Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Một vài ngôi nhà xưa với kiến trúc đẹp ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, Hà Tiên ngày nay đang trên đà phát triển tột độ, Đa số nhà cửa xưa cũng đã được tu bổ, sửa chữa lại, hoặc không còn tồn tại nữa. Vì nhu cầu hoàn thiện, đổi mới nên một số phố xá nhà cửa cũng đã bị phá bỏ và thay vào đó là đường xá, công viên, vườn hoa mới và đẹp. Ngay cả dọc theo bờ sông Giang Thành (ta thường gọi là sông Hà Tiên) cảnh vật cũng không còn như xưa. Mặt sông cũng đã bị đất liền nới chiếm, người ta lấp bờ sông, bồi đất để mở thêm diện tích làm công viên, thậm chí còn tạo thêm một vùng có thêm nhiều con đường mới như khúc chợ mới ở Hà Tiên. Ngày nay con đường ngày xưa ta gọi là « Bến Trần Hầu » không còn là con đường có gió mát thổi và có hàng dừa ngay bến sông…Bên mé sông của con đường nầy đã được dựng lên nhà cửa, phố xá, tiệm buôn, khách sạn che khuất cả mặt tiền nhìn ra hướng sông, muổn ra đứng bờ sông ngắm cảnh trời mây non nước, ta phải đi ra khỏi con đường Trần Hầu về phía bờ sông, vì nơi đây còn thêm một khoảng đất được nới rộng ra, có công viên cây xanh đẹp mắt…

Thêm vào đó chung quanh núi Tô Châu, núi Bình San và núi Phù Dung (Phù Dung là tên chánh thức của ngọn núi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi tên là Đề Liêm), nhà cửa được xây cất tấp nập, phần cây xanh của những ngọn núi nầy đã bị giảm bớt rất nhiều. Trong phố thị Hà Tiên, chỗ nào còn sân hoặc thửa đất trống cũng đã « được » trưng dụng để xây cất thêm nhà cửa, cao ốc dùng trong việc thiết lập ngân hàng, khách sạn…v…v…Nếu ta có thể đặt hai cái bản đồ có vạch rỏ các vùng nhà cửa, cây xanh, mặt sông ngày xưa và hiện nay nhập vào nhau thì ta sẽ thấy các phần cây xanh, phần mặt sông đã bị xâm chiếm nhiều, diện tích giảm đi rỏ rệt, ngươc lại phần nhà ở, dinh thự thì tăng lên rất nhiều…Ngoài ra nếu ta quan sát hình dạng và cung cách quy mô của những ngôi chùa ở Hà Tiên xưa và nay, ta cũng thấy rỏ sự phát triển, sự « xi măng hóa » rất mạnh mẻ và rỏ rệt của những nơi nầy..Một trường hợp điển hình là trên sườn cây xanh của núi Tô Châu, ngày nay, từ bên phía công viên Hà Tiên nhìn qua bên núi Tiểu Tô Châu, ta sẽ thấy sườn núi có một vết « nhân tạo hóa » rất lớn và rất rỏ, không nói ra bạn đọc cũng hiểu đó là ngay chỗ những tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên…!! . Về phía chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, Tịnh Xá Ngọc Hồ ngày xưa những ngôi chùa nầy rất kính cẩn, trang nghiêm, đơn giản và rất hài hòa phù hợp với quang cảnh đồi núi, cây xanh chung quanh. Ngày nay, những ngôi chùa nầy đã được xây cất phát triển quá to lớn, lại có cả tường, cổng xây bằng gach chắc chắn chung quanh, ta không còn thấy rỏ nét cổ kính thanh đạm của ngôi chùa ngày xưa mà nhu cầu tu hành kinh kệ không nhất thiết phải có đủ quy mô vật chất như hiện nay… Âu đó cũng là nhu cầu thiết yếu của một khía cạnh khác, của sự kinh tế, hoạt động du lịch cần được phát triển và cải tổ cho phù hợp với làn sóng người đi thăm viếng cảnh đẹp Hà Tiên. Hy vọng rằng Hà Tiên sẽ tiếp tục phát triển và phát triển một cách hợp lý, hài hòa với nhiều khía cạnh khác nhau trong một kết quả tổng hợp được mọi nhu cầu để cái đẹp, cái cổ xưa, nét thanh tao và nhã nhặn của một nền kiến trúc cân bằng được chú ý đến…

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài ngôi nhà cổ xưa, với một nét kiến trúc đẹp, có ngôi nhà thì vẫn còn được bảo tồn, có ngôi nhà thì vì nhiều lý do khách và chủ quan, không còn được chăm sóc bảo quản, đó cũng là điều đáng tiếc, vì thế nếu một mai thực tế có biến mất đi, ta chỉ còn lại vài bức hình để nhớ và luyến tiếc….

1/ Ngôi nhà A:

Ngôi nhà A: Đây là một ngôi nhà xưa với lối kiến trúc rất đẹp, mặt tiền nhà được sơn phết lại rất hài hòa. Hình chụp vào năm 2013, do một người du khách tên Adriaan Castermans chụp.

2/ Ngôi nhà B:

Bên phải tấm hình ngôi nhà A trên đây, có một ngôi nhà (tạm gọi là ngôi nhà B) cũng thuộc diện cổ với kiến trúc đẹp, người du khách Adriaan Castermans cũng có chụp một bức hình vào năm 2013 như sau:

Ngôi nhà B: Tọa lạc bên phải ngôi nhà A và cùng trên một con đường. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Trong bức hình nầy, ta thấy rỏ vị trí của hai ngôi nhà A và B (A bên trái và B bên phải), tuy nhiên hai ngôi nhà trong thời điểm nầy rất cũ kỷ, chưa được sơn phết tu chỉnh mặt tiền. Hình: Monique NG, năm 2006

Trong bức hình nầy ta cũng thấy rỏ ngôi nhà A với mặt tiền nhà cũng bắt đầu cũ kỷ, cây xanh trước hiên nhà cũng đã giảm bớt. Hình : Cashonly77, năm 2006

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. Thời gian chụp hình có lẻ sau năm 2000

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Sonia Maclean, năm 2018

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái (một phần nhỏ) và B ngay giữa hình, hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

3/ Ngôi nhà C:

Xin giới thiệu thêm một ngôi nhà nữa, tạm gọi là ngôi nhà C, cũng tọa lạc trên cùng một con đường và cùng một dãy với hai ngôi nhà A và B nói trên. Ngôi nhà C nầy có lối kiến trúc rất đẹp, tuy hiện nay không có người ở nhưng vẫn còn người sở hữu ngôi nhà cổ xưa nầy.

Ngôi nhà C rất xinh đẹp, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Tuoi Tran, năm 2019

Vị trí và thông tin về ba ngôi nhà A,B và C:

Ba ngôi nhà A,B và C đều tọa lạc trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên, cùng thuộc về một dãy phía bên trái con đường Cầu Câu nếu ta nhìn từ đường Lam Sơn về phía đường Trần Hầu. Ngôi nhà A và B liền nhau, còn ngôi nhà C thì cách hai ngôi nầy vài căn nhà khác. Theo thông tin của các bạn ở Hà Tiên thì ngôi nhà A là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Bà Giáo Lễ. Ngôi nhà B là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Ông Hai Mỹ. Hiện nay đều có người trong các gia đình nầy trú ngụ tại hai ngôi nhà nầy. Còn ngôi nhà C cũng là ngôi nhà rất xưa, có gốc gác là nhà của Bà Xã Huê, tuy không có người chăm sóc hiện nay nhưng vẫn còn sở hữu riêng tư.  Thêm một chi tiết nữa là nếu ta tính liên tục hai ngôi nhà A rồi B thì đến căn nhà của Ông Giáo Ngọt (tức là thầy Hà Văn Thành).

Vị trí ba ngôi nhà cổ xưa kiến trúc đẹp: A, B và C trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên nằm trong phần giới hạn giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu.

4/ Ngôi nhà D:

Trên con đuòng Chi Lăng (Hà Tiên) cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà D), thiếu sự chăm sóc, tuy nhiên nhà có lối kiến trúc cũng khá đẹp, nhất là mái hiên mặt tiền nhà. Hiện không biết thông tin về sở hữu và tình trạng người ở trong ngôi nhà nầy.

Ngôi nhà D cổ xưa ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Hình sưu tầm, không rỏ năm.

5/ Ngôi nhà E xưa nhiều kỷ niệm đường Nhật Tảo:

Ở đường Nhật Tảo Hà Tiên, có một ngôi nhà xưa rất đẹp, sạch sẽ và rất khang trang, (tạm gọi là ngôi nhà E), ngôi nhà chứa rất nhiều kỷ niệm đối với riêng mình. Thời xưa những năm 60, trước khi quý thầy dạy Trung Học Hà Tiên đến ở ngôi nhà nầy trong thời gian dạy học ở Hà Tiên thì có các bạn Hồ Văn Quân và hai người em của Quân là Hồ Văn Nhân và Hồ Văn Đạo từ Kiên Lương lên Hà Tiên ở trọ nhà nầy để theo học bậc Tiểu Học Hà Tiên. Vì Quân là bạn học cùng lớp với mình ở Tiểu Học nên thường ngày mình hay đến ngôi nhà nầy chơi với Quân. Sau đó khi lên bậc Trung Học, quý thầy dạy bậc Trung Học ở trọ căn nhà nầy trong thời gian đi dạy ở Hà Tiên. Học trò thường đến căn nhà nầy vào những buổi chiều, tối để sinh hoạt vui chơi với quý thầy, đó là quý thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Văn Thành,…v…v…Ngay cả có một đêm mình và anh Trần Văn Dõng ngủ lại trong căn nhà nầy để tiếp tục vui chơi với bạn và thầy, lúc đó có Trần Anh Kiệt, Phan Văn Hữu, Bùi Văn Tư, Tòng….v..v….cùng tham dự.

Ngôi nhà E tọa lạc tại đường Nhật Tảo, Hà Tiên, có nét kiến trúc và mặt tiền rất đẹp, hiện vẫn được tu bổ tốt. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

6/ Ngôi nhà F:

Ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà F), được duy trì rất khang trang, mặt tiền rất đẹp, nhìn ra đường Lam Sơn. Đó là ngôi nhà của gia đình anh Lý Đại Độ, Lý Tuấn Kiệt,…

Ngôi nhà F ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo, mặt tiền nhìn ra đường Lam Sơn. Kiến trúc rất đẹp, ta thấy một số nhà kể phía trên (A,B,C,….) đều có cách thiết lập mặt tiền gần giống nhau. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

7/ Ngôi nhà G:

Trên con đường Bạch Đằng Hà Tiên cũng có vài ngôi nhà tuy nhỏ, chen lẫn với một hàng dãy nhà liên tục, không có sân rộng như các trường hợp trên, nhưng cũng có mặt tiền trình bày rất đẹp.  Đầu tiên xin giới thiệu ngôi nhà G, bên lề phải đường Bạch Đằng nếu ta tính từ ngả tư đường Chi Lăng-Bạch Đằng nhìn về phía sông Hà Tiên. Đó là ngôi nhà ngày xưa thầy La Từ Sự sinh sống ở đó, phía trước nhà ngày xưa có đặt nhiều chậu hoa, cây xanh tạo thành một mặt tiền nhà rất hài hòa và đẹp. Hiện nay, không hiểu vì lý do gì các cửa sổ và cửa chánh của ngôi nhà đã bị xây bít lại, có thể là nhà bỏ trống, không người ở.

Ngôi nhà G, trên đường Bạch Đằng Hà Tiên, tuy nhỏ nhưng mặt tiền trình bày các vòng cung rất đẹp. Hình: HuynhNT, không rỏ năm.

8/ Ngôi nhà H:

Cũng trên con đường Bạch Đằng, Hà Tiên, khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu, bên lề phải của đường Bạch Đằng nếu ta nhìn từ đường Trần Hầu trở lên về phía đường Lam Sơn, ta sẽ thấy có một ngôi nhà gồm hai căn liền nhau và mặt tiền có lối kiến trúc trình bày y hệt nhau (tạm gọi là ngôi nhà H). Căn nhà bên trái ngày xưa chính là quán cafe Quảng Phát mà cả quảng đời ngày xưa mình thường xuyên lui tới uống cafe với các bạn. Trong những năm 60-70, đây là tiệm cafe có luôn cả thức ăn điểm tâm mà người dân Hà Tiên rất ưu chuộng, có cả giới chánh quyền, nhân viên hành chánh, sĩ quan, học sinh lui tới mỗi ngày để ăn uống và trò chuyện rất đông đúc. Còn căn nhà bên phải thuộc về một gia đình người Hoa, nhà thường đóng cửa luôn…Không có thông tin về tình trạng sở hữu và người ở trong hai căn nhà nầy hiện nay.

Con đường ở giữa hình theo chiều đứng là con đường Lam Sơn, Hà Tiên. Theo chiều ngang trong hình ta có con đường Bạch Đằng chạy ngang thẳng góc với đường Lam Sơn và theo chiều dãy nhà ngang trong hình. Phía trên bên phải chính là ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998

Ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Từ phía dưới đường Trần Hầu (con đường nằm ngang phía cạnh dưới hình) ta nhìn lên dọc theo đường Bạch Đằng thì ngôi nhà hai căn nầy nằm bên phải ở giữa hình. Hình: TVM, năm 2012

Tuy nhiên theo bức hình nầy, ta thấy ngôi nhà H gồm hai căn đã có thay đổi: mặt tiền căn nhà bên trái đã được sơn màu xanh dương và phần trang trí phía trên cao đã biến mất. Căn nhà bên phải vẫn còn giữ theo xưa. Hình nầy chụp khoảng sau năm 2012, nguồn HuynhNT

Vị trí ngôi nhà G ngày xưa thầy La Từ Sự ở và ngôi nhà H gồm hai căn trong đó căn bên trái là tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa trên đường Bạch Đằng.

Tái bút:

1/ Bạn đọc có thể xem thêm bài và hình dưới đây để biết thêm một vài căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên ngày xưa.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/10/18/nhung-ngoi-nha-va-ngoi-truong-ngay-nay/

2/ Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị và tất cả các bạn gốc Hà Tiên đã tham gia ủng hộ, góp ý, trao đổi thông tin, hình ảnh và trả lời thắc mắc của mình để bài viết nầy được thêm phần chính xác và phong phú.

Trần Văn Mãnh Paris 04/01/2020

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Phước Thiện Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên có một ngôi chùa tuy không lớn lắm nhưng là nơi xuất phát rất nhiều kỷ niệm xưa đối với người dân Hà Tiên, nhất là những người cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, đó là ngôi chùa có cái tên quen thuộc là chùa Phước Thiện. Thật vậy đúng như tên của ngôi chùa, chùa Phước Thiện là nơi quý thầy chuẩn bệnh, phát thuốc cho người dân Hà Tiên, mỗi khi có người đến xin được trị bệnh. Quý thầy ở chùa Phước Thiện thực hành chuẩn trị bệnh theo các phương thuốc Nam, một ngành y học cổ truyền của dân tộc Việt Nam.  Nhà mình biết nhiều về ngôi chùa nầy, vì chùa tọa lạc ở góc đường Bạch Đằng-Chi Lăng (đó là vị trí chánh thức của ngôi chùa, vì tiền thân của ngôi chùa vốn ở một nơi khác cũng trong khu phố Hà Tiên, sẽ nói thêm trong phần sau). Lúc mình còn nhỏ, tuy nhiên cũng khoảng trên dưới 12 hoặc 13 tuổi, lúc ngôi chùa vừa được xây cất xong, mấy anh em nhà mình thường hay lên chùa xem bác Tư Đài (họa sĩ Phụng Đài, ngày xưa nhà ở đường Đống Đa, thân phụ của bạn Trần Văn Mạnh, học chung bậc Tiểu Học với mình) vẽ hình một chậu hoa sen thật to rất đẹp ngay trước vách tường chánh của ngôi chùa, hình ảnh chậu hoa sen nầy là biểu tượng của môn phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội mà chùa Phước Thiện thuộc về môn phái nầy. 

Mỗi một dịp được nghỉ hè khoảng ba tháng, ông bà ngoại mình thường kêu mấy anh em mình lên chùa Phước Thiện (vì chùa rất gần nhà mình) làm công quả. Những việc phải làm giúp cho chùa với tên gọi là làm công quả tức là chặt thuốc, phơi thuốc..v..v….Vì chùa Phước Thiện chính là trụ sở của Hội Quán do quý thầy tu, cư sĩ, y sĩ chuẩn bệnh, phát thuốc cho dân, nên thường ngày nhà chùa phải sản xuất ra các phương vị thuốc Nam. Không biết cây, lá có vị thuốc quý thầy kiếm ở đâu ra, nhưng mỗi ngày mấy anh em mình lên chùa và mỗi đứa ngồi một chỗ, có một miếng thớt bằng cây rắn chắc, dùng một cây dao cũng khá lớn và cứ chặt những nhánh cây có vị thuốc ra thành từng khoanh nhỏ để khi nấu thuốc dễ trích ra các chất thuốc chứa trong nhánh cây đó, mỗi khoanh chỉ mỏng chừng một phân thôi, và phải chặt cho đều, khéo tay theo kiểu thành một khoanh nhỏ và theo chiều xéo chứ không chặt thẳng góc với chiều dài của nhánh cây. Mỗi ngày cứ lên chùa, ngồi xếp bằng, cứ chặt các nhánh cây thuốc thành từng khoanh nhỏ như vậy, sau đó, giúp quý ni cô và quý thầy trải các khoanh cây thuốc chặt nhỏ như vậy ra trong các sàng, nia, nong (tức là các thứ rổ lớn đan bằng tre) để đem phơi cho thật khô ngoài sân chùa. Khi thuốc được phơi thật khô, đúng ngày, thì giúp quý ni cô, quý thầy, phân chia thuốc vào các hộc tủ nhỏ trong phòng lớn sau chánh điện, nơi quý thầy chuẩn bệnh và phát thuốc. Mỗi hộc tủ nhỏ chứa thuốc đều có giấy nhãn ghi tên thuốc rất rỏ ràng, có tên cây thuốc thì rất bình dân như: Cà gai leo, cỏ hôi, chó đẻ,…v..v.., có tên thì theo chữ Hán Việt như; Đình lăng, đan sâm, mã đề, địa liền, trần bì…v..v…Mình cũng muốn học thuộc tên các cây thuốc đó nhưng rất khó nhớ…Khi quý thầy chuẩn bệnh và sau đó bốc thuốc thì quý thầy theo một toa thuốc vừa viết ra trên giấy, và trải một tờ giấy rất lớn trên bàn, sau đó thầy cứ theo tên các vị thuốc đó đi đến mỗi hộc tủ và bốc ra các vị thuốc đặt trên tờ giấy, sau đó thầy gói tờ giấy lại rất khéo thành một gói thuốc dạng vuông vức, thường thì thuốc Nam phải uống nhiều lần mới có công hiệu nên quý thầy cho một lần hai gói thuốc, gọi là hai thang thuốc, dùng dây cột hai thang thuốc lại và người bệnh xách hai gói thuốc đó về nhà, phải mua thêm một cái siêu đất (vì siêu phải bằng đất mới tốt và hợp với thuốc), bỏ thuốc vào siêu và cho nước vào rồi nấu cho sôi để trích ra các vị thuốc chứa trong cây thuốc, sau đó chờ hơi còn ấm thì uống thuốc, thuốc Nam cũng rất đắng phải chịu khó uống…, mình cũng có từng uống qua các thang thuốc Nam rồi, đắng lắm, phải uống từng ngụm nhỏ thôi từ từ mới uống hết chén thuốc…Nhiều khi rảnh rổi, có một thầy cư sĩ còn rất trẻ, khoảng trên dưới 25 tuổi thôi, thầy thường hay trò chuyện với mình, mình còn nhớ có lúc thầy hỏi học lớp Nhất ở trường Tiểu Học với thầy nào, mình còn nhớ và trả lời là học với thầy Nguyễn Văn Pho, sau khi nghe câu trả lời, thầy cư sĩ đó nói « Còn tui là ông Phò anh của ông Pho đó!! », lúc đó vì còn nhỏ tuổi mình cũng bán tín bán nghi, không biết nhận ra đó là câu nói đùa cho vui mà thôi…

Còn một kỷ niệm khác rất vui nữa, mình còn nhớ rất rỏ, thời gian đó trong chùa cũng có một ni cô, ni cô cũng tương đối còn trẻ tuổi, chắc khoảng trong tuổi 20, 30 thôi, ni cô có nhờ mấy anh em mình chép lại nguyên một cuốn sách dùm cho ni cô, tức là mình làm vai trò như một cái máy « photocopie » vậy, vì thời đó chưa có máy chụp hình giấy tờ như loại « photocopie »…(Thời đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên người ta muốn xuất bản tập san tin tức hay văn nghệ cũng chỉ dùng phương pháp quay « ronéo » để có được nhiều bản chứ cũng chưa có máy làm « photocopie » như sau nầy). Bây giờ kể tiếp việc chép nguyên bản cuốn sách cho ni cô ở chùa, cuốn sách nầy là cuốn viết về các mẫu làm đơn, mẫu viết thư dùng cho mọi người, nhất là học sinh, sinh viên hay người ngoài đời sống xã hội. Thật vậy, cuốn sách có khá nhiều trang, mình không nhớ là bao nhiêu trang, nhưng có đủ các chương; mẫu đơn xin việc làm, mẫu viết thư chúc mừng bạn bè, xin vay nợ hay xin hoản nợ..v..v…Mình và anh Trần Văn Dõng nhận việc làm nầy giúp cho ni cô có được một cuốn sách giống như vậy nhưng dưới hình thức chép tay lại, có lẽ ni cô mượn cuốn sách nầy của ai đó và muốn có một bản giống y như vậy để dùng trong việc viết thư từ…Mỗi ngày ở nhà, anh em mình lên cái gác trên lầu, chỗ có đặt bàn học hằng ngày, cứ chép mỗi ngày vài tờ trong cuốn sách đó, được ba bốn ngày, lại phát hiện trong cuốn sách tới chương « Mẫu viết thư tình »…!! Mình thấy hơi lạ vì không biết có hợp với việc dùng sách của ni cô không, mình đem việc nầy nói lại trong nhà và hỏi ý kiến, trong nhà mình có người chị bạn dì tên là chế Thìn (tên chữ là Lê Thị Phượng), chế nói thôi đi, ni cô thì chắc không cần các mẫu thư tình gì đâu, vậy khỏi chép chương nầy đâu…Nhờ vậy mình cũng bỏ hết một chương dài có các mẫu thư tình nầy, nên cuối cùng cũng hoàn thành việc công quả cho ni cô là đã chép xong lại cuốn sách cần dùng cho ni cô (chỉ thiếu chương về mẫu các thư tình, phải biết sau nầy có cần dùng các mẫu nầy cho việc riêng của mình thì mình đã chép riêng lại phần nầy để dành rồi,…!!). Đó là một kỷ niệm thật vui trong thời gian anh em mình làm công quả trên chùa Phước Thiện. Thời gian trôi qua, không còn nhớ anh em mình làm công quả cho đến bao nhiêu lần nghỉ hè, nhưng một thời gian sau thì cũng thôi, không còn lên chùa làm công quả nữa, tuy nhiên ngôi chùa Phước Thiện ở Hà Tiên đã gây cho mình rất nhiều ấn tượng tốt đẹp, ngay lúc còn nhỏ đã được tiếp xúc với quý thầy, cô, cư sĩ, y sĩ trong ngành thuốc Nam và đã đươc thấm nhuần trong cái không khí từ bi, yên tỉnh của nhà chùa.  Từ đó về sau, mỗi lần đạp xe đạp trên đường Bạch Đằng chạy ngang chùa Phước Thiện mình thường hay nhìn vào chùa và cảm thấy rất thích thú vì đã làm được nhiều việc có ích lợi cho nhà chùa, giúp mình tránh được việc đi la cà ngoài chợ hay đi phá người ta…Đó là thời còn nhỏ, sau nầy khi lên bậc Trung Học, mình lại thường theo các bạn đi chơi nhiều hơn, thường là đi chơi văn nghệ, tụ tập dợt hát, dợt đàn, và đi dạo vòng quanh Đài Kỷ Niệm mỗi buổi chiều tối..

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phước Thiện:

Theo thông tin của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam, tiền thân của ngôi chùa Phước Thiện là một ngôi am nhỏ, do cư sĩ Lê Văn Y lập nên vào năm 1951, trên mảnh đất do một Phật tử địa phương cho mượn, theo trí nhớ của anh Trần Văn Dõng thì cái Am nầy tọa lạc trên đường Đống Đa, khoảng khúc ngả tư đường Mạc Cửu và Đống Đa trở lên phía trường Tiểu Học Hà Tiên. Cái Am nhỏ nầy vừa là nơi tu hành, vừa là phòng hốt thuốc Nam từ thiện. Đến năm 1961, được ông Phán Lịch hiến cúng một khu đất rộng ngay tại góc ngả tư đường Bạch Đăng – Chi Lăng, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây một nhà thuốc Nam từ thiện bằng cây lá lấy tên là “Dân Lập Công Chợ”. Năm 1966, sau khi gia nhập hệ phái Tịnh Độ Cư sĩ, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây dựng lại nhà “Dân Lập Công Chợ” thành Tịnh Độ Hưng Phương tự. Từ đó, chùa Phước Thiện có tên chánh thức là Hưng Phương Tự và thuộc môn phái Tịnh Độ Cư sĩ chủ trương “Phước Huệ Song Tu” vừa thờ Phật vừa hốt thuốc Nam từ thiện cho dân nghèo địa phương.

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự tại góc đường Bạch Đăng-Chi Lăng, Hà Tiên. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt nam, 2008

Vị trí chùa Phước Thiên – Hưng Phương Tự tại khu phố Hà Tiên. Theo cái nhìn ngày xưa ta có các vị trí chung quanh chùa như sau: 1= Chùa Phước Thiện; 2= Nhà của Bác Sửu thân phụ của anh Lâm Văn Có, Lâm Mỹ Nhung; 3= Nhà của ông Ký Tí (ông Ký Cụi), ông ngoại của Phạm Thị Kim Loan; 4= Nhà của má Hai mình tức nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn (chị em bạn dì với mình); 5= Nhà của người đẹp Phan Kiều Dũng; 6= Nhà của thầy Hứa Văn Vàng; 7= Nhà của bạn học cùng lớp mình, Hà Mỹ Oanh; 8= Nhà và quán cafe nhạc Ti La của thầy cô Trương Minh Đạt. Bên góc đường Chi Lăng-Tô Châu, ngày xưa còn có một bên là cái giếng nước và một bên là cây me rất to lớn.

Khi bên ngoài ta đi vào chùa bằng cổng chánh thì có một hành lang rất dài cho đến phía sau chùa, thường dùng để phơi các sàng thuốc. Bên ngoài nhìn vào chùa thì phía trái hành lang là chánh điện, sau chánh điện là phòng khám, chuẩn bệnh và phát thuốc, có một cửa hông để đi vào, bên phải hành lang, đối diện với cửa phòng phát thuốc là một gian nhà rộng lớn, dùng để sản xuất thuốc, tức là nơi các đệ tử, quý thầy cô ngồi chặt thuốc.

Năm 1991, cư sĩ Lê Văn Y qua đời. Kế tục trụ trì chùa là cư sĩ Lê Thị Lình. Trong thời gian trụ trì chùa, với công đức của Phật tử địa phương và nguồn tự lực của chùa, cư sĩ Lê Thị Lình đã cho trùng tu nhiều công trình Phật sự trong chùa như xây hàng rào khuôn viên (1993), chánh điện (1996), phòng thuốc nam (1997), nhà hậu Tổ (1999) và nhà trù (2001). Năm 2000, cư sĩ Lê Thị Lình tạ thế. Quản lý chùa hiện nay là cư sĩ Phạm Thị Hiền (pháp danh Diệu Hòa).

Toàn diện ngôi chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự Hà Tiên sau nhiều công trình trùng tu. Hình: Nguyễn Hữu Tâm, 2017

C/ Vài nét về hệ phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam:

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi được thành lập vào năm 1934 do Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng 1886 – 1958), người gốc Sa Đéc làm bậc lãnh đạo tối cao và Hội quán trung ương gọi là chùa Tân Hưng Long Tự được xây dựng vào năm 1935 tại Phú Định, Chợ Lớn, đến năm 1953 thì hệ phái được công nhận với tên gọi đầy đủ 8 chữ là: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Tôn chỉ hành đạo của Phật Hội là « Phước Huệ song tu, lấy Pháp môn niệm Phật làm căn bản, dùng y đạo làm phương pháp phát triển hội quán ». Vì thế mỗi cơ sở thờ tự được gọi là một Hội quán, mỗi Hội quán đều có phòng thuốc Nam phước thiện, đó là nguồn gốc của tên gọi « Chùa Phước Thiện » mà dân chúng thường đặt cho Hội quán, ngoài ra mỗi Hội quán đều có một tên riêng bắt đầu bằng chữ « Hưng » và kết thúc bằng chữ « Tự ». Chùa Phước Thiện Hà Tiên của chúng ta tên là Hưng Phương Tự », Tổ Đình ngày nay tại Quận 6 thành phố HCM có tên là Hưng Minh Tự, các Hội quán ở các tỉnh có tên như:  Hưng Phước Tự – Long Xuyên, Hưng An Tự – Rạch Giá, Hưng Giác Tự – Vĩnh Long…v…v…

Hình Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng) chụp trước bức tranh chậu hoa sen điển hình thường được vẽ ở trước mặt chùa Phước Thiện. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.

Hiện nay, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 206 hội quán cũng là 206 phòng thuốc Nam phước thiện ở 21 tỉnh, thành phố; gần 1,5 triệu tín đồ, 4.800 chức sắc, chức việc, 350.000 hội viên; gần 900 lương y, huấn viên y khoa, y sĩ, y sinh; trên 3.000 người làm công việc chế biến thuốc.

Sau đây là một vài hình ảnh do trang face Book của « Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam » chia sẻ cho mình, xin trân trọng cám ơn.

Hình ảnh ngôi chùa Phước Thiện-Hưng Phương Tự (Hà Tiên) và quý vị cư sĩ, đạo hữu chụp vào năm 2018. Hình: do trang fb Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam chía sẻ.

Tài liệu tham khảo: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi Việt Nam

  Viết xong ngày 25/12/2019 Paris, Trần Văn Mãnh

 

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 3)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

(tiếp theo phần 2)

11/ Đường Tham Tướng Sanh ngay tiệm trồng răng Phục Hưng ngày xưa (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường Tham Tướng Sanh là một trong hai con đường ở hai bên ngôi chợ cũ của Hà Tiên (con đường kia tên Tuần Phủ Đạt). Tính từ bên trái qua bên phải của hình, đầu tiên có căn nhà thấy phân nửa đó là tiệm Hiệp Lợi (nhà của gia đình Trịnh Tố Chinh), kế đến căn nhà có dàn cây xanh phía trên đó là tiệm trồng răng Phục Hưng, nhà của bạn Sện (Tường, và có em trai là Bẻ), ngày xưa mình thường đến chơi nhà bạn Sện), căn kế về phía phải màu xanh dương là tiệm Mỹ Nam, kế đến căn màu tím nhạt là nhà của Bà Năm Quới bán trầu cau ngày xưa, kế đó căn nhà nhỏ màu vàng là nhà chị Đỗ Mùi, bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…v…v…, còn căn nhà lầu ở bìa phải thì mới cất lên sau nầy, ngày xưa nơi đó là con hẻm nhỏ đi thẳng vào là tiệm tạp hóa của Dì Hai Sánh, má của cô Điệp phu nhân của anh Minh Thế., nếu tính về phía phải nữa (không còn thấy trong hình) thì là tiệm cơm Xuân Thạnh rất nổi tiếng và nhiều khách ăn ưu chuộng ngày xưa.

12/ Thành phố Hà Tiên nhìn từ phía cầu phà bắc

(Hình: Hồ Anh Dũng, năm ?)

Đây là một hình ảnh rất quý giá và hiếm…Hình nầy có một giá trị lịch sử rất cao vì bây giờ ta không thể chụp lại cảnh thành phố Hà Tiên từ bến bắc nhìn lên như vầy được nữa. Tấm vách xi măng « Những địa chỉ cần ích » bên trái hình đó, mình nhớ rất rỏ vì ngày xưa lúc người ta đang vẻ viết bảng nầy chính mình có đứng xem, họa sĩ viết bảng nầy hình như là ông Phụng Đài ba của bạn Mạnh học chung với mình ở Tiểu Học. Trong bảng « Những địa chỉ cần ích » nầy có các mục giúp cho du khách tìm các địa chỉ dễ dàng như: Khách Sạn (Đại Tân…), Tiệm Ăn (Xuân Thạnh…), Vật kỹ niệm (Lâm Văn Cao, Phan Văn Thân, Lê Minh…). Còn chiếc cầu bắc đó mình đi lên xuống biết bao nhiêu lần rồi, mỗi lần đi Rạch Giá về đều qua cầu bắc nầy…Có khi thường xuống cầu bắc nầy ngồi chơi. Dảy phố phía xa trong hình đối diện với con đường Trần Hầu. Đầu tiên từ bên phải qua bên trái, đó là tiệm đồi mồi Lê Minh, kế đến là tiệm hớt tóc Trần Kỷ, ngày xưa mình là khách hớt tóc quen thuộc của ông Trần Kỷ, đúng ra là nhà của má Tỷ Tuột (Lào Xiếm) cho Trần Kỷ mướn phía ngoài để hớt tóc thôi. Kế đến là tiệm buôn hải sản hiệu Tân Dũ Hưng, kế nữa là một tiệm tạp hóa Cù Thú rồi đến căn nhà tiệm hình kỷ niệm và có bàn billard của ông Quách Ngọc Bá. Bên bìa trái là tiệm cơm rất nổi tiếng ngày xưa là tiệm Xuân Thạnh, ta còn thấy rỏ nóc có vách màu trắng của ngôi chợ cũ Hà Tiên, cuối cùng thật xa bên trái là một phần căn phố của con đường Tuần Phủ Đạt.

13/ Nhà vệ sinh công cộng hình bát giác trước năm 1958 (Hà Tiên)

(Hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958)

Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

14/ Trẻ em ở Đài Kỷ Niệm 1965 (Hà Tiên)

(Hình: Photo: Cliff Rocheleau, năm 1965)

Đây là một bức hình do một người lính Mỹ chụp vào năm 1965 (Cliff Rocheleau) tại bến tàu Quan Thuế dưới Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên. Theo sự nhận xét của một số bạn Hà Tiên quen biết thì những em bé nầy có thể là con của những gia đình làm nghề đánh cá ở phía Cầu Câu, Pháo Đài. Có điều có thể xem như chắc chắn là hình em bên bìa phải là con trai của Ông Thái Dủ, tên là Hồ (Huỳnh Minh Hà), lúc xưa gia đình của Ông có cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm nầy (cây xăng ở bên trái hình, không thấy trong hình). Phía xa là Đài Kỷ Niêm màu trắng ở về bên trái, xa nữa là mặt hông của chợ cá cũ Hà Tiên. Ở giữa hình cặp mé sông còn có một dãy băng đá mà ngày xưa các bạn trẻ thường hay ra ngồi chơi ngắm sông nước…Có vài ý kiến cho là em bé mặc áo bông rằn màu xanh giống em  » Tuấn cùi » con cô Thìn, Ông Đây. Em bé đưa tay chào theo kiểu nhà binh thì giống em Châu con của Bà Tám Lệ, cháu ông Bảy Kế…Từ phải sang trái em thứ tư (đứng phía sau) thì giống em Phò con Ông chủ lò bánh mì Đồng Xương…

15/ Đường Tuần Phủ Đạt, ngay khúc có các căn nhà lầu bạn Hồ Anh Dũng, Lương Cường và Hồ Thị Kim Hoàn (Hà Tiên)

(Hình: David.B.Crawford, năm 1966)

Đây chính là con đường Tuần Phủ Đạt, phía bên phải gần nhất là nhà Ông Âu Tư (ba của bạn Hồ Anh Dũng), Sanh Hoạt (Lương Cường), và lần lượt là nhà Hồ Thị Kim Hoàn và tiệm Đồi Mồi Phan Văn Thân. Phần đất trống có cỏ xanh sau nầy là rạp hát chiếu bóng Phát Minh.  Phía xa xa đó là đường Lam Sơn với nhà Bác Ba Góp và nhìn thẳng ra bờ sông. Có một thời gian phần đất trống (sau năm 1975) dùng làm địa điểm nhóm chợ tạm bán hàng hóa biên giới, sau đó có xây một kho bạc và hiện nay đã không còn kho bạc đó. Một thời gian sau nầy, khu nầy có người dùng nhà làm nơi nuôi yến. Bên phía trái hình là một dãy phố mười hai căn, đó là các căn nhà Ông Tàu Tắc, Ông Nam Xến,…, và căn biệt thự của gia đình thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…).

Xin bổ túc thêm chi tiết về bức hình nầy: tác giả tên là David. B. Crawford (Dave Crawford) là một người lính Hãi Quân Mỹ ngày xưa, phục vụ trên chiếc tàu USCGC Point Garnet (WPB-82310), tàu nầy có mặt ở VN từ 1965-1969, sau 1969 tàu nầy được trao lại lại cho Hãi Quân VN và đổi tên là Lê Văn Ngà HQ 701.

(Còn tiếp phần 4)

Anh Hào, anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời xa xưa ở nơi Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta, ai ai cũng biết nhau, nhất là đối với những bạn bè và người quen biết trong khu phố chợ Hà Tiên. Mình muốn nhắc đến những cặp anh em sinh đôi mà ít nhiều có « tiếng tăm » ở Hà Tiên… Thứ nhất là cặp sinh đôi mà chính mình là một trong hai: Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh, rồi cặp Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt (gia đình có tiệm thuốc tây Thanh Bình ở phía dưới chợ cá cũ), cặp Phật Tử ở chùa Tam Bảo ngày xưa Khưu Thiên Phước, Khưu Thiên Lộc,…v…v….., và còn nhiều nữa mà mình không nhớ ra tên. Ngoài ra ở Hà Tiên còn có những cặp sanh đôi nữ nữa…Bây giờ nói trở lại cặp anh em sanh đôi Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt: đó là hai người bạn thân của anh em mình ngay từ thời còn học trường Tiểu Học. Hào, Kiệt, Dõng, Mãnh đều học chung một lớp ở bậc Tiểu Học. Mình còn nhớ nhiều kỷ niệm với Hào Kiệt lúc còn ở Tiểu Học, nhất là lúc học lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Pho. Nhớ có năm học lớp Nhứt đó, thầy Pho cho làm thủ công, mỗi học trò trong lớp phải làm một cái nhà nhỏ bằng giấy carton. Mình và Lâm Tấn Hào đem vào lớp mỗi đứa một cái nhà bằng giấy rất đẹp, có bạn làm một căn nhà tuy rất đẹp nhưng rất giống loại nhà người ta đốt khi cúng cho người chết, thầy Pho nhìn cười và nói sao giống « nhà táng » quá…!! Ngoài sinh hoạt ở lớp học ra, mỗi buổi chiều hai anh em mình thường đến nhà hai bạn Hào, Kiệt ở đường Mạc Công Du để rủ đi chơi. Lần nào cũng vậy, hai bạn Hào và Kiệt nói chờ tắm xong sẽ đi, vì là con nhà giàu nên chiều nào cũng tắm rửa sạch sẽ trước khi đi chơi…Lúc đi chơi thì cả nhóm kéo tới các băng đá ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, ngồi nhìn ra mé sông, và nói đủ thứ chuyện, dĩ nhiên là không thiếu chuyện con gái…Lúc đó còn có bạn Khoa (mình quên họ rồi, hình như là Châu Văn Khoa) con của chủ tiệm cơm Xuân Thạnh cũng đi chơi chung, và có một người bạn mang kiếng cận con của chú phát thơ làm ở Bưu Điện thời đó, cũng có hai anh em bạn Túc con của nhà Mã Chính Yên ở phía Đông Hồ trước bến tàu đi Rạch Giá….Cuối năm học lớp Nhứt, phải chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất, năm đó đề ra về môn toán rất khó, còn đề môn Văn thì phải bình luận câu « Dùng hàng nội hóa là yêu nước »…Mình cũng làm xong bài về hai môn nầy nhưng kết quả ra là minh, Hào và Kiệt đều rớt hết, cả ba đều ở lại lớp Nhứt, chỉ có anh Trần Văn Dõng thi đậu lên lớp Đệ Thất , thế là sau cả quá trình học ở bậc Tiều Học, hai anh em đều học chung lớp nhưng khi lên bậc Trung học thì người học năm trước, người học năm sau..Năm đó mình ở lại và vào lớp Tiếp Liên của thầy Hà Phương Linh dạy, ngày xưa thầy Linh dạy rất nổi tiếng về lớp Tiếp Liên, tức là lớp chuyển tiếp từ bậc Tiểu Học lên bậc Trung Học, năm đó được thầy Linh luyện cho mình tất cả các loại toán về động tử (hai người khởi hành trước sau vài giờ, chạy cùng chiều hay ngược chiều rồi hỏi vào lúc nào hai người gặp nhau…), vòi nước chảy (có hai vòi nước chảy cùng lúc hay trước sau, lưu lượng chảy khác nhau, hỏi khi nào thì vòi nào chảy đầy bồn nước,..). Những loại toán nầy rất khó đối với các học sinh còn non mới lên lớp Nhứt nên rất khó làm được môn toán khi thi vào Đệ Thất…Còn hai anh em Hào và Kiệt thì gia đình cho lên Sài Gòn học trường Pháp La San Taberd, rồi sau đó nghe nói Hào và Kiệt có học thêm môn võ thuật Thái Cực Đạo và đạt được đến huyền đai….Từ đó thì bạn bè rất ít khi gặp nhau vì cả năm đều xa nhau theo niên khóa học, chỉ có dịp mỗi cuối năm thì những học sinh lên Sài Gòn học đều kéo trở về nhà Hà Tiên để ăn Tết cùng với gia đình, đó là lúc rất vui cho tất cả bạn bè quen biết, vì lúc gần Tết, mỗi người đều trông tin là bạn nầy đã về, bạn kia đã về nên bạn bè họp mặt lại rất vui. Mặc dù xa nhau khá lâu cả năm nhưng tình cảm bạn bè cũng còn duy trì tuy đã kém phần ngây thơ mặn nồng như lúc tuổi thơ, trong đời sống mỗi người đã có hướng đi riêng của mình…Cho đến một ngày nào đó mình lại hay tin Kiệt đã đi được đến bến bờ bình an còn bạn Hào thì không may mắn đã lìa xa vĩnh viển chúng ta…Rất thương nhớ bạn Lâm Tấn Hào, đó là một người bạn rất trầm và rất tốt trong tình giao lưu bạn bè…

Ngở rằng thời cuộc đã chia cắt tình bạn của những năm xưa thời Tiều Học, thế rồi sau một quyết định làm một chuyến đi Californie để họp mặt lại với bạn bè ngày xưa của Hà Tiên, mình đã được gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Kiệt cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nếu có thay đổi nhưng cũng không đủ để cho mình không nhận ra Kiệt, vì Kiệt vẫn còn giữ nét mặt thon gầy giống như kiểu gương mặt của mình,…Ngày nay Kiệt đã vui với cuộc sống hiện tại, quên đi những mất mát nhọc nhằn của thời khó khăn, bên cạnh Kiệt đã có một người vợ hiền Minh Nguyệt cùng chia sẻ vui buồn và những buổi văn nghệ hát hò, những chuyến đi du hành trên nhiều miền của đất nước Hoa Kỳ, mong rằng cái gia đình nhỏ bé đầy ấm cúng của Kiệt và bà xã sẽ luôn có đầy hạnh phút, đầy niềm vui trong văn nghệ ca hát và rong chơi…

Mình cũng nói thêm là Lâm Ánh Nguyệt, người em gái của hai bạn Hào và Kiệt cũng chính là bạn gái học chung lớp với mình ngay từ lớp Đệ Thất…Nguyệt rất hiền, ít nói và cũng rất chăm chỉ trong công việc học hành…Lâm Ánh Nguyệt cũng đã rời xa chúng ta về cỏi vĩnh hằng từ rất lâu rồi. Bây giờ xin giới thiệu với thầy cô và các bạn bài viết của cây bút Hồ Thị Kim Hoàn, một cây bút quen thuộc trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta, Kim Hoàn sẽ tiếp tục kể cho chúng ta nghe giai đoạn sinh hoạt với các bạn Hào, Kiệt trong thời gian đi học ở Sài Gòn những năm 70…    Paris, 28/10/2019, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

Anh Hào, Anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Đó là hai anh sinh đôi Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt mà tôi luôn xem như là anh trai của mình.

Ba tôi và bác Hai Bình (ba của hai anh) là bạn thân. Từ khi lên Trung Học tôi đã thích tung bay ra phương trời rộng, nên viện cớ muốn lên Sài Gòn học hè, sẵn có nhà bác Hai ở Sài Gòn, có các cô, chú đang trọ học, nên “đơn xin” của tôi dễ dàng được chấp thuận từ mọi phía.

Mùa hè luôn tuyệt vời đối với tôi, vì tôi được xa nhà, học thì ít mà chơi thì nhiều. Nơi căn nhà đó, các cô chú cũng đang là học sinh, sinh viên. Anh Hào, anh Kiệt lớn hơn tôi 4 tuổi, coi như anh. Thường thì năm nào cũng có tôi và Tô Vĩnh Tuấn là nhỏ nhất, nên rất được nuông chìu.

Tôi đã có biết bao kỷ niệm êm đềm, nhưng tôi chỉ xin nhắc tới anh Hào, anh Kiệt trong bài viết này.

Thuở nhỏ, niềm mơ ước của tôi là có anh trai. Tôi thấy bạn bè có anh thật sướng, được anh chỉ dẫn bài vở, được anh bảo bọc chở che, và anh đem bạn trai về nhà…   

Bên mấy anh hoài, ít được rong chơi nên cũng hơi chán. Thỉnh thoảng có chị Lâm Ánh Nguyệt là em gái của hai anh lên chơi khiến tôi vui hơn, có thêm tiết mục ăn hàng rong, đi bát phố… 

Một buổi tối tôi rủ chị Nguyệt vô quán cà phê ca nhạc. Mọi người trong quán nhìn hai đứa bé “vị thành niên”, khoảng 13, 14 tuổi, với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi cũng kêu cà phê uống và thả hồn theo những bài hát trữ tình đến nỗi quên thời gian.

Đường phố đã vắng tanh, bấy giờ hai chị em mới biết lo sợ. Quả như chị Nguyệt nói, anh Kiệt đã chờ sẵn trước cửa nhà, anh đi qua đi lại, vẻ nôn nóng lắm. Thế mà thấy mặt hai đứa em, anh chẳng mừng, còn la cho một trận:

– Có biết giờ này mấy giờ không? Con gái gì mới bây lớn vô quán nhạc uống cà phê là sao? Lần này thôi nhe, không có lần sau nghe hông!

Chị Nguyệt kéo tôi đi nhanh:

– Vô nhà mau em, ở đây ảnh đánh bây giờ!

Ảnh có đai đen Thái Cực Đạo, ảnh mà đánh, chắc… chết không kịp ngáp!

Úi chao, tôi nào biết có anh trai… dễ sợ như vậy chứ!

Khi tôi giã từ trường “Trung học Hà Tiên” để lên Sài Gòn học lớp 11 thì ba tôi đã mua một căn nhà nhỏ, tôi ở đó với hai anh, lúc ấy anh đã đi làm. Trong hai năm học liên tiếp, tôi muốn đi bộ đến trường nhưng anh không cho. Anh Hào đưa tôi đi học và anh Kiệt đón tôi tan trường về. Các bạn tôi thường trầm trồ:

– Mi sướng quá, anh tao đời nào chịu đưa rước tao.

Lúc đó tôi đã lớn, nên khi có dịp tiệc tùng nhà bạn, anh thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi là em gái. Bạn bè cứ tưởng chúng tôi là anh em ruột.

Tôi nhớ có lần anh Hào đưa tôi ra bến xe “xa cảng miền tây” để về Hà Tiên nghỉ hè sau kỳ thi. Anh lo cho tôi lên ngồi trên xe đò xong, tưởng anh đã về, nhưng tôi chợt nghe giọng anh nói với người ngồi ngoài sau tôi:

– Nhờ anh dùm ngó chừng em gái tôi nhé, nó đi xe hay bị ói, có gì xin anh giúp đỡ dùm.

Tôi thấy xúc động ngập tràn! Ôi, anh của tôi lo cho em gái thế này! Tôi trấn an anh:

– Em đi được mà, anh đừng lo. 

Anh quay bước, ánh mắt nhìn tôi vừa lo âu, vừa thương mến. Nói thế nhưng chuyến đi nào mà tôi không bị ói! Anh quân nhân ngồi sau cứ chồm lên thăm hỏi :

– Cô thế nào rồi? Có sao không? Tại anh cô kêu tôi… dòm ngó cô đó mà.

Trên xe, tôi thấy đa số là ông già bà cả, phụ nữ, con nít… mà anh lại chọn ông thanh niên… hùng mạnh này để gởi gắm em gái, anh hay thiệt!

Nhớ ngày sinh nhật thứ 16 của tôi, anh Hào đã đem về cho tôi một bức tượng thiếu nữ, đúc bằng thạch cao trắng:

– Anh thấy tượng này giống Hoàn quá!

Tôi ngơ ngẩn hỏi anh:

– Em đẹp được như vầy hay sao?

Chao ơi, chắc niềm thương mến trong lòng anh đã làm anh… hoa cả mắt! 

Cuộc họp nào cũng tới lúc phải chia tay. Rồi chúng tôi có gia đình riêng. Rồi tôi đến Mỹ năm 1978. Khoảng thời gian đó, anh Hào cũng vượt biển, nhưng anh không bao giờ đến bến bờ tự do. Tôi buồn lắm, tôi thương nhớ anh và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Giờ còn lại anh Kiệt. Có thời gian anh bệnh nặng, cô đơn, buồn bã. Anh hay gọi tôi và kể tôi nghe đủ chuyện, có khi tôi giật mình hỏi anh:

– Chuyện bí mật này có ai biết không?

– Không.

– Vậy sao anh nói với em?

– Vì em là người trong gia đình mà.

– Anh không sợ em nói cho người khác biết sao?

Anh cười vang:

– Bộ anh không hiểu tính của em hay sao chứ!

Được anh tin tưởng như vậy, tôi quả thật vui sướng!

Anh ở cách tôi một tiếng lái xe, khi có dịp là chúng tôi hẹn gặp nhau. Tôi cảm động vì anh chưa từng từ chối mỗi khi tôi ngỏ ý muốn gặp anh.

Càng ngày tôi càng thấy anh yêu đời, phong độ hơn, bởi anh đã có một người vợ tuyệt vời đi bên cạnh. Tôi mừng cho anh tôi và thầm cảm ơn chị Minh Nguyệt đã mang đến cho anh niềm tin yêu và hạnh phúc trong cuộc đời!

Californie, tháng 10, 2019 Hồ thị Kim Hoàn

Trái qua phải: Lâm Tấn Hào, Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Ánh Nguyệt và Lâm Tấn Kiệt . (Hình xưa: Hồ Thị Kim Hoàn)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Hồ Thị Kim Hoàn và Lâm Tấn Kiệt (hình hiện tại, Hồ Thị Kim Hoàn)

Lâm Tấn Kiệt và phu nhân Minh Nguyệt trong cuộc sống hiện tại ở nước Mỹ. (Hình: Hồ Thị Kim Hoàn)

Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)

*

Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang).

Đến những ngày trước và sau ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 theo một số tàu Hải Quân khác ra khơi và chạy qua Philippine, vì Philippine không thừa nhận nước Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ sau 30/04/1975 nên Hải Quân VNCH phải làm lễ bàn giao tất cả tàu chiến ngoài khơi Philippine cho Hải Quân Hoa Kỳ, đó là vào ngày 07/05/1975, sau đó các chiếc tàu nầy (trong đó có chiếc HQ 607) mới được cập vào bến Subic Bay thuộc Philippine. Về sau Hải Quân Hoa Kỳ giao tàu cho Hải Quân Philippine quản lý, một số tàu còn hoạt động được, một số tàu bị hư hại thì được tháo gở lấy đồ phụ tùng. Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

Tái bút 4: Theo lời của anh Trần Đỗ Cẩm, cựu sĩ quan Hải Quân cùng khóa với thiếu tá Nguyễn Phú Bá, anh Cẩm vẫn đang tìm kiếm tung tích chiếc tàu HQ 607. Tin tức sơ khởi cho biết chiến hạm này KHÔNG DI TẢN qua Phi Luật Tân vì lúc đó đang đại kỳ tức là phải lên ụ để tân trang toàn diện. Hạm Trưởng cuối cùng là HQ Thiếu Tá Trần Văn Dùng khóa 16 SQHQ/Nha Trang. Có người cho biết vào năm 1990 có gặp ông Trần Văn Dùng tại VN. Anh Trần Đỗ Cẩm vẫn đang tiếp tục tìm hiểu thêm chi tiết.

 

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Thầy cô và các bạn thân mến, một khi rời xa trường lớp, ta tưởng chừng như theo dòng thời cuộc, sẽ không còn có dịp gặp gở nhau nữa…Tuy nhiên cuộc sống hằng ngày nếu có vui buồn, khó khăn, mệt nhọc cũng có lúc tạo cho chúng ta những giây phút vui thú, nhất là khi tình cờ gặp lại người quen biết trong một hoàn cảnh nào đó…Rất có nhiều câu chuyện bạn học cùng trường cùng lớp sau bao nhiêu năm xa cách, gặp lại nhau trong dù ở nước ngoài xa xôi hay gặp nhau tại quê nhà…Thầy, cô trò cũng có khi có dịp gặp lại nhau, tạo cho tình cảm thầy, cô trò thêm đậm đà, vì nếu là học sinh của bao nhiêu năm dưới một mái trường yêu dấu, người học sinh nào mà không nhớ và luyến lưu đến hình ảnh người thầy, người cô thân thương đã dạy mình những năm học ngày xưa..Câu chuyện thầy Nguyễn Hồng Ẩn dù đang sinh sống ở nước Mỹ, chị Hứa Nguyệt Quang, người học trò Hà Tiên ngày xưa, tuy cũng sinh sống ở nước ngoài (Canada..) lại cũng có một cơ duyên được gặp lại nhau…Theo thông tin của anh Trần Văn Dõng (bạn học cùng lớp với chị Hứa Nguyệt Quang), chị Hứa Nguyệt Quang lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên xưa thì chị ở trọ nhà của Hia Chiêu (căn nhà sát bên tiệm tạp hóa của Bà Ba Góp (góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên), chắc có bà con chi đó. Chị Hứa Nguyệt Quang cũng là bạn thân của chị Ngọc Lan, em của cô Nguyễn Thị Sồ. Hình như chị Hứa Nguyệt Quang là người quê ở Hòn Chông, Bình An, lên quận  Hà Tiên trọ để theo học bậc Trung Học.

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Nhà có năm đứa con, chúng bỏ lại rất nhiều hình ảnh khi ra riêng, hình rời hoặc album. Hôm qua tôi lướt xem qua thùng ảnh thì tình cờ gặp lại loạt ảnh tôi và hai con, Minh Anh và Minh Hằng, đi dự đám cưới của cô em họ tại Toronto, Canada mà tôi được mời làm chủ hôn cho cô dâu và chú rể khoảng trước năm 1990.

Trong tiệc cưới nầy tôi đã vui mừng gặp lại một người học trò cũ tại trường Trung Học Hà Tiên xưa trong khoảng 1965-1970, đó là em Hứa Nguyệt Quang. Em có kể nhiều kỷ niệm trường lớp, cuộc sống từ 1975… nhưng đến nay tôi không còn nhớ, chỉ nhớ lúc gặp em thì em đang có một tiệm làm tóc tại downtown Toronto.

Em họ tôi đến làm tóc nên biết Nguyệt Quang là học trò của tôi và Nguyệt Quang là khách trong bữa tiệc cưới.

Sau đó cho đến nay tôi không còn biết thêm tin tức của em Hứa Nguyệt Quang.

Nguyễn Hồng Ẩn (21/09/2019)

Bìa phải hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo veste), người ngồi bên trái thầy là chị Hứa Nguyệt Quang và cô con gái của chị. Bìa trái hình: Hai người con của thầy tên Minh Anh và Minh Hằng. Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Toronto, Canada, 1990

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HungCuongPC)

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

 

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa qua buổi họp Hội Đồng Hương Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, qua hình ảnh những lần gặp gỡ trong các buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên ở tiểu bang California do cô Tiền Ngọc Thanh tổ chức (điển hình là vào năm 2017…) mình thấy đó quả thật là một dịp thuận tiện để cùng một lúc gặp lại thầy cô và bạn bè rất là vui…Vì thế trong đầu óc mình nảy ra ý nghĩ là tại sao mình không tham dự một lần ngày họp Hội Đồng Hương Hà Tiên vào năm 2019 nầy đây…Quyết định xong, bàn với Ngọc Tiếng thì hai đứa đều đồng ý là mình sẽ làm một chuyến đi Mỹ tới đây để dự ngày Hội Đồng Hương Hà Tiên…Sau đó mình có thông báo cho cô Tiền Ngọc Thanh biết ý định và cô cũng rất vui khi biết tin nầy…Lúc trước Ngọc Tiếng có người anh ruột ở thành phố Anaheim (thuộc tiểu bang California) mình và Ngọc Tiếng cũng đã có nhiều lần đến thăm nhà người anh ở đây…Tuy nhiên hiện tại gia đình người anh của Ngọc Tiếng không còn ở Anaheim nữa nên mình tỏ ý với cô Thanh là chưa biết sẽ trú ngụ tại đâu khi sang đó,..cô Thanh có nhã ý đề nghị hai vợ chồng mình ở ngay nhà cô ở thành phố Duarte thuộc tiểu bang California trong thời gian qua Mỹ dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, thật là may mắn, mình và Ngọc Tiếng cám ơn sự giúp đở rất tử tế của cô Thanh…

Chuẩn bị xong xuôi, ngày lên đường đến rồi, theo lịch của Hội thì ngày họp mặt là ngày chúa nhật 09/06/2019, mình quyết định đi qua Mỹ một tuần lễ từ ngày 06/06/2019 đến ngày 12/06/2019…Trước khi đi cũng có liên lạc với cô Thanh và một số bạn bè bên đó để thông báo cho biết sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt, bạn bè ai nấy cũng đều rất vui mừng, trông ngóng cho đến ngày họp để gặp tụi mình, vì dù là đã giao tiếp với nhau rất chặc chẻ trên mạng fb nhưng đã rất lâu rồi, có hơn vài chục năm chưa hề gặp lại nhau, có người thì mình chỉ biết qua hình ảnh, tuy là cùng quê hương Hà Tiên nhưng chưa bao giờ diện kiến…Ai nấy đều rất nôn nóng được gặp lại nhau…

Chuyến bay đưa mình và Ngọc Tiếng đáp xuống phi trường Los Angeles (LAX) có trể hơn dự báo khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, theo cô Thanh thông tin, có người bạn gái cùng trường là Trang Lệ Thủy sẽ cùng với cô Thanh đón mình và Ngọc Tiếng tại phi trường…Hai đứa đẩy va li ra ngoài cửa phi trường, trông ngóng vào đám đông người đang vây chật cả lối ra để tìm người thân nhân, sao mình chưa thấy cô và bạn Lệ Thủy, đang cố bắt vào mạng wifi của phi trường trên chiếc phone di động của mình, có lúc vô được mạng wifi, có lúc lại bị đứt mạng…để đánh tin cho cô biết là mình và Ngọc Tiếng đang đứng chờ cô và Thủy trước phía cửa ra. Loay hoay một lúc sau cũng liên lạc được với nhau, cô bảo mình cứ đứng tại chỗ chờ và bạn Lệ Thủy sẽ đến tìm mình…Nhìn qua nhìn lại đám đông người thì may thay như một phép mầu, mình thấy rỏ ràng Trang Lệ Thủy đang đi nhanh đến, mặc dù là mình và Lệ Thủy đã không gặp lại nhau có hơn 50 năm rồi, nhưng không biết sao mình vẫn nhận ra ngay bạn Thủy, mình kêu to …Thủy… Thủy…Mừng quá thế là thoát nạn khỏi bơ vơ tại phi trường rộng lớn có tầm vóc quốc tế nầy…(mình nhìn ra Lệ Thủy có lẽ là tại vì dù sau bao nhiêu năm rồi nhưng Lệ Thủy vẫn còn giữ được nét trẻ trung ngày xưa nên khi thấy thì đã nhận ra ngay…).

Thế rồi cả nhóm đi lại nơi gặp cô Tiền Ngọc Thanh đang ngồi nghỉ chân nơi một băng ghế trong phi trường, đi bộ ra nơi Thủy đậu xe và sau đó lên đường, cô bạn gái ngày xưa nay đã mạnh dạn trở thành một người địa phương lái xe chạy phon phon…làm cho mình và Ngọc Tiếng rất khâm phục…Xin ghi lại nơi đây lòng cảm ơn và cảm kích sự giúp đở của cô Thanh và bạn Lệ Thủy.

Trên đường về nhà cô Thanh để ổn định nơi ở thì Lệ Thủy đề nghị ghé qua nhà Thủy thăm gia đình Thủy và cũng nghỉ ngơi uống nước…Xe đến nhà Thủy thì mình lại được có dịp biết và chào hỏi thăm sức khỏe má của Thủy. Chẵng những Lệ Thủy đón tiếp nồng nhiệt vui vẻ mà bạn còn chuẩn bị một chiếc bánh có khắc dòng chữ phía trên « Welcome Patrice & Sylvie »….Thủy thật là chu đáo và tế nhị…

Trong thời gian chuẩn bị đến ngày 09/06/2019 ngày chánh thức họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, Thủy và cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đi chơi và thăm vài người bạn học cùng trường. Lần đầu tiên được gặp lại người đẹp của Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa sau hơn 50 năm, đó là bạn Mai Thị Ngọc Minh, với phu quân là anh Tiền Hữu Lộc, anh Lộc và Ngọc Minh tiếp đón mình và Ngọc Tiếng rất chân thành, vui vẻ, nồng nhiệt tại nhà riêng cùng có mặt cô Thanh (chính là em gái của anh Lộc) và Lệ Thủy. Nói thật gặp lại các bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp mình rất xúc động, phải nói là cảm động…Mình nhận thấy Ngọc Minh ngày nay rất yêu đời, tính tình giản dị, cởi mở và rất hài hòa với mọi người…Cả nhóm cùng đi chơi ra khu phố Little Saigon, khu chợ Phước Lộc Thọ cùng chụp hình chung với nhau để ghi lại phút hội ngộ…Buổi chiều Lệ Thủy mời mọi người đến ăn chiều tại một quán ăn do người em của Thủy vừa mới mở ra, đó là quán ăn đặc biệt về các món ăn biển rất ngon…

Trong thời gian nầy mình cũng có dịp gặp vợ chồng em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh, em Sáu là em gái của bạn Huỳnh Văn Năm, Năm là bạn học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên). Em Sáu cùng với phu quân là Hoàng (người Rạch Giá) rất vui vẻ, tử tế, mời cả nhóm mình đi ăn DimSum (một loại ăn vừa điểm tâm vừa ăn trưa…) tại một nhà hàng lớn ở California, thức ăn có rất nhiều món, tha hồ mà chọn lựa…Sau đó nhân dịp họp mặt như thế, cả nhóm cùng đi đến nhà thầy cô Võ Thành Tường cũng không xa nơi đó..Đến nhà thầy cô Võ Thành Tường, đó là dịp mình gặp lại thầy Tường sau hơn 50 năm, tuy là mình không có học với thầy Tường, nhưng mình biết thầy từ lúc thầy và người em thầy là thầy Võ Thành Tài cùng ở tại căn biệt thự của Ông Bày đường Bạch Đằng Hà Tiên, xéo xéo nhà mình..Lúc đó quý thầy đang dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, thời gian nầy mình còn chưa vào bậc Trung Học, anh Trần Văn Dõng thì mới vào lớp đệ thất (khoảng năm 1964…). Trái với sự tưởng tượng của mình trước đó, thầy cô Võ Thành Tường rất cởi mở, giản dị và rất gần gủi, thầy cô tiếp chuyện với mình một cách rất vui vẻ, nhắc lại chuyện xưa ở Hà Tiên, mình có nói với thầy lời thăm hỏi của chị Dương Hồng Châu nhờ mình chuyển đến thầy, sau đó thầy còn kêu điện thoại cho thầy Võ Thành Tài (thầy Tài có dạy lớp mình môn Pháp văn lúc mình học lớp đệ thất) và thầy Tài và mình có nói chuyện với nhau qua điện thoại. Thầy Võ Thành Tài cùng gia đinh cũng đang ở Mỹ, tiểu bang California, tuy thầy rất ít liên lạc với thầy cô và học trò Hà Tiên, nhưng thầy Tài cũng còn nhớ rất nhiều thời gian thầy còn dạy học ở Hà Tiên. Điều rất thú vị là khi thầy Tường hỏi thầy Tài còn nhớ mình hay không thì thầy Tài nói còn nhớ rất rỏ, thầy nói phải hai cậu tây lai ở Hà Tiên đó không .!!! Điều nầy làm cho mình rất cảm động và rất vui vì thầy Tài vẫn còn nhớ đến hai anh em mình…

Vì lúc nào cũng mang tinh thần sưu tầm hình xưa Trung Học Hà Tiên nên mình cũng có hỏi thầy Tường còn giữ hình xưa lúc còn dạy ở Hà Tiên, thầy bảo cô lấy vài album hình xưa ra xem chung, thừa lúc như vậy mình xin phép thầy Tường chụp lại được vài bức ảnh của thầy ngày xưa. Thầy cô Võ Thành Tường có hai người con, một gái và một trai, người con trai ở với thầy cô lúc nầy tên là Tấn, em Tấn cũng rất vui vẻ góp chuyện trò rất phấn khởi trong buổi viếng thăm đó.

Thầy Võ Thành Tường đang giảng bài trên lớp trong những năm 60…

Thầy Võ Thành Tường sau khi rời khỏi Trường Trung Học Hà Tiên (sau những năm 60)

Tính sổ qua lại thì còn có hai người mình chưa được gặp trước khi ngày họp mặt diễn ra, đó là anh Lâm Hữu Dư và phu nhân là bạn Lê Mai Hoa (bạn Lê Mai Hoa là bạn học chung lớp với mình từ lúc đệ thất, và sau đó thì Mai Hoa theo gia đinh ba mẹ về Rạch Giá học). Nghe thầy Tường nói là chiều ngày hôm đó anh chị Dư và Mai Hoa sẽ đến nhà thầy Tường nghỉ để ngày hôm sau cùng đi với thầy cô dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên…Vì phải về sớm theo chương trình dự định chung nên mình chưa được gặp anh Dư và Mai Hoa ngay hôm đó, thôi thì để đến ngày họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên thì sẽ gặp chung tất cả mọi người…

Buổi tối thật là đặc biệt vì cô Tiền Ngọc Thanh có mời mình và Ngọc Tiếng cùng với Lệ Thủy đến dự buổi họp mặt toàn bộ gia đình họ Tiền, nhân dịp nầy mình mới được gặp lại anh Huỳnh Văn Quang, một người anh và láng giềng rất thân quen với gia đình mình ở Hà Tiên vì nhà anh Quang ở cách nhà mình một căn mà thôi trên đường Bạch Đằng Hà Tiên. Anh Huỳnh Văn Quang là anh của hai bạn Huỳnh Văn Bé, Huỳnh Văn Bền ngày xưa…). Qua sự gặp gỡ nầy anh Quang có giới thiệu phu nhân của anh là chị Linh, hai ông bà hiện đang quản lý một tiệm bánh chuyên sản xuất các loại bánh Trung Thu rất lớn và nổi tiếng tại thành phố Los Angeles…Trong buổi họp mặt gia đình họ Tiền, đó là dịp mừng sinh nhật của bạn Tiền Hữu Đạt, em trai của cô Thanh, trong dịp nầy mình được gặp lại Tiền Ngọc Dung, từ bên Pháp qua đây, được biết thêm hai cô em gái của Dung là Tiền Ngọc Liên và Tiền Ngọc Ánh. Mình cũng được gặp lại bạn Tiền Hữu Minh mà mình đã biết từ ngày xưa, Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng.., được gặp lại anh Tiền Hữu Phát, anh Phát học chung lớp với chị Huỳnh Thị Kim người chị bạn dì với mình, nhân dịp nầy mình cũng có chuyển lời thăm hỏi về anh Phát của chị Kim nhờ mình chuyển lại. Buổi tối họp mặt và cùng ăn mừng sinh nhật nầy rất là vui…Buổi họp mặt có đầy đủ tất cả từ anh hai chị hai Tiền Hữu Lộc và Mai Thị Ngọc Minh cho đến các người em trai gái trong gia đình họ Tiền, chỉ thiếu có em Tiền Ngọc Hương (Holly Tien), được biết em Tiền Ngọc Hương có việc riêng phải đi xa nên không đến dự được…

Rốt cuộc ngày họp mặt Hội Đồng Hương 09/06/2019 đã đến, buổi sáng đó cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đến khu vườn của thành phố Garden Grove, nơi hội chọn để làm nơi gặp gỡ người đồng hương Hà Tiên…Thật tình mà nói mình cũng rất hồi hộp…Trong lúc cô tìm chỗ đậu xe thì mình cũng đã thấy quang cảnh trong khu căn nhà rộng lớn nơi đã có rất đông người đến trước rồi…Khi đi vào căn nhà hội họp thì mình thấy từ xa bạn Mai Hoa đã nhìn ra Ngọc Tiếng (theo lời Ngọc Tiếng kể lại thì Mai Hoa nói …đây là chị Tiếng đây rồi….!!), mình cũng nhìn thấy bạn La Văn Cao từ trong chạy ra bắt tay chào mừng, gặp lại lần lượt rất nhiều người bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp, có người từng học chung ngay từ bậc Tiểu Học…

Gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Hoàng thị Minh Liên cùng phu quân là nhà điêu khắc Ngô Hoàng Minh, hai bạn Hồ Thị Kim Hoàn và phu quân là anh Xuân, Hồ Thị KIm Yến, Hồ Thị Kim Phượng, cũng gặp được em Dương Thị Phương Hà cùng phu quân Phan An, Nguyệt Đường cùng người chị là chị Tuyết, gặp được Hồ Thị Kim Nga và phu quân là anh Lâm Văn Có cũng là người Hà Tiên…Gặp chị Chín Hương và quý cô con gái Diệu Khanh, Minh Thu …Đặc biệt là nhờ có sự nhắc nhở của em Huỳnh Thị Sáu, trong chuyến họp mặt nầy mình được gặp anh Giang Văn Thân là một người anh và người thầy dạy kèm hai anh em Dõng Mãnh ngày xưa khi còn học ở bậc Tiểu Học, anh Giang Văn Thân là bạn thân của người anh bạn dì với mình là anh Lê Quang Chánh, hai người học cùng lớp thời Trung Học, anh Giang Văn Thân đến họp mặt cùng với phu nhân của anh là chị Đỗ Ngọc Điệp, người Long Xuyên và sau khi tiếp xúc nói chuyện, Ngọc Tiếng cũng có quen biết gia đình của chị Điệp thời xưa ở Long Xuyên. Nhân dịp nầy mình cũng được gặp và biết hai đàn chị trong thời Trung Học Hà Tiên, học trò của thầy Võ Thành Tường, đó là hai chị Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (chị Liềm là em của chị Lý Thị Lắc còn ở Hà Tiên hiện nay). Gặp em Lâm Mỹ Nga và người mẹ (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa). Lần đầu tiên được gặp và biết mặt vợ chồng em Lê Quang Thùy (con của thầy Lê Quang Thuyên, cháu của thầy Lê Quang Khanh), và vợ chồng bạn Hồ Anh Dũng (Dũng là con của bác Âu Tư có tiệm bánh kẹo trước nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa, Hồ Anh Dũng là một trong những người có nhiều hình ảnh xưa của phố chợ Hà Tiên, nhân dịp nầy mình cũng được hân hạnh biết phu nhân của bạn Dũng, là một người rất xinh đẹp…), cùng lúc nầy mình được quen biết vợ chồng anh Sủng, chị Phương, quý bạn nầy rất vui vẻ, nồng nhiệt và cho mình biết đều là đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »…Trong dịp nầy, qua sự giới thiệu của cô Thanh, mình biết được anh Vương Bình Thành, là anh của hai bạn Vương Bình Phước (học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên) và Vương Bình Lộc, anh Thành cũng là học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, anh đến dự buổi họp mặt với phu nhân là chị Dung, chị Dung rất vui tánh …Được biết bạn Mong Đức Kiết chính là em của Mong Đức Hưng và Mong Đức Thạnh, biết được em Tăng Thu Hiền là em của Tăng Thu Hồng (Tăng Thu Hồng là một trong những giọng ca ngày xưa của Trung Học Hà Tiên, trong nhóm chơi nhạc với mình…). Còn được gặp rất nhiều người Hà Tiên, nhưng mình chưa được hân hạnh biết trước, và cũng không biết là có phải là những người cựu học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa hay không…Đặc biệt mình có nói chuyện với anh Đại, anh Đại là người con trai của ông bà Phán Cơ, ngày xưa mình và Lý Mạnh Thường rất thường xuyên ghé chơi lại nhà bác Phán Cơ đường Tô Châu gần phía sau chùa Bà Mã Châu,…Bác Phán Cơ thường mời mình và bạn Mạnh Thường vào nhà bác chơi, để bác thực hành đàn orgue và accordéon đệm nhạc cho Mạnh Thường hát…Có điều rất tiếc là trong lúc chụp hình sôi nổi, mình không có được một bức hình với anh Đại.

Trong lúc mở đầu buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, những vị trong ban quản lý cũng có đọc lên một vài bản diễn văn, đại khái nói về sinh hoạt của hội và giới thiệu các thành phần trong ban quản lý. Nhân dịp nầy cô Tiền Ngọc Thanh có giới thiệu với mọi người lý do sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt năm nay…và sau đó mình xin phép nói một vài cảm nghĩ cá nhân…Cô Thanh có nói cho mình biết trước nên hôm trước đó mình có chuẩn bị một vài ý cho bài « phát biểu » nầy, xin ghi lại đây cho quý vị đọc qua nhé,..

 » Kính thưa quý thầy cô, quý vị và các bạn, cho phép mình mượn giây phút nói chuyện ngắn ngủi nầy gởi lời cám ơn đến cô Thanh Lưu đã tạo điều kiện lưu trú và di chuyển tốt đẹp, cám ơn người bạn gái ngày xưa nhà ở cùng đường, học cùng trường Trung Học Hà Tiên là Trang Lệ Thủy có hai bàn tay nhiệm mầu đã biến những khoảng không gian rộng lớn, những con đường xinh đẹp của phố xá California trở thành ngắn ngủi và thật gần đưa mình đến gặp lại những người bạn thân thương ngày xưa. Một cách tổng quát, xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ, thật lòng đón tiếp chẳng những trong những ngày vừa qua mà còn trong những ngày ngắn ngủi sắp tới cho đến khi chia tay…Đù không bao giờ dám nhận là hậu duệ của những thi nhân Chiêu Anh Các ngày xưa, nhưng mình cũng ao ước có lần bước ra Thụ Đức Hiên, ngẫu hứng thảo vài hàng, trong khi chờ đợi giấc mơ đó chắc chắn là sẽ không bao giờ thực hiện , cho phép mình ngỏ ý, tỏ lòng trong vài câu viết vội:

Trời Cali hôm nay bao nhiêu nắng
Bấy niềm vui chứa chất ngập lòng tôi
Hà Tiên ơi dù xa người năm tháng
Vẫn chảy hoài một dòng nhớ không thôi…..
Và vì là người Hà Tiên, mình chắc chắn rằng các bạn sẽ trả lời được dễ dàng 4 câu hỏi sau đây:
Con đường nào đưa tôi về hàng dương?
Con đường nào đưa tôi về hàng dừa?
Con sông nào đưa tôi ra cửa biển?
Dòng nhạc nào đưa tôi đến cô miên?
Xin cám ơn quý thầy cô, quý vị và các bạn. »
Đến đây xin tạm ngưng bài phóng sự về những cuộc hội ngộ giữa thầy cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa…Dĩ nhiên là sau buổi gặp gỡ đó, thời gian dù cho có kéo dài vô tận trong giây phút xiết tay nhau, rồi phải đến lúc chia tay, mọi người nắm tay nhau bịn rịn, vài cái hôn nhè nhẹ để bày tỏ niềm cảm xúc, vài cái vổ vai nhè nhẹ bày tỏ sự thân thiết sẽ còn với thời gian,…sau cùng thì chia tay, mình cảm thấy buổi gặp gỡ sao diễn ra nhanh quá, mọi người đều luyến tiếc phút giây nầy…vài nhóm bạn còn cố ghi lại vài hình ảnh cuối qua chiếc máy ảnh chụp vội vả,…một vài bảng tên của ai đó rót lại trên mặt cỏ xanh…Trong khi ban quản lý và những bạn tình nguyện còn ở lại để tiếp dọn dẹp các thứ vật dụng và gói ghém thức ăn lại, tiếng động cơ của xe hơi bắt đầu nổ vang và thực sự chúng ta đã rời xa khu vườn xinh đẹp với cái gian nhà rộng lớn đã bắt đầu trút vắng người hội họp…Xin hẹn lại năm sau?!! ….Lần tới?!! Không biết có được không, cuộc đời thường dành cho chúng ta nhiều nổi bất ngờ…dù sau riêng mình và Ngọc Tiếng đã được sống qua những giây phút tuyệt đẹp của một tình bạn, tình thầy trò, tình cô trò, mong rằng sau phút chia tay, mọi người về nhà sẽ nhắm mắt sống lại cái giây phút đó và hình ảnh thầy cô bạn bè mà mình đã có may mắn nhìn lại sau nhiều năm xa cách, sẽ ghi đậm hơn nữa trong ký ức…Xin cảm ơn tất cả….
Trần Văn Mãnh , Paris 02/07/2019
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Cô Tiền Ngọc Thanh (áo màu cam), Trang Lệ Thủy (bìa phải) và Trần Văn Mãnh (bìa trái), (06/2019, tại vườn nhà Trang Lệ Thủy, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Trang Lệ Thủy và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại vườn nhà cô Tiền Ngọc Thanh, california, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Mai Thị Ngọc Minh và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại khu phố chợ Phước Lộc Thọ Little Saigon, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50 năm: Thầy Võ Thành Tường và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại nhà thầy cô Võ Thành Tường, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50: Huỳnh Thị Sáu (ngồi bìa phải) và Trần Văn Mãnh (đội nón đứng bìa trái). (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và anh Tiền Hữu Phát (anh Phát học chung lớp với chị Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh THị KIm),  (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm:  trái qua phải: anh Tiền Hữu Phát, Tiền Hữu Đạt, Tiền Hữu Minh (bạn Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), Trần Văn Mãnh, anh Tiền Hữu Lộc và anh Huỳnh Văn Quang (anh Quang ở cách nhà mình một căn, đường Bạch Đằng, Hà Tiên, anh của Huỳnh Văn Bé),  (06/2019, California, Mỹ)
Cô Tiền Ngọc Thanh đang giới thiệu sự có mặt của Trần Văn Mãnh và Nguyễn Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: anh Giang Văn Thân (ngày xưa ở đường Trần Hầu, Hà Tiên, học chung lớp với anh Lê Quang Chánh) và Trần Văn Mãnh, (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: anh Lâm Hữu Dư và phu nhân, bạn Lê Mai Hoa (học chung lớp với mình), (06/2019, California)
Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 40 năm: trái qua phải: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên (em của Hoàng Đức Trung và Hoàng Thu Bình, diện kiến lần đầu tiên) và Lê Mai Hoa (bạn học cùng lớp Đệ Thất Trung Học Hà Tiên xưa), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Hồ Thị Kim Nga (em của Hồ THị KIm Hoàn, diện kiến lần đầu tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và chị Chín Hương (chị của bạn Lâm Xuân Mỹ), (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Phượng, Hồ Thị Kim Nga, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên, Hồ Thị Kim Hoàn, anh Xuân và anh Ngô Hoàng Minh (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: La Văn Cao, Tiền Ngọc Dung và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà (em của Dương Thị Diễm Hà), Nguyễn Ngọc Tiếng, Nguyệt Đường và chị Tuyết (06/2019, California)
Gặp gỡ quý đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » (áo trắng bìa phải: phu nhân của bạn Hồ Anh Dũng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Mẹ của Lâm Mỹ Nga, Lâm Mỹ Nga (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt, Hà Tiên) chị Chí (phu nhân của anh Trần Đại Chí con của thầy Trần Hòa Hùng) và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Gặp gỡ quý chị Trung Học Hà Tiên Xưa: Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (06/2019, California)
Một số học trò xưa chụp hình chung với thầy cô Võ Thành Tường (thầy cô ngồi ghế) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Mong Đức Kiết (em của Mong Đức Hưng và anh Mong Đức Thạnh) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Nga và Trang Lệ THủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hoàng Thị Minh Liên và Trang Lệ Thủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà và Tiền Ngọc Dung (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Tái bút: Thầy cô và các bạn có thể xem thêm hình ảnh ở link sau đây: