Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang).

Đến những ngày trước và sau ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 theo một số tàu Hải Quân khác ra khơi và chạy qua Philippine, vì Philippine không thừa nhận nước Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ sau 30/04/1975 nên Hải Quân VNCH phải làm lễ bàn giao tất cả tàu chiến ngoài khơi Philippine cho Hải Quân Hoa Kỳ, đó là vào ngày 07/05/1975, sau đó các chiếc tàu nầy (trong đó có chiếc HQ 607) mới được cập vào bến Subic Bay thuộc Philippine. Về sau Hải Quân Hoa Kỳ giao tàu cho Hải Quân Philippine quản lý, một số tàu còn hoạt động được, một số tàu bị hư hại thì được tháo gở lấy đồ phụ tùng. Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

 

 

Publicités

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Thầy cô và các bạn thân mến, một khi rời xa trường lớp, ta tưởng chừng như theo dòng thời cuộc, sẽ không còn có dịp gặp gở nhau nữa…Tuy nhiên cuộc sống hằng ngày nếu có vui buồn, khó khăn, mệt nhọc cũng có lúc tạo cho chúng ta những giây phút vui thú, nhất là khi tình cờ gặp lại người quen biết trong một hoàn cảnh nào đó…Rất có nhiều câu chuyện bạn học cùng trường cùng lớp sau bao nhiêu năm xa cách, gặp lại nhau trong dù ở nước ngoài xa xôi hay gặp nhau tại quê nhà…Thầy, cô trò cũng có khi có dịp gặp lại nhau, tạo cho tình cảm thầy, cô trò thêm đậm đà, vì nếu là học sinh của bao nhiêu năm dưới một mái trường yêu dấu, người học sinh nào mà không nhớ và luyến lưu đến hình ảnh người thầy, người cô thân thương đã dạy mình những năm học ngày xưa..Câu chuyện thầy Nguyễn Hồng Ẩn dù đang sinh sống ở nước Mỹ, chị Hứa Nguyệt Quang, người học trò Hà Tiên ngày xưa, tuy cũng sinh sống ở nước ngoài (Canada..) lại cũng có một cơ duyên được gặp lại nhau…Theo thông tin của anh Trần Văn Dõng (bạn học cùng lớp với chị Hứa Nguyệt Quang), chị Hứa Nguyệt Quang lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên xưa thì chị ở trọ nhà của Hia Chiêu (căn nhà sát bên tiệm tạp hóa của Bà Ba Góp (góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên), chắc có bà con chi đó. Chị Hứa Nguyệt Quang cũng là bạn thân của chị Ngọc Lan, em của cô Nguyễn Thị Sồ. Hình như chị Hứa Nguyệt Quang là người quê ở Hòn Chông, Bình An, lên quận  Hà Tiên trọ để theo học bậc Trung Học.

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Nhà có năm đứa con, chúng bỏ lại rất nhiều hình ảnh khi ra riêng, hình rời hoặc album. Hôm qua tôi lướt xem qua thùng ảnh thì tình cờ gặp lại loạt ảnh tôi và hai con, Minh Anh và Minh Hằng, đi dự đám cưới của cô em họ tại Toronto, Canada mà tôi được mời làm chủ hôn cho cô dâu và chú rể khoảng trước năm 1990.

Trong tiệc cưới nầy tôi đã vui mừng gặp lại một người học trò cũ tại trường Trung Học Hà Tiên xưa trong khoảng 1965-1970, đó là em Hứa Nguyệt Quang. Em có kể nhiều kỷ niệm trường lớp, cuộc sống từ 1975… nhưng đến nay tôi không còn nhớ, chỉ nhớ lúc gặp em thì em đang có một tiệm làm tóc tại downtown Toronto.

Em họ tôi đến làm tóc nên biết Nguyệt Quang là học trò của tôi và Nguyệt Quang là khách trong bữa tiệc cưới.

Sau đó cho đến nay tôi không còn biết thêm tin tức của em Hứa Nguyệt Quang.

Nguyễn Hồng Ẩn (21/09/2019)

Bìa phải hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo veste), người ngồi bên trái thầy là chị Hứa Nguyệt Quang và cô con gái của chị. Bìa trái hình: Hai người con của thầy tên Minh Anh và Minh Hằng. Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Toronto, Canada, 1990

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HungCuongPC)

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

 

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa qua buổi họp Hội Đồng Hương Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, qua hình ảnh những lần gặp gỡ trong các buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên ở tiểu bang California do cô Tiền Ngọc Thanh tổ chức (điển hình là vào năm 2017…) mình thấy đó quả thật là một dịp thuận tiện để cùng một lúc gặp lại thầy cô và bạn bè rất là vui…Vì thế trong đầu óc mình nảy ra ý nghĩ là tại sao mình không tham dự một lần ngày họp Hội Đồng Hương Hà Tiên vào năm 2019 nầy đây…Quyết định xong, bàn với Ngọc Tiếng thì hai đứa đều đồng ý là mình sẽ làm một chuyến đi Mỹ tới đây để dự ngày Hội Đồng Hương Hà Tiên…Sau đó mình có thông báo cho cô Tiền Ngọc Thanh biết ý định và cô cũng rất vui khi biết tin nầy…Lúc trước Ngọc Tiếng có người anh ruột ở thành phố Anaheim (thuộc tiểu bang California) mình và Ngọc Tiếng cũng đã có nhiều lần đến thăm nhà người anh ở đây…Tuy nhiên hiện tại gia đình người anh của Ngọc Tiếng không còn ở Anaheim nữa nên mình tỏ ý với cô Thanh là chưa biết sẽ trú ngụ tại đâu khi sang đó,..cô Thanh có nhã ý đề nghị hai vợ chồng mình ở ngay nhà cô ở thành phố Duarte thuộc tiểu bang California trong thời gian qua Mỹ dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, thật là may mắn, mình và Ngọc Tiếng cám ơn sự giúp đở rất tử tế của cô Thanh…

Chuẩn bị xong xuôi, ngày lên đường đến rồi, theo lịch của Hội thì ngày họp mặt là ngày chúa nhật 09/06/2019, mình quyết định đi qua Mỹ một tuần lễ từ ngày 06/06/2019 đến ngày 12/06/2019…Trước khi đi cũng có liên lạc với cô Thanh và một số bạn bè bên đó để thông báo cho biết sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt, bạn bè ai nấy cũng đều rất vui mừng, trông ngóng cho đến ngày họp để gặp tụi mình, vì dù là đã giao tiếp với nhau rất chặc chẻ trên mạng fb nhưng đã rất lâu rồi, có hơn vài chục năm chưa hề gặp lại nhau, có người thì mình chỉ biết qua hình ảnh, tuy là cùng quê hương Hà Tiên nhưng chưa bao giờ diện kiến…Ai nấy đều rất nôn nóng được gặp lại nhau…

Chuyến bay đưa mình và Ngọc Tiếng đáp xuống phi trường Los Angeles (LAX) có trể hơn dự báo khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, theo cô Thanh thông tin, có người bạn gái cùng trường là Trang Lệ Thủy sẽ cùng với cô Thanh đón mình và Ngọc Tiếng tại phi trường…Hai đứa đẩy va li ra ngoài cửa phi trường, trông ngóng vào đám đông người đang vây chật cả lối ra để tìm người thân nhân, sao mình chưa thấy cô và bạn Lệ Thủy, đang cố bắt vào mạng wifi của phi trường trên chiếc phone di động của mình, có lúc vô được mạng wifi, có lúc lại bị đứt mạng…để đánh tin cho cô biết là mình và Ngọc Tiếng đang đứng chờ cô và Thủy trước phía cửa ra. Loay hoay một lúc sau cũng liên lạc được với nhau, cô bảo mình cứ đứng tại chỗ chờ và bạn Lệ Thủy sẽ đến tìm mình…Nhìn qua nhìn lại đám đông người thì may thay như một phép mầu, mình thấy rỏ ràng Trang Lệ Thủy đang đi nhanh đến, mặc dù là mình và Lệ Thủy đã không gặp lại nhau có hơn 50 năm rồi, nhưng không biết sao mình vẫn nhận ra ngay bạn Thủy, mình kêu to …Thủy… Thủy…Mừng quá thế là thoát nạn khỏi bơ vơ tại phi trường rộng lớn có tầm vóc quốc tế nầy…(mình nhìn ra Lệ Thủy có lẽ là tại vì dù sau bao nhiêu năm rồi nhưng Lệ Thủy vẫn còn giữ được nét trẻ trung ngày xưa nên khi thấy thì đã nhận ra ngay…).

Thế rồi cả nhóm đi lại nơi gặp cô Tiền Ngọc Thanh đang ngồi nghỉ chân nơi một băng ghế trong phi trường, đi bộ ra nơi Thủy đậu xe và sau đó lên đường, cô bạn gái ngày xưa nay đã mạnh dạn trở thành một người địa phương lái xe chạy phon phon…làm cho mình và Ngọc Tiếng rất khâm phục…Xin ghi lại nơi đây lòng cảm ơn và cảm kích sự giúp đở của cô Thanh và bạn Lệ Thủy.

Trên đường về nhà cô Thanh để ổn định nơi ở thì Lệ Thủy đề nghị ghé qua nhà Thủy thăm gia đình Thủy và cũng nghỉ ngơi uống nước…Xe đến nhà Thủy thì mình lại được có dịp biết và chào hỏi thăm sức khỏe má của Thủy. Chẵng những Lệ Thủy đón tiếp nồng nhiệt vui vẻ mà bạn còn chuẩn bị một chiếc bánh có khắc dòng chữ phía trên « Welcome Patrice & Sylvie »….Thủy thật là chu đáo và tế nhị…

Trong thời gian chuẩn bị đến ngày 09/06/2019 ngày chánh thức họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, Thủy và cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đi chơi và thăm vài người bạn học cùng trường. Lần đầu tiên được gặp lại người đẹp của Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa sau hơn 50 năm, đó là bạn Mai Thị Ngọc Minh, với phu quân là anh Tiền Hữu Lộc, anh Lộc và Ngọc Minh tiếp đón mình và Ngọc Tiếng rất chân thành, vui vẻ, nồng nhiệt tại nhà riêng cùng có mặt cô Thanh (chính là em gái của anh Lộc) và Lệ Thủy. Nói thật gặp lại các bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp mình rất xúc động, phải nói là cảm động…Mình nhận thấy Ngọc Minh ngày nay rất yêu đời, tính tình giản dị, cởi mở và rất hài hòa với mọi người…Cả nhóm cùng đi chơi ra khu phố Little Saigon, khu chợ Phước Lộc Thọ cùng chụp hình chung với nhau để ghi lại phút hội ngộ…Buổi chiều Lệ Thủy mời mọi người đến ăn chiều tại một quán ăn do người em của Thủy vừa mới mở ra, đó là quán ăn đặc biệt về các món ăn biển rất ngon…

Trong thời gian nầy mình cũng có dịp gặp vợ chồng em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh, em Sáu là em gái của bạn Huỳnh Văn Năm, Năm là bạn học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên). Em Sáu cùng với phu quân là Hoàng (người Rạch Giá) rất vui vẻ, tử tế, mời cả nhóm mình đi ăn DimSum (một loại ăn vừa điểm tâm vừa ăn trưa…) tại một nhà hàng lớn ở California, thức ăn có rất nhiều món, tha hồ mà chọn lựa…Sau đó nhân dịp họp mặt như thế, cả nhóm cùng đi đến nhà thầy cô Võ Thành Tường cũng không xa nơi đó..Đến nhà thầy cô Võ Thành Tường, đó là dịp mình gặp lại thầy Tường sau hơn 50 năm, tuy là mình không có học với thầy Tường, nhưng mình biết thầy từ lúc thầy và người em thầy là thầy Võ Thành Tài cùng ở tại căn biệt thự của Ông Bày đường Bạch Đằng Hà Tiên, xéo xéo nhà mình..Lúc đó quý thầy đang dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, thời gian nầy mình còn chưa vào bậc Trung Học, anh Trần Văn Dõng thì mới vào lớp đệ thất (khoảng năm 1964…). Trái với sự tưởng tượng của mình trước đó, thầy cô Võ Thành Tường rất cởi mở, giản dị và rất gần gủi, thầy cô tiếp chuyện với mình một cách rất vui vẻ, nhắc lại chuyện xưa ở Hà Tiên, mình có nói với thầy lời thăm hỏi của chị Dương Hồng Châu nhờ mình chuyển đến thầy, sau đó thầy còn kêu điện thoại cho thầy Võ Thành Tài (thầy Tài có dạy lớp mình môn Pháp văn lúc mình học lớp đệ thất) và thầy Tài và mình có nói chuyện với nhau qua điện thoại. Thầy Võ Thành Tài cùng gia đinh cũng đang ở Mỹ, tiểu bang California, tuy thầy rất ít liên lạc với thầy cô và học trò Hà Tiên, nhưng thầy Tài cũng còn nhớ rất nhiều thời gian thầy còn dạy học ở Hà Tiên. Điều rất thú vị là khi thầy Tường hỏi thầy Tài còn nhớ mình hay không thì thầy Tài nói còn nhớ rất rỏ, thầy nói phải hai cậu tây lai ở Hà Tiên đó không .!!! Điều nầy làm cho mình rất cảm động và rất vui vì thầy Tài vẫn còn nhớ đến hai anh em mình…

Vì lúc nào cũng mang tinh thần sưu tầm hình xưa Trung Học Hà Tiên nên mình cũng có hỏi thầy Tường còn giữ hình xưa lúc còn dạy ở Hà Tiên, thầy bảo cô lấy vài album hình xưa ra xem chung, thừa lúc như vậy mình xin phép thầy Tường chụp lại được vài bức ảnh của thầy ngày xưa. Thầy cô Võ Thành Tường có hai người con, một gái và một trai, người con trai ở với thầy cô lúc nầy tên là Tấn, em Tấn cũng rất vui vẻ góp chuyện trò rất phấn khởi trong buổi viếng thăm đó.

