angeles (LAX) có trể hơn dự báo khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, theo cô Thanh thông tin, có người bạn gái cùng trường là Trang Lệ Thủy sẽ cùng với cô Thanh đón mình và Ngọc Tiếng tại phi trường…Hai đứa đẩy va li ra ngoài cửa phi trường, trông ngóng vào đám đông người đang vây chật cả lối ra để tìm người thân nhân, sao mình chưa thấy cô và bạn Lệ Thủy, đang cố bắt vào mạng wifi của phi trường trên chiếc phone di động của mình, có lúc vô được mạng wifi, có lúc lại bị đứt mạng…để đánh tin cho cô biết là mình và Ngọc Tiếng đang đứng chờ cô và Thủy trước phía cửa ra. Loay hoay một lúc sau cũng liên lạc được với nhau, cô bảo mình cứ đứng tại chỗ chờ và bạn Lệ Thủy sẽ đến tìm mình…Nhìn qua nhìn lại đám đông người thì may thay như một phép mầu, mình thấy rỏ ràng Trang Lệ Thủy đang đi nhanh đến, mặc dù là mình và Lệ Thủy đã không gặp lại nhau có hơn 50 năm rồi, nhưng không biết sao mình vẫn nhận ra ngay bạn Thủy, mình kêu to …Thủy… Thủy…Mừng quá thế là thoát nạn khỏi bơ vơ tại phi trường rộng lớn có tầm vóc quốc tế nầy…(mình nhìn ra Lệ Thủy có lẽ là tại vì dù sau bao nhiêu năm rồi nhưng Lệ Thủy vẫn còn giữ được nét trẻ trung ngày xưa nên khi thấy thì đã nhận ra ngay…).

Thế rồi cả nhóm đi lại nơi gặp cô Tiền Ngọc Thanh đang ngồi nghỉ chân nơi một băng ghế trong phi trường, đi bộ ra nơi Thủy đậu xe và sau đó lên đường, cô bạn gái ngày xưa nay đã mạnh dạn trở thành một người địa phương lái xe chạy phon phon…làm cho mình và Ngọc Tiếng rất khâm phục…Xin ghi lại nơi đây lòng cảm ơn và cảm kích sự giúp đở của cô Thanh và bạn Lệ Thủy.

Trên đường về nhà cô Thanh để ổn định nơi ở thì Lệ Thủy đề nghị ghé qua nhà Thủy thăm gia đình Thủy và cũng nghỉ ngơi uống nước…Xe đến nhà Thủy thì mình lại được có dịp biết và chào hỏi thăm sức khỏe má của Thủy. Chẵng những Lệ Thủy đón tiếp nồng nhiệt vui vẻ mà bạn còn chuẩn bị một chiếc bánh có khắc dòng chữ phía trên « Welcome Patrice & Sylvie »….Thủy thật là chu đáo và tế nhị…

Trong thời gian chuẩn bị đến ngày 09/06/2019 ngày chánh thức họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, Thủy và cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đi chơi và thăm vài người bạn học cùng trường. Lần đầu tiên được gặp lại người đẹp của Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa sau hơn 50 năm, đó là bạn Mai Thị Ngọc Minh, với phu quân là anh Tiền Hữu Lộc, anh Lộc và Ngọc Minh tiếp đón mình và Ngọc Tiếng rất chân thành, vui vẻ, nồng nhiệt tại nhà riêng cùng có mặt cô Thanh (chính là em gái của anh Lộc) và Lệ Thủy. Nói thật gặp lại các bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp mình rất xúc động, phải nói là cảm động…Mình nhận thấy Ngọc Minh ngày nay rất yêu đời, tính tình giản dị, cởi mở và rất hài hòa với mọi người…Cả nhóm cùng đi chơi ra khu phố Little Saigon, khu chợ Phước Lộc Thọ cùng chụp hình chung với nhau để ghi lại phút hội ngộ…Buổi chiều Lệ Thủy mời mọi người đến ăn chiều tại một quán ăn do người em của Thủy vừa mới mở ra, đó là quán ăn đặc biệt về các món ăn biển rất ngon…

