Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Publicités

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi thầy cô hay bạn bè chia tay nhau, mỗi người một ngả tìm phương định hướng tùy theo hoàn cảnh mỗi người, muốn liên lạc lại với nhau cũng hơi khó khăn…Ngày xưa chỉ có phương tiện viết thư cho nhau, trong thư ta cho biết tin tức, có khi kèm theo một vài tấm ảnh trên giấy trắng thật sự…Phương tiện liên lạc ít ỏi như vậy nhưng ta vẫn còn được biết tin nhau…Rồi thời gian trôi qua với biết bao biến cố, vì chiến tranh, vì di tản, vì những cuộc đi tìm một chân trời mới để sinh sống, chúng ta hoàn toàn mất tin nhau, có khi hơn cả vài chục năm không ai biết tin của ai…Những người còn ở lại Hà Tiên thì vẫn tiếp tục mưu sinh, đó là những con người rất thân yêu và rất đáng kính trọng…thầy cô, bạn bè còn đó tuy không còn lui tới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa nữa, nhưng thầy cô và các bạn đó vẫn là những con người rất can đảm, ngày đêm gắn bó với mảnh đất thân yêu Hà Tiên, xin mượn bài viết nầy để nêu lên tấm lòng ngưởng mộ, kính phục thầy cô và các bạn còn mãi mãi với đất Hà Tiên đó…Một số thầy cô và các bạn khác, hoặc là dời đi sinh sống ở các thành phố, tỉnh thành khác nhưng vẫn còn ở trong nước, một số lại lần lượt ra đi, phần lớn để đoàn tụ gia đình đã lập nghiệp ở các nước ngoài: Mỹ, Canada, Pháp, Úc,…Bây giờ tuy đã xa nhau thật sự hàng ngàn dặm nhưng khoa học và những phương tiện truyền thông hiện đại lại đưa chúng ta đến gần, trong một khoảnh khắc chúng ta có thể trao nhau một vài câu viết, cho nhau xem những tấm ảnh kỷ niệm xưa nay,..Thật là may mắn và huyền diệu thay…Mình thuộc vào thế hệ học sinh trung học Hà Tiên vào những năm 1960-1970…cũng như nhiều bạn khác cùng lứa, đã rời trường từ hơn 40 năm nay, phần lớn là để tiếp tục quá trình học vấn, hoặc đi làm việc, có bạn đi nhập ngủ vì con đường học vấn tạm dừng lại,..cũng có bạn lại không may mắn đã ra đi vĩnh viễn, vì một cơn bệnh ngặt nghèo hay càng không may hơn vì một biến cố giữa biển khơi, đành phơi mình trong lòng biển cả…Chứng ta là những người còn ở lại thế gian nầy, tuy xa cách qua không gian, nhưng may mắn được gần gủi nhau qua những trang Face Book, qua những bài viết nhắc nhau kỷ niệm xưa trên Blog,…Vậy chúng ta hãy xem lại hình ảnh của những cuộc hội ngộ nầy dù sau hơn 40 năm trôi qua, tình thầy cô trò, tình bạn vẫn không phai nhạt, diển tả được trên nét mặt, nụ cười trong những hình ảnh sau đây…..(còn nhiều cuộc hội ngộ khác hình ảnh và tin tức vẫn còn nhiều thiếu sót xin thầy cô và các bạn giúp bổ sung thêm nhé)

Xin thông báo thêm là Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên nếu có những cuộc lần đầu tiên hội ngộ lại sau nhiều năm xa cách nhau, xin gởi hình và nêu rỏ thời gian và nơi chốn gặp lại cho Blog  THHTX để đăng tin bổ sung vào trang nầy nhé, xin căm ơn.

Trần Học Quang (bên phải) và Trương Thanh Hào (bên trái) gặp lại nhau vào tháng 4 năm 2012 tại Sài Gòn nhân dịp Quang về thăm nhà Viêt Nam.

Trương Thái Minh và Trần Văn Mãnh (bạn học cùng lớp) gặp lại tại nhà Minh (Hà Tiên) tháng 6 năm 2012

Trương Thanh Hào và Trần Văn Mãnh gặp lại nhân một chuyến du ngoại của Hào tại Paris  tháng 5/2015

Bạn Trương Thanh Hào nhân một chuyến du hành ở nước Mỹ có ghé lại thăm thầy cô Nguyễn Hồng Ẩn (Connecticut, mùa đông 2013.)

Nhân một chuyến đi Mỹ kế tiếp (2016) bạn Trương Thanh Hào lại gặp lại các bạn Trung Học Hà Tiên: Phía trên: trái Hồ Thị Kim Hoàn, phải Trương Thanh Hào, phía dưới: trái Mai Thị Ngọc Minh, phải Trang Lệ Thủy

Năm 2016 cô Võ Kim Loan về thăm Việt Nam và hội ngộ cùng các học trò xưa tại Sài Gòn: Trái qua phải: Trương Thanh Hào, Trần Văn Dõng, Trần Phương Nhu, Hoàng Thị Minh Liên, Cô Võ Kim Loan, Lâm Thị Lan, Trần Tuấn Kiệt

Cũng trong chuyến về thăm Việt nam nầy (2016) hai trong « Tứ Đại Mỹ Nhân » của trung học Hà Tiên xưa gặp lại tại Sài Gòn: Cô Võ Kim Loan và cô Lâm Ngọc Mai

Cô Võ Kim Loan về thăm trường Hà Tiên xưa (2016) và gặp thầy Nguyễn Văn Nén cùng một số học trò xưa.

Tháng 5/2016 hai bạn Trương Thanh Hào và Hà Quốc Hưng gặp lại nhau (sau 40 năm) nhân một chuyến đi Los Angeles (Mỹ) của Hào, ngay vừa lúc Hưng vừa mất người vợ thân yêu…

Tháng 6/2016 nhân một chuyến đi qua Mỹ (Los Angeles), bạn Tiền Ngọc Dung đã có dịp gặp lại bạn Hà Quốc Hưng, người bạn cùng lớp cùng trường Trung Học Hà Tiên hơn 40 năm xưa.

Nhân một chuyến du hành Âu Châu (11/2016) Trang Thanh Sơn và Trần Văn Mãnh đã được gặp lại sau hơn 40 năm rời khỏi trường Hà Tiên xưa.

Nhân chuyến đi từ Âu Châu trở về Mỹ, bạn Trang Thanh Sơn ghé lại thành phố Stamford tiểu bang Connecticut thăm Thầy (Cô) Nguyễn Hồng Ẩn (11/2016)

Nhân một dịp tình cờ biết được địa chỉ của cô Hà Thị Hồng Loan, nhóm học trò xưa liền đến thăm cô sau hơn 40 năm rời trường lớp. (Hóc Môn, Sài Gòn 11/2016): Trương Thanh Hào, Trần Tuấn Kiệt, Cô Hà Thị Hồng Loan, Lâm Thị Lan, Lê Phước Dương.

Sau hơn 40 năm qua, anh Trần Văn Dõng được gặp lại cô Võ Thị Hồng Loan nhân một chuyến đến nhà thăm cô tại Hóc Môn (Sài Gòn, 11/2016)

Nhân một chuyến về thăm Hà Tiên (2017), cô Vương Thị Lành gặp gở các em học trò xưa: Học trò xưa đến mừng cô Vương Thị Lành về quê Hà Tiên. Trái qua phải: Trần Phương Nhu, Nguyễn Thúy Vân, cô Vương Thị Lành, Nguyễn Nguyệt Hồng, đứng: Trần Hoàng Trang, Cẩm Tiên, Tăng Thị Sáu

Sau hơn 40 năm rời trường, cô Dương Thị Minh Hoa gặp lại các học trò thân yêu tại Californie (Mỹ): Bùi Văn Sáu, Đỗ Ngọc Giao, Cô Dương Thị Minh Hoa (áo tím), Tạ Văn Ba (phía sau), Trần Kim Mỹ, Hồ Thị Kim Phượng, Thanh (phía sau), Lâm Mỹ Nga, Tiền Ngọc Hương (mang kính đen), Hồ Thị Kim Hoàn, anh Nguyễn Văn Xuân, Mai Phạm, Phù Ngọc Liên, Tô Văn Hạnh (07/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thanh Hào (Hào học sau anh Sơn hai lớp) hội ngộ tại Sài Gòn sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Đỗ Mùi hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trần Mỹ Quyên hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Lâm Hữu Quyền hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Bùi Văn Tư hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trương Trung Cang hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thái Minh (Minh học sau anh Sơn một lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Tăng Kim Sơn (T. K Sơn học sau anh T.T Sơn hai lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Hình ảnh tuyệt vời của cuộc hội ngộ tại Hà Tiên bạn học Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm xa cách: Trang Thanh Sơn, Trương Trung Cang, Trương Thái Minh, Lâm Hữu Quyền, Bùi Văn Tư và Tăng Kim Sơn. (08/2017)

Tuy cùng ở nước Pháp nhưng hơn 40 năm qua Tiền Ngọc Dung và Trần Văn Mãnh (và bà xả là Nguyễn Ngọc Tiếng) vừa gặp lại nhân một chuyến đi Paris của Dung (09/2017).

Nhân dịp lên Sài Gòn để đưa gia đình Hoàng Thị Minh Liên đi định cư sang Mỹ, các học trò xưa gặp lại cô sau hơn 40 năm xa cách: Hoàng Thị Minh Liên, cô Lâm Ngọc Mai, Dương Mỹ Nữ, Lâm Nguyệt Hồng và Duyên. (02/10/2017)

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Tiền Hữu Minh

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Huynh Thị Chên

Trái: Ngô Ngọc Ánh, phải: Lê Ngọc Ngân. Hai bạn cùng học chung mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Ánh quê ở Tri Tôn, Ngân quê ở Kiên Lương. Tuy cùng học chung dưới mái trường Trung Học Hà Tiên nhưng hai bạn chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời, chỉ là bạn trên fb mà thôi vì cùng là học sinh Trung Học Hà Tiên cả nên làm quen với nhau qua mạng fb. Thế rồi vào tháng 12/2017 tuy mỗi người ở một nơi cách xa nhau trên cùng lục địa Úc Châu hiện nay, (Ánh ở Brisbane, Ngân ở Melbourne) nhân một chuyến đi xem văn nghệ  Thúy Nga Bynight, hai bạn gặp gở nhau thật bất ngờ và cũng rất lý thú…

Cuối năm 2017 gia đình Hoàng Thị Minh Liên xuất cảnh đi Hoa Kỳ, sau đó là cuộc hội ngộ với gia đình Hồ Thị Kim Hoàn, hai bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa: Minh Liên (trái) và Kim Hoàn (phải) đã được gặp lại nhau tháng 12/2017 tại Californie Hoa Kỳ.

