Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa» với vài con số tổng kết năm 2018

A/ Từ ngày thành lập Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »  (04/10/2015) đến nay (03/01/2019), Blog của chúng ta đạt được những con số sau đây:

Tổng số bài viết :                      184 bài
Số lượt xem bài :         98118 lượt xem
Số người đến xem bài :   27839 người
Hinh ảnh:                        1475 hình ảnh

B/ Từ nguồn gốc nào đọc giả đến với Blog Trung Học Hà Tiên Xưa?

1/ Từ Facebook:                                                                        31192 lượt đến xem
 2/ Từ Công cụ tìm kiếm (Moteurs de Recherche):                9153 lượt đến xem
3/ Từ site WordPress Android App (tức là xem Blog bằng điện thoại cầm tay):

                                                                                                            948 lượt đến xem
  4/ Từ site coccoc.com:                                                                  219 lượt đến xem
 5/ Từ site mail.yahoo.com:                                                               63 lượt đến xem

C/ Các đọc giả xem bài từ các nước nào đến xem?

Tất cả những nước trên thế giới có tô màu từ vàng lợt đến màu đỏ sậm là nơi cư ngụ của những đọc giả của Blog THHTX (những vùng có màu xám là nơi chưa có đọc giả của Blog THHTX)

D/ Số lượt xem bài nhiều nhất tính từ lúc thành lập Blog (04/10/2015) đến nay (03/01/2019)

1/ Cầu nổi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên):                 1941 lượt xem
2/ Chân dung Thầy Cô và học trò Trung Học Hà Tiên xưa (trang 1): 1903 lượt xem
3/ Những người đã ra đi:                                                                          1825 lượt xem
4/ Trang giới thiệu:                                                                                    1192 lượt xem
5/ Trần Văn Mãnh cùng các bạn ngày nay:                                              1111 lượt xem

E/ Những bài được viết nhận xét nhiều nhất :
1/ Những người đã ra đi:                                                            8 nhận xét
2/ Thư Tình (Hồ Thị Kim Hoàn):                                                 7 nhận xét
3/ Tứ Đại Mỹ Nhân:                                                                      6 nhận xét
4/ Thầy Trương Minh Hiển:                                                        6 nhận xét
5/ Phương Thành nỗi nhớ:                                                        6 nhận xét

F/ Những đọc giả viết lời nhận xét nhiều nhất:
Trần Văn Mãnh:                                                               28 nhận xét
Trương Thanh Hùng:                                                     28 nhận xét
Võ Kim Loan:                                                                   18 nhận xét
Nguyễn Hồng Ẩn:                                                             6 nhận xét

G/ Những từ khóa được tìm kiếm đánh trên mạng nhiều nhất :

1/ Trung Học Hà Tiên Xưa:                                             124 lượt
2/ Hoàng Thị Minh Liên:                                                    33 lượt
3/ Trường Trung Học Hà Tiên Xưa:                                31 lượt
4/ Cầu nổi Hà Tiên:                                                            10 lượt

H/ Số bài viết trong mỗi năm :
2015 : 42 bài
2016 : 55 bài
2017 : 55 bài
2018 : 31 bài

Trung bình mỗi ngày có ít nhất 29 và nhiều nhất 175 lượt xem bài. Vào ngày thứ tư 07/10/2015 (tức là 3 ngày sau khi Blog được thành lập) số lượt xem bài lên đến 783 lượt xem, đạt kỷ lục cho đến ngày nay vẫn còn giữ mức độ cao nhất nầy. Bài viết được xem nhiều nhất trong ngày đó là bài « Phương Thành* nỗi nhớ » (hoan hô Thầy Nguyễn Hồng Ẩn nhé,..!!).

Người giữ nhà Blog Trần Văn Mãnh xin cám ơn tất cả quý Thầy Cô và các bạn đã hết lòng ủng hộ, viết bài, đến xem bài và viết nhận xét trên Blog của chúng ta. Sang năm mới 2019, hy vọng rằng Blog của chúng ta sẽ tiếp tục có nhiều bài vở, hình ảnh sinh hoạt cực kỳ linh động, phong phú và tuyệt hay. Thân chúc tất cả một năm mới thịnh vượng, bình an.

 

Publicités

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn đi học ở các lớp của bậc Trung Học (Hà Tiên), mình thường thích những giờ văn với những lời giảng bài rất lôi cuốn của quý thầy cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Trương Minh Hiển,…Thời đó môn văn được xếp thành hai loại: Kim văn và Cổ văn. Kim văn là văn xuôi còn Cổ văn là văn có vần điệu, là thơ…Trong các bài học về văn xuôi và các tác giả, thường có nhắc đến các tác giả tiên phong trong phong trào văn hiện thực như nhà văn Ngô Tất Tố với tác phẩm « Tất Đèn », trong đó nhân vật chính là Chị Dậu và cái câu văn điển hình mô tả chị Dậu: « Chị Dậu là người đàn bà có cái nhan sắc của người đàn ông không đẹp trai… », câu văn mà thời đó trong giới học sinh mình ai cũng thích và thường đem ra dùng để nhắc đến hay để trêu ghẹo ai đó…!! Khi nhận được bài mới của tác giả Quang Nguyên, một cậy bút rất quen thuộc và rất được yêu chuộng trong giới đọc giả của « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », đọc bài xong mình không thể không nhớ đến thể loại văn xuôi tiền chiến hiện thực như kiểu Ngô Tất Tố kể trên,….Thật vậy, bạn Quang Nguyên đã mô tả một người anh, người bạn học cùng trường, người « đồng nghiệp » trong phong trào kéo nước ở Hà Tiên sau những năm cuối thập niên 70, bạn đã mô tả anh Hồ Hải (Lê Phước Hải) một cách rất hiện thực, rất chân chính,…Chỉ cần đọc bài văn dưới đây của Quang Nguyên, ta cũng đủ thấy và nhớ lại cái khung cảnh tuy không kém phần « bi đát » nhưng cũng đượm đầy tình bằng hữu và tính quan niệm sống rất triết lý của thời đó…Dù trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn, nhưng các bạn vẫn lạc quan, chấp nhận sự phấn đấu hằng ngày và không nản chí hay buông thả…Văn viết của Quang Nguyên chuyên chở một tính chất của loại văn « hiện thực xưa » tuy tác giả lại là một anh chàng còn rất trẻ và rất yêu đời…Có đọc qua những đoạn mô tả cảnh sống và liên hệ bằng hữu hằng ngày  đi kéo nước ở Ao Sen Hà Tiên, ta mới thấy tính chất hiện thực của văn Quang Nguyên, và không thể không nhớ đến loại văn xuôi thời tiền chiến mà chúng ta có dịp học qua thời Trung Học,…Bài văn mô tả một con người yêu tự do, sống phóng khoáng và tinh thần hiện thực của Hồ Hải qua cây bút của Quang Nguyên cho ta thấy rỏ cái triết lý sống của Hồ Hải, sống cho từng giây từng phút trong cuộc đời, sống cho chung quanh và sống cho chính mình…Hồ Hải đã tận hưởng được cái tự do của khoảnh khắc đáng giá trong cuộc sống, giống như câu thơ của chính Hồ Hải nói về mình trong bài thơ « Mãi mãi như nhiên »:

Ta lữ khách đã ngàn năm sinh tử
Chợt lặng người. Tỉnh giấc vổ tay cười.
Kiếp làm chồng thế gian sao vất vả.
Hạnh phúc nào hơn, trốn vợ rong chơi.

Con người vốn đã có chất lãng tử, nghệ sĩ và yêu giang hồ như bạn Hồ Hải rồi thì dù cho có quyết định dừng chân, gởi tâm cho cỏi Phật Đường thì cũng không làm sao chống chỏi được cái « ta »…, cái « tâm » vốn nhạy bén và dể xúc động trước nét đẹp của một người con gái tín nữ nào đó một hôm đến viếng chùa,…Cho nên Hồ Hải đã phải trở lại với cuộc sống, trở lại với cái thế gian dù khắc nghiệt, khó khăn đối với anh, nhưng đó mới chính là môi trường và không gian của anh,.., của Hồ Hải…

Bản thân mình ngày xưa qua phong trào chơi nhạc với các bạn thời Trung Học, mình có quá nhiều kỷ niệm với Hồ Hải, dù cho học khác lớp nhưng đã có quá nhiều liên hệ và đối tác với Hồ Hải,…Mình vẫn thường nhớ Hồ Hải thường nói một câu nầy trong những giờ dợt nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường hay những lần đến Chi Thông Tin quận Hà Tiên để hát trực tiếp và phát thanh ra khắp chợ Hà Tiên qua những cái loa kiểu xưa treo đầy các cột đèn đường… »Cho mình hát một bài trước đi để còn về kịp bắt heo nữa…!! » . Có một lần sau khi mình đã định cư ở Pháp, lần đầu tiên trở về Việt Nam thăm gia đình tại Hà Tiên (1994), xe vừa mới đến nhà tại đường Bạch Đằng Hà Tiên thì Hồ Hải đã nghe tin và đã đến nhà mình chờ đón, và Hồ Hải đã rủ ngay đứa con trai mới 13, 14 tuổi của mình (tên là Trần Nguyễn Tường Linh…) lên ngay chiếc xe Honda dame của Hải và anh ta chở Tường Linh chạy tuốt ra chơi phía Thạch Động, biên giới….Có nhiều lúc nghĩ lại cũng phải hú hồn vì không biết đi chơi xa như vậy có an lành không nữa…

Có một điều mình vẫn còn tiếc nuối và cũng hơi buồn là lần cuối về Hà Tiên (06/2012), mình không kịp gặp lại Hồ Hải, vì có một hôm Hồ Hải và Nguyễn Đình Nguyên chờ mình suốt buổi chiều tại quán cà phê trước Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa) trong khi đó thì mình và bà xả thì lại ngồi ở quán cà phê nỗi Thủy Tiên trên bờ sông Giang Thành trước trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa…Vấn đề là vì không nói rỏ điểm hẹn ….Từ đó đến nay không còn dịp gặp lại Hồ Hải nữa…!!  (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với người vợ quá cố…

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

(Để tưởng nhớ đến anh – một người đặc biệt)

Tôi quen anh cũng đã lâu lắm, dễ cũng đã có hơn bốn mươi năm trước, ở cái thời mà xã hội chúng ta có những vấn đề vô cùng lạ kỳ và đối nghịch nhau một cách vô lý trong đời sống diễn ra hàng ngày chung quanh… Còn nhớ dạo ấy Hà Tiên có một “đạo quân” mà độ “đậm đặc” của chất xám, của trí tuệ, của tri thức, của kiến thức, của chuyên môn v..v… co cụm trong một tập thể vài ba mươi người mà trong đó có các kỹ sư, vài ông giáo sư đáng kính, chuyên viên kỹ thuật, và các sĩ quan chuyên nghiệp … Họ đang hành nghề … kéo nước mướn, và Hồ Hải (anh tên thật là Lê Phước Hải, anh của bạn Lê Phước Dương, nhà ở khúc trên đường Lam Sơn quẹo phải)  là một người trong số đó.

Hà Tiên chúng ta có cái nghề xe nước này kể ra cũng là một điều đặc biệt, tôi không biết rằng nghề này đã có bao lâu? Có lẽ cũng đã lâu lắm vì các ao nước ngọt đã có từ xưa và phải có người và phương tiện mang đến từng hộ cho cư dân Hà Tiên chứ? Mà kể cũng lạ, từ lúc xã hội loài người có phương thức trao đổi hàng hoá bằng hiện vật hay hiện kim thì người ta mặc định đó là hành động mua và bán, kẻ mua cái mình cần và người bán cho họ cái họ cần. Việc đem nước cho các hộ cần và nhận tiền thù lao cho công việc ấy  từ bao đời của ngươi Hà Tiên được mặc định bằng hai từ “đổi nước”, họ đổi nước để lấy tiền và đổi tiền lấy nước chứ không có chuyện “bán nước” và “mua nước”! Đó chẳng phải là một thái độ rất nhân văn, một tình yêu tổ quốc chân thành, một sự cẩn trọng về ngôn từ… xuất phát từ tim óc của các bậc tiền nhân nghèo khổ vốn luôn trao đổi lao lực để mưu sinh của người Hà Tiên chúng ta đó sao?

Ắt hẳn những người xe nước ấy đã rất yêu nước, kể cả những người trong “đội quân” đổi nước mà tôi đang nói nơi đây.

Đành rằng nghề nào cũng quý, nhưng ngày đó thật sự là một sự lãng phí trí tuệ thật là to lớn, đó không là sự lựa chọn nghề nghiệp của những con người đã kinh qua trường lớp khoa bảng, mà là vì sự áp đặt ý chí của thời cuộc…  Tuy nhiên đó là câu chuyện lịch sử và hãy để lịch sử phán xét, dù vậy cũng phải nhắc đến đây đôi chút để chúng ta không quên quá khứ, bởi “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng … đại bác”!

… Dạo ấy chúng tôi còn rất nhỏ, nhưng được cái thân thể to lớn mà tạo hóa đã vụng về: gắn đầu óc trẻ thơ chung với bộ cơ lực sĩ (!), chính vì vậy chúng tôi có thể kham đươc những công việc nặng nhọc thay thế cha tôi hành nghề xe nước vì ông mau xuống sức bởi thời gian ông đi “học tập”. Hàng ngày đạo quân ấy hay tụ tập tại quán cà phê bác Sáu Lượm ở đầu ao sen bìa dưới. Chúng tôi, kể cả các chú các anh trí tuệ sáng ngời nhưng sinh lầm thế kỷ , họ tụ tập nhau lại điểm hẹn này không nhằm mục đích gì cả, chỉ là hỏi thăm nhau sáng giờ được mấy xe, nhà nào mà mình xách nước vào cực nhọc vì phải lên lầu, hay lối đi nhỏ hẹp, hoặc có khi là sang mối cho nhau hay giúp nhau vài xe nước hôm nay…  Cũng có khi  đơn giản chỉ là thưởng thức ly « xây chừng » nóng của bác Sáu Lượm với cái hương vị cục đường thật ngọt vì lao động mệt nhọc, hay chỉ là nói những câu chuyện không đâu kiểu “đầu Ngô mình Sở” (!).

Cũng như mọi người, Hồ Hải cũng ghé đây hàng ngày vì nhà anh ấy gần đó, anh ngồi vào ghế, bỏ một bên dép và rút một chân lên chiếc ghế đẩu đã không còn mặt bằng bởi cái mông mỏng lét của anh đã chiếm hết, nhưng chỉ cần một động tác thì xuất hiện một chỗ hỗng giữa hai đùi, dù chỉ đủ để lọt một cái bánh cam là anh ấy đã nhét được gót chân mình vào, xong cái tư thế ấy là anh bắt đầu “mở máy”, phải nói anh rất thích nói, và có sức cuốn hút bởi anh có thể huyên thuyên nhiều đề tài… Thoạt đầu chúng tôi gọi anh Hải bằng “chú” nhưng anh bảo rằng “tụi mày đừng làm tao già!”, và anh ấy nhất mực buộc chúng tôi gọi bằng anh. Ừ thì anh, nhưng bên tai tôi nghe cụ Galileo nói nhỏ mà rõ mồn một rằng:  “dù sao thì trái đất vẫn quay!”.

Ở đâu có Hồ Hải là ở đó có tiếng cười, anh thường xuất hiện sau khi tiếng cười ha hả và giọng nói oang oang đã đến tai ta hàng giờ! Nụ cười của anh làm rung bần bật bộ râu kiểu ông Nguyễn Cao Kỳ, và hai hàm răng to khỏe ám nâu khói thuốc lộ ra để hạn chế tối đa cái mức độ hấp dẫn, nhưng cho dù vậy thì kiểu gì nụ cười ấy cũng tỏa đầy nắng bởi nó rạng rỡ trên cả gương mặt với mắt mũi miệng đều kéo hết cỡ V-line!

Có một buổi trưa tôi vào quán bác Sáu kêu một ly tài chừng, quán trưa vắng khách, thấy anh Hồ Hải ngồi một mình mắt nhìn xa xăm tư lự, không giống kiểu của anh hàng ngày, tôi hỏi:

              – Có gì mà buồn vậy anh Hải?

              – Tao nhớ Sài Gòn!

              – Giờ đi khó khăn lắm, phải có giấy đi đường, có người không được ra khỏi Hà Tiên vì bị quản chế, xe cộ thì không có mà phải đi xe chuyền rất nhiều chuyến nữa đó.

              – Ừ!..hmm

Rồi như bừng tỉnh, đôt nhiên mắt anh ánh lên và tỉnh táo sảng khoái không như trước đó vài giây.

              – Nè Bé, có bao giờ mày thử chơi “ken” chưa?

              – Là cái gì?

              – Hmm..! Vậy là mày không biết gì rồi, là một loại ma túy đó Bé.

              – Hơ! Em còn nhỏ lắm mà, dính thứ đó ba em “giết” chết!

Rồi mắt anh lại nhìn xa mơ màng…

–              Tao nhớ cái cảm giác đó… Sài Gòn, vũ trường, thuốc, mấy em gái nhảy… Hồi đó tao buồn chuyện riêng, mấy thằng bạn rủ chơi, anh cũng thử. Mà hay thiệt nhe Bé, anh hết cảm giác buồn, thấy mọi cái phiền phức chung quanh như vô nghĩa, kể cả cái chết cũng vậy luôn, tao đã lên đến tầng thượng thứ mười mấy, định bay xuống phứt cho rồi, cảm giác bay nó cứ thôi thúc anh…

              – Ừ, hồi đó anh mà nhảy xuống có khi giờ đỡ cực! – Tôi nói ghẹo Hồ Hải.

              – Ừ, tao kịp nghĩ tới gia đình, tới má anh! – Nói chuyện, anh hay xưng anh và tao lộn xộn.

Kể cũng lạ, bỗng dưng anh lại tâm sự chuyện ‘người lớn” cho thằng con nít mười ba mười bốn tuổi như tôi, trưa ngày ấy chắc anh có nhiều tâm sự lắm…

Anh là một người lạc quan trong mọi hoàn cảnh, Hồ Hải thường tự hào với chiếc xe cây tự chế của mình, có thể nói chiếc xe của anh “quái” nhất trong “binh đoàn xe nước” vì sự khác biệt của nó. Thông thường chiếc thùng phuy chứa nước được đặt nằm dọc gọn gàng trong thùng chiếc xe cây, để chống lại việc cái phuy bị xoay người ta đóng một cái đế cho nó, và cái đế được thiết kế vừa vặn với sàn xe, hai bên thùng xe còn khoảng hở mỗi bên khoảng năm centi-mét để cột dây cố định, có nghĩa thùng xe phải vừa đủ to để đế và phuy nằm gọn, khi có nước đầy thì chính vị trí có khối lượng của nó làm cân bằng xe, chống được việc lắc theo phương ngang và như vậy nước sẽ không bị sóng sánh thoát đi… Chiếc xe của Hồ Hải thì khác, anh ấy giảm thiểu tối đa số cây gỗ có trên chiếc xe của mình khiến nó trần trụi như bộ xương hóa thạch trong bảo tàng, anh cho rằng xe càng nhẹ thì tổng trọng lượng mà anh phải kéo nó sẽ nhẹ hơn các xe khác vì thế xe anh không cần bộ khung chân đế cho phuy nước, thay vào đó anh biến cả chiếc xe là một bộ khung luôn, có nghĩa xe anh là xe nước “chuyên nghiệp” không làm việc gì khác ngoài việc xe nước, bỏ cái phuy ra là không có thùng xe và sàn xe để chở thứ khác, và hơn thế nữa xe của Hồ Hải nhỏ xíu, “trục láp” thì ngắn và cái thùng phuy nằm khơi khơi chơi vơi trên cao, được mỗi điều là xe rất nhẹ…

              – Ê Bé! Anh có thể kéo một tay nè, đã chưa?

              – Hahaha… đường ổ gà thì anh biết!

Quang cảnh « binh đoàn xe nước » với các chiếc xe cây và thùng phuy đặc trưng của Hà Tiên

Và quả thật, mùa cao điểm đường sá chung quanh các ao trở nên hư hỏng trầm trọng vì đội quân xe nước, để cho nhanh kịp cho mối nước đang hối… Phuy nước có 210 lít, nên về mặt lý thuyết thì năm đôi rưỡi thùng loại 20 lít là đầy, mà chưa bao giờ được thế, muốn đầy phuy phải sáu đôi hoặc sáu đôi rưỡi, các anh em cứ một thùng đổ vào xe thì hết một phần thùng ra ngoài làm cho đường sá chung quanh càng lầy lội, hậu quả là xe càng lắc lư và đường càng hư thêm… Những lúc đó trông Hồ Hải rất tội nghiệp, vì tấm thân “cò ma” của anh ấy cứ phải vặn mình kênh chịu hơn hai trăm kilô-gam đang đong đưa giục giặc theo phương ngang trên chiếc xe đang đi tới, khiến mấy cây ba sườn bén như những cây dao găm gắn vội vàng trên cái “bo đì” mỏng dính lộ ra mồn một trong chiếc áo ướt đẫm dính sát vào người, hai con chuột nhắt bé xíu trên hai tay cứ nhảy lên nhảy xuống vì anh cố kìm chiếc xe đang dao động như quả lắc đồng hồ, còn khi ấy chiếc thùng phuy thì do chơi vơi nên chao đảo văng nước tóe tung ướt cả người anh ấy… Mọi người ghẹo rằng:

              – Hồ Hải! Ra tới chợ xe ông còn nửa phuy!

              – Ha..ha..ha… Vậy càng tốt, nhẹ cho tui mà thu tiền thì cũng như mấy ông!

Lạc quan đến thế là cùng.

… Rồi thời gian sau không thấy anh ấy kéo xe nước nữa, chắc tại cái tính bỡn cợt và “nửa phuy tính tiền một phuy” nên anh ấy mất hết mối chăng? Tôi không biết! Cho đến sau năm 1982 khi tôi không còn đi xe nước nữa vì đi học xa nhà, những kỳ nghỉ hè về Hà Tiên thì thấy Hồ Hải đứng trên sân khấu ca nhạc của địa phương, vẫn là Hồ Hải với bộ râu đặc trưng nhưng thay vì cái áo đẫm mồ hôi và nước cùng chiếc quần cộc, đôi chân mang dép lê đầy bùn đất mà là sừng sững trên ấy là một Hồ Hải trong bộ vó rất “bảnh” mang giầy Tây, áo sơ mi tinh tươm… Thay Hồ Hải rổn rảng cười nói là một Hồ Hải có chất giọng « dramatic baritone » nam trung, là giọng nam khỏe khoắn đầy đặn, đầy uy lực và có khả năng “vượt quãng tám”, anh hát rất to và đặc biệt thích những bài hát có âm vực cao để anh có thể phô bày chất giọng của mình…

Tôi đã không có dịp gặp anh từ sau dạo xe nước, nhưng tôi vẫn quan tâm đến anh vì sự đặc biệt của anh, đó là một người luôn lạc quan và không có gì làm cho anh ấy mất vui, ngay cả ánh đèn sáng bưng của sân khấu cũng không thể dập tắt được nụ cười tràn ánh sáng với các cơ mặt bung ra khiến mắt mũi miệng đều bị kéo hết cỡ của Hồ Hải, có điều đứng xa sân khấu quá tôi không thấy được hàm răng to khỏe của anh có còn ám nâu khói thuốc?

Rồi một ngày khác khi tôi đã không còn ở Hà Tiên mà lưu lạc mưu sinh xứ khác, tôi nghe người ta đồn rằng anh …xuống tóc quy y! Trời ạ. Hồ Hải mà đi tu là điều tôi không thể tin được vì anh ấy rất ư là người!  Anh ấy là dạng người luôn sống hết mình trong từng ngày mình có…

Rồi lại không lâu sau đó tôi nghe rằng anh bị thầy quở mà trả về đời, mô Phật! Đó mới thật là Hồ Hải mà tôi đã từng biết! Lý do cũng rất là ‘Hồ Hải’ – tâm dao động khi nhìn thấy các thiện nữ đến chùa! Bởi cuộc đời anh bị “ám” từ cái tên mà tự anh đã chọn cho riêng mình, mà khi nghe đến ta đã thấy một khát vọng tự do, một cuộc đời không dễ gì ràng buộc – Hồ Hải.

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nét nhìn  vào một không gian trống vắng, vô tận,….

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nụ cười vô tư giữa dòng đời cuộc sống hằng ngày

Người ta thường viết về một người bởi người đó tài năng, người đó nổi tiếng, hay người có nhiều cống hiến, hoặc vĩ nhân… Nhưng tôi viết dành cho Hồ Hải vì anh là một người rất bình thường, bình thường hơn những người bình thường khác, có thể anh đã có một cuộc sống quá đổi tự do để làm phiền muộn bao người thân thuộc, nhưng trên hết anh đáng yêu, anh đáng được nhắc nhớ vì anh khác biệt, một sự đặc biệt của riêng mình, anh sống trong lòng những người đã biết và nhớ về anh – Hồ Hải.

Và tôi luôn nhớ anh với giọng hát to cao vang vọng cả Bình San dạo ấy: “Khi người yêu tôi …tắm, tôi xe nước thấy mồ!”.

Cũng phải thôi, vì khi đến nhà cô nào ấy, xe anh chắc chỉ còn một vài đôi nước trong phuy, còn anh thì đã tắm hết phần nước của cô ấy suốt dọc đường!

Xin phép anh để tôi được viết về Hồ Hải ở đây, cầu mong hương hồn anh thanh thản vì anh đã sống để mọi người đã không quên anh, trong đó có tôi – thằng nhóc ngày xưa hay ngồi giải lao nghe anh bàn chuyện phiếm giữa những trưa nắng trong quán cà phê bác Sáu Lượm một thời…

12/2018

Tác giả Quang Nguyên.

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Trương Minh Quang Nguyên, sưu tầm.

Chú thích: Bạn Lê Phước Hải là anh của Lê Phước Dương, Hải học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…v..v…(vào lớp đệ thất niên khóa 1965-1966). Khi bạn Hải tham gia chơi văn nghệ với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương », bạn Lê Phước Hải lấy hiệu là Hồ Hải, một phần để nhớ đến người đàn anh ngày xưa từng học ở Trung Học Hà Tiên và chơi đàn guitare rất hay đó là anh Nguyễn Hồ Hải, anh lấy hiệu là Hồ Hải, thời anh Nguyễn Hồ Hải chơi nhạc là những năm 1961 – 1694…

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu là dân gốc Hà Tiên hay những người đã từng sống tại Hà Tiên vào những năm 1950 – 1970, ai cũng đều biết cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Không ai biết tại sao có cây dừa ba ngọn nầy, ai trồng ?!! Chỉ biết vào khoảng những năm 1940, cây dừa đã có tại góc ngả tư đường Hàng Dừa và đường Mạc Cửu (ngả tư đường Bạch Đằng và đường Mạc Cửu). Cây dừa ba ngọn nầy rất nổi tiếng ở Hà Tiên, ngày xưa tuy cây dừa không thuộc vào danh sách các kỳ quan thắng cảnh của Hà Tiên (như Đông Hồ, Bãi Mũi Nai, Thạch Động, Hòn Phụ Tử,…) nhưng lúc đó ở Hà Tiên các nhà chụp hình kỳ cựu như Ông Quách Ngọc Bá, Phương Dung, Đức Quang (và sau đó là Tô Châu) đều khai thác hình ảnh đẹp lạ về cây dừa ba ngọn nầy. Vì cây dừa ở ngay vị trí thuận lợi trong quận lỵ nên du khách đến viếng xem cây dừa rất dể dàng. Các tiệm chụp hình kể trên đều xếp hình cây dừa ba ngọn vào tập hình thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên. Ngày xưa các nhà chụp hình ở Hà Tiên thường gắn liền các hình phong cảnh đẹp lạ của Hà Tiên vào hình ảnh con đồi mồi, vì kỷ nghệ làm vật dụng trang sức bằng vảy đồi mồi rất phát triển tại Hà Tiên. Một trong những bức hình rất quen thuộc và có giá trị giới thiệu tổng quát các thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên là hình ảnh một con đồi mồi mà trên lưng có mỗi chiếc vảy là một hình ảnh thắng cảnh đẹp.

Một tác phẩm ghép hình thời xưa: hình con đồi mồi tượng trưng cho kỷ nghệ chế tạo đồ trang sức bằng vảy đồi mồi, trên mỗi vảy có giới thiệu một thắng cảnh đẹp Hà Tiên: Núi Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Động, Mũi Nai, Hòn Phụ Tử, Cây dừa ba ngọn, Lăng Mạc Cửu,…(nhà chụp hình Phương Dung, Hà Tiên)

Cây dừa cao khoảng hơn 5 m, nằm trong khuôn viên cư xá của các Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, và bệnh viện thì nằm đối diện với cây dừa ba ngọn phía bên kia đường Bạch Đằng. Thời đó trước những năm 1950, Bác Sĩ Quản Đốc Bệnh viện là người Pháp nên khu nầy rất trang nghiêm, không ai dám phá rối hay hái trộm dừa trên cây dừa ba ngọn nầy. Theo lời kể của dân địa phương thì cây dừa ba ngọn vẫn có trái như cây dừa bình thường…Tuy nhiên tới đây mình xin nói rỏ là đặc biệt không biết nguyên nhân từ đâu, hay đã có xảy ra chuyện ma quỷ gì không mà người Hà Tiên đồn là cây dừa ba ngọn là nơi có ma quỷ rất thường xuyên, hầu như ai cũng sợ khi đi ngang cây dừa vào ban đêm, nhất là trẻ con như mình thời còn nhỏ đi học hay đi học giờ thể dục sớm ngang cây dừa nầy,…thêm một điều nữa là xéo xéo bên kia đường thì lại là một căn nhà xác của bệnh viện , nơi thường hay quàng lại những người chết qua đêm…Trên khúc đường Bạch Đằng nầy, một bên là dừa ba ngọn có ma, một bên là nhà xác có xác chết, vậy thì hỏi sao mà không sợ ma cho được. (Nhân viết đến đây mình xin nhắc lại một bài viết cũng có nói rỏ về việc nầy: https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/)

Vị trí cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên (Góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu)

Cây dừa ba ngọn Hà Tiên, hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại.

Vào khoảng năm 1953, vì sợ cây dừa bị gãy đổ, người ta đúc trụ xi măng hình chữ T để chống đở thân cây dừa. Đó là hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T mà mình thấy ngay từ nhỏ vì năm 1953 là năm mình mới có 2 tuổi (tính theo tuổi Việt).

Hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T. Căn nhà trong hình là cư xá của Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến bên kia đường. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn, 1965

Trần Văn Mãnh trong những năm 1960-1970, hình chụp ngay trước sân cư xá Bác Sĩ ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu. Bên trái hình là vị trí của cây dừa ba ngọn (không thấy trong hình), bên phải hình là trường Mẫu Giáo Hà Tiên ngày xưa, ngay trên đường Tô Châu, trước mặt trường Mẫu Giáo là sân trống dùng làm sân đánh bóng chuyền ngay xưa. Chiếc xe jeep trong hình là xe thuộc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên.

Theo lời kể của bạn Trần Huỳnh một học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa: « Dãy nhà cư xá cho Bác Sĩ và nhân viên bệnh viện Nguyễn Thần Hiến ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu gồm có 4 căn nhà, căn bìa là gia đình Thầy Tám Trọng ở. Có lần giông bảo lớn quá, cây dừa ba ngọn ngả nghiêng theo chiều gió, làng xả Hà Tiên sợ mất cây dừa rất uổng nên Bác Hai Năng (?) lúc đó là chủ tịch làng cùng với ông Quách Ngọc Bá và một người nữa làm việc ở Chi Công Chánh Hà Tiên cùng nhau góp sức xây cột trụ đở cây dừa ba ngọn như ta thấy trong hình.

Theo tài liệu do Thầy Trương Minh Đạt nghiên cứu thì vào ngày 01/01/1971 (nhằm ngày mùng 5 tháng chạp năm Canh Tuất) tuy không có hiện tượng thiên nhiên nào mạnh bạo gây hại nhưng cây dừa bị tét một nhánh đang có nhiều trái, sau đó không bao lâu hai nhánh còn lại cũng bị gãy luôn. Vào đầu năm 1971 là năm mình học lớp Đệ Nhất (tương đương với lớp 12 bây giờ)  trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá, hình như là mình có nghe tin cây dừa ba ngọn bị gẫy nhưng mình cũng không nhớ rỏ chi tiết sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn như thế nào. (Có nhiều nguồn tin về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn Hà Tiên, có nguồn thì cho là cây dừa bị gãy vào năm 1970, có tin lại cho là vào năm 1972…Có tài liệu cho rằng Ông Quách Ngọc Bá đem ba ngọn bị gãy rời ra của cây dừa ba ngọn về nhà lưu trử nhưng không bao lâu các ngọn nầy bị mục đi nên không bảo tồn được lâu).

Đây là hình cây dừa ba ngọn thân yêu của chúng ta tại mảnh đất Hà Tiên thơ mộng…Hình bản gốc chụp vào năm 1970 do người Mỹ H. Lawrence Serra trong thâp niên 1960 – 1970 đóng quân ở Pháo Đài chụp. (hình do Ông H. Lawrence Serra gởi tặng cho mình vào tháng 10/2017)

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên, một trong những bức hình hiếm và đẹp. (Hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn, có tài liệu « HATIEN PHOTO » do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản có viết rỏ như sau:

« Cây dừa ba ngọn ở góc đường Mạc Cửu và Bạch Đằng, thuộc loại dừa lửa. Ba ngọn nằm theo chiều Nam Bắc. Khi dừa lên cao độ 4 thước, ngọn dừa bị chia xẻ thành 3 ngọn, cũng đâm lá trổ trái ở 3 ngọn như những cây dừa khác. Đó là cây dừa độc nhứt hoàn cầu, vì đã có nhiều người Bắc và Trung trong ngành canh nông, người Pháp từng phục vụ ở Tahiti, người Anh ở Colombo và Singapore, nhiều người Mỹ ở Hawai, thì không một ai được nghe nói hoặc thấy cây dừa nhiều ngọn như cây dừa ở Hatien. Trước khi gãy, cây dừa đã bị nghiêng về hướng Đông, thế nhưng trái vẫn sai, lá vẫn tốt. Chính quyền địa phương đã làm đủ mọi cách để bảo vệ cây dừa nầy, nào lấp gốc, làm cây chỏi bằng béton…dầu được bảo vệ kỷ lưởng như vậy, song đến ngày 1-1-1971 đúng vào lúc 5 giờ chiều, 2 ngọn dừa nằm về hướng Bắc đã bị gãy. Thế rồi khoảng vài tháng sau, một ngọn dừa còn lại ở hướng Nam cuối cùng cũng bị gãy. Nay chúng ta còn thấy cái gốc lấp thật cao, có cây chỏi béton nằm bên cạnh Bệnh Viện Hatien. Đó là di tích còn lại của cây dừa 3 ngọn. HATIEN PHOTO 25-11-1973 »

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Hình gốc trích trong tập HATIEN PHOTO do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản 1973

Hai trang 21 và 22 trong tập HATIEN PHOTO viết về cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản năm 1973

Về sau nầy ở Hà Tiên lại có cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn mọc lên nữa. Về cây dừa bảy ngọn, chuyện kể như sau: khoảng năm 1976 tại cổng bệnh viện Hà Tiên có một cây dừa trái đỏ gọi là dừa lửa mọc lên bảy ngọn (cây dừa bảy ngọn nầy chỉ cách cây dừa ba ngọn trước đó khoảng vài chục thước thôi…), cây dừa nầy sống được khoảng trên 10 năm về sau bị mưa giông có bốn ngọn bị gãy trước, còn lại ba ngọn cuối cùng cũng bị gãy vào giữa năm 1987, cây dừa bảy ngọn bị chết hoàn toàn.

Cây dừa bảy ngọn ở trước bệnh viện Hà Tiên đường Mạc Cửu. (hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa. (Hình: Bronson Ha)

Cây dừa bảy ngọn ở trước bệnh viện Hà Tiên đường Mạc Cửu. (hình: Đỗ Thị Mỹ Duyên sưu tầm)

Sau khi cây dừa bảy ngọn chết đi, Hà Tiên lại có cây dừa bốn ngọn mọc lên tại nhà bác Trương Thế Hữu phường Bình San, thị xả Hà Tiên. Cây dừa bốn ngọn nầy sống cũng được gần 40 năm và cũng bị chết đi. Mình chưa được thấy cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn, là dân Hà Tiên chính gốc, mình chỉ được may mắn nhìn thấy cây dừa ba ngọn hầu như là thấy mỗi ngày vì trong những năm1960 – 1970 hàng ngày mình đều có dịp đi ngang qua cây dừa ba ngọn nầy, lúc thì đi học lúc thì thả rong đi chơi…Ngược lại cũng có nhiều bạn ở Hà Tiên vì là thế hệ trẻ sau nầy nên không có dịp thấy được cây dừa ba ngọn nhưng lại được chiêm ngưởng hai cây dừa sau nầy là cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn.

Cây dừa bốn ngọn (một thế hệ cuối cùng của gia đình cây dừa nhiều ngọn ở Hà Tiên). Phường Bình San, Thị Xả Hà Tiên

Thầy Trương Minh Hiển chụp hình tại cây dừa bốn ngọn ở Hà Tiên. (Hình: Trương Mộng Uyên 1997)

Hiện nay ở Hà Tiên các kỳ quan về cây dừa ba ngọn, bảy ngọn và bốn ngọn đã biến mất, chúng ta có thể hy vọng nơi đâu đó trên mảnh đất Hà Tiên mầu mở nầy sẽ có một thế hệ mới dừa nhiều ngọn mọc lên, tiếp tục làm tỏa sáng danh tiếng đất Hà Tiên. Tuy nhiên đối với mình trong lòng mình chỉ có hình ảnh cây dừa ba ngọn với trụ xi măng hình chữ T chống đở là hình ảnh duy nhất của cây dừa kỳ quan ở Hà Tiên, hình ảnh sẽ và còn sống mãi trong lòng những người yêu mến Hà Tiên, nơi mình sinh ra và lớn lên…

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

    Paris   TVM 01/06/2018

 

 

Em yêu thầy ! (Hồ Thị Kim Hoàn)

Giới thiệu bài « Em yêu thầy » của tác giả Hồ Thị Kim Hoàn

Thầy cô và các bạn thân mến, không biết ngày xưa lúc còn đi học thầy cô như thế nào nhưng ở trường Trung Học Hà Tiên thì học trò rất đa tình, nhất là học trò nữ….(đúng không các bạn nữ sinh Trung Học Hà Tiên, nếu không đúng thì hãy đính chánh nhé vì mình có bằng chứng hẳn hoi sẽ đem ra đối chiếu ngay tại đây cho các bạn xem…). Vấn đề là cho tới ngày hôm nay không ai khám phá ra được nhân vật « thầy » trong câu chuyện của cây bút quen thuộc của chúng ta là bạn Hồ Thị Kim Hoàn, « thầy » nào được diểm phúc lọt vào mắt xanh (không! mắt đen vì nhân vật nữ là người Việt Nam mà) của em học trò 14 tuổi…Nếu thầy cô và các bạn đọc bài kỷ, sẽ thấy có một vài điểm giúp cho ta trong công cuộc tìm tòi sự thật…: đó là thầy nào đã dạy năm lớp Đệ Tứ của cô bé 14 tuổi trong câu chuyện và cô ấy đã đứng hạng nhứt trong hai kỳ thi lục cá nguyệt, dể quá chỉ cần nhớ lại cô ấy đứng nhứt trong môn nào thì có thể suy ra thầy nào dạy môn đó,…!!. Thêm một chi tiết nữa là vị thầy đó lại rời khỏi Hà Tiên trong ba tháng hè…, thôi hãy để đọc giả tự tìm tòi suy luận và nếu có kết quả nhớ viết « nhận xét » dưới bài nầy nhé,…Dù sao thì « cuộc tình to lớn của thập niên 60 » đó cũng đã tan biến nhanh đi như bọt biển Hà Tiên sau vài tuần lễ « đau khổ »….Đúng như tác giả đã viết, thà rằng như vậy để cho « mối tình » ấy vẫn đẹp, ngây thơ, trong trắng và trở thành một kỷ niệm dễ thương và như thế chúng ta mới có một câu chuyện thật vui, thật nhẹ nhàng điểm tô cho quảng đời học sinh đầy mộng mơ…

(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Em yêu thầy

Xin đừng hỏi “thầy nào?” nhé.
Nếu tôi nói:
– Thầy hiền lành nhất, dáng cao cao. Thì bạn sẽ đoán là Thầy Chiếu.
– Còn tả thầy vui vẻ, trẻ đẹp, nói giọng miền trung. Thì bạn biết ngay đó là thầy Cầm.
– Thầy đạo mạo, hay mặc áo sơ mi màu xanh. Đó là thầy Hậu.
– Thầy nổi tiếng đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt đượm tình. Còn ai ngoài thầy Ẩn.
– Thầy đã có vợ rồi ư. Đó là thầy Trí, thầy Thành, thầy Hiển.
Tôi sẽ không khai tên của thầy đâu. Đánh chết cũng không khai!
Chỉ xin kể cho các bạn nghe thôi.
Năm học đệ tứ, 14 tuổi, tôi đã biết yêu!

Cô học trò 14 tuổi học lớp Đệ Tứ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Tôi không yêu các bạn trai cùng lớp. Cũng không để ý các anh học lớp trên. Mà tôi nghe lòng xao xuyến trước hình ảnh của một vị giáo sư. Dưới mắt tôi, thầy là thần tượng, học cao, hiểu rộng. Tôi ghiền nghe giọng giảng bài của thầy. Hôm nào thầy vắng mặt, tôi buồn lắm, hồn phách tôi phiêu lạc nơi nao!

Khi yêu ai, mình cũng muốn đối tượng chú ý tới mình. Tôi không đẹp, không có gì đặc biệt để gợi sự chú ý của ai cả. Vậy thì làm cách nào đây?

Tôi nghĩ ra rồi: Tôi phải gắng học! Tôi phải hạng nhất trong môn học của thầy dạy, may ra thầy sẽ chú ý đến tôi. (Cũng chẳng cần nghĩ, thầy chú ý tôi để làm gì? :))

Thế là suốt năm học ấy, tôi đặc biệt cố hết sức vào một môn học. Kết quả là tôi đã đạt được mong muốn: Tôi đứng hạng nhất trong 2 kỳ thi lục cá nguyệt.

Thế nhưng than ôi, thầy cũng không chú ý đến tôi chút nào. Tôi cũng vẫn là một cô học trò bình thường như bao học trò khác của thầy mà thôi.

Tôi không dừng lại. Tôi tìm cách đến nhà thầy. Thường thì giả vờ hỏi bài, chuyện trò bâng quơ. Chỉ cần nhìn thấy thầy thôi, là tôi đủ vui vẻ cả ngày rồi.

Mùa hè năm ấy tôi buồn lắm. Sắp xa thầy đến 3 tháng, làm sao tôi chịu nỗi đây?

Khi thầy đi, tôi tưởng đất trời như sụp đổ. Không gian xứ Hà chợt hiu hắt hơn bao giờ:

Mây chết lặng chẳng buồn trôi
Khung trời mùa hạ chơi vơi nỗi sầu
Biển đong đưa sóng rì rào
Cảm thông cô bé nát nhàu tâm tư.

Đúng là tôi bị… thất tình rồi! Tôi biếng ăn, biếng ngủ. Ai rủ đi đâu cũng chẳng thèm đi. Tôi thấm thía 2 câu thơ của Xuân Diệu:

“Người đi một nửa hồn tôi chết
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.”

Những ngày đầu mùa hè của tôi như thế đấy. Nhưng rồi “thời gian là liều thuốc nhiệm mầu” Cho đến khi hồn tôi dường như sống lại, tôi dần dần trở về với cuộc đời bình thường.

Tôi nhẩm tính xem nửa hồn tôi đã chết trong bao lâu? : Vỏn vẹn 4 tuần lễ! Và rồi sau đó, tôi đã quên thầy lúc nào không hay.

Chao ôi, sao tôi nghe người ta nói khi mình yêu ai thì “ngàn đời vẫn còn nhớ, muôn kiếp không hề phai…” Thế sao tình yêu của tôi lại… yểu mệnh thế này?

Thì ra đây chẳng phải là tình yêu. Đây chỉ là một thứ tình lãng mạn, bồng bột của tuổi học trò. Đến như vũ bão và đi thật âm thầm.

Lại thấm thía câu: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Nhưng tình mình có “họp” đâu mà “dang dở” cơ chứ? Thôi thì cứ xem là mối tình ấy rất đẹp, thơ ngây và trong trắng. Một kỷ niệm dễ thương của tuổi học trò.

Hồ thị Kim Hoàn

July 8, 2017

Hình ảnh: Hồ Thị Kim Hoàn, Internet

Thầy Trương Minh Đạt

Thầy Cô và các bạn thân mến, từ lâu rồi sau khi viết bài giới thiệu Thầy Trương Minh Hiển, mình đã có ý viết luôn bài giới thiệu Thầy Trương Minh Đạt (người em song sinh với Thầy Hiển). Chần chờ bấy lâu không phải vì thiếu nhiệt tình nhưng vẫn mong một bạn cùng trường nào đó khởi bút viết lên cho bài được phong phú và đầy đủ chi tiết hơn so với dự án bài viết của mình. May mắn thay, có nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật tỉnh Kiên Giang Giá Khê Trương Thanh Hùng vốn cũng là cựu học sinh Trường Trung Học Hà Tiên và là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Thái Minh đã gởi bài viết rất đầy đủ về Thầy Trương Minh Đạt.

Thầy Trương Minh Đạt có một thời gian giảng dạy ở Trường Trung Học Hà Tiên, nhưng mình không có cái duyên học với thầy vì Thầy dạy vào những năm mà mình còn chưa vào Trung Học….Sau một thời gian khá lâu sau, Thầy vào quân đội và chuyển về Hà Tiên làm việc, lúc đó qua sự liên hệ với Thầy Hiển, mình mới có dịp quen biết và tới lui rất nhiều với Thầy Đạt. Lần đầu tiên mình thấy Thầy Đạt là lúc Thầy mặc bộ quân phục với đôi kính đen rất đẹp và oai nghiêm, lúc đó Thầy ngồi trong quán cafe Dũ Long….Qua sự thành lập quán cafe nhạc Ti La của Thầy Đạt, mình và các bạn học Trường Trung Học Hà Tiên lại có dịp mỗi tối đều đến quán Ti La uống cafe và nghe nhạc tới khuya. Sự quan hệ không phải chỉ đơn thuần là khách đến quán thưởng thức cafe nghe nhạc mà là sự quan hệ Thầy trò của nhóm học trò có thể nói là « ruột » của Thầy Hiển và Thầy Đạt. Qua sự phổ biến những bài nhạc rất hay và có giá trị của các nhạc sĩ ngày xưa: Trịnh Công Sơn, Phạm Duy … , qua các cuộn băng nhạc quý giá do Thầy Đạt và phu nhân là Cô Liên sưu tầm, trình độ hiểu biết và thưởng thức về nhạc của mình nói riêng và của cả nhóm học trò nói chung rất nâng cao, đó là một điều mà chúng ta rất mang ơn Thầy Cô Đạt…Xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn bài viết dưới đây của bạn Trương Thanh Hùng.  (Lời giới thiệu Trần Văn Mãnh)

Thầy Trương Minh Đạt cùng các con. Rạch Giá năm 1968

Trần Văn Mãnh chụp hình với Thầy Trương Minh Đạt vào năm 1994 (nhân dịp mình lần đầu tiên trở về thăm Hà Tiên sau khi đinh cư ở Pháp từ năm 1986)

Bài viết của Trương Thanh Hùng:

 Kha khá lâu rồi, vì bận việc riêng nên tôi không viết cho trang Trung học Hà Tiên xưa của chúng ta, nay xin được viết giới thiệu đôi dòng về thầy Trương Minh Đạt, một trong những người thầy đầu tiên của trường Trung học Hà Tiên vào thời điểm trường mới được thành lập.

Trước đây, tôi đã có nói đến thầy Trương Minh Đạt, thầy ra trường Sư Phạm Sài Gòn năm 1954 và về Hà Tiên dạy Trường Tiểu Học, khi Trường Trung Học được thành lập, thầy được bổ sung dạy Trung Học, Thầy dạy đủ các môn khoa học, Toán, Vật Lý, Hóa Học… mà những học sinh đầu tiên của Thầy cũng đã trở thành nhà giáo như là Thầy Trần Phình Chu, Cô Lâm Ánh Tuyết, sau đó là anh Lâm Quang Rằm. . . Thầy Đạt là em song sinh của Thầy Trương Minh Hiển. Gia đình Thầy có thể được xem là gia đình có truyền thống văn chương, người anh cả (anh hai) là Trương Văn Em có bút danh Lư Khê, một nhà văn, nhà báo có tiếng, chồng của nhà thơ Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm), người hoạt động khá nổi tiếng trong phong trào cổ vũ cho thơ mới những năm 1932-1939. Nhà báo Lư Khê bị ám sát chết ở Sài Gòn vào những năm 1950. Người anh thứ ba là Thầy Trương Văn Vinh, từng là ủy viên giáo dục của ủy ban khởi nghĩa chống phát xít Nhật năm 1945, sau đó là trưởng ty giáo dục tỉnh Hà Tiên của chính quyền Việt Minh. Sau năm 1954, Thầy tập kết ra Bắc, sau năm 1975, Thầy về công tác ở trường Đại Học tại Sài Gòn, bị bệnh tai biến và đã mất. Thầy Trương Minh Hiển thì chúng ta đã biết nhiều. Khoảng năm 1956, vì lý do riêng Thầy Trương Minh Đạt  thuyên chuyển ra ngoài Phan Thiết dạy học, rồi động viên vào lính. Từ đó, Thầy không còn dạy học. Khoảng năm 1970, Thầy được thuyên chuyển về Hà Tiên với cấp bậc đại úy. Dù mang cấp bậc đại úy, nhưng Thầy vẫn mở lớp dạy tư tại nhà (anh Trương Thái Minh của tôi từng đến học thêm với Thầy). Sau đó, Thầy bị tai nạn mất hết 1 con mắt và giải ngũ.

Sau năm 1975, Thầy đi học tập cải tạo một thời gian rồi về lao động kiếm sống bằng nghề “xe nước”, đồng thời nghiên cứu Phật học, Thiền học và nghiên cứu về lịch sử Hà Tiên. Có thể nói, Thầy cũng có một thời gian khá vất vả về cuộc mưu sinh, nhưng tình yêu quê hương Hà Tiên đã thôi thúc Thầy nghiên cứu và nổi tiếng, trở thành một nhà sử học, nhà nghiên cứu mà nhiều người hoạt động trên lĩnh vực sử học và văn hóa trên cả nước biết đến.

Ngày 14 tháng Giêng năm nay (Đinh Dậu), Thầy có tổ chức ra mắt quyển “Nghiên cứu Hà Tiên” tập II vì trước đó khá lâu đã có tập I. Những bài viết trong quyển sách này rất công phu cho người đọc cái nhìn chân thật hơn về lịch sử và văn hóa Hà Tiên, đồng thời cũng phản bác những nhận định, đánh giá sai lầm về lịch sử, địa danh cũng như các nhân vật lịch sử, văn hóa của Hà Tiên. Quyển sách được giới chuyên môn đánh giá rất cao.

Về dự buổi ra mắt này có một nhân vật khá đặc biệt, đó là thầy Trần Văn Bân, cũng tốt nghiệpSư Phạm Sài Gòn về dạy Tiểu học Hà Tiên năm 1952, là bạn, là đàn anh của thầy Đạt, hiện đang sinh sống ở Cái Bè (Tiền Giang). Thầy Bân đã phát biểu khá nhiều kỷ niệm cảm động đối với Hà Tiên. Những người học trò của Thầy ngày xưa như anh Rằm, anh Tùng (con Thầy Ký). . . rất quyến luyến Thầy. Ngoài ra còn có khoảng 40 người là học trò, thân hữu của Thầy Đạt đến dự rất thân mật, đầm ấm. Đến buổi chiều, chính quyền thị xã Hà Tiên có tổ chức đoàn đến chúc mừng.

Tôi không được học với thầy Đạt nhưng cũng khá đậm tình văn chương nên cũng được Thầy mời về dự, nay viết vài dòng để Thầy Cô và anh chị, bạn bè cùng biết, chia vui với gia đình Thầy.

                                                                          Trương Thanh Hùng  (04/2017)

Thầy Trương Minh Đạt hiện nay

Thầy Trương Minh Đạt và các cựu học sinh Trung Học Hà Tiên (Nguyễn Thúy Vân, Trương Thanh Hùng)

Buổi lễ ra mắt sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Thầy Trần Văn Bân (nhà giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên vào những năm 1952…

Quang cảnh quán cafe Ti La hiện nay (đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 1 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 1 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Giới thiệu sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trương An Nhu, Trương Minh Đạt, Trương Minh Quang Nguyên.

Bốn chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Hà Tiên (Hà Hưng Quốc)

1/ NGƯỜI THẦY DẠY TÔI GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHẢN BIỆN

Tôi gặp lại thầy Trương Minh Hiển lần thứ nhì vào năm 2007 (?) tại Sài Gòn. Lúc đó thầy đang dạy ở Đại Học Văn Lang. Thầy trò đã kéo nhau vào Bình Quới ăn trưa và tâm sự suốt mấy tiếng đồng hồ rồi sau đó kéo về căn chung cư chật hẹp của thầy ở Quận 4. Tại đây thầy Hiển trao cho tôi ba quyển sách: cuốn tiểu thuyết huyền sử Bà Chúa Xứ do thầy Hiển sáng tác, cuốn Địa Đàng ở Phương Đông của Dr. Oppenheimer do thầy Hiển dịch bản nháp bìa đóng bằng giấy thùng cạt tông, và cuốn Việt Điện U Linh Tập đã ngã màu. Nhờ lần gặp nhau đó mà tôi mới biết được tôi với thầy có một tương thích là đang nghiên cứu về cội nguồn đích thực của dân tộc. Đó là lần sau cùng tôi gặp thầy và vĩnh viễn không còn một cơ hội nào nữa.

            Lúc xưa thầy Hiển rất năng động và thích chính trường. Tôi nhớ là đám học sinh Trung Học Hà Tiên của chúng tôi đã từng đi khắp Hà Tiên vận động tranh cử cho thầy Hiển. Nhưng giấc mơ trở thành một nghị viên dân cử đã không thành. Người đã giúp khai phóng khả năng và giúp tôi tin vào giá trị của sự phản biện không ai khác hơn là thầy Trương Minh Hiển.

Thay_TruongMinhHienTrái: Thầy Trương Minh Hiển

            Tôi học quốc văn với thầy Hiển vào năm Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ. Ngoài việc giúp học trò chúng tôi tiếp thu kiến thức căn bản chiếu theo giáo án ấn định, thầy Hiển còn bỏ nhiều thời gian dạy chúng tôi làm thơ, viết văn, phân tích, tổng hợp, lý luận, phản biện, phỏng vấn, khảo sát thực địa, thí dụ như thầy đã từng đưa chúng tôi đến nhà ông Năm Bùn là một nhân vật trong truyện Cánh Buồm Đen của của Sơn Nam để phỏng vấn hoặc là đến nhà của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã từng cư ngụ để tìm lại dấu vết xưa. Ngay cả việc nhờ học trò chúng tôi đi vận động tranh cử, tuy thực sự là cần chúng tôi giúp đỡ nhưng đồng thời cũng là một phương pháp đào tạo của thầy qua hoạt động thực tiễn cho đám học trò của mình. Nếu chưa nhìn ra điều này thì chưa thực sự hiểu thầy. Những kinh nghiệm như vậy, cũng là những kỷ niệm không quên, là món quà vô giá mà thầy Hiển đã trao tặng cho chúng tôi năm xưa. Nhìn lại, tôi thật sự khâm phục thầy Hiển và phải tự nhận là sở dĩ tôi có được khả năng cầm bút ngày hôm nay một phần lớn là do thầy Hiển đã bỏ công sức uốn nắn lúc trước. Cảm ơn thầy, vị thầy kính yêu của con. Cảm ơn mớ hành trang vô giá mà thầy đã trao tặng mỗi đứa để giúp chúng con bước xuống cuộc đời một cách đầy tự tin và dùng năng lực đó để làm ấm những mảnh đời chung quanh.

2/ BƯỚC XUỐNG CUỘC ĐỜI

Cụm chữ « Bước xuống cuộc đời » làm cho tôi nghĩ tới một người. Một ngày của năm nào đó trong quá khứ, ba đứa chúng tôi đã bước ra khỏi cửa nhà của Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh để đi vòng vòng như mọi ngày. « Theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say, theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau, cho em . . . », Mãnh vừa đi vừa huýt gió một đoạn trong bản tình ca Vũng Lầy Của Chúng Ta mà chúng tôi rất ưa thích thời đó. Một đứa trong chúng tôi bước xuống lề và vô ý giẫm mạnh lên vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt đường làm nước bẩn văng trúng quần chúng tôi. Anh Dõng đã khựng lại nhìn xuống chỗ dính dơ trên quần của mình rồi lầm bầm trong miệng: « Tại sao là bước xuống cuộc đời mà không là bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời? » Đúng là ngớ ngẩn. Chẳng ăn nhập gì với vũng nước và cái quần bị làm dơ. Nhưng lại là thứ ngớ ngẩn bất chợt lóe lên trong tâm thức của một triết gia ở khoảnh khắc của một hiện tượng phát sinh và biến mất mà chỉ có hắn mới bắt kịp, kéo nó lại và treo nó lơ lửng, như bắt lấy một frame của video, và khám phá diện mạo rất mới của một hình ảnh cũ mèm nhạt nhẽo. Đó là anh bạn Dõng của tôi mà tôi biết. Và cái ngớ ngẩn thoát ra từ cửa miệng của anh ấy, dầu rất khẽ, đã bám theo tôi cho tới ngày hôm nay. Thú thật tôi vẫn chưa có câu trả lời là mình đã bước xuống cuộc đời, bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời. Anh có câu trả lời chưa vậy anh Dõng?  

TranvanDong1972TranvanManh1970

            Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Văn Mãnh

Dõng Mãnh tuy là hai anh em ruột nhưng bản chất hoàn toàn trái ngược. Anh Mãnh là mẫu người sống động, hào nhoáng, trẻ trung, thích vui, đam mê âm nhạc và có thiên khiếu chơi đàn guitar. Còn anh Dõng là mẫu người trầm lặng, sống nhiều với nội tâm, ăn nói nhỏ nhẹ, thích triết học, có khả năng tư duy cao, giỏi toán, rất mẫn cảm nhưng khéo che dấu cảm xúc và chỉ khi nào anh uống rượu thật say thì mới để lộ, không thích đấu khẩu tào lao nhưng khi cần tranh luận thì luôn tranh luận cho vị thế ngược với chỗ đứng của anh để giúp anh cũng cố thêm cho chỗ đứng của mình. Có lẽ vì vậy mà chưa bao giờ thấy anh nổi giận với ai. Người ta càng công kích mạnh mẽ chỗ đứng A của anh đưa ra thì anh càng cười khoái chí vì trong bụng anh biết rõ là anh không tin vào chỗ đứng A nên mượn người đối diện giúp anh phản biện để anh có cơ hội xác định giá trị của chỗ đứng B, ở đó mới thật là chọn lựa của anh. Rất thông minh. Và tôi đã áp dụng kỹ năng này trong vai trò quản trị công ty rất thuần thục. Trường học không có dạy nó. Tôi học từ anh Dõng năm xưa khi tôi có dịp quan sát anh tranh luận với các bạn khác. Cảm ơn món quà của anh nhé anh Dõng, anh bạn thân quí của tôi.

            Anh Dõng ít khi đi chơi riêng với tôi. Anh không có nhiều thì giờ để đi chơi vì bận học, vã lại anh cũng không mấy thích lang thang cả ngày như tôi. Trong những lần hiếm hoi cùng nhau ngồi uống cà phê hay trà đá ở quán cô Năm Lèo hoặc ở quán thương phế binh gần bờ sông thì hai anh em chúng tôi thích tán gẫu về triết học. Chia sẽ với nhau suy nghĩ của mình về những tác phẩm lớn của một thời như « Đôi Bạn Chân Tình » của nhà văn Thụy Sĩ gốc Đức Hermann Karl Hesse, « Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết » của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, « Kẻ Xa Lạ » của triết gia Pháp Albert Camus, « Buồn Ơi Chào Mi » của nhà văn Pháp Françoise Sagan, « Ngư Ông Và Biển Cả » của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, vân vân và vân vân. Chẳng biết lúc đó chúng tôi lĩnh hội được bao nhiêu, phê bình đúng hay sai, và sự hiểu biết có phủ đầy lá mít hay không nhưng một điều chắc chắn là lúc đó tôi rất nể ông anh triết gia (bởi bản chất) Trần Văn Dõng của trường Trung Học Hà Tiên.

3/ MỘ GIÓ

Bây giờ đang là những ngày đầu năm âm lịch năm Bính Thân 2016. Hội chợ Tết của người Việt ở Mile Square Park của Quận Cam được tổ chức thật đình đám. Nghe người ta nói là rất đông và vui. Tôi không có mặt ở đó vì bận đi thăm mộ bà nhạc mẫu. Ngồi lặng lẽ ở nghĩa trang suốt mấy tiếng đồng hồ, nhìn những mộ bia thẳng tấp nằm sát mặt đất phủ cỏ xanh, tôi liên tưởng đến những người bạn đã ngã xuống ngày xưa ấy….

NguyenNgocThanhTrái: Nguyễn Ngọc Thanh

            Rồi nghĩ tới những thằng bạn thời trung học. Lại nhớ tới một cái Tết nào đó năm xưa, vào ngày mùng 5 âm lịch thì phải, anh Nguyễn Ngọc Thanh đã lấy ghe chở cả đám ra đầu gành Bãi Nò ăn tiệc mừng năm mới. Hình như là có anh La Văn Cao, Anh Trần Văn Dõng, anh Nguyễn Đình Nguyên, anh Trần Văn Mãnh, anh Lê Phước Hải, anh Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Trang Việt Thánh và vài người nữa không nhớ hết, tuyệt nhiên không có lấy một bóng nữ. Chúng tôi bưng theo nào là bánh tét, nào là dưa hấu, nào là gà luộc và dĩ nhiên không thiếu bia rượu. Cả đám mặc tình mà tiệc tùng và nỗ như pháo xuân. Được một lúc thì ba thằng Dương, Kiệt, Thánh (?) lặng lẽ biến mất. Chừng nửa giờ sau thì một thằng trở về, đứng ờ một khoảng cách khá xa vừa gọi vừa quay đi « có chuyện lớn rồi đi tới đây nhanh lên. » Thế là cả bọn đi theo nó. Đến một góc núi, mũi ông Đốc Nhơn, thì thấy hai thằng quỷ kia đang xì xụp khấn vái trước một ngôi mộ, và trên mộ bia ghi « Tiến Sỹ Hà Quốc Hưng Chi Mộ ». Vừa vái vừa réo « Hưng ơi là là Hưng ơi sao mày đành lòng bỏ đi sớm vậy Hưng ơi là Hưng ơi ». Thiệt tình là tôi muốn nhào vô đá cho mỗi thằng một cái. Chơi chi mà ác nhơn. Mới đầu năm đầu tháng không chúc lành thì thôi có đâu lại trù cho mình chết yểu. Mà biết đâu mình sẽ quảnh củ tỏi sớm cũng không chừng. Ông thầy bói cà chớn nào đó đã nói là mình sẽ không sống qua 26 tuổi mà. Cả bọn ôm bụng cười với trò lí lắc này nhưng riêng tôi thì rất quạu. Mấy mươi năm qua rồi bây giờ nghĩ lại thấy vui vui. Biết đâu nhờ tụi nó khai tử tôi lúc đó mà tôi còn sống tới bây giờ với cái tên mới Hà Hưng Quốc sau khi qua Mỹ. Và biết đâu cũng nhờ lời tiên tri của tụi nó mà tôi đã học hành tới nơi tới chốn. Chỉ có trời biết, đất biết và tụi nó biết thôi.

4/ BỐN CHÀNG NGỰ LÂM PHÁO THỦ CỦA HÀ TIÊN

Kiệt, Thánh, Dương và tôi học cùng lớp. Bốn đứa chơi chung với nhau rất thân. Chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi dưới gốc cây da Chùa Lò Gạch đấu khẩu về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, có khi đấu khẩu đến cả tiếng đồng hồ, đến xùi cả bọt mép. Thường là tôi với Dương đứng về một phía của trận chiến tranh luận còn Kiệt với Thánh ở phía bên kia. Thời đó chúng tôi đã sớm có những quan tâm đến vấn đề chính trị và xã hội. Và có lẽ sự chọn lựa hướng đi của tương lai cũng đã định hình từ những ngày đó. Dầu đấu khẩu có gay gắt đến đâu thì cuối cùng chúng tôi vẫn là một nhóm bạn keo sơn. Nhiều khi keo sơn quá mức. Keo sơn đến độ cả bốn đứa đều cùng trồng cây si trước nhà của một giai nhân đất Hà. Cũng may là chỉ cạnh tranh nhau để giành sự chú ý của người đẹp ở mức độ vừa phải chứ chưa đến nổi phải oán ghét nhau. Tôi tin rằng tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ bị sức mẽ (có đúng không vậy quí cụ?). Cho đến ngay cả sau khi Thánh và Kiệt rời trường Trung Học Hà Tiên chuyển về Sài Gòn tiếp tục việc học thì sự gắn bó đó cũng vẫn không thay đổi.

TrangVietThanhTrái: Trang Việt Thánh

            Trong bốn đứa có lẽ Thánh là người suy nghĩ sâu sắc và chững chạc hơn cả. Có lẽ do suy nghĩ quá nhiều và nếm đủ hương vị mật đắng của tình yêu đầu đời quá sớm mà đầu Thánh đã lưa thưa tóc bạc từ khi còn đi học. Thánh có thói quen chỉ ngón tay cái lên trời hoặc xòe ngửa cả bàn tay ra phía trước lắc lắc lúc lý luận. Khi suy nghĩ lung lắm thì hay dùng ngón tay giữa gãy trên đỉnh đầu. Còn lúc bối rối hay muốn che dấu cảm xúc thì dùng một ngón tay của bàn tay trái khều khều chân tóc trước trán. Sau mấy mươi năm không biết Thánh đã thay đổi quán tánh đó chưa hay vẫn như vậy. Thánh giỏi toán, giỏi lý luận, đặc biệt là tam đoạn luận, và giỏi cả phản biện. Sau này nhờ Dương nói mà tôi mới biết thêm là Thánh còn có tài làm thơ với bút hiệu là Hoài Nhân.

« Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sỹ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông
Thuyền ai đó chơi vơi trôi dưới Nguyệt
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không. »
(Ngày Về -1970)

« Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!. »
                              (Dấu Tình -1969)

Đọc những dòng thơ của Thánh sáng tác từ thời trung học mà thấy lòng mình chơi vơi (và chới với) . Nếu tôi là « người ấy » thì chắc chắn tôi đã ngã gục trước những con chữ có linh hồn của hắn ngay. (Tuy nhiên, có một câu chắc chắn đã bị nàng trừ điểm là câu « dại dột yêu em nên chết cả đời« . Thánh ơi thằng con trai biết yêu sớm là thằng khôn trước tuổi. Yêu đúng đối tượng đáng yêu và nhờ đó mà mình có thể vắt máu trái tim ra viết những dòng thơ thì rõ là thằng con trai đó cực kỳ thông minh và sáng tạo chứ sao cho là dại dột. Ngày hôm nay khả năng cảm nhận, nắm lấy và diễn đạt những thứ xuất phát từ trái tim người ta gọi là « emotional intelligence » đó bạn. Tình yêu đích thực phải là « no return, no refund » nghe bạn).    

            Ngoài tài năng nổi trội, Thánh còn là người hào phóng và hết lòng với bạn. Có những lần Dương và tôi lang thang ở Sài Gòn phải nhờ đến sự giúp đỡ, Thánh đã không ngần ngại đem cầm cả dây chuyền vàng mẹ cho để cứu nguy bạn bè. Hiếm có. Cảm ơn nghe ông bạn.  

Trái: Trần Tuấn KiệtTranTuanKiet

                        Kiệt đẹp trai nhất trong bốn đứa lại thông minh. Thầy Hiển luôn khẳng định như vậy. Kiệt vui tính và hay làm trò. Phá phách cũng một cây xanh rờn. Bình thường thì có dáng vẽ rất thư sinh nhưng một khi đã nổi nóng thì dám chơi tới bến, bất kể hậu quả. Da của Kiệt rất trắng. Mỗi khi da cổ bắt đầu nổi lấm chấm đỏ là lúc Kiệt bắt đầu quạu. Và khi Kiệt đã thiệt quạu thì mặt đỏ gay. Lúc đó phải coi chừng. Sau này Kiệt lên Sài Gòn tiếp tục việc học ở trường Hưng Đạo nằm trên đường Cống Quỳnh rồi vào học kỹ thuật Phú Thọ (?). Khỏi cần giới thiệu thì cũng đủ biết Kiệt là một trong những học sinh ưu tú thời đó. Có vài lần ghé qua thăm Kiệt, hình như là nhà ở trong hẻm Bùi Viện (?), rồi cùng nhau lội bộ đi qua nhà Thánh. Bây giờ thì chẳng còn nhớ nhà Thánh nằm ở đường nào. Chỉ nhớ là có một lần đi ngang qua cầu Ông Lãnh bị chị em ta chọc ghẹo, và họ chỉ nhắm vào Kiệt vì cái tội đẹp trai, đã làm cho Kiệt lúng túng thấy rõ. Thì ra Trần Tuấn Kiệt không sợ trời không sợ đất lại sợ quí cô nương cầu Ông Lãnh.   Lần sau cùng gặp lại, sau bao nhiêu năm xa cách, Kiệt vẫn là Kiệt « quậy » của năm nào. Chỉ có điều là tóc đã muối tiêu và hình như có nhiều mỏi mệt. Duy có một điều không mỏi mệt sau ngần ấy năm là việc nhắc tên của một người. Còn ai khác nếu không phải là nàng, giai nhân của đất Hà.    

   LePhuocDuong     Trái: Lê Phước Dương

            Dương với tôi là cặp bài trùng. Tôi gọi má của Dương là Chị Hai từ khi tôi biết Dương. Má của Dương bảo tôi gọi như thế vì chị gọi ba tôi là Cậu Năm, hình như là bà con xa chi đó (?). Tôi ăn ở nhà Dương. Tôi ngũ ở nhà Dương. Đôi khi tôi mặc cả quần áo của Dương. Tôi đã từng nói đùa với Dương là tôi lớn lên nhờ chén cơm phiếu mẫu. Nhưng nói như vậy là không đúng và không biết quí ân tình của Chị Hai bởi vì phiếu mẫu cho cơm Hàn Tín là bố thí, vã lại tôi không phải là Hàn Tín, còn những bữa cơm của Chị Hai là những bữa cơm trộn cả thương yêu vào đó đối với cả hai đứa tôi chứ không phải bố thí. Chị Hai rất thương Dương và vì là cặp bài trùng nên Chị Hai cũng coi tôi như con trong nhà. Nhà Dương có một bộ phản gỗ đặt ở phòng khách cạnh cửa sổ. Trên chiếc phản gỗ đó tôi đã có không biết bao nhiêu giấc ngũ trưa. Nói tóm lại, tôi gần gũi với Dương nhiều hơn là gần gũi với anh em ruột của mình.

            Dương rất trực tính. Ngay trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Dương vẫn thường xài thanh long đao của Quan Công hoặc cặp búa lớn của Trình Giảo Kim. Tuy nghe giọng điệu có vẽ táo tợn nhưng Dương lại là một người rất mẫn cảm, yêu thơ văn và có khả năng sáng tác, lại rất thủy chung. Dương lưu trữ từng sự kiện ở quá khứ của bốn đứa trong bộ nhớ. Dương có thể đọc vanh vách từng bài thơ của bạn bè đã sáng tác. Dương cưu mang từng kỷ niệm trên lưng với tất cả tự hào và với tất cả sự trân trọng. Nghe đâu Dương cũng rất can đảm trên chiến trường. May là gãy súng sớm chứ nếu không thì đã leo cao hoặc lên bàn thờ ngồi từ lâu.

            Dương ví tôi giống như Dương Quá si mê Cô Long nhưng thiếu thủy chung của gã. Đúng quá. Để đáp lại, tôi muốn tặng Dương một bài thơ ngắn của sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh.

« Dòng sông không chảy hai lần
 Ai hay giọt nước tần ngần không trôi
Luyến lưu là chuyện nực cười
Tử sinh bám siết ngàn đời biết sao. »

Dương cũng ví tôi như Lệnh Hồ Xung hai đạo hắc bạch đều chơi, chánh tà đều chẳng cần phân biệt. Đúng luôn. Dương thường nói « sinh ra Dương là cha mẹ còn hiểu Dương chỉ có một mình Hưng, và ngược lại. » Chẳng sai. Nhưng riêng góc khuất tâm linh thì tôi e rằng Dương chưa thật thấy hết. Có lẽ bây giờ là cơ hội tốt để tôi mở luôn cánh cửa cuối cùng để cho thằng bạn thân nhìn thấy, thông qua những dòng thơ tôi sáng tác hơn 40 năm trước khi hai đứa vẫn còn ngồi chung dưới một mái trường,

« Khói cay và cỏ lã
Còn em no bóng tối
Còn anh no hẹn hò
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi anh
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi em
Còn Ta
Tiếng im từ lòng thẳm
Không có màu thời gian
Bến đậu vô cùng
No xót xa?
No hy vọng?
Gì?

Anh cuối xuống ngực em màu sữa
Tiếng thở em
Và tiếng thở anh
Hòa quyện
Như loài rắn ân cần làm tình trong đêm tối
Ta đến gần
Ôm mặt trời trong tay
Mặt trời lạnh trong tay
Lạnh thủy tinh
Giữ một mình
Nơi miền của miền
Anh im lặng
Em nụ cười ngu ngơ
Ta bỏ đi, lành lạnh
Em nghe không
Tiếng thở dài nơi anh?

Mở con mắt tre gai
Nhìn nhau qua ngục tối
Môi tìm môi âm thầm
Tay tìm tay vòng rắn
Tiếng động nào tháng năm. »

(Đơn Điệu – 1970)

Cánh cửa đã mở xong. Bên sau cánh cửa vừa mở đó, ai mới là Hưng?

HaQuocHung (2)Trái: Hà Quốc Hưng

            Tuy là đôi bạn chân tình nhưng Govinda đã chọn theo chân đức Phật để trú ngụ dưới cây dù giới hạnh và hưỡng sự an lạc của một đời sống phạm hạnh trong khi Siddhartha thì đã chọn con đường trãi nghiệm của bản thân để khám phá chính mình và khám phá sự vận hành của pháp giới. Và trên hành trình đó Siddhartha đã từng đi đến tột cùng của những trụy lạc. Tuy sa đọa đến vậy nhưng tiếng « OM » linh thiêng vẫn chưa bao giờ rời bỏ tâm thức Siddhartha. Người chèo đò Vasudeva đã phải chờ ở trên dòng sông cho đến khi Siddartha giác ngộ. (« Câu Chuyện Dòng Sông » – Hermann Hesse). Có thấy ra thực tướng của thằng bạn chưa vậy Dương?

            Vì tri ân bạn bè cũ chung trường nên hồi tưởng lại cho vui. Có khi tất cả chỉ là hư cấu. Thánh ơi, hãy lôi cổ thằng Dương ra gõ một cái vào đầu nó thật đau và nói cho nó biết thế nào là:

« Một con sông chảy, một con sông
Một hạt nước trôi ngay giữa dòng
Đến đi như thế là như thế
Cần gì phải hỏi đục hay trong.
Một mùa đông lạnh, một mùa đông
Một hạt nước bay giữa tuyết bông
Đến đi như thế là như thế
Lưu dấu làm chi giữa hư không.
Một cơn mưa qua, một cơn mưa
Một hạt nước rơi chạm lá thưa
Đến đi như thế là như thế
Tưởng chi âm điệu dứt hay chưa. »

                                            (Hà Hưng Quốc – Tết 2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng, Hoàng Thị Minh Liên

« Người bán phở không bán cơm tấm » (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, bây giờ Thầy Cô và các bạn lại tự hỏi cái anh chàng Mãnh nầy lại muốn kể chuyện gì nữa đây mà chuyên môn đặt những cái tựa cho « kêu », « nổ »….Ai mà có dính líu với Trung Học Hà Tiên xưa mà lại bán phở và không bán cơm tấm,…!!

Chuyện là như vầy: Khoảng lớp Đệ Tứ vì lúc đó có bạn Trần Tiên tham dự với mình trong chuyện nầy,…Lúc đó Thầy Trương Minh Hiển ra ứng cử nhưng mình đã quên là ra ứng cử để được thành đại biểu gì: Hội Đồng Tỉnh, Hạ Nghị Viện,…? Theo bạn Lê Phước Dương thì chuyến ứng cử nầy là để được bầu làm Dân Biểu ở Hạ Nghị Viện, đơn vị Rach Giá (Kiên Giang). Đối thủ của Thầy Hiển trong chuyến bầu cử nầy là ông Nhan Minh Trang.

TruongMinhHien

Thầy Trương Minh Hiển, ứng cử viên Dân Biểu đơn vị Rạch Giá (Kiên Giang)

Hể nói tới bầu cử thì phải có vận đông tranh cử,….Lúc đó Thầy Hiển cũng vận động tranh cử sôi nổi lắm. Mình còn nhớ là có lúc người ta dựng khán đài trước khách sạn Đại Tân để cho các ứng cử viên lên nói chuyện với đồng bào. Đến phiên Thầy Hiển lên nói, thì có nhóm học trò ruột ở phía dưới ngồi im lặng nghe và chờ xong thì vổ tay ủng hộ. Nhóm học trò ruột thì gồm có mình Trần Văn Mãnh, Trần Tiên, Lê Phước Dương, Trương Thái Minh, Nguyễn Minh Hùng,….còn nữa nhưng mình đã quên tên các bạn khác rồi. Khi Thầy Hiển nói xong (mỗi ứng cử viên chỉ được quyền nói trong khoảng 15, 20 phút mà thôi. Khi Thầy nói xong, mình còn nhớ, trong lúc nhóm học trò vổ tay nồng nhiệt để cho có khí thế thì Thầy xông xáo xuống khán đài, đi thẳng vào đám đông dân chúng đang đứng nghe trước khán đài để bắt tay từng người một,….Mình còn nhớ rỏ hình ảnh đó, mặc dù dân chúng đến dự nghe buổi diển thuyết tranh cử rất đông nghẹt, nhưng thầy Hiển cũng bắt tay nhanh nhẹn từng người một,….ai nấy cũng có vẻ vui vẻ bắt tay với Thầy,…

TranTien_TranVanManhTrái: Trần Tiên, phải: Trần Văn Mãnh

Rồi một lúc sau đến một đại diện của ứng cử viên đối thủ (Nhan Minh Trang) lên nói chuyện, ông nầy chính là ông phó quận Hà Tiên lúc đó, tên là Kỳ (họ thì mình đã quên mất rồi,..). Ông Kỳ diển thuyết vận động cho ông Nhan Minh Trang, khi nói xong xuôi, lúc đó Trần Tiên đang rỉ tai trong nhóm, nói là khi ông Kỳ nói xong thì cả bọn la lớn lên « Phó Tiêu! Phó Tiêu!… ». Đúng vậy khi ông Kỳ vừa nói xong cũng có tiếng vổ tay trong công chúng thì cả nhóm học trò của Thầy Hiển (nhóm mình) đồng thời la lớn lên « Phó Tiêu! Phó Tiêu!… » Mình còn nhớ gương mặt của ông Kỳ hơi sựng lại có vẻ ngạc nhiên bất ngờ,…khi nghe hai tiếng « Phó Tiêu » như vậy…Tại sao lại phải la lên là « Phó Tiêu »…Là vì trước đó ông Kỳ có làm phó Quận ở Phú Quốc và nghe nói có tham nhủng ăn hố lộ của các chủ vườn Tiêu ở Phú Quốc nên nhóm mình mới « chọc quê » như vậy….

NguyenMinhHungHình trái: Di ảnh bạn Nguyễn Minh Hùng, lái xe Lambretta trong chuyện

Nảy giờ nói đủ thứ nhưng vẫn chưa cắt nghĩa được khẩu hiệu « Người bán phở không bán cơm tấm… ». Chuyện là như vầy: Khi ra tranh cử mỗi ứng cử viên đều phải chọn cho mình một khẩu hiệu, một câu nói đặc trưng cho bản thân mình, Thầy Trương Minh Hiển vốn xuất thân từ ngành giáo thì còn khẩu hiệu nào đúng nghĩa và hay hơn là câu « Người Bán Phổi Không Bán Lương Tâm… ».…Vì thế lúc đó mình hay nói đùa để ghẹo Thầy trở thành « Người bán phở không bán cơm tấm… »…Thầy Cô và các bạn đã thấy ra chưa…?..!! Nghĩ lại bây giờ thấy cũng có lổi với Thầy,….

LePhuocDuongHình trái: Lê Phước Dương

Diển thuyết tranh cử xong rồi còn phải có xe để đi tận vào làng xóm xa xôi của Hà Tiên để vận động,…Chuyện nầy thì Thầy Hiển nhờ có nhóm học trò nhiệt tình ủng hộ,…Số là bạn Nguyễn Minh Hùng (con của ông Chánh làm cảnh sát ở Quận Hà Tiên), nhà bạn Hùng có chiếc xe Lambretta do Ba của Hùng sắm để ở nhà sau nầy có thể làm ăn, Hùng lấy xe Lambretta đó  để giúp Thầy Hiển chạy đi vận đông tranh cử nhưng không thông báo cho Ba của Hùng biết,…Nhóm mình có mình, Trương Thái Minh, Lê Phước Dương,..không biết vụ nầy có Trần Tiên đi theo không mình quên rồi,…Còn nhớ là lúc đó cũng treo khẩu hiệu « Người bán phở » ý quên « Người bán Phổi không bán Lương Tâm » bên hông xe Lambretta, mỗi đứa cũng trang bị giấy chương trình vận động tranh cử để phát cho dân chúng,…Hùng cầm lái xe Lambretta, mình, Trương Thái Minh và Lê Phước Dương ngồi phía sau, xe chạy chầm chậm để gây chú ý cho dân chúng…Theo lời Lê Phước Dương kể lại thì lúc đó xe qua đến bên kia sông, đi vận đông ở xóm dưới chân núi Tô Châu, gần Thánh Thất Cao Đài, lúc xe đang lên dốc, phải xuống xe bớt và cũng không may là xe bị tắt máy,…Cả nhóm đang hì hụt đẩy xe cho qua khỏi dốc thì bổng nhiên ông Chánh Ba của Hùng chạy xe Honda đến, vừa dựng xe xong, nét mặt còn đang hầm hầm sát khí, không nói không rằng, Ông phóng tới cho thẳng vào Hùng một cú đá, Hùng té xuống, Trương Thái Minh thì rất anh hùng, dám phóng tới ôm chặt chân của Ba của Hùng và can thiệp, còn mình Trần Văn Mãnh và Lê Phước Dương thì vốn sinh ra đời dưới con giáp là « con thỏ đế » nên hai đứa sợ xanh mặt phóng chạy như là vận đông viên điền kinh, chỉ trong vòng có 1, 2 phút đã chạy đến bến đò Tô Châu, phóng luôn xuống đò không dám quay lại chớ đừng có nói tới chuyện trở lại,….Chính vì thế mình cũng rất tiếc là sau đó không biết chuyện kết thúc ra sao để kể tiếp cho Thầy Cô và các bạn biết,…Nghĩ lại cũng tội nghiệp cho bạn Nguyễn Minh Hùng, vì thương Thầy mà giúp Thầy vận động tranh cử, nhưng vì Ba của Hùng thì lại ủng hộ ứng cử viên đối thủ là bên ông Nhan Minh Trang, nên Ba của Hùng đâu có chấp nhận cho Hùng lấy xe nhà đi vận động cho Thầy Hiển như vậy…

TruongThaiMinhHình trái: Trương Thái Minh (dám ôm chân Ba của Hùng để tránh cho Hùng khỏi bị trị tội dám lấy xe Lambretta nhà đi vận động tranh cử cho Thầy…)

Chuyện như vậy, hiện tại chỉ còn nhờ vào bạn Trương Thái Minh và Lê Phước Dương nếu còn nhớ đoạn kết ra sao xin bổ thúc vào (xin mời viết vào phần « commentaire » dước bài viết trong Blog đấy nhé,…)…Nghe nói lúc đó Hùng bị đá vào ngực rất đau,….tội nghiệp quá bây giờ thì Hùng lẩn Thầy Hiển đều đã ra người thiên cổ hết cả rồi,….Xin mượn bài viết nầy gởi đến Thầy và bạn Hùng một phút suy tư tưởng niệm, mong rằng Thầy trò vẫn còn gặp gở nhau bên kia một thế giới tốt đẹp không còn ứng cử viên hay người đi vận động tranh cử nào cả,…

Lambretta_1968

Một kiểu xe Lambretta mà bạn Nguyễn Minh Hùng đã chạy để vận động tranh cử cho Thầy Hiển

                   Trần Văn Mãnh (viết theo sự góp ý của Lê Phước Dương)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, hình sưu tầm trên mạng

Đóng góp của bạn Trương Thanh Hùng

Thầy Cô và các bạn thân mến, Trương Thanh Hùng là một học sinh kỳ cựu của Trường Trung Học Hà Tiên chúng ta ngày xưa,..Hùng là em của bạn Trương Thanh Hào và bạn Trương Thái Minh (Minh là bạn học thân của Trần Văn Mãnh suốt những năm Trung Học Hà Tiên và cả năm Đệ Nhất Nguyễn Trung Trực Rạch Giá nữa). Bạn Hùng đã theo dỏi và đọc rất thường xuyên những bài viết xuất hiện trên trang Blog THHTX của chúng ta. Chẳng những thế mà bạn Hùng còn thả bút viết rất nhiều nhận xét cho từng bài, các nhận xét của bạn Hùng chủ yếu là nhắc lại chuyện vui ngày xưa còn đi học, chuyện Thầy trò, trường lớp,…Rất tiếc nếu mình để các lời viết nhận xét nầy dưới dạng « comments » vì có một số bạn sẽ không để ý và không có dịp đọc qua. Vì vậy hôm nay mình gom góp lại và sắp xếp thành một bài viết theo nhiều chủ đề rất phong phú, xin mời Thầy Cô và các bạn xem qua nhé, nhân đây mình cũng xin cám ơn bạn Hùng rất nhiều và mong rằng bạn sẽ tiếp tục theo dỏi bài mới trên Blog và đóng góp cho trang Blog của chúng ta thêm phong phú nhé,.. (TVM)

 15 décembre 2015 à 22 h 44 min, Trương Thanh Hùng:

1/ Một vài ấn tượng đối với Thầy Trương Minh Hiển

Hình như tất cả các thầy cô đã dạy tôi từ Đệ Thất đến Đệ Nhị (năm 1970 đã gọi là lớp 11) ở Trung học Hà Tiên đều để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, trong đó, thầy Trương Minh Hiển là người đã đem lại cho tôi lòng yêu văn chương để tôi theo nghiệp viết lách đến ngày hôm nay.
Tôi nhớ năm học lớp Đệ Tứ, Thầy đọc bài thơ « Chơi động Hương Sơn » của Chu Mạnh Trinh cho cả lớp cùng nghe. Thầy đọc một hơi, gần như « không lấy hơi tiếp », giọng đọc lôi cuốn lạ lùng làm cho tôi say mê và sau này đi theo cái nghiệp văn chương. Hết sức cám ơn Thầy.
Lại còn có một chuyện. Không biết năm đó tôi mắc lỗi gì mà Thầy bắt tôi lên văn phòng đánh cho mấy roi. Một việc làm mà hình như bất cứ thầy cô nào cũng không làm khi dạy trung học.

Tuy bị Thầy đánh, nhưng tôi lại càng yêu Thầy hơn.
Có lần, lúc tôi đang học ở trường Sư phạm Vĩnh Long, Thầy cùng anh Trần Văn Dõng sang thăm, Thầy cho tiền bảo anh Dõng cùng tôi đi chơi. Anh Dõng và tôi đến bắc Mỹ Thuận uống nước. Đó cũng là một kỷ niệm đẹp.
Sau này, tôi cùng một số bạn bè tiếp Thầy cùng cô Loan tại cơ quan Ban Tuyên Giáo huyện Hà Tiên. Buổi gặp mặt hết sức vui vẻ. Tôi tin là Thầy cùng các bạn khó quên.
Khi Thầy viết và xuất bản quyển tiểu thuyết « Thành phố bị chôn vùi 15 thế kỷ », Thầy có đến nhà tôi ở Rạch Giá ngủ 1 đêm.

Còn nhiều chTruongMinhHienuyện khác nữa, khi có dịp sẽ nhắc lại để các anh chị và bè bạn nghe chơi.      (Trương Thanh Hùng)

HoangDucTrung_TruongThanhHung Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTHình trên: Trương Thanh Hùng (bên phải); hình dưới: Trương Thanh Hùng (bìa trái)

Sach_TMHBìa quyển sách tiểu thuyết do Thầy Hiển viết.

 

27 décembre 2015 à 22 h 09 min, Trương Thanh Hùng:

2/ Trường Trung Học Hà Tiên

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta có lịch sử khá hay và đẹp. Trường được thành lập vào sau năm 1954, lúc đó còn mượn tạm cơ sở của trường tiểu học (Trường Nam), một trong những người Thầy đầu tiên là thầy Trương Minh Đạt (em song sinh của thầy Trương Minh Hiển), lớp học trò đầu tiên có Trần Phình Chu, Lâm Thị Ánh Tuyết (Cả hai người này sau đều tham gia nghề giáo). Đặc biệt có nhà văn Doãn Quốc Sĩ từng làm hiệu trưởng của trường (Doãn Quốc Sĩ có xuất bản cuốn « Vào Thiền » rất hay). Tôi sẽ cố gắng sưu tầm về lịch sử của Trường để chúng ta cùng tham khảo
Trương Thanh Hùng.

TruongMinhDat_Manh_LangMacCuu_1994Thầy Trương Minh Đạt và Trần Văn Mãnh năm 1994

27 décembre 2015 à 0 h 08 min, Trương Thanh Hùng:

3/ Kỷ niệm với Thầy Nguyễn Hồng Ẩn

Trong đời học sinh, hình như thầy cô nào cũng để lại những ấn tượng đẹp trong tôi, nhưng có thầy ghi dấu ấn đậm đà hơn, trong những vị đó, tôi luôn nhớ đến thầy Nguyễn Hồng Ẩn.
Năm học 1969-1970, tôi đang học lớp Đệ Tam (Năm này đổi cách gọi lại là lớp 10). Từ năm Đệ Thất, tôi là một học sinh được vinh dự đứng trong tốp 10 từ dưới đếm lên. Nhưng không hiểu sao, năm Đệ Tam, trong môn Lý-Hóa do Thầy Ẩn dạy tôi lại được số điểm cao nhất trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt. Từ đó tôi học khá lên và thi đậu tú tài 1.
Năm 1972, tôi vào học trường Sư phạm Vĩnh Long, lúc này Thầy Ẩn về dạy tại trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ).
Một hôm, tôi đang ở nội trú, Thầy Ẩn vào tìm tôi, hình như Thầy biết tôi học Sư phạm Vĩnh Long là do chị Nguyễn Ngọc Lan và chị Hứa Nguyệt Quang lúc ấy học khóa 10, trên tôi 1 khóa cho Thầy biết, Thầy gọi ra quán nước, tôi còn nhớ hôm ấy tôi uống một ly sữa đậu nành. Thầy bảo tôi về dạy kèm toán-lý-hóa cho hai đứa em vợ của Thầy là Nguyễn Hồng Tuấn và Nguyễn Hồng Châu. Cũng năm này, Thầy được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Bình Minh.
Tôi hết sức bất ngờ và cảm động vì một người Thầy mà lại vào tận nội trú để tìm một đứa học trò tạm gọi là vô danh tiểu tốt lúc bấy giờ. Tình của tôi đối với Thầy càng đậm thêm.
Sau này, tôi có liên lạc với Thầy qua văn chương. Hình như Thầy vẫn còn dành cho tôi tình cảm của năm xưa.
Trên trang Web này, tôi xin cám ơn Thầy Nguyễn Hồng Ẩn vì những gì Thầy đã làm cho tôi để tôi vững bước vào đời.
Cũng cám ơn anh Mãnh đã lập trang Web này để những người đã từng sống dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa có dịp ôn lại những kỷ niệm đẹp, êm đềm
                                                                           Trương Thanh Hùng.

NguyenHongAn_Toronto_1987Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp tại Toronto (Canada) 1987

 1 janvier 2016 à 0 h 25 min, Trương Thanh Hùng:

4/ Núi Lăng

Trong số học sinh Trung học Hà Tiên xưa, ít có người nào không một lần lên Núi Lăng cùng bè bạn vui chơi. Tôi cũng vậy, nhất là vào những năm học Đệ Tứ đến lớp 11.
Năm học Đệ Tam, vào những giờ trống (Thầy cô bận việc cho nghỉ), anh em chúng tôi hay rủ nhau lên Núi Lăng phá phách. Trong lớp có Mong Đức Hưng ra vẻ là người sành điệu, rủ nhau đến quán của gia đình Thái Thanh Niên ở đầu đường vào chùa Lò Gạch (ngang nhà thờ) mua 1 xị rượu trắng pha với 1 chai nước cam rồi mang lên núi, thường đến ngồi ở mộ Mạc Thiên Tích, mỗi đứa uống vài hớp rồi trở về trường học tiếp. Tôi thường nói với bạn bè rằng tôi biết uống rượu từ năm 1970 là vậy.
Năm học Đệ Tứ, lúc Thầy Hậu, Thầy Chiếu, Cô Hoa về dạy, anh em cũng hay lên Núi Lăng chơi trò « Cầu cơ ». Tôi nhớ hình như Hà Quốc Hưng học sau tôi 1 lớp có 1 cây cơ hình trái tim đàng hoàng, rất láng nói rằng lấy ván hòm (cải táng) làm nên rất linh.
Trước đó, hình như lúc tôi đang học đệ lục, đệ ngũ thì phải, có một lần tôi cùng Trần Phước An (con ông Yết Ma, nhà ở chùa Phù Dung) cùng Dương Văn Hiến lên núi ăn cắp dừa. Tôi là đứa vụng về nên chỉ theo chầu rìa. Trần Phước An leo lên cây dừa ở gần mộ Mạc Thiên Tích bẻ, Hiến đứng ở dưới chụp vì sợ có tiếng động ông Từ Nguơn ra bắt. Hiến đứng dưới gốc dừa tè còn đang gài nút quần (lúc đó còn mặc quần khá chật, lại gài nút chứ chưa xài phẹcmơtuy). Ở trên An hỏi « Rồi chưa? », Hiến trả lời « Rồi » ngửa mặt lên mà tay còn gài nút quần, An thả trái dừa xuống ngay mặt Hiến. Môi Hiến sưng vù lên nhưng cũng ráng chụp thêm hai trái, rồi ba đứa đến mộ Mạc Thiên Tích đập, xé vỏ dừa, đập gáo uống nước. Hiến bây giờ ở Mỹ, còn An thì vẫn ở nhà cũ gần chùa Phù Dung.
Hơn 45 năm đã qua, nhưng những kỷ niệm ấy vẫn còn mãi trong tôi.  (Trương Thanh Hùng)

                        HaTien_LangMacCuu_1994_h             Cảnh Núi Lăng và những cây dừa nhiều trái hấp dẩn cho nhóm học sinh nghỉ học đến hái trộm,…             

Hình ảnh: Trần văn Mãnh, Trần văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Nguyễn Hồng Ẩn

Hồi ký viết trong đêm Giáng Sinh về một người bạn đã sớm bỏ cuộc chơi (Hưng Hà)

Thầy Cô và các bạn thân mến, bạn Hưng trên đất khách qua một đêm Giáng Sinh trong không khí trong lành của tình thương Thiên Chúa, đã nhớ lại một người bạn những năm khó khăn, người bạn văn nghệ của đất Hà Tiên, và cũng là người bạn thân nhất của mình,….Đó là bạn Nguyễn Ngọc Thanh, người bạn học cùng lớp với mình suốt những năm trung học và còn đến với mình trong những năm mình đi học ở Cần Thơ…Sau thời gian mình đi dạy học, Thanh vẫn còn ở quê nhà Hà Tiên và đến với bạn Hưng để tiếp tục phục vụ sự nghiệp văn nghệ đời học sinh…Sau đây là một câu chuyện mà Hưng muốn viết lại để tưởng nhớ bạn Thanh của chúng ta……(29/12/2015 TVM)

                                                                                  Sau bữa ăn tối mọi người trong gia đình quây quần bên nhau cạnh lò sưởi để mở quà cáp, trao nhau những lời yêu thương và cảm tạ, chúc nhau những điều tốt đẹp, rồi ròn rã tán gẫu hết chuyện bên Tây đến chuyện bên Tàu mãi đến nửa đêm. Tất cả dường như rất hạnh phúc, gần gũi và đơn giản. Tôi cũng tham dự tán gẫu được một lúc rồi lặng lẽ rút lui ôm theo cái laptop chui vào phòng ngũ. Đêm nay là đêm Giáng Sinh 2015.

            Sau hơn 40 năm mới nối kết lại với thầy xưa bạn cũ của trường Trung Học Hà Tiên, có thể nói là tôi thực sự rất vui. Dầu là vậy, mấy tuần nay đâu đó trong một góc khuất của trái tim tôi cảm thấy thật buồn và thật nhớ một người bạn thân đã sớm bỏ cuộc chơi từ thập niên 1980. Trong đêm Giáng Sinh này, những dòng chữ tôi gõ xuống xin dành trọn vẹn cho người bạn đã khuất nhưng không mất, ít ra là với riêng tôi.

            Vâng, người bạn mà tôi muốn nói tới chính là Nguyễn Ngọc Thanh. Thanh xóm đạo. Bạn bè gọi một cách thân thương là Thanh « đui ». Thanh sỡ hữu một vóc dáng đồ sộ, có thể nói là đồ sộ nhất trong đám bạn. Vóc dáng « không khiêm nhường ai » làm cho Thanh có bề ngoài khá « ngầu ». Nhưng thật ra thì Thanh là một con người rất hiền lành. Ngược với cái cái thân ô dề to xương, cặp kính cận dầy trong cái gọng vuông màu đen nằm trên khuôn mặt chữ nhật với mái tóc mềm làm tôn lên cái chất văn vẽ nơi anh. Lúc im lặng suy tư thì nơi Thanh toát ra một cái gì đó rất phong trần, rất nghệ sĩ, rất trí thức và rất . . . đau đáu. Lúc Thanh mở miệng thì ồn ào. Thanh có tiếng nói rổn rảng và có giọng cười to rất thoải mái. Nơi nào có Thanh thì nơi đó có minh triết « nhảy ra » và không khí nơi đó rộn rã hẳn lên. Thanh dễ tính và nhiệt tình. Cũng giống như Mãnh, Thanh biết tạo ra những cảm hứng và sự thoải mái cho bạn và với bạn. Thanh trải đời và bản lãnh hơn bất cứ đứa nào trong đám bạn. Trải đời và bản lãnh vì Thanh trải qua nhiều bất hạnh và chịu nhiều áp lực của cuộc sống từ rất sớm. Thanh tiếp nhận những biến cố xảy đến với anh một cách trầm tỉnh, luôn giữ một thái độ rất « có văn hóa », và luôn biết cách xoay trở tìm lối thoát cho mọi vấn nạn. Thanh có đầy đủ những tố chất để thành công và xứng đáng để thành công trong cuộc đời này. Nhưng không may là, như anh thường nói, Trời « bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao » (Kiều).

            Cũng giống như các nhóm bạn khác ở « Trung Học Hà Tiên xưa », một đám bạn chơi chung với nhau nhưng tuổi tác và lớp học có thể cách nhau đến 3-4 năm. Dõng, Mãnh, Phi, Cao, Hưởng, Nguyên, Trung, Bình, Hải, Dương, Thánh, Kiệt và nhiều bạn khác nữa đều là bạn thân của nhau. Thanh lớn hơn tôi nhiều tuổi và học trước tôi đến vài lớp. Thanh gần gũi với tôi vì nhiều lý do. Một trong những lý do có lẽ là vì cô bạn gái của tôi ở Vị Thanh là dì bà con của anh. Một lý do khác có lẽ vì Thanh thích cái tính khí « hành giả côn đồ » của tôi. Còn tôi thì thần tượng cái kho tàng nằm trong đầu Thanh (nào là Jean Paul Sartre, nào là Françoise Sagan, nào là Hermann Hesse . . . nhiều lắm). Thanh lại đặc biệt ưa thích những bài thơ con cóc của tôi. Trong số những bài thơ của tôi thời đó, Thanh thích nhất bài « Tên Hành Giả Côn Đồ »:

Thấy không em
Ta, tên hành giả côn đồ
Bỏ bước chân đôi lang thang giữa hai dòng sinh mệnh
Hoang hủy cuộc đời theo mỗi nhịp rung
Khoát áo bihkkhu
Rao giảng nhiệm mầu quá khứ
Những nhiệm mầu niêm kín cửa như nhiên
Thấy không em
Ta, tên hành giả côn đồ
Lồng lộng điệu cười thư động
Chông chênh lối múa ngàn ngày
Tội nghiệp, trái tim ngục tù vô gián!
Tội nghiệp, bàn tay lần dấu uyên nguyên!
. . .

Tôi hỏi Thanh vì sao lại thích nó nhất thì anh nói « nó thể hiện đúng cảm xúc, nhân cách và trí tuệ của mày. Nói về cấu trúc âm thanh thì nó khó ngữi khó ngâm. Nhưng có dấu ấn ngôn ngữ rất riêng và có phong cách rất . . . côn đồ. » Tôi nói với Thanh « phá bỏ ràng buộc của thanh điệu, ôm chặt lấy cái sự thật thể hiện lúc chấp bút » là công ơn của Thầy Trương Minh Hiển đã điểm đạo cho lúc học Văn với thầy trong năm đệ ngũ. » Tôi cũng kể cho Thanh nghe chi tiết của lần điểm đạo đó:

« Thầy Hiển bắt cả lớp phải về nhà sáng tác một bài thơ để nộp lên cho thầy. Sau một tuần lễ ráng sức nặn nọt nắn nót, chúng tôi nộp thơ của mình lên để thầy chấm điểm và phê bình. Bài thơ của tôi được thầy phê bình là ‘rất trao chuốc, rất cầu kỳ, rất vững về kỹ thuật nhưng dỡ ẹt vì chỉ toàn là sáo ngữ’. Tôi nhớ là lúc đỏ mặt mình đã đỏ phừng nhưng có lẽ vì da khá đen nên không ai thấy. Kế tiếp thầy lại lôi bài thơ của Vương Đình Lộc, bạn học chung lớp thường gọi là Lốc, ra phê bình. Bài thơ khá vụn về nhưng đọc đến câu ‘chiều nay tôi chợt hỏi lòng’ thầy Hiển vỗ đùi mình kêu đét một tiếng tỏ ra thích thú rồi phán một câu ‘đây mới là cảm xúc chân thành của nhà thơ’ chứ không phải của ‘thợ làm thơ’ như em Hưng. Đến đây thì mặt tôi không đỏ nữa mà là tái mét. Thầy biết tôi không phục. Cuối giờ học thầy giữ riêng tôi lại và giải thích ‘trong 4 đứa em, em Kiệt là đẹp trai nhất lại thông minh, em Dương có trí nhớ tốt nhất và học giỏi, em Thánh thì già dặn nhất và giỏi lý luận, còn em thì lãng mạn và lãng phí nhất. Không chăm lo học hành là lãng phí. Không khai phóng được tài năng của mình là lãng phí. Thầy chê em trước mặt cả lớp là để em nhận ra sự quan trọng của lời thầy trao tặng cho riêng em. Thầy dám chắc em là loại ngọc tốt nhưng chưa phải là ngọc đẹp. Ráng lên.’ Tôi đứng yên ngẩn tò te một hồi lâu. Thầy nhìn tôi chầm chập. Chẳng nghe tôi nói gì, thầy đứng lên bước về phía cửa. Đến ngưỡng cửa thầy còn quay lại cười cười và phán thêm một câu ‘thầy còn biết là cả 4 em đều thích một thứ ngọc khác nhưng đừng có lộn xộn mà chết với thầy nghen.’ Tôi đứng ngẩn ngơ chả biết thầy muốn nói gì lúc đó. »

Thanh hỏi « Thầy Hiển nói ngọc khác là ngọc gì? » « Là Ngọc D. chớ ngọc gì, » tôi trả lời. Thanh cười sảng khoái và « nể thầy Hiển dễ sợ » khi nghe tôi thuật lại chuyện này.  

            Những năm về sau, trước khi vượt biển, Thanh và tôi gặp nhau thường xuyên hơn. Không chỉ gặp nhau ở Hà Tiên mà còn ở Kiên Giang, Cần Thơ, Sài Gòn. Gặp nhau chỉ để tán gẫu về văn thơ và thời cuộc. Có một ngày khi biết được ý định đi xa của tôi Thanh đã hỏi, « mầy nhất định một đi không trở lại? » Tôi đáp, « ừ, sẽ đi, nhưng nhất định phải trở lại. Và trở lại thăm quê hương thầy cô, bạn bè ». Thanh hỏi tiếp, « Mầy không thấy tội cho cho dì Nh.Ng. của tao hay sao? » Lúc đó, tôi còn nhớ là mình chỉ im lặng cười buồn. Có một cái gì đó quặn đau đến đứt ruột. « Thôi thì thôi thế, đoạn trường thế thôi, » tôi nghĩ thầm (thơ Phạm Thiên Thư). Vài ngày sau tôi đưa cho Thanh một bài thơ ngắn của tôi nhờ trao lại cho dì Nh.Ng. của Thanh, coi như là lời giã từ với nàng, và cũng là với Thanh.                 

« Giữa ngày hái giọt sương trong
Gởi trên mắt, hỏi có không hoa trời?
Hốt đầy bụi nửa cuộc chơi
Đùm trong áo mỏng nhắn lời tử sinh
Ta về với cõi vô thinh
Người giam thân giữa trần tình ghét thương
Thôi thì mỗi đứa một đường
Huyễn nào cũng ảo đoạn trường thì sao! »

Thanh hiểu ý thơ và ý tôi. Tôi đoán là Thanh cũng nhận ra nội hàm của bài thơ ẩn chứa tinh túy của kinh Kim Cang « Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện, ưng tác như thị quán. » Và có lẽ Thanh đã nghĩ tôi bị « tẩu hỏa nhập ma » mất rồi.

            Sau đó thì tôi ra đi. Thật xa. Tận đất Hoa Kỳ. Mỗi ngày phải cắm cúi vật lộn với cuộc sống mới nơi đất khách. Tôi cố « nhốt » tất cả ký ức vào ngăn kéo. Tôi không nghe nhạc, không làm thơ, không viết văn, cũng không đọc luôn cả thơ văn. Không để trống thời gian. Không cho phép mình nghĩ ngơi. Mỗi khóa học lấy tối thiểu là 21 giờ tín chỉ. Lại còn làm lao công từ 6 đến 8 tiếng một ngày để kiếm sống. Tôi chỉ biết một điều duy nhất là mình có một lời thề phải thực hiện. Trong tiến trình đó tôi trở thành một con người khác, rất khác so với con người mà thầy bạn cũ thường biết. Ít ra tôi nghĩ hay ngỡ là như vậy.  

            Rồi đột nhiên có một ngày, lúc đó tôi đã sắp hoàn tất chương trình đại học tại Florida, tôi nhận được một lá thơ của Thanh. Lần đầu tiên nơi đất khách tôi nhận được một lá thơ từ bạn cũ. Tôi nhớ là mình đã nhìn lá thơ thật lâu trước khi xé ra để đọc. Bàn tay tôi lúc đó dường như hơi run và lạnh dầu là giữa mùa hè. Tôi cũng nhớ là những cố gắng kềm chế của mình đã đổ ập một cách thảm hại ngay trước mặt của bao nhiêu người chung quanh. Chao ôi! Tôi đã không đủ mạnh để nhốt lại cảm xúc của mình. Ừ, thì tôi đã khóc. Khóc như đứa con nít.

            Trong thơ Thanh cho hay là anh và vợ con anh đang ở trong một trại tại Thái Lan. Lá thơ khá dài. Thanh nói đủ thứ chuyện. Dĩ nhiên là có cả chuyện dì Nh. Ng. của Thanh. Nhưng điều hứng thú nhất với Thanh là chuyện anh đã « gây sóng gió » (nguyên văn của Thanh) trong trại. Thanh đã viết, « mày còn nhớ liên khúc nhạc cảnh này không Hưng?

« Hãy cho tôi nói một lần, cho tôi nói một lần, một lần rồi thôi. Giết tôi đi rồi quên hết hận thù. Giết tôi đi rồi xóa hết ngục tù. Đừng đày đọa thân nhau. Hỡi những người thân tôi ơi, xin đừng khóc, xin đừng tiếc, xin đừng thiết tha chi. Tôi nằm xuống, nằm xuống đây, không tội gì, không tội gì với quê hương tôi.

            Anh thấy không, giờ đây em trở thành là quả phụ. Xin cài lên đây vành khăn tang vừa ướt máu tim anh. Anh ra đi khi tình yêu tràn nồng ấm. Anh ra đi nhưng lời anh còn mãi đó, còn mãi đó. Thân xác anh giờ đây đã trả về cát bụi. Anh yêu ơi, những lời anh là lửa cháy, là lửa cháy. . . »

Liên khúc nhạc cảnh này thì tôi biết rất rõ. Vì tôi là người đã sáng tác ra nó và phối cảnh cho đoàn văn nghệ của Hà Tiên trình diễn tại Kiên Lương năm xưa. Nhưng tôi đã quên mất nó từ rất lâu. Nếu Thanh không viết lại trong lá thơ thì có lẽ ngày hôm nay nó đã không còn lưu dấu.

            Lúc đó Hà Tiên có hai nhóm văn nghệ. Một nhóm do Lý Mạnh Thường hướng dẫn, tôi thường nói đùa là nhóm văn nghệ quí tộc, và một nhóm do anh Trí (con của ngài Yết Ma trên đường ra Thạch Động) và anh Thành (biệt kích) hướng dẫn, tôi gọi là nhóm văn nghệ bình dân. Tôi, Thanh, Nguyên (Duyên Đình) nằm trong nhóm văn nghệ bình dân này.

            Tôi và Nguyên đã từng cùng nhau soạn một vở kịch thơ vào một ngày cúng giỗ tại nhà Nguyên, vở Gọi Lửa. Nó được gợi ý trong lúc cả đám đang « say xỉn » và nhờ tiên rượu nhập thần mà tập thơ đã hình thành ngay trong ngày hôm đó. Riêng liên khúc nhạc cảnh « Người Tử Tù » là do tôi viết.

            Nhóm văn nghệ bình dân đã lấy cả hai tác phẩm cho vào chương trình lưu diễn tại Kiên Lương và Kiên Giang. Vở kịch thơ thì mượn câu chuyện tráng sĩ Kinh Kha sang Tần. Anh An (em anh Trí) là người chịu trách nhiệm đệm sáo trúc cho vở kịch thơ này. Còn liên khúc thì mượn cảnh pháp trường xử tội chàng Kinh Kha. Tôi nhận vai người chồng bị xử tội còn Hường (người em xứ Huế bán nón lá tại chợ Hà Tiên) nhận vai người vợ của tử tù. Chúng tôi tập dợt ráo riết tại nhà của anh Trí. Thanh có mặt thường xuyên ở những buổi diễn tập đó đến độ đã thuộc lòng lời của liên khúc không sót một chữ.

            Đoàn văn nghệ bình dân của Hà Tiên (không còn nhớ tên) trên dưới có khoảng 60 đứa khăn gói kéo nhau đi Kiên Lương lưu diễn. Đến Kiên Lương thì anh Trí và anh Thành liền xin phép trình diễn tại đó, dự tính là xong ở Kiên Lương thì kéo tới Kiên Giang. Nhưng cuối cùng có vài khó khăn. Sau khi họp bàn cùng anh em trong đoàn, chúng tôi quyết định sẽ trình diễn với các màn diển đơn giản hơn. Theo dự định, chúng tôi đã mướn lại một rạp hát cải lương đang lưu diễn tại Kiên Lương lúc đó và đã vén màn cho khán giả vào xem văn nghệ không tốn tiền.

            Đêm trình diễn là một đêm thật dài với chúng tôi. Khán giả kéo đến coi đông nghẹt. Lúc diễn vở kịch thơ nữa chừng thì An đã vô ý để cho người ta ăn cắp mất cây sáo ăn ý. Vừa diễn xong liên khúc thì có vài trở ngại. Nhờ có đông khán giả chen chút nên chúng tôi có đủ thời giờ thu xếp và ngưng hát, cả nhóm rút lui cả. Riêng tôi thì được một đứa em (không nhớ tên) đang có mặt tại sân khấu đêm diễn và từng là đoàn viên Thanh Niên Hồng Thập Tự Hà Tiên mà tôi là một trong những cựu huynh trưởng) hướng dẫn ra về. Và kể từ đêm ấy tôi không có dịp để quay lại Hà Tiên nữa. Còn Thanh thì không có mặt trong đêm trình diễn.

            Đó là tất cả những gì xoay quanh liên khúc nhạc cảnh mà Thanh nói đến trong lá thơ. Trong thơ Thanh cũng hứa là sẽ nói cho tôi nghe nhiều chuyện về dì Nh.Ng. của Thanh và chuyện của các bạn học cũ của xứ Hà.

            Bẳng đi một thời gian, khoảng chừng nửa năm sau, thì tôi nhận được một lá thơ khác gởi từ trại Thái Lan. Không phải là do Thanh viết. Vợ của Thanh báo cho tôi biết là Thanh đã qua đời. Thanh bị một tên vô loại nào đó ám hại chết trong trại trong lúc làm phận sự của một người chịu trách nhiệm đứng phân phát nước cho cư dân trong trại. Sau đó tôi cũng mất luôn liên lạc với vợ Thanh.

            Tôi không thể tưởng tượng được đoạn cuối của cuộc đời Thanh lại chấm dứt đầy máu me như vậy. Nhưng nó đã xảy ra. Có lần Thanh đã nói với tôi « thằng Mãnh nó chơi nhạc đến độ xuất thần. Có lần nó đang chơi nửa chừng thì dây đàn bị đứt. Nó vẫn tiếp tục chơi cho đến nốt cuối cùng của bản nhạc, chơi đến độ nhỏ máu trên những dây đàn còn lại. Tao ước gì một ngày nào đó cuộc đời tao sẽ chấm dứt như sợi dây đàn của thằng Mãnh. » Tôi chẳng được cái may mắn chứng kiến buổi chơi nhạc nào đó của Mãnh mà Thanh nói tới. Chẳng hiểu Thanh nói theo nghĩa bóng vì hâm mộ Mãnh hay theo nghĩa đen vì sự việc đã từng như thế. Nhưng lời ước của Thanh thì đã trở thành sự thật. Sinh mệnh của Nguyễn Ngọc Thanh đã chấm dứt đột ngột như một dây đàn đứt ngang trong lúc đang chơi. Ướt máu.

           Hình trái: Nguyễn Ngọc Thanh, hình phải: Hà Quốc Hưng (học sinh trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70             

Trong đêm Noel này có một giọt còn sót lại đã rớt xuống trong tâm thức và làm quặn đau trái tim. Một con người luôn hiếu hòa mà lại bị tước đoạt sinh mệnh. Thế mới đau. Nhưng mà thôi, trước hay sau gì thì mọi người cũng sẽ phải từ bỏ cuộc chơi thôi. Vậy thì, hãy tìm lấy bình yên nơi trú xứ vĩnh hằng đi Thanh ạ. Hy vọng là Thanh có thể lần theo tiếng hát của thiên thần để tìm đến với Chúa của bạn và nắm lấy bàn tay quyền năng của ngài. Cũng đừng quên cầu xin ngài ban bố « bình an dưới thế cho người thiện tâm » và cho tất cả cả bạn bè còn phải tiếp tục chơi tới nốt cuối của bản nhạc đời. Hallelujah!             

(tác giả bài viết: Hưng Hà)

NguyenNgocThanh_TranVanManh Nguyễn Ngọc Thanh (chấm đỏ), Trần Văn Mãnh (chấm xanh)

TVM_THHT_3

 

 Hình chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên khoảng 1968, với tờ bích báo của lớp mang tên « Đất Mẹ » vẻ theo kiểu chử Hán. Trái sang phải: Trần văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Thành Tài, Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh (và thủ bút của Thanh)

TVM_THHT_2

Chữ viết sau hình của Nguyễn Ngọc Thanh….
                 

TranVanDong_AnTiec (1)Bìa trái: Trần văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh. (bìa phải: Trần văn Mãnh)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng  

Bài đã đăng vào ngày 29/12/2015