Thầy Võ Thành Tường đang giảng bài trên lớp trong những năm 60…

Thầy Võ Thành Tường sau khi rời khỏi Trường Trung Học Hà Tiên (sau những năm 60)

Tính sổ qua lại thì còn có hai người mình chưa được gặp trước khi ngày họp mặt diễn ra, đó là anh Lâm Hữu Dư và phu nhân là bạn Lê Mai Hoa (bạn Lê Mai Hoa là bạn học chung lớp với mình từ lúc đệ thất, và sau đó thì Mai Hoa theo gia đinh ba mẹ về Rạch Giá học). Nghe thầy Tường nói là chiều ngày hôm đó anh chị Dư và Mai Hoa sẽ đến nhà thầy Tường nghỉ để ngày hôm sau cùng đi với thầy cô dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên…Vì phải về sớm theo chương trình dự định chung nên mình chưa được gặp anh Dư và Mai Hoa ngay hôm đó, thôi thì để đến ngày họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên thì sẽ gặp chung tất cả mọi người…

Buổi tối thật là đặc biệt vì cô Tiền Ngọc Thanh có mời mình và Ngọc Tiếng cùng với Lệ Thủy đến dự buổi họp mặt toàn bộ gia đình họ Tiền, nhân dịp nầy mình mới được gặp lại anh Huỳnh Văn Quang, một người anh và láng giềng rất thân quen với gia đình mình ở Hà Tiên vì nhà anh Quang ở cách nhà mình một căn mà thôi trên đường Bạch Đằng Hà Tiên. Anh Huỳnh Văn Quang là anh của hai bạn Huỳnh Văn Bé, Huỳnh Văn Bền ngày xưa…). Qua sự gặp gỡ nầy anh Quang có giới thiệu phu nhân của anh là chị Linh, hai ông bà hiện đang quản lý một tiệm bánh chuyên sản xuất các loại bánh Trung Thu rất lớn và nổi tiếng tại thành phố Los Angeles…Trong buổi họp mặt gia đình họ Tiền, đó là dịp mừng sinh nhật của bạn Tiền Hữu Đạt, em trai của cô Thanh, trong dịp nầy mình được gặp lại Tiền Ngọc Dung, từ bên Pháp qua đây, được biết thêm hai cô em gái của Dung là Tiền Ngọc Liên và Tiền Ngọc Ánh. Mình cũng được gặp lại bạn Tiền Hữu Minh mà mình đã biết từ ngày xưa, Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng.., được gặp lại anh Tiền Hữu Phát, anh Phát học chung lớp với chị Huỳnh Thị Kim người chị bạn dì với mình, nhân dịp nầy mình cũng có chuyển lời thăm hỏi về anh Phát của chị Kim nhờ mình chuyển lại. Buổi tối họp mặt và cùng ăn mừng sinh nhật nầy rất là vui…Buổi họp mặt có đầy đủ tất cả từ anh hai chị hai Tiền Hữu Lộc và Mai Thị Ngọc Minh cho đến các người em trai gái trong gia đình họ Tiền, chỉ thiếu có em Tiền Ngọc Hương (Holly Tien), được biết em Tiền Ngọc Hương có việc riêng phải đi xa nên không đến dự được…

Rốt cuộc ngày họp mặt Hội Đồng Hương 09/06/2019 đã đến, buổi sáng đó cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đến khu vườn của thành phố Garden Grove, nơi hội chọn để làm nơi gặp gỡ người đồng hương Hà Tiên…Thật tình mà nói mình cũng rất hồi hộp…Trong lúc cô tìm chỗ đậu xe thì mình cũng đã thấy quang cảnh trong khu căn nhà rộng lớn nơi đã có rất đông người đến trước rồi…Khi đi vào căn nhà hội họp thì mình thấy từ xa bạn Mai Hoa đã nhìn ra Ngọc Tiếng (theo lời Ngọc Tiếng kể lại thì Mai Hoa nói …đây là chị Tiếng đây rồi….!!), mình cũng nhìn thấy bạn La Văn Cao từ trong chạy ra bắt tay chào mừng, gặp lại lần lượt rất nhiều người bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp, có người từng học chung ngay từ bậc Tiểu Học…

Gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Hoàng thị Minh Liên cùng phu quân là nhà điêu khắc Ngô Hoàng Minh, hai bạn Hồ Thị Kim Hoàn và phu quân là anh Xuân, Hồ Thị KIm Yến, Hồ Thị Kim Phượng, cũng gặp được em Dương Thị Phương Hà cùng phu quân Phan An, Nguyệt Đường cùng người chị là chị Tuyết, gặp được Hồ Thị Kim Nga và phu quân là anh Lâm Văn Có cũng là người Hà Tiên…Gặp chị Chín Hương và quý cô con gái Diệu Khanh, Minh Thu …Đặc biệt là nhờ có sự nhắc nhở của em Huỳnh Thị Sáu, trong chuyến họp mặt nầy mình được gặp anh Giang Văn Thân là một người anh và người thầy dạy kèm hai anh em Dõng Mãnh ngày xưa khi còn học ở bậc Tiểu Học, anh Giang Văn Thân là bạn thân của người anh bạn dì với mình là anh Lê Quang Chánh, hai người học cùng lớp thời Trung Học, anh Giang Văn Thân đến họp mặt cùng với phu nhân của anh là chị Đỗ Ngọc Điệp, người Long Xuyên và sau khi tiếp xúc nói chuyện, Ngọc Tiếng cũng có quen biết gia đình của chị Điệp thời xưa ở Long Xuyên. Nhân dịp nầy mình cũng được gặp và biết hai đàn chị trong thời Trung Học Hà Tiên, học trò của thầy Võ Thành Tường, đó là hai chị Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (chị Liềm là em của chị Lý Thị Lắc còn ở Hà Tiên hiện nay). Gặp em Lâm Mỹ Nga và người mẹ (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa). Lần đầu tiên được gặp và biết mặt vợ chồng em Lê Quang Thùy (con của thầy Lê Quang Thuyên, cháu của thầy Lê Quang Khanh), và vợ chồng bạn Hồ Anh Dũng (Dũng là con của bác Âu Tư có tiệm bánh kẹo trước nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa, Hồ Anh Dũng là một trong những người có nhiều hình ảnh xưa của phố chợ Hà Tiên, nhân dịp nầy mình cũng được hân hạnh biết phu nhân của bạn Dũng, là một người rất xinh đẹp…), cùng lúc nầy mình được quen biết vợ chồng anh Sủng, chị Phương, quý bạn nầy rất vui vẻ, nồng nhiệt và cho mình biết đều là đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »…Trong dịp nầy, qua sự giới thiệu của cô Thanh, mình biết được anh Vương Bình Thành, là anh của hai bạn Vương Bình Phước (học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên) và Vương Bình Lộc, anh Thành cũng là học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, anh đến dự buổi họp mặt với phu nhân là chị Dung, chị Dung rất vui tánh …Được biết bạn Mong Đức Kiết chính là em của Mong Đức Hưng và Mong Đức Thạnh, biết được em Tăng Thu Hiền là em của Tăng Thu Hồng (Tăng Thu Hồng là một trong những giọng ca ngày xưa của Trung Học Hà Tiên, trong nhóm chơi nhạc với mình…). Còn được gặp rất nhiều người Hà Tiên, nhưng mình chưa được hân hạnh biết trước, và cũng không biết là có phải là những người cựu học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa hay không…Đặc biệt mình có nói chuyện với anh Đại, anh Đại là người con trai của ông bà Phán Cơ, ngày xưa mình và Lý Mạnh Thường rất thường xuyên ghé chơi lại nhà bác Phán Cơ đường Tô Châu gần phía sau chùa Bà Mã Châu,…Bác Phán Cơ thường mời mình và bạn Mạnh Thường vào nhà bác chơi, để bác thực hành đàn orgue và accordéon đệm nhạc cho Mạnh Thường hát…Có điều rất tiếc là trong lúc chụp hình sôi nổi, mình không có được một bức hình với anh Đại.

Trong lúc mở đầu buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, những vị trong ban quản lý cũng có đọc lên một vài bản diễn văn, đại khái nói về sinh hoạt của hội và giới thiệu các thành phần trong ban quản lý. Nhân dịp nầy cô Tiền Ngọc Thanh có giới thiệu với mọi người lý do sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt năm nay…và sau đó mình xin phép nói một vài cảm nghĩ cá nhân…Cô Thanh có nói cho mình biết trước nên hôm trước đó mình có chuẩn bị một vài ý cho bài « phát biểu » nầy, xin ghi lại đây cho quý vị đọc qua nhé,..

 » Kính thưa quý thầy cô, quý vị và các bạn, cho phép mình mượn giây phút nói chuyện ngắn ngủi nầy gởi lời cám ơn đến cô Thanh Lưu đã tạo điều kiện lưu trú và di chuyển tốt đẹp, cám ơn người bạn gái ngày xưa nhà ở cùng đường, học cùng trường Trung Học Hà Tiên là Trang Lệ Thủy có hai bàn tay nhiệm mầu đã biến những khoảng không gian rộng lớn, những con đường xinh đẹp của phố xá California trở thành ngắn ngủi và thật gần đưa mình đến gặp lại những người bạn thân thương ngày xưa. Một cách tổng quát, xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ, thật lòng đón tiếp chẳng những trong những ngày vừa qua mà còn trong những ngày ngắn ngủi sắp tới cho đến khi chia tay…Đù không bao giờ dám nhận là hậu duệ của những thi nhân Chiêu Anh Các ngày xưa, nhưng mình cũng ao ước có lần bước ra Thụ Đức Hiên, ngẫu hứng thảo vài hàng, trong khi chờ đợi giấc mơ đó chắc chắn là sẽ không bao giờ thực hiện , cho phép mình ngỏ ý, tỏ lòng trong vài câu viết vội:

Trời Cali hôm nay bao nhiêu nắng
Bấy niềm vui chứa chất ngập lòng tôi
Hà Tiên ơi dù xa người năm tháng
Vẫn chảy hoài một dòng nhớ không thôi…..
Và vì là người Hà Tiên, mình chắc chắn rằng các bạn sẽ trả lời được dễ dàng 4 câu hỏi sau đây:
Con đường nào đưa tôi về hàng dương?
Con đường nào đưa tôi về hàng dừa?
Con sông nào đưa tôi ra cửa biển?
Dòng nhạc nào đưa tôi đến cô miên?
Xin cám ơn quý thầy cô, quý vị và các bạn. »
Đến đây xin tạm ngưng bài phóng sự về những cuộc hội ngộ giữa thầy cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa…Dĩ nhiên là sau buổi gặp gỡ đó, thời gian dù cho có kéo dài vô tận trong giây phút xiết tay nhau, rồi phải đến lúc chia tay, mọi người nắm tay nhau bịn rịn, vài cái hôn nhè nhẹ để bày tỏ niềm cảm xúc, vài cái vổ vai nhè nhẹ bày tỏ sự thân thiết sẽ còn với thời gian,…sau cùng thì chia tay, mình cảm thấy buổi gặp gỡ sao diễn ra nhanh quá, mọi người đều luyến tiếc phút giây nầy…vài nhóm bạn còn cố ghi lại vài hình ảnh cuối qua chiếc máy ảnh chụp vội vả,…một vài bảng tên của ai đó rót lại trên mặt cỏ xanh…Trong khi ban quản lý và những bạn tình nguyện còn ở lại để tiếp dọn dẹp các thứ vật dụng và gói ghém thức ăn lại, tiếng động cơ của xe hơi bắt đầu nổ vang và thực sự chúng ta đã rời xa khu vườn xinh đẹp với cái gian nhà rộng lớn đã bắt đầu trút vắng người hội họp…Xin hẹn lại năm sau?!! ….Lần tới?!! Không biết có được không, cuộc đời thường dành cho chúng ta nhiều nổi bất ngờ…dù sau riêng mình và Ngọc Tiếng đã được sống qua những giây phút tuyệt đẹp của một tình bạn, tình thầy trò, tình cô trò, mong rằng sau phút chia tay, mọi người về nhà sẽ nhắm mắt sống lại cái giây phút đó và hình ảnh thầy cô bạn bè mà mình đã có may mắn nhìn lại sau nhiều năm xa cách, sẽ ghi đậm hơn nữa trong ký ức…Xin cảm ơn tất cả….
Trần Văn Mãnh , Paris 02/07/2019
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Cô Tiền Ngọc Thanh (áo màu cam), Trang Lệ Thủy (bìa phải) và Trần Văn Mãnh (bìa trái), (06/2019, tại vườn nhà Trang Lệ Thủy, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Trang Lệ Thủy và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại vườn nhà cô Tiền Ngọc Thanh, california, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Mai Thị Ngọc Minh và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại khu phố chợ Phước Lộc Thọ Little Saigon, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50 năm: Thầy Võ Thành Tường và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại nhà thầy cô Võ Thành Tường, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50: Huỳnh Thị Sáu (ngồi bìa phải) và Trần Văn Mãnh (đội nón đứng bìa trái). (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và anh Tiền Hữu Phát (anh Phát học chung lớp với chị Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh THị KIm),  (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm:  trái qua phải: anh Tiền Hữu Phát, Tiền Hữu Đạt, Tiền Hữu Minh (bạn Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), Trần Văn Mãnh, anh Tiền Hữu Lộc và anh Huỳnh Văn Quang (anh Quang ở cách nhà mình một căn, đường Bạch Đằng, Hà Tiên, anh của Huỳnh Văn Bé),  (06/2019, California, Mỹ)
Cô Tiền Ngọc Thanh đang giới thiệu sự có mặt của Trần Văn Mãnh và Nguyễn Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: anh Giang Văn Thân (ngày xưa ở đường Trần Hầu, Hà Tiên, học chung lớp với anh Lê Quang Chánh) và Trần Văn Mãnh, (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: anh Lâm Hữu Dư và phu nhân, bạn Lê Mai Hoa (học chung lớp với mình), (06/2019, California)
Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 40 năm: trái qua phải: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên (em của Hoàng Đức Trung và Hoàng Thu Bình, diện kiến lần đầu tiên) và Lê Mai Hoa (bạn học cùng lớp Đệ Thất Trung Học Hà Tiên xưa), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Hồ Thị Kim Nga (em của Hồ THị KIm Hoàn, diện kiến lần đầu tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và chị Chín Hương (chị của bạn Lâm Xuân Mỹ), (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Phượng, Hồ Thị Kim Nga, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên, Hồ Thị Kim Hoàn, anh Xuân và anh Ngô Hoàng Minh (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: La Văn Cao, Tiền Ngọc Dung và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà (em của Dương Thị Diễm Hà), Nguyễn Ngọc Tiếng, Nguyệt Đường và chị Tuyết (06/2019, California)
Gặp gỡ quý đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » (áo trắng bìa phải: phu nhân của bạn Hồ Anh Dũng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Mẹ của Lâm Mỹ Nga, Lâm Mỹ Nga (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt, Hà Tiên) chị Chí (phu nhân của anh Trần Đại Chí con của thầy Trần Hòa Hùng) và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Gặp gỡ quý chị Trung Học Hà Tiên Xưa: Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (06/2019, California)
Một số học trò xưa chụp hình chung với thầy cô Võ Thành Tường (thầy cô ngồi ghế) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Mong Đức Kiết (em của Mong Đức Hưng và anh Mong Đức Thạnh) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Nga và Trang Lệ THủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hoàng Thị Minh Liên và Trang Lệ Thủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà và Tiền Ngọc Dung (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Tái bút: Thầy cô và các bạn có thể xem thêm hình ảnh ở link sau đây:

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Lăng Ông Mạc Cửu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, đối với thầy trò trường trung học Hà Tiên, khi nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nhớ đến giai đoạn ngày xưa trong những năm 60-70, biết bao nhiêu lần chúng ta, thầy lẫn trò, cùng kéo nhau lên núi Lăng (núi Bình San) để họp nhau vui chơi, kể chuyện, ăn uống tại chỗ rất vui, Hôm nay chủ đề chánh của bài là sẽ viết ngắn gọn và nhờ những hình ảnh sưu tầm để nhắc lại về gốc tích của ngôi đền thờ ông Mạc Cửu và sự thay đổi qua các giai đoạn thời gian.