Trong thời gian nầy mình cũng có dịp gặp vợ chồng em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh, em Sáu là em gái của bạn Huỳnh Văn Năm, Năm là bạn học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên). Em Sáu cùng với phu quân là Hoàng (người Rạch Giá) rất vui vẻ, tử tế, mời cả nhóm mình đi ăn DimSum (một loại ăn vừa điểm tâm vừa ăn trưa…) tại một nhà hàng lớn ở California, thức ăn có rất nhiều món, tha hồ mà chọn lựa…Sau đó nhân dịp họp mặt như thế, cả nhóm cùng đi đến nhà thầy cô Võ Thành Tường cũng không xa nơi đó..Đến nhà thầy cô Võ Thành Tường, đó là dịp mình gặp lại thầy Tường sau hơn 50 năm, tuy là mình không có học với thầy Tường, nhưng mình biết thầy từ lúc thầy và người em thầy là thầy Võ Thành Tài cùng ở tại căn biệt thự của Ông Bày đường Bạch Đằng Hà Tiên, xéo xéo nhà mình..Lúc đó quý thầy đang dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, thời gian nầy mình còn chưa vào bậc Trung Học, anh Trần Văn Dõng thì mới vào lớp đệ thất (khoảng năm 1964…). Trái với sự tưởng tượng của mình trước đó, thầy cô Võ Thành Tường rất cởi mở, giản dị và rất gần gủi, thầy cô tiếp chuyện với mình một cách rất vui vẻ, nhắc lại chuyện xưa ở Hà Tiên, mình có nói với thầy lời thăm hỏi của chị Dương Hồng Châu nhờ mình chuyển đến thầy, sau đó thầy còn kêu điện thoại cho thầy Võ Thành Tài (thầy Tài có dạy lớp mình môn Pháp văn lúc mình học lớp đệ thất) và thầy Tài và mình có nói chuyện với nhau qua điện thoại. Thầy Võ Thành Tài cùng gia đinh cũng đang ở Mỹ, tiểu bang California, tuy thầy rất ít liên lạc với thầy cô và học trò Hà Tiên, nhưng thầy Tài cũng còn nhớ rất nhiều thời gian thầy còn dạy học ở Hà Tiên. Điều rất thú vị là khi thầy Tường hỏi thầy Tài còn nhớ mình hay không thì thầy Tài nói còn nhớ rất rỏ, thầy nói phải hai cậu tây lai ở Hà Tiên đó không .!!! Điều nầy làm cho mình rất cảm động và rất vui vì thầy Tài vẫn còn nhớ đến hai anh em mình…

Vì lúc nào cũng mang tinh thần sưu tầm hình xưa Trung Học Hà Tiên nên mình cũng có hỏi thầy Tường còn giữ hình xưa lúc còn dạy ở Hà Tiên, thầy bảo cô lấy vài album hình xưa ra xem chung, thừa lúc như vậy mình xin phép thầy Tường chụp lại được vài bức ảnh của thầy ngày xưa. Thầy cô Võ Thành Tường có hai người con, một gái và một trai, người con trai ở với thầy cô lúc nầy tên là Tấn, em Tấn cũng rất vui vẻ góp chuyện trò rất phấn khởi trong buổi viếng thăm đó.

Thầy Võ Thành Tường đang giảng bài trên lớp trong những năm 60…

Thầy Võ Thành Tường sau khi rời khỏi Trường Trung Học Hà Tiên (sau những năm 60)

Tính sổ qua lại thì còn có hai người mình chưa được gặp trước khi ngày họp mặt diễn ra, đó là anh Lâm Hữu Dư và phu nhân là bạn Lê Mai Hoa (bạn Lê Mai Hoa là bạn học chung lớp với mình từ lúc đệ thất, và sau đó thì Mai Hoa theo gia đinh ba mẹ về Rạch Giá học). Nghe thầy Tường nói là chiều ngày hôm đó anh chị Dư và Mai Hoa sẽ đến nhà thầy Tường nghỉ để ngày hôm sau cùng đi với thầy cô dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên…Vì phải về sớm theo chương trình dự định chung nên mình chưa được gặp anh Dư và Mai Hoa ngay hôm đó, thôi thì để đến ngày họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên thì sẽ gặp chung tất cả mọi người…

Buổi tối thật là đặc biệt vì cô Tiền Ngọc Thanh có mời mình và Ngọc Tiếng cùng với Lệ Thủy đến dự buổi họp mặt toàn bộ gia đình họ Tiền, nhân dịp nầy mình mới được gặp lại anh Huỳnh Văn Quang, một người anh và láng giềng rất thân quen với gia đình mình ở Hà Tiên vì nhà anh Quang ở cách nhà mình một căn mà thôi trên đường Bạch Đằng Hà Tiên. Anh Huỳnh Văn Quang là anh của hai bạn Huỳnh Văn Bé, Huỳnh Văn Bền ngày xưa…). Qua sự gặp gỡ nầy anh Quang có giới thiệu phu nhân của anh là chị Linh, hai ông bà hiện đang quản lý một tiệm bánh chuyên sản xuất các loại bánh Trung Thu rất lớn và nổi tiếng tại thành phố Los Angeles…Trong buổi họp mặt gia đình họ Tiền, đó là dịp mừng sinh nhật của bạn Tiền Hữu Đạt, em trai của cô Thanh, trong dịp nầy mình được gặp lại Tiền Ngọc Dung, từ bên Pháp qua đây, được biết thêm hai cô em gái của Dung là Tiền Ngọc Liên và Tiền Ngọc Ánh. Mình cũng được gặp lại bạn Tiền Hữu Minh mà mình đã biết từ ngày xưa, Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng.., được gặp lại anh Tiền Hữu Phát, anh Phát học chung lớp với chị Huỳnh Thị Kim người chị bạn dì với mình, nhân dịp nầy mình cũng có chuyển lời thăm hỏi về anh Phát của chị Kim nhờ mình chuyển lại. Buổi tối họp mặt và cùng ăn mừng sinh nhật nầy rất là vui…Buổi họp mặt có đầy đủ tất cả từ anh hai chị hai Tiền Hữu Lộc và Mai Thị Ngọc Minh cho đến các người em trai gái trong gia đình họ Tiền, chỉ thiếu có em Tiền Ngọc Hương (Holly Tien), được biết em Tiền Ngọc Hương có việc riêng phải đi xa nên không đến dự được…

Rốt cuộc ngày họp mặt Hội Đồng Hương 09/06/2019 đã đến, buổi sáng đó cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đến khu vườn của thành phố Garden Grove, nơi hội chọn để làm nơi gặp gỡ người đồng hương Hà Tiên…Thật tình mà nói mình cũng rất hồi hộp…Trong lúc cô tìm chỗ đậu xe thì mình cũng đã thấy quang cảnh trong khu căn nhà rộng lớn nơi đã có rất đông người đến trước rồi…Khi đi vào căn nhà hội họp thì mình thấy từ xa bạn Mai Hoa đã nhìn ra Ngọc Tiếng (theo lời Ngọc Tiếng kể lại thì Mai Hoa nói …đây là chị Tiếng đây rồi….!!), mình cũng nhìn thấy bạn La Văn Cao từ trong chạy ra bắt tay chào mừng, gặp lại lần lượt rất nhiều người bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp, có người từng học chung ngay từ bậc Tiểu Học…

Gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Hoàng thị Minh Liên cùng phu quân là nhà điêu khắc Ngô Hoàng Minh, hai bạn Hồ Thị Kim Hoàn và phu quân là anh Xuân, Hồ Thị KIm Yến, Hồ Thị Kim Phượng, cũng gặp được em Dương Thị Phương Hà cùng phu quân Phan An, Nguyệt Đường cùng người chị là chị Tuyết, gặp được Hồ Thị Kim Nga và phu quân là anh Lâm Văn Có cũng là người Hà Tiên…Gặp chị Chín Hương và quý cô con gái Diệu Khanh, Minh Thu …Đặc biệt là nhờ có sự nhắc nhở của em Huỳnh Thị Sáu, trong chuyến họp mặt nầy mình được gặp anh Giang Văn Thân là một người anh và người thầy dạy kèm hai anh em Dõng Mãnh ngày xưa khi còn học ở bậc Tiểu Học, anh Giang Văn Thân là bạn thân của người anh bạn dì với mình là anh Lê Quang Chánh, hai người học cùng lớp thời Trung Học, anh Giang Văn Thân đến họp mặt cùng với phu nhân của anh là chị Đỗ Ngọc Điệp, người Long Xuyên và sau khi tiếp xúc nói chuyện, Ngọc Tiếng cũng có quen biết gia đình của chị Điệp thời xưa ở Long Xuyên. Nhân dịp nầy mình cũng được gặp và biết hai đàn chị trong thời Trung Học Hà Tiên, học trò của thầy Võ Thành Tường, đó là hai chị Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (chị Liềm là em của chị Lý Thị Lắc còn ở Hà Tiên hiện nay). Gặp em Lâm Mỹ Nga và người mẹ (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa). Lần đầu tiên được gặp và biết mặt vợ chồng em Lê Quang Thùy (con của thầy Lê Quang Thuyên, cháu của thầy Lê Quang Khanh), và vợ chồng bạn Hồ Anh Dũng (Dũng là con của bác Âu Tư có tiệm bánh kẹo trước nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa, Hồ Anh Dũng là một trong những người có nhiều hình ảnh xưa của phố chợ Hà Tiên, nhân dịp nầy mình cũng được hân hạnh biết phu nhân của bạn Dũng, là một người rất xinh đẹp…), cùng lúc nầy mình được quen biết vợ chồng anh Sủng, chị Phương, quý bạn nầy rất vui vẻ, nồng nhiệt và cho mình biết đều là đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »…Trong dịp nầy, qua sự giới thiệu của cô Thanh, mình biết được anh Vương Bình Thành, là anh của hai bạn Vương Bình Phước (học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên) và Vương Bình Lộc, anh Thành cũng là học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, anh đến dự buổi họp mặt với phu nhân là chị Dung, chị Dung rất vui tánh …Được biết bạn Mong Đức Kiết chính là em của Mong Đức Hưng và Mong Đức Thạnh, biết được em Tăng Thu Hiền là em của Tăng Thu Hồng (Tăng Thu Hồng là một trong những giọng ca ngày xưa của Trung Học Hà Tiên, trong nhóm chơi nhạc với mình…). Còn được gặp rất nhiều người Hà Tiên, nhưng mình chưa được hân hạnh biết trước, và cũng không biết là có phải là những người cựu học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa hay không…Đặc biệt mình có nói chuyện với anh Đại, anh Đại là người con trai của ông bà Phán Cơ, ngày xưa mình và Lý Mạnh Thường rất thường xuyên ghé chơi lại nhà bác Phán Cơ đường Tô Châu gần phía sau chùa Bà Mã Châu,…Bác Phán Cơ thường mời mình và bạn Mạnh Thường vào nhà bác chơi, để bác thực hành đàn orgue và accordéon đệm nhạc cho Mạnh Thường hát…Có điều rất tiếc là trong lúc chụp hình sôi nổi, mình không có được một bức hình với anh Đại.