Cuối năm 2017, anh Trần Hồng Khanh (áo xanh thứ nhì từ phải sang trái) có về thăm nhà Việt Nam và sẳn dịp có anh Lâm Hữu Dư (bìa phải) cũng về thăm nhà, hai anh có dịp gặp lại nhau và được hội ngộ với thầy Nguyễn Văn Nén (thứ ba từ phải sang trái). Thầy trò gặp lại nhau cũng hơn vài chục năm sau khi xa mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trần Hoàng Trang đứng trên (áo đỏ) cung cấp hình.

Nhân một chuyến đi ngao du sơn thũy trên đất nước cờ hoa, bạn Trương Thanh Hào tìm gặp lại những người bạn học thân mến năm xưa của Trường Trung Học Hà Tiên xưa, xa cách nhau cũng đã hơn vài chục năm, nay gặp lại chỉ biết nói: « Em ơi trái đất vẫn tròn, chúng mình 4 đứa vẫn còn gặp nhau..!! »
(Columbus,OHIO, Hoa Kỳ, tháng tư 2018) Trái qua phải: Hoàng Thanh Liêm, Hoàng Thu Bình, Trương Thanh Hào, Hoàng Đức Trung.

Sau hơn 40 năm từ lúc mỗi người rời Hà Tiên, hai bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa và cũng là bạn trong nhóm ca nhạc của thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70, Trần Văn Mãnh (trái) và Nguyễn Thị Kim Liễu (phải) đã gặp lại nhau nhân một chuyến đi Paris của gia đình Kim Liễu, mặc dù mỗi người đều đinh cư trên một tỉnh của nước Pháp (TVM: Paris, NTKL: Nantes) đã hơn 32 năm nay…

Tuy học chung một trường Trung Học Hà Tiên nhưng Lê Ngọc Ngân (trái) và Nguyễn Bích Thủy (phải) chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời…Nhân một dịp Ngọc Ngân về thăm Việt Nam, hai bạn đã gặp nhau sau hơn 35 năm xa trường Hà Tiên, (tháng 9 năm 2018).

Vừa rồi nhân dịp tìm gặp được fb của Thái Thanh Niên, một học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, Blog THHTX đã kết hợp lại được tình bạn ngày xưa của Thái Thanh Niên và Nguyễn Thị Điệp, hai bạn là hai thành viên trong nhóm Nguyễn Thị Điệp, Tô Mỵ Nương, Thái Thanh Niên, Mai Thị Ngọc Xuân, Tăng Thu Hồng, Trần Thị Như Liên. Đầu tháng 09/2018, hai bạn ngày xưa Niên và Điệp đã gặp lại tại Minh Lương (nơi Điệp ở) sau hơn 40 năm xa cách…

Bạn Lý Cảnh Tiên (đứng giữa) và chị Thái Cẩm Hà (bên phải) chẳng những là hai học sinh kỳ cựu của Trung Học Hà Tiên ngày xưa trong những năm 60-70, mà hai bạn lại còn là bạn láng giềng vì nhà hai bạn đối diện nhau trên đầu con đường Mạc Công Du. Hai bạn Lý Cảnh Tiên và Thái Cẩm Hà gặp lại nhau sau hơn 25 năm xa cách nhân dịp bạn Tiên về thăm Việt Nam vào tháng 9/2018. (Cảnh tại nhà bạn Lý Cảnh Tiên – Hà Tiên, bên trái là Kim, phu nhân bạn Tiên, phía sau là Lý Tòng Hiếu em của bạn Tiên).

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa (ngày xưa nhà gia đình Liễu ở ngay góc đường Phương Thành và Mạc Tử Hoàng, đối diện nhà thờ Hà Tiên) đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại thầy Nguyễn Văn Nén sau 46 năm rời xa trường lớp.

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Hoàng Trang sau 46 năm rời xa trường lớp.

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Huỳnh Kim Châu sau 46 năm rời xa trường lớp.

Tháng tư năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Quý Nương sau 46 năm rời xa trường lớp.

Nhớ Bạn Mong Đức Hưng (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

NHỚ BẠN
MONG ĐỨC HƯNG

Trong thời gian học ở trường Trung học Hà Tiên (1965-1971), tôi chơi khá thân và có những người bạn để lại trong tôi ấn tượng khó quên, trong đó có Mong Đức Hưng.
Mong Đức Hưng là con bác Mong Tỷ, nhà ở khúc ngả quanh khỏi Nhà thờ trên đường đi Thạch Động. Tôi học chung với Hưng từ năm lớp nhì đến hết năm đệ tam. Khi thi đệ thất, trong lớp nhất của chúng tôi (do thầy Phan Tấn Hoàng dạy) có nhiều bạn học khá giỏi, theo tôi thì Hưng không phải khá hơn các bạn khác, nhưng lại đậu đệ thất. Lúc ấy tôi có hỏi thầy Hoàng là tại sao Lê Phước Dương học giỏi hơn lại không đậu mà Hưng đậu. Thầy nói Hưng chắc hơn, còn Dương thì hơi ẩu.

