Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn Lê Phước Dương, một cây bút rất thường xuất hiện trên Blog Trung Học Hà Tiên xưa của chúng ta có một dự án là sẽ viết lại vài bài hồi ký về một vài người bạn thân ngày xưa, thời đi học đã cùng nhau chia sẻ cơ hàn, khổ cực…Sau bài viết về anh La Văn Cao, một người đàn anh mà Dương Lê rất mến mộ và cùng trải qua nhiều lúc gian nan, hôm nay Dương Lê viết về một đàn anh khác, đó là anh Trần Văn Dõng, cũng là một hồi ký nhớ lại quảng đời học sinh Hà Tiên đi học xa nhà với bao nhiêu là thiếu thốn về vật chất…Đời người học sinh xa nhà đi ở trọ học ở tỉnh xa có nhiều vui buồn, vì hoàn cảnh, phải lên tỉnh lớn để theo học cho xong chương trình học. Nhiều khi chỉ thiếu có mỗi một chai dầu lửa để nấu cơm thôi, trong khi đó đã có gạo, khô, nước mắm vừa mới về Hà Tiên thăm nhà và được nhà viện trợ đủ cả…Bởi người ta thường nói có khổ cực mới có lúc thành công, nhưng cuộc đời dành cho ta nhiều nỗi bất ngờ,…Không ai biết ngày sau sẽ ra sao,…Nếu hiện tại, mỗi thành viên của nhóm ở trọ học ở Cần Thơ ngày xưa (Dương, Mãnh, Dõng,…), mỗi người cũng đã thành công ít nhiều trong cuộc sống, thì cái công khó thời đi học đó cũng được đền bù chút ít…Tất cả đều đã trôi qua, chỉ còn lại trong chúng ta nỗi nhớ và kỷ niệm xưa, viết lại hồi ký ngắn nầy giúp chúng ta giữ và nhớ mãi thời đi học xa nhà với bao buồn vui mà mãi mãi chúng ta không thể nào sống lại giây phút đó, có chăng là có được một vài cảm xúc, một vài xao xuyến khi đọc bài viết của tác giả Dương Lê, đó cũng là mục đích của bài viết hôm nay…(TVM, viết lời giới thiệu, Paris 30/05/2020)

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Năm 1972, đậu Tú Tài 1 xong.
Ngày tựu trường, mình theo anh Dõng, Mãnh đi học ở Cần Thơ. Vì những trường công, thủ tục vào học rất nhiêu khê nên mình ghi tên học ở Trường tư thục Ngọc Phú, học phí mổi tháng 800 đồng.

trọ cùng với 2 chàng ở khu Đại Học Khoa học, phía trước nhà có ao lục bình rất lớn, đóng tiền ăn ngày 2 buổi với bà chủ nhà. Ba chàng ở trên căn gác gỗ, mái nhà lợp tôle nên buổi trưa rất nóng, tối thì mát, khi mưa rất ồn, ba chàng quấn ba cái mền như sâu làm tổ.

Không có giường ngủ chỉ có hai cái bàn học xiêu vẹo của hai chàng, trong góc bàn học của anh Dõng có cái ấm nhôm, mình hỏi:

 – Cái ấm nhôm đó để nấu nước pha trà hả anh Dõng?

– … ừa!

Hai cửa sổ hai bên hông nhà nằm trên mái ngói hai nhà hàng xóm nên ba chàng thường ngồi hóng gió, đôi khi mình cảm nhận mùi lạ nên cứ nghỉ là của chuột thôi.

Ban ngày thì không nói gì, còn ban đêm phải dò dẫm xuống từng nấc thang gỗ, tỉnh táo không nói gì, mê ngủ ngầy ngật mà xuống thang thì thật là vất vả lắm.
Vào một đêm, trời đứng gió, không gian oi bức, lúc đầu hôm đi cùng hai chàng ghé quán cafe nghe Miên Đức Thắng với « Bông hồng cài áo », Trịnh Công Sơn với « Ca khúc da vàng » và với « Gia tài của mẹ »… , một ly cafe đen, vài điếu thuốc Capstan, vài ly trà quạu…hệ thần kinh trong đầu nó căng như dây đàn nốt Mí…nên khi về, leo lên căn gác trọ, trằn trọc mãi, cố ngủ mà có ngủ được đâu!
Lúc này không biết đã là mấy giờ, chắc cũng đã khuya nên không gian nghe im lặng quá. Chợt nghe tiếng động nhẹ từ mùng anh Dõng … chàng ta vén mùng bước ra, trong bóng đêm chàng ta bò nhè nhẹ lại lấy cái ấm … mình nghĩ:

– Giờ này, khuya vầy, lấy cái ấm làm gì vậy ta …  không lẽ xuống nhà nấu nước sôi pha trà uống! Chiều tới giờ uống trà quá nhiều rồi…!!

Không nghe tiếng bật lò nấu, chàng ta nhẹ nhàng đi lại đứng bên cửa sổ, với một động tác … rồi âm thanh phát ra….

…t..r..ừng , t..r..ưng , t.r..ứng…

Như âm điệu dạo đầu thon thả của tiếng đàn guitar độc tấu bản sonate Ánh Trăng…dìu dặt, réo rắt khi khoan khi nhặt khi dầy khi thưa … lúc mạnh như mưa giông … lúc thoáng nhẹ như cơn mưa rào mùa hạ … làm cho kẻ khó ngủ đêm khuya nghe những âm thanh đó càng thêm ray rứt.

Rồi thì tiếng sắt tiếng nilon cũng nhỏ dần rồi tắt hẳn … chàng ta nhoài người ra cửa sổ rồi…rót…rót…rót nhẹ nhàng ri rỉ lên mái ngói nhà kế bên.

Sự bí ẩn của cái ấm đã được giải mã cho cái đầu óc của mình, những đầu óc quá thông tuệ, chắc là cũng phải mua một cái ấm nhỏ cho mình thôi.

Ở đó được một tháng thì dời về trọ nơi mà phía trước có phòng làm răng của nha sĩ Tịnh. Trong nhà nầy có một nàng làm osin cho chủ nhà mê anh Dõng như điếu đổ, cứ khi nàng rảnh tay và lúc có ba chàng thư sinh ở nhà thì nàng cứ vô phòng nằm lăn ra giường … rồi cười rồi nói, có lần còn đố ba chàng là lưng con rùa kêu bằng cái gì!! … Những lúc đó là chàng Mãnh nháy mắt với mình rồi cả hai lang thang để phó bỏ mặc cho chàng Dõng đối phó với tình huống cực kỳ nghiêm trọng…!!

Rồi có một hôm tới phiên chàng Dõng nấu cơm, mình và anh Mãnh đi học buổi sáng, vì là vào những ngày cuối tháng nên chỉ uống một ca nước rồi đi học … Tan học đi bộ về tới chổ trọ là cũng đã 12g trưa, bước vô phòng thấy chàng Dõng ta đang ngủ, bếp lò lạnh tanh, mình hỏi:

– Giờ này mà anh còn chưa nấu cơm, đói bụng muốn xỉu rồi nè!

Chàng Dõng nói:

– Gạo và khô thì còn mà dầu lửa nấu thì khô queo rồi.

Lúc đó anh Mãnh cũng vừa về tới liền lên tiếng:

– Vậy có ai còn tiền để mua dầu không?

Cả ba cùng im lặng.

Thế là cả ba chàng cùng uống nước lã cầm hơi rồi cùng lên giường tìm giấc ngủ cho qua cơn đói.

Mà rồi có quên được đâu, có ngủ được đâu khi cơn đói dày vò.

Sau một hồi suy nghĩ cuối cùng chàng Mãnh đưa ra ý kiến:

– Anh Dõng, năm thứ hai Kỷ sư Canh Nông, còn anh, năm thứ nhứt Đại Học Sư Phạm, chỉ có em học Đệ nhứt và nhỏ nhất … nên em chịu khó làm mặt dầy bước qua cây Xăng Dầu bên kia đường mua chịu 2 lit dầu về nấu cơm, hai thằng anh hứa cho em khỏi rửa chén 10 ngày.

Nghe vậy thì cũng đành thôi, đói quá phải liều … may là gặp chị bán dầu tốt bụng, đong cho thiếu chịu 2 lit dầu … Hai chàng thấy mua được dầu về mừng quýnh.
Ui, có ai từng bị đói từ sáng đến 3 giờ chiều mới thấy chén cơm nóng, tô nước canh, miếng xương khô cá bè nướng vội…nó ngon gì đâu, nó hạnh phúc gì đâu.
….

Đường đời bập bềnh xô đẩy, ở trọ đi học với hai chàng được hai tháng thì có lệnh tổng động viên phải lưu luyến chia tay với hai chàng để trình diện nhập ngũ vào học nơi Trường BB Thủ Đức.

30/4/1975 buông súng tan hàng về lại quê hương.

5/5/1975 trình diện ban quân quản để đươc đi ở tù.

Sáng ngày 30/5/1975 , sắp hàng ở cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên nghe đọc tên để đi Long Xuyên học cho trở thành người.

Đọc tên từng người :
 – La văn Tạnh! ….có.
 -Lê phước Dương!…có.
 – Trần văn Dõng!…có.
 – Nhan hồng Hà!…có.
……
Vị cán bộ hỏi:

– Có ai có ý kiến gì không?

Trần văn Dõng:

– Có , xin hỏi?

Cán bộ:

– Anh nói đi!

Trần văn Dõng:

 – Xin hỏi sao mấy anh mang cấp bậc Chuẩn úy thì được học ở Hà Tiên, còn tôi và anh Hà còn là SVSQ mà sao phải đi tỉnh học?

Viên quản giáo:

– Vì khi hai anh ra trường mang cấp bậc Đại Úy nên phải đi Long Xuyên học.

….huhuhu…huhuhu…

Anh Dõng là mẫu người sống nội tâm, như nhà hiền triết, ít nói, ít cười, ít tranh luận hơn thua. Anh học rất giỏi mà sao thời vận lúc đó chưa tới, nếu không thì anh cũng đã là Kỷ Sư Canh Nông, thời mà giáo sư Võ Tòng Xuân còn dạy học ở Đại Học Nông Nghiêp Cần Thơ.

Lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên, anh có trồng cây si một người em gái tên Lan … mà rồi anh chưa lần nào nói tiếng…yêu em. !!

Hà Tiên, 28/5/2020.
Lê Dương.

Chân dung ba chàng: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Lê Phước Dương ngay trong khoảng thời gian trọ học ở Cần Thơ, những năm đầu của thập niên 70

Trần Văn Mãnh đang làm bài ngay trong căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

Trần Văn Mãnh ngoài mái hiên lầu căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

 

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn La Văn Cao là một người bạn thân trong nhóm những người bạn thân cùng đi chơi trong suốt thời gian còn là học trò của Trung Học Hà Tiên…Mình không biết ở các trường Trung Học khác thì ra sao, nhưng ở Hà Tiên, tình bạn bè chơi với nhau không phân biệt « đẳng cấp » thứ hạng…Có nghĩa là ta có thể kết bạn chơi thân với nhau mà không nhất thiết phải học cùng lớp…Đó là trường hợp của đa số bạn bè thời học trò ở Trung Học Hà Tiên…Mình có nhiều bạn thân học trên mình một lớp (đó là trường hợp bạn La Văn Cao, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…v..v…), ngược lại mình cũng chơi thân vói nhiều bạn học sau mình vài lớp (Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….v..v….). Xin các bạn thân chưa có tên kể ra đây thứ lỗi vì mình vẫn nhớ nhưng chưa kể hết ra đây nhé…

Đi chơi nhiều với bạn Cao thì có rất nhiều chuyện vui buồn kỷ niệm, chuyện vui thì có cái khái niệm « ngồi đồng » mà Cao chính là « cha đẻ » của khái niệm nầy…Nói đến từ ngữ « ngồi đồng » thì dân Hà Tiên biết rành, vì ở Hà Tiên là nơi vốn có rất nhiều chùa chiền, cổ miếu, nơi mà hàng năm cứ đến ngày cúng vía thần thì sẽ có người « lên đồng » để cho bùa phép các con dân trong chợ, để phù hộ tránh các điều không may mắn…Tuy nhiên khái niệm « ngồi đồng » ở đây thì lại khác hẳn ý nghĩa đó, thầy cô và các bạn đọc bài của cây bút Dương Lê dưới đây sẽ rỏ thế nào là ngồi đồng,…Phải ngồi cho đến khi nào bạn Cao cho « thăng » thì hồn sẽ nhập trở lại xác và mọi xác đồng mới được ra về nhà thảnh thơi…Ngoài ra mình còn nhớ có một chuyện vui với Cao khi cả nhóm cùng ngồi uống cà phê tối ở quán Ti La, lúc đó có ai trong bàn nhắc một chuyện tình nào đó của « anh Mãnh », Dương nghe vậy nên lên tiếng:

– Chắc lúc nầy trái tim của anh Mãnh đập theo nhịp nhanh chóng đều…

Bạn Cao nghe vậy liền thốt lên :

– Ủa sao Dương lại biết từ ngữ nầy…(từ ngữ «nhanh chóng đều»…)

Sở dĩ bạn Cao nói như vậy là vì bạn hiện đang theo học ở Sài Gòn lớp Đệ Nhứt, mà ở lớp nầy thì có môn Vật Lý đang học về Cơ Học, nói về các chuyển động trong đó có chuyển động đều (tốc độ luôn bằng nhau và chuyển động nhanh chóng đều, tốc độ tăng đều đặn theo thời gian. Mình cũng không nhớ tại sao Lê Phước Dương biết được từ ngữ Cơ Học nầy…

Đặc biệt là trong chuyến đi Mỹ vừa qua để dự buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, mình có dịp gặp lại người bạn thân đi chơi chung ngày xưa, đó là Bạn La Văn Cao, bạn Cao đã đến sớm dự buổi họp mặt Đồng Hương Hà Tiên để gặp lại bạn bè Hà Tiên, bạn bè hơn 40 năm qua tuy chỉ có liên lạc qua tin nhắn nhưng chưa được dịp gặp lại, nay đã gặp lại tận mặt bạn Cao, mình rất vui. Tuy rằng cuộc gặp gở chỉ gò bó trong khuôn khổ họp nhóm đông đúc, thiếu phần riêng tư giữa hai người bạn lâu năm gặp nhau, vì điều kiện không gian và thời gian hạn hẹp nhưng cuối cùng cũng được vui lòng, thỏa mãn vì được hội ngộ với nhau.

Thân mời thầy cô đọc bài về câu chuyện « ngồi đồng » do cây bút Dương Lê viết rất hay và vui sau đây.  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 20/05/2020)

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Anh lớn hơn mình vài tuổi và vì có lần đổi tên là La Văn Tạnh nên mình không biết chính xác là sinh năm nào, anh có chiều cao từ 1,8 m trở lên, có lúc ảnh hưởng phong trào hippy của giới trẻ nên anh để tóc dài rất đẹp và lãng tử.

Đêm Noel năm 1970, sau khi lang thang viếng nhà Thờ rồi dạo chơi đường phố Hà Tiên, nhóm của mình gồm: Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hà Quốc Hưng, cùng ghé lại Quán Ti La thì lúc đó đã có bàn của bàn của anh Cao, anh Nguyên, Dõng, Mãnh…và vài người khác đã rất là rôm rả.

Lúc này anh Cao đang học ở Sài Gòn, nhân dịp Giáng Sinh nên về nhà chơi, nhà anh khá giả, ba anh có xe Lam chở hàng và khách lên xuống biên giới Kampuchia-Hà Tiên. mẹ anh mua bán lớn hàng Việt, Kam và Thái Lan. Tính tình anh rất hào sảng và rộng rãi nên khi thấy nhóm mình vào quán anh liền gọi cùng ngồi chung bàn cho vui. Thấy anh vui vẻ nên cả nhóm cùng kéo ghế ngồi chung, cùng hòa nhập chuyện trò tranh luận đấu lý… Chợt anh Cao lên tiếng đề nghị:

– Bây giờ Nguyên nói lên một câu ngắn rồi mình dịch ra tiếng Anh, Pháp, Miên, Tàu, các bạn thì phụ họa theo nghe!

Tất cả khoái chí và cùng đồng ý.

Anh Nguyên nói: Anh yêu em!

Cả bàn: Anh yêu em.

– Anh Dõng: I love you.

Cả bàn: I love you.

– Anh Mãnh: Je t’aime.

Cả bàn: Je t’aime.

– Anh Trung: Bon salanh ôl.

Cả bàn: Bon salanh ôl.

– Anh Cao: Úa ái lứ.

Cả bàn: Úa ái lứ.

…..

Càng về sau độ dịch càng khó và độ đồng hét càng lớn.

Khi đến 12g khuya thầy Hiển bước ra nói:

– Trò chơi này vui quá, mà thôi các em dừng lại cho Thầy dùm vì 12g khuya rồi.

Không ai bảo mà cả bàn cùng hô lớn:

– Dạ Thầy.

Anh Cao nói lớn với cả bàn:

– Đêm nay gặp được các bạn, các em…vui quá nên chầu nước này “Úa » trả khỏi phải hùn tiền…5g sáng sớm mai, Mãnh ra bến xe gặp anh để lấy tiền trả cho Thầy, nhớ tới sớm nghe.

Anh Mãnh nói:

– « Oui », mình sẽ vặn đồng hồ reo lúc 4g để được uống một ly xây nại nóng rồi tiễn bạn lên đường.

……

Cái câu chuyện uống nước và anh Cao sẽ trả tiền thì ở Hà Tiên nầy nó đã trở thành một huyền thoại, có một danh từ đặt tên cho huyền thoại đó, đó là từ “ngồi đồng”. Ở Hà Tiên lứa tuổi như mình hoặc nhỏ hơn vài tuổi đều từng được anh Cao cho ngồi đồng. Để mình giải thích cho các bạn biết ý nghĩa của từ “ngồi đồng” nầy.

Có lần, lúc anh La Văn Cao học lớp Đệ Tứ Trường Trung Học Hà Tiên, buổi sáng một hôm vào ngày nghỉ, anh chạy xe đạp chở mấy thùng đường đi giao cho người mua, khi gặp bạn, gặp đàn em là anh kêu:

– Lại quán chị Lệ cây me uống cà phê nghe, anh giao thùng đường này rồi anh lại ngay.

Không biết anh chở bao nhiêu thùng đường đi giao mà những khuôn mặt thân quen cứ lai rai lại quán ngồi đó, lớp nào theo lớp đó, điểm danh cũng được mười mấy em. Nhìn bộ dạng của mọi người thì chắc là ai cũng mong ngóng anh Cao thôi.

Ngày xưa, là học sinh, đa số chỉ có hai bộ đồ, túi rổng không, đi đâu cũng chỉ là « lô ca chân ». Có được chiếc xe đạp đã là may. Thế là cả đám, người đá bào đậu đỏ, kẻ cà phê đá, xịt xà thòn…rồi cùng ngồi đồng, ai đói bụng mà có tiền túi thì tự trả rồi về, ai không có tiền mà lở uống nước rồi thì ngồi đó…nhấp nha nhấp nhổm còn lại khoảng mười em, bụng đói meo cùng ngồi chịu trận tới 2g trưa thì anh Cao đạp xe tới và nói :

– “Úa” kẹt công chuyện, mấy “lứ” có uống gì nữa thì kêu đi!

Mọi người năn nỉ anh trả tiền để “giải đồng” rồi thì « thăng » và thất thểu đi về với cái bụng đói meo.
……..
Trở lại chuyện uống nước ở quán Ti La, buổi sáng hôm sau sự kiện đêm Noël ở quán Ti La, cả nhóm cùng gặp lại ở quán cà phê ngoài chợ và anh Mãnh đã kể lại như sau:

Tao về nhà vặn đồng hồ reo lúc 4g mà không biết sao khi giựt mình thức dậy là đã 5g hơn, tốc dậy không rửa mặt đánh răng chỉ mặc cái quần dài vào rồi bay ra bến xe, đến bến xe thì hởi ơi! Xe đã chạy rồi.

Có một bài hát tựa là: “Thúy đã đi rồi”, rất buồn mà nay thì: “Cao đã đi rồi” còn buồn hơn. Trở về nhà thì không có tiền trả cho Thầy Cô vì đã nhận nợ, biết ăn nói làm sao!

Bổng có anh xe ôm chờ khách lên tiếng hỏi:

– Tính đi đâu sớm vậy Mãnh?

– Chạy theo kịp xe Lộc Thành không?

– Chắc kịp mà!

– Vậy thì đi.

Lúc đó chạy xe ôm chỉ là chạy chiếc Honda SS67, chạy 40km/g đã là nhanh, ngoài ra còn bị đắp mô, còn mìn…..Bên Tô Châu có anh tên Dự, chạy xe ôm chở khách. đến chổ cây me gần Tà Săng, cán ngay trái mìn, mìn nổ và cả hai người đều bị nạn…..Thật là tâm trạng ngổn ngang, ruột rối như tơ vò, cái vụ uống nước thiếu chịu mấy trăm ngàn này mà tới tai bà ngoại , bà má thì không biết giải thích thế nào!

May mắn làm sao, xe ôm vừa qua cua quẹo Mũi Ông Cọp thì thấy xe Lộc Thành đang dừng lại bên ven đường, lơ xe đang thay vỏ, người đi xe thì không may mắn phải chờ khoảng 15, 20 phút, chỉ có Mãnh này là hên thôi.

Cao thì đang vươn tay xoạc chân làm động tác thể dục buổi sáng bên bờ biển gió lộng.

Mừng quá Mãnh ta gọi lớn:

– Cao ơi Mãnh nè!

Một nụ cười với hàm răng ám khói thuốc:

– Ngủ cho dữ, “Úa” tính Tết về trả luôn…Vừa nói Cao vừa móc túi lấy tiền đưa.

Mừng quá, Cao lên xe đò chạy đi, tao lên xe ôm về, không kịp chào nhau…trả tiền xe ôm, tiền quán còn dư được tô hủ tiếu và ly cà phê mà…hú hồn.

……

Anh La Văn Cao là như vậy, anh chơi với anh em là chơi bạc mạng, chơi hết tiền túi kiếm người quen mượn tiền chơi tiếp. Là con trai cả, anh em đông, có hiếu với cha mẹ, chơi là chơi mà học là học, anh học rất giỏi, Tú tài 1 đậu hạng Bình, Tú tài 2 hạng Binh thứ, thi vào Kỷ Sư Điện Phú Thọ, 2000 thí sinh lấy một khóa 50 người, anh đậu thứ 52 vì vậy bị động viên học khóa 4/72 TB Thủ Đức, anh chọn Pháo Binh học thêm 3 tháng về chuyên môn rồi ra trường về đơn vị đóng quân ở Huế, Vùng 1 Chiến Thuật.
……..

Hà Tiên, 14/5/2020, ghi lại để nhớ mãi về người anh: La Văn Cao.

Dương Lê

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)

Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, từ lâu mình có ý nghĩ là viết một bài về những người quen biết và những người bạn tuy không học chung cùng trường lớp Trung Học Hà Tiên xưa nhưng rất gần gũi nhau vì đó là những người quen biết và bạn bè thường hay tới lui giao thiệp vì cùng ở chung quanh khu chợ Hà Tiên (đây là nói về khu chợ rất xa xưa của Hà Tiên, khu có ngôi nhà lồng chợ ở giữa hai con đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt).

Mình sắp nói về những người quen biết và cũng là bạn bè hàng xóm, có người mình đã biết và có chơi qua lại từ rất lâu, ngay cả những ngày còn nhỏ thời trẻ nít, có người thì mình xem như đàn anh, nhưng cũng rất quen thuộc vì mỗi ngày đều có dịp gặp gở,..Trong số bạn bè người quen ở đây, một ít người thì đã ra người thiên cổ, ra đi đã lâu, có thể người Hà Tiên chúng ta đã quên rồi, vì thế mình muốn nhắc lại trong bài viết nầy, mong quý bà con, bạn bè còn ở Hà Tiên và những vị ở các nơi khác trên trái đất nầy, đọc bài và hãy suy tưởng nhớ lại, xem mình có quen biết người được nhắc đến ở đây hay không, tất cả đều là người quen biết và đều có thể được xem như là « những nhân vật quen thuộc » của đất Hà Tiên xa xưa.

Anh Tây Đen:

Từ nhỏ đến giờ, mình không biết tên thật của anh, chỉ nghe mọi người gọi anh là « Tây Đen »,…Cho đến tháng 8 năm 2018 khi mình đăng một thông tin trên trang fb để hỏi thăm về anh thì các bạn có góp ý nên mình mới biết được tên thật của anh. Anh tên thật là Phan Văn Sinh, đó là tên do cha mẹ nuôi của anh đặt cho. Cha nuôi của anh tên là Phan Văn Anh (tự Mạnh). Theo nội dung của phần thông tin của mình đăng lên để hỏi tin tức về anh Sinh, mình có viết như sau: « Các bạn ở Hà Tiên ngày xưa và nhất là các bạn ở Kiên Lương cho mình hỏi thăm về một người: Người nầy hồi xưa ở Hà Tiên, có tên thật là Mạnh nhưng mọi người đều gọi là « Tây Đen » vì anh là người lai có lẽ cha anh là người Phi Châu …Lúc xa xưa trong những năm 1960 ở sát bên nhà mình, do hai ông bà VN nhận làm con nuôi, (căn nhà chính là ngay nhà chế Gái Đen ngày xưa), lúc đó còn là một dãy nhà ngói đối diện với biệt thự ông Bầy đường Bạch Đằng, sau đó căn nhà đó do vợ chồng ông Huống ở, ông Huống làm nghệ giặt ủi quần áo và bà Huống thì bán rau hành ngoài chợ đường Tham Tướng Sanh. Sau nầy anh bạn Tây Đen về Kiên Lương ở, có một lúc có mâu thuẩn theo kiểu tuổi trẻ muốn đánh nhau với nhóm học trò Trung Học Hà Tiên của mình. Trong thời gian ở Kiên Lương anh bạn Tây Đen đăng vào lính và bị thương phải cưa hết một chân nên anh chỉ có một chân phải chống nạn đi, anh Tây Đen tuy rất đen nhưng nói chung vẫn đẹp trai, mũi cao, thân mình cân đối, hơi ốm..Sau nầy không biết anh ấy sống chết thế nào, các bạn có biết tin không, nhất là các bạn thường sống ở Kiên Lương sau nầy ».

Sau khi thông tin nầy được đăng lên ngày 20/08/2018 thì có nhiều bạn quen biết ở Hà Tiên và Kiên Lương góp ý và cho mình nhiều tin tức về anh Sinh. Như mình đã viết trong phần trên, từ xưa đến giờ mình cứ ngở tên anh là Mạnh, hóa ra đó chính là tên thân mật của cha nuôi của anh. Trong thời trẻ con của mình, khoảng 9, 10 tuổi, nhà cha mẹ nuôi của anh Sinh ở sát bên phải nhà mình, chổ  mà ngày xưa là một dãy nhiều căn ngói, kết sát bên nhà mình đó là nhà cha mẹ anh Sinh, kế đến là nhà ông Sừng làm nghề sửa chữa máy móc, kế nữa nhà của gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, ….v..v…lúc xưa chưa có căn nhà lầu của chế Gái Đen.  Thời đó lối xóm có nhiều trẻ con, mình cũng thuộc loại trẻ con của xóm đó, mình thường thấy anh Tây Đen nầy chơi với thằng bé con trai của ông Sừng nhà kế đó, nghĩ cũng vui vì thời xưa đó chỉ nội cái xóm khu nhà mình ở cũng có hai ba loại tây lai, tây trắng cũng có, tây đen cũng có,…(đó là anh em nhà mình, rồi bác Tây Đô ba của bạn Kiệt, rồi anh Sinh Tây Đen…).

Đây là những chi tiết mà người ta biết về anh Sinh: anh rất đam mê tốc độ, anh chạy xe honda rất tài tình về kỹ thuật lạng lách,…Sau khi anh và gia đình dời về Kiên Lương sinh sống, có thời gian anh vào lính, anh lái xe cho ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng BĐQ. Mỗi lần có dịp hành quân về Kiên Lương thì anh Sinh phô diễn tài chạy xe jeep, với kỹ thuật lái xe chỉ chạy trên hai bánh vòng vòng khu chợ tròn khiến cho người dân đứng xem hai bên đường vỗ tay khen rầm trời… Thời gian sau anh không may mắn vì bị thương và phải bị mất một chân, anh trở về cuộc sống dân sự ở Kiên Lương, mình cũng có nhiều dịp gặp gở anh khi đi Kiên Lương thăm bà con anh chị làm việc ở đó. Sự liên hệ giữa cá nhân mình và anh Sinh không có gì đặc biệt, ngày xưa là bạn con nít lối xóm chơi chung với nhau, khi lớn lên thì gặp nhau chào hỏi và thân thiện không có mâu thuẩn gì cả…Chỉ có một thời gian khi anh về Kiên Lương sống và chưa vào lính thì không biết tại sao có lúc nhóm học trò trung học Hà Tiên và anh Sinh ở Kiên Lương có hiềm khích gì đó, hai bên khích nhau gần như muốn đánh lộn với nhau, lúc đó học sinh Hà Tiên cũng không dám xuống Kiên Lương chơi vì sợ anh Sinh kiếm chuyện,…chỉ vậy thôi nhưng trên thực tế thì chưa hề có việc đánh nhau thật sự, đó chỉ là những xích mích theo kiểu thời học sinh, chắc cũng là vì lý do muốn dành chiếm con tim của một hai người đẹp Hà Tiên hay Kiên Lương nào đó…

Có nguồn tin bạn cho hay sau nầy khi anh rời khỏi đời lính vì bị thương tật, anh về sống cuộc đời bình dị làm ăn với gia đình. Mình không biết được tin tức của anh nữa. Nghe các bạn thông tin là anh có đi buôn bán thuốc lá tuyến đường Hà Tiên-Kiên Lương, có lúc thì anh bán vé số, về sau không buôn bán nữa thì anh về xã Hòa Điền sống với vợ con và mất ở đó. Mình cũng không biết chính xác anh Sinh mất năm nào, chỉ mới biết tin do bạn bè chia sẻ cho biết mà thôi, nghĩ lại thấy rất tội nghiệp cho cuộc đời của anh, vì rốt cuộc anh cũng là một nạn nhân của thời chiến tranh tang tóc…phải chịu cảnh thương tật đến khi rời xa cuộc sống. Ngày xưa khi chào đời anh được cha mẹ nuôi nhận đem về sau khi mới sanh ra có 3 tiếng đồng hồ ở Vĩnh Long. Thời gian đi học ở Hà Tiên bậc Tiểu Học anh học chung với anh Tòng con dì Tám Tiền cũng ở gần nhà mình đường Bạch Đằng. Khi anh Phan Văn Sinh mất, gia đình chôn cất anh ở Hà Tiên.

Về gia đinh cha mẹ nuôi của anh Sinh, mình cũng không biết nhiều, chỉ còn nhớ cha của anh ngày thật xa xưa mình có gặp mặt vì là người lối xóm, nhưng hoàn toàn không biết gì về những người thân khác trong gia đình của anh Sinh. Sau nầy mới được bạn bè thông tin thêm cho biết là anh có một người chị trong gia đình tên là Phan Thị Lang, chị Lang hay lên xuống Hà Tiên đi buôn bán và chị cũng là bạn thân với chị Huỳnh Thị Huệ người chị bạn dì với mình sống ở Kiên Lương. Chị Phan Thị Lang ngày xưa cũng là một cô giáo dạy ở trường Tiểu Học An Bình, Kiên Lương, nhà chị ở khu chợ dài ở Kiên Lương.

Anh Phan Văn Sinh với chiếc nạn gỗ lúc anh bị thương tật ở chân.

Chị Phan Thị Lang và bức chân dung của người cha là ông Phan Văn Anh, cũng là cha nuôi của anh Phan Văn Sinh

Bìa trái hàng đứng: chị Phan Thị Lang (chị của anh Phan Văn Sinh), bìa trái hàng ngồi: bạn Lý Mạnh Thường.

Tái bút: Sau khi viết phần về anh Phan văn Sinh xong, đến ngày hôm nay 25/06/2020, mình có nhận được mail thông tin của người con gái lớn của anh Sinh, người con gái nầy có cho mình biết vài thông tin về gia đình của anh hiện tại. Anh có tất cả 4 người con, người con út là con trai vẫn còn độc thân, ba người con lớn thì đã có gia đình. Cuộc sống tất cả đều ổn định. Người vợ của anh vẫn còn sinh sống ở xã Hòa Điền tuy sức khỏe có phần yếu kém. Theo hình ảnh của thẻ căn cước ngày xưa của anh Sinh thì tên chánh thức trên giấy tờ của anh là PHAN VĂN XIN. Theo thông tin gia đình thì anh Phan Văn Xin mất ngày 18/05/2001. Mình xin cám ơn người con gái lớn của anh Xin về những thông tin nầy và về những tấm hình mà cô đã chia sẻ qua email.

Chân dung anh Phan Văn Xin trong giấy căn cước ngày xưa. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Giấy căn cước ngày xưa của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Chân dung của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Bạn Phách:

Tiếp tục kể chuyện hàng xóm đường Bạch Đằng, ngày xưa lúc mình còn nhỏ, mình thường chơi thân với bạn Phách, bạn bè khu chợ thường gọi bạn là Phách, nhưng tên chữ của Phách chính là Chung Nghiệp Phát. Ngày xưa mình với Phát chơi nhau rất thân, mình thường hay qua nhà Phát chơi, má của Phát rất tử tế, rất vui vẻ nói chuyện với mình tuy nhiều khi thì cũng rất nghiêm. Ba của Phát làm việc ở khách sạn Đại Tân phía sau nhà mình ở đường bến Trần Hầu. Gia đình ba má Phát có hai người con trai, Phát là lớn và có một em trai tên là Tài. Nhà của Phát ở sát bên phải căn biệt thự nổi tiếng ngày xưa của ông Bầy, ở đường Bạch Đằng. Ở chợ Hà Tiên, có nhiều gia đình người Hoa có tiệm buôn bán chung quanh chợ, thường là những người có quan hệ bà con với nhau. Má của bạn Phát chính là người chị của ông Thái Dũ (tên của ông là Huỳnh Diệc Hỹ, ở Hà Tiên ai cũng biết ông, vì gia đình ông có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Hà Tiên, nhất là trong những năm xưa 60-70, người dân Hà Tiên tiêu thụ xăng dầu do trạm cây xăng của gia đình ông cung cấp). Má của bạn Phát còn có một người chị lớn nữa chính là bà Thái Sầm, một trong những người cố cựu ở Hà Tiên và cũng là chủ của nhiều dãy phố chung quanh khu chợ Hà Tiên, bà Thái Sầm cũng là chủ nhân của khách sạn Tô Châu xưa ở bến tàu sông, góc đường bến Trần Hầu – Tô Châu.

Ngày xưa trước mặt căn biệt thự của ông Bầy có một lề đường tráng xi măng sạch sẽ, nhóm con nít khu xóm thường tụ  tập tại đó để chơi các trò chơi trẻ con. Trò chơi thì có rất nhiều loại, thay đổi tùy theo « mùa màng », mình cũng không biết ai là người có ảnh hưởng quyết định khi nào là mùa phải chơi trò chơi nào, nhưng rỏ ràng là theo nhóm chơi của trẻ nít xóm mình thì có khi có mùa chơi dây thun, có mùa chơi bao thuốc lá, có mùa chơi hình cắt nhỏ từng miếng, có mùa chơi nút ve chai nước ngọt, đặc biệt có mùa chơi « chẻ mía » rất hấp dẫn. Tất cả các trò chơi nầy được diễn ra ở hai bên lề đường Bạch Đằng ngay khu mình ở. Tham gia các trò chơi nầy đều có các bạn lối xóm của mình, dĩ nhiên là bạn Phát cũng có mặt trong các trò chơi nầy, thực ra mình cũng ít chơi trực tiếp, chỉ thích đứng xem cả buổi các bạn chơi với nhau xem ai ăn ai thua mà thôi. Ngay cả lúc căn biệt thự của ông Bầy cho người Mỹ mướn ở trong đợt những cố vấn Mỹ đầu tiên đến Hà Tiên, thì mình cũng qua nhà của Phát để xem họ dọn đồ đạc đến trong căn biệt thự, vì lúc đó, trẻ con thường hay theo các người Mỹ nầy để xin kẹo Chewing Gum và các lon nước ngọt…Có khi thấy thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương tình cờ chạy xe đạp ngang thì phải trốn dấu mặt vì sợ bị thầy kêu lên văn phòng rầy la ngày hôm sau…

Chơi với nhau nhiều năm sau đó thì bạn Phát đi qua nước Campuchia một thời gian, lúc đó có lẽ để tránh tình trạng chiến tranh ở Việt Nam, mình và Phát mất liên lạc nhiều năm trong thời gian đó. sau đó Phát cũng trở về nhà ở Hà Tiên sinh sống, mình và Phát gặp lại và cũng thường xuyên qua lại với nhau. Thời gian sau 1975 mình và Phát mất liên lạc vì mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Hiện nay mình và Phát đã « gặp » lại nhau trên mạng, Phát sống với gia đình ở nước Canada.

Anh Thái và bạn Khuôn:

Kế căn biệt thự của ông Bầy về bên trái thì có căn nhà ngói do gia đình ông Trương Thái Phong mua cho ông ở riêng trong căn nhà nầy, sau đó có em Huỳnh là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Kim Ô ở căn nhà nầy. Kế căn nhà ông Trương Thái Phong về bên trái là nhà của một gia đình rất đông người ở. Đó là gia đình của anh Thái, anh Thái họ Tạ, tên đầy đủ là Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà nầy, đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Lúc xưa trong căn nhà đó có hai gia đình cùng ở chung, cũng đều là bà con ruột với nhau. Trong gia đình bạn Thái thì phía anh chị lớn có anh Hạo (là bạn với anh Lê Quang Chánh, anh bạn dì với mình), rồi chị Khiếm (chồng chị Khiếm là anh Ngoán, lúc xưa làm việc lái xe cho ông quận trưởng Hà Tiên, hai anh chị có con trai và gái, người con trai tên Tùng, cháu Tùng thường qua nhà mình ngồi ở hàng ba trước nhà mình xem mình đàn guitare vì Tùng rất thích chơi đàn nầy). Kế đến là anh Thái, sau anh Thái còn có nhiều em trai và gái nữa, trong số đó có ba người con gái, có cô tên Kim là phu nhân của anh Lý Cảnh Tiên (anh Tiên là anh của bạn học mình là Lý Mạnh Thường). Vì là lối xóm ngày ngày hai bên nhà nhìn qua nhìn lại, nhất là những buổi chiều gió mát nhà anh Thái thường hay trải chiếu ngoài hàng ba và cả nhà quây quần ngồi chơi nói chuyện rất vui. Thông thường thì hằng ngày ba anh Thái thường đan lưới trước nhà vì cả gia đình làm nghề đánh bắt cá, có tàu lớn ra vào ngoài cửa biển Pháo Đài. Vì anh Thái lớn tuổi hơn mình, là đàn anh nên mình không có học chung lớp với anh, chỉ có một người nữa trong nhà, hồi xưa mình chỉ biết tên bạn là Khôn (nhưng sau nầy xem tin tức của anh Thái mới biết tên đúng là Khuôn), bạn có tên đầy đủ là Lâm Mậu Khuôn, là anh em cô cậu với anh Thái, ngày xưa hồi học Tiểu Học, mình học chung lớp với bạn Khuôn, bạn Khuôn có một đặc điểm là bạn bị cận thị rất nặng, mà hồi rất xưa ở Hà Tiên, cũng không có việc phải đi khám mắt và mang kính cận nên bạn Khuôn không có đeo kính, trong lớp học mỗi lần muốn đọc một tờ giấy gì mình thấy bạn Khuôn đưa tờ giấy gần sát trên mắt để đọc… Một thời gian sau đó, cha mẹ bạn Khuôn, dọn nhà ở riêng ở phía dưới đường Trần Hầu, mình cũng biết căn nhà nầy vì có nhiều lần đi chơi ngang nhà. Ngày xưa lúc còn nhỏ chơi với nhau khá thân nên lúc Khuôn dọn nhà đi xuống xóm đường Trần Hầu thì mình cũng hơi buồn vì không gặp lại bạn thường xuyên. Từ lúc Khuôn dọn nhà đi thì mình và bạn ít có dịp tiếp xúc nhau, cho đến khi sau nầy có phong trào vượt biên đi ra nước ngoài, Khuôn cũng theo gia đình đi  nên không còn biết tin tức nhau. Cho đến lúc gần đây, nhìn hình ảnh anh Thái về Việt Nam đi thanh minh ở Hà Tiên, có chụp hình chung với bạn Khuôn, mình nhìn hình và nhận ra ngay Khuôn, mặc dù là đã xa nhau có hơn trên 50 năm…Hiện nay, anh Tạ Hữu Thái sinh sống ở nước Úc, còn bạn Lâm Mậu Khuôn thì ở nước Mỹ.

Từ trái sang phải: bạn Chung Nghiệp Phát, anh Tạ Hữu Thái và bạn Lâm Mậu Khuôn. Những người bạn ngày xưa nhà ở cùng đường Bạch Đằng, Hà Tiên.

 Anh Trần Bình:

Ngày xưa khi còn học bậc Tiểu Học, mình có học chung lớp với anh Trần Bình, anh Trần Bình người khá cao, nét mặt rất đẹp trai, nhà anh ở ngay góc đường Lam Sơn-Bach Đằng, gần như đối diện với nhà mình (ngày nay chính là quán bán mì của anh Cáo Di và chị Hoa). Gia đình anh Trần Bình rất quen thuộc với nhà mình, má của anh thì quen biết nhiều với má và ông bà của mình, còn ba của anh thì thường hay qua nhà mình hút thuốc phiện với ông ngoại mình…Ở Hà Tiên ngày xưa có rất nhiều bậc ông cha có tên là Tỹ, đó là một tên quen thuộc của người Việt gốc Hoa, ông ngoại mình tên là Trần Đệ, vì ông rất cao lớn, lưng lại hơi tôm nên người ta gọi ông là ông Tỹ Tôm, còn ba của anh Trần Bình người cũng cao lớn, người ta gọi tên là ông Tỹ « Cọn », đó là tên theo phát âm chữ Hoa ra tiếng Việt nên mình viết ra đây cũng không chính xác.

Có một kỷ niệm lúc ba của anh Trần Bình qua nhà mình, ông đi bằng cửa sau, từ phía mặt đình Thần Thành Hoàng về phía nhà mình, vì ông thường qua nhà mình chơi với ông ngoại mình nên cũng rất dè dặt, kin đáo nên thường đi theo cửa phía sau nhà. Lúc đó sân phía sau nhà mình còn đất rộng cây cỏ mọc nhiều, anh em mình đang chơi trò phóng một mũi tên nhọn qua lại, lúc anh mình phóng mũi tên nhọn về phía mình, nghĩ lúc đó sao mình cũng ngu dại thật, mình đưa ngay bàn chân phải ra đón mũi tên, ai dè mũi tên cấm phập ngay trên bàn chân, chắc cũng đau lắm, nhưng cũng không sao, không có chảy máu, ngay lúc đó thì ba anh Trần Bình vừa đến ngay cửa sau, khi thấy kiểu chơi như vậy, ông nói: « Mấy đứa tụi bây chơi gì mà nguy hiểm quá vậy… »

Ngày còn con nít, anh em nhà mình chơi rất thân với anh Trần Bình, lúc đó mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về các nội dung truyện Tàu, loại truyện hồi xưa tiệm thuốc Tây Thanh Bình ở dưới chợ cá cũ cho mướn sách để đọc. Mình đọc gần như hết tất cả các truyện Tàu có trong tiệm Thanh Bình nên chịu ảnh hưởng nặng nề về nội dung các câu chuyện nầy, nhất là truyện Tàu Tề Thiên Đại Thánh, Thái Tử Na Tra lóc thịt, các câu chuyện Thần Tiên về Đông Du bát tiên hay Phong Thần…Lúc anh Trần Bình qua nhà mình chơi, mình thường hay dừng màn trướng làm như trong gánh hát, rồi chơi trò theo các câu chuyện trong truyện Tàu, anh Trần Bình lấy cái thùng giấy sửa ông Thọ và phía mặt ngoài có vẽ hình các bông sen, rồi cầm thùng giấy đó đưa lên ngang ngực mình ngay chỗ mình đứng giống như là mình đang ngồi trên tòa bông sen theo kiểu các hình Bồ Tát, Đức Phật ngồi trên tòa sen…Hồi thời đó, anh Trần Bình có tài vẽ hình rất hay, anh thường vẽ hình các vị Phật, vẽ hình ông Lý Tịnh trên tay cầm bửu tháp, cha của Na Tra, theo kiểu nội dung thần tiên trong truyện Tàu. Vì ngôi nhà anh ngay trước mặt nhà mình, chỉ cách con đường Bạch Đằng, nhà lại có một tầng lầu và các cửa sổ lầu nhà anh cũng ngó sang nhà mình nên thường khi anh ở trên lầu, mình cũng thấy được anh Trần Bình ngồi vẽ trên đó và hai bên cũng liên lạc nói chuyện với nhau được mặc dù cách nhau một con dường và có độ cao khác nhau…

Lúc còn học chung ở Tiểu Học, mình và anh Trần Bình còn có một người bạn chung tên là Thành, Thành hơi nhỏ con, là con trai của một gia đình công chức sống trong cư xá của Ty Quan Thuế thời đó (tức là khu nhà ở sau Ty Quan Thuế nhìn ra đường Trần Hầu, khoảng có cầu đoan quan thuế ở bến sông Hà Tiên). Có lần anh Trần Bình có mua một số đồ chơi bằng nhựa mủ, các đồ chơi nầy là mô hình các người lính, các chiếc xe nho nhỏ rất xinh đẹp mà mình cũng rất thích nhưng thời đó không có tiền túi nhiều để mua chơi, một lúc thời gian sau, khi anh sắp lên Sài Gòn tiếp tục học thì anh Trần Bình cho bạn Thành đó tất cả các món đồ chơi đó.

Khi mình bắt đầu lên Trung Học thì mình và anh Trần Bình ít có dịp chơi với nhau, vì có lúc anh lên Sài Gòn ở, bạn bè ít liên lạc với nhau. Anh lập gia đình với người Hà Tiên và từ đó về sau mình không có tin tức gì về anh nữa. Sau nầy qua con gái của anh, mình biết được là anh đã qua đời vì bệnh từ lâu. Anh Trần Bình mất năm 2016, gia dình chôn cất ở trên cao, ngay đỉnh núi Đề Liêm Hà Tiên.

Anh Trần Bình, rất đẹp trai, vừa là bạn thân lúc còn nhỏ, vừa là bạn lối xóm.

Bạn Sện, hai anh em bạn Đệ và Úi:

Một trong những người bạn trong khu chợ tuy không có lúc nào học chung trường lớp nhưng có nhiều thời gian chơi khá thân với nhau là bạn Sện, người Hà Tiên gọi bạn bằng tên thân mật là Sện nhưng tên thật của bạn là Huỳnh Vạn Tường. Bạn Huỳnh Vạn Tường là con trai của một gia đình người Việt gốc Hoa có tiệm làm ăn ở đường Tham Tướng Sanh, bên hông ngôi chợ Hà Tiên xưa. Tiệm của gia đình bạn Tường có hiệu là Phục Hưng, ba của bạn Tường làm nghề trồng răng và má của bạn thì có nghề uốn tóc. Không biết từ lý do gì mà mình và bạn Tường chơi thân với nhau và từ lúc nào, chỉ biết là má của Tường rất mộ Đạo Phật nên thường hay lui tới nhà mình để tham gia việc cúng kiến quý thầy tu, và mỗi lần có người em của bà ngoại mình (bà ngoại mình thứ chín, có hai người em tu trong chùa ở Châu Đốc nên mấy đứa cháu như mình thường kêu là bà Mười lớn và bà Mười nhỏ), bà Mười nhỏ thỉnh thoảng vào Hà Tiên thăm bà ngoại mình, lần nào má của Tường nghe tin cũng đến nhà mình để tiếp xúc với bà Mười nhỏ về việc tu hành. Tường thường kể cho mình nghe về việc bạn học nghề võ, hình như là học với anh Hà Văn Long (anh Hà Văn Long là cháu ngoại của bà Cô Tư có thời gian trụ trì nhiều năm ở chùa Lò gạch ngày xưa, người Hà Tiên thường gọi anh Long bằng biệt danh « Long bảy búa », anh Hà Văn Long nay đã mất). Tường thường kể là học theo võ bùa, mỗi lần có bùa nhập vào là đánh võ rất hay và mạnh. Ở nhà của bạn Tường có một sân thượng phía sau nhà, đứng trên sân thượng nầy có thể nhìn thấy phía bên đường Bạch Đằng, và mặt tiền khu nhà đường Lam Sơn, Tường thường hay dẫn mình lên sân thượng sau nhà nầy và biểu diễn múa võ cho mình xem…

Hồi xưa lúc chơi với nhau, Tường cũng rất thích về môn đàn guitare và nghe nhạc hòa tấu đàn điện do nhóm The Shadows chơi. Bạn Tường thường dẫn mình đến nhà hai bạn Đệ và Úi, dó là hai anh em nhà ở đầu đường Lam Sơn – Tham Tướng Sanh, ngay phía trước nhà có một gốc cây me rất to lớn và phía trước đó cũng là chỗ thường xuyên của chiếc xe bánh mì « pa tê » rất nổi tiếng ở Hà Tiên, đó là chỗ bán của bà bán bánh mì « pa-tê », bà cũng có bán kèm theo vài trái mít rất to lớn.  Vì nhà của anh em Đệ và Úi có một cái máy hát dỉa loại xưa, hát bằng dỉa đá lớn màu đen, loại 78 vòng, có một dỉa đặc biệt về các bài hòa tấu của nhóm The Shadows, thường là nghe các bài Apache, FBI, Kon-Tiki,…Hồi xưa mình và các bạn đó rất mê nghe các bài hòa tấu guitare điện nầy nên nhóm bạn ở khu chợ nầy thường tụ họp ở nhà của hai bạn Đệ và Úi để nghe các bài nầy, nhiều khi cứ nghe đi nghe lại rất nhiều lần, lúc nào cũng thấy thật hay, mà vào thời đó ai cũng mê các bài hòa tấu đàn điện nầy của nhóm The Shadows, thường là các bài nầy được hát ở những rạp chiếu bóng ở Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ trong khi chờ vào giờ chiếu phim. Thời đó mình rất mê đàn guitare, nhất là mê tiếng đàn guitare điện, nhưng đâu có được đàn điện mà chơi, chỉ chơi bằng loại đàn kêu là đàn thùng (guitare acoustique) và thường là nghe bập bởm âm điệu của các bài của The Shadows rồi cứ đàn theo trí nhớ lại, chỉ biết được tên của hai bài chánh là Apache và FBI, còn nhiều bài khác thì biết nghe, ghiền nghe nhưng hoàn toàn không biết tựa bài là gì.

Bây giờ nói thêm về hai anh em bạn Đệ và Úi, bạn Đệ tên thật là Liêu Thọ Hoa, Đệ người cân đối, nhỏ con, cũng khá đẹp trai, rất hiền, còn Úi tên thật là Liêu Thọ Vĩ. Hai anh em Đệ và Úi còn có một người anh trai lớn nữa, lúc đến nhà chơi mình cũng có gặp người anh lớn nầy. Hàng ba trước nhà của hai anh em Đệ và Úi ngày xưa có cho ông thợ hàn thiếc mướn để hành nghề, hồi xưa mình cũng thường hay đến đây ngồi xem ông thợ nầy làm việc, mình rất mê xem ông cắt từng miếng thiếc, rồi đập, uốn, hàn thành những dụng cụ như bình tưới nước có cái búp sen ở đầu vòi hoặc máng xối hứng nước..v..v..Lúc ngồi xem ông làm việc thì cũng có vài người bạn của ông đến chơi và nói chuyện vui với nhau, thời đó có một ông làm thợ uốn tóc ở tiệm của nhà bạn Tường, mấy ông nầy thường có thú vui là cá độ với nhau số kiến thiết xổ ra là số mấy (loại số xổ trước hết gồm hai con số, người dân Hà Tiên thời đó dùng kết quả số nầy để chơi số đuôi, còn gọi là đánh số đề), mấy ông nầy chia 100 con số ra làm bốn phần (phần một từ số 01 đến số 25, phần hai từ số 26 đến số 50, phần ba từ số 51 đến số 75, phần bốn từ số 76 đến số 00 (tức số 100), mỗi ông cá vào một trong bốn phần nói trên nên khi số xổ ra đều có người trúng …Đó là cách chơi cá xổ số của mấy ông mà mình vẫn còn nhớ đến bây giờ. Về sau nầy, khi ông thợ hàn thiếc không còn mướn phía trước nhà của anh em bạn Đệ, Úi nữa thì có chị Lâm Thủ Điệp, phu nhân của bạn Lý Cui (bạn Lý Cui học chung lớp với mình trong thời Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ từ lớp đệ thất đến hết bậc Trung Học Hà Tiên) mướn để làm tiệm may y phục phụ nữ.

Nhắc lại thêm vài chi tiết vui ngày xưa với bạn Tường, ngày xưa ở Hà Tiên có thông lệ là nếu có một người bạn quen phải đi Rạch Giá vì có công việc riêng hay đi học hoặc đi trình diện đi lính thì sáng sớm hôm đó thường có bạn bè đi đưa người lên đường ra bến tàu, xe, và để thưởng công cho người đi đưa phải thức sớm, người sắp đi sẽ mời bạn ăn sáng một tô mì và một ly cà phê đá, thường là ngay tại quán Quảng Phát vì quán nầy ở gần bến tàu, xe nên rất tiện cho việc lên đường. Nhiều lần bạn Tường cũng rủ mình thức sớm ra đưa Tường đi Rạch Giá hay Sài Gòn như vậy, lần nào thì Tường cũng khao mình một tô mì và ly cà phê đá và dĩ nhiên là do bạn Tường trả tiền. Không những thế, ngay cả vào những ngày bình thường, bạn Tường thường hay có thói quen là thỉnh thoảng vào buổi trưa hay ăn một tô mì hay hủ tiếu ở quán ông Phan trong nhà lồng chợ, gần nhà của Tường, nếu trước đó bạn Tường đang ở nhà mình chơi đàn hay ngồi nói chuyện ở trước hàng ba mái hiên nhà mình thì Tường cũng rủ mình ra ăn luôn với Tường cho vui, lần nào bạn Tường cũng chiêu đãi trả tiền, vì thời xưa còn học sinh, mình cũng không có tiền túi dư để khao bạn bè ăn hủ tiếu thịnh soạn như vậy, tóm lại nếu nói nợ nần thì mình cũng đã nợ bạn Tường rất nhiều về những lần được khao ăn mì, hủ tiếu như vậy…

Sau nầy khi mình đi dạy học thì ít về Hà Tiên nên ít có dịp gặp lại các bạn cùng xóm chợ. Về sau khi có chiến tranh biên giới 1977-78, đa số người Hà Tiên đều tản cư đi các nơi khác, bạn Huỳnh Vạn Tường qua Rạch Giá và có mở tiệm hành nghề trồng răng tiếp nối nghề gia đình. Hiện nay Tường đã trở lại Hà Tiên sinh sống và thỉnh thoảng cũng có làm việc. Bạn Đệ (Liêu Thọ Hoa) thì định cư ở nước Mý, còn bạn Úi (Liêu Thọ Vĩ) thì vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hồ:

Mình quen biết với bạn Hồ qua sự trung gian của bạn Huỳnh Vạn Tường, nói chung Hồ, Sện và Phách đều là quen biết và bà con với nhau cả. Bạn Hồ tên chánh thức là Huỳnh Minh Hà, con trai của ông Thái Dũ mình đã có dịp nói ở trên, vì thế bạn Chung Nghiệp Phát và bạn Huỳnh Minh Hà là hai anh em cô cậu (má của Phát là chị của ba của Hồ). Trong thời gian mình và Tường chơi đàn guitare thì Tường có giới thiệu mình với Hồ để có dịp chơi đàn chung với nhau. Bạn Hồ người cao ráo, thanh nhả và cũng rất đẹp trai. Hồ nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng tôn trọng bạn bè. Tường và Hồ cũng thường đến nhà mình chơi buổi trưa và như đã kể ra ở trên, sau đó hai bạn thường rủ mình ra quán ông Phan ăn hủ tiếu, khi thì Tường khao, khi thì bạn Hồ khao…Vì không thể chấp nhận đi hoài nhiều lần phải để cho hai bạn trả tiền cho mình nên thỉnh thoảng mình cũng từ chối, viện cớ nầy nọ…Thời xa xưa đó cuộc sống học trò thì đâu có dư tiền túi, trong khi đó các bạn ở quanh chợ thì nhà khá giả nên có phương tiện chi tiêu rộng rải…

Vì bạn Hồ rất thích chơi đàn guitare nên có thời gian trước đó Hồ có chánh thức học đàn với anh Mẫn. Mình nói thêm về anh Mẫn, ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển. Mình còn nhớ có vài lần đầu gặp Hồ, mình và Tường, Hồ cùng nhau ngồi chơi trước hàng ba nhà mình, bạn Hồ có đàn cho mình nghe vài âm điệu, khi nghe Hồ đàn một lúc, tiếng đàn rất phong phú, lúc thì theo hợp âm đô trưởng (C), lúc thì theo hợp âm la thứ (Am), vừa có tiếng đàn trầm giử nhịp (basse), vửa có nhiều âm thanh cùng phát ra một lúc theo kiểu đàn nhạc cổ điển, mình giựt mình vì nhận thấy Hồ đàn rất hay và rất căn bản, hỏi ra mới biết đó là bài tập thứ nhất do anh Mẫn mới dạy cho Hồ tập đàn. Đó là bài N°1 Valze, nhịp 6/8 trong quyển sách học đàn « Méthode complète pour Guitare » của tác giả Ferdinando Carulli. Thời đó nghe tiếng ai mà học đàn theo quyển sách đó thì đó là tay chơi đàn gạo cội rồi đó…Nếu muốn chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển, ai cũng phải qua quyển sách đó, trong sách có 56 bài tập (exercices) và sau khi tập xong 56 bài tập đó thì phần cuối sách có 6 bài trình độ cao (études). Không biết anh Mẫn có chơi hết các bài trong quyển sách nầy hay không, vì thời đó rất khó mà có được quyển sách nầy. Sau nầy khi đi dạy học ở Mỹ Luông, mình gặp một người bạn đồng nghiệp tên Lê Việt Ánh, người Huế, dạy môn Anh văn, Ánh chơi đàn cổ điển rất hay, lúc đó mình mới bắt đầu đi vào phương pháp đàn guitare cổ điển, tập được hết 56 bài tập và 6 bài études của quyển sách Carulli nầy. Đến thời gian khi qua Pháp định cư, mình cũng tìm mua được quyển sách Carulli nầy, bản gốc theo tiếng Pháp để giữ đó làm kỷ niệm nhớ lại thời chơi đàn ở Việt Nam.

Sau năm 1975, đa số các gia đình người buôn bán chung quanh chợ Hà Tiên đều có phương tiện đỉ nước ngoài bằng tàu ghe, bạn Hồ cũng ra đi cùng với gia đình rất sớm, từ đó mình mất liên lạc với Hồ. Sau nhiều năm sau nầy, khi mình bắt đầu hay sưu tầm, tìm tòi các hình ảnh xưa về Hà Tiên, vào năm 2006, tình cờ mình thấy được một bức hình do một người lính hải quân Mỹ chụp tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp các em trẻ nít người Hà Tiên, có lẽ do người lính Mỹ kêu tập họp lại để anh chụp hình cho vui, đó là vào năm 1965, người lính Mỹ nầy tên là Cliff Rocheleau, khi thấy được bức hình nầy mình rất mừng và rất thú vị, vì trong hình thấy rỏ cảnh Đài Kỷ niệm với một phần chợ cá cũ của Hà Tiên, nhất là bên phải hình mình nhìn ra rỏ ràng có mặt bạn Hồ đang đứng trong đó. Hình được mang tên « vn0146 » trong một bộ tập hình về Việt Nam do anh Cliff Rocheleau đăng trên trang web của anh mang tên « Coast Guard Warriors » (Chiến binh bảo vệ bờ biển), dưới bức hình chụp trẻ em tại Đài Kỷ niệm Hà Tiên (1965) anh có chú thích « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien. » (Những đứa trẻ luôn bị thu hút bởi những chiếc tàu thuyền mỗi khi tàu thuyền dừng chân ở Hà Tiên).

Sau nầy trên mạng face book mình có « gặp » lại bạn Hồ, mới biết bạn tên là Huỳnh Minh Hà, mình rất vui tìm lại được bạn bè thời xưa ở Hà Tiên. Bạn Huỳnh Minh Hà hiện định cư ở nước Úc và thường xuyên đi du lịch với niềm đam mê là chụp hình phong cảnh đẹp khắp nơi.

 Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, bạn Hồ đứng bìa phải. « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien ». Cliff Rocheleau (1965)

Từ trái sang phải: Bạn Huỳnh Vạn Tường, bạn Huỳnh Minh Hà và bạn Liêu Thọ Hoa. Những người bạn ngày xưa cùng xóm chợ Hà Tiên.

Bạn Mạnh, bạn Sáu và bạn Hủi:

Bạn Mạnh, tên đầy đủ là Hồ Văn Mạnh, người hơi nhỏ con giống như mình, nhà bạn ở đường Đống Đa, Hà Tiên, phía khúc gần mặt sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Mạnh là con của bác Phụng Đài, (chắc tên là Hồ Phụng Đài, mình không nhớ rỏ), bác Phụng Đài (còn gọi là bác Tư Đài) là một họa sĩ tài danh của Hà Tiên, ở Hà Tiên ai cũng biết ông. Chính ông là tác giả của hai bức tường dựng ở hai bên cầu bắc Hà Tiên, nơi có ghi những địa chỉ buôn bán, quán ăn, khách sạn, tiệm bán vật kỷ niệm cho du khách đến Hà Tiên tham khảo, đó là khoảng những năm 60-65, sau nầy có hia của mình là hia Phón (tên thật là Thái Văn Bằng) tiếp tục vẽ thêm bổ túc cho hai bức tường nầy. Hồi lúc học bậc Tiểu Học, vì bạn Mạnh có vừa tên vừa họ cũng gần y như tên họ của mình, chỉ khác dấu thôi (một người dấu nặng, một người dấu ngã) nên mỗi lần có sắp xếp chỗ ngồi để thi (thi trong lớp hay thi lên lớp đệ thất) là Mạnh và mình thường ngồi kế nhau.  Có một lần mình còn nhớ là Mạnh chắc cũng muốn kiếm thêm chút tiền bỏ túi nên lãnh phần sơn mấy tấm sáo treo trước hai căn nhà lầu của chế Gái Đen sát nhà mình, bạn Mạnh đang đứng trên ghế cao sơn thì có ba của bạn chạy xe đạp ngang, ông không vừa lòng chút nào khi thấy bạn Mạnh đi sơn như vậy nên rầy la bạn Mạnh, mình còn nhớ lúc đó đang ở mái hiên nhà mình và nghe ông rầy như thế nầy:  » Ba muốn con học làm họa sĩ có danh tiếng chớ đâu có muốn con làm thợ sơn nhà như vậy!! ».

Về sau nầy, bạn Mạnh có dọn nhà về ở đường Bạch Đằng, lập gia đình, có vợ có con. Nhà ở sát căn nhà của anh em tên là Ba và Tư, con người thợ máy. Mạnh cùng bà xã làm ăn theo nghề mua bắt tôm, cá bán sỉ lại cho các người bạn hàng ngoài chợ cá Hà Tiên. hai vợ chồng làm ăn rất khá. Một thời gian sau, hai vợ chồng cất nhà lầu đúc rất tốt đẹp, cũng ở trên con đường Bạch Đằng. Hiện nay không biết bạn Mạnh có dọn đi đâu không, tuy nhiên vẫn sinh sống ở Hà Tiên.

Bạn Hồ Văn Mạnh, hình lúc còn học lớp nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963

Bạn Sáu, tên đầy đủ là Đỗ Văn Sáu, không biết tại sao bạn bè hay người Hà Tiên thường đặt cho bạn cái biệt danh không hay chút nào là « Sáu Bò » !! Vì là bạn học cùng chung ở thời Tiểu Học, mình và bạn Sáu rất hiểu biết nhau nên mình không bao giờ gọi bạn bằng cái biệt danh như vậy. Sáu rất đàng hoàng, nói chuyện lịch sự, lúc nào cũng gọi mình bằng tên rất thân mật. Nhà bạn Sáu ở trên con đường Tuần Phủ Đạt, gần như đối diện với rạp chiếu bóng Phát Minh sau nầy. Bạn Sáu là con trai trong một gia đình kỳ cựu Hà Tiên, rất đông anh em. Có người anh lớn là anh Đỗ Bảo Khén (hoặc Đỗ Bổ Khén) mình biết mặt nhưng không quen vì anh thuộc bậc đàn anh học chung lớp thời anh Tùng Phương, anh Huỳnh Hữu Điền,…(ba người anh kể tên đây cũng đã qua đời lâu rồi). Sáu có hai người em gái mà một trong hai người đó chính là phu nhân của bạn Trần Bình. Trong gia đình bạn Sáu, có một người anh nữa tên Đỗ Bảo Yến, hình như hồi xưa cũng có học bậc Tiểu Học cùng trường với mình. Ở Hà Tiên người ta thường gọi anh Yến là anh « Be Be »…không biết tại sao. Chỉ biết anh Yến có mang một căn bệnh rất nặng là bệnh kinh phong, mình cũng đã có nhiều lần thấy cơn giựt kinh phong nỗi lên, lúc đó cặp mắt như nhìn ngược lên phía trên, miệng thì có bọt trào ra, rất là tội nghiệp. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường anh Yến không khuấy phá ai cả. có một lần chính mình thấy tận mắt mà mình còn nhớ đến bây giờ, chuyện xảy ra rất lâu rồi, lúc đó mình còn nhỏ, mới ở nhà đi ra chợ trên con đường Lam Sơn, thì thấy anh Yến đang bồng trên tay một em bé gái, mình bị ướt sủng và có khói bốc lên, mặt anh Yến thì rất nghiêm trọng, không nói tiếng nào, sau đó mới biết đó là em Kim Hoàng, con gái của hai ông bà bác Ba Nhan ở sát nhà mình, và Kim Hoàng vửa bị phỏng nước sôi nên anh Yến đã kịp thời mang em đi thẳng về nhà bác Ba Nhan để thông báo cho hay tin…Đó là một việc làm rất tốt đẹp, anh đã cứu em bé gái kịp thời không bị phỏng cháy trong nước sôi như vậy…Anh Đỗ Bảo Yến đã mất khoảng năm 1985 hay 1986, hiện tro cốt còn thờ trong chùa Phật Lớn ở Hà Tiên.

Trở lại chuyện về bạn Sáu, có một lần vì công chuyện làm ăn, bạn Sáu có ra Long Xuyên mua vật liệu máy móc, bạn có đến nhà kiếm mình và hai người kéo nhau ra mấy cái quán ăn ở cạnh bờ sông Long Xuyên, dọc mé cầu Hoàng Diệu để vừa lai rai mồi vừa uống chút đỉnh vừa nói chuyện xưa. Sáu cứ nhắc mình : »Dùng đi Mãnh, dùng đi! » (tức là kêu mình ăn mồi đi!!). Đó là lần mình gặp lại bạn Sáu, vì sau đó tuy mình có về Hà Tiên vài lần nhưng cũng ít khi gặp lại mấy người bạn năm xưa. Hiện nay thì bạn Đỗ Văn Sáu cũng vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hủi tên đầy đủ là La Văn Hủi, là bạn học chung các lớp ở bậc Tiểu Học với mình. Nhà của bạn Hủi ở ngay đầu đường Phương Thành và Lam Sơn, hồi nhỏ mình cũng có vài lần tới nhà bạn Hủi chơi. Trong bức hình chụp nguyên lớp Nhứt do thầy Nguyễn Văn Pho dạy, có hình bạn Hủi trong đó. Bạn Hủi ăn mặc thanh lịch, nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng kêu mình bằng tên rất thân mật. Bạn Hủi có người em trai tên La Văn Gồi là bạn học cùng lớp ở bậc Trung Học với em Trần Văn Phi của mình. Mình không hiểu tại sao có nhiều bạn cùng thời ở chung quanh chợ Hà Tiên, cùng học với mình bậc Tiểu Học, nhưng sau đó khi qua bậc Trung Học thì không gặp lại ở trường lớp nữa, một phần các bạn đó không tiếp tục học, một phần thì lại qua bên trường Hoa học theo chương trình tiếng Hoa, một phần nữa chắc theo học trên Sài Gòn. Vì thế sau khi xong bậc Tiểu Học thì mình và Hủi không còn học chung nữa, hình như Hủi lên Sài Gòn tiếp tục học, thỉnh thoảng mỗi dịp Tết thì có về Hà Tiên ăn Tết thì lại gặp nhau. Sau đó Hủi lập gia đình, phu nhân của Hủi là em gái của bạn Trần Bình, ở ngay trước nhà mình. Hiện nay cũng nhờ qua mạng face book, mình cũng đã « gặp » lại bạn La Văn Hủi, hiên bạn định cư cùng với gia đình ở nước Mỹ.

Bên trái: bạn Đỗ Văn Sáu, bên phải: bạn La Văn Hủi

Những bạn quen biết chung quanh chợ Hà Tiên:

Ngoài các bạn mình đã kể trên, có nhiều quan hệ về tính chất bạn bè, mình còn quen biết một số bạn khác, cũng cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, gặp nhau thì quen biết, chào hỏi, thỉnh thoảng cũng có nhóm bạn đi chơi chung nhau thông qua những người bạn chung. Trong số người nầy có anh Nhiều, lúc xưa có tiệm chụp hình Tô Châu trên đường Chi lăng. Ba má anh Nhiều có tiệm bán cà phê ở ngay trong nhà lồng chợ Hà Tiên. Mình cũng có vài kỷ niệm với anh Nhiều, lúc đó, có một người bạn của anh Nhiều ở bên Campuchia  (hay ở Hong Kong mình không nhớ chính xác) qua chơi với anh Nhiều, hình như anh nầy ở bên nhà máy nước đá Triều Quang gần đó. Có nhiều lần anh Nhiều, cùng với anh bạn nầy và mình đi chơi chung, uống cà phê nói chuyện về phim ảnh Hong Kong, và anh đó có kể nhiều về chuyện đi nhảy đầm vì anh nói anh rất mê nhảy đầm. Một kỷ niệm khác với anh Nhiều, khi Hà Tiên làm lễ khánh thành chùa Bà Mã Châu ở phía trên bên trái núi Lăng, ngay ngả ba đường Lam Sơn, một bên phải thì về phía lăng ông Mạc Cửu, một bên trái thì đi ra Mũi Nai, chùa Bà cất ngay gần chùa Giải Thoát. Hai bên cánh của chùa Bà được hia Phón của mình (Thái Văn Bằng) vẽ hình hai vị thần canh gát cửa, đó là hai vị thần có tên là Thần Đồ, Uất Lũy, hia Phón vẽ rất đẹp, rất linh động. Vì lúc đó mình thường hay theo chơi với mấy người bạn gốc Hoa ở chợ nên mình cũng theo cả nhóm lên chùa để tham dự việc khánh thành. Lúc đó anh Nhiều lãnh phần chụp hình, chụp tất cả các hoạt động trong buổi lễ, gồm có đi rước kiệu Bà, bài vị, lư hường từ xóm bên Tô Châu về chùa bên Hà Tiên, rồi làm lễ cúng kiến ngay tại chùa mới nầy. Lúc đó mình tuy còn nhỏ nhưng cũng khoái muốn giựt le nên nói với anh Nhiều là khi nào anh mệt thì đưa máy cho mình « chụp tiếp » cho, tuy nhiên lúc đó mình chưa hề biết chụp hình nhà nghề như thế nào và dĩ nhiên là anh Nhiều đâu có phó thác việc chụp hình phóng sự quan trọng như vậy cho tay trơn như mình được…Hiện nay mình cũng có liên lạc lại được với anh Nhiều qua face book. Anh Nhiều hiện đinh cư ở nước Mỹ.

Anh Nhiều, tiệm chụp hình Tô Châu, đường Chi Lăng, Hà Tiên ngày xưa.

Một vài người quen biết khác cũng ở chung quanh chợ Hà Tiên là anh em của anh Huỳnh Lâm, cháu nội ông Thái Sơn, có tiệm hiệu Thái Sơn ở đường Tham Tướng Sanh cùng dãy với các tiệm Phục Hưng, Hòa Hiệp,…Anh Huỳnh Lâm thì mình chỉ biết nhưng không có chơi chung, có mấy người em của anh, tên Huỳnh Phát (người Hà Tiên kêu là « cá lốc », không biết tại sao), và một người em nữa tên là Huỳnh Lợi (tên thân mật là Sài), Huỳnh Lợi sau nầy đi không quân, có lần mình đi dám cưới anh Trần Văn Dõng (khoảng những năm đầu thập niên 80) cùng với cả nhà lên thành phố cao nguyên Bảo Lộc, khi ra chợ Bảo Lộc thì có gặp Sài tại đây. Sau đó Sài tức Huỳnh Lợi đã mất vì bệnh. Trong nhà còn có một người em trai nhỏ nữa tên là Huỳnh Xuân, thời còn ở Hà Tiên thì mình không biết Xuân vì Xuân lúc đó còn rất nhỏ. Sau nầy khi sang Pháp có một lúc đi làm về trên xe lửa, tình cờ gặp nhóm người Việt nam nói chuyện, mình bắt chuyện làm quen thì không ngờ toàn là nói chuyện ở Hà Tiên, hỏi ra ai cũng biết người nầy người nọ ở chợ Hà Tiên, hóa ra một người trong nhóm đó chính là Huỳnh Xuân, em sau cùng của các anh em cháu nội ông Thái Sơn. Từ đó về sau và ngay cả đến hiện tại, mình vẫn thường liên lạc vói Huỳnh Xuân, vì Xuân cũng ở gần nhà mình ở ngoại ô Paris, nhiều khi cùng đi chùa chung xe, cùng đi ăn nhà hàng và nghe nhạc ở ngoài quận 13 Paris. Lúc còn đi làm thỉnh thoảng tình cờ mình và Xuân gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa, lần nào cũng nói chuyện về Hà Tiên không bao giờ cạn nguồn, cho tới khi đến trạm cả hai đều cùng ra khỏi xe ai về nhà nấy, mình rất thích những lần gặp Xuân trên đường về nhà như vậy vì được nói chuyện về Hà Tiên rất vui.

Trần Văn Mãnh và Huỳnh Xuân (em của anh Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, cháu nội ông Thái Sơn ở Hà Tiên), đi chùa nhân lúc Lễ Phật Đản tháng 05/2011 tại ngoại ô Paris.

Có hai anh em người quen cũng trạc độ tuổi như mình, nhà ở trên đường Lam Sơn, gần nhà tiệm bánh mì Tân Thái, người anh tên là Quý, người em tên Chiêu, mình cũng quen biết và thường hay chào hỏi nói chuyện vui chơi. Nhớ ở Hà Tiên hay có tập tục là dù có đi đâu rời xa Hà Tiên nhưng khi gần Tết thì phải về Hà Tiên ăn Tết. Vì thế, có mấy lúc vào dịp gần Tết thì các bạn bè ở Hà Tiên thường hay trông ngóng các bạn năm xưa đã rời Hà Tiên lên Sài Gòn học, trở về nhà ăn Tết, mình cũng còn nhớ có lúc thì bạn bè phóng tin cho nhau hay, « Quý mới về hôm qua »,….Sau nầy nghe tin là hai anh em Quý và Chiêu cũng đã mất cả rồi… Nếu bạn nào còn nhớ và biết được tên họ đầy đủ của hai anh em Quý và Chiêu thì xin thông tin cho mình biết để bổ túc nhé.

Mình cũng nhắc lại ở đây ba anh em nhà ở phía bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá, đường Trần Hầu, kế bên khách sạn Tô Châu ngày xưa. Đó là ba anh em tên Toản, Túc và Tiêu. Mình không biết tên họ đầy đủ của mấy anh em nầy, chỉ biết hồi xưa lúc thường đi ra Đài Kỷ Niệm tụ họp ở các băng đá và nói chuyện chơi, thường có các bạn Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm), anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt, ..v..v..thì có hai bạn Toản và Túc đến chơi. Ngày xưa mình có người bạn ở ngoài Hòn vào Hà Tiên học, ở trọ nhà của các anh em Toản, Túc và Tiêu, đó là bạn Trần Văn Yến, khi mình đến nhà chơi với Yến thì thường gặp ba anh em nầy, em trai nhỏ là Tiêu rất lịch sự, thường chào hỏi các bạn của mấy anh lớn và nói chuyện rất đàng hoàng. Ba anh em nhà nầy là con của một gia đình mà người cha tên là Mã Chính Yên (tên mình chỉ nghe phát âm nên có thể viết không chính xác), còn người mẹ trong nhà thì có bệnh về tâm thần, tuy nhiên chỉ ngồi yên một chỗ và thường thì chỉ nhìn mọi người chung quanh và hơi mỉm cười mà thôi chứ bà không có khó khăn gì cả. Thường lúc mình đến nhà, ra tận nhà sau, có gặp bà thì mình cuối đầu chào bà, trong bụng mình cũng hơi sợ nhưng không có việc gì cả.  Toản là anh lớn, đeo kính cận, người có vẻ thông minh, trí thức và cũng cư xử rất đàng hoàng. Túc là em trai giữa, Túc hơi có da ngâm nhưng cũng rất đẹp trai, mặt thon, còn người em sau tên là Tiêu như đã nói, chỉ là em út không có giao thiệp với các bạn của anh trai mình, tuy nhiên Tiêu chào hỏi các bạn của anh mình rất lịch sự.

Theo tin tức của bạn bè cho hay thì lúc đi vượt biển với người vợ là Nguyễn Kim Tuyến (Kim Tuyến là người Việt kiều từ Campuchia về Hà Tiên định cư và theo học tại trường Trung Học Hà Tiên, và cũng là bạn học của nhóm bạn mình Lê Phước Dương), hai vợ chồng bạn Túc và Kim Tuyến đều bị tai nạn và đã mất tích. Toản còn ở Việt Nam sinh sống, Tiêu thì hồi xưa qua Mỹ định cư, nhưng sau nầy cũng thường về Việt Nam ở dài hạn.

Tác giả xin cám ơn tất cả các bạn học, các bạn quen biết và các em con cháu của những bạn đã được nhắc nhở tên trong bài viết nầy về sự đóng góp thông tin, chi tiết tên họ và các sự kiện. Ngoài ra cũng xin mạn phép trích đăng hình một số bạn trên đây, xin quý vị thứ lỗi và thông cảm nhé. Chắc chắn là mình còn quen biết với một số bạn nữa cũng ở ngay tại khu chợ Hà Tiên, nhưng tạm thời không thể nhớ ra hết, vậy nếu các bạn quen biết nào còn nhớ mình mà mình chưa kể tên và nhắc kỷ niệm xưa ra đây thì cho mình xin lỗi nhé, khi nào có thông tin thêm thì sẽ bổ túc vào bài.

Paris, viết xong ngày 13/05/2020, Patrice Tran (Trần Văn Mãnh)

 

Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Một vài ngôi nhà xưa với kiến trúc đẹp ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, Hà Tiên ngày nay đang trên đà phát triển tột độ, Đa số nhà cửa xưa cũng đã được tu bổ, sửa chữa lại, hoặc không còn tồn tại nữa. Vì nhu cầu hoàn thiện, đổi mới nên một số phố xá nhà cửa cũng đã bị phá bỏ và thay vào đó là đường xá, công viên, vườn hoa mới và đẹp. Ngay cả dọc theo bờ sông Giang Thành (ta thường gọi là sông Hà Tiên) cảnh vật cũng không còn như xưa. Mặt sông cũng đã bị đất liền nới chiếm, người ta lấp bờ sông, bồi đất để mở thêm diện tích làm công viên, thậm chí còn tạo thêm một vùng có thêm nhiều con đường mới như khúc chợ mới ở Hà Tiên. Ngày nay con đường ngày xưa ta gọi là « Bến Trần Hầu » không còn là con đường có gió mát thổi và có hàng dừa ngay bến sông…Bên mé sông của con đường nầy đã được dựng lên nhà cửa, phố xá, tiệm buôn, khách sạn che khuất cả mặt tiền nhìn ra hướng sông, muổn ra đứng bờ sông ngắm cảnh trời mây non nước, ta phải đi ra khỏi con đường Trần Hầu về phía bờ sông, vì nơi đây còn thêm một khoảng đất được nới rộng ra, có công viên cây xanh đẹp mắt…

Thêm vào đó chung quanh núi Tô Châu, núi Bình San và núi Phù Dung (Phù Dung là tên chánh thức của ngọn núi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi tên là Đề Liêm), nhà cửa được xây cất tấp nập, phần cây xanh của những ngọn núi nầy đã bị giảm bớt rất nhiều. Trong phố thị Hà Tiên, chỗ nào còn sân hoặc thửa đất trống cũng đã « được » trưng dụng để xây cất thêm nhà cửa, cao ốc dùng trong việc thiết lập ngân hàng, khách sạn…v…v…Nếu ta có thể đặt hai cái bản đồ có vạch rỏ các vùng nhà cửa, cây xanh, mặt sông ngày xưa và hiện nay nhập vào nhau thì ta sẽ thấy các phần cây xanh, phần mặt sông đã bị xâm chiếm nhiều, diện tích giảm đi rỏ rệt, ngươc lại phần nhà ở, dinh thự thì tăng lên rất nhiều…Ngoài ra nếu ta quan sát hình dạng và cung cách quy mô của những ngôi chùa ở Hà Tiên xưa và nay, ta cũng thấy rỏ sự phát triển, sự « xi măng hóa » rất mạnh mẻ và rỏ rệt của những nơi nầy..Một trường hợp điển hình là trên sườn cây xanh của núi Tô Châu, ngày nay, từ bên phía công viên Hà Tiên nhìn qua bên núi Tiểu Tô Châu, ta sẽ thấy sườn núi có một vết « nhân tạo hóa » rất lớn và rất rỏ, không nói ra bạn đọc cũng hiểu đó là ngay chỗ những tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên…!! . Về phía chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, Tịnh Xá Ngọc Hồ ngày xưa những ngôi chùa nầy rất kính cẩn, trang nghiêm, đơn giản và rất hài hòa phù hợp với quang cảnh đồi núi, cây xanh chung quanh. Ngày nay, những ngôi chùa nầy đã được xây cất phát triển quá to lớn, lại có cả tường, cổng xây bằng gach chắc chắn chung quanh, ta không còn thấy rỏ nét cổ kính thanh đạm của ngôi chùa ngày xưa mà nhu cầu tu hành kinh kệ không nhất thiết phải có đủ quy mô vật chất như hiện nay… Âu đó cũng là nhu cầu thiết yếu của một khía cạnh khác, của sự kinh tế, hoạt động du lịch cần được phát triển và cải tổ cho phù hợp với làn sóng người đi thăm viếng cảnh đẹp Hà Tiên. Hy vọng rằng Hà Tiên sẽ tiếp tục phát triển và phát triển một cách hợp lý, hài hòa với nhiều khía cạnh khác nhau trong một kết quả tổng hợp được mọi nhu cầu để cái đẹp, cái cổ xưa, nét thanh tao và nhã nhặn của một nền kiến trúc cân bằng được chú ý đến…

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài ngôi nhà cổ xưa, với một nét kiến trúc đẹp, có ngôi nhà thì vẫn còn được bảo tồn, có ngôi nhà thì vì nhiều lý do khách và chủ quan, không còn được chăm sóc bảo quản, đó cũng là điều đáng tiếc, vì thế nếu một mai thực tế có biến mất đi, ta chỉ còn lại vài bức hình để nhớ và luyến tiếc….

1/ Ngôi nhà A:

Ngôi nhà A: Đây là một ngôi nhà xưa với lối kiến trúc rất đẹp, mặt tiền nhà được sơn phết lại rất hài hòa. Hình chụp vào năm 2013, do một người du khách tên Adriaan Castermans chụp.

2/ Ngôi nhà B:

Bên phải tấm hình ngôi nhà A trên đây, có một ngôi nhà (tạm gọi là ngôi nhà B) cũng thuộc diện cổ với kiến trúc đẹp, người du khách Adriaan Castermans cũng có chụp một bức hình vào năm 2013 như sau:

Ngôi nhà B: Tọa lạc bên phải ngôi nhà A và cùng trên một con đường. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Trong bức hình nầy, ta thấy rỏ vị trí của hai ngôi nhà A và B (A bên trái và B bên phải), tuy nhiên hai ngôi nhà trong thời điểm nầy rất cũ kỷ, chưa được sơn phết tu chỉnh mặt tiền. Hình: Monique NG, năm 2006

Trong bức hình nầy ta cũng thấy rỏ ngôi nhà A với mặt tiền nhà cũng bắt đầu cũ kỷ, cây xanh trước hiên nhà cũng đã giảm bớt. Hình : Cashonly77, năm 2006

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. Thời gian chụp hình có lẻ sau năm 2000

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Sonia Maclean, năm 2018

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái (một phần nhỏ) và B ngay giữa hình, hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

3/ Ngôi nhà C:

Xin giới thiệu thêm một ngôi nhà nữa, tạm gọi là ngôi nhà C, cũng tọa lạc trên cùng một con đường và cùng một dãy với hai ngôi nhà A và B nói trên. Ngôi nhà C nầy có lối kiến trúc rất đẹp, tuy hiện nay không có người ở nhưng vẫn còn người sở hữu ngôi nhà cổ xưa nầy.

Ngôi nhà C rất xinh đẹp, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Tuoi Tran, năm 2019

Vị trí và thông tin về ba ngôi nhà A,B và C:

Ba ngôi nhà A,B và C đều tọa lạc trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên, cùng thuộc về một dãy phía bên trái con đường Cầu Câu nếu ta nhìn từ đường Lam Sơn về phía đường Trần Hầu. Ngôi nhà A và B liền nhau, còn ngôi nhà C thì cách hai ngôi nầy vài căn nhà khác. Theo thông tin của các bạn ở Hà Tiên thì ngôi nhà A là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Bà Giáo Lễ. Ngôi nhà B là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Ông Hai Mỹ. Hiện nay đều có người trong các gia đình nầy trú ngụ tại hai ngôi nhà nầy. Còn ngôi nhà C cũng là ngôi nhà rất xưa, có gốc gác là nhà của Bà Xã Huê, tuy không có người chăm sóc hiện nay nhưng vẫn còn sở hữu riêng tư.  Thêm một chi tiết nữa là nếu ta tính liên tục hai ngôi nhà A rồi B thì đến căn nhà của Ông Giáo Ngọt (tức là thầy Hà Văn Thành).

Vị trí ba ngôi nhà cổ xưa kiến trúc đẹp: A, B và C trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên nằm trong phần giới hạn giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu.

4/ Ngôi nhà D:

Trên con đuòng Chi Lăng (Hà Tiên) cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà D), thiếu sự chăm sóc, tuy nhiên nhà có lối kiến trúc cũng khá đẹp, nhất là mái hiên mặt tiền nhà. Hiện không biết thông tin về sở hữu và tình trạng người ở trong ngôi nhà nầy.

Ngôi nhà D cổ xưa ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Hình sưu tầm, không rỏ năm.

5/ Ngôi nhà E xưa nhiều kỷ niệm đường Nhật Tảo:

Ở đường Nhật Tảo Hà Tiên, có một ngôi nhà xưa rất đẹp, sạch sẽ và rất khang trang, (tạm gọi là ngôi nhà E), ngôi nhà chứa rất nhiều kỷ niệm đối với riêng mình. Thời xưa những năm 60, trước khi quý thầy dạy Trung Học Hà Tiên đến ở ngôi nhà nầy trong thời gian dạy học ở Hà Tiên thì có các bạn Hồ Văn Quân và hai người em của Quân là Hồ Văn Nhân và Hồ Văn Đạo từ Kiên Lương lên Hà Tiên ở trọ nhà nầy để theo học bậc Tiểu Học Hà Tiên. Vì Quân là bạn học cùng lớp với mình ở Tiểu Học nên thường ngày mình hay đến ngôi nhà nầy chơi với Quân. Sau đó khi lên bậc Trung Học, quý thầy dạy bậc Trung Học ở trọ căn nhà nầy trong thời gian đi dạy ở Hà Tiên. Học trò thường đến căn nhà nầy vào những buổi chiều, tối để sinh hoạt vui chơi với quý thầy, đó là quý thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Văn Thành,…v…v…Ngay cả có một đêm mình và anh Trần Văn Dõng ngủ lại trong căn nhà nầy để tiếp tục vui chơi với bạn và thầy, lúc đó có Trần Anh Kiệt, Phan Văn Hữu, Bùi Văn Tư, Tòng….v..v….cùng tham dự.

Ngôi nhà E tọa lạc tại đường Nhật Tảo, Hà Tiên, có nét kiến trúc và mặt tiền rất đẹp, hiện vẫn được tu bổ tốt. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

6/ Ngôi nhà F:

Ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà F), được duy trì rất khang trang, mặt tiền rất đẹp, nhìn ra đường Lam Sơn. Đó là ngôi nhà của gia đình anh Lý Đại Độ, Lý Tuấn Kiệt,…

Ngôi nhà F ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo, mặt tiền nhìn ra đường Lam Sơn. Kiến trúc rất đẹp, ta thấy một số nhà kể phía trên (A,B,C,….) đều có cách thiết lập mặt tiền gần giống nhau. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

7/ Ngôi nhà G:

Trên con đường Bạch Đằng Hà Tiên cũng có vài ngôi nhà tuy nhỏ, chen lẫn với một hàng dãy nhà liên tục, không có sân rộng như các trường hợp trên, nhưng cũng có mặt tiền trình bày rất đẹp.  Đầu tiên xin giới thiệu ngôi nhà G, bên lề phải đường Bạch Đằng nếu ta tính từ ngả tư đường Chi Lăng-Bạch Đằng nhìn về phía sông Hà Tiên. Đó là ngôi nhà ngày xưa thầy La Từ Sự sinh sống ở đó, phía trước nhà ngày xưa có đặt nhiều chậu hoa, cây xanh tạo thành một mặt tiền nhà rất hài hòa và đẹp. Hiện nay, không hiểu vì lý do gì các cửa sổ và cửa chánh của ngôi nhà đã bị xây bít lại, có thể là nhà bỏ trống, không người ở.

Ngôi nhà G, trên đường Bạch Đằng Hà Tiên, tuy nhỏ nhưng mặt tiền trình bày các vòng cung rất đẹp. Hình: HuynhNT, không rỏ năm.

8/ Ngôi nhà H:

Cũng trên con đường Bạch Đằng, Hà Tiên, khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu, bên lề phải của đường Bạch Đằng nếu ta nhìn từ đường Trần Hầu trở lên về phía đường Lam Sơn, ta sẽ thấy có một ngôi nhà gồm hai căn liền nhau và mặt tiền có lối kiến trúc trình bày y hệt nhau (tạm gọi là ngôi nhà H). Căn nhà bên trái ngày xưa chính là quán cafe Quảng Phát mà cả quảng đời ngày xưa mình thường xuyên lui tới uống cafe với các bạn. Trong những năm 60-70, đây là tiệm cafe có luôn cả thức ăn điểm tâm mà người dân Hà Tiên rất ưu chuộng, có cả giới chánh quyền, nhân viên hành chánh, sĩ quan, học sinh lui tới mỗi ngày để ăn uống và trò chuyện rất đông đúc. Còn căn nhà bên phải thuộc về một gia đình người Hoa, nhà thường đóng cửa luôn…Không có thông tin về tình trạng sở hữu và người ở trong hai căn nhà nầy hiện nay.

Con đường ở giữa hình theo chiều đứng là con đường Lam Sơn, Hà Tiên. Theo chiều ngang trong hình ta có con đường Bạch Đằng chạy ngang thẳng góc với đường Lam Sơn và theo chiều dãy nhà ngang trong hình. Phía trên bên phải chính là ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998

Ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Từ phía dưới đường Trần Hầu (con đường nằm ngang phía cạnh dưới hình) ta nhìn lên dọc theo đường Bạch Đằng thì ngôi nhà hai căn nầy nằm bên phải ở giữa hình. Hình: TVM, năm 2012

Tuy nhiên theo bức hình nầy, ta thấy ngôi nhà H gồm hai căn đã có thay đổi: mặt tiền căn nhà bên trái đã được sơn màu xanh dương và phần trang trí phía trên cao đã biến mất. Căn nhà bên phải vẫn còn giữ theo xưa. Hình nầy chụp khoảng sau năm 2012, nguồn HuynhNT

Vị trí ngôi nhà G ngày xưa thầy La Từ Sự ở và ngôi nhà H gồm hai căn trong đó căn bên trái là tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa trên đường Bạch Đằng.

Tái bút:

1/ Bạn đọc có thể xem thêm bài và hình dưới đây để biết thêm một vài căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên ngày xưa.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/10/18/nhung-ngoi-nha-va-ngoi-truong-ngay-nay/

2/ Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị và tất cả các bạn gốc Hà Tiên đã tham gia ủng hộ, góp ý, trao đổi thông tin, hình ảnh và trả lời thắc mắc của mình để bài viết nầy được thêm phần chính xác và phong phú.

Trần Văn Mãnh Paris 04/01/2020

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Phước Thiện Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên có một ngôi chùa tuy không lớn lắm nhưng là nơi xuất phát rất nhiều kỷ niệm xưa đối với người dân Hà Tiên, nhất là những người cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, đó là ngôi chùa có cái tên quen thuộc là chùa Phước Thiện. Thật vậy đúng như tên của ngôi chùa, chùa Phước Thiện là nơi quý thầy chuẩn bệnh, phát thuốc cho người dân Hà Tiên, mỗi khi có người đến xin được trị bệnh. Quý thầy ở chùa Phước Thiện thực hành chuẩn trị bệnh theo các phương thuốc Nam, một ngành y học cổ truyền của dân tộc Việt Nam.  Nhà mình biết nhiều về ngôi chùa nầy, vì chùa tọa lạc ở góc đường Bạch Đằng-Chi Lăng (đó là vị trí chánh thức của ngôi chùa, vì tiền thân của ngôi chùa vốn ở một nơi khác cũng trong khu phố Hà Tiên, sẽ nói thêm trong phần sau). Lúc mình còn nhỏ, tuy nhiên cũng khoảng trên dưới 12 hoặc 13 tuổi, lúc ngôi chùa vừa được xây cất xong, mấy anh em nhà mình thường hay lên chùa xem bác Tư Đài (họa sĩ Phụng Đài, ngày xưa nhà ở đường Đống Đa, thân phụ của bạn Trần Văn Mạnh, học chung bậc Tiểu Học với mình) vẽ hình một chậu hoa sen thật to rất đẹp ngay trước vách tường chánh của ngôi chùa, hình ảnh chậu hoa sen nầy là biểu tượng của môn phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội mà chùa Phước Thiện thuộc về môn phái nầy. 

Mỗi một dịp được nghỉ hè khoảng ba tháng, ông bà ngoại mình thường kêu mấy anh em mình lên chùa Phước Thiện (vì chùa rất gần nhà mình) làm công quả. Những việc phải làm giúp cho chùa với tên gọi là làm công quả tức là chặt thuốc, phơi thuốc..v..v….Vì chùa Phước Thiện chính là trụ sở của Hội Quán do quý thầy tu, cư sĩ, y sĩ chuẩn bệnh, phát thuốc cho dân, nên thường ngày nhà chùa phải sản xuất ra các phương vị thuốc Nam. Không biết cây, lá có vị thuốc quý thầy kiếm ở đâu ra, nhưng mỗi ngày mấy anh em mình lên chùa và mỗi đứa ngồi một chỗ, có một miếng thớt bằng cây rắn chắc, dùng một cây dao cũng khá lớn và cứ chặt những nhánh cây có vị thuốc ra thành từng khoanh nhỏ để khi nấu thuốc dễ trích ra các chất thuốc chứa trong nhánh cây đó, mỗi khoanh chỉ mỏng chừng một phân thôi, và phải chặt cho đều, khéo tay theo kiểu thành một khoanh nhỏ và theo chiều xéo chứ không chặt thẳng góc với chiều dài của nhánh cây. Mỗi ngày cứ lên chùa, ngồi xếp bằng, cứ chặt các nhánh cây thuốc thành từng khoanh nhỏ như vậy, sau đó, giúp quý ni cô và quý thầy trải các khoanh cây thuốc chặt nhỏ như vậy ra trong các sàng, nia, nong (tức là các thứ rổ lớn đan bằng tre) để đem phơi cho thật khô ngoài sân chùa. Khi thuốc được phơi thật khô, đúng ngày, thì giúp quý ni cô, quý thầy, phân chia thuốc vào các hộc tủ nhỏ trong phòng lớn sau chánh điện, nơi quý thầy chuẩn bệnh và phát thuốc. Mỗi hộc tủ nhỏ chứa thuốc đều có giấy nhãn ghi tên thuốc rất rỏ ràng, có tên cây thuốc thì rất bình dân như: Cà gai leo, cỏ hôi, chó đẻ,…v..v.., có tên thì theo chữ Hán Việt như; Đình lăng, đan sâm, mã đề, địa liền, trần bì…v..v…Mình cũng muốn học thuộc tên các cây thuốc đó nhưng rất khó nhớ…Khi quý thầy chuẩn bệnh và sau đó bốc thuốc thì quý thầy theo một toa thuốc vừa viết ra trên giấy, và trải một tờ giấy rất lớn trên bàn, sau đó thầy cứ theo tên các vị thuốc đó đi đến mỗi hộc tủ và bốc ra các vị thuốc đặt trên tờ giấy, sau đó thầy gói tờ giấy lại rất khéo thành một gói thuốc dạng vuông vức, thường thì thuốc Nam phải uống nhiều lần mới có công hiệu nên quý thầy cho một lần hai gói thuốc, gọi là hai thang thuốc, dùng dây cột hai thang thuốc lại và người bệnh xách hai gói thuốc đó về nhà, phải mua thêm một cái siêu đất (vì siêu phải bằng đất mới tốt và hợp với thuốc), bỏ thuốc vào siêu và cho nước vào rồi nấu cho sôi để trích ra các vị thuốc chứa trong cây thuốc, sau đó chờ hơi còn ấm thì uống thuốc, thuốc Nam cũng rất đắng phải chịu khó uống…, mình cũng có từng uống qua các thang thuốc Nam rồi, đắng lắm, phải uống từng ngụm nhỏ thôi từ từ mới uống hết chén thuốc…Nhiều khi rảnh rổi, có một thầy cư sĩ còn rất trẻ, khoảng trên dưới 25 tuổi thôi, thầy thường hay trò chuyện với mình, mình còn nhớ có lúc thầy hỏi học lớp Nhất ở trường Tiểu Học với thầy nào, mình còn nhớ và trả lời là học với thầy Nguyễn Văn Pho, sau khi nghe câu trả lời, thầy cư sĩ đó nói « Còn tui là ông Phò anh của ông Pho đó!! », lúc đó vì còn nhỏ tuổi mình cũng bán tín bán nghi, không biết nhận ra đó là câu nói đùa cho vui mà thôi…

Còn một kỷ niệm khác rất vui nữa, mình còn nhớ rất rỏ, thời gian đó trong chùa cũng có một ni cô, ni cô cũng tương đối còn trẻ tuổi, chắc khoảng trong tuổi 20, 30 thôi, ni cô có nhờ mấy anh em mình chép lại nguyên một cuốn sách dùm cho ni cô, tức là mình làm vai trò như một cái máy « photocopie » vậy, vì thời đó chưa có máy chụp hình giấy tờ như loại « photocopie »…(Thời đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên người ta muốn xuất bản tập san tin tức hay văn nghệ cũng chỉ dùng phương pháp quay « ronéo » để có được nhiều bản chứ cũng chưa có máy làm « photocopie » như sau nầy). Bây giờ kể tiếp việc chép nguyên bản cuốn sách cho ni cô ở chùa, cuốn sách nầy là cuốn viết về các mẫu làm đơn, mẫu viết thư dùng cho mọi người, nhất là học sinh, sinh viên hay người ngoài đời sống xã hội. Thật vậy, cuốn sách có khá nhiều trang, mình không nhớ là bao nhiêu trang, nhưng có đủ các chương; mẫu đơn xin việc làm, mẫu viết thư chúc mừng bạn bè, xin vay nợ hay xin hoản nợ..v..v…Mình và anh Trần Văn Dõng nhận việc làm nầy giúp cho ni cô có được một cuốn sách giống như vậy nhưng dưới hình thức chép tay lại, có lẽ ni cô mượn cuốn sách nầy của ai đó và muốn có một bản giống y như vậy để dùng trong việc viết thư từ…Mỗi ngày ở nhà, anh em mình lên cái gác trên lầu, chỗ có đặt bàn học hằng ngày, cứ chép mỗi ngày vài tờ trong cuốn sách đó, được ba bốn ngày, lại phát hiện trong cuốn sách tới chương « Mẫu viết thư tình »…!! Mình thấy hơi lạ vì không biết có hợp với việc dùng sách của ni cô không, mình đem việc nầy nói lại trong nhà và hỏi ý kiến, trong nhà mình có người chị bạn dì tên là chế Thìn (tên chữ là Lê Thị Phượng), chế nói thôi đi, ni cô thì chắc không cần các mẫu thư tình gì đâu, vậy khỏi chép chương nầy đâu…Nhờ vậy mình cũng bỏ hết một chương dài có các mẫu thư tình nầy, nên cuối cùng cũng hoàn thành việc công quả cho ni cô là đã chép xong lại cuốn sách cần dùng cho ni cô (chỉ thiếu chương về mẫu các thư tình, phải biết sau nầy có cần dùng các mẫu nầy cho việc riêng của mình thì mình đã chép riêng lại phần nầy để dành rồi,…!!). Đó là một kỷ niệm thật vui trong thời gian anh em mình làm công quả trên chùa Phước Thiện. Thời gian trôi qua, không còn nhớ anh em mình làm công quả cho đến bao nhiêu lần nghỉ hè, nhưng một thời gian sau thì cũng thôi, không còn lên chùa làm công quả nữa, tuy nhiên ngôi chùa Phước Thiện ở Hà Tiên đã gây cho mình rất nhiều ấn tượng tốt đẹp, ngay lúc còn nhỏ đã được tiếp xúc với quý thầy, cô, cư sĩ, y sĩ trong ngành thuốc Nam và đã đươc thấm nhuần trong cái không khí từ bi, yên tỉnh của nhà chùa.  Từ đó về sau, mỗi lần đạp xe đạp trên đường Bạch Đằng chạy ngang chùa Phước Thiện mình thường hay nhìn vào chùa và cảm thấy rất thích thú vì đã làm được nhiều việc có ích lợi cho nhà chùa, giúp mình tránh được việc đi la cà ngoài chợ hay đi phá người ta…Đó là thời còn nhỏ, sau nầy khi lên bậc Trung Học, mình lại thường theo các bạn đi chơi nhiều hơn, thường là đi chơi văn nghệ, tụ tập dợt hát, dợt đàn, và đi dạo vòng quanh Đài Kỷ Niệm mỗi buổi chiều tối..

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phước Thiện:

Theo thông tin của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam, tiền thân của ngôi chùa Phước Thiện là một ngôi am nhỏ, do cư sĩ Lê Văn Y lập nên vào năm 1951, trên mảnh đất do một Phật tử địa phương cho mượn, theo trí nhớ của anh Trần Văn Dõng thì cái Am nầy tọa lạc trên đường Đống Đa, khoảng khúc ngả tư đường Mạc Cửu và Đống Đa trở lên phía trường Tiểu Học Hà Tiên. Cái Am nhỏ nầy vừa là nơi tu hành, vừa là phòng hốt thuốc Nam từ thiện. Đến năm 1961, được ông Phán Lịch hiến cúng một khu đất rộng ngay tại góc ngả tư đường Bạch Đăng – Chi Lăng, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây một nhà thuốc Nam từ thiện bằng cây lá lấy tên là “Dân Lập Công Chợ”. Năm 1966, sau khi gia nhập hệ phái Tịnh Độ Cư sĩ, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây dựng lại nhà “Dân Lập Công Chợ” thành Tịnh Độ Hưng Phương tự. Từ đó, chùa Phước Thiện có tên chánh thức là Hưng Phương Tự và thuộc môn phái Tịnh Độ Cư sĩ chủ trương “Phước Huệ Song Tu” vừa thờ Phật vừa hốt thuốc Nam từ thiện cho dân nghèo địa phương.

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự tại góc đường Bạch Đăng-Chi Lăng, Hà Tiên. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt nam, 2008

Vị trí chùa Phước Thiên – Hưng Phương Tự tại khu phố Hà Tiên. Theo cái nhìn ngày xưa ta có các vị trí chung quanh chùa như sau: 1= Chùa Phước Thiện; 2= Nhà của Bác Sửu thân phụ của anh Lâm Văn Có, Lâm Mỹ Nhung; 3= Nhà của ông Ký Tí (ông Ký Cụi), ông ngoại của Phạm Thị Kim Loan; 4= Nhà của má Hai mình tức nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn (chị em bạn dì với mình); 5= Nhà của người đẹp Phan Kiều Dũng; 6= Nhà của thầy Hứa Văn Vàng; 7= Nhà của bạn học cùng lớp mình, Hà Mỹ Oanh; 8= Nhà và quán cafe nhạc Ti La của thầy cô Trương Minh Đạt. Bên góc đường Chi Lăng-Tô Châu, ngày xưa còn có một bên là cái giếng nước và một bên là cây me rất to lớn.

Khi bên ngoài ta đi vào chùa bằng cổng chánh thì có một hành lang rất dài cho đến phía sau chùa, thường dùng để phơi các sàng thuốc. Bên ngoài nhìn vào chùa thì phía trái hành lang là chánh điện, sau chánh điện là phòng khám, chuẩn bệnh và phát thuốc, có một cửa hông để đi vào, bên phải hành lang, đối diện với cửa phòng phát thuốc là một gian nhà rộng lớn, dùng để sản xuất thuốc, tức là nơi các đệ tử, quý thầy cô ngồi chặt thuốc.

Năm 1991, cư sĩ Lê Văn Y qua đời. Kế tục trụ trì chùa là cư sĩ Lê Thị Lình. Trong thời gian trụ trì chùa, với công đức của Phật tử địa phương và nguồn tự lực của chùa, cư sĩ Lê Thị Lình đã cho trùng tu nhiều công trình Phật sự trong chùa như xây hàng rào khuôn viên (1993), chánh điện (1996), phòng thuốc nam (1997), nhà hậu Tổ (1999) và nhà trù (2001). Năm 2000, cư sĩ Lê Thị Lình tạ thế. Quản lý chùa hiện nay là cư sĩ Phạm Thị Hiền (pháp danh Diệu Hòa).

Toàn diện ngôi chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự Hà Tiên sau nhiều công trình trùng tu. Hình: Nguyễn Hữu Tâm, 2017

C/ Vài nét về hệ phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam:

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi được thành lập vào năm 1934 do Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng 1886 – 1958), người gốc Sa Đéc làm bậc lãnh đạo tối cao và Hội quán trung ương gọi là chùa Tân Hưng Long Tự được xây dựng vào năm 1935 tại Phú Định, Chợ Lớn, đến năm 1953 thì hệ phái được công nhận với tên gọi đầy đủ 8 chữ là: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Tôn chỉ hành đạo của Phật Hội là « Phước Huệ song tu, lấy Pháp môn niệm Phật làm căn bản, dùng y đạo làm phương pháp phát triển hội quán ». Vì thế mỗi cơ sở thờ tự được gọi là một Hội quán, mỗi Hội quán đều có phòng thuốc Nam phước thiện, đó là nguồn gốc của tên gọi « Chùa Phước Thiện » mà dân chúng thường đặt cho Hội quán, ngoài ra mỗi Hội quán đều có một tên riêng bắt đầu bằng chữ « Hưng » và kết thúc bằng chữ « Tự ». Chùa Phước Thiện Hà Tiên của chúng ta tên là Hưng Phương Tự », Tổ Đình ngày nay tại Quận 6 thành phố HCM có tên là Hưng Minh Tự, các Hội quán ở các tỉnh có tên như:  Hưng Phước Tự – Long Xuyên, Hưng An Tự – Rạch Giá, Hưng Giác Tự – Vĩnh Long…v…v…

Hình Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng) chụp trước bức tranh chậu hoa sen điển hình thường được vẽ ở trước mặt chùa Phước Thiện. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.

Hiện nay, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 206 hội quán cũng là 206 phòng thuốc Nam phước thiện ở 21 tỉnh, thành phố; gần 1,5 triệu tín đồ, 4.800 chức sắc, chức việc, 350.000 hội viên; gần 900 lương y, huấn viên y khoa, y sĩ, y sinh; trên 3.000 người làm công việc chế biến thuốc.

Sau đây là một vài hình ảnh do trang face Book của « Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam » chia sẻ cho mình, xin trân trọng cám ơn.

Hình ảnh ngôi chùa Phước Thiện-Hưng Phương Tự (Hà Tiên) và quý vị cư sĩ, đạo hữu chụp vào năm 2018. Hình: do trang fb Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam chía sẻ.

Tài liệu tham khảo: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi Việt Nam

  Viết xong ngày 25/12/2019 Paris, Trần Văn Mãnh

 

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 3)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

(tiếp theo phần 2)

11/ Đường Tham Tướng Sanh ngay tiệm trồng răng Phục Hưng ngày xưa (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường Tham Tướng Sanh là một trong hai con đường ở hai bên ngôi chợ cũ của Hà Tiên (con đường kia tên Tuần Phủ Đạt). Tính từ bên trái qua bên phải của hình, đầu tiên có căn nhà thấy phân nửa đó là tiệm Hiệp Lợi (nhà của gia đình Trịnh Tố Chinh), kế đến căn nhà có dàn cây xanh phía trên đó là tiệm trồng răng Phục Hưng, nhà của bạn Sện (Tường, và có em trai là Bẻ), ngày xưa mình thường đến chơi nhà bạn Sện), căn kế về phía phải màu xanh dương là tiệm Mỹ Nam, kế đến căn màu tím nhạt là nhà của Bà Năm Quới bán trầu cau ngày xưa, kế đó căn nhà nhỏ màu vàng là nhà chị Đỗ Mùi, bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…v…v…, còn căn nhà lầu ở bìa phải thì mới cất lên sau nầy, ngày xưa nơi đó là con hẻm nhỏ đi thẳng vào là tiệm tạp hóa của Dì Hai Sánh, má của cô Điệp phu nhân của anh Minh Thế., nếu tính về phía phải nữa (không còn thấy trong hình) thì là tiệm cơm Xuân Thạnh rất nổi tiếng và nhiều khách ăn ưu chuộng ngày xưa.

12/ Thành phố Hà Tiên nhìn từ phía cầu phà bắc

(Hình: Hồ Anh Dũng, năm ?)

Đây là một hình ảnh rất quý giá và hiếm…Hình nầy có một giá trị lịch sử rất cao vì bây giờ ta không thể chụp lại cảnh thành phố Hà Tiên từ bến bắc nhìn lên như vầy được nữa. Tấm vách xi măng « Những địa chỉ cần ích » bên trái hình đó, mình nhớ rất rỏ vì ngày xưa lúc người ta đang vẻ viết bảng nầy chính mình có đứng xem, họa sĩ viết bảng nầy hình như là ông Phụng Đài ba của bạn Mạnh học chung với mình ở Tiểu Học. Trong bảng « Những địa chỉ cần ích » nầy có các mục giúp cho du khách tìm các địa chỉ dễ dàng như: Khách Sạn (Đại Tân…), Tiệm Ăn (Xuân Thạnh…), Vật kỹ niệm (Lâm Văn Cao, Phan Văn Thân, Lê Minh…). Còn chiếc cầu bắc đó mình đi lên xuống biết bao nhiêu lần rồi, mỗi lần đi Rạch Giá về đều qua cầu bắc nầy…Có khi thường xuống cầu bắc nầy ngồi chơi. Dảy phố phía xa trong hình đối diện với con đường Trần Hầu. Đầu tiên từ bên phải qua bên trái, đó là tiệm đồi mồi Lê Minh, kế đến là tiệm hớt tóc Trần Kỷ, ngày xưa mình là khách hớt tóc quen thuộc của ông Trần Kỷ, đúng ra là nhà của má Tỷ Tuột (Lào Xiếm) cho Trần Kỷ mướn phía ngoài để hớt tóc thôi. Kế đến là tiệm buôn hải sản hiệu Tân Dũ Hưng, kế nữa là một tiệm tạp hóa Cù Thú rồi đến căn nhà tiệm hình kỷ niệm và có bàn billard của ông Quách Ngọc Bá. Bên bìa trái là tiệm cơm rất nổi tiếng ngày xưa là tiệm Xuân Thạnh, ta còn thấy rỏ nóc có vách màu trắng của ngôi chợ cũ Hà Tiên, cuối cùng thật xa bên trái là một phần căn phố của con đường Tuần Phủ Đạt.

13/ Nhà vệ sinh công cộng hình bát giác trước năm 1958 (Hà Tiên)

(Hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958)

Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

14/ Trẻ em ở Đài Kỷ Niệm 1965 (Hà Tiên)

(Hình: Photo: Cliff Rocheleau, năm 1965)

Đây là một bức hình do một người lính Mỹ chụp vào năm 1965 (Cliff Rocheleau) tại bến tàu Quan Thuế dưới Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên. Theo sự nhận xét của một số bạn Hà Tiên quen biết thì những em bé nầy có thể là con của những gia đình làm nghề đánh cá ở phía Cầu Câu, Pháo Đài. Có điều có thể xem như chắc chắn là hình em bên bìa phải là con trai của Ông Thái Dủ, tên là Hồ (Huỳnh Minh Hà), lúc xưa gia đình của Ông có cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm nầy (cây xăng ở bên trái hình, không thấy trong hình). Phía xa là Đài Kỷ Niêm màu trắng ở về bên trái, xa nữa là mặt hông của chợ cá cũ Hà Tiên. Ở giữa hình cặp mé sông còn có một dãy băng đá mà ngày xưa các bạn trẻ thường hay ra ngồi chơi ngắm sông nước…Có vài ý kiến cho là em bé mặc áo bông rằn màu xanh giống em  » Tuấn cùi » con cô Thìn, Ông Đây. Em bé đưa tay chào theo kiểu nhà binh thì giống em Châu con của Bà Tám Lệ, cháu ông Bảy Kế…Từ phải sang trái em thứ tư (đứng phía sau) thì giống em Phò con Ông chủ lò bánh mì Đồng Xương…

15/ Đường Tuần Phủ Đạt, ngay khúc có các căn nhà lầu bạn Hồ Anh Dũng, Lương Cường và Hồ Thị Kim Hoàn (Hà Tiên)

(Hình: David.B.Crawford, năm 1966)

Đây chính là con đường Tuần Phủ Đạt, phía bên phải gần nhất là nhà Ông Âu Tư (ba của bạn Hồ Anh Dũng), Sanh Hoạt (Lương Cường), và lần lượt là nhà Hồ Thị Kim Hoàn và tiệm Đồi Mồi Phan Văn Thân. Phần đất trống có cỏ xanh sau nầy là rạp hát chiếu bóng Phát Minh.  Phía xa xa đó là đường Lam Sơn với nhà Bác Ba Góp và nhìn thẳng ra bờ sông. Có một thời gian phần đất trống (sau năm 1975) dùng làm địa điểm nhóm chợ tạm bán hàng hóa biên giới, sau đó có xây một kho bạc và hiện nay đã không còn kho bạc đó. Một thời gian sau nầy, khu nầy có người dùng nhà làm nơi nuôi yến. Bên phía trái hình là một dãy phố mười hai căn, đó là các căn nhà Ông Tàu Tắc, Ông Nam Xến,…, và căn biệt thự của gia đình thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…).

Xin bổ túc thêm chi tiết về bức hình nầy: tác giả tên là David. B. Crawford (Dave Crawford) là một người lính Hãi Quân Mỹ ngày xưa, phục vụ trên chiếc tàu USCGC Point Garnet (WPB-82310), tàu nầy có mặt ở VN từ 1965-1969, sau 1969 tàu nầy được trao lại lại cho Hãi Quân VN và đổi tên là Lê Văn Ngà HQ 701.

(Còn tiếp phần 4)

Anh Hào, anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời xa xưa ở nơi Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta, ai ai cũng biết nhau, nhất là đối với những bạn bè và người quen biết trong khu phố chợ Hà Tiên. Mình muốn nhắc đến những cặp anh em sinh đôi mà ít nhiều có « tiếng tăm » ở Hà Tiên… Thứ nhất là cặp sinh đôi mà chính mình là một trong hai: Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh, rồi cặp Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt (gia đình có tiệm thuốc tây Thanh Bình ở phía dưới chợ cá cũ), cặp Phật Tử ở chùa Tam Bảo ngày xưa Khưu Thiên Phước, Khưu Thiên Lộc,…v…v….., và còn nhiều nữa mà mình không nhớ ra tên. Ngoài ra ở Hà Tiên còn có những cặp sanh đôi nữ nữa…Bây giờ nói trở lại cặp anh em sanh đôi Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt: đó là hai người bạn thân của anh em mình ngay từ thời còn học trường Tiểu Học. Hào, Kiệt, Dõng, Mãnh đều học chung một lớp ở bậc Tiểu Học. Mình còn nhớ nhiều kỷ niệm với Hào Kiệt lúc còn ở Tiểu Học, nhất là lúc học lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Pho. Nhớ có năm học lớp Nhứt đó, thầy Pho cho làm thủ công, mỗi học trò trong lớp phải làm một cái nhà nhỏ bằng giấy carton. Mình và Lâm Tấn Hào đem vào lớp mỗi đứa một cái nhà bằng giấy rất đẹp, có bạn làm một căn nhà tuy rất đẹp nhưng rất giống loại nhà người ta đốt khi cúng cho người chết, thầy Pho nhìn cười và nói sao giống « nhà táng » quá…!! Ngoài sinh hoạt ở lớp học ra, mỗi buổi chiều hai anh em mình thường đến nhà hai bạn Hào, Kiệt ở đường Mạc Công Du để rủ đi chơi. Lần nào cũng vậy, hai bạn Hào và Kiệt nói chờ tắm xong sẽ đi, vì là con nhà giàu nên chiều nào cũng tắm rửa sạch sẽ trước khi đi chơi…Lúc đi chơi thì cả nhóm kéo tới các băng đá ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, ngồi nhìn ra mé sông, và nói đủ thứ chuyện, dĩ nhiên là không thiếu chuyện con gái…Lúc đó còn có bạn Khoa (mình quên họ rồi, hình như là Châu Văn Khoa) con của chủ tiệm cơm Xuân Thạnh cũng đi chơi chung, và có một người bạn mang kiếng cận con của chú phát thơ làm ở Bưu Điện thời đó, cũng có hai anh em bạn Túc con của nhà Mã Chính Yên ở phía Đông Hồ trước bến tàu đi Rạch Giá….Cuối năm học lớp Nhứt, phải chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất, năm đó đề ra về môn toán rất khó, còn đề môn Văn thì phải bình luận câu « Dùng hàng nội hóa là yêu nước »…Mình cũng làm xong bài về hai môn nầy nhưng kết quả ra là minh, Hào và Kiệt đều rớt hết, cả ba đều ở lại lớp Nhứt, chỉ có anh Trần Văn Dõng thi đậu lên lớp Đệ Thất , thế là sau cả quá trình học ở bậc Tiều Học, hai anh em đều học chung lớp nhưng khi lên bậc Trung học thì người học năm trước, người học năm sau..Năm đó mình ở lại và vào lớp Tiếp Liên của thầy Hà Phương Linh dạy, ngày xưa thầy Linh dạy rất nổi tiếng về lớp Tiếp Liên, tức là lớp chuyển tiếp từ bậc Tiểu Học lên bậc Trung Học, năm đó được thầy Linh luyện cho mình tất cả các loại toán về động tử (hai người khởi hành trước sau vài giờ, chạy cùng chiều hay ngược chiều rồi hỏi vào lúc nào hai người gặp nhau…), vòi nước chảy (có hai vòi nước chảy cùng lúc hay trước sau, lưu lượng chảy khác nhau, hỏi khi nào thì vòi nào chảy đầy bồn nước,..). Những loại toán nầy rất khó đối với các học sinh còn non mới lên lớp Nhứt nên rất khó làm được môn toán khi thi vào Đệ Thất…Còn hai anh em Hào và Kiệt thì gia đình cho lên Sài Gòn học trường Pháp La San Taberd, rồi sau đó nghe nói Hào và Kiệt có học thêm môn võ thuật Thái Cực Đạo và đạt được đến huyền đai….Từ đó thì bạn bè rất ít khi gặp nhau vì cả năm đều xa nhau theo niên khóa học, chỉ có dịp mỗi cuối năm thì những học sinh lên Sài Gòn học đều kéo trở về nhà Hà Tiên để ăn Tết cùng với gia đình, đó là lúc rất vui cho tất cả bạn bè quen biết, vì lúc gần Tết, mỗi người đều trông tin là bạn nầy đã về, bạn kia đã về nên bạn bè họp mặt lại rất vui. Mặc dù xa nhau khá lâu cả năm nhưng tình cảm bạn bè cũng còn duy trì tuy đã kém phần ngây thơ mặn nồng như lúc tuổi thơ, trong đời sống mỗi người đã có hướng đi riêng của mình…Cho đến một ngày nào đó mình lại hay tin Kiệt đã đi được đến bến bờ bình an còn bạn Hào thì không may mắn đã lìa xa vĩnh viển chúng ta…Rất thương nhớ bạn Lâm Tấn Hào, đó là một người bạn rất trầm và rất tốt trong tình giao lưu bạn bè…

Ngở rằng thời cuộc đã chia cắt tình bạn của những năm xưa thời Tiều Học, thế rồi sau một quyết định làm một chuyến đi Californie để họp mặt lại với bạn bè ngày xưa của Hà Tiên, mình đã được gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Kiệt cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nếu có thay đổi nhưng cũng không đủ để cho mình không nhận ra Kiệt, vì Kiệt vẫn còn giữ nét mặt thon gầy giống như kiểu gương mặt của mình,…Ngày nay Kiệt đã vui với cuộc sống hiện tại, quên đi những mất mát nhọc nhằn của thời khó khăn, bên cạnh Kiệt đã có một người vợ hiền Minh Nguyệt cùng chia sẻ vui buồn và những buổi văn nghệ hát hò, những chuyến đi du hành trên nhiều miền của đất nước Hoa Kỳ, mong rằng cái gia đình nhỏ bé đầy ấm cúng của Kiệt và bà xã sẽ luôn có đầy hạnh phút, đầy niềm vui trong văn nghệ ca hát và rong chơi…

Mình cũng nói thêm là Lâm Ánh Nguyệt, người em gái của hai bạn Hào và Kiệt cũng chính là bạn gái học chung lớp với mình ngay từ lớp Đệ Thất…Nguyệt rất hiền, ít nói và cũng rất chăm chỉ trong công việc học hành…Lâm Ánh Nguyệt cũng đã rời xa chúng ta về cỏi vĩnh hằng từ rất lâu rồi. Bây giờ xin giới thiệu với thầy cô và các bạn bài viết của cây bút Hồ Thị Kim Hoàn, một cây bút quen thuộc trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta, Kim Hoàn sẽ tiếp tục kể cho chúng ta nghe giai đoạn sinh hoạt với các bạn Hào, Kiệt trong thời gian đi học ở Sài Gòn những năm 70…    Paris, 28/10/2019, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

Anh Hào, Anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Đó là hai anh sinh đôi Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt mà tôi luôn xem như là anh trai của mình.

Ba tôi và bác Hai Bình (ba của hai anh) là bạn thân. Từ khi lên Trung Học tôi đã thích tung bay ra phương trời rộng, nên viện cớ muốn lên Sài Gòn học hè, sẵn có nhà bác Hai ở Sài Gòn, có các cô, chú đang trọ học, nên “đơn xin” của tôi dễ dàng được chấp thuận từ mọi phía.

Mùa hè luôn tuyệt vời đối với tôi, vì tôi được xa nhà, học thì ít mà chơi thì nhiều. Nơi căn nhà đó, các cô chú cũng đang là học sinh, sinh viên. Anh Hào, anh Kiệt lớn hơn tôi 4 tuổi, coi như anh. Thường thì năm nào cũng có tôi và Tô Vĩnh Tuấn là nhỏ nhất, nên rất được nuông chìu.

Tôi đã có biết bao kỷ niệm êm đềm, nhưng tôi chỉ xin nhắc tới anh Hào, anh Kiệt trong bài viết này.

Thuở nhỏ, niềm mơ ước của tôi là có anh trai. Tôi thấy bạn bè có anh thật sướng, được anh chỉ dẫn bài vở, được anh bảo bọc chở che, và anh đem bạn trai về nhà…   

Bên mấy anh hoài, ít được rong chơi nên cũng hơi chán. Thỉnh thoảng có chị Lâm Ánh Nguyệt là em gái của hai anh lên chơi khiến tôi vui hơn, có thêm tiết mục ăn hàng rong, đi bát phố… 

Một buổi tối tôi rủ chị Nguyệt vô quán cà phê ca nhạc. Mọi người trong quán nhìn hai đứa bé “vị thành niên”, khoảng 13, 14 tuổi, với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi cũng kêu cà phê uống và thả hồn theo những bài hát trữ tình đến nỗi quên thời gian.

Đường phố đã vắng tanh, bấy giờ hai chị em mới biết lo sợ. Quả như chị Nguyệt nói, anh Kiệt đã chờ sẵn trước cửa nhà, anh đi qua đi lại, vẻ nôn nóng lắm. Thế mà thấy mặt hai đứa em, anh chẳng mừng, còn la cho một trận:

– Có biết giờ này mấy giờ không? Con gái gì mới bây lớn vô quán nhạc uống cà phê là sao? Lần này thôi nhe, không có lần sau nghe hông!

Chị Nguyệt kéo tôi đi nhanh:

– Vô nhà mau em, ở đây ảnh đánh bây giờ!

Ảnh có đai đen Thái Cực Đạo, ảnh mà đánh, chắc… chết không kịp ngáp!

Úi chao, tôi nào biết có anh trai… dễ sợ như vậy chứ!

Khi tôi giã từ trường “Trung học Hà Tiên” để lên Sài Gòn học lớp 11 thì ba tôi đã mua một căn nhà nhỏ, tôi ở đó với hai anh, lúc ấy anh đã đi làm. Trong hai năm học liên tiếp, tôi muốn đi bộ đến trường nhưng anh không cho. Anh Hào đưa tôi đi học và anh Kiệt đón tôi tan trường về. Các bạn tôi thường trầm trồ:

– Mi sướng quá, anh tao đời nào chịu đưa rước tao.

Lúc đó tôi đã lớn, nên khi có dịp tiệc tùng nhà bạn, anh thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi là em gái. Bạn bè cứ tưởng chúng tôi là anh em ruột.

Tôi nhớ có lần anh Hào đưa tôi ra bến xe “xa cảng miền tây” để về Hà Tiên nghỉ hè sau kỳ thi. Anh lo cho tôi lên ngồi trên xe đò xong, tưởng anh đã về, nhưng tôi chợt nghe giọng anh nói với người ngồi ngoài sau tôi:

– Nhờ anh dùm ngó chừng em gái tôi nhé, nó đi xe hay bị ói, có gì xin anh giúp đỡ dùm.

Tôi thấy xúc động ngập tràn! Ôi, anh của tôi lo cho em gái thế này! Tôi trấn an anh:

– Em đi được mà, anh đừng lo. 

Anh quay bước, ánh mắt nhìn tôi vừa lo âu, vừa thương mến. Nói thế nhưng chuyến đi nào mà tôi không bị ói! Anh quân nhân ngồi sau cứ chồm lên thăm hỏi :

– Cô thế nào rồi? Có sao không? Tại anh cô kêu tôi… dòm ngó cô đó mà.

Trên xe, tôi thấy đa số là ông già bà cả, phụ nữ, con nít… mà anh lại chọn ông thanh niên… hùng mạnh này để gởi gắm em gái, anh hay thiệt!

Nhớ ngày sinh nhật thứ 16 của tôi, anh Hào đã đem về cho tôi một bức tượng thiếu nữ, đúc bằng thạch cao trắng:

– Anh thấy tượng này giống Hoàn quá!

Tôi ngơ ngẩn hỏi anh:

– Em đẹp được như vầy hay sao?

Chao ơi, chắc niềm thương mến trong lòng anh đã làm anh… hoa cả mắt! 

Cuộc họp nào cũng tới lúc phải chia tay. Rồi chúng tôi có gia đình riêng. Rồi tôi đến Mỹ năm 1978. Khoảng thời gian đó, anh Hào cũng vượt biển, nhưng anh không bao giờ đến bến bờ tự do. Tôi buồn lắm, tôi thương nhớ anh và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Giờ còn lại anh Kiệt. Có thời gian anh bệnh nặng, cô đơn, buồn bã. Anh hay gọi tôi và kể tôi nghe đủ chuyện, có khi tôi giật mình hỏi anh:

– Chuyện bí mật này có ai biết không?

– Không.

– Vậy sao anh nói với em?

– Vì em là người trong gia đình mà.

– Anh không sợ em nói cho người khác biết sao?

Anh cười vang:

– Bộ anh không hiểu tính của em hay sao chứ!

Được anh tin tưởng như vậy, tôi quả thật vui sướng!

Anh ở cách tôi một tiếng lái xe, khi có dịp là chúng tôi hẹn gặp nhau. Tôi cảm động vì anh chưa từng từ chối mỗi khi tôi ngỏ ý muốn gặp anh.

Càng ngày tôi càng thấy anh yêu đời, phong độ hơn, bởi anh đã có một người vợ tuyệt vời đi bên cạnh. Tôi mừng cho anh tôi và thầm cảm ơn chị Minh Nguyệt đã mang đến cho anh niềm tin yêu và hạnh phúc trong cuộc đời!

Californie, tháng 10, 2019 Hồ thị Kim Hoàn

Trái qua phải: Lâm Tấn Hào, Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Ánh Nguyệt và Lâm Tấn Kiệt . (Hình xưa: Hồ Thị Kim Hoàn)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Hồ Thị Kim Hoàn và Lâm Tấn Kiệt (hình hiện tại, Hồ Thị Kim Hoàn)

Lâm Tấn Kiệt và phu nhân Minh Nguyệt trong cuộc sống hiện tại ở nước Mỹ. (Hình: Hồ Thị Kim Hoàn)

Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)

*

Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang). Trước ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 đã bị hư hại, không còn sử dụng được nữa nên đã neo lại ngay Ụ nổi 9600 tại bến tàu của Hải Quân Cơ Xưởng tại Sài Gòn.

Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

Tái bút 4: Theo lời của anh Trần Đỗ Cẩm, cựu sĩ quan Hải Quân cùng khóa với thiếu tá Nguyễn Phú Bá, anh Cẩm vẫn đang tìm kiếm tung tích chiếc tàu HQ 607. Tin tức sơ khởi cho biết chiến hạm này KHÔNG DI TẢN qua Phi Luật Tân vì lúc đó đang đại kỳ tức là phải lên ụ để tân trang toàn diện. Hạm Trưởng cuối cùng là HQ Thiếu Tá Trần Văn Dùng khóa 16 SQHQ/Nha Trang. Có người cho biết vào năm 1990 có gặp ông Trần Văn Dùng tại VN. Anh Trần Đỗ Cẩm vẫn đang tiếp tục tìm hiểu thêm chi tiết.