Trong lúc mở đầu buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, những vị trong ban quản lý cũng có đọc lên một vài bản diễn văn, đại khái nói về sinh hoạt của hội và giới thiệu các thành phần trong ban quản lý. Nhân dịp nầy cô Tiền Ngọc Thanh có giới thiệu với mọi người lý do sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt năm nay…và sau đó mình xin phép nói một vài cảm nghĩ cá nhân…Cô Thanh có nói cho mình biết trước nên hôm trước đó mình có chuẩn bị một vài ý cho bài « phát biểu » nầy, xin ghi lại đây cho quý vị đọc qua nhé,..

 » Kính thưa quý thầy cô, quý vị và các bạn, cho phép mình mượn giây phút nói chuyện ngắn ngủi nầy gởi lời cám ơn đến cô Thanh Lưu đã tạo điều kiện lưu trú và di chuyển tốt đẹp, cám ơn người bạn gái ngày xưa nhà ở cùng đường, học cùng trường Trung Học Hà Tiên là Trang Lệ Thủy có hai bàn tay nhiệm mầu đã biến những khoảng không gian rộng lớn, những con đường xinh đẹp của phố xá California trở thành ngắn ngủi và thật gần đưa mình đến gặp lại những người bạn thân thương ngày xưa. Một cách tổng quát, xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ, thật lòng đón tiếp chẳng những trong những ngày vừa qua mà còn trong những ngày ngắn ngủi sắp tới cho đến khi chia tay…Đù không bao giờ dám nhận là hậu duệ của những thi nhân Chiêu Anh Các ngày xưa, nhưng mình cũng ao ước có lần bước ra Thụ Đức Hiên, ngẫu hứng thảo vài hàng, trong khi chờ đợi giấc mơ đó chắc chắn là sẽ không bao giờ thực hiện , cho phép mình ngỏ ý, tỏ lòng trong vài câu viết vội:

Trời Cali hôm nay bao nhiêu nắng
Bấy niềm vui chứa chất ngập lòng tôi
Hà Tiên ơi dù xa người năm tháng
Vẫn chảy hoài một dòng nhớ không thôi…..
Và vì là người Hà Tiên, mình chắc chắn rằng các bạn sẽ trả lời được dễ dàng 4 câu hỏi sau đây:
Con đường nào đua tôi về hàng dương?
Con đường nào đưa tôi về hàng dừa?
Con sông nào đưa tôi ra cửa biển?
Dòng nhạc nào đưa tôi đến cô miên?
Xin cám ơn quý thầy cô, quý vị và các bạn. »
Đến đây xin tạm ngưng bài phóng sự về những cuộc hội ngộ giữa thầy cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa…Dĩ nhiên là sau buổi gặp gỡ đó, thời gian dù cho có kéo dài vô tận trong giây phút xiết tay nhau, rồi phải đến lúc chia tay, mọi người nắm tay nhau bịn rịn, vài cái hôn nhè nhẹ để bày tỏ niềm cảm xúc, vài cái vổ vai nhè nhẹ bày tỏ sự thân thiết sẽ còn với thời gian,…sau cùng thì chia tay, mình cảm thấy buổi gặp gỡ sao diễn ra nhanh quá, mọi người đều luyến tiếc phút giây nầy…vài nhóm bạn còn cố ghi lại vài hình ảnh cuối qua chiếc máy ảnh chụp vội vả,…một vài bảng tên của ai đó rót lại trên mặt cỏ xanh…Trong khi ban quản lý và những bạn tình nguyện còn ở lại để tiếp dọn dẹp các thứ vật dụng và gói ghém thức ăn lại, tiếng động cơ của xe hơi bắt đầu nổ vang và thực sự chúng ta đã rời xa khu vườn xinh đẹp với cái gian nhà rộng lớn đã bắt đầu trút vắng người hội họp…Xin hẹn lại năm sau?!! ….Lần tới?!! Không biết có được không, cuộc đời thường dành cho chúng ta nhiều nổi bất ngờ…dù sau riêng mình và Ngọc Tiếng đã được sống qua những giây phút tuyệt đẹp của một tình bạn, tình thầy trò, tình cô trò, mong rằng sau phút chia tay, mọi người về nhà sẽ nhắm mắt sống lại cái giây phút đó và hình ảnh thầy cô bạn bè mà mình đã có may mắn nhìn lại sau nhiều năm xa cách, sẽ ghi đậm hơn nữa trong ký ức…Xin cảm ơn tất cả….
Trần Văn Mãnh , Paris 02/07/2019
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Cô Tiền Ngọc Thanh (áo màu cam), Trang Lệ Thủy (bìa phải) và Trần Văn Mãnh (bìa trái), (06/2019, tại vườn nhà Trang Lệ Thủy, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Trang Lệ Thủy và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại vườn nhà cô Tiền Ngọc Thanh, california, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Mai Thị Ngọc Minh và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại khu phố chợ Phước Lộc Thọ Little Saigon, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50 năm: Thầy Võ Thành Tường và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại nhà thầy cô Võ Thành Tường, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50: Huỳnh Thị Sáu (ngồi bìa phải) và Trần Văn Mãnh (đội nón đứng bìa trái). (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và anh Tiền Hữu Phát (anh Phát học chung lớp với chị Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh THị KIm),  (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm:  trái qua phải: anh Tiền Hữu Phát, Tiền Hữu Đạt, Tiền Hữu Minh (bạn Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), Trần Văn Mãnh, anh Tiền Hữu Lộc và anh Huỳnh Văn Quang (anh Quang ở cách nhà mình một căn, đường Bạch Đằng, Hà Tiên, anh của Huỳnh Văn Bé),  (06/2019, California, Mỹ)
Cô Tiền Ngọc Thanh đang giới thiệu sự có mặt của Trần Văn Mãnh và Nguyễn Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: anh Giang Văn Thân (ngày xưa ở đường Trần Hầu, Hà Tiên, học chung lớp với anh Lê Quang Chánh) và Trần Văn Mãnh, (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: anh Lâm Hữu Dư và phu nhân, bạn Lê Mai Hoa (học chung lớp với mình), (06/2019, California)
Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 40 năm: trái qua phải: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên (em của Hoàng Đức Trung và Hoàng Thu Bình, diện kiến lần đầu tiên) và Lê Mai Hoa (bạn học cùng lớp Đệ Thất Trung Học Hà Tiên xưa), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Hồ Thị Kim Nga (em của Hồ THị KIm Hoàn, diện kiến lần đầu tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và chị Chín Hương (chị của bạn Lâm Xuân Mỹ), (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Phượng, Hồ Thị Kim Nga, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên, Hồ Thị Kim Hoàn, anh Xuân và anh Ngô Hoàng Minh (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: La Văn Cao, Tiền Ngọc Dung và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà (em của Dương Thị Diễm Hà), Nguyễn Ngọc Tiếng, Nguyệt Đường và chị Tuyết (06/2019, California)
Gặp gỡ quý đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » (áo trắng bìa phải: phu nhân của bạn Hồ Anh Dũng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Mẹ của Lâm Mỹ Nga, Lâm Mỹ Nga (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt, Hà Tiên) chị Chí (phu nhân của anh Trần Đại Chí con của thầy Trần Hòa Hùng) và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Gặp gỡ quý chị Trung Học Hà Tiên Xưa: Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (06/2019, California)
Một số học trò xưa chụp hình chung với thầy cô Võ Thành Tường (thầy cô ngồi ghế) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Mong Đức Kiết (em của Mong Đức Hưng và anh Mong Đức Thạnh) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Nga và Trang Lệ THủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hoàng Thị Minh Liên và Trang Lệ Thủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà và Tiền Ngọc Dung (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Tái bút: Thầy cô và các bạn có thể xem thêm hình ảnh ở link sau đây:

Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Gửi bạn Đoàn Kim Minh (Lý Thị Lắc)