Không biết tôi với Hưng thân nhau lúc nào, nhưng có lần tôi đến nhà Hưng chơi thì thấy bạn đang rang cà phê. Có một lần thấy Hưng đang làm gà, Hưng dạy cho tôi cách nhúng nước sôi nhổ lông gà nhanh. Mà Hưng làm nhanh thật. Một lần Hưng mời tôi vào quán cà phê của gia đình (Quán gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ, tên quán là gì tôi quên mất), Hưng gọi: “Cho hai ly xịt xà thoòng đừng để dĩa”, chúng tôi cười ồ vì “không để dĩa” tức là không tính tiền. Hồi đó các quán cà phê ở Hà Tiên đều nhìn loại dĩa mà tính tiền, loại dĩa nào là bao nhiêu tiến, không cần phải hỏi khách dùng gì.

Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTTrương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt

Nhưng nhớ nhất là Hưng dạy tôi uống rượu. Hôm ấy có giờ trống, Hưng mua một xị rượu đế và một chai xá xị pha chung với nhau gọi là “xị nầy xị nọ” (rượu và xá xị mua ở quán Thái Thanh ngang Nhà thờ, đầu đường vô chùa Lò Gạch) rồi rủ mấy anh em lên núi Lăng ngồi trước mộ cụ Mạc Thiên Tích uống. Hưng ra vẻ rất thành thạo chuyện uống rượu, cởi áo, ngồi xếp bằng rồi rót rượu ra ly bắt mỗi người uống một hớp rất giống người lớn. Uống xong, mấy anh em kéo về trường thì cũng vừa hết giờ trống, anh em vô lớp cứ cười với nhau vì miệng còn hôi (thơm) rượu.
Hiện nay nghe tin các bạn cho biết Mong Đức Hưng định cư ở thành phố San Jose (Mỹ) và thỉnh thoảng có về Việt nam thăm bạn bè (do hai bạn Tăng Kim Sơn và Trang Lệ Thủy cho tin, cám ơn Sơn và Thủy nhiều nhé…)
                                                             Giá Khê  Trương Thanh Hùng. (09/2016)

Kể về kỹ niệm với nhóm Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Hoàng Đức Trung,…Mong Đức Hưng…thì mình (Trần Văn Mãnh) cũng có một thời gian đi chơi rất thân với nhóm bạn nầy. Mời Thầy Cô và các bạn xem thêm một chuyện vui nhỏ có liên quan đến bạn Mong Đức Hưng sau đây:

Đi bụi….

Sau khi cả nhóm gồm: Lê Phước Dương, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Hà Quốc Hưng (vừa đi Long Xuyên thi Tú Tài 1 và đi bụi lên tận Sài Gòn), Trần Văn Mãnh (vừa thi Tú Tài 2 xong)..đi bụi nhiều ngày từ Long Xuyên, Sài Gòn…, về tới Rạch Giá, tiền bạc sạch túi, cả 5 không còn một cắc bạc,..Sau khi móc hết túi trả tiền phòng ngủ khách sạn, sáng ra đi lang thang định đi bộ về tới Hà Tiên…May mắn thay lại gặp Thầy Trương Minh Hiển tại Rạch Giá…!! Thầy Hiển hỏi thăm xong thấy tình hình thầy hiểu ngay, liền cho cả nhóm vào quán cơm và gọi mỗi người một phần cơm, còn kêu thêm cho mỗi em một chén cơm đầy vung thêm….Ăn uống no nê xong sau khi từ giả thầy, lại tiếp tục đi bộ về phía Hà Tiên,….(chắc là đi bộ luôn tới Hà Tiên vì đâu còn tiền nữa,…). Tới gần đầu cầu may thay gặp xe Hồng Thập Tự từ Hà Tiên sang Kiên Giang lảnh thuốc…Lại may mắn nữa là trên xe có Bác Năm Dần Ba của Hà Quốc Hưng, lập tức Bác cho phép cả bọn lên xe có giang về Hà Tiên…Hà Quốc Hưng được ưu tiên ngồi phía trước với Ba Hưng, kế người lái xe, còn 4 tay bụi: Mãnh, Hưng (Mong), Trung và Dương thì nằm trên các thùng thuốc phía sau…xe chạy hơi dằn nhưng cuối cùng cũng được về tới quê hường xứ sở Hà Tiên sau mấy ngày đi bụi….

(trích trong bài « Lớp Lê Phước Dương chơi trò lên đồng »do Lê Phước Dương kể)

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/12/05/lop-le-phuoc-duong-choi-tro-len-dong/

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên

Sinh hoạt Hội Hồng Thập Tự Hà Tiên (Nguyễn Thị Kim Liễu)

Anh Mãnh thân mến, từ hôm nhìn thấy trên Blog của chúng ta hình anh Dõng ngồi trên thềm trường và hình mới của Thủy.. em xúc động quá!

Hôm nay xin gởi về cho các bạn cũ, cùng tất cả các Thầy Cô một mẫu chuyện vui trong thời gian Liễu tham gia hội Hồng Thập Tự ở Hà Tiên mà trong đó có rất nhiều học sinh trường mình tham dự như: Hiếu, Lộc, Khai Minh, Thu, Thọ Lâm, Tây, Ngọc Tâm,  Thu Hoàng, Ngọc Lựu, Thuý Loan, Kiều Oanh, Quốc Hưng, Hằng, Duệ… nói một cách khác hội HTT đã gắn bó ít nhiều trong khoảng đời của nhiều học sinh Hà Tiên. Nhứt là đối với Liễu.

Cũng xin nhắc lại một chút xíu kỹ niệm vinh quang là vào mùa hè năm 1973 trong trại hè của hội Hồng Thập Tự tổ chức tại Long Hải, Liễu đã doạt được giải vô địch của trò chơi « Cắn muỗng chạy phao »

                                      Sinh hoạt Hội Hồng Thập Tự Hà Tiên

Trong những lần họp mặt của hội Hồng Thập Tự, sau những lần sinh hoạt học tập cũng có những buổi tiệc nho nhỏ, mọi người hay quây quần bên nhau, nói cười vui vẽ, thì Liễu thường để ý đến một anh trong nhóm, anh Nhạn mà có lẽ tên thật của anh là « Đổ Bản Nhản » con cả của một gia đình rất đông con sống ở xóm Pháo Đài, Hà Tiên.

Anh Nhạn là thành viên của hội, anh rất nhiệt tình vui vẽ nhưng anh rất tự ti, mặc cảm và thường lủi thủi ngồi một mình ở một góc nào đó … Anh lánh xa mọi người và ăn một mình … nên Liễu hay chăm sóc hỏi han và bảo anh tới ngồi chung với mọi người cho vui… 

Một thời gian sau có một người bạn đến kể cho Liễu và các bạn trong hội cùng nghe là anh Nhạn đã đi nói với tất cả mọi người rằng: « Tụi mầy biết không? con Liễu nó mê tao lắm, 2 đứa tao đã từng chèo xuồng đi tới Kép Campuchia chơi lận đó » !!!???

Câu nói đó đã làm cho Liễu và đám bạn ôm bụng cười thoải mái, thiệt là vui quá!

Không biết anh Nhạn hiện giờ ra sao các bạn nhỉ ???

                                                                                          Nguyễn Thị Kim Liễu

                                                                       Thành phố Nantes, nước Pháp 08/09/2016

IMG_0294photo(2)

Hình ảnh: Nguyễn Thị Kim Liễu

Vè vui bạn học cùng trường (Lâm lan)

Vè vui bạn học cùng trường.

Nghe vẽ nghe ve ,nghe vè các bạn.
 Năng động đẹp trai ấy là Huynh trưởng.
 Đẹp tựa như hoa Minh Liên em gái.
 Hoa hậu Hà Tiên ấy là Tùa chế.
 Nghiêm nghị hay lo anh Hai Trần Dõng.
Hay ghẹo hay đùa là bạn Lâm Lan.
 Vui buồn dấu kín là em Lệ Thuỷ.
 Người đẹp Hà Tiên là Tiền Ngọc Hương
 Hiền hậu dễ thương là bạn Phương Nhu.
 Xinh đẹp đáng yêu là bé Phương Hà.
Yểu điệu thục nữ là bạn Kim Hoàn.
 Giỏi viết văn chương là Trương Thanh Hùng.
 Thơ văn tự tại là Lê Phước Hải.
 Vang tiếng thơm lây là Hà Quốc Hưng.
 Quan tâm bạn bè là Trang Lệ Thuỷ.
 Mang lại tiếng cười là Hia Giang Kiên.

tác giả: Lâm Lan (17/06/2016)

TranVanManh_BaiVeHoangThiMinhLien_BaiVe

NguyenThiHoa_BaiVeTranVanDong_BaiVeLamLan_BaiVeNguyenBichThuy_BaiVe

TienNgocHuong_BaiVeDuongThịPhuongHa_BaiVeTranPhuongNhu_BaiVeHoThiKimHoan_BaiVeTruongThanhHung_BaiVeLePhuocHai_2HaQuocHung_BaiVeThuy_Trang127pxTruongThanhHao_Nay

Hưng và Tôi

Thầy Cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ lâu ít hoạt động vì thiếu ý và bài viết, hôm nay, bạn Trương Thanh Hào có gởi một bài viết mới,..Bạn Hào viết bài về lúc gặp gở lại bạn học cùng Trường THHTX, đó là bạn Hà Quốc Hưng, hai bạn học cách nhau một lớp (Hào học trước Hưng một lớp), và cũng đau buồn thay cho hai bạn là cả hai đều cùng một cảnh ngộ là hiền thê của mỗi bạn đều từ giả hai bạn vĩnh viễn để đi về thế giới vĩnh hằng sau một cơn bạo bệnh,..Chúng ta hiểu và an ủi hai bạn Hưng và Hào, mong hai bạn sớm tìm lại được chút niềm vui cho cuộc sống hiện tại, vì trên thế gian nầy mọi thứ đều là vô thường, người đến với ta rồi người đi, cuộc đời vốn là sinh ly tử biệt mà,…(TVM)