Cũng theo thông lệ và nguyên tắc của Blog nầy, xin nhắc lại là bài viết chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

A/ Định vị trí của Lăng Mạc Cửu:

Có rất nhiều tên gọi để chỉ định lăng Mạc Cửu, nói chung ta có thể dùng từ « Đền thờ họ Mạc » để chỉ định ngôi đền nầy vì đền được dựng lên để thờ cúng tất cả các dòng con cháu nhà họ Mạc. Tuy nhiên còn có nhiều tên chữ để chỉ định ngôi đền như các tên: Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ, Mạc Công Miếu, dân gian lại thường gọi là Miếu Ông Lịnh (vì đền thờ ông Mạc Thiên Tích và ông Mạc Thiên Tích được gọi là Mạc Lịnh Công).

Thực ra ngay từ lúc đầu khi vua Gia Long phong cho Mạc Công Du (con của Mạc Tử Hoàng, cháu nội của Mạc Thiên Tích) làm Trấn Thủ Hà Tiên (trong khoảng thời gian 1818 – 1829) thì ông Mạc Công Du bắt đầu cho dựng một ngôi đền gọi là Đền Mạc Công để thờ phụng ông nội là Mạc Thiên Tích. Ngôi đền nầy vách bằng cây, lợp lá đơn sơ nằm ở bên trái chùa Tam Bảo, trong khu phế tích thành quách cổ thời ông Mạc Cửu (vị trí nầy còn được xác định trong bản đồ người Pháp vẻ tay vào năm 1869 và ghi chú là Ruines). Lúc nầy đền còn có tên « Mạc Thiên Tứ Từ », tuy nhiên trong đền cũng thờ tất cả ba vị họ Mạc có tên là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, vì thế đền cũng được gọi là đền « Mạc Công Tam Vị ».

Sở dĩ đền thờ ba vị họ Mạc là vì ba vị họ Mạc nầy đều được sắc phong nhân thần của các vua nhà Nguyễn thời đó:

Mạc Cửu (1655-1735 thọ 81 tuổi): được vua Minh Mạng phong Trung Đẳng Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng ban thêm các mỹ tự và vua Bảo Đại phong thêm Thượng Đẳng Thần.

Mạc Thiên Tích (1718 – 1780 thọ 63 tuổi): con của Mạc Cửu, được vua Minh mạng phong Đạt Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Mạc Tử Sanh (1769 – 1788 chết trẻ 20 tuổi): con của Mạc Thiên Tích, được vua Minh Mạng phong Trung Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Từ khi thành lập năm 1818 đến năm 1833, ngôi đền được con cháu họ Mạc và nhân dân chăm lo hương hỏa, cúng kiến. Đến năm 1833 lúc nầy có giặc phản loạn Lê Văn Khôi dấy binh đánh chiếm thành trì nhà Nguyễn (đời vua Minh Mạng), Mạc Công Du và các con ngả theo bên Lê Văn Khôi, đến khi họ Lê thất bại, Mạc Công Du và các con đều bị tội, lúc đó Mạc Công Du lại bệnh mất, cả nhà họ Mạc đều bị  vua kết tội, đền thờ họ Mạc bị bỏ hoang không ai dám chăm sóc…

Đến năm 1846 có quan thần nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị xin vua nghĩ đến công trạng của cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích nên nhà vua cho phép dựng lại ngôi đền mới nhưng xây cất tại vị trí mới, tọa lạc dưới chân núi Bình San, hoàn thành năm 1847, đó là ngôi đền Mạc Công Miếu hiện nay. Tuy nhiên từ lúc xây cất năm 1847, vì ngôi đền xây cất bằng gỗ, lợp ngói nên không duy trì được lâu dài với thời gian sau đó, chừng vài chục năm lại bị hư dột…

Đến năm 1897 có chí sĩ người gốc Hà Tiên tên là Nguyễn Thần Hiến thảo bài văn kêu gọi nhân dân Hà Tiên góp tiền góp sức trùng tu lại ngôi cổ miếu cất từ đời vua Thiệu Trị (bản văn của ông Nguyễn Thần Hiến vẫn còn lưu truyền tại đền Mạc Công Miếu hiện nay). Công việc trùng tu kéo dài đến năm 1901 mới xong (đó là công lao rất to lớn của ông Nguyễn Thần Hiến cùng với nhân dân và hội người Minh Hương ở Hà Tiên, người Hà Tiên chúng ta không ai là không biết đến tên gọi Nguyễn Thần Hiến, từ ngày xưa Hà Tiên đã có một bệnh viện và một con đường được mang tên Nguyễn Thần Hiến, ngày nay có ngôi trường mới cất sau nầy là trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến với pho tượng bán thân của ông ở ngay lối chánh vào trường). Trong đợt trùng tu nầy, có cất thêm nhà Võ Ca, bức tường bao quanh ngôi miếu và cổng Tam Quan. Lần trùng tu thừ hai là vào năm 2002 do Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San thực hiện. Lần trùng tu thứ ba là vào năm 2012, do Ban Di Tích tỉnh Kiên Giang thực hiện. Tuy vậy việc trùng tu đều tôn trọng giữ theo đúng hình dạng kiến tạo năm 1897 của thời ông Nguyễn Thần Hiến.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Ngôi đền Mạc Công Miếu được Mạc Công Du dựng đầu tiên vào năm 1818 nằm bên trái chùa Tam Bảo, ngôi đền nầy đã bị bỏ hoang phế sau năm 1833. Đến năm 1846 ngôi đền Mạc Công Miếu mới được xây dựng lại nhưng đã ở vị trí khác, tọa lạc dưới chân núi Bình San, ngay trước đền có một cái ao đã có từ đời ông Mạc Cửu (đào vào khoảng năm 1719).

Tuy việc dựng đền là để thờ cúng ba vị họ Mạc đi tiên phong trong công cuộc mở mang vùng đất Hà Tiên, nhưng thực sự trong đền đều có đủ cả các bài vị thờ hầu hết tất cả con cháu dòng họ nhà Mạc, có cả bàn thờ chư vị tướng lảnh phục vụ cho nhà Mạc và cũng có cả bàn thờ các vị phu nhân và bàn thờ Mạc Mi Cô tức bà Cô Năm, người con gái út của Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô chết rất trẻ lúc chỉ mới 14 tuổi.

B/ Các bộ phận của ngôi đền

  • Cổng tam quan và tường gạch cao chung quanh đền: Có ba cổng ra vào đền nhung cổng bên trái bít kín từ năm 1911 vì tôn kính bà Cô Năm.
  • Nhà Võ Ca: Có rất nhiều câu đối, những bài thơ Nôm trên những hàng cột.
  • Trù Phòng: Hai gian nhà bếp để phục vụ việc nấu nướng ngày xưa, nay là văn phòng và nhà kho.
  • Tiền Khu Chánh Điện: Một bức tường có ba lối vào ngăn nhà Võ Ca và Chánh Điện, có tấm biển đề tên Trung Nghĩa Từ và nhiều câu liễn đối.
  • Bái Đình: nền gạch hình vuông, có mái.
  • Đông Lang và Tây Lang: nơi đặt bài thờ gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền.
  • Chánh Điện: một ngôi nhà trệt ba gian, có tấm biển khắc tên và nhiều câu liễn đối. Đây là nơi đặt các bàn thờ chánh.
  • Hai bên tường tả và hữu; nơi chép các bài văn, thơ, vịnh…

C/ Khu lăng tẩm và các ngôi mộ nằm trên ngọn núi Bình San:

Toàn bộ mồ mả các vị quan, tướng, phu nhân, hầu thiếp nhà họ Mạc đều được chôn cất trên ngọn núi Bình San (ngọn núi Bình San có ba đỉnh riêng biệt). Theo tài liệu tổng kết của Ban Bảo vệ Di tích núi Bình San thì có khoảng 68 ngôi mộ được chỉnh trang, sơn phết và có bia khắc, đánh số để xác định tên tuổi. Mộ ông Mạc Cửu đánh số 1, mộ Mạc Thiên Tích đánh số 2, mộ Mạc Tử Hoàng đánh số 3…, mộ Bà Cô Năm Mạc Mi Cô đánh số 43…Điều đáng chú ý là tuy đền Mạc Công Miếu thờ ba ông được phong nhân thần là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, nhưng trong ba ông chỉ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích là có được mồ mả oai nghiêm còn Mạc Tử Sanh thì trong cơn biến loạn đã mất vì bệnh và không ai biết được mồ mả của ông chôn cát ở đâu.

Khi đi vào ngôi đền Mạc Cửu, nhìn bên phải có con đường lót gạch để dẫn đi lên khu các ngôi mộ. Ngoài ra chung quanh ngôi đền và đường lên khu mồ mả đều có trồng cây xanh, cây hoa kiểng rất xinh đẹp.

Hồi xưa lúc còn đi học trung học, các học sinh Hà Tiên thường kéo nhau cả nhóm lên núi Lăng chơi. Tuy nhiên lúc đó mình rất sợ và rất tôn kính ngôi đền ông Mạc Cửu và ngay cả khi đứng trước các ngôi mộ. Lúc vào trong chánh điện của đền thờ mình rất sợ, không dám nhìn thẳng vào các bài vị trên bàn thờ, và hoàn toàn im lặng không dám nói chuyện …Hồi xưa có rất nhiều tin đồn, chẳng hạn như người ta nói là khi mình chụp hình ngôi mộ của ông Mạc Cửu, khi đem phim đi rửa để ra hình thì thấy hình hoàn toàn màu đen không có hình ảnh gì cả,…, đó chỉ là lời đồn nhưng hồi xưa mình cũng tin ít nhiều…

Bức hình về ngôi đền Mạc Công Miếu xưa nhất có lẻ là hình nầy, trên tấm bưu thiếp nầy được người Pháp ghi là Pagode, vì người Pháp xem ngôi đền như là ngôi chùa, bưu thiếp được ký tên ngày 6 tháng ba năm 1909, như vậy bức hình nầy được chụp khoảng trước năm 1909, đền Mạc Công Miếu được trùng tu xong vào năm 1901.

Một bức hình xưa về đền Mạc Công Miếu trên một bưu thiếp do ngườì Pháp xuất bản, dấu ấn đóng trên con tem cho biết là Tây Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 1909. (bộ sưu tập Poujade de Ladevèze)

Sâu đây là một số bưu thiếp do người người Pháp xuất bản cùng dạng, trên hình ta thấy đó là nhà Võ Ca trong đền Mạc Công Miếu sau khi được trùng tu lần đâu tiên.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Một trong hai bức tượng tướng quân đứng hai bên ngôi mả của Mạc Cửu, hình chụp từ sau lưng tượng, nhìn về phía cửa sông Giang Thành ra biển. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp vào năm 1953. (đây là hình bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1960, người trong hình là Nguyễn Đình Nguyên, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Nguyễn Đình Nguyên

Lăng Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Trần Văn Dõng

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Dõng. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên phải, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên trái, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Nói thêm về hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên mả của ông Mạc Cửu: Từ lúc lập mả người ta có làm hai bức tượng hai tướng quân đứng hầu hai bên mả, tả hữu rất oai nghiêm, từ xa xưa, có nhà nhiếp ảnh người Hà Tiên Quách Ngọc Bá có chụp hình làm bưu thiếp về lăng ông Mạc Cửu và hình tượng tướng quân đứng hầu. Lúc còn nhỏ mình có thấy hình bức tượng nầy do ông QNB chụp, ông chụp một cách rất nghệ thuật từ sau lưng nhìn về phía trước và chụp gần nên thấy trong hình bức tượng rất to lớn. Đến khi học Trung Học (những năm 60 – 70), mình thường theo nhóm bạn lên lăng Mạc Cửu chơi trong những giờ vắng thầy, không có giờ học, lúc đó mới nhìn thấy hai bức tượng thật sự trước mắt thì mới biết là hai bức tượng có khuôn khổ vừa phải không to lớn như mình tưởng lúc còn nhỏ .

Đến sau khi chiến tranh biên giới ở Hà Tiên chấm dứt (sau những năm 1978-1979), hai bức tượng nguyên bản gốc nầy đã bị người ta trộm mất đầu…Sau đó một thời gian dài người ta làm đầu bằng xi măng và gắn lên thân tượng gốc bằng đá còn lại …Tuy nhiên hiện nay hai bức tượng đã được người ta làm lại mới hoàn toàn, có nét vẻ sơn phết tô màu cho đẹp, còn hai thân tượng cũ nguyên gốc ngày xưa thì đã được cất giữ đâu đó không có tin chi tiết rổ.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp trong những năm 1970-1980. Người đứng trong hình là Trần Văn Phi (em của Trần Văn Dõng và Trần văn Mãnh), một học sinh trường trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Phi.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 1974, ta còn thấy bức tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu bên phải. Trong hình là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965 – 1969. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn

Ngôi mộ Mạc Cửu: Hình trắng đen trái: Một trong hai pho tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu (vị trí đứng bên trái ngôi mộ), hình trích trong ảnh do ông Quách Ngọc Bá chụp vào những năm 1970. Hình màu phải: Một trong hai pho tượng làm lại sau những năm 1990 (vị trí đứng bên phải ngôi mộ), hình trích trong ảnh do Missak chụp vào năm 2006.

Toàn cảnh Lăng Mạc Cửu rất đẹp năm 1994. Hình: TVM

Trần Văn Mãnh với nhà nghiên cứu Sử Học Trương Minh Đạt, hình chụp trước cổng tam quan đền Mạc Cửu năm 1994. Hình TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1996. Hình: tạp chí Hà Tiên Thập Cảnh, nhà xuất bản Văn Hóa.

Lăng Mạc Cửu năm 1999, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1999. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 1999. Hình trích từ video TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2006, hình chụp nhìn ra ngoài ao sen trước đền. Hình: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2006, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2007, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: DawnBreeze

Lăng Mạc Cửu năm 2008, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: LeDuyThuong

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2009. Hình: BuiThiDaoNguyen

Bút tích của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn ghi lại trên vách tường đền thờ nhà họ Mạc. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2009

Lăng Mạc Cửu năm 2009, bên trong Tiền Khu Chánh Điện chụp ra phía ngoài ao sen. Hình: FamilleToan

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2010, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: TranNguyenMinhHuy

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2011. Hình: LaiMyThanh

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2011, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: LaiMyThanh

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2011. Hình: NguyenSauRieng

Bái Đình nền gạch vuông trước khi vào chánh điện. Hình chụp khoảng năm 2011

Cổng tam quan phía bên phải đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: AaronGeddes

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: JimGoodman

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Cổng Tam Quan chánh và cổng bên phải lăng Mạc Cửu vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Bên phải đền Mạc Cửu, có con đường gạch dẫn lên khu mồ mả nhà họ Mạc. Hình: Kiều Trang 2017

Cổng Tam Quan chánh vào đền Mạc Cửu vào năm 2017. Hinh: Kiều Trang

Bái Đình lăng Mạc Cửu, hình chụp từ trong Bái Đình nhìn ra phía ngoài ao sen. Hình: SoniaMaclean 2018

Sơ đồ các ngôi mộ nhà họ Mạc tọa lạc trên 4 khu vực trên toàn địa phận núi Bình San và danh sách các ngôi mộ có đánh số và ghi tên.

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời quý đọc giả xem thêm các bài viết có liên quan đến đền Mạc Cửu:

1/ Bài viết về nguồn gốc các ao sen trước ngôi đền Mạc Cửu.

2/ Bài viết về ngôi chùa Tam Bảo qua các giai đoạn thời gian.

3/ Xin mời bạn đọc xem thêm video dưới đây về buổi viếng thăm lăng Mạc Cửu của hai người bạn năm xưa Trần Văn Mãnh và Nguyễn Đình Nguyên vào tháng 11 năm 1999:

 

Giới thiệu Lý Thị Thúy Hà

Thầy cô và các bạn thân mến, tên tuổi thầy cô và các bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên còn rất nhiều, mình sẽ cố gắng lần lượt tìm hiểu, động viên các cây bút cộng tác với Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để tiếp tục viết bài giới thiệu cho ngày càng đầy đủ hơn nữa. Blog đã có nhận được một bài tự thuật của một bạn vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, mà cũng rất quý là bạn nầy lại cũng có liên hệ mật thiết với quê hương Hà Tiên chúng ta. Bài viết gởi đã lâu, lâu đến hơn cả một năm, nhưng mình xin « nhận tội » ở đây là vì đã để quên trong dòng « tin nhắn » (messenger) nên chưa cho lên trang để ra mắt thầy cô và các bạn, mong rằng tác giả bài viết, không ai xa lạ với chúng ta, đó là bạn Lý Thị Thúy Hà, thông cảm cho « chủ bút » mà xóa lỗi cho nhé,..Hôm nay xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn, bạn Lý Thị Thúy Hà, một người con của đất Hà Tiên, bạn Thúy Hà vốn là người gốc gác ở Hòn Heo, thuộc xã Dương Hòa (nay thuộc vầ Kiên Lương). Hiện trong gia đình vẫn còn ngôi nhà xưa tai đây. Thúy Hà vốn là cháu của Ông Mai Thọ Truyền, một nhà chánh khách đã có thời làm chức Quốc Vụ Khanh phụ trách Văn Hóa, và cũng là một nhà Phật Tử có tên tuổi trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Ba của Thúy Hà cũng có thời làm việc ở Quận Đường Hà Tiên.  Lý Thị Thúy Hà cùng gia đình lập nghiệp ở Sài Gòn và đã có quá trình theo học tại Sài Gòn. Sau 1975, theo gia đình về Hà Tiên nên Thúy Hà trở thành học trò của Trường Trung Học Hà Tiên, lớp học Thúy Hà thường gắn liền với các sinh hoạt của cô giáo chủ nhiệm, là cô Nguyễn Thúy Vân, vì thế ngoài giờ học tập, cô trò thường hay sinh hoạt chung với nhau như tập dợt văn nghệ, hoạt động trong phong trào xóa mù chữ, …v…v…

Riêng đối với mình thì mình chưa có dịp biết bạn Lý Thị Thúy Hà, vì trong lúc Thúy Hà học tập tại Hà Tiên trong những năm sau 1975 thì mình cũng trong hoạt động phấn trắng bảng đen tại những miền An Phú, Hồng Ngự, Mỹ Luông….(Châu Đốc, An Giang…).

Lý Thị Thúy Hà học chung lớp với các bạn:

Tiền Ngọc Ánh, Ong Tấn Bình, Lại Bình Minh, Mai Thu Thủy, Lục Minh Lạc, Quách Kim Hoàng, Trinh Xuân Mai, Lâm Thu Cúc, Giang Bạch Tuyết, La Kim Hồng, Lâm Văn Chiêu, Trịnh Kim Anh, Huỳnh Anh, Giang Văn Dũng, Lâm Văn Nam..v..v…..

Hiện nay trong gia đình thân thuộc của bạn Lý Thị Thúy Hà có tham gia việc quản lý Khách Sạn Pháo Đài (Hà Tiên), công việc kinh doanh tiến hành được hơn một năm rồi: tu hoạch, sửa chữa, bổ túc để toàn cảnh khu du lịch Pháo Đài được tốt đẹp và thu hút khách đến nghỉ ngơi trong thời gian thăm viếng Hà Tiên. Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn bạn Lý Thị Thúy Hà đã vui vẻ đóng gớp cho Blog của chúng ta thêm phong phú bài vở và hình ảnh.

Bạn Lý Thị Thúy Hà cũng là một thành viên trong nhóm bạn học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: Cô Nguyễn Ngọc Mai, ngày 14/06/2018 tại Long Thành (Đồng Nai).

(TVM viết lời giới thiệu, 24/01/2019)

Những kỷ niệm thời học sinh Trường Trung Học Hà Tiên

Quay về kỷ niệm lúc còn học sinh
Tà áo trinh nguyên tô thắm sân trường…

(Tuổi Học Trò; Minh Kỳ & Dạ Cầm)

Hình ảnh cô học trò Trường Trung Học Hà Tiên: Lý Thị Thúy Hà vào năm 1975

Mỗi khi nghe bài hát này tôi lại nhớ đến thời học sinh dưới mái trường Trung Học Hà Tiên sau năm 1975. Tôi vốn sinh ra tại Hà Tiên nhưng gia đình lên Sài Gòn lập nghiệp đến năm 1975 mới trở về quê. Thời còn học bậc Tiểu Học tôi học ở Trường Tiểu Học Chí Hòa Nữ. Khi vào bậc Trung Học, niên khóa lớp Đệ Thất thì học ở Trường Trung Học Gia Long hiện giờ là trường Nguyễn Thị Minh Khai. Ngày xưa ở Sài Gòn, học sinh nam nữ học riêng. Đến tháng 9/1975 tôi chuyển về Trường Trung Học Hà Tiên. Sáng ngày khai giảng hai chị em vào trường mặc đồng phục áo dài trắng quần trắng gây chú ý cho các học sinh trong trường vì các bạn nữ mặc áo dài trắng quần đen và chị em tôi cũng bất ngờ khi học chung với các bạn nam sinh. Những bỡ ngỡ ban đầu rồi cũng qua đi, tôi quen dần mau chóng và hoà đồng cùng các bạn. Tôi được vào lớp 7A do cô Nguyễn Thuý Vân dạy Văn làm chủ nhiệm. Đây là danh sách học sinh lớp 7A cô viết thành vần cho dễ nhớ:

Ánh Bình Minh Vân Sơn Thủy Hà Tiên
Nhàn Lạc Hoàng Mai Hoa Cúc Huệ Tuyết
Hồng Chiêu Tài Anh Tuấn Dư Quang Ảnh
Dũng Sĩ Tương Nam Hải Phúc Hùng Liệt

Chính vì tên bạn Liệt cô để cuối bài thơ như tên tác giả nhờ vậy mà chúng tôi vẫn nhớ tên nhau dù xa cách đã lâu. Cuối năm học trường tổ chức thi văn nghệ, buổi tối chúng tôi tập múa tại nhà cô Thúy Vân. Hồi xưa trước nhà Cô có trồng mận và xoài, các bạn nam phá lắm không biết bạn nào khắc tên 1 bạn nam + 1 bạn nữ lên các trái xoài làm cho ba của cô Thúy Vân rầy la quá, vì thế không bạn nào dám nhận. Đến năm học lớp 8 sau khi thi học kỳ 1 xong nhà trường cho học sinh nghỉ một tháng để đi tham gia phong trào xóa nạn mù chữ cho đồng bào Khmer, họ không biết tiếng Việt nhưng rất giỏi tiếng Pháp. Lớp chúng tôi dạy ở Thuận Án, từ Hà Tiên phải đi đò mới đến được. Không chịu ở nhà dân vì phải chia ra mỗi đứa ở một nhà, thầy trò chúng tôi lại tập trung ở trại chăn nuôi bò bỏ hoang, thầy trò phải ra tay cùng nhau dọn dẹp. Vì nền đất không bằng phẳng phải lấy rơm phủ cho bằng để tối trải đệm ra ngủ. Ôi một thời tuổi trẻ lúc đó chẳng thấy cực mà rất vui. Ban ngày chúng tôi đi tát mương bắt cá để cải thiện bữa ăn. Vui nhất là bắt được cá thác lác Thầy trò đem đi kho vì không biết rành loại cá nầy nên rốt cuộc cá kho có  xương nhiều quá ăn không được. Sau này lớn lên tôi mới biết cá đó đem nạo ra làm chả rất ngon. Buổi chiều chúng tôi phải ăn cơm sớm trước 3 giờ vì ở đây nhà đân ở cách xa nhau lắm, Cô và các bạn nam dạy ở điểm xa nhất nên khi dạy xong Cô phải đến từng nhà đón chúng tôi về. Ở Thuận Án mùa khô không có nước ngọt nên mỗi tuần cử các bạn trai về Hà Tiên mang đến nước ngọt và thức ăn do gia đình gửi cho cả nhóm. Ở đây các ao nước đều bị nhiễm phèn. Các bạn trai đi rất xa tìm những bụi cây mọc xanh tốt là dấu hiệu nơi đó ao nước ít bị nhiễm phèn.

Những kỷ niệm không quên nếu nói đến ao bò thì chỉ có học sinh lớp tôi và cô Thúy Vân biết thôi xin giữ bí mật nhé. Thầy Mạnh Thường dạy Anh Văn và dạy hát, tôi còn nhớ mãi buổi sáng có tiết học Anh Văn, Thầy vào lớp báo tin vui cô Mai vợ thầy Cường vừa sinh được một bé trai. Cả lớp mừng vui ồn ào như cái chợ nhưng chẳng bị Thầy la. Nhớ nhất những lần tập văn nghệ cùng Thầy để trình diễn ở rạp Phát Minh có bán vé gây quỹ cho trường. Thầy Lý Mạnh Thường là người Thầy hát bài Hà Tiên hay nhất, nay Thầy không còn nữa nhưng với tôi Thầy vẫn còn mãi trong ký ức của học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975 Trường Trung Học Hà Tiên có nhiều giáo viên từ Sài Gòn về dạy. Trong đó có cô Phan Thị Tuyết Mai và thầy Trương Tự Cường. Thầy Cường dạy môn toán rất hay và dễ hiểu. Hôm ấy đầu giờ Thầy cho kiểm tra 15 phút. Tôi nhớ đã làm đúng mà Thầy lại cho 0 điểm!! Thế là ấm ức không học được, Thầy bảo tôi làm ẩu kết quả đúng mà sai dấu. Trong giờ Thầy đang dạy nên tôi không dám nói gì, sau tiết học tôi chạy theo Thầy và khiếu nại: « Thưa Thầy! Em làm đúng mà nhờ Thầy xét lại… ». Thầy xem bài làm của tôi lại và cho thêm số 1 trước số 0 và thêm chữ rất giỏi. Thầy nói Thầy rất thích học trò như vậy. Không biết lúc đó Thầy nhầm lẫn hay cố tình thử tôi? Còn cô Mai vợ Thầy Cường, dạy môn Hóa. Lúc đó Trường Trung Học Hà Tiên chưa có lệnh sơ tán nhưng tình hình ở Hà Tiên đã bắt đầu bất an. Sáng hôm đó khi đến Trường tôi thấy học sinh nghỉ học rất nhiều. Thầy Hiệu Trưởng Lê Thanh Chương thông báo là nếu Trường còn một học sinh đến học thì thầy cô vẫn dạy. Lớp 8 A chỉ có mình tôi mà cô Mai vẫn dạy. Một thầy một trò, có lớp học nào đặc biệt như vậy không? Còn nhiều nhiều nữa những kỷ niệm về Thầy Cô, nhưng đây là những kỷ niệm tôi nhớ nhất khi còn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên.

Nếu là ngày tôi cho ngày dài mãi
Nếu là thời gian tôi sẽ ngừng trôi
Để giữ mãi trong tôi kỷ niệm
Tuổi thần tiên ở ngưỡng cửa học đường

Sau cùng tôi còn nhớ một kỷ niệm vui về Thầy Nguyễn Văn Tiêu và Cô Nguyễn Thị Bình, kỷ niệm mà riêng tôi cũng không dám kể ra đây, nhưng với tinh thần vô tư, nhớ Trường lớp, nhớ Thầy Cô, tôi cũng viết ra mong thầy cô và các bạn thông cảm nhé,…Ngày xưa ở gần nhà tập thể của quý Thầy Cô là căn nhà « vệ sinh »! mỗi khi tan học thì mỗi lớp học có trách nhiệm dọn dẹp cho sạch sẽ, mỗi lớp thực hiện công tác một lần…Hôm đó chính lớp 8A của tôi trực việc dọn dẹp nhà « vệ sinh ». Vì biết là Cô Bình và Thầy Tiêu quen với nhau, nên thừa lúc sau giờ dạy Cô thường xuống ngôi nhà tập thể để hàn huyên với Thầy, chúng tôi núp sau bức tường để xem…!! Không may bị phát hiện, cả bọn bỏ chạy tứ phía và lại còn đẩy tôi vào để giải thích với Thầy…Thầy hỏi: « Em đi đâu đây, có việc gì? », Vì sợ quá tôi đáp theo phản ứng tự nhiên: « Dạ em xin Thầy cho mượn hộp quẹt để đốt rác ạ…! ». Thầy cười và đưa hộp quẹt cho tôi…Hú hồn, sau đó khi về tự thấy giận các bạn chơi xấu, bỏ chạy và đẩy mình ra chịu trận…Đúng là một kỷ niệm của bọn học trò mà trong xếp hạng đứng hàng thứ ba…(« Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò… »). Không biết bây giờ Thầy Cô có đến với nhau không, tụi em xin Thầy Cô thứ lỗi nhé,..(Sau nầy lại có nghe tin là Thầy Tiêu và Cô Bình kết hôn với nhau, vậy xin chúc mừng Thầy Cô nhé…)

08/11/2017, Lý Thị Thúy Hà, học sinh ngày xưa của Trường Trung Học Hà Tiên

Hình chân dung và sổ học bạn Lý Thị Thúy Hà (Trung Học Hà Tiên năm 1975)

Một trang điểm thi kỳ 1 và 2 và kết quả cuối năm trong sổ học bạ của Lý Thị Thúy Hà, kết quả cho thấy bạn Thúy Hà là một học sinh rất xuất sắc trong tất cả các môn học, bravo bạn Thúy Hà nhé,…(Trung Học Hà Tiên 1975)

Bạn Lý Thị Thúy Hà hiện nay sinh sống tại Sài Gòn với gia đình.

Lý Thị Thúy Hà tham gia nhóm học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Mai từng dạy học tại Hà Tiên (1961 – 1968). Hàng đứng: Trần Quý Nương, Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Người ngồi là cô Nguyễn Ngọc Mai. (ngày 14/06/2018 tại Long Thành, Đồng Nai)

Hình ảnh: Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Trần Quý Nương

 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp đệ nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018