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng sống lại nhiều hơn với quá khứ và ký ức của Trường Trung Học Hà Tiên xưa….Thật vậy, mới hai ba hôm nay anh cả của Trường (tạm gọi như vậy nhé…) Trung Học Hà Tiên ngày xưa, anh Đoàn Kim Minh vừa xuất hiện với chúng ta qua sự khám phá và đọc bài trên Blog nầy, anh đã đem đến cho chúng ta nhiều kỷ niệm rất xa xưa, xa xưa đến nổi ngoại trừ những anh chị cao cấp không ai trong chúng ta có thể nhớ lại những câu chuyện do anh Minh kể trong bài viết…May mắn thay, tiếng kêu gọi của Trung Học Hà Tiên xưa đã vang đi khắp nơi, và hôm nay chúng ta hân hạnh đón tiếp một cách thật vui, thật trịnh trọng một cây bút mới, mới với Blog nhưng rất quen thuộc với khung trời Trung Học Hà Tiên ngày xưa…Đó là bài viết của chị Lý Thị Lắc, một người học trò của thời khai sanh ngôi trường Trung Học Hà Tiên,…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay chẳng những để gửi đến người bạn cùng trường lớp năm xưa với chị là anh Đoàn Kim Minh, mà còn viết bài để cho tất cả chúng ta, trước hay sau, cao tuổi hay vẫn còn « tươi trẻ »…biết được những kỷ niệm xa xưa mà chị và quý anh chị ngày xưa đã từng trải nghiệm qua…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay vì chị đã đọc qua bài viết của anh Minh và không thể không viết lên vài hàng chia sẻ cảm xúc. Một trong những người cô đã dạy mình thời Trung Học Hà Tiên, cô Tiền Ngọc Thanh, khi đọc bài của anh Minh viết cũng bồi hồi xúc động, vì hơn ai cả cô Thanh đã thấy trong bài anh Minh có nhắc đến người bạn đời thân yêu của cô năm xưa, cô đã viết nhận xét như sau:

« Cám ơn anh Đoàn Kim Mình. Tôi rất bùi ngùi khì anh nhắc đến Vương Mình Quí người yêu đầu tiên cũng là người chồng của tôi Tiền Ngọc Thanh. Khì ấy tôi còn rất nhỏ nên không biết các bậc đàn anh nhiều. Anh Quí mất rất sớm lúc chưa đầy 30 tuổi. » !! 

Hôm nay, trong bài viết nầy, chị Lý Thị Lắc cũng có nhắc đến thầy Vương Minh Quí, với một tính chất luôn cười vui nên được các bạn đặt cho danh hiệu, mình hoàn toàn không hiểu danh hiệu nầy và cũng không biết Ô.B.K ở gần chùa Năm Ông ngày xưa, mong rằng đó một danh hiệu vui, minh họa được tánh cách yêu đời, hay cười của thầy Quí…, hay cười, yêu đời cho dù thầy Vương Minh Quí đã rời xa cuộc sống một cách quá sớm…

Rồi thời gian cứ trôi qua, trường lớp có còn đó, vẫn « trơ gan cùng tuế nguyệt », cho dù dấu hằn của năm tháng, dấu tàn phá của chiến tranh biên giới, dấu hao mòn của bao nhiêu thế hệ học sinh sinh hoạt ở trường lớp từ lúc các bậc đàn anh, đàn chị rời xa trường mãi mãi,…Các anh chị người thì đi thật xa, người thì còn ở lại Hà Tiên, nhưng dù ở phương trời nào, ta cũng có cái tâm gần nhau, có một khung trời chung trong con tim, đó là khung trời kỷ niệm của Hà Tiên,…và dù cho ta chắc chắn sẽ rời xa trường lớp một lần nữa, lần nầy là vĩnh viễn, hãy tâm đắc với cái triết lý sống « đi về không hứa hẹn, không từ giả, hãy im lặng với vui buồn là đủ…. »  . (TVM viết vài hàng giới thiệu, Paris, 27/04/2019)

GỬI BẠN ĐOÀN KIM MINH (Lý Thị Lắc)

Tôi phải đặt bút viết ngay những dòng cảm xúc khi đọc bài của bạn. Rất cảm ơn đã cho tôi và những bạn học cùng lớp ngày xưa trở lại bao kỷ niệm vàng ngọc thuở ấu thơ. Thương yêu biết mấy tuổi học trò. Nếu không có Patrice Trần sáng lập trang “Trung học Hà Tiên xưa và nay” thì bao kỷ niệm ngày xưa… “tự mình ôm lấy”.

Đọc bài của bạn tôi phục sát đất, bạn nhớ kỹ quá, tài quá. Tôi nghĩ những ai là diễn viên múa trong bài “Gấm vàng” khi đọc những dòng của bạn chắc phải rưng rưng…

Tôi vẫn nhớ bạn rất thân với Vương Minh Quí. Quí lúc nào cũng cười cười, cười cười… Trong lớp mình, Nguyễn Văn Thu (ông xã của Huỳnh Thị Lành, nay đã mất) thường đặt cho mỗi người một “hỗn danh”, thấy Quí cười cười hoài Thu đặt Quí là “Ô.B.K” (Minh có nhớ ở chùa Năm Ông gần nhà máy đèn có Ô.B.K không?). Nói sao cho hết những kỷ niệm thuở học trò.

Còn một chuyện vui này nữa, tôi không biết bạn có bị “cồng sin” trong vụ án ăn cắp dừa nước ở mương đào gần lò vôi trên đường đi Thạch Động không? Hôm đó vào ngày chúa nhật, từ 7h – 9h chúng tôi bị thầy Giám thị Trịnh Học Ký bắt vào lớp “cấm túc” vì người chủ dừa nước thưa lũ học trò phá phách. Đến 9h, hết giờ “ở tù” thầy Giám thị nhỏ nhẹ: “Mấy em được về”. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh thầy Ký há mồm kinh ngạc khi “bọn tù” nhao nhao:

– “Không về! không về! Ai biểu thầy phạt tụi em…”

Chân dung thầy Trịnh Học Ký, dạy môn Thể Dục và là Giám Thị Trường Trung Học Hà Tiên

Ôi, cha mẹ ơi! có bọn tù nào không chịu về khi được thả??? Đúng là “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bạn ạ, sau này chúng tôi thường đi đám giỗ thầy Trịnh Học Ký ở Sóc Trăng, khi cầm nén hương trước thầy tôi thường khấn: “Thầy ơi, xin tha tội cho lũ học trò quỉ quái ngày xưa”.

Bạn Minh ơi,

Thời gian qua nhanh quá, ngày nào chúng ta còn là những cậu bé, cô bé tuổi học trò, vui đùa vô tư trong sân trường Trung Học Hà Tiên mà nay đã là những lão niên tuổi cao sức yếu. Bây giờ, mỗi sáng chúng tôi thường tập dưỡng sinh trước sân nhà thầy Trương Minh Đạt. Trên đường đến sân tập, tôi thường tâm đắc với hai câu thơ:

“… Đi không từ giã, về không hẹn
Câm nín, vui buồn, ai biết đâu…”

Lý Thị Lắc, Hà Tiên, 27.4.2019

Cuộc hội ngộ giữa thầy, cô, học trò Trung Học Hà Tiên vào năm 2016. Hàng ngồi: Thầy cô Võ Thành Tường và thầy Nguyễn Văn Nén. Hàng đứng gữa: bìa trái chị Lý Thị Lắc và cô Nguyễn Thị Sồ, thầy Phan Văn Xuân và anh Đạng Văn Thơm. Phía sau: anh Lập (Hình: Nguyễn Bích Thủy)

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, Nguyễn Bích Thủy

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn chị Lý Thị Lắc đã đóng góp cho chúng ta một bài viết thật hay, đầy kỷ niệm những năm xưa, hy vọng là chị sẽ tiếp tục cho chúng ta đọc những bài viết đầy ký ức của một thời trường Trung Học Hà Tiên.

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…

 

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)