Hà Quốc Hưng nhỏ hơn tôi một tuổi và học sau tôi một lớp. Cuối năm lớp Đệ tứ, đâu khoảng 1970, tôi qua Rạch giá học thì Hưng cũng từ Rạch giá về quê nhà là Hà Tiên học ở Trung học Hà Tiên. Mỗi khi nghỉ hè hoặc tết về Hà Tiên tôi cũng hay gặp Hưng, nhưng không thân và biết là Hưng con của Bác Năm, Bác có hình dáng gầy gò rất giống ba của tôi.
Rồi sau năm 75, những biến cố của lịch sử quá lớn làm tôi quên mất bạn bè, anh em, năm 1976 tôi đi Sài gòn lập nghiệp, và gần 40 năm sau, tôi lần lượt gặp lại bà con, bạn học, bạn bè ở Hà Tiên và ở khắp nơi.
Nhờ có blog THHT xưa, tôi được biết Hưng đang ở Mỹ, cho nên, đi Mỹ lần nầy tôi có ý định gặp Hưng, ngưòi con ưu tú của Hà Tiên mến yêu… như các bạn hằng ngưởng mộ. Tôi hỏi thăm bạn bè và nghe nói Hưng đang ở Dallas, khi tôi vừa từ Los Angeles bay đến Dallas, tôi liền điện thoại cho Hưng, với giọng nói sang sảng Hưng cho biết là đang ở Los Angeles để chăm sóc bà xã bệnh, nơi tôi vừa ở 3 tuần và nóng lòng gặp Hưng, tôi muốn quay lại Los Angeles liền, nhưng lịch trình của tôi không thể thay đổi được. Và Hưng cũng thường xuyên điện thoại cho tôi, hỏi thăm coi tôi bay đến nơi nào rồi, Sau 4 tuần ở chu du, tôi bay về Los Angeles, vừa xuống phi cơ, tôi vội gọi điện cho Hưng và Hưng hẹn tôi ngày kế tiếp để gặp nhau, mặc dù bệnh tình của bà xã Hưng cũng không khả quan. Sáng hôm sau, tôi gọi điện cho Hưng để xác nhận buổi gặp ngày mai, thì hỡi ôi, Hưng báo tin bà xã Hưng đã vĩnh biệt Hưng vào tối hôm qua.
Nghe hung tin, tôi rụng rời, cái cảm giác nầy tôi đã trãi qua cách nay đúng 5 năm trước, tôi cố nén nhưng nước mắt cứ tuôn trào… đêm đó tôi không ngủ được, nước mắt cứ tuôn rơi, tôi khóc cho Hưng, hay khóc cho tôi….
Sau đó, Hưng dành cho tôi 1 ngày ở Los Angeles, chúng tôi ngồi bên nhau, kể đủ thứ chuyện, từ kinh bang tế thế đến chuyện Hà tiên quê nhà, rồi chuyện bạn bè Trung học Hà tiên xưa và chuyện gia đình… vợ con. Tôi cố nén ngăn dòng nước mắt và tôi tin là Hưng cũng vậy. Chúng tôi cũng nhận biết cuộc đời là vô thường và giử gìn những gì mình đang có để sau nầy không nuối tiếc…
Chúng tôi chia tay lúc gần nữa đêm, bầu trời Cali mát lạnh, nhưng lòng tôi ấm lạ, chắc là do tình bạn bè từ Hưng truyền qua trong đêm nay và mãi mãi về sau.

                                                                                            Trương Thanh Hào
                                                                                    (Los Angeles, tháng 5, 2016)

IMG_6643_1Hà Quốc Hưng và Trương Thanh Hào gặp gở nhau tại Los Angeles (tiểu bang California nước Mỹ)

Cơm ngày bốn bữa…(Trần Văn Mãnh)

                                       Cơm ngày bốn bữa…

Thầy Cô và các bạn thân mến, Thầy Cô và các bạn lại đặt vấn đề cái anh chàng Mãnh nầy lại muốn xài từ to lớn gì nữa đây, ai lại ăn cơm một ngày bốn bữa?? Chắc chắn không phải là anh chàng Mãnh nầy rồi vì hồi xưa lúc còn đi học Trung Học Hà Tiên xưa, anh chàng nầy ốm như cây tre,..nếu có ăn cơm một ngày bốn bữa thì làm sao lại ốm được?? Tuy nhiên người trong chuyện sắp kể ra đây đúng là đã có một thời ăn cơm một ngày bốn bữa, và người đó cũng chính là anh chàng Mãnh đang kể chuyện đây,….Vậy mời Thầy Cô và các bạn vào chuyện nhé,..

Thời gian xảy ra câu chuyện thì mình quên mất rồi nhưng còn nhớ ra là khoảng học lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ,…Lúc đó ở Hà Tiên phong trào chơi nhạc đang thịnh hành và rất sôi nổi, nhóm mình thường họp tại nhà bạn Lý Mạnh Thường mỗi tuần một lần để dợt nhạc, chuẩn bị vào thứ bảy mỗi tuần sẽ kéo nhau phát thanh trên Chi Thông Tin Quận. Trong ban nhạc ngoài một số ca sĩ chính như Mạnh Thường, Chị Hằng (con Thầy giáo Lộc), Duyên Đình, Song Nguyên,…còn có một số các nữ sinh đàn em như : Như Liên, Tiền Ngọc Dung, Kim Loan, Khánh Linh (DHM)….và đặc biệt là các bậc đàn chị đã ra Trường rồi cũng có khi tham gia. Hôm đó có chị DHĐ tham gia dợt nhạc chung tại nhà Mạnh Thường, sau khi dợt nhạc xong, có lẻ chị HĐ có vẻ thích nên ngỏ ý mời mình đến nhà chị chơi…, mình cũng hứa là sẽ đến khi nào tiện,..Vả lại chị là chị của một ca sĩ trong nhóm (DHM), HM học sau mình hai lớp, thường ngày mình cũng có để ý đến cô bé HM nầy vì thấy cô sao ưa uốn éo mình khi đạp xe đạp, có lẻ là để vặn mình lấy trớn đạp xe cho mạnh,…Thời đó HM có tóc ngắn, cộng với khuôn mặt hơi tròn trong cũng khá xinh,… !! (lại chọn tên hiệu là Khánh Linh cũng có chữ Linh như trong tên hiệu của mình là Tô Huyền Linh,…).

Cuối cùng rồi thì vào một ngày đẹp trời nào đó mình cũng đến nhà chị HĐ (và HM) như lời mời của chị,..Đến nhà chơi, ngồi trong phòng khách nói chuyện văn nghệ vu vơ cũng rất vui, vả lại má của chị cũng rất tử tế, tiếp đải vui vẻ, còn có hai người chị nữa cũng rất vui và nói chuyện rất hợp với mình,…Đó là buổi đầu tiên mình đến nhà HM, gần tới giờ cơm, mình cũng sắp lên tiếng từ giã để về nhà ăn cơm (nói cho Thầy Cô và các bạn biết là mặc dù lúc đó mình cũng khá trưởng thành rồi nhưng đi đâu cũng phải về ăn cơm nhà vì sợ mẹ và ngoại rầy vì ham chơi bỏ cơm,.. !! ). Tính lên tiếng từ giã thì má của HM ngỏ ý mời mình ở lại nói là hôm nay có bún thịt heo….nên đặc biệt mời khách ở lại ăn bún thịt heo…Mình nghe nói thì trong bụng nữa mừng nữa lo, vì ở lại ăn bún thịt heo thì cũng vui và chắc cũng ngon lắm nhưng cũng hơi lo, lo đến hai vụ, thứ nhứt là sợ về trể mẹ mình chờ cơm, và thứ hai là sợ thịt heo có nhiều mở vì mình rất kén ăn, từ nhỏ đến lớn không bao giờ ăn mở heo, chỉ lựa thịt nạc ăn mà thôi, nếu có nhiều mở mà mình lựa ra thì sợ người ta cười…. !! Sau đó thì mọi người vào nhà trong và ngồi vào bàn ăn thưởng thức món bún thịt heo,….(may là thịt nạc ít mở nên mình ăn cũng rất ngon,… !!). Xong xuôi theo phép lịch sự mình cũng nán lại tí thời gian nữa và sau đó xin phép ra về không quên cám ơn má của HM cho mình ăn bữa bún rất ngon. Vừa ra khỏi nhà mình tăng nhanh tốc độ đi bộ để về nhà cho nhanh nhưng cũng hơi trể bữa cơm ở nhà, mình không dám nói là đã ăn cơm xong no rồi, nên cũng phải tự dọn cơm ra ăn một mình ở nhà vì cả nhà ngoại và mẹ cùng các anh em đã ăn cơm xong rồi,…Tuy đã no bụng nhưng cũng ráng ăn thêm hai chén cơm nhà cho ra vẻ tỉnh bơ để mẹ mình khỏi thắc mắc tại sao mình ăn ít quá,…

Đến chiều có lẻ hôm đó nhằm ngày chúa nhật hay sao đó mà rốt cuộc chiều đến khoảng 3, 4 giờ chiều mình lại thả bộ đến nhà HM ghé thăm nữa, cũng nói chuyện văn nghệ, văn thơ lai rai đến chạng vạng tối, định xin phép ra về, má của HM lại mời mình ở lại ăn cơm tối, khổ nổi là rất khó từ chối nên mình cũng phải nhận lời và cũng ăn xong bữa cơm tối ở nhà HM, trong bữa ăn nầy mình đã quên không biết ăn món gì,….Cơm nước xong, ngồi lại chơi một tí và sau đó mình cáo từ ra về, má HM còn bảo đem về một túi toàn là trái cây, trái «Lê Ki Ma»….Không biết tên chính thức của trái cây nầy là gì, chỉ nhớ là trái có vỏ mỏng bên ngoài màu vàng, thịt bên trong cũng màu vàng, thuở xưa mình rất ghét trái nầy vì ăn không ngon, còn có tên là trái hột gà vì thịt nó màu vàng cháy giống như trồng đỏ trứng gà vậy,…Mình còn nhớ mỗi lần cúng kiến trong nhà, bà ngoại thường hay mua trái nầy để chưng lên các bàn thờ trong nhà, cúng xong không có ai ăn cả vì ăn không ngon,…Rốt cuộc mình cũng phải nhận túi trái cây và cám ơn má của HM và ra về lẹ như trong buổi sáng,…Ra về mà trong lòng lại lo âu vì nếu đem túi trái cây nầy về nhà mẹ mình sẽ hỏi ở đâu mà có túi trái cây nầy?…Vì thế khi gần tới nhà, gặp một bạn quen đang đi lang thang qua, mình kêu bạn lại chào hỏi xong và biếu bạn túi trái cây đó để khỏi phải đem về nhà,… !! (hồi xưa mình cũng không hiểu tại sao một vấn đề giản dị như vậy mà sao mình lại lo âu thắc mắc, mình cứ nói là của người quen cho biếu là xong,…có lẻ vì không dám nói dối hay sợ mẹ hỏi ra nhiều thứ nên không dám đem quà về,…đúng là con nít thật,…mặc dù đã học đến Đệ ngũ, Đệ Tứ rồi,…)…Giải quyết xong vụ trái cây biếu lại đến vụ ăn cơm tối, vì mình vừa về đến nhà thì cũng quá tối nên nhà cũng đã ăn cơm xong hết, lại cũng không dám nói là đã ăn cơm xong, (nếu nói ăn cơm xong rồi thì mẹ sẽ hỏi ăn ở đâu? Tại sao người ta mời ăn cơm,…đủ thứ câu hỏi mình sẽ không biết trả lời ra sao??!!…Nghĩ lại mình cũng quá khờ thì cứ việc nói là đến nhà người quen chơi và người ta mời ở lại ăn cơm, giản dị như thế thôi mà cũng không dám nói ra,…)..Rốt cuộc mình cũng phải tự dọn cơm ra ngồi ăn một mình qua loa hai chén như trong buổi sáng cho xong bữa cơm tối, tổng kết trong ngày đó là ăn tất cả bốn bữa cơm (đúng ra là ba bữa cơm cộng với một bữa bún thịt heo,…. !!)

