Thach Động Hà Tiên và những câu chuyện thực hư

A/ Vị trí và hình thể Thạch Đông Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến địa danh, thắng cảnh Thạch Động thì không còn gì xa lạ đối với người Hà Tiên chúng ta, chẳng những thế mà đa số du khách các nơi khác cũng đều nghe tiếng về Thạch Động nên mỗi lần có các đoàn du khách đến tham quan Hà Tiên, đều có mục thăm viếng Thạch Động.

Ngày xưa trước khi Pháp chiếm Hà Tiên (1867) vùng Thạch Động và Đá Dựng thuộc hai thôn Sa Kỳ và Nhượng Lộ, sau đó Pháp nhập hai thôn lại lập thành làng tên là Làng Kỳ Lộ. Trong những năm 60-70, Thạch Động thuộc xã Lộc Kỳ. Đến sau 1975, Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, ngày nay Thạch Động là một địa điểm du lịch thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên. Từ trung tâm chợ Hà Tiên, theo quốc lộ 80 đi thẳng về phía cửa khẩu Xà Xía về hướng bắc hoặc từ con đường Phương Thành đi tiếp tục ra biên giới Hà Tiên – Campuchia, khoảng được 3 hoặc gần 4 cây số, trên đường nhìn về bên tay phải ta sẽ thấy Thạch Động sừng sửng hiện ra, cứ trơ gan cùng tuế nguyệt có hơn bao nhiêu triệu năm về trước.

Về mặt hình thể, Thạch Động là một khối đá vôi rất to lớn dựng đứng như một ngọn tháp, chiều cao so với mực nước biển là khoảng 93 m và có đường kính ở phần dưới chân khoảng 45 m. Từ xa Thạch Động được bao phủ bởi một phần đá vôi màu trắng bạc, và một phần có rất nhiều cây xanh tô điểm nên nhìn giống như một chiếc mũ lông của những kỵ binh người Anh, do đó người Pháp, trên các bưu ảnh chụp về Thạch Động, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ 20 đã đặt tên Thạch Động trong bưu ảnh là « Bonnet à poils ». Cửa chánh để vào Thạch Động ở hướng đông, nhìn về phía thành phố Hà Tiên và có độ cao khoảng 50 m.

Về phương diện địa chất học, các nhà địa chất học xác định khối đá vôi Thạch Động được thành hình trong kỷ Permi (tức thời kỳ tầng địa chất kéo dài từ khoảng 298 đến 252 triệu năm về trước). Đá vôi của Thạch Động có nguồn gốc trầm tích hóa học  chứ không phải do trầm tích sinh vật học. Người ta còn tìm thấy cùng loại đá vôi của Thạch Động ở vùng ven biển Kiên Lương, ở phía tây nam Campuchia và ở phía nam Thái Lan. Nếu ta phân biệt ý nghĩa của các từ tiếng Pháp: Tunnel: loại hầm, kéo dài theo một con đường (đường hầm); Cave: hang, động (hang sâu như một căn phòng) thì Thạch Động thuộc dạng hang động (Cave).

Thạch Động có hai cửa chánh: cửa vào chánh ở phía đông, nhìn về thành phố Hà Tiên, tai đây có xây bậc thang bằng gạch đá từ dưới đất liền lên đến cửa hang, ngay cửa vào ngôi chùa tọa lạc bên trong Thạch Động. Một cửa khác ở phía tây, tại đây người ta có thể nhìn ra được quang cảnh đồng lúa và núi non của phường Mỹ Đức. Ngoài ra còn có hai cửa theo hướng đông bắc và tây nam, ra đứng tại các cửa nầy, người ta được tận hưởng những cơn gió mát thổi lồng lộng, được nhìn ra một không gian trống khoáng, cả vùng trời biên giới có biển xanh, núi non, đảo nhỏ xa xa và một bầu không khí tỉnh lặng tạo cho ta một cảm giác rất thú vị…

Vị trí Thạch Động : Thạch Động ở về phía bắc thành phố Hà Tiên, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 3 hoặc 4 cây số.

Hình thể bên ngoài và các cửa ra vào Thạch Động (Nguồn: Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo)

B/ Hình thể bên trong Thạch Động:

Vào bên trong Thạch Động theo cửa chánh hướng đông, trước hết ta sẽ thấy ngôi chùa tọa lạc bên trong phần có thể tích rộng lớn, đó là chùa Tiên Sơn (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp). Nếu du khách tiếp tục đi vào các ngỏ ngách theo các hướng khác nhau, lần lượt sẽ thấy có một lối trống rất cao và thông lên đến trên đỉnh Thạch Động, từ dưới ta có thể nhìn thấy như là một lối thoát lên trời vì nhìn thấy cả những đám mây xanh, người ta đặt tên là « đường lên trời ». Rồi đến xem một hang nhỏ khác ăn sâu vào lòng núi, nhìn vào chỉ thấy màu đen thẩm như hang không đáy, đó là « đường xuống địa ngục ». Ngày xưa tục truyền hang đó ăn thông ra đến tận biển ở Mũi Nai, vì người ta có thả một trái dừa khắc làm dấu và sau nầy tìm vớt lại được trái dừa nầy ở ngoải bờ biển…Từ những năm 1960 vì sự nguy hiểm của cái hang nầy, người ta đã lấp kín hang lại, chỉ còn xây bờ chung quanh để làm dấu cho khách tò mò đến xem. Ngoài ra trong vách đá bên trong Thạch Động còn có rất nhiều thạch nhũ, đặc biệt là có một khối thạch nhũ nhìn thấy từ bên ngoài có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái. Chung quanh đó còn có nhiều dây leo rừng to lớn thòng xuống, tuy nhiên vì tính hiếu kỳ và thiếu kỷ lưởng của du khách các sợi dây to lớn nầy đã bị lôi kéo và bị đứt mất dần dần. Bên trong vách đá còn có các vết xâm mòn do nước đọng chảy quanh năm tạo ra các hình dáng giống như một người con gái, hay hình Phật…

Tất cả những hình thù do các khối đá thiên nhiên và do tác động của nước mưa bào mòn vách đá tạo nên như vậy đã cung cấp nguồn cảm hứng cho dân gian bao nhiều đời đã qua, kết tạo lại nhiều truyền tích, huyền thoại. Mỗi hình thù vách đá, mỗi cọng dây leo, …được gắn liền với một hành động và một giai đoạn của một câu chuyện huyền thoại có tên « Thạch Sanh và Lý Thông ». Đây là một câu chuyện được truyền đi trong dân gian và có tác giả cho là có nguồn gốc ở quận Cao Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi đông bắc Việt Nam (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp).

C/ Ngôi chùa « Tiên Sơn Tự » trong Thạch Động:

Hiện nay muốn tim hiểu về nguồn gốc ngôi chùa có tên « Tiên Sơn Tự » bên trong Thạch Động cũng rất khó khăn vì còn thiếu thông tin chính xác.

            C1/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ nhất:

Theo sách Đại Nam nhất thống chí đoạn nói về tỉnh Hà Tiên, mục Tự quán có chép rằng:  Chùa Bạch Vân (Bạch Vân Tự hay Bạch Vân Am) ở núi Thạch Động (tức núi Vân Sơn) ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Châu, nguyên do phú hộ Minh Hương là Đoàn Tân lập ra.  Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Tuần phủ Phan Tông trùng tu…”.

Có nguồn cho rằng từ năm 1790, có vị hoà thượng tên Minh Đường (người Trung Quốc) đã tìm đến hang Thạch Động và ở lại đây để tu hành, hòa thượng đặt tên cho cái am nơi tu là Bạch Vân Am, sau đó vị nầy giao am tu lại cho đồ đệ là Bạch Vân cư sĩ và dời ra lập chùa Địa Tạng ở một ngọn núi cách đó khoảng 800m về phía đông nam, từ đó núi lấy theo tên chùa trở thành núi Địa Tạng.

Cuối thế kỷ thứ 19, có một nhóm người Minh Hương đến trùng tu am xưa và thỉnh hai nhà sư tới trụ trì ngôi chùa. Vị thứ nhất là hòa thượng Thích Chánh Quả (chưa biết tên đúng hay sai) ) tục danh là Lê Thế Diên (có sách viết Duyên), quê ở Phú Yên, thuộc dòng tu Lâm Tế đời thứ 39. Hòa thượng cho đúc tượng Phật và Bồ Tát và đổi tên chùa là Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi.  Vị thứ hai là hòa thượng Thích Thiện Sĩ thế danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40. Ngài tổ chức trùng tu và mở rộng ngôi chùa và đặt tên mới là Tiên Sơn Tự, tên còn giữ cho đến ngày nay. Ngài từ trần ngày 02 tháng 09  năm Ất Dậu (1945), thọ 75 tuổi.  Sau đó có người đệ tử của sư tên là Cam Thị Nam (thường gọi là cô Hai Nàm) kế thừa trụ trì ngôi chùa. Về câu chuyện của cô Hai Nàm có nhiều nguồn do người dân kể lại:

     C1a/- Nguồn thứ nhất kể lại rằng vào ngày 29 tháng 04 năm 1948 quân lính Pháp bắt gặp trong chùa ở Thạch Động có lương thực và cán bộ Việt Minh đến hội họp nên bắt giải giam tất cả bốn người đang hiện diện trong đó có cô Hai Nàm về đồn ở Hà Tiên. sau đó lính Pháp hành hình giết bà và các cán bộ tại cầu tàu chợ Hà Tiên vì kết tội bà là người nằm vùng nuôi dấu cán bộ.

     C1b/- Cũng có nguồn tin thứ hai kể lại rằng ngày hôm đó trong chùa ở Thạch Động có lễ cúng kiến nên có dự trữ thức ăn và có nhiều người tham dự, lính Pháp đi lùng bố càn quét cán bộ Việt Minh vì trước đó có xảy ra vụ vị sĩ quan Pháp bị phục kích giết chết trong vùng Thạch Động, nên cả nhóm người hôm đó đều bị bắt và bắt oan luôn cả cô Hai Nàm. Rốt cuộc cô Hai Nàm bị giết oan ức.

Đó là hai nguồn thông tin về chuyện cô Hai Nàm ở Thạch Động, hiện nay chưa có độ chính xác về câu chuyện nầy,  cần được kiểm chứng và đưa ra tư liệu chính xác.

Từ biến cố đó, ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động bị bỏ hoang gần 4 năm liền không ai tới lui chăm sóc.

Đến năm 1952 có vị Phật Tử Hồng Phúc, người Hà Tiên, thế danh Trình Kim Huê (theo thiển ý, đây có thể là ba của thầy giáo Trình Kim Chung dạy tại trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa), đệ tử của hòa thượng Thiện Sĩ, ngài Hồng Phúc đến trông coi chùa và tu ở đó. Được 7 năm trời, hình dáng ông lúc đó có để bộ râu bạc trắng trông rất đẹp, giống như một vị tiên ông, sau thời gian đó ông trở về cuộc sống bình thường tại nhà riêng ở Hà Tiên và qua đời vào năm 1968. Người Hà Tiên ai ai cũng biết và nhớ đến hình ảnh của ông được đăng trong tờ tạp chí « Thế Giới Tự Do » do Chi Thông Tin Hà Tiên thường phát cho dân chúng đọc, Trong tờ tạp chí nầy do có bài giới thiệu vè thắng cảnh Thạch Động Hà Tiên nên có đăng hình Thạch Động và vị trụ trì là phật tử Hồng Phúc.

Trong những năm 70, Thạch Động nói riêng cũng như với ngọn núi Đá Dựng nói chung về tình hình các thắng cảnh vùng biên giới, hai địa điểm nầy đã trở thành căn cứ quân sự trọng yếu nên đều có quân đội Địa Phương Quân VNCH trấn đóng. Trong thời gian nầy, người dân không được lui tới thăm viếng thắng cảnh như thời trước được. Ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động có lẽ bị bỏ hoang không sư trụ trì và nhang khói trong thời gian nầy.

Sau năm 1975, tình hình còn biến động vì chiến tranh biên giới cho đến năm 1979, có người Phật Tử Thiện Thành, thế danh Tiết Văn Lương, người gốc Mỹ Đức, Hà Tiên, tình nguyện đến trông coi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động.  Đến năm 1989, phật tử Thiện Thành cùng với phật tử địa phương cung thỉnh đại đức Thích Minh Luận, thế danh Giang Văn Khép, về trụ trì chùa Tiên Sơn trong Thạch Động. Đại đức Minh Luận bắt đầu cho trùng tu ngôi chùa, xây dựng lan can và các bậc tam cấp, an vị tượng đức Bổn Sư trong chánh điện. Đến ngày 09 tháng 06 năm 1990 phật tử Thiện Thành lâm bệnh và qua đời. Năm 1991 đại đức Minh Luận tiếp tục trùng tu ngôi chùa, thiết lập tượng đài Quan Âm trước của chùa, năm 1995 lát gạch toàn bộ khu chánh điện, trồng thêm cây xanh chung quanh khuôn viên chùa. Năm 1997 ngài cho khởi công xây dựng tăng xá để chư tăng các nơi xa đến có chỗ an nghỉ. Trong tương lai sẽ cho trùng tu thêm giảng đường, tổ đường và nhà từ thiện. Toàn bộ khu Thạch Động với ngôi chùa xưa Tiên Sơn Tự trở thành một nơi du ngoạn cho khách du lịch đến thăm, người người ra vào đông đúc, tuy quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp nhưng đã mất phần uy nghiêm, thơ mộng và cổ kính trầm mặc của một không gian yên tỉnh ngày xưa.

            C2/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ hai:

Có một nguồn thông tin khác về gốc gác của ngôi chùa Tiên Sơn Tự như sau: Thời ông Mạc Thiên Tích trấn nhậm vùng Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp hiệu Huỳnh Phong chân nhân từ Thanh Hóa vào Hà Tiên tìm nơi tu luyện và ông cũng là một thành viên trong thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Đạo sĩ thấy hang động ở Thạch Động thích hợp nên ẩn tu tại đó. Sau một thời gian, ngài đổi pháp hiệu thành Huỳnh Phong (hay Hoàng Long ?) hòa thượng, đến năm 1785 ngài viên tịch, thọ 108 tuổi, nhục thân ngài được nhập tháp do đề đốc trấn nhậm Bác Giác Sơn tên là Đỗ Như Liêm cùng các tín đồ xây dựng. (Bác Giác Sơn tức núi Phù Dung thời ông Mạc Thiên Tich, sau nầy tại ngọn núi nầy cũng có ngôi mộ của ông đề lại Đỗ Như Liêm nói trên nên núi được mang tên là Đề Liêm). Tuy nhiên nguồn thông tin nầy có thể sai trái vì ông đề lại Đỗ Như Liêm mất khoảng 1860 – 1870 tức là lúc năm 1785 khi Hoàng Long hòa thượng viên tịch thì ông đề lại Đỗ Như Liêm còn rất nhỏ, thậm chí chưa sanh ra.   Một điểm khác làm sai lệch nguồn thông tin trên là theo như các điều ghi chép trong hai quyển Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên thì thời ông Mạc Thiên Tích có vị sư tên Hoàng Long (hay Huỳnh Phong) hòa thượng người gốc Qui Nhơn Bình Định, vào tu ở Bạch Tháp Sơn (tức là núi Đá Dựng) và khi ông viên tịch đồ đệ lập tháp bảy cấp để giữ xá lợi, tuy nhiên tài liệu nầy không nói rỏ ngọn tháp của Hoàng Long hòa thượng nằm chính xác ở đâu và nếu ở trong vùng núi Đá Dựng thì ngày nay ngọn tháp đó có còn được bảo tồn hay không? Như vậy theo hai quyển sách xưa thì Hoàng Long hòa thượng không có lập chùa trong Thạch Động mà tu ở bên núi Đá Dựng.

Nói tóm lại về nguồn gốc ngôi chùa Tiên Sơn Tự trong Thạch Động, thông tin còn rất mơ hồ chưa có những điểm chính xác về năm thành lập và người tạo ra ngôi chùa. Tuy nhiên ta có thể xem như ngôi chùa đã có dưới dạng một cái am nhỏ bằng gỗ từ trước năm 1790, sau đó có nhóm người dân Minh Hương đến trùng tu và thỉnh thầy về trụ trì, quá trình trụ trì chùa có thể xem vào nguồn thông tin thứ nhất nói trên.

D/ Truyền thuyết « Thạch Sanh – Lý Thông » có liên quan đến Thạch Động:

Theo sách « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, ấn bản 1957, có kể câu chuyện như sau:

“Thời rất xưa, ở quận Cao Bình. Hai vợ chồng già, nghèo, lòng tốt, nhưng không con. Ngọc Hoàng sai thái tử đầu thai làm con nhà họ Thạch. Bà cụ có thai, lâu cả mấy năm đến khi ông cụ Thạch bệnh, chết. Thạch Bà sinh con trai. Cụ bà chết. Cậu bé dựng lều sống dưới gốc đa, được dân gọi là Thạch Sanh. Cậu chỉ có một lưỡi búa. Ngọc Hoàng sai tướng trời xuống dạy cậu võ, và phép thần.

Có người bán rượu, tên Lý Thông, thấy Thạch Sanh có sức khỏe, nên kết thân. Trong vùng có con chằn tinh, thường ăn thịt người. Quan quân trừ không nổi, nên dựng miếu, mỗi năm cúng một mạng người. Năm ấy, tới phiên Lý Thông nạp mạng. Lý lừa gạt Thạch, nhờ thay Lý đi canh miếu thay một đêm rồi sáng hôm sau về. Nửa đêm, chằn tinh hiện ra, Thạch Sanh rút búa xả đôi chằn tinh, mới thấy là con trăn. Thạch Sanh cắt đầu trăn và cầm cung tên vàng của chằn về.

Khi Thạch Sanh về, kể lại, Lý Thông nói, rằng trăn đó là của vua nuôi, rằng Thạch Sanh hãy trốn đi. Lý Thông đem đầu chằn nạp cho vua. Vua khen, phong chức tước cho Lý Thông. Trong triều có công chúa, chưa ưng ai. Vua tổ chức hội tuyển phu, cho hoàng tử các nước và trai tráng trong dân tới chờ quả cầu do công chúa ném từ lầu cao xuống. Khi cô sắp ném cầu, Đại bàng bay ngang, sà xuống cắp công chúa bay về núi. Thạch Sanh đang ở gốc đa, ngó lên mây, thấy, mới rút cung tên, bắn trúng cánh Đại bàng. Thạch Sanh dò theo vết máu, biết cửa hang Đại bàng.

Vua sai đô đốc Lý Thông đi tìm, hứa gả công chúa và truyền ngôi. Lý Thông nghĩ chỉ có Thạch Sanh mới cứu được công chúa. Khi gặp Thạch Sanh, Lý Thông nhờ dẫn đường tới cửa hang Đại bàng. Hang sâu không ai dám xuống. Thạch Sanh tự nguyện buộc dây ở lưng rồi xuống hang. Đại bàng đang dưỡng thương. Thạch Sanh đưa thuốc mê để cho Đại bàng uống. Khi Đại bàng ngủ say, Thạch lấy dây buộc công chúa, hiệu cho quân Lý Thông kéo lên. Cứu công chúa xong, Lý Thông lấy đá lấp hang. Dưới hang, Thạch Sanh giết chết Đại bàng, cứu một thanh niên ra khõi cũi sắt, mới biết đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị Đại bàng bắt về hơn cả năm. Thái tử mời Thạch Sanh xuống Thủy phủ chơi. Vua Thủy phủ gặp con, vui mừng, xin đền ơn. Thạch Sanh từ chối, chỉ xin một cây đàn, rồi về lại gốc đa.

Hồn của chằn tinh và Đại bàng sau khi chết, đói vì không được ai cúng tế, tình cờ gặp nhau, bèn lẻn vào kho vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ. Lính theo dấu tìm, đến gốc đa thì gặp tang vật, bắt Thạch Sanh về giam. Công chúa về triều, tự nhiên bị câm, buồn hoài, nên vua hoãn hôn lễ với Lý Thông. Thấy quân bắt Thạch Sanh về, Lý Thông mới tính xử tử Thạch Sanh. Trong tù, Thạch Sanh buồn, lấy đàn của vua Thủy ra chơi, không ngờ đàn thần vẳng tiếng như than, như oán, vạch tội Lý Thông. Công chúa nghe tiếng đàn, vui mừng, cười nói, xin vua mời người đàn vào cung. Thạch Sanh kể cho vua nghe mọi chuyện. Vua sai bắt hai mẹ con Lý Thông, giao Thạch Sanh xét xử. Thạch Sanh tha, cho hai mẹ con Lý Thông về quê. Nửa đường, hai mẹ con bị sét đánh chết. Vua làm lễ cưới công chúa cho Thạch Sanh. Hoàng tử các nước bị từ hôn nổi giận, tụ họp lính 18 quốc gia tới hỏi tội vua. Thạch Sanh lấy đàn thần ra khảy, lính 18 nước buông vũ khí. Thạch Sanh sai dọn cơm cho lính các nước ăn no để về. Niêu cơm nhỏ, nhưng ăn hoài lại có cơm  ra hoài. Vua không con trai, nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.” (Hết tóm lược)

Liên quan giữa câu chuyện « Thạch Sanh-Lý Thông » và Thạch Động: Vì phía đông của bên trong Thạch Động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là « đường lên trời ». Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Còn về cái hang thông sâu thẩm không thấy đáy hang thì truyền thuyết cũng cho rằng đó là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được lắp kín lại để đảm bảo an toàn cho du khách như đã nói ở phần trên. Ngoài ra từ bên ngoài Thạch Đông, người ta còn thấy một khối thạch nhũ có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái, truyền thuyết cho rằng đó là hình con đại bàng đang quặp công chúa Quỳnh Nga về Thạch Động.

Nói tóm lại, tuy rằng câu chuyện thuộc về truyện cổ tích dân gian và theo giáo sư Nguyễn Đổng Chi, chuyện xảy ra ở Cao Bình là xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện ở nơi đó còn có một cái hang được cho là nơi Thạch Sanh đã chém chằng tinh và còn có nhiều đền thờ Thạch Sanh trong thôn làng cùng với một số phong tục văn hoá gắn liền với tích chuyện Thạch Sanh không có liên quan gì với cái hang Thạch Động ở Hà Tiên, tuy nhiên vì trong hang Thạch Động có nhiều hình thù và dạng hang đá phù hợp với câu chuyện được kể ra trong dân gian, thêm nữa tên họ Thạch Sanh trùng với họ Thạch là họ thông thường của người Việt Nam gốc Campuchia nên người ta vẫn tiếp tục gắn liền huyền thoại Thạch Sanh-Lý Thông với thắng cảnh Thạch Động, ta nên xem đó là chút thi vị được thêu dệt cho cái hay và cái đẹp của một thắng cảnh có tên tuổi như Thạch Động, tuy không phải là sự thật nhưng cũng không gây ra điều tai hại hoặc hiểu lầm làm méo mó lịch sử, mọi nơi, mọi dân tộc đều có những câu chuyện huyền thoại như vậy để được truyền tụng lâu đời trong dân gian.

E/ Câu chuyện lên núi Thạch Động cầu tiên của ông Ngô Văn Chiêu:

Theo quyển sách  » Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926″ (Nxb Thuận hóa, 1996) do Huệ Khải (Dũ Lan Lê Anh Dũng) viết, có đoạn nói về cuộc đời của ông Ngô Văn Chiêu đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu (1878-1932), ông là người sáng tạo và là môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài. Ông Ngô Văn Chiêu tuy xuất thân từ một gia đình thanh bạch, không giàu có nhưng ông là người có học cao, đỗ đạt thời Pháp và được bổ nhiệm làm công chức tại nhiều nơi ở miền nam. Khi thân mẫu ông mất, xong tuần bá nhật (100 ngày), vào ngày thứ hai 01/03/1920 (nhầm ngày 11 tháng giêng năm Canh Thân), ông đổi ra tỉnh Hà Tiên làm việc. Tại đây ông kết giao với nhiều bậc thân sĩ địa phương và thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vế thơ, ngụ ý khuyên ông đi tu:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Đêm Trung thu năm Canh Thân (chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:

Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.

Theo tác giả  Lê Anh Dũng, thì bài thơ trên có kể ra các tên của những vị thân hữu với ông Ngô Văn Chiêu, trong câu thứ hai có tên Quan, không biết là ai. Còn hai ông Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Đức tức là ông Lâm Tấn Đức (1866-1934), tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của ông Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).

Sau đó đến ngày 26-10-1920 (nhằm ngày rằm tháng chín năm Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 m.

Về câu chuyện ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Thạch Động Hà Tiên cầu cơ tiên trong năm 1920 với quý ông Lâm Tấn Đức, Diêu, Sự,…thì đó là một sự kiện trong tiểu sử cuộc đời ngài do tác giả Lê Anh Dũng kể lại, tuy nhiên là người Hà Tiên, chúng ta lại ít nghe nói về sự kiện nầy, mong các bậc cao niên và học giả góp ý thông tin thêm để làm sáng tỏ các chi tiết nầy, vì có liên quan đến thắng cảnh Thạch Động của chúng ta.

F/ Câu chuyện về cái đầu lâu trong hốc đá trên Thạch Động:

Trong sách « Truyện tích Việt Nam » do Lê Hương sưu tầm xuất bản năm 1970 có kể lại một câu chuyện liên quan đến Thạch Động như sau:

« Vào cuối năm 1945 khi Pháp tái chiếm miền nam, trong khi lục soát hang Thạch Động ở Hà Tiên thì tìm thấy được một đầu lâu gói trong một mảnh vải trắng nhét trong một hốc đá phía dưới hình tượng bà Quan Âm nổi trên vách. Người Pháp cho rằng đó là cái đầu sọ của một người lính Nhật tạm dấu trong đó chờ ngày đem về nước vì đầu được gói trong miếng vải sang trọng không phải của dân thường thời đó.

Truy tìm ra nguyên nhân thì có nguồn gốc như sau: Khi Nhật chiếm Đông Dương, có một chàng trung sĩ quân đội Thiên Hoàng yêu một cô thôn nữ người Việt nhà ở cạnh quốc lộ 17 (tên đường xưa đi đến Thạch Động). Cô gái tuy quê mùa nhưng cũng rất xinh đẹp nên chàng trai xứ Phù Tang say mê và nhờ viên thông ngôn người Việt đưa chàng đến nhà cô gái để bày tỏ lòng mong muốn của mình với cha mẹ cô gái. Hai bên cũng đã đồng lòng và chuẩn bị ngày cưới hỏi. Tuy nhiên tai họa lại xảy đến khi viên đại úy cấp trên của chàng trung sĩ thấy cô gái liền sanh tâm quyết cướp đoạt cho bằng được. Nghe hung tin như vậy, chàng trung sĩ nổi máu anh hùng võ sĩ đạo, quyết bảo vệ người yêu của mình nên chàng vào ngay văn phòng viên đại úy để thách thức đấu kiếm, phân định hơn thua để người đẹp sẽ thuộc về bên chiến thắng. Viên đại úy nhận lời và hai bên hẹn gặp nhau trên mảnh sân sát bên chân núi Thạch Động vào một đêm trăng sáng. Mỗi bên có một người bạn làm nhân chứng đi theo, theo thủ tục dân Phù Tang. Ngoài ra còn có một khán giả duy nhất đó chính là cô gái trong câu chuyện, vì nghe tin người yêu báo nên cô gái cũng đi đến, lén núp vào kẹt đá để theo dỏi trận đấu. Nàng thầm van vái các vị thần linh xui khiến cho viên đại úy đổi ý bỏ trận đấu để tránh thảm họa cho đôi bên và nàng cũng sợ rằng người yêu không đủ tài năng để chiến thắng. Nàng thầm nguyện nếu có gì thì thà chết chớ không thất ước với người yêu. 

Thế rôi sự thật phải đến, hai lưởi gươm dài sáng chói đã chạm vào nhau dưới ánh trăng bật thành những tiếng động rợn người kèm theo tiếng quát tháo làm cho nàng khiếp sợ run lên. Sau hơn nửa giờ thi thố tài nghệ, chàng trung sĩ bị viên đại úy đánh văng kiếm, kẻ thắng trận cười ngạo nghễ, tra kiếm vào vỏ và gọi người nhân chứng ra xe về chợ Hà Tiên, thình lình thấy bóng cô gái trong kẹt đá đứng nhô ra xem người yêu mình có bị giết không…Viên đại úy cười to và tiến tới dang tay như đón mời người đẹp, cô gái hoảng sợ vụt ù té chạy xuống chân núi và biến mất trong bóng tối. Viên sĩ quan không đuổi theo, lái xe về chợ Hà Tiên.

Chàng trung sĩ thua trận không thể sống chịu nhục và nhìn người yêu qua tay người khác, anh nhờ người bạn giúp mình để anh tự xử sự theo lối anh hùng võ sĩ đạo (harakiri). Trước đó chàng thảo hai bức thư, một gởi về cho cha mẹ và một gởi cho người yêu rồi dùng dao ngắn tự rạch bụng. Người bạn đứng sau lưng đưa gươm chém chàng đứt đầu, dùng vải trắng gói đầu lại và đem vào hang trong hốc đá trên Thạch Động dấu rồi chở thân mình về đơn vị làm lễ mai táng.

Cô gái không hề biết thảm trạng nầy vì trong đêm đó cô cùng bà mẹ vượt biên giới qua đất Miên lánh nạn vì cô không muốn làm vợ viên đại úy. Khi ông đại úy hay liên tiếp hai tin buồn: viên trung sĩ tự tử và cô gái đã bỏ xứ đi vì ý muốn không tốt đẹp của mình, ông rất hối hận nên cho tổ chức lễ hỏa thiêu xác của viên trung sĩ trước đội quân và hứa sẽ tự tay mang đầu người quá cố về nước Nhật sau nầy khi thắng trận. Sau đó vì đau buồn ông xin thuyên chuyển đi tỉnh khác để cố quên câu chuyện đó.

Vài thắng sau, Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc, quân Pháp trở lại chiếm đóng miền nam nước Việt. Bên địa phận Cao Miên, Việt kiều gặp phải nạn « cáp duồn » và cướp bóc vì người Miên kỳ thị, cô thôn nữ theo một số kiều bào trở về hồi cư ở Hà Tiên. Nghe tin bà con trong xóm kể lại cái chết của chàng trung sĩ Nhật, cô gái rất đau đớn. Nàng đem vàng hương, hoa quả đến mảnh sân cạnh Thạch Động cúng kiến và khóc than cho người xấu số vì không biết chàng Nhật có được ngôi mộ ở đâu không, từ đó nàng thường đến nơi đấu kiếm ngày trước để trút nỗi nhớ niềm thương ».

Câu chuyện đầu lâu trong hang đá ở Thạch Động nầy ngày xưa khi còn đi học mình cũng có nghe người ta kể lại, người ta còn chỉ cho mình thấy cái hốc đá bên trong vách của Thạch Động, nơi có để cái đầu trong đó. Không biết câu chuyện tình đẩm lệ nầy có thật hay không, tuy nhiên câu chuyện không thuộc loại huyền thoại như kiểu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông. Câu chuyện nầy có phần thực tế theo hoàn cảnh lịch sử thời Nhật và Pháp chiếm miền nam Việt Nam, nhưng các tình tiết trong câu chuyện thì không ai xác định được độ chính xác.

G/ Thạch Động trong thơ văn và điện ảnh:

Nói đến thắng cảnh Thạch Động ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nhớ đến cái tựa bài thơ vịnh 10 thắng cảnh đẹp của Hà Tiên, đó là tựa « Thạch Động thôn vân », bài thơ lúc ra đời viết bàng chữ Hán trong tập thơ « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích được khắc bản in vào năm 1737 sau khi thành lập tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, sau đó có tập thơ chữ nôm cũng của Mạc Thiên Tích viết ra là tập « Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh » và tập thơ này chưa được khắc in. Bản hiện nay do thi sĩ Đông Hồ sưu tập được.

« Thạch Động thôn vân » là động đá nuốt mây, từ xa ta thấy những áng mây trôi nhẹ nhàng trên miệng hang Thạch Động rồi từ từ có đám mây khuất vào trong miệng hang, người ngoạn cảnh có cảm tưởng như chính hang động đã nuốt mây. Xin chép lại bài thơ ở đây để mọi người thưởng thức:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại;
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giới;
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ỷ, la.

Khi viết tập « Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên », tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, phần bàn về Thạch Động, nhà thơ Đông Hồ đã có viết cảm nghĩ riêng về việc thắng cảnh Thạch Động. Đai khái là ông rất chống đối việc xây cất ngôi chùa kiên cố bên trong hang Thạch Động, ông viết: « Không như ở đây, chỉ riêng có một ngọn núi, cũng là loại đá xanh mà trong bụng núi thì rộng thênh thang, lại có hai cửa thông, đủ cho bóng trời soi sáng, y như một cảnh cung thẩt. Ở đây, như chúng ta thấy hiện nay, phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên. Ngôi chùa ngay giữa động, chùa gỗ lợp ngói, đã làm cho cảnh Thạch Động mất đẹp đi nhiều. Nếu không có ngôi chùa đó, thì chúng ta sẽ được nhìn thấy một cảnh động đá thênh thang, rộng rãi, chung quanh vách đá uốn nét, giữa có khoảng thông thiên, nhật quang tỏa khắp lên các thạch nhũ, đẹp biết mấy ».

Nhà thơ Đông Hồ còn nói rỏ thêm về việc sơn màu vôi trắng tô đắp vẽ vời tượng nọ hình kia trên vách đá là dại dột…Ông khuyến cáo nên dời chùa ra ngoài có nhiều chỗ rộng rải để khỏi làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên.

Trong những năm 50-60, có hảng phim tại Sài Gòn xuống Hà Tiên thực hiện cuốn phim về sự tích Thạch Sanh-Lý Thông, người đạo diễn đã nhờ ông cụ ba của thầy giáo Trình Kim Chung, ông cụ lúc đó tu ở trên Thạch Động, vì tướng mạo ông phương phi, râu bạc trắng, tay cầm phất trần rất giống tiên ông nên ông đóng vai Tiên Ông trong bộ phim nầy.

Ngoài ra Thạch Động cũng còn là nơi được chọn là bối cảnh cho các bộ phim như « Cuộc chiến với chằn tinh » (hay còn có tên là « Thạch Sanh ») với các nhân vật thằng An, thằng Cò của cố đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu năm 1997 và bộ phim « Đất Phương Nam »  của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

H/ Ký ức riêng về Thạch Động:

Vốn là dân gốc gác Hà Tiên, mình biết rất nhiều về Thạch Động, mỗi lần theo bạn bè đi xe Honda chạy ra đường biên giới về phía chùa Xà Xía, mình có dịp ngắm nhìn Thạch Động và rất có ấn tượng về thắng cảnh nầy. Trong những năm 50, người dân Hà Tiên có thể lên Thạch Động viếng cảnh, ngắm thiên nhiên và thả hồn với không gian  trầm mặc của vùng núi non bao quanh Thạch Động. Tuy nhiên khi mình trưởng thành và trong thời gian đi học tại Trung Học Hà Tiên, khu vực Thạch Động trở thành một nơi chiến lược do có quân đội địa phương đóng điểm trên đó nên không ai còn được lên Thạch Động ngoạn cảnh. Hằng ngày chỉ chạy xe Honda qua lại bên phía dưới con lộ chánh dẫn ra biên giới và nhân lúc đó nhìn ngắm Thạch Động mà thôi. Có một điều may mắn là trong lúc đi học, mình có tham gia vào ban nhạc do bạn Lê Công Hưởng là trưởng ban, thời đó các đơn vị nhà binh đóng quân tại Hà Tiên như trên đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba Ông Chánh), Thạch Động, trại biệt kích Tô Châu,..v..v..thường hay tổ chức chơi văn nghệ giúp vui nên có một lúc đại đội đóng quân trên Thạch Động có mời ban nhạc học sinh trường Trung Học Hà Tiên lên chơi nhạc trên Thạch Động. Nhờ dịp như thế, mình và các bạn, cùng các bạn gái ca sĩ học sinh được vào hang Thạch Động để ca hát giúp vui trên đó.

Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người đàn anh gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Mũi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ… Kỷ niệm nầy mình có kể với nhiều chi tiết trong bài « Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh) » các bạn có thể bấm vào đường link nầy để đọc bài thêm.

Lần về thăm nhà Hà Tiên vào tháng sáu năm 2012, mình có gặp lại người bạn thân Nguyễn Đình Nguyên thời xưa đi chơi chung với nhau, hai dứa đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…). Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín, ngôi chùa gỗ Tiên Sơn Tự cũng dần dần được phủ lên nền gạch đá rắn chắc và cổng vào chùa cũng được sơn phết điểm tô màu sắc,…còn đâu nét đẹp thiên nhiên ngàn năm cổ kính của một thời mà hồn đất Hà Tiên hòa nhập với cây xanh, bóng mát và không gian trầm lặng một Thạch Động yên nghỉ nhìn về hướng chợ Hà Tiên…

Paris, Trần Văn Mãnh, viết xong ngày 02/05/2020

Một bức hình có thể xem như là xưa nhất về Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1900, hình rửa theo giấy Citrate

Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1901. Hình rửa theo giấy Citrate

Quang cảnh Thạch Động in trên bưu ảnh do người Pháp phát hành. ta thấy cửa vào Thạch Động và có hai vị hòa thượng đứng trước cửa. Dưới bưu ảnh có ghi hàng chữ: « COCHINCHINE – Hatien- Le bonnet à poils. Entrée de la Bonzerie à l’intérieur du rocher » (Lối vào chùa bên trong hòn đá)

Quang cảnh Thạch Động trong bưu ảnh do người Pháp phát hành năm 1926 (Nadal). Dưới bưu ảnh có ghi: « HATIEN – Bonnet à poils. Chemin dans les grottes, 3 km 500 du chef-lieu » (Mũ lông – Lối đi trong hang động, cách thị trấn 3 cây số rưởi)

Hình cửa vào Thạch Động do hảng chocolats SUCHARD của người Pháp in trong tập hình sưu tầm.

Hình Thạch Động do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Hình Thạch Động (mặt tây) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Quang cảnh Thạch Động hình chụp năm 1956. (TuanVo)

Thạch nhũ trước Thạch Động có hình như mỏ đại bàng. Hình chụp năm 1959. (TuanVo)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BronsonHa)Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 1994. (TVM)Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BuiVanTam, năm 2004)

Quang cảnh Thạch Động (mặt đông nam). (Herman Hermanson, năm 2006)

Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 2008. (TuấnMinh)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (2017)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (PhamKhang, năm 2018)

Quang cảnh Thạch Động mặt đông nam. (PhamKhang, năm 2018)

 

 

Thầy Trần Văn Thuận

Thầy cô và các bạn thân mến, tất cả bắt đầu từ một câu hỏi của một người bạn face book của thầy Nguyễn Hồng Ẩn, người bạn đó hỏi thầy Ẩn có biết một đồng nghiệp cũng có một thời dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, người thầy đó dạy môn chính là Việt Văn và tên là Trần Văn Thuận…Sau đó có em Lý Minh Thuận, em của bạn Lý Mạnh Thường có nhắc mình nên viết bài giới thiệu hai thầy đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên một thời gian, đó là thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa và thầy Trần Văn Thuận dạy môn Văn. Thầy Nguyễn Long Hồ thì mình biết, tuy nhiên trong thời gian từ năm 1970 trở đi thì mình qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Trung Trực, thỉnh thoảng có về Hà Tiên nghỉ hè và được biết thầy Nguyễn Long Hồ vì thầy Hồ thường đến nhà bạn Lý Mạnh Thường chơi và mình có gặp thầy Hồ tại đó. Còn trường hợp thầy Trần Văn Thuận thì hình như ngay lúc em Lý Minh Thuận và sau đó là thầy Nguyễn Hồng Ẩn có nhắc cho mình về thầy Trần Văn Thuận thì mình  không nhớ ra thầy Thuận. Sau một thời gian tìm hiểu và đọc các lời viết ngắn gọn của các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên nhắc về thầy Trần Văn Thuận thì mình nghĩ là có thể mình đã biết hoặc có nghe nói qua về quảng thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên…Theo lời các bạn có học qua với thầy Trần Văn Thuận trong thời gian ngắn thầy dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, thì thầy Thuận thường chạy chiếc xe Vespa rất đẹp, thầy có gia đình và ở căn nhà thuê phía trước nhà của anh Phan Văn Hữu khúc dưới xóm Cầu Câu. Thầy Thuận để tóc dài, mái tóc thường cong gắn vào hai tai rất nghệ sĩ. Thầy có tài làm thơ, thầy có làm một bài thơ trong đó kể ra hết tất cả tên của các học trò trong lớp. Chẳng những thế, thầy còn làm thơ bằng chữ Hán, ý nghĩa rất hay. Thầy biết chơi đàn guitare thùng. Có một chi tiết bạn học còn nhớ là thầy không thích nhạc Bảo Thu, Vinh Sử…cũng không thích giọng ca Chế Linh, Giang Tử, Thanh Phong,…v…v…Có thêm một chi tiết quan trọng nữa là thầy Trần Văn Thuận rất được học trò Hà Tiên quý mến, nhất là rất được các em nữ sinh ái mộ …!!

Vài nét để giới thiệu thầy Trần Văn Thuận mà mình tìm hiểu trên trang của thầy: Thầy Trần Văn Thuận người gốc Bình Thuận (làng Tân Lý, thị xã La Gi). Sau khi học xong bậc Trung Học, thầy Thuận có ý chí muốn trở thành kiến trúc sư nên có theo học ngành kiến trúc ở Sài Gòn, đồng thời thầy cũng ghi danh theo học các chứng chỉ ngành Văn Khoa. Vì lý do sức khỏe thầy không tiếp tục theo ngành kiến trúc nên quyết đinh theo đuổi ngành sư phạm ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ngành Viêt Văn. Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trở thành giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ban Văn, thầy Thuận đã thực hành nghề giáo rất nhiều năm bằng cách dạy tư ở các trường Tư Thục, dạy kèm cá nhân tại Sài Gòn..v..v..

Khoảng đầu năm 1970 thầy Trần Văn Thuận về dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, môn Việt Văn. Trong thời gian nầy, thầy Thuận viết bút ký rất nhiều, thầy viết để ghi lại những kỷ niệm, ký ức ngay cả trong những năm còn đi học lớp Đệ Thất ở quê thầy, thầy cũng có nhiều thời gian rỗi rảnh để dịch những bài thơ trong tập Đường Thi bằng chữ Hán sang tiếng Việt. Các tập hồi ký nầy có một phần được các bạn hữu sưu tầm và được phép xuất bản thành sách hiện nay, một số thì bị thất lạc mất.

Đến tháng 10 năm 1972, thầy Trần Văn Thuận được công lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển về trường Bình Tuy dạy môn Anh Văn vì trong quá trình kiến thức của thầy, thầy cũng có văn bằng về môn Anh Văn. Thế là thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên không dài, chỉ vỏn vẹn hai, ba năm, tuy nhiên, theo thầy viết lại trong các bài tự thuật thì trong lúc giảng dạy ở Hà Tiên, thầy có rất nhiều kỷ niệm với các bạn và học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975, thầy Trần Văn Thuận cũng được đề nghị tiếp tục dạy học và quản trị các trường lớp mặc dù ý thầy nhất định rời ngành dạy học để đi vào ngành xây dựng vì đó cũng là kiến thức mà thầy thu thập được khi còn học ngành kiến trúc ngày trước. Thầy Thuận có lúc làm Hiệu phó trường Phổ Thông Cấp 3 Hàm Tân, làm hiệu trưởng trường Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Đến năm 2007, thầy Trần Văn Thuận về nghỉ hưu tại phường Thảo Điền, thuộc quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.

Trong suốt quá trình viết văn, làm thơ, thầy Trần Văn Thuận ký nhiều bút hiệu như: Cát Sỹ, Thoại Băng, Trần Thuận…và bút hiệu chính thầy vẫn dùng là Đoàn Thuận.

Một số tác phẩm của thầy Trần Văn Thuận đã được xuất bản chính thức hiện nay:

Thơ Tự do:
Năm 1994, nhóm thân hữu Tuổi Trẻ sưu tầm những bài thơ thầy Trần Văn Thuận làm trong thời gian thầy giảng dạy ở Hà Tiên biên tập thành “Mùa bấc biển, thơ Đoàn Thuận” do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép xuất bản năm 1994.
La Gi ngàn xanh (NXB Trẻ 1997)
Lửa đêm mưa (NXB Trẻ, 1998)
Khoảng lặng của hoa (NXB Trẻ, 2001)
Tượng (NXB Trẻ, 2002)
Đời sậy (NXB Trẻ, 2003)
Sắc phượng (Hội VHNT Bình Thuận, 2006)
Rong chơi cùng cát bụi (NXB Văn Học, 2012)
Mái xưa (NXB Văn học, 2013)
Dưới hoa (NXB Văn Học 2013)

Thơ lục bát:
Lời chiều (lục bát tứ tuyệt) (NXB Trẻ, 1996)
Lửa đầu non (lục bát trường thiên) (NXB Trẻ, 1999)
Tạ ơn đời (lục bát tam cú) (NXB Văn học, 2013)
Đường Thi (thơ dịch) (NXB Văn Học, 2012)
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch) (NXB Thời Đại, 2014)

Bút Ký:
Những mảng vỡ thời gian
Những miền đất trọ

Paris 14/02/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu theo ý của các bài trên trang của thầy Trần Văn Thuận, và sự đóng góp của các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trân trọng cám ơn Ông Trần Cát Trường, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, các bạn Lý Minh Thuận, Lê Phước Dương,…

Sau đây xin giới thiệu một vài bài viết tự thuật của thầy Trần Văn Thuận viết khi thầy còn ở Hà Tiên:

Thầy Trần Văn Thuận (Hình thầy TVT)

Tôi đi dạy ở Hà Tiên (Trần Văn Thuận)

Khi thi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, bài làm về chữ Nôm không đủ điểm, tôi phải thi lại. Trong khi các anh chị tốt nghiệp kỳ 1 đã đến nhiệm sở mới, tôi ở lại Saigon ôn tập để thi kỳ 2. Rất may mắn, tôi cũng được tốt nghiệp, và theo thứ hạng, tôi có thể chọn nhiệm sở Gò Công. Nhưng anh Nguyễn Chí Thành lại cần về đây, còn tôi nơi nào cũng được, miễn có chỗ dạy chính ngạch, vì tôi thuộc loại yếu về tay nghề sư phạm.
Tôi đến thăm Thầy Đông Hồ, tức thi sỹ Đông Hồ, Thầy khuyên tôi nên về Hà Tiên, quê của Thầy, cũng là nơi sinh ra hệ văn chương Chiêu Anh Các.Tôi quyết định chọn nhiệm sở Hà Tiên, dù cách xa Lagi, quê Mẹ tôi, trên sáu trăm cây số.
Biết tôi xuống Hả Tiên, nơi có nhiều người Minh Hương sinh sống, Thầy Giản Chi tặng tôi bộ Đường Thi viết tay trên giấy dó, và dặn dò tôi cách dịch ra tiếng Việt. Thầy cũng đặt tên tự Cát Sỹ cho tôi. Tự hứa với chính mình, tôi sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong mỏi của quí Thầy Cô.

Tại trung học Hà Tiên, thầy cô phần lớn là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nên tôi chỉ dạy Việt văn vài lớp đệ tam, đệ nhị, giờ trống còn nhiều. Tôi giết thời gian bằng cách chú tâm vào việc sắp xếp những trang tùy bút tôi đã có từ thời học đệ thất, và dịch Đường Thi sang tiếng Việt.

Đầu năm 1970, tôi kết được năm tập “bút ký” khá dày. Mỗi tập trên ngàn trang bản thảo, chằng chịt chữ viết lẫn những bức ký họa và thư pháp. Tôi giữ nguyên những tờ giấy cũ, mang dấu ấn thời gian, dù nhiều trang đã nhòe màu mực. Tập 1 và 2 có tên “Miền đất trọ”. Tập 3, 4 và 5 có tên “Mảng vỡ thời gian”. Đây không phải là trang sáng tác, đúng hơn là trang “tùy bút”, ghi lại những gì nghe thấy trên đường đời, “thấy sao viết vậy”, “nghe gì ghi nấy”; có khi ghi bằng “văn vần” khi bằng “văn xuôi”. Phần lớn, những bài văn vần ngắn gọn nằm trong “lưu bút” hay “nhật ký” của những người bạn quen thân, trong thời đi học đi dạy. Tôi dự định lưu trữ, chờ khi có điều kiện, sẽ biên tập thành sách.

Đầu năm 1972, tôi dịch xong tập Đường Thi của thầy Giản Chi tặng, dưới mỗi bài dịch tôi đề tên Cát Sỹ. Trong đó, có hai phần tách riêng dưới nhan đề “Thơ thiền Vương Duy” và “Ánh trăng Lý Bạch”.

Ngày mới xuống Hà Tiên, tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều người để tìm hiểu về Chiêu Anh Các, nhưng ít người biết rõ, ngoài “Hà Tiên thập cảnh”. Do đó, sau khi tổ chức lễ giỗ Thi sỹ Đông Hồ, tôi dừng lại việc nghiên cứu về hệ văn chương Chiêu Anh Các, như lời gợi ý của Thầy, năm tôi học chứng chi Văn Chương Quốc Âm.

Trong ba năm, tôi dạy học ở đây, gần như không quen thân với ai trong ngành giáo dục, trừ Trần Cao Thu, người ở chung nhà trọ nhưng không chung trường, vì Thầy dạy ở trường Nông Lâm Súc. Cao Thu và tôi cùng họ Trần, nhưng không biết gì về hoàn cảnh của nhau, dù gặp mặt hằng ngày. Tôi chỉ dạy đủ giờ chuẩn, ít khi vào trường, nên xa lạ trước nhiều thầy cô. Có lẽ, do tôi quen thói sống khép kín.
Thời cuộc càng ngày càng nhiều biến động. Đường Hà Tiên sang Rạch giá bị đắp mô, đi lại rất khó khăn, thường xuyên tôi ở lại nhà trọ một mình, kể cả ngày Tết. Dù nhóm bạn học của Lý Tòng Hiếu quanh quẩn bên tôi, giúp tôi bớt buồn, nhưng tôi vẫn rất nhớ Mẹ nhớ nhà, khi mùa Gió Chướng thổi qua….

Tuy vậy, một số phụ huynh dần dà kết thân với tôi, đặc biệt là nhóm Ba Lá. Nhóm thường thả xuồng Ba Lá ngắm trăng trên hồ Đông. Uống rượu đế với tép rang và đọt so đũa. Khi thì kể một câu chuyện đau buồn của người nghèo khổ. Khi thì vổ mạn xuồng hát điệu lam thôn dân dã, boléro miền Nam. Khi thì đọc một câu thơ tự chế. Trình độ học vấn của nhóm không bao nhiêu, nhưng sự hiểu biết về cuộc sống thăng trầm luân hồi nhân quả thì quá nhiều. Tôi thầm cám ơn nhóm thân hữu Ba Lá, vì đã giúp tôi nhận ra nhiều điều không có trong sách vở, suốt thời đi học. .

Hà Tiên, đối với tôi, là “miền đất trọ” thơ mộng thân yêu, nơi tôi dạy học với tư cách giáo sư trung học đệ nhị cấp chính ngạch.

Ra trường, tôi chuyển đến Hà Tiên.
Cuối trời đất nước biệt một miền.
Kiên Lương Rạch Giá, vùng oanh kích.
Lênh đênh kênh rạch một đêm thuyền.
.
Hai chiếc va li một cây đàn,
đôi ba quyển sách làm hành trang.
La Gi quê mẹ xa ngàn dặm.
Châu thổ sông dài trời mênh mang.
.
Đất nước chiến tranh lắm đoạn trường .
Tôi vì cơm áo lại tha phương .
Những mong gửi gắm lòng thương nước
vào đàn em nhỏ của quê hương.
.
Cứ ngỡ tôi như cụ đồ già,
bụi đường mưa gió tóc sương pha,
bút nghiên khăn gói dăm ba chữ,
về ngồi dạy trẻ « miệt vườn » xa.
.
Hà Tiên,1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Khoảng lặng không tên (Trần Văn Thuận)

Tôi đến Hà Tiên trình sự vụ lệnh dạy học vào một buổi chiều. Sắc chiều còn lại ở chân trời là những áng mây trắng, che dần ráng đỏ, trôi vào đêm. .

Quán cốc cuối đường qua bãi Thuận Yên đã thưa khách, chỉ còn ba người đàn ông đang lai rai mấy chén rượu đế. Phố Hà Tiên nằm bên kia hồ, mờ mờ trong bóng chiều. Những ngọn đèn đỏ quạch. Vài ngọn dừa cao trên mái nhà ngói cổ. Phố im lìm dù mới chớm đêm. Hồ Đông như một vòng cung ôm trọn khu phố. Nhìn từ bên này Thuận Yên, phố nhỏ nhưng rất thơ mộng. .

Bụi đường phủ đỏ trên tóc trên vai áo, trên chiếc túi xách hành trang. Đã nhiều chuyến đò qua bờ bên kia và trở lại cắm sào bên pong-tông cầu xi-măng. Tôi ngồi bên quán nhỏ mà tưởng mình như kẻ giang hồ lữ thứ bao đời. Một cốc rượu trắng uống hoài không cạn. Phố cách một chuyến đò ngang mà tôi chưa muốn sang, vì không quen biết ai. Hà Tiên là quê hương của thi sỹ Đông Hồ, với tôi, như một nơi lưu biệt xa lạ. Con đò nhỏ vẫn nằm im bên bờ vắng, chờ đưa người khách lạ sang sông. Ánh đèn dầu le lói soi bóng thuyền nhạt nhòa trên dòng nước. Phố nhỏ chìm dần vào giấc ngủ khuya, khi con đò neo lạnh dưới bến. .

Một mái hiên nhỏ ở đầu quán, nơi khách đi đường trọ lại qua đêm. Con đường Kiên Giang Hà Tiên thường bị đấp mô, nên khách có thể lênh đênh trên kênh một ngày dài, cũng có thể đi vội trên xe Honda ôm, cũng có thể dừng lại nơi đây chờ chuyến đi thích hợp. Trên một chiếc ghế xếp, tôi nhìn ra hàng cây dương liễu dưới bóng trăng mờ, tưởng nhớ miên man đến quê nhà La Gi. Khi tôi vừa đốt thuốc, định nhờ đốm lửa xua đi nỗi buồn trong đêm quạnh quẽ, một Honda ôm dừng lại trước mặt. Một phụ nữ vào quán và một thanh niên vội vã lên xe Honda ôm, chạy về phía Kiên Lương. Trong quán, tiếng ly tách chạm, lẫn với giọng nói lè nhè của người say rượu. Theo ánh đèn, hé qua cánh cửa, bà chủ quán gọi người phụ nữ là cô Hậu và chỉ chiếc ghế trống bên cạnh tôi. Cửa khép lại. Một không gian yên tịnh, mờ ảo, dưới sao khuya.

Trong bóng đêm, chị Hậu nằm hút thuốc liên tục như thao thức với một tâm sự riêng. Tôi cũng lặng thầm thao thức nhớ nhà, qua hương tóc bay của chị. Bổng nhiên chị đưa tôi gói thuốc Caraven A như mời tôi hút, tôi đưa cho chị gói Pall Mall. Chị rút một điếu, bật lửa đốt và đặt vào môi tôi điếu thuốc chị đang hút. Tôi rít một hơi dài, thầm hưởng mùi thơm rất dịu. Tàn điếu Pall Mall, kề sát vào tai, chị hỏi nhỏ tên tôi. Tôi trả lời nhưng chị đưa một ngón tay lên môi, nhìn tôi rất buồn. Một khoảng lặng không tên giữa chị và tôi. .

Sáng hôm sau, xuống đò qua phố, chị đưa tôi đến cuối đường Tô Châu, giới thiệu tôi với một người quen, để tôi ở trọ. Chị từ giã sang Nam Vang, còn lại trong tôi sự vỗ về dịu êm cùng đôi điều suy nghĩ, dù chị và tôi chỉ bên nhau một đoạn đường ngắn.

Hà Tiên, 1/1970
Đoàn Thuận

Tết xa nhà (Trần Văn Thuận)

Một lần nữa, tôi lại ăn tết nơi quê người.

Liêm, Hồ, Hài đã sang Phú Quốc đi máy bay về quê tuần trước. Thầy Trần Cao Thu và tôi đã ba lần trốn dưới đò xuôi kênh đều bị giử lại, vì đường bộ sang Rạch Giá vẫn bị đắp mô. Nghèo khó và chiến tranh buộc tôi ở lại Hà Tiên, ăn Tết xa nhà.
Nhà Bác Tám nhộn nhịp, con cháu về chuẩn bị đón xuân. Tôi nằm riêng trong phòng đọc sách. Nhóm bạn của Tòng Hiếu đến thăm và tặng quà tết với một cây thuốc con mèo đỏ, bánh lạt, beurre, café, bốn đòn bánh. Điền cho năm búp huệ trắng, rất thơm. Thật ra, trong thập niên 60, đôi lần tôi ở lại gác trọ một mình chờ năm cũ trôi qua. Giờ đây, tuy tôi ăn nhờ ở đậu trong nhà, nhưng Bác Tám coi tôi như người thân, hơn nữa, những “thư sinh” hồn nhiên luôn quay quần bên tôi, lại có Cao Thu cùng chung cảnh ngộ. Xuân như nhiên vẫn đến, dù xa nhà. .

Cao Thu đề nghị một cuộc dạo chơi cuối năm trên núi. Chúng tôi đi bộ qua rừng dâu Thuận Yên lên núi Voi. Thiếu mai vàng, nhưng hoa thơm, cỏ mượt rất nhiều. Từ một gộp đá nhìn ra biển, Cao Thu như một bức tượng lặng câm. Tôi bắt gặp một điều gì vấn vương trong gió. Bấc tháng giêng chăng? Nhà tôi xa tít phía chân trời. Tôi cũng nhớ đôi điều về Sài Gòn đầy ắp kỷ niệm của một thời sinh viên, của những mùa xuân lưu lạc. Chiều xuống đã lâu. Chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển về lại Thuận Yên, trong tiếng pháo nhà ai nổ dòn. .

Chiều mồng Một, nhóm thân hữu Ba Lá đến chúc Tết và mời tôi đi thăm nhà thi sỹ Đông Hồ, rồi cùng nhau thả thuyền lênh đênh về kênh Vĩnh Tế, mừng Bác Hẹ tròn tám mươi tuổi. Xuồng “ba lá” lắc lư theo điệu Boléro, muỗng nhịp trên chén rượu nếp trắng, nhóm chúng tôi đón xuân sang nơi quê hương thơ mộng Hà Tiên. Một mùa xuân tha phương, còn mãi trong ký ức tôi. .

Hà Tiên, 1971
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Chú thích: Trong bài ký sự nầy thầy Trần Văn Thuận có nhắc đến quý thầy: Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Long Hồ, Nguyễn Văn Hài và thầy cũng có nhắc đến các học sinh như Lý Tòng Hiếu, Quách Ngọc Điền…..

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình Thai Manh Hoai)

Một vài bài thơ thầy Trần Văn Thuận viết có liên quan đến Hà Tiên:

Bên bến Tô Châu

Dừng chân bên bến Tô Châu.
Bờ cây bến đá quánh màu gió sương.
Ô đèn thắp bóng con đường.
Mấy ngôi nhà cổ, mấy tường rêu phong.
.
Dừng chân phố thị bên sông.
Lửa thuyền đêm lạnh giữa mông mênh mùa.
Tiếng người khuất dưới lau thưa.
Ngờ như lời cổ thi vừa bay qua.
.
Hà Tiên, 1970
CÁT SỸ

Đêm thức Hà Tiên

Góc trời đêm lạnh Hà Tiên
Gió bờ dương liễu Thuận Yên ru sầu.
Sóng vùi cát bãi đêm thâu
Vết chân chim dẫm nát nhầu bóng ai.
.
Nằm nghe sông núi thở dài
Nghe ta giữa thế kỷ hai mươi buồn.
Hồ Đông in bóng trăng suông
Một dòng sông cũ nhớ nguồn xa xôi.
.
Đảo hoang cây cỏ bổi hồi,
Áo xưa bụi phủ một thời đau thương.
Mãi lo mãi khổ đôi đường
Trên quê hương lại tha phương mịt mù.
.
Nữa đời già cỗi tiếp thu.
Lửa nhân sinh đốt khói rù khe tim.
Tô Châu phố ngủ im lìm.
Ta ôm nỗi xót xa tìm vào quên.
.
Hà Tiên, 1970.
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Hình ảnh thầy Trần Văn Thuận trong sân trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1966. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận hiện nay đã cao tuổi và đang nghỉ hưu tại nhà riêng ở TP HCM. (Hình thầy TVT)

Tái bút: Thầy Trần Văn Thuận cũng có đăng về chi tiết của thầy nếu bạn nào muốn liên lạc với thầy:

Qui vị có thể liên lạc qua: .
+ đtdđ: 0907 497 529 . .
+ email: doanthuancs@gmail.com .
+ nhà: 80/12/48A đường Dương Quảng Hàm,
p5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Chú thích: Theo tài liệu của Phật Giáo Kiên Giang (Giác Ngộ Online), sau đây là tên các vị thầy đã có thời gian trụ trì ở chùa Tam bảo Hà Tiên:

« Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là Hòa Thượng Ân Hạ cũng là vị Hòa thượng khai nguyên cho Phật Giáo xứ Hà Tiên. Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như Hòa Thượng Hòa Quang, Thiền sư Nhất Đới, Thiền sư Trí Tàng, Thiền sư Hoằng Ân, Thiền sư Hải Huệ, Thiền sư Giác Ngạn, Thiền sư Như Đức, Thiền sư Như Khả, Thiền sư Phước Chơn, Hòa Thượng Thuần Hạnh, Yết Ma Phước Thành, Hòa Thượng Phước Ân (1920 – 1946), Hòa Thượng Phước Quang, Hòa Thượng Quảng Đức, Hòa Thượng Vĩnh Đạt, Hòa Thượng Chánh Định, Thượng Tọa Thiện Giác (1960 – 1974) và  từ năm 1974 đến nay là Ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Thầy Nguyễn Lê Hùng

« Thầy cô và các bạn thân mến, vào những năm đầu của thập niên 1960, có một người thầy dạy môn Pháp văn ở Trường Trung Học Hà Tiên mà mình muốn giới thiệu qua bài viết hôm nay, thầy tên là Nguyễn Lê Hùng. Thầy Hùng tuy dạy không nhiều năm ở Hà Tiên (thầy dạy trong khoảng thời gian 1962-1965) nhưng là một trong những vị thầy đã để lại rất nhiều ấn tượng và tình cảm luyến nhớ cho học sinh…Mình cũng là một trong những học sinh có nhiều tình cảm luyến nhớ về thầy…Tuy không được học với thầy nhiều lắm nhưng mình nhớ là thầy đã có dạy qua lớp Đệ Thất (1964-1965) của mình một thời gian ngắn, môn Pháp văn. Hồi xưa ngay cả lúc còn ở bậc Tiểu Học, khi chưa vào bậc Trung Học, nhưng theo tin tức các anh chị đi trước, học trò thường hay nghe ngóng và bàn tán về các vị thầy cô trên bậc Trung Học,…Lúc đó mình cũng có nghe nói rất nhiều về thầy Nguyễn Lê Hùng….Mấy anh chị thường ca ngợi thầy là một người rất thanh nhả, thanh nhả từ dáng người của thầy, qua đến tiếng nói, lời giảng bài trong lớp.., Thật sự là như vậy, các bạn có biết là ngày xưa, ở tuổi học trò nhỏ bé của chúng mình, mình thường nhìn lên phía thầy cô như là một nhân vật cao cả, tuy hơi có vẻ xa cách bên ngoài nhưng về mặt tình cảm thì lại rất gần…Phong cách của quý thầy cô thời xưa rất là sang trọng, đẹp đẻ, có một cái vẻ gì đó cao cả, thanh tao, quý phái, không bao giờ có một nét tầm thường hay trần tục trong đó,…Học trò luôn ái mộ thầy cô, lúc nào cũng ngắm nghía với một vẻ khâm phục, chiêm ngưởng và trân trọng đối với thầy cô…Trong giờ dạy trong lớp học, mỗi khi thầy hoặc cô đến gần học trò, người học trò cảm thấy hơi bị xao động, bối rối nhưng đồng thời cũng cảm và ngửi được cái mùi thơm tho của y phục và con người thầy cô thoát ra. Mình còn nhớ trong giờ học, vì mình thường hay ngồi đầu bàn, mỗi khi thầy cô đến gần nhìn vào bài làm của mình, mình thường hay bị dao động và cảm nhận được mùi hương thơm của thầy cô thoát ra…. Mình còn nhớ cô Nguyễn Minh Nguyệt dạy Pháp văn trong những năm về sau, cô rất thích và chú ý nhiều đến mình (có lẻ vì là học trò « ngoan »…!!), cô thường đến đứng gần chổ mình ngồi để xem mình làm bài, cô đứng sát đến nổi mình cảm thấy thân hình cô chạm nhẹ vào cánh tay của mình,…lúc đó mình không dám động đậy gì cả, chỉ yên lặng gần như nín thở và làm ra vẻ suy nghĩ để làm bài và ……!!

Mình còn nhớ giờ học Pháp văn với thầy Nguyễn Lê Hùng, hôm đó thầy dạy bài « À l’école », đó là một bài học về môn « Etude de texte »…Bắt đầu giờ giảng, thầy đọc to tiếng… » A….a…a…a..lê….lê…lê….coo…..coo..lơ…..lơ….lơ….!! »  Cũng có bạn cười lên và nói rì rào thầy « điệu » quá…Mà thật sự là như vậy, « điệu » ở đây không phải là cầu kỳ, quái dị, nhưng từ « điệu » ở đây chỉ một nét gì đó không phải là bình thường, không phải là nhạt nhẻo mà chỉ một cá tính cao sang, quý phái trong cách nói, cách phát âm của thầy…Ngay cả trong lúc đi đường thời đó, mình còn nhớ, mỗi khi trời mưa lất phất không lớn lắm, thầy cũng chậm rải đi, tay cầm cây dù đen che mưa như người Tây phương,..khiến học trò từ xa nhìn thầy đi tới với một ánh mắt rất là ái mộ…

Mấy tháng trước đây, nhân có một bài mình vừa tìm ra được trên mạng với tựa đề « Ký Ức Về Chùa Tam Bảo Hà Tiên » do một cây bút ký tên là MINH CƯỜNG, đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo » số 144&145 (2014), trong bài viết có nói về đời sống và tâm tình của một người thầy từng dạy học ở Hà Tiên những năm xưa…mình rất ngạc nhiên và đã giới thiệu bài viết đó trên trang nhà fb. Sau đó thầy cô và các bạn có bàn luận và nhận ra là bài viết đó là do thầy Nguyễn Lê Hùng viết ra (kết luận theo các chi tiết chính xác có trong bài), lại có bạn cho tin là hình như thầy đã qua đời nhiều năm nay ở Sài Gòn…Thật là vừa vui vừa lại buồn tiếc cho người thầy xưa vừa mới gặp lại dù là gặp trên tin tức mạng ảo mà lại biết là thầy đã ra …..

Bạn Trương Thanh Hùng có cho biết thầy có gởi một bài văn cho Hùng và may mắn thay ngày nay bạn Hùng vẫn còn giữ bản văn của thầy viết, mình xin được bản văn nầy do Hùng gởi đến,…(xin cảm ơn Hùng rất nhiều nhé..) Thầy cô và các bạn thân mến, đọc xong bài văn rất dài và rất nhiều đề tài do thầy viết, mình thấy công ơn và tình cảm của thầy đối với học trò, trường lớp, chùa Tam Bảo và đất Hà Tiên chúng ta thật là to lớn…Thầy vẫn không quên những anh chị học trò giỏi ưu tú thời thầy dạy, thầy nhắc tên từng người: Lắc, Nhung , Nga, Cheo, Xuân, và đặc biệt là thầy có nhắc nhiều đến người học trò nam mang tên Phù Thọ Phương, biệt hiệu Tùng Phương, không ai xa lạ đó chính là anh Tùng Phương (anh của bạn Phù Ngọc Anh học chung lớp với mình)…Thầy rất khen anh Tùng Phương, nào là đẹp trai, hào hoa, ca hay, đàn giỏi,…và thầy lại tiếc thương cho người học trò thân yêu đó đã không còn trên cỏi đời nầy nữa !!!

Trong bài văn của thầy viết, thầy đề cặp tới đủ tất cả các chủ đề, về Hà Tiên, về chùa Tam Bảo, về lịch sữ Hà Tiên nói riêng, Việt Nam nói chung, có cả thơ ca trong đó,…Vì thầy là thầy dạy Pháp văn nên thầy không kiềm được thú chiêm những từ tiếng Pháp vào trong bài viết, thậm chí thầy còn trích thơ tiếng Pháp vào bài, tất cả các gia vị nầy biến bài văn của thầy viết thành một món ăn tinh thần rất hay, bổ ích và nhất là một niềm cảm kích thấm sâu vào lòng chúng ta khi đọc qua những hàng chữ thầy viết,..Bài của thầy viết rất là cảm động, càng đọc càng thấy nhớ thương thầy, nhớ một người thầy có tài hiểu biết sâu rộng và lại buồn cho sự ra đi của thầy quá đột ngột…Theo phần cuối bài viết, thầy có nói đến tập hồi ký « Bóng Ngày Qua » một hồi ký về ký ức dạy học ở Hà Tiên gồm 25 bài, tiếc là chúng ta không biết làm sao để tìm ra được tập hồi ký nầy …

Mình chỉ có một ý duy nhất để kết luận phần giới thiệu nầy: thầy cô và các bạn hãy đọc, đọc kỷ và đọc hết bài văn của thầy Nguyễn Lê Hùng, bài viết rất dài, rất sâu sắc, rất hay và rất bổ ích cho chúng ta, đọc để tưởng nhớ một người đồng nghiệp, một vị thầy đã trải qua một thời gian cùng chung sống với chúng ta dưới mái trường thân yêu Trung Học Hà Tiên…Cánh cửa đã mở rộng dưới đây, xin mời tất cả bước vào tâm hồn của thầy Nguyễn Lê Hùng nhé,.. »  (TVM viết lời giới thiệu 12/10/2017)

 Chân dung thầy Nguyễn Lê Hùng trongthời kỳ dạy học ở Hà Tiên 1962-1965NHỚ LẠI NHỮNG CON VẬT DỄ THƯƠNG TRONG KHUÔN VIÊN CHÙA TAM BẢO HÀ TIÊN NĂM XƯA

(Nguyễn Lê Hùng)

KÍNH DÂNG – Chơn linh: Thượng Tọa Thích Thiện Giác (nguyên Trụ trì chùa Tam Bảo Hà Tiên (1960-1974), Bà Cô Diệu Thanh Đỗ Thị Kiểng (Quản Lý chùa), Đại Đức Thích Thiện Tường (phụ tá thầy Trụ Trì) với tất cả lòng tôn kính và sự biết ơn vô hạn.

ĐẶC BIỆT TẶNG – Các em học sinh thuộc diện ưu tú trường trung học Hà Tiên năm xưa (1962-1965) với tất cả cảm tình quí mến hơn bao giờ hết: Lắc, Nhung, Nga, Cheo, Xuân…. Rất ngỡ ngàng khi nhận được điện thoại và gặp lại các em sau gần 50 năm xa cách. Cuộc hội ngộ này đối với tôi thực sự là khoảnh khắc ngàn vàng, nó giống như một giấc mơ kỳ diệu và tôi cảm thấy “như chưa hề có cuộc chia ly”. Gặp lại nhau, thầy trò chúng tôi đã có quá nhiều những niềm vui khó tả, những câu chuyện không kết thúc.  Thế nhưng, điều khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc động là nhận thấy các em lúc nào cũng thể hiện trọn vẹn tấm lòng “tôn sư trọng đạo” trước sau như một. Tôi rời Hà Tiên đã gần nửa thế kỷ và chưa có dịp trở lại viếng thăm lần nào. Ở đó, tôi có nhiều kỷ niệm êm đềm đã nhạt nhòa theo năm tháng. Cái không khí thanh bình của một thời xa vắng tưởng chừng như đã vĩnh viễn qua đi, cứ ngỡ tất cả đã chìm trong quên lãng,  nay vụt sống lại trong tôi. Do vậy, lúc viết những dòng này, tôi đang lần bước ngược chiều thời gian, trở về quá khứ với tất cả nỗi niềm thương nhớ đan xen lẫn lộn. Nó giống như một cuộn phim được phục hiện và lần lượt cho thấy những hình ảnh thấm đậm biết bao tình cảm trìu mến về một khung cảnh đầy Thơ và Mộng. Vì lẽ đó, bài viết này gần giống như một bài thơ được diễn tả bằng văn xuôi mà tôi mong muốn được hân hạnh trao tặng các em với vô vàn tình cảm quí mến nhất. Các em thân mến, khi viết những dòng này, thực sự là tôi đã về thăm lại Hà Tiên thân yêu trên những trang viết. Mong các em thấu hiểu cho lòng thành của tôi. C’est presque un poème en prose que j’ai l’honneur à dédier à mes éleves. Ce texte est bien à elles et à eux en tant qu’ il est le reflet d’ un pays merveilleux inondé de lumière et de beauté dans un cadre paradisiaque. Et mon coeur brule souvent l’envie de le revoir (hầu như đây là một bài thơ được diễn tả bằng văn xuôi mà tôi hân hạnh được để tặng các học trò của tôi. Bài văn này hoàn toàn thuộc về các em, vì nó phản ánh được một vùng đất tuyệt vời, tràn ngập đầy ánh nắng và sự mỹ lệ trong một khung cảnh thần tiên. Và lòng tôi luôn cháy bỏng một nỗi khát khao là mong muốn được trở lại thăm viếng). 

«Ai về mua lấy duyên cười,
Riêng tôi mua lại mảnh đời thơ ngây »
Trích bản nhạc “Tình hoài hương” (Phạm Duy)

          Thời gian êm đềm trôi qua, thấm thoát tôi dạy học ở Hà Tiên đã được ba tuần trăng kể từ tháng 9/1962. Thường khi tiết học cuối cùng buổi sáng (dành cho học sinh cấp 3) chấm dứt lúc 11 giờ 30 qua một hồi kẻng xôn xao và rộn rã, thầy trò chúng tôi cũng chỉ mong có thế! Tôi cùng ào ra về với các em học sinh, lòng tràn ngập một niềm vui sướng , hớn hở và hồn nhiên như các em. Tôi đi bộ thong thả đến chỗ dùng cơm tháng nơi nhà ông Ách Nhỏng. Sự ân cần đối đãi tử tế của hai ông bà đã đọng lại trong ký ức tôi nhiều ơn sâu nghĩa nặng khó quên mà tôi chưa một lần được đền đáp. Nhiều lúc, bâng khuâng nhớ lại, tôi không khỏi chạnh lòng và cảm thấy phảng phất buồn.

           Dùng cơm trưa xong, tôi lửng thửng đi bộ về chùa. Đường sá Hà Tiên tuy nhỏ bề ngang, nhưng được tráng nhựa bằng phẳng và sạch sẽ. Đi rảo bộ ngoài đường dưới ánh nắng hanh vàng ban trưa một lúc là vã mồ hôi ngay. Mặc dù trời nắng chang chang, nhưng khi bước vào bên trong cổng chùa, tôi thấy mát mẻ dễ chịu nhờ có bóng râm.

          Sau khi hít thở không khí trong lành và ngắm nhìn một hồi lâu cảnh quang bên trong chùa, tôi nghe văng vẳng đâu đây tiếng nhạc chuông gỗ treo lủng lẳng dưới cổ mấy chú bò tơ thả hoang. Đó là đàn bò 5 con đã lẻn vào bên trong sân chùa từ lúc nào không ai hay. Nghe tiếng lóc cóc phát ra từ đàn bò vang vọng lên một thứ âm thanh đơn điệu tan biến trong gió thoảng, tạo thành những nốt nhạc vui tai, tôi thấy lòng mình cũng rộn ràng và phấn khởi thế nào ấy. Lúc này, chung quanh tôi toàn là nắng và nhạc. Nhưng rồi phải xua đuổi đàn bò đi ra ngoài thôi. Không chần chờ lâu, nói là làm. Đàn bò đành bỏ lỡ bữa ăn ngon giữa chừng, đồng loạt tháo chạy ra ngoài nhanh chóng. Chúng đi luôn một mạch, không quay lại chỗ cũ, rất ngoan ngoãn.

            Len lỏi qua các thân cây Sao có dáng dấp thẳng đứng, tôi cảm nhận được mùi hương thơm thoang thoảng toát ra từ cỏ cây, hoa lá mọc chen lấn nhau dày đặc chung quanh chùa theo gió phảng phất trong không khí. Bóng mát dưới đất và ánh sáng rạng rỡ phía trên nền trời xanh tương phản nhau tạo thành một ranh giới rõ nét, tách biệt hẳn trên cao và dưới thấp trông rất lạ mắt.

             Vẫn con đường quen thuộc hằng ngày từ cổng dẫn vào chùa mà hai bên lề đường có trồng hai hàng cây Cau ngay hàng thẳng lối, tôi đi chậm rãi vào bên trong, hướng tới hành lang nhà khách, bổng nhiên tôi thấy toàn cảnh mặt tiền ngôi chùa giờ đây hiện lên một màu trắng toát và sáng ngời dưới bầu trời rạng rỡ ánh nắng vào một buổi trưa yên tĩnh. Tôi lóa mắt bởi cảnh tượng kỳ diệu này.

              Đi tới vài bước nữa, bất chợt tôi nghe một tiếng Frrrựt khô khan làm tôi giật mình. Thì ra, một đàn bồ câu khoảng chục con đang say mê mổ liên hồi những hạt cỏ rơi vãi trên mặt đất. Thấy tôi đi tới, chúng đồng loạt bay vụt lên nhanh để lại dưới đất một đám bụi mờ. Chúng đậu trên mái ngói của chánh điện, đầu gục gật liên hồi. Những con chim bồ câu này không biết từ đâu bay đến đây trú ngụ. Chúng làm tổ trong các lỗ trống dưới mái ngói lâu lắm thì phải. Tôi thầm nhũ:  «này các bạn bồ câu thân mến! các bạn có đầy đủ lầu son gác tía mà gia chủ đã hiến tặng các bạn với tất cả tình cảm thắm thiết, không thiếu một thứ gì: nào là lúa thóc đầy máng ăn, bồn tắm sang trọng, kiếng soi mặt sáng sủa và lộng lẫy…tại sao các bạn nỡ dứt áo ra đi một cách phủ phàng và lạnh lùng đến nổi không kịp từ giả ai cả (tôi đoán thế) để tìm đến một chỗ nương náu  trong cảnh «chùa rách Phật vàng» nghèo nàn và thanh vắng như thế này. Còn tôi lúc này đây, có khác gì các bạn đâu! Tôi cũng có nỗi niềm riêng tư khó nói nên lời khiến tôi đã rời bỏ chốn phồn hoa đô hội ồn ào náo nhiệt không chút luyến tiếc. Mặc dù ở nơi đô thị có nhiều ánh đèn màu rực rỡ lúc về đêm và sực nức mùi hương phấn đầy quyến rũ, thế nhưng lòng tôi thật khó vui khi mà trên mỗi bước đi dạo, tôi thường chạm phải những điều khổ tâm phơi bày ra trước mắt. Nhìn những cảnh tượng như thế, có nhiều khi tâm hồn tôi bỗng thấy nặng trĩu một nỗi sầu vô cớ, một nỗi sầu muộn  không hiểu vì đâu. Vẫn biết, lòng mình không ai oán, nhưng sao tôi cảm thấy man mác buồn, một nỗi buồn mênh mông xa lạ. Trước đây, tôi thường đi dạo trong  lòng thành phố đông người, đi dưới một bầu trời nắng ấm, đếm từng bước đi trên vỉa hè khô ráo và tôi lấy làm thích thú vô cùng. Nay, tôi thấy cô đơn và khắc khoải một cách kỳ lạ, đôi lúc day dứt khó tả khi va chạm với thực tế phủ phàng. Do vậy, tôi đã phải tạm lánh về đây, lấy cửa chùa làm nơi nương tựa trong một giai đoạn mà ở ngoài kia đang mịt mù khói lửa chiến tranh, đồng thời mong muốn quên đi tất cả nỗi chán chường để được đắm chìm trong  những giây phút suy tư và thả hồn vào cõi mộng mơ. Đây là khoảnh khắc mà cơ hồ như tôi không còn biết đến thời gian là gì. Ở đây, tôi tìm ra được cho mình một tâm thức an lạc. Ỏ đây, tôi thấy mình thực sự an tịnh với chính mình và thế giới chung quanh. Cũng giống như các bạn, tôi thích cảnh sống thanh bần, ưa cuộc sống tự do hơn là gò bó trong lầu son gác tía. Chúng ta có đồng cảnh ngộ như nhau, nên đồng cảm với nhau dễ dàng. Bây giờ chúng ta thực sự là những kẻ thân quen. Không rõ các bạn thế nào, chứ riêng tôi, tôi rất hạnh phúc khi được sống trên mảnh đất hiền hòa, hiếu khách và nhìn thấy khắp nơi, đâu đâu cũng tràn ngập toàn ánh nắng tươi sáng rực rỡ, nắng ở nơi này nó giống như một thứ ánh sáng thanh khiết và kỳ ảo. Ở đây, trong cái đẹp của thiên nhiên còn có cái đẹp của tình người. Điều đó khiến tôi cảm thấy yêu tha thiết nơi này đến thế nào các bạn biết không! Từ lâu, tôi mong muốn tìm một góc nhỏ không gian ngào ngạt cây cỏ hoa lá và khí hậu hiền lành, vậy còn chốn nào hơn Hà Tiên! Các bạn cứ tha hồ hưởng thụ thoải mái những gì có sẵn trong thiên nhiên vô tận. Chùa chiềng là nơi trú ẩn an toàn nhất trong thời tao loạn. Còn ở ngoài kia, các bạn sẽ gặp đủ thứ rủi ro. Nhưng điều mà các bạn đáng lo ngại hơn hết, chẳng phải diều hâu, đại bàng hay chim cắt…Có một loài động vật tỏ ra cực kỳ hiếu sát: thích giết để ăn thịt, giết để mua vui, hoặc giết để mà giết chứ chả có mục đích gì cả…Đố các bạn là ai? Xin nói ngay, đó là Con Người. Ở bên phương Tây, người ta bẫy một con chim đẹp để nghiên cứu về màu sắc, tiếng hót, mùa sinh sản…rồi thả nó ra ngay, sau khi cân-đo-đong-đếm. Còn đối với người Đông phương thì họ thiết thực hơn, họ tính thử với một con chim như thế sẽ làm được mấy món “nhậu”, hủ rượu ở nhà đã vơi hay còn đầy… Hiện nay, các bạn đã tìm được một chỗ ẩn náu nơi chốn Thiền môn là điều rất may mắn cho các bạn. Không ai vào trong sân chùa hãm hại các bạn. Ở trong này, việc săn bắn để giải trí, hoặc phục vụ các trò chơi thể thao, bị coi như một Tội Ác. Các bạn biết không, thế giới này có đủ mọi thứ, nhưng cũng đầy dẫy khổ đau. Cái mà nhân loại cần là Tình Thương, vì nhân loại là một phần của cơ thể, khi nhân loại đau là cả cơ thể ta đau. Tôi thực sự mừng cho các bạn đã tìm được một chỗ trú ngụ an toàn nhất». Vừa quay mặt đi khuất, bầy bồ câu lại bay sà xuống đất. Nhìn chúng vô tư nhặt nhạnh những hạt bông cỏ li ti rơi rụng vung vãi trên mặt đất, tôi mới nghiệm ra rằng, trong các loài động vật, chỉ có con người là vất vã tìm kế sinh nhai. Hãy quan sát đàn bồ câu kia, chúng tha hồ ăn no, khi thì ở chỗ này, lúc ở chỗ khác. Chúng không cần thiết phải “ tích cốc phòng cơ” như con người  mà vẫn hưởng thụ trọn vẹn hạnh phúc trên đời.

           Sau đó,  tôi quay mặt hướng vào chùa, đi dọc theo hành lang nhà khách bọc ra phía sau hậu Liêu, chuẩn bị bước lên tâng cấp nhà hậu Tổ, chợt tôi thấy một con rùa nặng khoảng 5 kg. Nhìn hình ảnh con rùa đang trầy trật leo lên bậc thềm một cách khó nhọc, điều đó không khỏi làm cho tôi sửng sờ trong giây lát. Rong rêu bám đầy trên chiếc mai sần sùi của nó. Hai bên hông mai rùa dày cộm và cuốn cong lại, chứng tỏ con rùa có tuổi thọ rất cao. Đây là giống rùa thuộc loại nhỏ con, nó phát triển tới cỡ đó là tối đa.. Lúc tôi nhìn thấy là nó đã leo lên được vài ba bậc thềm . Quá ngạc nhiên và xúc động làm sao! Tôi định bước tới đỡ nó lên, nhưng Bà Cô nói cứ để tự nhiên, rồi nó sẽ leo lên được hết các bậc thềm và lặng lẽ bò đến nằm dưới bàn thờ Tổ, trên có di ảnh Sư Ông ( Hòa Thượng Phước Ân, Trụ Trì chùa Sắc Tứ Tam Bảo Hà Tiên từ năm 1920-1946 ). Đây là trường hợp hiếm hoi và lạ lùng nhất mà tôi mới thấy lần đầu.

           Bà Cô kể, con rùa này do Sư Ông phóng sinh lúc làm Trụ trì chùa Tam Bảo Hà Tiên  hồi thời còn thực dân Pháp cai trị. Tại nhà hậu Tổ, ảnh bán thân Sư Ông được lồng trong bộ khung gỗ quí và được treo một cách trang trọng trên cao của bức tường. Tuy Sư Ông viên tịch đã lâu (1946), nhưng cứ đến đến ngày giỗ là các Phật tử cao niên vẫn đến chùa thắp hương lễ bái. Bà Cô còn cho biết, cứ đúng ngày giỗ Sư Ông là nó lại lò mò về chùa mà quanh năm suốt tháng không thấy nó đâu cả. Mỗi năm khi thấy nó về chùa, Bà Cô  nhờ người ta viết dòng chữ bằng sơn đỏ “rùa phóng sinh”, viết lại theo nét chữ cũ trên mai rùa nhằm giúp nó khỏi lọt vào nằm thảm thương  trong các quán nhậu bình dân.

           Qua năm sau,  đúng ngày giỗ Sư Ông, nó lại khệ nệ mang chiếc mai lưu đày nặng nề của nó về chùa, tự leo lên được các bậc thềm và lê từng bước chân chậm chạp đến nằm dưới bàn thờ Tổ. Tôi ngụ trong chùa ba năm liên tục và có dịp chứng kiến đủ ba lần rùa về chùa đúng ngày giỗ Sư Ông. Sau đó, nó âm thầm ra đi lúc nào không ai hay và đi đâu chả ai biết. Tôi cũng đã lùng sục khắp các ngõ ngách trong khuôn viên chùa mà chẳng thấy nó đâu cả.

           Tôi tự hỏi, rùa là loài động vật như các loài khác, tại sao con rùa này biết được chính xác ngày giỗ Sư Ông? Trong khi các bậc cao niên cũng có thể có người nhớ, người quên. Thật khó hiểu! Phải chăng có sự liên hệ phi-ngôn-ngữ giữa loài vật và con người bằng một trực giác siêu-tâm-thức qua nhiều giai đoạn tái sinh? Khoa học nghĩ gì về hiện tượng kỳ lạ nầy! Mặc dù con người đã đặt chân lên mặt Trăng từ nửa thế kỷ nay và chuẩn bị đưa tiếp người lên sao Kim, sao Hỏa. Tuy vậy, trong thế giới chúng ta đang sống, hiện có rất nhiều điều bí ẩn mà khoa học chưa giải thích được. Có nhiều hiện tượng siêu hình thuộc lĩnh vực tâm linh mà khoa học không bao giờ chấp nhận.

          Thực tế, trong vũ trụ bao la này, không gian là vô cùng, thời gian là vô tận, sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan là có giới hạn. Vì thế, trình độ khoa học kỹ thuật của con người ngày nay vẫn còn mờ nhạt trước nhiều bí ẩn chưa khám phá và còn rất nhiều hiện tượng siêu nhiên lạ lùng vẫn đang còn nằm ngoài kiến thức của chúng ta. Không gian của các loài động vật cấp thấp chỉ có hai chiều. Muốn đi từ điểm A đến điểm B, con chim hoặc con kiến chỉ biết đi đường thẳng. Ở loài người, họ nắm bắt được không gian 3 chiều, nên đã thực hiện được nhiều công trình tưởng chừng như siêu đẳng. Thế nhưng, nếu ta nhìn vũ trụ như mục tiêu khách quan nổi lên toàn những hiện tượng vật lý, ta chẳng hiểu gì hết. Bởi lẽ, tất cả những bí ẩn đều nằm trong chiều thứ 4 có vẻ như huyền bí mà khoa học thực nghiệm luôn phủ nhận. Bốn ngàn năm trước, Ai Cập vẫn còn trong thời kỳ xã hội nô lệ, năng lực sản xuất hoàn toàn mang tính thủ công. Vậy, họ đã áp dụng kỹ thuật gì để đưa hai triệu sáu trăm ngàn (2.600.000) khối đá (mỗi khối nặng từ 3 đến 8 tấn) được gọt đẽo vuông vức, bằng phẳng lên cao 145 thước và xây dựng nên Kim Tự Tháp Échop lớn nhất trong sa mạc mênh mông, không có lấy một quả núi đá nào. Đá ở đâu đem đến đây, đem đến bằng cách nào. Người xưa xây dựng Kim Tự Tháp hoàn toàn bằng thủ công và thật khó mà hoàn thành một công trình vĩ đại như thế đã tồn tại 4.000 năm. Phải chăng, các kiến trúc sư cổ xưa của Ai Cập đã nắm bắt được chiều thứ 4 của không gian! Trình độ khoa học kỷ thuật ngày nay vẫn còn lắm thắc mắc. Đúng hơn, đây là bài toán khó giải đáp đối với giới khoa học hiện đại. Chính, nhà bác học Albert Einstein, cha đẻ ra bom hạt nhân cũng đã thừa nhận “những gì chúng ta biết chỉ là một giọt nước, những gì chúng ta chưa biết thì mênh mông như đại dương”.

          Chùa Tam Bảo Hà Tiên tọa lạc trên một vị trí thuận lợi cả về quy mô lẫn cảnh quang kỳ vĩ nhất miền Tây Nam Bộ. Đáng kể hơn hết là những bức tường xưa cổ kính được xây dựng bằng mủ cây ô dước, vôi và mật đường,  nhưng nó đã hiện hữu ngót 300 năm nay. Đây là biểu tượng hào hùng của một thời Cảng Khẩu Phương Thành rất hưng thịnh. Những bức tường thành cổ xưa này đã từng làm phên giậu che chắn và cũng là công sự bảo vệ chính quyền đia phương tại một miền đất biên cương  xa xôi của Tổ quốc thân yêu và giàu đẹp từ hồi thế kỷ 17, nay hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Ngoài ra, chung quanh chùa còn có một thảm thực vật dày đặc toàn màu xanh tươi mượt mà. Thêm vào đó, chùa được điểm xuyết qua vài nét chấm phá đơn sơ của một bức tranh thủy mặc siêu thoát với những ao hồ thiên nhiên, trong đó nổi lên những cánh bèo lung linh theo làn gió thoảng nhẹ. Đúng là phong cảnh đượm vẻ sơn thanh thủy tú hữu tình,  đứng nhìn từ xa, ta thấy mỗi tán cây là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Đây cũng là nơi hội tụ đông đảo của các loài chim muông từ khắp các nơi bay về đậu rãi rác trên những cành cây rậm lá lúc bình minh vừa ló dạng. Chúng cất tiếng hót líu lo, rộn ràng và bay chuyền  nhảy nhót lăng xăng dưới ánh nắng mai rực rỡ.Tất cả cảnh vật thơ mộng  và xinh đẹp đó đã làm cho không gian bên trong khuôn viên chùa Tam Bảo Hà Tiên có đủ 4 mùa chỉ trong một ngày đêm.Ta hãy xem đây:

           – Nằm nghĩ nơi nhà hậu Tổ khoảng nửa đêm về sáng, tôi đã phải thức giấc  vì cảm thấy cái lạnh đâu đó chợt đến thình lình, khiến tôi phải kéo chăn lên tận cằm, tưởng không có gì thích thú cho bằng. Cái cảm giác lạnh lẽo như thế này làm cho người ta cứ tưởng như đang ở giữa mùa Đông rét mướt.

            – Lúc sáng sớm, mặt trời vừa ló dạng phía Đông Hồ và trải dài ánh nắng ấm áp lên nóc chánh điện chùa Tam Bảo, cũng là lúc mà muôn ngàn tia sáng lấp lánh xuyên qua các cành cây kẽ lá còn ướt đẫm sương đêm. Đó đây, khắp nơi chung quanh chùa, tiếng chim họp đàn cất tiếng hót líu lo, ríu rít vang rền như một ngày hội, nghe rất vui tai, báo hiệu một buổi sáng tươi đẹp bắt đầu. Vạn vật giao hòa trong bầu không khí ấm áp. Tôi chuẩn bị đi đến trường, lòng nghe rạo rực và phấn khởi kỳ lạ. Bước xuống thềm từ nhà hậu Tổ, nhìn ánh nắng ban mai chói lọi sáng rực trên hòn non bộ và tràn ngập khắp sân chùa, lòng tôi cũng thấy phấn khởi trước cảnh tượng thiên nhiên  sáng sủa và lộng lẫy mang dáng dấp của mùa Xuân. Tôi đi bộ ra khỏi chùa với một cảm giác lâng lâng thơ thới là được đi dưới một bầu trời nắng đẹp và được hít thở không khí trong lành. Ánh nắng huy hoàng êm dịu của một buổi sáng đẹp trời đổ xuống, tràn ngập trên các lối đi tạo thành những tia sáng long lanh rực rỡ làm tôi cảm thấy dễ chịu khác thường. Đặc biệt, khi đất trời trở sang Xuân và trong những tháng đầu năm, nhất là sau Tết Nguyên Tiêu (15/1 âm lịch) là có một loài chim ở đâu trên núi bay về đậu  trên mấy nhánh cây Sao trong sân chùa. Nó cất tiếng hót  trong trẻo, lãnh lót và kéo dài từng tiếng nghe rất lạ tai. Tiếng hót của nó khác hẳn với các loài chim thường khi rất xôn xao, ríu rít. Âm giai của tiếng hót chia thành hai nhịp. Nhịp đầu phát ra mạnh hơn gồm ba nốt có vẻ thong thả, vang dội ra xa, nghe rất ảo nảo: Tút…Tút…Tút. Nhịp hai nhẹ hơn, thốt ra nhanh gọn, dồn dập và kết thúc mau lẹ ở phần cuối cùng: tút,tút,tút,tút,tút. Có người thích bông đùa và họ đã thử giải mã âm thanh tiếng hót của nó thành những từ rời rạc như sau: “Père…Mère…Frères…tout est perdu”  (Cha…Mẹ…Anh-Em…tất cả đều mất! ) rồi đặt cho nó cái tên ngộ nghĩnh: “chim mồ côi”, nghe cũng có lý. Thân hình của nó nhỏ nhắn như chim Sơn ca (rossignol) và có bộ lông màu nâu sậm. Khi hót, nó nhướng cổ lên, ngoe nguẩy cái đuôi theo tiếng hót. Giọng hót của nó vang vọng ra xa, buông thỏng từng tiếng làm cho người nghe lắm lúc phải thót cả ruột gan. Loài chim này chỉ xuất hiện vào những tháng mùa Xuân, đến khi trời đổ một vài cơn mưa đầu mùa là nó biến đi đâu mất, mãi cho đến mùa xuân năm sau mới thấy nó xuất hiện trở lại. Thoạt tiên,  nghe lại tiếng hót của nó, tôi mới cảm nhận được là một năm trôi qua nhanh quá, chứ ở đây đời sống êm ả, thanh bình nên cũng khó mà lắng đọng trong tâm não về khái niệm thế nào là thời gian. Có thể hiểu là ở đây, thời gian hầu như không có bến đỗ, nó cứ trôi lơ lững như “con thuyền không bến”.

           – Buổi trưa tan học, dùng cơm xong, tôi đi bộ về chùa trên một quãng đường ngắn là cảm thấy nóng bức, đúng lúc mặt trời đứng bóng. Trên mặt sàn xi măng và trên nóc mái tôn nhà khách, cái nắng hừng hực bốc lên nền trời xanh thăm thẳm và trong vắt không chút gợn mây. Khắp nơi tràn ngập ánh nắng gay gắt. Cảnh vật đượm vẻ tiêu sơ, hoang vắng từ trong ra ngoài. Mặt trời từ trên cao chiếu ánh nắng oi ả xuống nền đất khô khan. Không một làn gió nhẹ, cây cối đứng lặng yên, thời gian như ngưng đọng hẳn, mọi vật chìm đắm trong một không gian hoàn toàn tĩnh lặng. Tất cả chim chóc, côn trùng đều im hơi lặng tiếng. Đây là buổi trưa Hè đúng nghĩa của nó.

           – Đến khoảng 5 giờ chiều, thời tiết bắt đầu dịu lại và trở nên mát mẻ như mùa Thu. Mặt trời ngã về Tây làm đổ bóng toàn thể ngôi chùa về phía đối diện. Lá cây rung động dưới làn gió nhẹ. Tôi háo hức khoát vào người  bộ cánh tươm tất cho đúng phong cách một thầy giáo rồi hí ha hí hửng bước xuống bậc thềm sau nhà hậu Tổ và bắt đầu tung tăng đi ra khỏi chùa, lòng tràn ngập một niềm vui khó tả.

              Tôi có thói quen là thích đi dạo một mình. Nhờ khí hậu mát mẻ, tôi bắt dầu đi dạo và đi dạo…trên những con đường rất thân thuộc đối với tôi lúc bấy giờ. Tôi cứ đi lòng vòng một cách thong thả, hết con đường này đến con đường khác mà hồi đó còn thưa vắng người. Tôi nhớ mình đã bước hoài, bước mãi qua các con đường lớn, nhỏ để tận hưỏng và đắm chìm trong sự yên tĩnh, vắng lặng khác thường. Những con đường nhỏ hẹp, ngắn gọn này đã trở nên thân quen một cách kỳ lạ và nó đã đọng lại trong ký ức tôi biết bao là tình cảm quyến luyến khác thường. Tôi đi như trôi trong cảm xúc với nhiều cung bậc khác nhau khó tả (ngày nay, truy cập trên mạng Internet, nhìn thấy kiến trúc hiện đại thời mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài đã xóa nhòa những nét đẹp cổ kính của phố cũ nhà xưa từng tạo nên một khuôn mặt cá biệt cho Hà Tiên thế kỷ trước. Nhưng đây lại là điều đáng mừng, mừng vì Hà Tiên bây giờ thay đổi lớn quá, trù phú hơn xưa rất nhiều. Có  mấy người học trò cũ nói đùa với tôi là nếu Thầy về Hà Tiên bây giờ, coi chừng đi lạc đường ! ).  

               Lúc này, thời gian có vẻ dồn dập, chân trời rực lên một dãy màu cam pha lẫn sắc tím, rồi cứ chuyển đổi gam màu từng phút… Và khi mà ánh nắng của bầu trời về chiều càng lúc càng yếu dần, vạn vật đang lặng lẽ chìm đắm trong ánh sáng mờ nhạt cuối ngày, đó đây hiện lên những sắc màu huyền ảo giữa cảnh tranh tối, tranh sáng, lòng tôi không khỏi vương vấn một nỗi buồn mênh mông xa lạ của kẻ độc hành đi giữa phố xá quạnh hiu. Đúng hơn là một kẻ lữ thứ mang nặng nỗi niềm cô đơn giá lạnh trong giây phút ngắn ngủi trước hình bóng của một ngày sắp tàn lụi.

                Trời đã tắt nắng hẳn, bước đi của tôi chậm lại. Trên đường về, tôi đưa mắt ra xa, ngắm nhìn bóng tối dịu dàng từ trên cao buông xuống mỗi lúc một dày đặc…Và khi mà bức màn đêm đã phủ kín khắp không gian thì những tinh tú lấp lánh hiện ra rải rác trên nền trời cao thăm thẳm mỗi lúc một rõ dần. Một cảm giác hoang vu, huyền bí và mơ hồ đả theo tôi mãi trên từng chặn đường. Phố xá đã lên đèn, tôi nghe từ xa, trên sóng phát thanh địa phương, vọng lại một giọng ca trầm lắng, nhẹ nhàng, nó quyến rũ tôi một các kỳ lạ, tôi dừng lại để thả hồn chơi vơi theo giai điệu slow rock du dương của bài hát với tất cả nỗi nhớ  nhung dâng sầu. Lời ca buồn da diết, uyển chuyển, thanh thoát, mang thêm niềm day dứt, xót thương, hòa quyện lẫn nhau, ca từ có những đoạn như sau: «Chiều đi lặng lẽ màn đêm dần trôi…Bâng khuâng vì gió đông đến tim côi…Ngã mình nghe lá khô nhẹ rơi…Thấy lòng bớt cô đơn…giữa ánh đèn kinh đô sáng soi»… Ôi, lời ca nghe sao mà thấm thía đến tận cõi lòng, nó phù hợp với hoàn cảnh và tâm hồn rã rời của một kẻ độc hành cô đơn đang âm thầm đếm từng bước đi lẽ loi trong sự tĩnh lặng của màn đêm kỳ bí (đây là bản nhạc Kiếp Tha Hương , nhạc sĩ Lam Phương sáng tác qua giọng ca của Phù Thọ Phương, biệt hiệu Tùng Phương trên sóng phát thanh Hà Tiên. Phương là học sinh lớp đệ Nhị năm 1962 chuẩn bị thi Tú Tài phần 1. Nhờ có giọng ca thiên phú, chơi đàn gui-ta xuất sắc nên thỉnh thoảng Phương còn được mời hát trong chương trình văn nghệ nơi quê nhà. Sở trường của Phương là trình bày những bản nhạc thuần túy trữ tình rất được ưa chuộng thời đó. Giọng ca của Phương đã một thời làm say mê giới trẻ Hà Tiên. Tôi còn nhớ mãi cái tính tài tử hào hoa ở Phương, luôn toát ra chất nghệ sĩ từ mái tóc, lối nói chuyện nhỏ nhẹ và nhất là dáng dấp cao ráo, khuôn mặt đẹp trai trông thật phong nhã. Sau gần 50 năm bạt tin, nay thăm hỏi lại, tôi mới biết Phương giờ đã nghìn trùng xa cách vĩnh viễn, một phút ngậm ngùi tưởng nhớ người học sinh tài hoa năm xưa ).

Bên trái trên: Học sinh, anh Tùng An (Phù THọ An) em của anh Tùng Phương (Phù Thọ Phương), bên phải dưới: Thầy: Nguyễn Lê Hùng.

           Vậy là đã trôi qua, ngày đi đêm tới với tất cả tâm trạng chán chường lẫn rạo rực. Cứ thế, ngày lại ngày hiện lên đều đặn cảnh Đông tàn, Xuân qua…rồi Thu đến…

            Tuy đã rời xa mái chùa thân yêu gần nửa thế kỷ, tôi vẫn nhớ mãi con đường đất từ cổng dẫn ra sau chùa.Trên con đường mòn quen thuộc này, tôi đã bắt gặp thường xuyên nhiều con rắn mối rất dễ thương. Chúng cứ bò qua lại và làn chàn ngay trước mặt tôi, thấy rất dễ ghét! Trên đường đi, hễ lúc nào gặp chúng là tôi nổi máu nghịch ngợm như một đứa trẻ (lúc đó tôi cũng chỉ mới ngoài 20 tuổi, không trẻ con là gì!) và ra sức rượt đuổi chúng chạy tán loạn, trong lòng cảm thấy vui vui. Có một lần, trên đường về chùa, tôi rượt đuổi con rắn mối, nó chạy nhanh trên một đoạn đường ngắn rồi dừng đột ngột, quay đầu ra sau nhìn tôi trân trân khiến tôi đứng khựng lại, tay chân nổi da gà. Một lần khác, cũng trên đường về chùa, tôi cố đuổi một con rắn mối, nó đâm đầu chạy trối chết và chui nhanh vào một lỗ trống dưới chân nền chùa, tưởng đâu yên ổn như mọi khi, chợt nó dội trở ra ngay, bí quá bèn chui đại xuống đống lá khô dưới giàn trầu của Bà Cô. Thì ra, trong cái hang ổ đó đã có sẵn một con rắn mối thuộc loại “anh chị”, nó quen sống “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” và nó ngang nhiên chiếm ngụ “bất hợp pháp” các hang ổ nào tùy thích để sẵn sàng tống cổ bất cứ kẻ đồng loại nào dám bén mảng đến gần. Quá vui! Rắn mối cũng là cư dân hiền lành  sống trong sân chùa, tôi xem như bạn.

           Nằm lì mãi trong chùa, tôi cảm thấy thời gian như đọng lại, mặc cho ngày tháng cứ lạnh lùng trôi qua, tôi bây giờ thực sự sống như một “ẩn sĩ bất đắc dĩ”. Các bạn đồng nghiệp đến thăm nơi “ẩn cư” của tôi, không ai ở chơi lâu được, họ chợt đến rồi chợt đi vì không chịu nổi sự vắng vẻ và tĩnh lặng của cuộc sống cô liêu, u tịch.  Còn tôi, tôi thích chọn nơi này để mà nghiền ngẫm, để mà suy tư sau khi đã  rủ bỏ cát bụi của chốn đô thành xuống hai con sông Tiền, sông Hậu mỗi lần trở lại Hà Tiên và dứt khoát từ biệt cuộc sống ồn ào ở nơi thị tứ. Tại đây, tôi vô cùng sung sướng được sống trong cảnh thân tâm chay tịnh và cảm thấy một niềm phúc lạc lâng lâng thoát tục. Cũng tại đây, tôi có được một tâm thức bình an, một sự siêu thoát lạ lùng không thể diễn tả được. Cũng tại nơi này, tôi được sống gần gũi với thiên nhiên, với gió trăng và ánh nắng mặt trời chói chan tràn ngập trên khắp cỏ cây tươi đẹp. “Ẩn cư” như thế này quả thực cũng phong lưu, vì suốt ngày tôi lấy việc di dưởng tinh thần, đọc sách và dạy học làm phương châm sống.

           Lúc nhớ lại những con vật dễ thương năm xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo Hà Tiên, tôi không thể nào quên được mùa Đông cuối năm 1963. Đây là mùa đông đáng nhớ hơn hết trong những năm tháng dạy học tại Hà Tiên. Qua một trận mưa to hiếm thấy lúc nửa đêm, sáng ra nhìn mặt đất trong sân chùa chỗ nào cũng ẩm ướt. Cây cỏ, hoa lá toát lên sức sống trở lại sau những ngày hanh khô. Cảnh vật chung quanh chùa đã thay hình đổi dạng chỉ qua một đêm mưa nặng hạt và tôi cảm thấy dấu hiệu đầu tiên của mùa đông đang đến. Ngọn gió Đông-Bắc kéo về, thổi ào ạt vào cây cối chung quanh chùa, đập mạnh vào 4 cánh cửa gổ bước lên nhà hậu Tổ nghe rầm rầm. Mùa đông thực sự đã tràn về Hà Tiên. Chưa bao giờ trời trở lạnh đột ngột như thế này. Gió lạnh kéo về rít từng cơn, thổi ào ào tới tấp, xuyên qua các cành lá cây làm rách tả tơi những tàu lá chuối trông thật thê thảm. Giờ đây, có dịp xem lại mấy tấm ảnh cũ tuy đã phai màu thời gian sau gần 50 năm, tôi vẫn nhận ra được nhiều bạn đồng nghiệp chụp ảnh chung với các em học sinh trong buổi lễ ra mắt hiệu đoàn trường trung học Hà Tiên tháng 12/1963. Tất cả  mặc áo ấm đã đành, còn có những bạn quấn thêm chiếc khăn len quanh cổ trông giống như đi du lịch ở Đà Lạt, miền đất của sương mù và gió rét. Đủ biết, mùa đông năm 1963 ở Hà Tiên là quá lạnh. Lúc bấy giờ, thị xã Hà Tiên chưa có nhà cao tầng, ngoại trừ hai dãy phố lầu thấp lè tè hình thành dọc hai bên hông chợ đã xưa cũ. Ngoài ra, còn có một cái nhà lầu đúng nghĩa của nó, kiến trúc theo kiểu Tây trông rất bề thế, tọa lạc đơn độc trên một khoảnh đất cao (núi Ngũ Hổ). Hồi thời Pháp thuộc, Hà Tiên còn là đơn vị hành chính cấp tỉnh, cái nhà lầu này là dinh tỉnh trưởng, người dân địa phương gọi nó là Lầu Ba.  Năm 1962, toàn bộ nhà lầu được sử dụng làm trại gia binh (foyer du soldats) và người dân Hà Tiên vẫn còn nghe đều đặn tiếng kèn Tây trỗi lên từ đây vào lúc tờ mờ sáng và khuya trước khi đi ngủ. Tiếng kèn về đêm buông thỏng từng giai điệu rời rạc nghe buồn tê tái đến  não nùng. Nhà cửa thưa thớt như thế, cho nên không có gì cản trở ngọn gió lạnh từ phía Đông-Bắc đổ dồn về làm cho Hà Tiên lãnh đủ.

           Trời đã sáng mà tôi vẫn muốn nằm cuộn tròn trong chăn ấm. Thời tiết lạnh quá, phải can đảm lắm mới có thể tung chăn bước ra khỏi giường, chuẩn bị  đến trường. Trời vẫn còn lạnh, nhưng khi nhìn qua cánh cửa sổ hé mở, tôi thấy bên ngoài cảnh vật luôn chan hòa dưới ánh nắng ấm áp ban mai, báo hiệu một ngày mới tươi đẹp, một luồng sinh khí mới bắt đầu và trong lòng tôi cảm thấy phấn khởi biết bao.

           Bước xuống từ các bậc thềm quen thuộc hằng ngày sau nhà hậu Tổ và bắt đầu đi ra khỏi chùa, tôi thấy lạnh cóng, phải cho tay vào hai túi quần. Trước sân chùa, phía cánh trái sát đường lộ, có một cái ao hình chữ nhật. Người dân chung quanh thường đến đây gánh nước mang về nhà dùng. Hằng ngày, đi ngang qua đây, tôi thấy nước ao có một màu trong xanh, trên mặt nước có phủ một ít cánh bèo hoa sen nổi lềnh bềnh và chao đảo qua lại theo làn gió thoảng nhẹ. Màu xanh của nước và màu trắng của ánh sáng mặt trời phản chiếu làm cho mặt hồ lấp lánh muôn vàn tia sáng kỳ ảo. Cảnh vật dưới ánh nắng ban mai đẹp tựa như một bức tranh, càng đẹp biết mấy khi ngửng lên trời, bâng khuâng nhìn mây bay thiên hình vạn trạng, cứ trôi mãi vào hư không.

           Sáng hôm đó, lúc đi đến gần ao, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy một số người tụ tập trên bờ ao và nhìn xuống mặt nước, để làm gì? Trong khi bên ngoài, trời lạnh đến nổi mặt hồ bốc lên hơi nước  phảng phất qua lại giống như làn khói sương mong manh mờ đục. Hóa ra, trời lạnh làm ảnh hưởng đến hồ nước và không ai ngờ  dưới đáy hồ có những con rùa to lớn bằng cái thúng phải trồi đầu lên khỏi mặt nước và bơi qua lại dọc theo chiều dài mặt hồ. Tôi đứng lại, say mê nhìn những con rùa to lớn khác thường bơi sát mặt nước. Đây là hình ảnh kỳ lạ nhất mà tôi được thấy lần đầu tại Hà Tiên. Tôi mãi đứng nhìn cho đến khi màn sương tan dần phơi bày 4 cạnh bờ ao bằng đá đóng rêu xanh. Chân bước đi đến trường mà tâm trí tôi vẫn lảng đảng mơ màng trong sương khói về những con rùa to lớn dị thường vừa nhìn thấy.

           Tan học, dùng cơm trưa xong trở về chùa, tôi liền tìm Bà Cô để thưa hỏi về chuyện những con rùa trước ao. Bà Cô biết rất rõ nguồn gốc của những con rùa này từ lúc Bà Cô còn trẻ. Đã mấy chục năm qua, những con rùa này vẫn không thay đổi kích thước,  chúng nặng khoảng 40kg/con. Những con rùa này chả khác mấy với rùa ở hồ Hoàn Kiếm hoặc trên đảo Galapagos (Nam Mỹ) mà ta thường thấy trên TiVi. Rùa ở Hà Tiên có cùng một giống với rùa ở hồ Hoàn Kiếm, nó thuộc loại rùa nước . Rùa trên đảo Galapagos  là rùa đất. Chúng khác nhau ở chỗ rùa nước có hình dáng dẹp hơn để dễ bơi và dễ lạn lách trong nước. Rùa đất đi bằng 4 chân, nó có chiếc mai tròn, gọn và cao hơn rùa nước . Những con rùa này có tuổi thọ lên đến cả trăm năm, thậm chí vài trăm năm là chuyện bình thường. Tôi còn dạy học ở Hà Tiên thêm 2 năm nữa, nhưng không thấy những con rùa này xuất hiện. Bà Cô cho biết, chúng thường xuyên di chuyển qua lại trong các ao hồ chạy dài lên tận Ao Sen dưới chân núi Bình San. Chúng di chuyển lặng lẽ ban đêm, không ai thấy. Chùa Tam Bảo Hà Tiên lúc đó (1964) rất thanh vắng do đường bộ lưu thông thường xuyên bị gián đoạn và cũng do hoàn cảnh chiến tranh, kinh tế địa phương khó phát trển và khách hành hương vì thế mà cũng ít vãng lai tới chùa. Trong chùa lúc đó chỉ có ba vị thường trú : Thầy Trụ Trì nghỉ dưới Hậu Liêu, Bà Cô ở trong một cái phòng nhỏ cạnh nhà bếp, Thầy Thiện Tường (Thầy mù) nghỉ tại nhà hậu Tổ, về sau (1962) có thêm tôi cũng ở tại nhà hậu Tổ là bốn người tất cả. Thường, khóa lễ chiều kết thúc khoảng 5giờ, Bà Cô vẫn mặc chiếc áo tràng màu lam, xuống ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ đặt nơi hành lang nhà Khách và tiếp tục lần chuỗi hạt niệm Phật. Tôi hay lân la đến ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh chân Bà Cô và ân cần thưa hỏi về những chuyện có liên quan tới Hà Tiên năm xưa. Đặc biệt, những chuyện linh hiển của Bà Cố Năm Hà Tiên, tôi nghe cũng đã nhiều, nhưng có một chuyện linh diệu mà tôi chỉ được nghe Bà Cô kể lại, ngoài ra chưa từng nghe ai nói đến bao giờ, có lẽ do tôi ít giao du cũng nên. Tôi chưa dám đánh giá câu chuyện đó thực, hư thế nào, chỉ cần nhớ lại thái độ nghiêm chỉnh cộng với ánh mắt trung hậu của một nhà tu hành chân chính lâu năm như Bà Cô đang nhìn vào tôi lúc kể chuyện, vì năm đó Bà Cô cũng đã gần 80 tuổi. Bà Cô còn nói thêm một câu mà tôi cứ nhớ mãi cho tới bây giờ hầu như nguyên văn « đây là chuyện linh thiêng mầu nhiệm của Bà Cố Năm Hà Tiên mà Bà Cô đã tận mắt chứng kiến lúc còn con gái từng đi theo ghe thương hồ để buôn bán trái cây dọc các bến, chớ không nghe ai kể lại ». Đã gần 50 năm trôi qua, chuyện kể của Bà Cô luôn đọng mãi trong ký ức tôi và tôi tin rằng chuyện kể đó đáng được «tin cậy». Những chuyện linh thiêng hiển hiện ra như thế này, ta cứ xem như «truyền thuyết dân gian» mà ở địa phương nào cũng có, nó càng làm phong phú thêm những nét sinh hoạt văn hóa tâm linh của mỗi vùng và dù muốn hay không, nó vẫn in sâu vào tâm thức của nhiều thế hệ tiền bố, nên đáng được trân trọng bảo tồn (đầu năm 2012, tôi có nhờ cô học trò cũ chuyển chút ít phần công đức gởi tới ban vận động kinh phí mở rộng khu lăng mộ Bà Cố Năm Hà Tiên từ lâu đã được Bộ Văn Hóa-Thông Tin công nhận là Di Tích Lịch Sử. Tôi thấy, đây là việc cần làm, vì lúc còn dạy học ở Hà Tiên năm 1962, tôi thấy khu vực này quá vắng vẻ, cây cỏ hoang dại mọc um tùm, khó mà lần ra dấu vết). Do tính hiếu kỳ, nên đã nhiều lần tôi thử đi ngược lên phía Ao Sen vào những lúc chiều tà để ngắm nhìn sen nở, thưởng thức hương thơm và hy vọng được thấy rùa trồi lên mặt nước, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì cả, ngoài một cái ao sen rộng lớn nở đầy hoa, mùi thơm dịu dàng. Ao sen chạy dài phía trước Miếu Ông Lịnh (Mạc Cửu),  tôn nghiêm và lặng lẽ. Ngồi lại một mình trên bờ ao, nhìn cảnh người người lần lượt đến ao gánh nước khi mặt trời vừa xế bóng và hoàng hôn đang trải dài trên khắp mặt hồ, tôi mới thấy được giá trị của nước tiêu dùng đối với người dân Hà Tiên từ bao đời nay . Cái ao sen này đã cung cấp nước cho toàn thị xã Hà Tiên, nhưng chỉ để rửa ráy, giặt giũ là chính. Tại Hà Tiên lúc bấy giờ nhà nào cũng có sẳn lu chậu để trữ nước mưa dùng trong việc nấu ăn. Nước sạch là thứ quý hiếm, cho nên hầu như nhà nào cũng xây thêm hồ chứa nước mưa trong sân nhà đủ dùng quanh năm. Viết dến đây, tôi chợt nhớ tới một thiên tình sử khá lâm ly khiến không ít người đã phải ngậm ngùi khi được nghe kể lại. Ở Hà Tiên, người ta thường dùng cái chậu  lớn bằng đất nung để chứa nước mưa. Thời đó có nhiều chậu được sử dụng trong chùa  Phù Dung, nơi đây khi xưa là trụ sở của Hội Thi Văn Đoàn Chiêu Anh Các.  Vào mùa nắng, người ta úp chậu lại nhằm tránh bụi bặm, rác rưởi. Đến khi trời chuyển mưa, người ta đến lật  chậu ra và phát hiện “Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp”  .Có lẻ do chán cảnh đời dâu bể, khổ sở trăm bề nơi chốn hoàng cung và cũng không muốn vương vấn  thêm mùi tục lụy nơi cõi phù trầm mộng ảo, nàng ái cơ của vị tiểu vương đã tìm đến nương nhờ cửa Phật. Càng xót xa cho số phận “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” bao nhiêu thì tôi càng kính nể vị tiểu vương bấy nhiêu, vì ông  chẳng dùng đến quyền uy của một đấng “thiên tử” để bắt ép nàng ái phi phải xuất thế. Ông quý trọng nàng, vẫn một lòng chung thủy với nàng, chịu khó cưỡi ngựa lặng lẽ tới trước cổng chùa, âm thầm đưa mắt nhìn vào bên trong sân chùa, mong tìm một hình bóng giai nhân. Thì ra, ông luôn dành cho nàng ái thiếp một góc nhỏ trong trái tim, ở nơi đó ông tôn thờ nàng. Với cương vị Tông Đức Hầu, thừa kế chức Tổng binh, oai trấn lừng lẫy cả một vùng, thế mà tình cảm của đấng quân vương này sao mà chẳng khác mấy so với tâm hồn của kẻ thứ dân bình thường đến thế! Thảo nào, ông còn được giới văn nghệ sĩ thời đó tại địa phương ưu ái tôn vinh như một thủ lĩnh khả kính của nhóm Tao Đàn Chiêu Anh Các. Thi Văn Đàn Chiêu Anh Các đã cho ra đời nhiều áng văn tuyệt tác và cũng  đã làm rạng rỡ nền văn học đất Hà Tiên một dạo, đó là điểm son trong nền văn học VN nói chung. Riêng 10 bài “Hà Tiên Thập Vịnh”có thể nói, đó là những bức tranh thủy mặc chấm phá, bút pháp tả cảnh đơn sơ cho thấy thi nhân là những họa sĩ tài ba, trong thơ có họa (thi trung hữu họa), áp dụng lối tả cảnh bằng kỹ thuật ấn tượng. Kẻ hậu sinh không biết nói gì hơn là vô cùng ngưỡng mộ cũng như tôn kính ông như một bậc minh quân chan chứa tâm hồn nghệ sĩ đầy ắp tinh thần nhân văn sâu sắc, thấm đậm tình người, ông  xứng đáng là nhà  Mạnh Thường Quân hào hiệp và trên hết,  ông còn là nhà “bảo trợ văn học nghệ thuật” (protecteur des lettres et des arts) có một không hai trong lịch sử văn học VN phía Đàng Trong hồi thế kỷ 18. Ngoài ra,  tôi cũng hết sức mến mộ tài nghệ của soạn giả Viễn Châu, vì ông đã khéo hư cấu (création imaginaire) câu chuyện tình  xảy ra tại một vùng hẻo lánh thành vỡ tuồng cải lương,  tựa đề: “Áo Cưới Trước Cổng Chùa” từng làm say mê hàng vạn khán thính giả miền Nam trong nhiều thập niên trước đây.

           Nhìn mãi không biết chán những đóa sen hồng pha lẫn sắc trắng đang ngã nghiêng  theo làn gió chiều thoảng nhẹ và mùi hương của hoa phảng phất dịu dàng trong khoảng không gian lồng lộng  cảnh trời nước bao la, bất giác tôi nhớ lại bài thơ : “Hái Sen” mà tôi đã học hồi còn lớp đệ Lục (lớp 7) chương trình Pháp. Bài thơ được chọn dịch ra Pháp văn trong chương trình học chuẩn bị thi bằng Brevet du premier cycle (bằng tốt nghiệp lớp 9). Nội dung bài thơ như sau:

Hái sen,
(gởi chị Ngọc Hoa)
Em nhớ mùa sen nở,
Em cùng chị ra ao…
Chị bảo em bưng rổ,
Chị đi trước, em sau.

Hôm sau, lúc ra chợ
Để bán rổ hoa sen.
Rằng: “chị ơi, hãy nhớ !
Mua em bánh với kèn ! “

Đến nay. Mùa sen nở
Chỉ mình em hái sen !
Và chẳng ai ra chợ
Để mua em, bánh kèn !

Bên đầm sen đã nở
Nhưng chị đã theo chồng…
Em bâng khuâng hồi nhớ
Thửa cùng chị bẻ bông…
Tác giả: Trần Văn Hai

  Thật là giản dị, tươi sáng và trong trẻo như nước từ nguồn chảy ra. Bài thơ diễn tả một thời thơ ấu đã trôi lắng vào quá khứ êm đềm xa xưa, nhưng không khỏi cho chúng ta cái cảm giác buồn thấm thía dường như vẫn còn bàng bạc đâu đây. Bài thơ đã hay, nhưng khi được Giáo Sư Pierre Darriville dạy trường Marie Curie lúc đó dịch ra Pháp văn vẫn hay không kém (4 câu cuối):

Cueillir les lotus,
………………………………….
Dans l’étang, les lotus ont fleuri,
Cependant, tu as suivi ton mari !
Et tristement, me revient le souvenir
Des fleurs qu’avec toi j’allais cueillir.

Vẫn ngồi lặng lẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp thanh nhã của hoa sen, tôi suy gẫm và nhận ra được là ở trên thế gian này có 3 thứ được xem là đẹp hơn cả: Hoa, Trăng và Mỹ nhân. Thường, hoa đẹp thì không thơm. Tìm được một đóa hoa vừa đẹp vừa thơm, có lẽ không ngoài hoa sen.  Hoa sen không sắc sảo, nhưng mặn mà; không rực rỡ, nhưng sáng sủa; không kiêu kỳ, nhưng lại có nét quý phái kiêu sa, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bất luận, chỗ nào có hoa là có bướm; có giai nhân là có tài tử, không chạy đâu sai. Cuộc đời thế mới có ý nghĩa.

            Ngoài ra, Tạo hóa cũng rất công bằng, hễ cái gì đẹp là không thủ đắc lâu dài. Có nghĩa là, vì có hoa đẹp nên người ta lo sợ gió mưa vùi dập làm tan tác cành hoa; vì có trăng sáng nên người ta ngại sẽ bị mây mờ che phủ và cũng vì có mỹ nhân nên người ta e rằng mệnh bạc như một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm nhận:

“Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.”

           Ba thứ đẹp tuyệt trần trên đây nếu được hội ngộ cùng lúc quả là khó. Chẳng hạn, dưới ánh sáng trăng huyền ảo mà được ngồi tâm sự cùng mỹ nhân bên cạnh ao sen sực nức hương thơm như thế này, chuyện tưởng chừng như chỉ có trong “hồn bướm mơ tiên”. Ở thế kỷ trước, hẹn hò một chuyện như thế này xem ra không khó lắm, vì dân số thế giới lúc đó chỉ khoảng 2 tỷ 7 người, mọi chuyện đều đơn giản. Nay, chưa quá 70 năm mà dân số toàn cầu tăng gần 7 tỷ, trong khi diện tích trái đất vẫn y nguyên. Có thể nói, Trời sinh quá nhiều Voi mà không sinh thêm Cỏ, nên phải giành ăn. Đến đây, ta đã biết nguyên nhân chiến tranh là gì. Rất đơn giản, một nước quá giàu luôn thu hút sự thèm muốn ghê gớm của các nước khác, đó là nguyên nhân của chiến tranh. Đại chiến thế giới thứ Nhất (1914-1918) và thứ Hai (1939-1945) thực chất là sự “giành ăn” giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Cũng giống như vậy, hồi thế kỷ 18, Hà Tiên là hải cảng quốc tế rất hưng thịnh và giàu có nhất nhì đông nam Á. Chính vì thế mà quân Xiêm ở cận kề bắt đầu dòm ngó một cách thèm thuồng. Những  cuộc xâm lăng đầu tiên của quân Xiêm đến từ phía Mũi Nai đều lần lượt bị đẩy lùi. Lần sau cùng là năm 1771, lần này quân Xiêm đi ra xa ngoài biển khơi nhằm tránh hỏa lực phòng ngự đặt trên mũi Pháo đài, rồi bất thần đổ bộ vào làng Thuận Yên, tràn xuống chiếm cứ đỉnh cao núi Tô Châu, tập trung  hỏa lực của súng thần công nã xuống khu dân cư, đốt cháy kho đạn, hủy hoại phố xá. Chính quyền và dân chúng chạy tán loạn theo sông Giang Thành về phía Châu Đốc. Quân Xiêm  tràn vào Hà Tiên mặc sức giết chóc, tàn phá, tha hồ cướp bóc rồi chất đầy vàng bạc, châu báu cùng đồ tế nhuyển lên trên 2 chiếc ghe lớn chuyển về nước. Cuộc  xâm lăng cướp phá tơi bời của quân Xiêm đã làm cho Hà Tiên trở thành chiến địa hoang tàn và Hà Tiên bắt đầu suy sụp không sao cứu vãn nỗi. Sứ mạng lịch sử của Hà Tiên chấm dứt kể từ đó. Tuy nhiên, số phận Hà Tiên thực sự trở nên bi đát hơn, tức là bị thu hẹp đất đai, còn lại chưa quá 1/50 như hiện nay kể từ lúc quân Pháp thôn tính phần đất Nam Kỳ để làm thuộc địa. Trong 3 tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ dưới thời phong kiến, Hà Tiên là tỉnh lớn nhất trong Nam Kỳ Lục Tỉnh. Địa danh Hà Tiên trước kia gồm 7 xã, trải rộng ra đến Phú Quốc, Cà Mau, Rạch Giá và lan qua tận Kompong Som, Ream, Kampot của vương quốc Cambot  (Royaume du Cambodge), chợ Hà Tiên hiện nay là xã thứ 7. Thực dân (dân đi kiếm ăn) Pháp sau khi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông, quay sang chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ làm đảo lộn tận gốc rể các hệ thống tổ chức đơn vị hành chính và địa giới. Hà Tiên là nơi đặt trụ sở cao nhất của tỉnh, do đó Pháp phải đánh chiếm Hà Tiên bất cứ giá nào. Tuy nhiên, nhờ có văn bản đầu hàng vô điều kiện của kinh lược sứ Phan Thanh Giản, nên quân Pháp vào tiếp thu Hà Tiên không tốn một viên đạn. Trước kia, quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên bằng con đường Mũi Nai và Thuận Yên, nay quân Pháp lấy Hà Tiên bằng con đường nào? Dưới sự chỉ huy của đại tá Galley, đội pháo thuyền gồm có pháo hạm La Flamberge do đại úy Benoit làm hạm trưởng, 1 chiếc chaloupe (ca-nô) làm nhiệm vụ trinh sát, 20 chiến thuyền lớn nhỏ chở đầy lính Pháp và lính tập. Hạm đội Pháp khởi đi từ Châu Đốc lúc 12 giờ trưa ngày 23/6/1867, vượt qua kinh Vĩnh Tế, nhắm thẳng hướng Hà Tiên, đi được ¾ đường thì bị mắc cạn. Lúc bấy giờ, con kinh này chỉ là cái mương rộng lớn được đào ở giữa bưng lầy, nối liền kinh Vĩnh Tế để thông thương với các tỉnh Hậu Giang. Đoàn tàu chiến đến Hà Tiên vào lúc 9 giờ sáng hôm sau, chậm trễ hơn kế hoạch dự trù do con kinh Vĩnh Tế khi vào đến cửa Hà Tiên có rất nhiều cồn cát, người ta phải đẩy, hoạc kéo tàu vượt qua từng chiếc một, hoặc đợi lúc nước lớn.  Khi vào đồn, quân Pháp tiếp thu sổ sách và mọi chuyện đều êm xuôi. Tiếp nhận đầu hàng xong, quân Pháp bố trí đại úy Dauvergne ở lại giữ gìn an ninh trật tự. Theo ký sự tài liệu mô tả lúc bấy giờ, cảnh trí Hà Tiên rất đẹp, nằm cao hơn mặt biển vài ba mét. Một cái đồn xơ xác (có lẽ mũi Pháo Đài), không có sự sống ở đó, đồn nằm trên mũi nhọn nhô ra biển. Ở đây, chỉ có vài họng đại bác hư hỏng. Khi nước thủy triều dâng  cao, cái đồn này nỗi lên đơn độc như một hòn đảo nhỏ. Ở cạnh đó là một làng ngư dân nghèo khổ nằm kề bên một hàng rào vuông vức lớn. Phía bên trong hàng rào là nơi cư trú của các viên thư lại (công chức) và những người chỉ huy lính tráng tùng sự tại dinh tổng đốc (không biết ở đâu). Đến mùa nắng, người ta thấy toàn là nước mặn vây quanh, không tìm đâu ra một giọt nước ngọt. Thời đó, rất khó mà tuyển dụng các viên chức người địa phương, phải nhờ bên Châu Đốc và Vĩnh Long chi viện. Chủ quyền VN coi như mất hẳn kể từ lúc Hà Tiên là tỉnh cuối cùng  rơi vào tay quân Pháp, đất nước chìm đắm trong tang thương:

“Bến nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
( Nguyễn Đình Chiểu )

          Và cụm  từ Đông Dương Thuộc Pháp (Indochine française) là niềm kiêu hãnh của kẻ  thống trị được phổ biến mãi cho tới trăm năm sau.. Lần đầu tiên, trong điều kiện hùng mạnh nhất của chế độ thực dân thời cận đại, bất chấp mọi vũ khí tối tân vô địch của kẻ đi xâm lăng, binh pháp phương Đông đã đập tan xác và chiến thắng vẻ vang binh pháp phương Tây trong một cuộc đụng độ lịch sử long trời lỡ đất tại mặt trận Điện Biên Phủ (ĐBP), kết thúc ngày 7/5/1954, làm tan rã toàn bộ hệ thống cai trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên khắp thế giới. Đúng như câu nói của nhà mưu lược quân sự vĩ đại Tôn Tử:  “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” (tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng). Nhờ khống chế được vị trí trên cao, dựa vào “thế ỷ giốc”, mạnh như “chẻ tre” (băng cao thị lực như thế phá trúc), quân kháng chiến đã dồn hết hỏa lực của các loại đại pháo hạng nặng lên trên đó, rồi đồng loạt tung hỏa lực xuống một cái “lòng chảo” nằm yên, bất động, chịu trận đến tê liệt. Toàn căn cứ điểm ĐBP bốc cháy như một biển lửa mênh mông. Thế là trận Xích Bích Hỏa Công năm xưa, đốt cháy quân Tào Tháo được tái hiện một cách sinh động chưa từng thấy. Sự sai lầm về chiến lược của bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã dẫn tới thất bại nặng nề về chiến thuật làm sụp đổ nhanh chóng toàn bộ căn cứ ĐBP. Cả thế giới lần đầu tiên đã phải sửng sốt khi nhìn thấy trên màn ảnh một đoàn tù binh Pháp gồm mười ngàn người, lôi thôi, lếch thếch, rồng rắn bước đi từng bước, cố gắng lê lết về phía trại tập trung tù binh. Thế là nổi nhục mất nước của người VN đã được rửa sạch và nếu như không có trận ĐBP thì các nước thuộc địa ở Bắc Phi, Châu Phi da đen,  Châu Mỹ La Tinh, châu Đại Dương…có lẽ còn sống mãi trong những đêm dài đen tối của chủ nghĩa thực dân cũ, ta nên khách quan công nhận điều đó.

            Lúc tôi đến đây dạy học năm 1962, Hà Tiên đã thực sự thu hẹp  trong một vùng lặng lẽ và khiêm tốn về mặt địa lý, thậm chí quá nhỏ bé, chỉ từ Hòn Chông đến biên giới Campuchia cách chợ Hà Tiên chưa tới vài ngàn mét. Toàn thị xã lúc đó cũng chỉ ước tính rộng bằng mặt nước  Đông Hồ, không hơn. Tôi rất tự hào là được dạy học cũng như sinh sống một dạo tại Hà Tiên và như đã nói ở đoạn trước, tôi  rất say mê bước đi trên những con đường cũ kỹ của một thời xa vắng với một tâm trạng tuyệt vời khó tả. Nơi đây, còn lưu lại dấu vết của các bậc tiền nhân đã đổ ra biết bao công sức để giữ gìn một cõi biên thùy xa xăm, làm phong phú thêm  lãnh thổ cho Tổ quốc. Mỗi bước đi dạo của tôi trên đường xưa lối cũ này dường như là để được hầu chuyện với anh linh của những người đã khuất bóng muôn thuở, lòng tôi luôn hướng về các bậc tiền bối mà tôi rất mực tôn kính với một sự biết ơn vô hạn. Bởi lẽ, xã thứ 7 của Hà Tiên (tức chợ Hà Tiên bây giờ) còn tồn tại cho đến hôm nay cộng thêm những địa danh như Phú Quốc, Cà Mau, Rạch Giá mà cách đây hàng ngàn năm là đất của vương quốc Phù Nam, thủy tổ của người Campuchia hiện nay là do công lao của Mạc Cửu. Ngày nay, ta phải ghi nhớ công sức của họ Mạc đã giúp người VN hoàn thành cuộc Nam Tiến và nới rộng biên cương của Tổ quốc đến tận vịnh Xiêm La  (Riêng 3 tỉnh thành ở Cao Miên là đất mà nhà vua của họ dã dâng hiến cho Mạc Cửu đã bị thiếu tướng Lagrandière, tư lệnh quân viễn chinh Pháp buộc trả lại cho Miên hoàng Norodom do ông ta đã nhanh chóng chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ngay từ đầu chiến cuộc). Việc mở mang bờ cõi này ít tốn hao xương máu hơn so với cuộc Nam Tiến đánh dẹp quân Chiêm Thành trong mấy thế kỷ trước, rất vất vã. Phải chăng, đây là “định mệnh lịch sử”(déterminisme historique) có lợi cho VN sau này. Đành rằng “cờ tới tay ai nấy phất”, nhưng nếu nó rơi vào tay người khác thì sao. Công lao của Mạc Cửu kể ra không nhỏ.

           Trở lại với những con rùa có tuổi thọ phi thường, người ta tự hỏi. tại sao rùa lại sống lâu hơn các loài động vật khác, kể cả vượt quá tuổi thọ của con người rất xa? Để biết được vấn đề xem ra khúc mắc nay, ta thử tìm hiểu qua pháp môn Yoga. Trước hết, Yoga không phải là tôn giáo như đã hiểu lầm mà là một môn khoa học vũ trụ có tác dụng đến Thân và Tâm (psychosomatique), nó khác với môn thể dục, thể thao, chỉ làm phát triển cơ thể, cơ bắp là chính. Yoga có nguồn gốc từ Ấn Độ cổ xưa và đã có lịch sử ra đời 7.000 năm trước đây.

           Trong pháp môn Yoga, các vị Tổ chú trọng hơn hết đến sự Hô Hấp. Bình thường mỗi người trong chúng ta hít thở với số nhịp 21.000 lần/ngày. Thở trên con số đó là nhanh, vì nó làm gia tăng nhịp đập của tim, đưa đến xáo trộn sự tuần hoàn của máu, làm mất quân bình Âm/Dương trong cơ thể và bệnh tật phát sinh. Sự hô hấp chậm rải, dài hơi, đều đặn và có sự kiểm soát của ý thức là bí quyết để làm tăng cường sức khỏe, chậm lão hóa và kéo dài sự sống. Ta có  thể kiểm chứng bằng những ví dụ sau: con voi thở  chậm nên sống lâu hơn loài trâu bò. Con rắn thở rất chậm nên đời sống của nó kéo dài hơn loài chó trong nhà. Ta thấy, một người sống đời sống êm đềm thọ lâu hơn người sống vội vã. Người sống hấp tấp thở sai nhịp điệu, hơi thở của họ biến đổi tùy theo hoàn cảnh, hoặc tùy theo trạng thái tâm lý tinh thần. Do vậy, họ thường xuyên chịu những sự bất cập trong cuộc sống. Người thực hành theo pháp môn Yoga không tính cuộc đời bằng số tuổi mà bằng hơi thở. Theo triết học Ấn Độ, một người chỉ có thể dành cho cuộc đời mình một số lượng hơi thở nhất định. Kẻ nào thở hối hả thì không thọ, vì kẻ đó xem như đã tiêu xài hoang phí số lượng hơi thở đã được dành sẳn cho họ.

           Bây giờ, ta thử tìm hiểu tại sao loài rùa lại có tuổi thọ cao hơn các sinh vật khác. Đây là sự thắc mắc khá lý thú mà ta có thể làm sáng tỏ những bí ẩn này bằng những lý giải hoàn toàn dựa trên căn bản khoa học. Trước hết, rùa ăn toàn thực vật (cơ thể tinh khiết), hoạt động của nó rất chậm chạp (tiết kiệm được năng lượng), lặn sâu và nín thở lâu dài (vô tình trích trữ được nhiều khí lực trong cơ thể như pháp môn Yoga chủ trương). Những yếu tố đó mặc nhiên giúp nó kéo dái sự sống theo bản năng thiên phú.

          Đừng quên rằng, trên thế gian này có rất nhiều pháp thuật «trường sinh» áp dụng cho mọi sinh vật để được sống lâu dài, sống trường thọ như loài rùa chẳng hạn. Bên Trung Quốc có tất cả 25 giống rùa nước ngọt, trong đó có một con đã sống đến 400 năm (đài SVTV 12 có giới thiệu trong một chuyên đề du lịch tháng 11/2011). Thế nhưng, sự «bất tử» là chuyện không bao giờ có thật trên cõi đời này, vì lẽ cái thể xác hữu hình hữu hoại này dù sao vẫn phải chịu chi phối bởi định luật Sinh Lão Bệnh Tử, không sinh vật nào tránh khỏi. Việc Tần Thủy Hoàng phái người đi tìm thuốc trường sinh bất tử khắp miền Đông Hải là chuyện ảo tưởng. Hoặc bên phương Tây cũng có những thuật sĩ đã khổ công bào chế một loại rượu trường sinh (elixir de la longue vie) dành cho các vua chúa là chuyện hoang đường. Thuật trường sinh không do tác động từ bên ngoài mà chính là do «nội lực tự sinh», tiêu biểu là pháp môn Yoga, Thiền, Khí công . . .

            Mới đó mà đã gần nữa thế kỷ trôi qua nhanh. Vì lý do thời cuộc, tôi đã phải rời xa  Hà Tiên và ra đi biền biệt suốt mấy mươi Thu đằng đẳng, tự vùi mình trong cát bụi kinh thành ngột ngạt, lăn lộn với sóng gió của cuộc đời trong cõi nhân sinh đầy phong ba phiền lụy mà chưa có dịp một lần trở lại viếng thăm cảnh cũ người xưa.

           Năm tháng cứ lặng lẽ trôi qua một cách hững hờ. Nay, hồi tưởng lại thời gian dạy học ở Hà Tiên, tôi thấy khắc khoải trong lòng nỗi nhớ cồn cào về một miền đất yên bình mà lúc bấy giờ được xem như: “tiểu thiên đường” hạ giới. Thêm vào đó, Hà Tiên còn được mệnh danh là “đất đẹp ngàn lời”. Bởi lẽ, nơi đây có 10 danh lam thắng cảnh ngoạn mục, thơ mộng và kiều diễm nhất miền Nam, dễ làm say mê những ai dã một lần đến đây chiêm ngưỡng đất nước này.

           Vẻ đẹp liên hệ tới con người và cảnh sắc của miền đất Hà Tiên đã được nhạc sĩ Y Vân (tác giả bài hát nổi tiếng Lòng Mẹ) ca ngợi trong một bản nhac tựa đề : “Em Gái Hà Tiên”. Ông viết nhạc phẩm này năm 1957 sau khi đã viếng thăm Hà Tiên cách đây 55 năm. Trong bài hát, ông đã khéo “nhân cách hóa” (personnifier) một địa danh thơ mộng qua hình ảnh một người «em gái Hà Tiên» rất khả ái, vừa xinh đẹp, vừa duyên dáng ở một nơi nổi tiếng có nhiều phong cảnh hữu tình dễ làm cho ta ngây ngất bàng hoàng và dã khiến cho du khách lưu luyến mãi không muốn rời xa đất nước này.. Bài hát đã diễn tả được tính nghệ thuật với nhạc điệu êm đềm, đôi lúc thì thầm. Lời ca thật tình tứ, tha thiết, bài hát vừa hay, vừa hấp dẫn,  nó còn vượt xa cả không gian và thời gian để sống mãi trong lòng  những người yêu mến Hà Tiên. Bài hát có những đoạn đã làm say đắm lòng người nghe như sau:  «Hà Tiên ơi…đất đẹp ngàn lời…sớm chiều vào cuộc đời…sống yên vui. Về quê em…xóm làng dịu hiền…bổng giờ đẹp một miền…đất Hà Tiên. Một chiều tôi đến nơi…ngập ngừng em đón tôi…ngại ngùng tia nắng chưa chìm khuất sau chân đồi. Đừng nhìn nhau quá lâu…sợ rồi thương nhớ nhau…chỉ cần quen biết thôi, tình chớ nên tìm sâu. Dù xa em…cách biệt ngàn trùng…vẫn còn lại một niềm …nhớ Hà Tiên ».               

          Về phần tôi, tôi còn lưu giữ biết bao kỷ niệm thắm thiết khó quên tại miền đất Hà Tiên thân yêu này. Những kỷ niệm êm đẹp đó luôn ẩn giấu tận đáy lòng và lắng đọng mãi trong tâm tư tình cảm đến hôm nay vẫn không phai nhòa trong ký ức của tôi. Hà Tiên ơi ! những thước phim ký ức về người «em gái Hà Tiên» trong tâm thức tôi mãi là những hình ảnh đẹp nhất  và dù cho năm tháng có đi qua nhanh, màu sắc trong phim vẫn luôn tươi đẹp trong trái tim tôi. Ngoài ra, dù có nghìn trùng xa cách đến đâu chăng nữa, hình ảnh Hà Tiên mến yêu vẫn luôn tồn tại trong chốn thâm sâu của lòng tôi với biết bao xúc cảm thầm lặng không ngớt cuộn trào. Ôi nhớ quá! Nhưng thật khó mà tìm lại chốn Thiên Thai một khi đã lạc bước trần gian:

“Cửa động, đầu non, đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”
(Tản Đà)

           Giờ đây, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời và ngồi lặng lẽ một mình để mà có dịp hồi tưởng lại những tháng, năm của tuổi thanh xuân đã vụt trôi đi nhanh như «Bóng Ngày Qua», tôi chợt giật mình khi nghĩ tới Thời Gian. Ôi, Thời gian! Thời gian cứ âm thầm lướt tới nhẹ nhàng nhưng lúc nào cũng khẩn trương. Bước tiến của Thời gian tuy vô hình, nhưng nó không bao giờ dừng lại. Thời gian lạnh lùng giẫm đạp, tàn phá lên tất cả sự vật hữu hình và đưa đẩy mọi sinh vật sớm muộn cũng phải đặt chân đến ngưỡng cửa hư vô.

           Nghĩ lại mới thấy, trong khoảng trời đất bao la mà chúng ta đang sống, tất cả đều thoáng qua nhanh như một giấc mộng; tất cả đều lần lượt chìm vào dĩ vãng không để lại dấu vết gì; tất cả đều là cảnh tượng phù du đến kinh ngạc, xét ra chẳng khác nào như sự việc đầu hôm, sớm mai vậy.. Đúng là “phù sinh trong một giấc chiêm bao” (thơ Mạc Thiên Tích), hoặc như thi hào Tô Đông Pha đã cảm tác: “Đời trôi qua như giấc mộng Xuân, không lưu lại một dấu vết nào cả” (sự như Xuân mộng liễu vô ngấn).

          Và hôm nay, có ai còn nhớ những con vật dễ thương từng “vang bóng một thời” như đã nói trên, đặc biệt những con rùa có tuổi thọ lâu năm, những con rùa từng tiêu biểu cho những nét sinh hoạt lịch sử văn hóa lâu đời tại một miền đất Hà Tiên năm xưa, bây giờ chúng ra sao?

          Thật ra, không có gì tồn tại mãi với thời gian theo quy luật Thành Trụ Hoại Không của Tạo Hóa.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên:  từ trái qua phải,  Hàng 1 (5 Thầy Cô): Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn), Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm nhạc), Cô Lý Ngọc Mai (Nữ công), Thầy Lê Trung Hoàn (Hiệu Trưởng), Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn).

 Hàng 2 (1 thầy áo đen): Thầy Vũ Quang Vinh (Văn)

 Hàng 3 trên cao (7 Thầy): Thầy Lê Văn Triệu (Toán), Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn vật), Thầy Võ Thành Tài (Anh văn), Thầy Hồ Quang Điệp (Anh văn), Ông Nguyễn Văn Thân (Thư ký)
Chùa Tam Bảo Hà Tiên trong những năm 1960, lúc thầy Nguyễn Lê Hùng ở trọ để dạy học ở Hà Tiên

Trích: “ Bóng Ngày Qua”(Tập ký ức thời gian, có 25 bài viết về thời kỳ dạy học ở Hà Tiên).

Nguyễn Lê Hùng (Nguyên giáo sư sinh ngữ Pháp trường trung học Hà Tiên, 1962-1965. Nguyên Trưởng phòng Hồ Sơ Phim Tư Liệu, 1975-2001, Cục Điện Ảnh,  Bộ Văn Hóa-Thông Tin, nghỉ hưu).

Tái bút: 1/ Em Nguyễn Thị Điệp, một học sinh Trung Học Hà Tiên cho biết thêm về một số chi tiết về Thầy Nguyễn Lê Hùng (nhà Ba Má Điệp nấu cơm tháng cho thầy ăn): « Em chẳng biết nhiều về thầy vì không ỡ gần và thầy rất ít nói nhưng sống rất tình cảm. Mỗi khi thầy đến nhà ăn cơm không có ai trước nhà thầy không bao giờ kêu cứ ngồi đợi đến khi nào có ai ra, những lần như vậy tụi em bị má rầy và dặn đến giờ ăn nhớ chờ thầy tới là cho má hay. Lúc thầy rời Hà Tiên đổi đi nơi khác thầy có tặng cho nhà 1 tấm ảnh chụp ỡ Hòn Phụ Tử nhưng vì chiến tranh nên không giữ được lúc từ giã thầy buồn lắm em chỉ có chút kỷ niệm với thầy như vậy. »

2/ Em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh) cho biết tin như sau : Thầy Nguyễn Lê Hùng mất vào tháng 5, năm 2014 tại Sài Gòn. Thầy Hùng có một người con trai tên Huy hiện là kỷ sư tại phi trường Tân Sơn Nhất SG. (thay mặt Blog THHTX, xin cám ơn em Sáu).

3/ Chị Nguyễn Thị Nhung (phu nhân của thầy Hà Phương Linh lúc xưa thầy Linh dạy lớp Tiếp Liên trường Tiểu Học Hà Tiên) có bổ túc cho chúng ta một bức ảnh thầy cô Nguyễn Lê Hùng và quý chị học trò xưa của thầy lúc thầy dạy ở Hà Tiên, hình chujhp năm 2011 và chị Nhung có viết thông tin như sau:

« Hôm nay chị vừa đọc bài hồi ký của thầy Nguyễn Lê Hùng thật cảm động, chị gởi cho em tấm ảnh nầy là lúc chị về Việt nam năm 2011. Chị Lắc, Nga và chị đến thăm thầy tại Sài Gòn, thầy và cô rất mừng khi gặp lại ba đứa học trò ngày xưa dưới mái trường Trung Học Hà Tiên. Thầy yêu mến đất Hà Tiên cùng người Hà Tiên lắm em ơi. Lúc bấy giờ trông thầy hơi già nhiều nếp nhăn mà niềm vui không khuất lấp. Từ giả thầy ra về ba chị tay trong tay siết mạnh thương thầy quá em ơi. Hai năm sau nghe tin thầy mất vì bệnh gan, chị Lắc và Nga có đưa đám tang thầy. Thầy có gủi cho chị một tập hồi ký tiếng Việt và một bản tiếng Pháp. Trong ảnh thầy cô, Nga (đứng trên) kế là chị Nhung (chị Lắc chụp ảnh) Gủi ảnh nầy để lưu niệm ảnh người thầy đáng kính. Chúng ta không bao giờ quên. »

Trái qua phải: Thầy và cô Nguyễn Lê Hùng, chị Nguyễn Thị Nhung, người đứng phía sau: chị Nga (Chị Lý Thị Lắc chụp hình, năm 2011, hình: chị Nguyễn Thị Nhung)

 

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, KimLy, Nguyễn Thị Nhung

Giới thiệu clip: Em Gái Hà Tiên (Y Vân – Mạnh Thường)