trai-le-ki-maTrái « Lê Ki Ma » (trái hột gà đây.)

Thời gian đó mình rất thường đến chơi nhà HM, trong tuần thì vào buổi tối, cuối tuần thì cả ngày nên cứ vào cuối tuần là mình tiếp tục ăn cơm một ngày bốn bữa,…vì lúc nào má HM cũng mời ở lại ăn cơm rồi mới cho phép về,…mình không có cách nào từ chối,…

Thắm thoát thời gian trôi qua nhanh, có một lúc mỗi tối lại có bạn Hà Quốc Hưng cũng đến nhà HM chơi, cả nhóm ra ngoài mái hiên ngồi nói chuyện tâm sự mà không cần biết cả hai là cùng có liên hệ với một người bạn gái,…

Không biết khoảng thời gian sau đó như thế nào nhưng từ từ rồi mình cũng không dám kéo dài việc ăn cơm ngày bốn bữa như thế nên mình cũng hạn chế dần việc lui tới nhà HM, kết thúc câu chuyện thì cũng tốt đẹp không có việc gì thắc mắc,…Từ đó đến sau nầy tuy có bao nhiêu thay đổi đã diển ra, nhưng mình cũng còn giữ một kỷ niệm đẹp của những ngày xa xưa đó thôi…

IMG_1786Một góc đường Nhật Tảo – Lam Sơn (Hà Tiên)

IMG_1780Một góc đường Lam Sơn – Cầu Câu (Hà Tiên)

Rồi đến lúc thật xa sau nầy sau khi mình định cư ở Pháp (1986), đến năm 1994 mới trở lại Việt Nam lần đầu tiên, về đến Hà Tiên thăm mẹ và anh em, hôm đó cả nhà tổ chức đi bãi Mũi Nai chơi biển, lúc đó người ta còn quen thuê xe lam đi nên nhà nhờ anh Dõng ra chợ kiếm thuê một chiếc xe lam để đi, có xe xong, khi xe lam chạy đến trước nhà mình ở Hà Tiên (đường Bạch Đằng) để mọi người lên xe đi ra Mũi Nai thì thấy trên xe đã có sẳn hai người khách, đúng là Ông Trời tính toán trước, hai người khách trên xe không ai xa lạ mà chính là hai chị em DHĐ và DHM, vì vậy mà mình không hiểu tại sao khi xe vừa đến trước nhà thì mình thấy anh Dõng cứ cười cười hoài không biết vụ gì,…còn mình thì cũng hơi lo vì có bà xả mình đi cùng luôn trên xe,…Vì mình cũng có kể chuyện xưa cho bà xả mình nghe qua nên bà xả mình cũng biết DHM, nên khi lên xe cũng thông qua một màn giới thiệu cho thoải mái không khí trên xe…

Khi ra đến Bãi Mũi Nai, mọi người xuống xe, HM và chị là HĐ thì đi chơi riêng theo chương trình của hai chị em, còn nhóm nhà mình thì bắt đầu ổn định tại một nơi có bóng mát cạnh bờ biển,…từ lúc đó cho đến khi về bà xả mình cứ lai rai để mắt trông chừng mình, xem có lúc nào mình bỏ đi đâu một mình không,…Tuy nhiên mình cũng đâu có đi đâu chơi một mình chỉ ở trong nhóm gia đình ăn uống và tắm biển thật vui mà thôi,…(nói cho oai chớ chắc không dám đi đâu)…Vài hàng kể lại chuyện vui buồn thời xưa mong rằng Thầy Cô và các bạn xem qua, thông cảm đừng thắc mắc hỏi tên cụ thể các nhân vật là ai nhé,…mà nếu có đoán ra thì cũng để trong bụng nhe đừng nói lên nhe, cám ơn Thầy Cô và các bạn rất nhiều,…

Trần Văn Mãnh (đầu xuân 2016)

ManhThuong_Manh_ToChau_1994Manh_1994_DuongHoa_HaTien

    Trái: Hình chụp với bạn Lý Mạnh Thường nhân dịp về Hà Tiên lần đầu tiên 1994. Phải: Trần Văn Mãnh (bãi biển Hà Tiên 1994)                                     

 

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh