Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, từ lâu mình có ý nghĩ là viết một bài về những người quen biết và những người bạn tuy không học chung cùng trường lớp Trung Học Hà Tiên xưa nhưng rất gần gũi nhau vì đó là những người quen biết và bạn bè thường hay tới lui giao thiệp vì cùng ở chung quanh khu chợ Hà Tiên (đây là nói về khu chợ rất xa xưa của Hà Tiên, khu có ngôi nhà lồng chợ ở giữa hai con đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt).

Mình sắp nói về những người quen biết và cũng là bạn bè hàng xóm, có người mình đã biết và có chơi qua lại từ rất lâu, ngay cả những ngày còn nhỏ thời trẻ nít, có người thì mình xem như đàn anh, nhưng cũng rất quen thuộc vì mỗi ngày đều có dịp gặp gở,..Trong số bạn bè người quen ở đây, một ít người thì đã ra người thiên cổ, ra đi đã lâu, có thể người Hà Tiên chúng ta đã quên rồi, vì thế mình muốn nhắc lại trong bài viết nầy, mong quý bà con, bạn bè còn ở Hà Tiên và những vị ở các nơi khác trên trái đất nầy, đọc bài và hãy suy tưởng nhớ lại, xem mình có quen biết người được nhắc đến ở đây hay không, tất cả đều là người quen biết và đều có thể được xem như là « những nhân vật quen thuộc » của đất Hà Tiên xa xưa.

Anh Tây Đen:

Từ nhỏ đến giờ, mình không biết tên thật của anh, chỉ nghe mọi người gọi anh là « Tây Đen »,…Cho đến tháng 8 năm 2018 khi mình đăng một thông tin trên trang fb để hỏi thăm về anh thì các bạn có góp ý nên mình mới biết được tên thật của anh. Anh tên thật là Phan Văn Sinh, đó là tên do cha mẹ nuôi của anh đặt cho. Cha nuôi của anh tên là Phan Văn Anh (tự Mạnh). Theo nội dung của phần thông tin của mình đăng lên để hỏi tin tức về anh Sinh, mình có viết như sau: « Các bạn ở Hà Tiên ngày xưa và nhất là các bạn ở Kiên Lương cho mình hỏi thăm về một người: Người nầy hồi xưa ở Hà Tiên, có tên thật là Mạnh nhưng mọi người đều gọi là « Tây Đen » vì anh là người lai có lẽ cha anh là người Phi Châu …Lúc xa xưa trong những năm 1960 ở sát bên nhà mình, do hai ông bà VN nhận làm con nuôi, (căn nhà chính là ngay nhà chế Gái Đen ngày xưa), lúc đó còn là một dãy nhà ngói đối diện với biệt thự ông Bầy đường Bạch Đằng, sau đó căn nhà đó do vợ chồng ông Huống ở, ông Huống làm nghệ giặt ủi quần áo và bà Huống thì bán rau hành ngoài chợ đường Tham Tướng Sanh. Sau nầy anh bạn Tây Đen về Kiên Lương ở, có một lúc có mâu thuẩn theo kiểu tuổi trẻ muốn đánh nhau với nhóm học trò Trung Học Hà Tiên của mình. Trong thời gian ở Kiên Lương anh bạn Tây Đen đăng vào lính và bị thương phải cưa hết một chân nên anh chỉ có một chân phải chống nạn đi, anh Tây Đen tuy rất đen nhưng nói chung vẫn đẹp trai, mũi cao, thân mình cân đối, hơi ốm..Sau nầy không biết anh ấy sống chết thế nào, các bạn có biết tin không, nhất là các bạn thường sống ở Kiên Lương sau nầy ».

Sau khi thông tin nầy được đăng lên ngày 20/08/2018 thì có nhiều bạn quen biết ở Hà Tiên và Kiên Lương góp ý và cho mình nhiều tin tức về anh Sinh. Như mình đã viết trong phần trên, từ xưa đến giờ mình cứ ngở tên anh là Mạnh, hóa ra đó chính là tên thân mật của cha nuôi của anh. Trong thời trẻ con của mình, khoảng 9, 10 tuổi, nhà cha mẹ nuôi của anh Sinh ở sát bên phải nhà mình, chổ  mà ngày xưa là một dãy nhiều căn ngói, kết sát bên nhà mình đó là nhà cha mẹ anh Sinh, kế đến là nhà ông Sừng làm nghề sửa chữa máy móc, kế nữa nhà của gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, ….v..v…lúc xưa chưa có căn nhà lầu của chế Gái Đen.  Thời đó lối xóm có nhiều trẻ con, mình cũng thuộc loại trẻ con của xóm đó, mình thường thấy anh Tây Đen nầy chơi với thằng bé con trai của ông Sừng nhà kế đó, nghĩ cũng vui vì thời xưa đó chỉ nội cái xóm khu nhà mình ở cũng có hai ba loại tây lai, tây trắng cũng có, tây đen cũng có,…(đó là anh em nhà mình, rồi bác Tây Đô ba của bạn Kiệt, rồi anh Sinh Tây Đen…).

Đây là những chi tiết mà người ta biết về anh Sinh: anh rất đam mê tốc độ, anh chạy xe honda rất tài tình về kỹ thuật lạng lách,…Sau khi anh và gia đình dời về Kiên Lương sinh sống, có thời gian anh vào lính, anh lái xe cho ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng BĐQ. Mỗi lần có dịp hành quân về Kiên Lương thì anh Sinh phô diễn tài chạy xe jeep, với kỹ thuật lái xe chỉ chạy trên hai bánh vòng vòng khu chợ tròn khiến cho người dân đứng xem hai bên đường vỗ tay khen rầm trời… Thời gian sau anh không may mắn vì bị thương và phải bị mất một chân, anh trở về cuộc sống dân sự ở Kiên Lương, mình cũng có nhiều dịp gặp gở anh khi đi Kiên Lương thăm bà con anh chị làm việc ở đó. Sự liên hệ giữa cá nhân mình và anh Sinh không có gì đặc biệt, ngày xưa là bạn con nít lối xóm chơi chung với nhau, khi lớn lên thì gặp nhau chào hỏi và thân thiện không có mâu thuẩn gì cả…Chỉ có một thời gian khi anh về Kiên Lương sống và chưa vào lính thì không biết tại sao có lúc nhóm học trò trung học Hà Tiên và anh Sinh ở Kiên Lương có hiềm khích gì đó, hai bên khích nhau gần như muốn đánh lộn với nhau, lúc đó học sinh Hà Tiên cũng không dám xuống Kiên Lương chơi vì sợ anh Sinh kiếm chuyện,…chỉ vậy thôi nhưng trên thực tế thì chưa hề có việc đánh nhau thật sự, đó chỉ là những xích mích theo kiểu thời học sinh, chắc cũng là vì lý do muốn dành chiếm con tim của một hai người đẹp Hà Tiên hay Kiên Lương nào đó…

Có nguồn tin bạn cho hay sau nầy khi anh rời khỏi đời lính vì bị thương tật, anh về sống cuộc đời bình dị làm ăn với gia đình. Mình không biết được tin tức của anh nữa. Nghe các bạn thông tin là anh có đi buôn bán thuốc lá tuyến đường Hà Tiên-Kiên Lương, có lúc thì anh bán vé số, về sau không buôn bán nữa thì anh về xã Hòa Điền sống với vợ con và mất ở đó. Mình cũng không biết chính xác anh Sinh mất năm nào, chỉ mới biết tin do bạn bè chia sẻ cho biết mà thôi, nghĩ lại thấy rất tội nghiệp cho cuộc đời của anh, vì rốt cuộc anh cũng là một nạn nhân của thời chiến tranh tang tóc…phải chịu cảnh thương tật đến khi rời xa cuộc sống. Ngày xưa khi chào đời anh được cha mẹ nuôi nhận đem về sau khi mới sanh ra có 3 tiếng đồng hồ ở Vĩnh Long. Thời gian đi học ở Hà Tiên bậc Tiểu Học anh học chung với anh Tòng con dì Tám Tiền cũng ở gần nhà mình đường Bạch Đằng. Khi anh Phan Văn Sinh mất, gia đình chôn cất anh ở Hà Tiên.

Về gia đinh cha mẹ nuôi của anh Sinh, mình cũng không biết nhiều, chỉ còn nhớ cha của anh ngày thật xa xưa mình có gặp mặt vì là người lối xóm, nhưng hoàn toàn không biết gì về những người thân khác trong gia đình của anh Sinh. Sau nầy mới được bạn bè thông tin thêm cho biết là anh có một người chị trong gia đình tên là Phan Thị Lang, chị Lang hay lên xuống Hà Tiên đi buôn bán và chị cũng là bạn thân với chị Huỳnh Thị Huệ người chị bạn dì với mình sống ở Kiên Lương. Chị Phan Thị Lang ngày xưa cũng là một cô giáo dạy ở trường Tiểu Học An Bình, Kiên Lương, nhà chị ở khu chợ dài ở Kiên Lương.

Anh Phan Văn Sinh với chiếc nạn gỗ lúc anh bị thương tật ở chân.

Chị Phan Thị Lang và bức chân dung của người cha là ông Phan Văn Anh, cũng là cha nuôi của anh Phan Văn Sinh

Bìa trái hàng đứng: chị Phan Thị Lang (chị của anh Phan Văn Sinh), bìa trái hàng ngồi: bạn Lý Mạnh Thường.

Tái bút: Sau khi viết phần về anh Phan văn Sinh xong, đến ngày hôm nay 25/06/2020, mình có nhận được mail thông tin của người con gái lớn của anh Sinh, người con gái nầy có cho mình biết vài thông tin về gia đình của anh hiện tại. Anh có tất cả 4 người con, người con út là con trai vẫn còn độc thân, ba người con lớn thì đã có gia đình. Cuộc sống tất cả đều ổn định. Người vợ của anh vẫn còn sinh sống ở xã Hòa Điền tuy sức khỏe có phần yếu kém. Theo hình ảnh của thẻ căn cước ngày xưa của anh Sinh thì tên chánh thức trên giấy tờ của anh là PHAN VĂN XIN. Theo thông tin gia đình thì anh Phan Văn Xin mất ngày 18/05/2001. Mình xin cám ơn người con gái lớn của anh Xin về những thông tin nầy và về những tấm hình mà cô đã chia sẻ qua email.

Chân dung anh Phan Văn Xin trong giấy căn cước ngày xưa. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Giấy căn cước ngày xưa của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Chân dung của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Bạn Phách:

Tiếp tục kể chuyện hàng xóm đường Bạch Đằng, ngày xưa lúc mình còn nhỏ, mình thường chơi thân với bạn Phách, bạn bè khu chợ thường gọi bạn là Phách, nhưng tên chữ của Phách chính là Chung Nghiệp Phát. Ngày xưa mình với Phát chơi nhau rất thân, mình thường hay qua nhà Phát chơi, má của Phát rất tử tế, rất vui vẻ nói chuyện với mình tuy nhiều khi thì cũng rất nghiêm. Ba của Phát làm việc ở khách sạn Đại Tân phía sau nhà mình ở đường bến Trần Hầu. Gia đình ba má Phát có hai người con trai, Phát là lớn và có một em trai tên là Tài. Nhà của Phát ở sát bên phải căn biệt thự nổi tiếng ngày xưa của ông Bầy, ở đường Bạch Đằng. Ở chợ Hà Tiên, có nhiều gia đình người Hoa có tiệm buôn bán chung quanh chợ, thường là những người có quan hệ bà con với nhau. Má của bạn Phát chính là người chị của ông Thái Dũ (tên của ông là Huỳnh Diệc Hỹ, ở Hà Tiên ai cũng biết ông, vì gia đình ông có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Hà Tiên, nhất là trong những năm xưa 60-70, người dân Hà Tiên tiêu thụ xăng dầu do trạm cây xăng của gia đình ông cung cấp). Má của bạn Phát còn có một người chị lớn nữa chính là bà Thái Sầm, một trong những người cố cựu ở Hà Tiên và cũng là chủ của nhiều dãy phố chung quanh khu chợ Hà Tiên, bà Thái Sầm cũng là chủ nhân của khách sạn Tô Châu xưa ở bến tàu sông, góc đường bến Trần Hầu – Tô Châu.

Ngày xưa trước mặt căn biệt thự của ông Bầy có một lề đường tráng xi măng sạch sẽ, nhóm con nít khu xóm thường tụ  tập tại đó để chơi các trò chơi trẻ con. Trò chơi thì có rất nhiều loại, thay đổi tùy theo « mùa màng », mình cũng không biết ai là người có ảnh hưởng quyết định khi nào là mùa phải chơi trò chơi nào, nhưng rỏ ràng là theo nhóm chơi của trẻ nít xóm mình thì có khi có mùa chơi dây thun, có mùa chơi bao thuốc lá, có mùa chơi hình cắt nhỏ từng miếng, có mùa chơi nút ve chai nước ngọt, đặc biệt có mùa chơi « chẻ mía » rất hấp dẫn. Tất cả các trò chơi nầy được diễn ra ở hai bên lề đường Bạch Đằng ngay khu mình ở. Tham gia các trò chơi nầy đều có các bạn lối xóm của mình, dĩ nhiên là bạn Phát cũng có mặt trong các trò chơi nầy, thực ra mình cũng ít chơi trực tiếp, chỉ thích đứng xem cả buổi các bạn chơi với nhau xem ai ăn ai thua mà thôi. Ngay cả lúc căn biệt thự của ông Bầy cho người Mỹ mướn ở trong đợt những cố vấn Mỹ đầu tiên đến Hà Tiên, thì mình cũng qua nhà của Phát để xem họ dọn đồ đạc đến trong căn biệt thự, vì lúc đó, trẻ con thường hay theo các người Mỹ nầy để xin kẹo Chewing Gum và các lon nước ngọt…Có khi thấy thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương tình cờ chạy xe đạp ngang thì phải trốn dấu mặt vì sợ bị thầy kêu lên văn phòng rầy la ngày hôm sau…

Chơi với nhau nhiều năm sau đó thì bạn Phát đi qua nước Campuchia một thời gian, lúc đó có lẽ để tránh tình trạng chiến tranh ở Việt Nam, mình và Phát mất liên lạc nhiều năm trong thời gian đó. sau đó Phát cũng trở về nhà ở Hà Tiên sinh sống, mình và Phát gặp lại và cũng thường xuyên qua lại với nhau. Thời gian sau 1975 mình và Phát mất liên lạc vì mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Hiện nay mình và Phát đã « gặp » lại nhau trên mạng, Phát sống với gia đình ở nước Canada.

Anh Thái và bạn Khuôn:

Kế căn biệt thự của ông Bầy về bên trái thì có căn nhà ngói do gia đình ông Trương Thái Phong mua cho ông ở riêng trong căn nhà nầy, sau đó có em Huỳnh là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Kim Ô ở căn nhà nầy. Kế căn nhà ông Trương Thái Phong về bên trái là nhà của một gia đình rất đông người ở. Đó là gia đình của anh Thái, anh Thái họ Tạ, tên đầy đủ là Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà nầy, đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Lúc xưa trong căn nhà đó có hai gia đình cùng ở chung, cũng đều là bà con ruột với nhau. Trong gia đình bạn Thái thì phía anh chị lớn có anh Hạo (là bạn với anh Lê Quang Chánh, anh bạn dì với mình), rồi chị Khiếm (chồng chị Khiếm là anh Ngoán, lúc xưa làm việc lái xe cho ông quận trưởng Hà Tiên, hai anh chị có con trai và gái, người con trai tên Tùng, cháu Tùng thường qua nhà mình ngồi ở hàng ba trước nhà mình xem mình đàn guitare vì Tùng rất thích chơi đàn nầy). Kế đến là anh Thái, sau anh Thái còn có nhiều em trai và gái nữa, trong số đó có ba người con gái, có cô tên Kim là phu nhân của anh Lý Cảnh Tiên (anh Tiên là anh của bạn học mình là Lý Mạnh Thường). Vì là lối xóm ngày ngày hai bên nhà nhìn qua nhìn lại, nhất là những buổi chiều gió mát nhà anh Thái thường hay trải chiếu ngoài hàng ba và cả nhà quây quần ngồi chơi nói chuyện rất vui. Thông thường thì hằng ngày ba anh Thái thường đan lưới trước nhà vì cả gia đình làm nghề đánh bắt cá, có tàu lớn ra vào ngoài cửa biển Pháo Đài. Vì anh Thái lớn tuổi hơn mình, là đàn anh nên mình không có học chung lớp với anh, chỉ có một người nữa trong nhà, hồi xưa mình chỉ biết tên bạn là Khôn (nhưng sau nầy xem tin tức của anh Thái mới biết tên đúng là Khuôn), bạn có tên đầy đủ là Lâm Mậu Khuôn, là anh em cô cậu với anh Thái, ngày xưa hồi học Tiểu Học, mình học chung lớp với bạn Khuôn, bạn Khuôn có một đặc điểm là bạn bị cận thị rất nặng, mà hồi rất xưa ở Hà Tiên, cũng không có việc phải đi khám mắt và mang kính cận nên bạn Khuôn không có đeo kính, trong lớp học mỗi lần muốn đọc một tờ giấy gì mình thấy bạn Khuôn đưa tờ giấy gần sát trên mắt để đọc… Một thời gian sau đó, cha mẹ bạn Khuôn, dọn nhà ở riêng ở phía dưới đường Trần Hầu, mình cũng biết căn nhà nầy vì có nhiều lần đi chơi ngang nhà. Ngày xưa lúc còn nhỏ chơi với nhau khá thân nên lúc Khuôn dọn nhà đi xuống xóm đường Trần Hầu thì mình cũng hơi buồn vì không gặp lại bạn thường xuyên. Từ lúc Khuôn dọn nhà đi thì mình và bạn ít có dịp tiếp xúc nhau, cho đến khi sau nầy có phong trào vượt biên đi ra nước ngoài, Khuôn cũng theo gia đình đi  nên không còn biết tin tức nhau. Cho đến lúc gần đây, nhìn hình ảnh anh Thái về Việt Nam đi thanh minh ở Hà Tiên, có chụp hình chung với bạn Khuôn, mình nhìn hình và nhận ra ngay Khuôn, mặc dù là đã xa nhau có hơn trên 50 năm…Hiện nay, anh Tạ Hữu Thái sinh sống ở nước Úc, còn bạn Lâm Mậu Khuôn thì ở nước Mỹ.

Từ trái sang phải: bạn Chung Nghiệp Phát, anh Tạ Hữu Thái và bạn Lâm Mậu Khuôn. Những người bạn ngày xưa nhà ở cùng đường Bạch Đằng, Hà Tiên.

 Anh Trần Bình:

Ngày xưa khi còn học bậc Tiểu Học, mình có học chung lớp với anh Trần Bình, anh Trần Bình người khá cao, nét mặt rất đẹp trai, nhà anh ở ngay góc đường Lam Sơn-Bach Đằng, gần như đối diện với nhà mình (ngày nay chính là quán bán mì của anh Cáo Di và chị Hoa). Gia đình anh Trần Bình rất quen thuộc với nhà mình, má của anh thì quen biết nhiều với má và ông bà của mình, còn ba của anh thì thường hay qua nhà mình hút thuốc phiện với ông ngoại mình…Ở Hà Tiên ngày xưa có rất nhiều bậc ông cha có tên là Tỹ, đó là một tên quen thuộc của người Việt gốc Hoa, ông ngoại mình tên là Trần Đệ, vì ông rất cao lớn, lưng lại hơi tôm nên người ta gọi ông là ông Tỹ Tôm, còn ba của anh Trần Bình người cũng cao lớn, người ta gọi tên là ông Tỹ « Cọn », đó là tên theo phát âm chữ Hoa ra tiếng Việt nên mình viết ra đây cũng không chính xác.

Có một kỷ niệm lúc ba của anh Trần Bình qua nhà mình, ông đi bằng cửa sau, từ phía mặt đình Thần Thành Hoàng về phía nhà mình, vì ông thường qua nhà mình chơi với ông ngoại mình nên cũng rất dè dặt, kin đáo nên thường đi theo cửa phía sau nhà. Lúc đó sân phía sau nhà mình còn đất rộng cây cỏ mọc nhiều, anh em mình đang chơi trò phóng một mũi tên nhọn qua lại, lúc anh mình phóng mũi tên nhọn về phía mình, nghĩ lúc đó sao mình cũng ngu dại thật, mình đưa ngay bàn chân phải ra đón mũi tên, ai dè mũi tên cấm phập ngay trên bàn chân, chắc cũng đau lắm, nhưng cũng không sao, không có chảy máu, ngay lúc đó thì ba anh Trần Bình vừa đến ngay cửa sau, khi thấy kiểu chơi như vậy, ông nói: « Mấy đứa tụi bây chơi gì mà nguy hiểm quá vậy… »

Ngày còn con nít, anh em nhà mình chơi rất thân với anh Trần Bình, lúc đó mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về các nội dung truyện Tàu, loại truyện hồi xưa tiệm thuốc Tây Thanh Bình ở dưới chợ cá cũ cho mướn sách để đọc. Mình đọc gần như hết tất cả các truyện Tàu có trong tiệm Thanh Bình nên chịu ảnh hưởng nặng nề về nội dung các câu chuyện nầy, nhất là truyện Tàu Tề Thiên Đại Thánh, Thái Tử Na Tra lóc thịt, các câu chuyện Thần Tiên về Đông Du bát tiên hay Phong Thần…Lúc anh Trần Bình qua nhà mình chơi, mình thường hay dừng màn trướng làm như trong gánh hát, rồi chơi trò theo các câu chuyện trong truyện Tàu, anh Trần Bình lấy cái thùng giấy sửa ông Thọ và phía mặt ngoài có vẽ hình các bông sen, rồi cầm thùng giấy đó đưa lên ngang ngực mình ngay chỗ mình đứng giống như là mình đang ngồi trên tòa bông sen theo kiểu các hình Bồ Tát, Đức Phật ngồi trên tòa sen…Hồi thời đó, anh Trần Bình có tài vẽ hình rất hay, anh thường vẽ hình các vị Phật, vẽ hình ông Lý Tịnh trên tay cầm bửu tháp, cha của Na Tra, theo kiểu nội dung thần tiên trong truyện Tàu. Vì ngôi nhà anh ngay trước mặt nhà mình, chỉ cách con đường Bạch Đằng, nhà lại có một tầng lầu và các cửa sổ lầu nhà anh cũng ngó sang nhà mình nên thường khi anh ở trên lầu, mình cũng thấy được anh Trần Bình ngồi vẽ trên đó và hai bên cũng liên lạc nói chuyện với nhau được mặc dù cách nhau một con dường và có độ cao khác nhau…

Lúc còn học chung ở Tiểu Học, mình và anh Trần Bình còn có một người bạn chung tên là Thành, Thành hơi nhỏ con, là con trai của một gia đình công chức sống trong cư xá của Ty Quan Thuế thời đó (tức là khu nhà ở sau Ty Quan Thuế nhìn ra đường Trần Hầu, khoảng có cầu đoan quan thuế ở bến sông Hà Tiên). Có lần anh Trần Bình có mua một số đồ chơi bằng nhựa mủ, các đồ chơi nầy là mô hình các người lính, các chiếc xe nho nhỏ rất xinh đẹp mà mình cũng rất thích nhưng thời đó không có tiền túi nhiều để mua chơi, một lúc thời gian sau, khi anh sắp lên Sài Gòn tiếp tục học thì anh Trần Bình cho bạn Thành đó tất cả các món đồ chơi đó.

Khi mình bắt đầu lên Trung Học thì mình và anh Trần Bình ít có dịp chơi với nhau, vì có lúc anh lên Sài Gòn ở, bạn bè ít liên lạc với nhau. Anh lập gia đình với người Hà Tiên và từ đó về sau mình không có tin tức gì về anh nữa. Sau nầy qua con gái của anh, mình biết được là anh đã qua đời vì bệnh từ lâu. Anh Trần Bình mất năm 2016, gia dình chôn cất ở trên cao, ngay đỉnh núi Đề Liêm Hà Tiên.

Anh Trần Bình, rất đẹp trai, vừa là bạn thân lúc còn nhỏ, vừa là bạn lối xóm.

Bạn Sện, hai anh em bạn Đệ và Úi:

Một trong những người bạn trong khu chợ tuy không có lúc nào học chung trường lớp nhưng có nhiều thời gian chơi khá thân với nhau là bạn Sện, người Hà Tiên gọi bạn bằng tên thân mật là Sện nhưng tên thật của bạn là Huỳnh Vạn Tường. Bạn Huỳnh Vạn Tường là con trai của một gia đình người Việt gốc Hoa có tiệm làm ăn ở đường Tham Tướng Sanh, bên hông ngôi chợ Hà Tiên xưa. Tiệm của gia đình bạn Tường có hiệu là Phục Hưng, ba của bạn Tường làm nghề trồng răng và má của bạn thì có nghề uốn tóc. Không biết từ lý do gì mà mình và bạn Tường chơi thân với nhau và từ lúc nào, chỉ biết là má của Tường rất mộ Đạo Phật nên thường hay lui tới nhà mình để tham gia việc cúng kiến quý thầy tu, và mỗi lần có người em của bà ngoại mình (bà ngoại mình thứ chín, có hai người em tu trong chùa ở Châu Đốc nên mấy đứa cháu như mình thường kêu là bà Mười lớn và bà Mười nhỏ), bà Mười nhỏ thỉnh thoảng vào Hà Tiên thăm bà ngoại mình, lần nào má của Tường nghe tin cũng đến nhà mình để tiếp xúc với bà Mười nhỏ về việc tu hành. Tường thường kể cho mình nghe về việc bạn học nghề võ, hình như là học với anh Hà Văn Long (anh Hà Văn Long là cháu ngoại của bà Cô Tư có thời gian trụ trì nhiều năm ở chùa Lò gạch ngày xưa, người Hà Tiên thường gọi anh Long bằng biệt danh « Long bảy búa », anh Hà Văn Long nay đã mất). Tường thường kể là học theo võ bùa, mỗi lần có bùa nhập vào là đánh võ rất hay và mạnh. Ở nhà của bạn Tường có một sân thượng phía sau nhà, đứng trên sân thượng nầy có thể nhìn thấy phía bên đường Bạch Đằng, và mặt tiền khu nhà đường Lam Sơn, Tường thường hay dẫn mình lên sân thượng sau nhà nầy và biểu diễn múa võ cho mình xem…

Hồi xưa lúc chơi với nhau, Tường cũng rất thích về môn đàn guitare và nghe nhạc hòa tấu đàn điện do nhóm The Shadows chơi. Bạn Tường thường dẫn mình đến nhà hai bạn Đệ và Úi, dó là hai anh em nhà ở đầu đường Lam Sơn – Tham Tướng Sanh, ngay phía trước nhà có một gốc cây me rất to lớn và phía trước đó cũng là chỗ thường xuyên của chiếc xe bánh mì « pa tê » rất nổi tiếng ở Hà Tiên, đó là chỗ bán của bà bán bánh mì « pa-tê », bà cũng có bán kèm theo vài trái mít rất to lớn.  Vì nhà của anh em Đệ và Úi có một cái máy hát dỉa loại xưa, hát bằng dỉa đá lớn màu đen, loại 78 vòng, có một dỉa đặc biệt về các bài hòa tấu của nhóm The Shadows, thường là nghe các bài Apache, FBI, Kon-Tiki,…Hồi xưa mình và các bạn đó rất mê nghe các bài hòa tấu guitare điện nầy nên nhóm bạn ở khu chợ nầy thường tụ họp ở nhà của hai bạn Đệ và Úi để nghe các bài nầy, nhiều khi cứ nghe đi nghe lại rất nhiều lần, lúc nào cũng thấy thật hay, mà vào thời đó ai cũng mê các bài hòa tấu đàn điện nầy của nhóm The Shadows, thường là các bài nầy được hát ở những rạp chiếu bóng ở Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ trong khi chờ vào giờ chiếu phim. Thời đó mình rất mê đàn guitare, nhất là mê tiếng đàn guitare điện, nhưng đâu có được đàn điện mà chơi, chỉ chơi bằng loại đàn kêu là đàn thùng (guitare acoustique) và thường là nghe bập bởm âm điệu của các bài của The Shadows rồi cứ đàn theo trí nhớ lại, chỉ biết được tên của hai bài chánh là Apache và FBI, còn nhiều bài khác thì biết nghe, ghiền nghe nhưng hoàn toàn không biết tựa bài là gì.

Bây giờ nói thêm về hai anh em bạn Đệ và Úi, bạn Đệ tên thật là Liêu Thọ Hoa, Đệ người cân đối, nhỏ con, cũng khá đẹp trai, rất hiền, còn Úi tên thật là Liêu Thọ Vĩ. Hai anh em Đệ và Úi còn có một người anh trai lớn nữa, lúc đến nhà chơi mình cũng có gặp người anh lớn nầy. Hàng ba trước nhà của hai anh em Đệ và Úi ngày xưa có cho ông thợ hàn thiếc mướn để hành nghề, hồi xưa mình cũng thường hay đến đây ngồi xem ông thợ nầy làm việc, mình rất mê xem ông cắt từng miếng thiếc, rồi đập, uốn, hàn thành những dụng cụ như bình tưới nước có cái búp sen ở đầu vòi hoặc máng xối hứng nước..v..v..Lúc ngồi xem ông làm việc thì cũng có vài người bạn của ông đến chơi và nói chuyện vui với nhau, thời đó có một ông làm thợ uốn tóc ở tiệm của nhà bạn Tường, mấy ông nầy thường có thú vui là cá độ với nhau số kiến thiết xổ ra là số mấy (loại số xổ trước hết gồm hai con số, người dân Hà Tiên thời đó dùng kết quả số nầy để chơi số đuôi, còn gọi là đánh số đề), mấy ông nầy chia 100 con số ra làm bốn phần (phần một từ số 01 đến số 25, phần hai từ số 26 đến số 50, phần ba từ số 51 đến số 75, phần bốn từ số 76 đến số 00 (tức số 100), mỗi ông cá vào một trong bốn phần nói trên nên khi số xổ ra đều có người trúng …Đó là cách chơi cá xổ số của mấy ông mà mình vẫn còn nhớ đến bây giờ. Về sau nầy, khi ông thợ hàn thiếc không còn mướn phía trước nhà của anh em bạn Đệ, Úi nữa thì có chị Lâm Thủ Điệp, phu nhân của bạn Lý Cui (bạn Lý Cui học chung lớp với mình trong thời Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ từ lớp đệ thất đến hết bậc Trung Học Hà Tiên) mướn để làm tiệm may y phục phụ nữ.

Nhắc lại thêm vài chi tiết vui ngày xưa với bạn Tường, ngày xưa ở Hà Tiên có thông lệ là nếu có một người bạn quen phải đi Rạch Giá vì có công việc riêng hay đi học hoặc đi trình diện đi lính thì sáng sớm hôm đó thường có bạn bè đi đưa người lên đường ra bến tàu, xe, và để thưởng công cho người đi đưa phải thức sớm, người sắp đi sẽ mời bạn ăn sáng một tô mì và một ly cà phê đá, thường là ngay tại quán Quảng Phát vì quán nầy ở gần bến tàu, xe nên rất tiện cho việc lên đường. Nhiều lần bạn Tường cũng rủ mình thức sớm ra đưa Tường đi Rạch Giá hay Sài Gòn như vậy, lần nào thì Tường cũng khao mình một tô mì và ly cà phê đá và dĩ nhiên là do bạn Tường trả tiền. Không những thế, ngay cả vào những ngày bình thường, bạn Tường thường hay có thói quen là thỉnh thoảng vào buổi trưa hay ăn một tô mì hay hủ tiếu ở quán ông Phan trong nhà lồng chợ, gần nhà của Tường, nếu trước đó bạn Tường đang ở nhà mình chơi đàn hay ngồi nói chuyện ở trước hàng ba mái hiên nhà mình thì Tường cũng rủ mình ra ăn luôn với Tường cho vui, lần nào bạn Tường cũng chiêu đãi trả tiền, vì thời xưa còn học sinh, mình cũng không có tiền túi dư để khao bạn bè ăn hủ tiếu thịnh soạn như vậy, tóm lại nếu nói nợ nần thì mình cũng đã nợ bạn Tường rất nhiều về những lần được khao ăn mì, hủ tiếu như vậy…

Sau nầy khi mình đi dạy học thì ít về Hà Tiên nên ít có dịp gặp lại các bạn cùng xóm chợ. Về sau khi có chiến tranh biên giới 1977-78, đa số người Hà Tiên đều tản cư đi các nơi khác, bạn Huỳnh Vạn Tường qua Rạch Giá và có mở tiệm hành nghề trồng răng tiếp nối nghề gia đình. Hiện nay Tường đã trở lại Hà Tiên sinh sống và thỉnh thoảng cũng có làm việc. Bạn Đệ (Liêu Thọ Hoa) thì định cư ở nước Mý, còn bạn Úi (Liêu Thọ Vĩ) thì vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hồ:

Mình quen biết với bạn Hồ qua sự trung gian của bạn Huỳnh Vạn Tường, nói chung Hồ, Sện và Phách đều là quen biết và bà con với nhau cả. Bạn Hồ tên chánh thức là Huỳnh Minh Hà, con trai của ông Thái Dũ mình đã có dịp nói ở trên, vì thế bạn Chung Nghiệp Phát và bạn Huỳnh Minh Hà là hai anh em cô cậu (má của Phát là chị của ba của Hồ). Trong thời gian mình và Tường chơi đàn guitare thì Tường có giới thiệu mình với Hồ để có dịp chơi đàn chung với nhau. Bạn Hồ người cao ráo, thanh nhả và cũng rất đẹp trai. Hồ nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng tôn trọng bạn bè. Tường và Hồ cũng thường đến nhà mình chơi buổi trưa và như đã kể ra ở trên, sau đó hai bạn thường rủ mình ra quán ông Phan ăn hủ tiếu, khi thì Tường khao, khi thì bạn Hồ khao…Vì không thể chấp nhận đi hoài nhiều lần phải để cho hai bạn trả tiền cho mình nên thỉnh thoảng mình cũng từ chối, viện cớ nầy nọ…Thời xa xưa đó cuộc sống học trò thì đâu có dư tiền túi, trong khi đó các bạn ở quanh chợ thì nhà khá giả nên có phương tiện chi tiêu rộng rải…

Vì bạn Hồ rất thích chơi đàn guitare nên có thời gian trước đó Hồ có chánh thức học đàn với anh Mẫn. Mình nói thêm về anh Mẫn, ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển. Mình còn nhớ có vài lần đầu gặp Hồ, mình và Tường, Hồ cùng nhau ngồi chơi trước hàng ba nhà mình, bạn Hồ có đàn cho mình nghe vài âm điệu, khi nghe Hồ đàn một lúc, tiếng đàn rất phong phú, lúc thì theo hợp âm đô trưởng (C), lúc thì theo hợp âm la thứ (Am), vừa có tiếng đàn trầm giử nhịp (basse), vửa có nhiều âm thanh cùng phát ra một lúc theo kiểu đàn nhạc cổ điển, mình giựt mình vì nhận thấy Hồ đàn rất hay và rất căn bản, hỏi ra mới biết đó là bài tập thứ nhất do anh Mẫn mới dạy cho Hồ tập đàn. Đó là bài N°1 Valze, nhịp 6/8 trong quyển sách học đàn « Méthode complète pour Guitare » của tác giả Ferdinando Carulli. Thời đó nghe tiếng ai mà học đàn theo quyển sách đó thì đó là tay chơi đàn gạo cội rồi đó…Nếu muốn chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển, ai cũng phải qua quyển sách đó, trong sách có 56 bài tập (exercices) và sau khi tập xong 56 bài tập đó thì phần cuối sách có 6 bài trình độ cao (études). Không biết anh Mẫn có chơi hết các bài trong quyển sách nầy hay không, vì thời đó rất khó mà có được quyển sách nầy. Sau nầy khi đi dạy học ở Mỹ Luông, mình gặp một người bạn đồng nghiệp tên Lê Việt Ánh, người Huế, dạy môn Anh văn, Ánh chơi đàn cổ điển rất hay, lúc đó mình mới bắt đầu đi vào phương pháp đàn guitare cổ điển, tập được hết 56 bài tập và 6 bài études của quyển sách Carulli nầy. Đến thời gian khi qua Pháp định cư, mình cũng tìm mua được quyển sách Carulli nầy, bản gốc theo tiếng Pháp để giữ đó làm kỷ niệm nhớ lại thời chơi đàn ở Việt Nam.

Sau năm 1975, đa số các gia đình người buôn bán chung quanh chợ Hà Tiên đều có phương tiện đỉ nước ngoài bằng tàu ghe, bạn Hồ cũng ra đi cùng với gia đình rất sớm, từ đó mình mất liên lạc với Hồ. Sau nhiều năm sau nầy, khi mình bắt đầu hay sưu tầm, tìm tòi các hình ảnh xưa về Hà Tiên, vào năm 2006, tình cờ mình thấy được một bức hình do một người lính hải quân Mỹ chụp tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp các em trẻ nít người Hà Tiên, có lẽ do người lính Mỹ kêu tập họp lại để anh chụp hình cho vui, đó là vào năm 1965, người lính Mỹ nầy tên là Cliff Rocheleau, khi thấy được bức hình nầy mình rất mừng và rất thú vị, vì trong hình thấy rỏ cảnh Đài Kỷ niệm với một phần chợ cá cũ của Hà Tiên, nhất là bên phải hình mình nhìn ra rỏ ràng có mặt bạn Hồ đang đứng trong đó. Hình được mang tên « vn0146 » trong một bộ tập hình về Việt Nam do anh Cliff Rocheleau đăng trên trang web của anh mang tên « Coast Guard Warriors » (Chiến binh bảo vệ bờ biển), dưới bức hình chụp trẻ em tại Đài Kỷ niệm Hà Tiên (1965) anh có chú thích « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien. » (Những đứa trẻ luôn bị thu hút bởi những chiếc tàu thuyền mỗi khi tàu thuyền dừng chân ở Hà Tiên).

Sau nầy trên mạng face book mình có « gặp » lại bạn Hồ, mới biết bạn tên là Huỳnh Minh Hà, mình rất vui tìm lại được bạn bè thời xưa ở Hà Tiên. Bạn Huỳnh Minh Hà hiện định cư ở nước Úc và thường xuyên đi du lịch với niềm đam mê là chụp hình phong cảnh đẹp khắp nơi.

 Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, bạn Hồ đứng bìa phải. « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien ». Cliff Rocheleau (1965)

Từ trái sang phải: Bạn Huỳnh Vạn Tường, bạn Huỳnh Minh Hà và bạn Liêu Thọ Hoa. Những người bạn ngày xưa cùng xóm chợ Hà Tiên.

Bạn Mạnh, bạn Sáu và bạn Hủi:

Bạn Mạnh, tên đầy đủ là Hồ Văn Mạnh, người hơi nhỏ con giống như mình, nhà bạn ở đường Đống Đa, Hà Tiên, phía khúc gần mặt sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Mạnh là con của bác Phụng Đài, (chắc tên là Hồ Phụng Đài, mình không nhớ rỏ), bác Phụng Đài (còn gọi là bác Tư Đài) là một họa sĩ tài danh của Hà Tiên, ở Hà Tiên ai cũng biết ông. Chính ông là tác giả của hai bức tường dựng ở hai bên cầu bắc Hà Tiên, nơi có ghi những địa chỉ buôn bán, quán ăn, khách sạn, tiệm bán vật kỷ niệm cho du khách đến Hà Tiên tham khảo, đó là khoảng những năm 60-65, sau nầy có hia của mình là hia Phón (tên thật là Thái Văn Bằng) tiếp tục vẽ thêm bổ túc cho hai bức tường nầy. Hồi lúc học bậc Tiểu Học, vì bạn Mạnh có vừa tên vừa họ cũng gần y như tên họ của mình, chỉ khác dấu thôi (một người dấu nặng, một người dấu ngã) nên mỗi lần có sắp xếp chỗ ngồi để thi (thi trong lớp hay thi lên lớp đệ thất) là Mạnh và mình thường ngồi kế nhau.  Có một lần mình còn nhớ là Mạnh chắc cũng muốn kiếm thêm chút tiền bỏ túi nên lãnh phần sơn mấy tấm sáo treo trước hai căn nhà lầu của chế Gái Đen sát nhà mình, bạn Mạnh đang đứng trên ghế cao sơn thì có ba của bạn chạy xe đạp ngang, ông không vừa lòng chút nào khi thấy bạn Mạnh đi sơn như vậy nên rầy la bạn Mạnh, mình còn nhớ lúc đó đang ở mái hiên nhà mình và nghe ông rầy như thế nầy:  » Ba muốn con học làm họa sĩ có danh tiếng chớ đâu có muốn con làm thợ sơn nhà như vậy!! ».

Về sau nầy, bạn Mạnh có dọn nhà về ở đường Bạch Đằng, lập gia đình, có vợ có con. Nhà ở sát căn nhà của anh em tên là Ba và Tư, con người thợ máy. Mạnh cùng bà xã làm ăn theo nghề mua bắt tôm, cá bán sỉ lại cho các người bạn hàng ngoài chợ cá Hà Tiên. hai vợ chồng làm ăn rất khá. Một thời gian sau, hai vợ chồng cất nhà lầu đúc rất tốt đẹp, cũng ở trên con đường Bạch Đằng. Hiện nay không biết bạn Mạnh có dọn đi đâu không, tuy nhiên vẫn sinh sống ở Hà Tiên.

Bạn Hồ Văn Mạnh, hình lúc còn học lớp nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963

Bạn Sáu, tên đầy đủ là Đỗ Văn Sáu, không biết tại sao bạn bè hay người Hà Tiên thường đặt cho bạn cái biệt danh không hay chút nào là « Sáu Bò » !! Vì là bạn học cùng chung ở thời Tiểu Học, mình và bạn Sáu rất hiểu biết nhau nên mình không bao giờ gọi bạn bằng cái biệt danh như vậy. Sáu rất đàng hoàng, nói chuyện lịch sự, lúc nào cũng gọi mình bằng tên rất thân mật. Nhà bạn Sáu ở trên con đường Tuần Phủ Đạt, gần như đối diện với rạp chiếu bóng Phát Minh sau nầy. Bạn Sáu là con trai trong một gia đình kỳ cựu Hà Tiên, rất đông anh em. Có người anh lớn là anh Đỗ Bảo Khén (hoặc Đỗ Bổ Khén) mình biết mặt nhưng không quen vì anh thuộc bậc đàn anh học chung lớp thời anh Tùng Phương, anh Huỳnh Hữu Điền,…(ba người anh kể tên đây cũng đã qua đời lâu rồi). Sáu có hai người em gái mà một trong hai người đó chính là phu nhân của bạn Trần Bình. Trong gia đình bạn Sáu, có một người anh nữa tên Đỗ Bảo Yến, hình như hồi xưa cũng có học bậc Tiểu Học cùng trường với mình. Ở Hà Tiên người ta thường gọi anh Yến là anh « Be Be »…không biết tại sao. Chỉ biết anh Yến có mang một căn bệnh rất nặng là bệnh kinh phong, mình cũng đã có nhiều lần thấy cơn giựt kinh phong nỗi lên, lúc đó cặp mắt như nhìn ngược lên phía trên, miệng thì có bọt trào ra, rất là tội nghiệp. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường anh Yến không khuấy phá ai cả. có một lần chính mình thấy tận mắt mà mình còn nhớ đến bây giờ, chuyện xảy ra rất lâu rồi, lúc đó mình còn nhỏ, mới ở nhà đi ra chợ trên con đường Lam Sơn, thì thấy anh Yến đang bồng trên tay một em bé gái, mình bị ướt sủng và có khói bốc lên, mặt anh Yến thì rất nghiêm trọng, không nói tiếng nào, sau đó mới biết đó là em Kim Hoàng, con gái của hai ông bà bác Ba Nhan ở sát nhà mình, và Kim Hoàng vửa bị phỏng nước sôi nên anh Yến đã kịp thời mang em đi thẳng về nhà bác Ba Nhan để thông báo cho hay tin…Đó là một việc làm rất tốt đẹp, anh đã cứu em bé gái kịp thời không bị phỏng cháy trong nước sôi như vậy…Anh Đỗ Bảo Yến đã mất khoảng năm 1985 hay 1986, hiện tro cốt còn thờ trong chùa Phật Lớn ở Hà Tiên.

Trở lại chuyện về bạn Sáu, có một lần vì công chuyện làm ăn, bạn Sáu có ra Long Xuyên mua vật liệu máy móc, bạn có đến nhà kiếm mình và hai người kéo nhau ra mấy cái quán ăn ở cạnh bờ sông Long Xuyên, dọc mé cầu Hoàng Diệu để vừa lai rai mồi vừa uống chút đỉnh vừa nói chuyện xưa. Sáu cứ nhắc mình : »Dùng đi Mãnh, dùng đi! » (tức là kêu mình ăn mồi đi!!). Đó là lần mình gặp lại bạn Sáu, vì sau đó tuy mình có về Hà Tiên vài lần nhưng cũng ít khi gặp lại mấy người bạn năm xưa. Hiện nay thì bạn Đỗ Văn Sáu cũng vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hủi tên đầy đủ là La Văn Hủi, là bạn học chung các lớp ở bậc Tiểu Học với mình. Nhà của bạn Hủi ở ngay đầu đường Phương Thành và Lam Sơn, hồi nhỏ mình cũng có vài lần tới nhà bạn Hủi chơi. Trong bức hình chụp nguyên lớp Nhứt do thầy Nguyễn Văn Pho dạy, có hình bạn Hủi trong đó. Bạn Hủi ăn mặc thanh lịch, nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng kêu mình bằng tên rất thân mật. Bạn Hủi có người em trai tên La Văn Gồi là bạn học cùng lớp ở bậc Trung Học với em Trần Văn Phi của mình. Mình không hiểu tại sao có nhiều bạn cùng thời ở chung quanh chợ Hà Tiên, cùng học với mình bậc Tiểu Học, nhưng sau đó khi qua bậc Trung Học thì không gặp lại ở trường lớp nữa, một phần các bạn đó không tiếp tục học, một phần thì lại qua bên trường Hoa học theo chương trình tiếng Hoa, một phần nữa chắc theo học trên Sài Gòn. Vì thế sau khi xong bậc Tiểu Học thì mình và Hủi không còn học chung nữa, hình như Hủi lên Sài Gòn tiếp tục học, thỉnh thoảng mỗi dịp Tết thì có về Hà Tiên ăn Tết thì lại gặp nhau. Sau đó Hủi lập gia đình, phu nhân của Hủi là em gái của bạn Trần Bình, ở ngay trước nhà mình. Hiện nay cũng nhờ qua mạng face book, mình cũng đã « gặp » lại bạn La Văn Hủi, hiên bạn định cư cùng với gia đình ở nước Mỹ.

Bên trái: bạn Đỗ Văn Sáu, bên phải: bạn La Văn Hủi

Những bạn quen biết chung quanh chợ Hà Tiên:

Ngoài các bạn mình đã kể trên, có nhiều quan hệ về tính chất bạn bè, mình còn quen biết một số bạn khác, cũng cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, gặp nhau thì quen biết, chào hỏi, thỉnh thoảng cũng có nhóm bạn đi chơi chung nhau thông qua những người bạn chung. Trong số người nầy có anh Nhiều, lúc xưa có tiệm chụp hình Tô Châu trên đường Chi lăng. Ba má anh Nhiều có tiệm bán cà phê ở ngay trong nhà lồng chợ Hà Tiên. Mình cũng có vài kỷ niệm với anh Nhiều, lúc đó, có một người bạn của anh Nhiều ở bên Campuchia  (hay ở Hong Kong mình không nhớ chính xác) qua chơi với anh Nhiều, hình như anh nầy ở bên nhà máy nước đá Triều Quang gần đó. Có nhiều lần anh Nhiều, cùng với anh bạn nầy và mình đi chơi chung, uống cà phê nói chuyện về phim ảnh Hong Kong, và anh đó có kể nhiều về chuyện đi nhảy đầm vì anh nói anh rất mê nhảy đầm. Một kỷ niệm khác với anh Nhiều, khi Hà Tiên làm lễ khánh thành chùa Bà Mã Châu ở phía trên bên trái núi Lăng, ngay ngả ba đường Lam Sơn, một bên phải thì về phía lăng ông Mạc Cửu, một bên trái thì đi ra Mũi Nai, chùa Bà cất ngay gần chùa Giải Thoát. Hai bên cánh của chùa Bà được hia Phón của mình (Thái Văn Bằng) vẽ hình hai vị thần canh gát cửa, đó là hai vị thần có tên là Thần Đồ, Uất Lũy, hia Phón vẽ rất đẹp, rất linh động. Vì lúc đó mình thường hay theo chơi với mấy người bạn gốc Hoa ở chợ nên mình cũng theo cả nhóm lên chùa để tham dự việc khánh thành. Lúc đó anh Nhiều lãnh phần chụp hình, chụp tất cả các hoạt động trong buổi lễ, gồm có đi rước kiệu Bà, bài vị, lư hường từ xóm bên Tô Châu về chùa bên Hà Tiên, rồi làm lễ cúng kiến ngay tại chùa mới nầy. Lúc đó mình tuy còn nhỏ nhưng cũng khoái muốn giựt le nên nói với anh Nhiều là khi nào anh mệt thì đưa máy cho mình « chụp tiếp » cho, tuy nhiên lúc đó mình chưa hề biết chụp hình nhà nghề như thế nào và dĩ nhiên là anh Nhiều đâu có phó thác việc chụp hình phóng sự quan trọng như vậy cho tay trơn như mình được…Hiện nay mình cũng có liên lạc lại được với anh Nhiều qua face book. Anh Nhiều hiện đinh cư ở nước Mỹ.

Anh Nhiều, tiệm chụp hình Tô Châu, đường Chi Lăng, Hà Tiên ngày xưa.

Một vài người quen biết khác cũng ở chung quanh chợ Hà Tiên là anh em của anh Huỳnh Lâm, cháu nội ông Thái Sơn, có tiệm hiệu Thái Sơn ở đường Tham Tướng Sanh cùng dãy với các tiệm Phục Hưng, Hòa Hiệp,…Anh Huỳnh Lâm thì mình chỉ biết nhưng không có chơi chung, có mấy người em của anh, tên Huỳnh Phát (người Hà Tiên kêu là « cá lốc », không biết tại sao), và một người em nữa tên là Huỳnh Lợi (tên thân mật là Sài), Huỳnh Lợi sau nầy đi không quân, có lần mình đi dám cưới anh Trần Văn Dõng (khoảng những năm đầu thập niên 80) cùng với cả nhà lên thành phố cao nguyên Bảo Lộc, khi ra chợ Bảo Lộc thì có gặp Sài tại đây. Sau đó Sài tức Huỳnh Lợi đã mất vì bệnh. Trong nhà còn có một người em trai nhỏ nữa tên là Huỳnh Xuân, thời còn ở Hà Tiên thì mình không biết Xuân vì Xuân lúc đó còn rất nhỏ. Sau nầy khi sang Pháp có một lúc đi làm về trên xe lửa, tình cờ gặp nhóm người Việt nam nói chuyện, mình bắt chuyện làm quen thì không ngờ toàn là nói chuyện ở Hà Tiên, hỏi ra ai cũng biết người nầy người nọ ở chợ Hà Tiên, hóa ra một người trong nhóm đó chính là Huỳnh Xuân, em sau cùng của các anh em cháu nội ông Thái Sơn. Từ đó về sau và ngay cả đến hiện tại, mình vẫn thường liên lạc vói Huỳnh Xuân, vì Xuân cũng ở gần nhà mình ở ngoại ô Paris, nhiều khi cùng đi chùa chung xe, cùng đi ăn nhà hàng và nghe nhạc ở ngoài quận 13 Paris. Lúc còn đi làm thỉnh thoảng tình cờ mình và Xuân gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa, lần nào cũng nói chuyện về Hà Tiên không bao giờ cạn nguồn, cho tới khi đến trạm cả hai đều cùng ra khỏi xe ai về nhà nấy, mình rất thích những lần gặp Xuân trên đường về nhà như vậy vì được nói chuyện về Hà Tiên rất vui.

Trần Văn Mãnh và Huỳnh Xuân (em của anh Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, cháu nội ông Thái Sơn ở Hà Tiên), đi chùa nhân lúc Lễ Phật Đản tháng 05/2011 tại ngoại ô Paris.

Có hai anh em người quen cũng trạc độ tuổi như mình, nhà ở trên đường Lam Sơn, gần nhà tiệm bánh mì Tân Thái, người anh tên là Quý, người em tên Chiêu, mình cũng quen biết và thường hay chào hỏi nói chuyện vui chơi. Nhớ ở Hà Tiên hay có tập tục là dù có đi đâu rời xa Hà Tiên nhưng khi gần Tết thì phải về Hà Tiên ăn Tết. Vì thế, có mấy lúc vào dịp gần Tết thì các bạn bè ở Hà Tiên thường hay trông ngóng các bạn năm xưa đã rời Hà Tiên lên Sài Gòn học, trở về nhà ăn Tết, mình cũng còn nhớ có lúc thì bạn bè phóng tin cho nhau hay, « Quý mới về hôm qua »,….Sau nầy nghe tin là hai anh em Quý và Chiêu cũng đã mất cả rồi… Nếu bạn nào còn nhớ và biết được tên họ đầy đủ của hai anh em Quý và Chiêu thì xin thông tin cho mình biết để bổ túc nhé.

Mình cũng nhắc lại ở đây ba anh em nhà ở phía bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá, đường Trần Hầu, kế bên khách sạn Tô Châu ngày xưa. Đó là ba anh em tên Toản, Túc và Tiêu. Mình không biết tên họ đầy đủ của mấy anh em nầy, chỉ biết hồi xưa lúc thường đi ra Đài Kỷ Niệm tụ họp ở các băng đá và nói chuyện chơi, thường có các bạn Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm), anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt, ..v..v..thì có hai bạn Toản và Túc đến chơi. Ngày xưa mình có người bạn ở ngoài Hòn vào Hà Tiên học, ở trọ nhà của các anh em Toản, Túc và Tiêu, đó là bạn Trần Văn Yến, khi mình đến nhà chơi với Yến thì thường gặp ba anh em nầy, em trai nhỏ là Tiêu rất lịch sự, thường chào hỏi các bạn của mấy anh lớn và nói chuyện rất đàng hoàng. Ba anh em nhà nầy là con của một gia đình mà người cha tên là Mã Chính Yên (tên mình chỉ nghe phát âm nên có thể viết không chính xác), còn người mẹ trong nhà thì có bệnh về tâm thần, tuy nhiên chỉ ngồi yên một chỗ và thường thì chỉ nhìn mọi người chung quanh và hơi mỉm cười mà thôi chứ bà không có khó khăn gì cả. Thường lúc mình đến nhà, ra tận nhà sau, có gặp bà thì mình cuối đầu chào bà, trong bụng mình cũng hơi sợ nhưng không có việc gì cả.  Toản là anh lớn, đeo kính cận, người có vẻ thông minh, trí thức và cũng cư xử rất đàng hoàng. Túc là em trai giữa, Túc hơi có da ngâm nhưng cũng rất đẹp trai, mặt thon, còn người em sau tên là Tiêu như đã nói, chỉ là em út không có giao thiệp với các bạn của anh trai mình, tuy nhiên Tiêu chào hỏi các bạn của anh mình rất lịch sự.

Theo tin tức của bạn bè cho hay thì lúc đi vượt biển với người vợ là Nguyễn Kim Tuyến (Kim Tuyến là người Việt kiều từ Campuchia về Hà Tiên định cư và theo học tại trường Trung Học Hà Tiên, và cũng là bạn học của nhóm bạn mình Lê Phước Dương), hai vợ chồng bạn Túc và Kim Tuyến đều bị tai nạn và đã mất tích. Toản còn ở Việt Nam sinh sống, Tiêu thì hồi xưa qua Mỹ định cư, nhưng sau nầy cũng thường về Việt Nam ở dài hạn.

Tác giả xin cám ơn tất cả các bạn học, các bạn quen biết và các em con cháu của những bạn đã được nhắc nhở tên trong bài viết nầy về sự đóng góp thông tin, chi tiết tên họ và các sự kiện. Ngoài ra cũng xin mạn phép trích đăng hình một số bạn trên đây, xin quý vị thứ lỗi và thông cảm nhé. Chắc chắn là mình còn quen biết với một số bạn nữa cũng ở ngay tại khu chợ Hà Tiên, nhưng tạm thời không thể nhớ ra hết, vậy nếu các bạn quen biết nào còn nhớ mình mà mình chưa kể tên và nhắc kỷ niệm xưa ra đây thì cho mình xin lỗi nhé, khi nào có thông tin thêm thì sẽ bổ túc vào bài.

Paris, viết xong ngày 13/05/2020, Patrice Tran (Trần Văn Mãnh)

 

Thach Động Hà Tiên và những câu chuyện thực hư

A/ Vị trí và hình thể Thạch Đông Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến địa danh, thắng cảnh Thạch Động thì không còn gì xa lạ đối với người Hà Tiên chúng ta, chẳng những thế mà đa số du khách các nơi khác cũng đều nghe tiếng về Thạch Động nên mỗi lần có các đoàn du khách đến tham quan Hà Tiên, đều có mục thăm viếng Thạch Động.

Ngày xưa trước khi Pháp chiếm Hà Tiên (1867) vùng Thạch Động và Đá Dựng thuộc hai thôn Sa Kỳ và Nhượng Lộ, sau đó Pháp nhập hai thôn lại lập thành làng tên là Làng Kỳ Lộ. Trong những năm 60-70, Thạch Động thuộc xã Lộc Kỳ. Đến sau 1975, Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, ngày nay Thạch Động là một địa điểm du lịch thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên. Từ trung tâm chợ Hà Tiên, theo quốc lộ 80 đi thẳng về phía cửa khẩu Xà Xía về hướng bắc hoặc từ con đường Phương Thành đi tiếp tục ra biên giới Hà Tiên – Campuchia, khoảng được 3 hoặc gần 4 cây số, trên đường nhìn về bên tay phải ta sẽ thấy Thạch Động sừng sửng hiện ra, cứ trơ gan cùng tuế nguyệt có hơn bao nhiêu triệu năm về trước.

Về mặt hình thể, Thạch Động là một khối đá vôi rất to lớn dựng đứng như một ngọn tháp, chiều cao so với mực nước biển là khoảng 93 m và có đường kính ở phần dưới chân khoảng 45 m. Từ xa Thạch Động được bao phủ bởi một phần đá vôi màu trắng bạc, và một phần có rất nhiều cây xanh tô điểm nên nhìn giống như một chiếc mũ lông của những kỵ binh người Anh, do đó người Pháp, trên các bưu ảnh chụp về Thạch Động, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ 20 đã đặt tên Thạch Động trong bưu ảnh là « Bonnet à poils ». Cửa chánh để vào Thạch Động ở hướng đông, nhìn về phía thành phố Hà Tiên và có độ cao khoảng 50 m.

Về phương diện địa chất học, các nhà địa chất học xác định khối đá vôi Thạch Động được thành hình trong kỷ Permi (tức thời kỳ tầng địa chất kéo dài từ khoảng 298 đến 252 triệu năm về trước). Đá vôi của Thạch Động có nguồn gốc trầm tích hóa học  chứ không phải do trầm tích sinh vật học. Người ta còn tìm thấy cùng loại đá vôi của Thạch Động ở vùng ven biển Kiên Lương, ở phía tây nam Campuchia và ở phía nam Thái Lan. Nếu ta phân biệt ý nghĩa của các từ tiếng Pháp: Tunnel: loại hầm, kéo dài theo một con đường (đường hầm); Cave: hang, động (hang sâu như một căn phòng) thì Thạch Động thuộc dạng hang động (Cave).

Thạch Động có hai cửa chánh: cửa vào chánh ở phía đông, nhìn về thành phố Hà Tiên, tai đây có xây bậc thang bằng gạch đá từ dưới đất liền lên đến cửa hang, ngay cửa vào ngôi chùa tọa lạc bên trong Thạch Động. Một cửa khác ở phía tây, tại đây người ta có thể nhìn ra được quang cảnh đồng lúa và núi non của phường Mỹ Đức. Ngoài ra còn có hai cửa theo hướng đông bắc và tây nam, ra đứng tại các cửa nầy, người ta được tận hưởng những cơn gió mát thổi lồng lộng, được nhìn ra một không gian trống khoáng, cả vùng trời biên giới có biển xanh, núi non, đảo nhỏ xa xa và một bầu không khí tỉnh lặng tạo cho ta một cảm giác rất thú vị…

Vị trí Thạch Động : Thạch Động ở về phía bắc thành phố Hà Tiên, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 3 hoặc 4 cây số.

Hình thể bên ngoài và các cửa ra vào Thạch Động (Nguồn: Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo)

B/ Hình thể bên trong Thạch Động:

Vào bên trong Thạch Động theo cửa chánh hướng đông, trước hết ta sẽ thấy ngôi chùa tọa lạc bên trong phần có thể tích rộng lớn, đó là chùa Tiên Sơn (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp). Nếu du khách tiếp tục đi vào các ngỏ ngách theo các hướng khác nhau, lần lượt sẽ thấy có một lối trống rất cao và thông lên đến trên đỉnh Thạch Động, từ dưới ta có thể nhìn thấy như là một lối thoát lên trời vì nhìn thấy cả những đám mây xanh, người ta đặt tên là « đường lên trời ». Rồi đến xem một hang nhỏ khác ăn sâu vào lòng núi, nhìn vào chỉ thấy màu đen thẩm như hang không đáy, đó là « đường xuống địa ngục ». Ngày xưa tục truyền hang đó ăn thông ra đến tận biển ở Mũi Nai, vì người ta có thả một trái dừa khắc làm dấu và sau nầy tìm vớt lại được trái dừa nầy ở ngoải bờ biển…Từ những năm 1960 vì sự nguy hiểm của cái hang nầy, người ta đã lấp kín hang lại, chỉ còn xây bờ chung quanh để làm dấu cho khách tò mò đến xem. Ngoài ra trong vách đá bên trong Thạch Động còn có rất nhiều thạch nhũ, đặc biệt là có một khối thạch nhũ nhìn thấy từ bên ngoài có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái. Chung quanh đó còn có nhiều dây leo rừng to lớn thòng xuống, tuy nhiên vì tính hiếu kỳ và thiếu kỷ lưởng của du khách các sợi dây to lớn nầy đã bị lôi kéo và bị đứt mất dần dần. Bên trong vách đá còn có các vết xâm mòn do nước đọng chảy quanh năm tạo ra các hình dáng giống như một người con gái, hay hình Phật…

Tất cả những hình thù do các khối đá thiên nhiên và do tác động của nước mưa bào mòn vách đá tạo nên như vậy đã cung cấp nguồn cảm hứng cho dân gian bao nhiều đời đã qua, kết tạo lại nhiều truyền tích, huyền thoại. Mỗi hình thù vách đá, mỗi cọng dây leo, …được gắn liền với một hành động và một giai đoạn của một câu chuyện huyền thoại có tên « Thạch Sanh và Lý Thông ». Đây là một câu chuyện được truyền đi trong dân gian và có tác giả cho là có nguồn gốc ở quận Cao Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi đông bắc Việt Nam (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp).

C/ Ngôi chùa « Tiên Sơn Tự » trong Thạch Động:

Hiện nay muốn tim hiểu về nguồn gốc ngôi chùa có tên « Tiên Sơn Tự » bên trong Thạch Động cũng rất khó khăn vì còn thiếu thông tin chính xác.

            C1/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ nhất:

Theo sách Đại Nam nhất thống chí đoạn nói về tỉnh Hà Tiên, mục Tự quán có chép rằng:  Chùa Bạch Vân (Bạch Vân Tự hay Bạch Vân Am) ở núi Thạch Động (tức núi Vân Sơn) ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Châu, nguyên do phú hộ Minh Hương là Đoàn Tân lập ra.  Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Tuần phủ Phan Tông trùng tu…”.

Có nguồn cho rằng từ năm 1790, có vị hoà thượng tên Minh Đường (người Trung Quốc) đã tìm đến hang Thạch Động và ở lại đây để tu hành, hòa thượng đặt tên cho cái am nơi tu là Bạch Vân Am, sau đó vị nầy giao am tu lại cho đồ đệ là Bạch Vân cư sĩ và dời ra lập chùa Địa Tạng ở một ngọn núi cách đó khoảng 800m về phía đông nam, từ đó núi lấy theo tên chùa trở thành núi Địa Tạng.

Cuối thế kỷ thứ 19, có một nhóm người Minh Hương đến trùng tu am xưa và thỉnh hai nhà sư tới trụ trì ngôi chùa. Vị thứ nhất là hòa thượng Thích Chánh Quả (chưa biết tên đúng hay sai) ) tục danh là Lê Thế Diên (có sách viết Duyên), quê ở Phú Yên, thuộc dòng tu Lâm Tế đời thứ 39. Hòa thượng cho đúc tượng Phật và Bồ Tát và đổi tên chùa là Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi.  Vị thứ hai là hòa thượng Thích Thiện Sĩ thế danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40. Ngài tổ chức trùng tu và mở rộng ngôi chùa và đặt tên mới là Tiên Sơn Tự, tên còn giữ cho đến ngày nay. Ngài từ trần ngày 02 tháng 09  năm Ất Dậu (1945), thọ 75 tuổi.  Sau đó có người đệ tử của sư tên là Cam Thị Nam (thường gọi là cô Hai Nàm) kế thừa trụ trì ngôi chùa. Về câu chuyện của cô Hai Nàm có nhiều nguồn do người dân kể lại:

     C1a/- Nguồn thứ nhất kể lại rằng vào ngày 29 tháng 04 năm 1948 quân lính Pháp bắt gặp trong chùa ở Thạch Động có lương thực và cán bộ Việt Minh đến hội họp nên bắt giải giam tất cả bốn người đang hiện diện trong đó có cô Hai Nàm về đồn ở Hà Tiên. sau đó lính Pháp hành hình giết bà và các cán bộ tại cầu tàu chợ Hà Tiên vì kết tội bà là người nằm vùng nuôi dấu cán bộ.

     C1b/- Cũng có nguồn tin thứ hai kể lại rằng ngày hôm đó trong chùa ở Thạch Động có lễ cúng kiến nên có dự trữ thức ăn và có nhiều người tham dự, lính Pháp đi lùng bố càn quét cán bộ Việt Minh vì trước đó có xảy ra vụ vị sĩ quan Pháp bị phục kích giết chết trong vùng Thạch Động, nên cả nhóm người hôm đó đều bị bắt và bắt oan luôn cả cô Hai Nàm. Rốt cuộc cô Hai Nàm bị giết oan ức.

Đó là hai nguồn thông tin về chuyện cô Hai Nàm ở Thạch Động, hiện nay chưa có độ chính xác về câu chuyện nầy,  cần được kiểm chứng và đưa ra tư liệu chính xác.

Từ biến cố đó, ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động bị bỏ hoang gần 4 năm liền không ai tới lui chăm sóc.

Đến năm 1952 có vị Phật Tử Hồng Phúc, người Hà Tiên, thế danh Trình Kim Huê (theo thiển ý, đây có thể là ba của thầy giáo Trình Kim Chung dạy tại trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa), đệ tử của hòa thượng Thiện Sĩ, ngài Hồng Phúc đến trông coi chùa và tu ở đó. Được 7 năm trời, hình dáng ông lúc đó có để bộ râu bạc trắng trông rất đẹp, giống như một vị tiên ông, sau thời gian đó ông trở về cuộc sống bình thường tại nhà riêng ở Hà Tiên và qua đời vào năm 1968. Người Hà Tiên ai ai cũng biết và nhớ đến hình ảnh của ông được đăng trong tờ tạp chí « Thế Giới Tự Do » do Chi Thông Tin Hà Tiên thường phát cho dân chúng đọc, Trong tờ tạp chí nầy do có bài giới thiệu vè thắng cảnh Thạch Động Hà Tiên nên có đăng hình Thạch Động và vị trụ trì là phật tử Hồng Phúc.

Trong những năm 70, Thạch Động nói riêng cũng như với ngọn núi Đá Dựng nói chung về tình hình các thắng cảnh vùng biên giới, hai địa điểm nầy đã trở thành căn cứ quân sự trọng yếu nên đều có quân đội Địa Phương Quân VNCH trấn đóng. Trong thời gian nầy, người dân không được lui tới thăm viếng thắng cảnh như thời trước được. Ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động có lẽ bị bỏ hoang không sư trụ trì và nhang khói trong thời gian nầy.

Sau năm 1975, tình hình còn biến động vì chiến tranh biên giới cho đến năm 1979, có người Phật Tử Thiện Thành, thế danh Tiết Văn Lương, người gốc Mỹ Đức, Hà Tiên, tình nguyện đến trông coi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động.  Đến năm 1989, phật tử Thiện Thành cùng với phật tử địa phương cung thỉnh đại đức Thích Minh Luận, thế danh Giang Văn Khép, về trụ trì chùa Tiên Sơn trong Thạch Động. Đại đức Minh Luận bắt đầu cho trùng tu ngôi chùa, xây dựng lan can và các bậc tam cấp, an vị tượng đức Bổn Sư trong chánh điện. Đến ngày 09 tháng 06 năm 1990 phật tử Thiện Thành lâm bệnh và qua đời. Năm 1991 đại đức Minh Luận tiếp tục trùng tu ngôi chùa, thiết lập tượng đài Quan Âm trước của chùa, năm 1995 lát gạch toàn bộ khu chánh điện, trồng thêm cây xanh chung quanh khuôn viên chùa. Năm 1997 ngài cho khởi công xây dựng tăng xá để chư tăng các nơi xa đến có chỗ an nghỉ. Trong tương lai sẽ cho trùng tu thêm giảng đường, tổ đường và nhà từ thiện. Toàn bộ khu Thạch Động với ngôi chùa xưa Tiên Sơn Tự trở thành một nơi du ngoạn cho khách du lịch đến thăm, người người ra vào đông đúc, tuy quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp nhưng đã mất phần uy nghiêm, thơ mộng và cổ kính trầm mặc của một không gian yên tỉnh ngày xưa.

            C2/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ hai:

Có một nguồn thông tin khác về gốc gác của ngôi chùa Tiên Sơn Tự như sau: Thời ông Mạc Thiên Tích trấn nhậm vùng Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp hiệu Huỳnh Phong chân nhân từ Thanh Hóa vào Hà Tiên tìm nơi tu luyện và ông cũng là một thành viên trong thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Đạo sĩ thấy hang động ở Thạch Động thích hợp nên ẩn tu tại đó. Sau một thời gian, ngài đổi pháp hiệu thành Huỳnh Phong (hay Hoàng Long ?) hòa thượng, đến năm 1785 ngài viên tịch, thọ 108 tuổi, nhục thân ngài được nhập tháp do đề đốc trấn nhậm Bác Giác Sơn tên là Đỗ Như Liêm cùng các tín đồ xây dựng. (Bác Giác Sơn tức núi Phù Dung thời ông Mạc Thiên Tich, sau nầy tại ngọn núi nầy cũng có ngôi mộ của ông đề lại Đỗ Như Liêm nói trên nên núi được mang tên là Đề Liêm). Tuy nhiên nguồn thông tin nầy có thể sai trái vì ông đề lại Đỗ Như Liêm mất khoảng 1860 – 1870 tức là lúc năm 1785 khi Hoàng Long hòa thượng viên tịch thì ông đề lại Đỗ Như Liêm còn rất nhỏ, thậm chí chưa sanh ra.   Một điểm khác làm sai lệch nguồn thông tin trên là theo như các điều ghi chép trong hai quyển Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên thì thời ông Mạc Thiên Tích có vị sư tên Hoàng Long (hay Huỳnh Phong) hòa thượng người gốc Qui Nhơn Bình Định, vào tu ở Bạch Tháp Sơn (tức là núi Đá Dựng) và khi ông viên tịch đồ đệ lập tháp bảy cấp để giữ xá lợi, tuy nhiên tài liệu nầy không nói rỏ ngọn tháp của Hoàng Long hòa thượng nằm chính xác ở đâu và nếu ở trong vùng núi Đá Dựng thì ngày nay ngọn tháp đó có còn được bảo tồn hay không? Như vậy theo hai quyển sách xưa thì Hoàng Long hòa thượng không có lập chùa trong Thạch Động mà tu ở bên núi Đá Dựng.

Nói tóm lại về nguồn gốc ngôi chùa Tiên Sơn Tự trong Thạch Động, thông tin còn rất mơ hồ chưa có những điểm chính xác về năm thành lập và người tạo ra ngôi chùa. Tuy nhiên ta có thể xem như ngôi chùa đã có dưới dạng một cái am nhỏ bằng gỗ từ trước năm 1790, sau đó có nhóm người dân Minh Hương đến trùng tu và thỉnh thầy về trụ trì, quá trình trụ trì chùa có thể xem vào nguồn thông tin thứ nhất nói trên.

D/ Truyền thuyết « Thạch Sanh – Lý Thông » có liên quan đến Thạch Động:

Theo sách « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, ấn bản 1957, có kể câu chuyện như sau:

“Thời rất xưa, ở quận Cao Bình. Hai vợ chồng già, nghèo, lòng tốt, nhưng không con. Ngọc Hoàng sai thái tử đầu thai làm con nhà họ Thạch. Bà cụ có thai, lâu cả mấy năm đến khi ông cụ Thạch bệnh, chết. Thạch Bà sinh con trai. Cụ bà chết. Cậu bé dựng lều sống dưới gốc đa, được dân gọi là Thạch Sanh. Cậu chỉ có một lưỡi búa. Ngọc Hoàng sai tướng trời xuống dạy cậu võ, và phép thần.

Có người bán rượu, tên Lý Thông, thấy Thạch Sanh có sức khỏe, nên kết thân. Trong vùng có con chằn tinh, thường ăn thịt người. Quan quân trừ không nổi, nên dựng miếu, mỗi năm cúng một mạng người. Năm ấy, tới phiên Lý Thông nạp mạng. Lý lừa gạt Thạch, nhờ thay Lý đi canh miếu thay một đêm rồi sáng hôm sau về. Nửa đêm, chằn tinh hiện ra, Thạch Sanh rút búa xả đôi chằn tinh, mới thấy là con trăn. Thạch Sanh cắt đầu trăn và cầm cung tên vàng của chằn về.

Khi Thạch Sanh về, kể lại, Lý Thông nói, rằng trăn đó là của vua nuôi, rằng Thạch Sanh hãy trốn đi. Lý Thông đem đầu chằn nạp cho vua. Vua khen, phong chức tước cho Lý Thông. Trong triều có công chúa, chưa ưng ai. Vua tổ chức hội tuyển phu, cho hoàng tử các nước và trai tráng trong dân tới chờ quả cầu do công chúa ném từ lầu cao xuống. Khi cô sắp ném cầu, Đại bàng bay ngang, sà xuống cắp công chúa bay về núi. Thạch Sanh đang ở gốc đa, ngó lên mây, thấy, mới rút cung tên, bắn trúng cánh Đại bàng. Thạch Sanh dò theo vết máu, biết cửa hang Đại bàng.

Vua sai đô đốc Lý Thông đi tìm, hứa gả công chúa và truyền ngôi. Lý Thông nghĩ chỉ có Thạch Sanh mới cứu được công chúa. Khi gặp Thạch Sanh, Lý Thông nhờ dẫn đường tới cửa hang Đại bàng. Hang sâu không ai dám xuống. Thạch Sanh tự nguyện buộc dây ở lưng rồi xuống hang. Đại bàng đang dưỡng thương. Thạch Sanh đưa thuốc mê để cho Đại bàng uống. Khi Đại bàng ngủ say, Thạch lấy dây buộc công chúa, hiệu cho quân Lý Thông kéo lên. Cứu công chúa xong, Lý Thông lấy đá lấp hang. Dưới hang, Thạch Sanh giết chết Đại bàng, cứu một thanh niên ra khõi cũi sắt, mới biết đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị Đại bàng bắt về hơn cả năm. Thái tử mời Thạch Sanh xuống Thủy phủ chơi. Vua Thủy phủ gặp con, vui mừng, xin đền ơn. Thạch Sanh từ chối, chỉ xin một cây đàn, rồi về lại gốc đa.

Hồn của chằn tinh và Đại bàng sau khi chết, đói vì không được ai cúng tế, tình cờ gặp nhau, bèn lẻn vào kho vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ. Lính theo dấu tìm, đến gốc đa thì gặp tang vật, bắt Thạch Sanh về giam. Công chúa về triều, tự nhiên bị câm, buồn hoài, nên vua hoãn hôn lễ với Lý Thông. Thấy quân bắt Thạch Sanh về, Lý Thông mới tính xử tử Thạch Sanh. Trong tù, Thạch Sanh buồn, lấy đàn của vua Thủy ra chơi, không ngờ đàn thần vẳng tiếng như than, như oán, vạch tội Lý Thông. Công chúa nghe tiếng đàn, vui mừng, cười nói, xin vua mời người đàn vào cung. Thạch Sanh kể cho vua nghe mọi chuyện. Vua sai bắt hai mẹ con Lý Thông, giao Thạch Sanh xét xử. Thạch Sanh tha, cho hai mẹ con Lý Thông về quê. Nửa đường, hai mẹ con bị sét đánh chết. Vua làm lễ cưới công chúa cho Thạch Sanh. Hoàng tử các nước bị từ hôn nổi giận, tụ họp lính 18 quốc gia tới hỏi tội vua. Thạch Sanh lấy đàn thần ra khảy, lính 18 nước buông vũ khí. Thạch Sanh sai dọn cơm cho lính các nước ăn no để về. Niêu cơm nhỏ, nhưng ăn hoài lại có cơm  ra hoài. Vua không con trai, nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.” (Hết tóm lược)

Liên quan giữa câu chuyện « Thạch Sanh-Lý Thông » và Thạch Động: Vì phía đông của bên trong Thạch Động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là « đường lên trời ». Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Còn về cái hang thông sâu thẩm không thấy đáy hang thì truyền thuyết cũng cho rằng đó là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được lắp kín lại để đảm bảo an toàn cho du khách như đã nói ở phần trên. Ngoài ra từ bên ngoài Thạch Đông, người ta còn thấy một khối thạch nhũ có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái, truyền thuyết cho rằng đó là hình con đại bàng đang quặp công chúa Quỳnh Nga về Thạch Động.

Nói tóm lại, tuy rằng câu chuyện thuộc về truyện cổ tích dân gian và theo giáo sư Nguyễn Đổng Chi, chuyện xảy ra ở Cao Bình là xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện ở nơi đó còn có một cái hang được cho là nơi Thạch Sanh đã chém chằng tinh và còn có nhiều đền thờ Thạch Sanh trong thôn làng cùng với một số phong tục văn hoá gắn liền với tích chuyện Thạch Sanh không có liên quan gì với cái hang Thạch Động ở Hà Tiên, tuy nhiên vì trong hang Thạch Động có nhiều hình thù và dạng hang đá phù hợp với câu chuyện được kể ra trong dân gian, thêm nữa tên họ Thạch Sanh trùng với họ Thạch là họ thông thường của người Việt Nam gốc Campuchia nên người ta vẫn tiếp tục gắn liền huyền thoại Thạch Sanh-Lý Thông với thắng cảnh Thạch Động, ta nên xem đó là chút thi vị được thêu dệt cho cái hay và cái đẹp của một thắng cảnh có tên tuổi như Thạch Động, tuy không phải là sự thật nhưng cũng không gây ra điều tai hại hoặc hiểu lầm làm méo mó lịch sử, mọi nơi, mọi dân tộc đều có những câu chuyện huyền thoại như vậy để được truyền tụng lâu đời trong dân gian.

E/ Câu chuyện lên núi Thạch Động cầu tiên của ông Ngô Văn Chiêu:

Theo quyển sách  » Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926″ (Nxb Thuận hóa, 1996) do Huệ Khải (Dũ Lan Lê Anh Dũng) viết, có đoạn nói về cuộc đời của ông Ngô Văn Chiêu đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu (1878-1932), ông là người sáng tạo và là môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài. Ông Ngô Văn Chiêu tuy xuất thân từ một gia đình thanh bạch, không giàu có nhưng ông là người có học cao, đỗ đạt thời Pháp và được bổ nhiệm làm công chức tại nhiều nơi ở miền nam. Khi thân mẫu ông mất, xong tuần bá nhật (100 ngày), vào ngày thứ hai 01/03/1920 (nhầm ngày 11 tháng giêng năm Canh Thân), ông đổi ra tỉnh Hà Tiên làm việc. Tại đây ông kết giao với nhiều bậc thân sĩ địa phương và thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vế thơ, ngụ ý khuyên ông đi tu:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Đêm Trung thu năm Canh Thân (chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:

Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.

Theo tác giả  Lê Anh Dũng, thì bài thơ trên có kể ra các tên của những vị thân hữu với ông Ngô Văn Chiêu, trong câu thứ hai có tên Quan, không biết là ai. Còn hai ông Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Đức tức là ông Lâm Tấn Đức (1866-1934), tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của ông Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).

Sau đó đến ngày 26-10-1920 (nhằm ngày rằm tháng chín năm Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 m.

Về câu chuyện ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Thạch Động Hà Tiên cầu cơ tiên trong năm 1920 với quý ông Lâm Tấn Đức, Diêu, Sự,…thì đó là một sự kiện trong tiểu sử cuộc đời ngài do tác giả Lê Anh Dũng kể lại, tuy nhiên là người Hà Tiên, chúng ta lại ít nghe nói về sự kiện nầy, mong các bậc cao niên và học giả góp ý thông tin thêm để làm sáng tỏ các chi tiết nầy, vì có liên quan đến thắng cảnh Thạch Động của chúng ta.

F/ Câu chuyện về cái đầu lâu trong hốc đá trên Thạch Động:

Trong sách « Truyện tích Việt Nam » do Lê Hương sưu tầm xuất bản năm 1970 có kể lại một câu chuyện liên quan đến Thạch Động như sau:

« Vào cuối năm 1945 khi Pháp tái chiếm miền nam, trong khi lục soát hang Thạch Động ở Hà Tiên thì tìm thấy được một đầu lâu gói trong một mảnh vải trắng nhét trong một hốc đá phía dưới hình tượng bà Quan Âm nổi trên vách. Người Pháp cho rằng đó là cái đầu sọ của một người lính Nhật tạm dấu trong đó chờ ngày đem về nước vì đầu được gói trong miếng vải sang trọng không phải của dân thường thời đó.

Truy tìm ra nguyên nhân thì có nguồn gốc như sau: Khi Nhật chiếm Đông Dương, có một chàng trung sĩ quân đội Thiên Hoàng yêu một cô thôn nữ người Việt nhà ở cạnh quốc lộ 17 (tên đường xưa đi đến Thạch Động). Cô gái tuy quê mùa nhưng cũng rất xinh đẹp nên chàng trai xứ Phù Tang say mê và nhờ viên thông ngôn người Việt đưa chàng đến nhà cô gái để bày tỏ lòng mong muốn của mình với cha mẹ cô gái. Hai bên cũng đã đồng lòng và chuẩn bị ngày cưới hỏi. Tuy nhiên tai họa lại xảy đến khi viên đại úy cấp trên của chàng trung sĩ thấy cô gái liền sanh tâm quyết cướp đoạt cho bằng được. Nghe hung tin như vậy, chàng trung sĩ nổi máu anh hùng võ sĩ đạo, quyết bảo vệ người yêu của mình nên chàng vào ngay văn phòng viên đại úy để thách thức đấu kiếm, phân định hơn thua để người đẹp sẽ thuộc về bên chiến thắng. Viên đại úy nhận lời và hai bên hẹn gặp nhau trên mảnh sân sát bên chân núi Thạch Động vào một đêm trăng sáng. Mỗi bên có một người bạn làm nhân chứng đi theo, theo thủ tục dân Phù Tang. Ngoài ra còn có một khán giả duy nhất đó chính là cô gái trong câu chuyện, vì nghe tin người yêu báo nên cô gái cũng đi đến, lén núp vào kẹt đá để theo dỏi trận đấu. Nàng thầm van vái các vị thần linh xui khiến cho viên đại úy đổi ý bỏ trận đấu để tránh thảm họa cho đôi bên và nàng cũng sợ rằng người yêu không đủ tài năng để chiến thắng. Nàng thầm nguyện nếu có gì thì thà chết chớ không thất ước với người yêu. 

Thế rôi sự thật phải đến, hai lưởi gươm dài sáng chói đã chạm vào nhau dưới ánh trăng bật thành những tiếng động rợn người kèm theo tiếng quát tháo làm cho nàng khiếp sợ run lên. Sau hơn nửa giờ thi thố tài nghệ, chàng trung sĩ bị viên đại úy đánh văng kiếm, kẻ thắng trận cười ngạo nghễ, tra kiếm vào vỏ và gọi người nhân chứng ra xe về chợ Hà Tiên, thình lình thấy bóng cô gái trong kẹt đá đứng nhô ra xem người yêu mình có bị giết không…Viên đại úy cười to và tiến tới dang tay như đón mời người đẹp, cô gái hoảng sợ vụt ù té chạy xuống chân núi và biến mất trong bóng tối. Viên sĩ quan không đuổi theo, lái xe về chợ Hà Tiên.

Chàng trung sĩ thua trận không thể sống chịu nhục và nhìn người yêu qua tay người khác, anh nhờ người bạn giúp mình để anh tự xử sự theo lối anh hùng võ sĩ đạo (harakiri). Trước đó chàng thảo hai bức thư, một gởi về cho cha mẹ và một gởi cho người yêu rồi dùng dao ngắn tự rạch bụng. Người bạn đứng sau lưng đưa gươm chém chàng đứt đầu, dùng vải trắng gói đầu lại và đem vào hang trong hốc đá trên Thạch Động dấu rồi chở thân mình về đơn vị làm lễ mai táng.

Cô gái không hề biết thảm trạng nầy vì trong đêm đó cô cùng bà mẹ vượt biên giới qua đất Miên lánh nạn vì cô không muốn làm vợ viên đại úy. Khi ông đại úy hay liên tiếp hai tin buồn: viên trung sĩ tự tử và cô gái đã bỏ xứ đi vì ý muốn không tốt đẹp của mình, ông rất hối hận nên cho tổ chức lễ hỏa thiêu xác của viên trung sĩ trước đội quân và hứa sẽ tự tay mang đầu người quá cố về nước Nhật sau nầy khi thắng trận. Sau đó vì đau buồn ông xin thuyên chuyển đi tỉnh khác để cố quên câu chuyện đó.

Vài thắng sau, Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc, quân Pháp trở lại chiếm đóng miền nam nước Việt. Bên địa phận Cao Miên, Việt kiều gặp phải nạn « cáp duồn » và cướp bóc vì người Miên kỳ thị, cô thôn nữ theo một số kiều bào trở về hồi cư ở Hà Tiên. Nghe tin bà con trong xóm kể lại cái chết của chàng trung sĩ Nhật, cô gái rất đau đớn. Nàng đem vàng hương, hoa quả đến mảnh sân cạnh Thạch Động cúng kiến và khóc than cho người xấu số vì không biết chàng Nhật có được ngôi mộ ở đâu không, từ đó nàng thường đến nơi đấu kiếm ngày trước để trút nỗi nhớ niềm thương ».

Câu chuyện đầu lâu trong hang đá ở Thạch Động nầy ngày xưa khi còn đi học mình cũng có nghe người ta kể lại, người ta còn chỉ cho mình thấy cái hốc đá bên trong vách của Thạch Động, nơi có để cái đầu trong đó. Không biết câu chuyện tình đẩm lệ nầy có thật hay không, tuy nhiên câu chuyện không thuộc loại huyền thoại như kiểu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông. Câu chuyện nầy có phần thực tế theo hoàn cảnh lịch sử thời Nhật và Pháp chiếm miền nam Việt Nam, nhưng các tình tiết trong câu chuyện thì không ai xác định được độ chính xác.

G/ Thạch Động trong thơ văn và điện ảnh:

Nói đến thắng cảnh Thạch Động ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nhớ đến cái tựa bài thơ vịnh 10 thắng cảnh đẹp của Hà Tiên, đó là tựa « Thạch Động thôn vân », bài thơ lúc ra đời viết bàng chữ Hán trong tập thơ « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích được khắc bản in vào năm 1737 sau khi thành lập tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, sau đó có tập thơ chữ nôm cũng của Mạc Thiên Tích viết ra là tập « Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh » và tập thơ này chưa được khắc in. Bản hiện nay do thi sĩ Đông Hồ sưu tập được.

« Thạch Động thôn vân » là động đá nuốt mây, từ xa ta thấy những áng mây trôi nhẹ nhàng trên miệng hang Thạch Động rồi từ từ có đám mây khuất vào trong miệng hang, người ngoạn cảnh có cảm tưởng như chính hang động đã nuốt mây. Xin chép lại bài thơ ở đây để mọi người thưởng thức:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại;
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giới;
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ỷ, la.

Khi viết tập « Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên », tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, phần bàn về Thạch Động, nhà thơ Đông Hồ đã có viết cảm nghĩ riêng về việc thắng cảnh Thạch Động. Đai khái là ông rất chống đối việc xây cất ngôi chùa kiên cố bên trong hang Thạch Động, ông viết: « Không như ở đây, chỉ riêng có một ngọn núi, cũng là loại đá xanh mà trong bụng núi thì rộng thênh thang, lại có hai cửa thông, đủ cho bóng trời soi sáng, y như một cảnh cung thẩt. Ở đây, như chúng ta thấy hiện nay, phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên. Ngôi chùa ngay giữa động, chùa gỗ lợp ngói, đã làm cho cảnh Thạch Động mất đẹp đi nhiều. Nếu không có ngôi chùa đó, thì chúng ta sẽ được nhìn thấy một cảnh động đá thênh thang, rộng rãi, chung quanh vách đá uốn nét, giữa có khoảng thông thiên, nhật quang tỏa khắp lên các thạch nhũ, đẹp biết mấy ».

Nhà thơ Đông Hồ còn nói rỏ thêm về việc sơn màu vôi trắng tô đắp vẽ vời tượng nọ hình kia trên vách đá là dại dột…Ông khuyến cáo nên dời chùa ra ngoài có nhiều chỗ rộng rải để khỏi làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên.

Trong những năm 50-60, có hảng phim tại Sài Gòn xuống Hà Tiên thực hiện cuốn phim về sự tích Thạch Sanh-Lý Thông, người đạo diễn đã nhờ ông cụ ba của thầy giáo Trình Kim Chung, ông cụ lúc đó tu ở trên Thạch Động, vì tướng mạo ông phương phi, râu bạc trắng, tay cầm phất trần rất giống tiên ông nên ông đóng vai Tiên Ông trong bộ phim nầy.

Ngoài ra Thạch Động cũng còn là nơi được chọn là bối cảnh cho các bộ phim như « Cuộc chiến với chằn tinh » (hay còn có tên là « Thạch Sanh ») với các nhân vật thằng An, thằng Cò của cố đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu năm 1997 và bộ phim « Đất Phương Nam »  của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

H/ Ký ức riêng về Thạch Động:

Vốn là dân gốc gác Hà Tiên, mình biết rất nhiều về Thạch Động, mỗi lần theo bạn bè đi xe Honda chạy ra đường biên giới về phía chùa Xà Xía, mình có dịp ngắm nhìn Thạch Động và rất có ấn tượng về thắng cảnh nầy. Trong những năm 50, người dân Hà Tiên có thể lên Thạch Động viếng cảnh, ngắm thiên nhiên và thả hồn với không gian  trầm mặc của vùng núi non bao quanh Thạch Động. Tuy nhiên khi mình trưởng thành và trong thời gian đi học tại Trung Học Hà Tiên, khu vực Thạch Động trở thành một nơi chiến lược do có quân đội địa phương đóng điểm trên đó nên không ai còn được lên Thạch Động ngoạn cảnh. Hằng ngày chỉ chạy xe Honda qua lại bên phía dưới con lộ chánh dẫn ra biên giới và nhân lúc đó nhìn ngắm Thạch Động mà thôi. Có một điều may mắn là trong lúc đi học, mình có tham gia vào ban nhạc do bạn Lê Công Hưởng là trưởng ban, thời đó các đơn vị nhà binh đóng quân tại Hà Tiên như trên đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba Ông Chánh), Thạch Động, trại biệt kích Tô Châu,..v..v..thường hay tổ chức chơi văn nghệ giúp vui nên có một lúc đại đội đóng quân trên Thạch Động có mời ban nhạc học sinh trường Trung Học Hà Tiên lên chơi nhạc trên Thạch Động. Nhờ dịp như thế, mình và các bạn, cùng các bạn gái ca sĩ học sinh được vào hang Thạch Động để ca hát giúp vui trên đó.

Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người đàn anh gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Mũi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ… Kỷ niệm nầy mình có kể với nhiều chi tiết trong bài « Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh) » các bạn có thể bấm vào đường link nầy để đọc bài thêm.

Lần về thăm nhà Hà Tiên vào tháng sáu năm 2012, mình có gặp lại người bạn thân Nguyễn Đình Nguyên thời xưa đi chơi chung với nhau, hai dứa đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…). Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín, ngôi chùa gỗ Tiên Sơn Tự cũng dần dần được phủ lên nền gạch đá rắn chắc và cổng vào chùa cũng được sơn phết điểm tô màu sắc,…còn đâu nét đẹp thiên nhiên ngàn năm cổ kính của một thời mà hồn đất Hà Tiên hòa nhập với cây xanh, bóng mát và không gian trầm lặng một Thạch Động yên nghỉ nhìn về hướng chợ Hà Tiên…

Paris, Trần Văn Mãnh, viết xong ngày 02/05/2020

Một bức hình có thể xem như là xưa nhất về Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1900, hình rửa theo giấy Citrate

Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1901. Hình rửa theo giấy Citrate

Quang cảnh Thạch Động in trên bưu ảnh do người Pháp phát hành. ta thấy cửa vào Thạch Động và có hai vị hòa thượng đứng trước cửa. Dưới bưu ảnh có ghi hàng chữ: « COCHINCHINE – Hatien- Le bonnet à poils. Entrée de la Bonzerie à l’intérieur du rocher » (Lối vào chùa bên trong hòn đá)

Quang cảnh Thạch Động trong bưu ảnh do người Pháp phát hành năm 1926 (Nadal). Dưới bưu ảnh có ghi: « HATIEN – Bonnet à poils. Chemin dans les grottes, 3 km 500 du chef-lieu » (Mũ lông – Lối đi trong hang động, cách thị trấn 3 cây số rưởi)

Hình cửa vào Thạch Động do hảng chocolats SUCHARD của người Pháp in trong tập hình sưu tầm.

Hình Thạch Động do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Hình Thạch Động (mặt tây) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Quang cảnh Thạch Động hình chụp năm 1956. (TuanVo)

Thạch nhũ trước Thạch Động có hình như mỏ đại bàng. Hình chụp năm 1959. (TuanVo)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BronsonHa)Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 1994. (TVM)Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BuiVanTam, năm 2004)

Quang cảnh Thạch Động (mặt đông nam). (Herman Hermanson, năm 2006)

Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 2008. (TuấnMinh)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (2017)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (PhamKhang, năm 2018)

Quang cảnh Thạch Động mặt đông nam. (PhamKhang, năm 2018)

 

 

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Nguyễn Hồ Hải tự Hồ Hải

Giới thiệu anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng có dịp trở lại ngược thời gian rất xa xưa với các bài viết của anh Đoàn Kim Minh và chị Lý Thị Lắc,…Đó là các đàn anh, đàn chị đã từng chứng kiến sự ra đời của ngôi trường Trung Học Hà Tiên và đã theo học từ các lớp ngay từ những năm đầu của trường. Thời gian đó là những niên học của những năm đầu thập niên 50. Bước qua thập niên 60, những niên học đầu của thập niên 60 ở trường Trung Học Hà Tiên cũng có rất nhiều anh chị học sinh đã in lại dấu ấn sâu đậm cho sinh hoạt trường lớp ở Hà Tiên…Một trong những anh học sinh của trường Trung Học Hà Tiên rất nổi bậc bấy giờ là anh Nguyễn Hồ Hải, Anh Nguyễn Hồ Hải nổi tiếng ở Hà Tiên về lãnh vực âm nhạc vì anh là một tay đàn guitare rất hay…Anh Nguyễn Hồ Hải lấy biệt hiệu là Hồ Hải, ở Hà Tiên, thầy cô và bạn bè đều gọi anh là Hồ Hải. Chính bản thân mình cũng được hân hạnh biết anh và đã có một thời gian được may mắn thường xuyên nghe tiếng đàn của anh.

Anh Hồ Hải là người quê ở Châu Đốc, tuy nhiên có cơ duyên đưa anh về Hà Tiên theo học bậc Trung Học. Anh Hồ Hải vào học trường Trung Học Hà Tiên từ niên khóa lớp Đệ Tứ 1961-1962, và anh theo học tại trường Hà Tiên cho đến hết các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị. Anh Hồ Hải học cùng lớp với anh Mao Xuân Kia, chị Chín Hương (chị của chị Lâm Xuân Cúc). Vì anh không phải là người gốc gác Hà Tiên nên trong thời gian anh theo học ở Hà Tiên, anh ở trọ ở nhà của người quen biết, đó là nhà của chị Lê Thủ Điệp, cháu của thầy Hứa Văn Vàng và là chị của Lê Thị Việt Nga, anh vừa ở trọ và vừa ăn cơm tháng tai đây luôn, lúc đó là căn nhà trên đường Chi Lăng, phía sau chùa Phước Thiện, gần nhà Lâm Cẩm Nhung.

Anh Nguyễn Hồ Hải

Trong thời gian nầy, có quý thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…ở trong căn biệt thự của Chú Hai Bày*, đường Bạch Đằng, xéo xéo nhà mình, khoảng ngay đối diện với nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khanh, Trần Thị Thu Oanh. Vì thế anh Hồ Hải rất thường tới lui căn biệt thự nầy để thăm viếng quý thầy và cũng đến đó để sinh hoạt văn nghệ, đàn ca…Lúc đó theo mình nhớ thì trong căn biệt thự quý thầy ở có một bộ gồm một cây đàn điện Fender và ampli, anh Hồ Hải mỗi lần đến chơi với quý thầy, anh thường dợt đàn, dợt ca cho các anh bạn học cùng nhóm và cũng là học sinh đến chơi với quý thầy, như các anh Phù Thọ Phương (biệt hiệu Tùng Phương), anh Hoàng Tùng, anh Phù Thọ An (biệt hiệu Tùng Trang),…Có nhiều đêm, anh Hồ Hải còn ở lại căn biệt thự để đàn, rất khuya, lúc đó bên nầy con đường Bạch Đằng, mình đã lên giường ngủ rồi và thường nghe tiếng đàn điện của anh, mình rất thích , nhất là anh thường chơi đàn bài Hàn Mặc Tử.  Cũng xin nói thêm là khi anh đến Hà Tiên vào học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1961-1962) thì mình mới ở lớp Nhì trường Tiểu Học Hà Tiên, hai niên khóa sau, đến niên khóa 1963-1964 thì lúc đó anh Trần Văn Dõng của mình vào lớp Đệ Thất bậc Trung Học còn mình thì đang theo học lớp Tiếp Liên ở trường Tiểu Học Hà Tiên với thầy Hà Phương Linh vì mình thi hỏng vào lớp Đệ Thất lần đó, năm sau thì mới vào Đệ Thất.

Như vậy trong thời gian niên khóa 1963-1964 anh Hồ Hải đang theo học lớp Đệ Nhị của trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy hoạt động văn nghệ của mấy anh rất sôi động, sôi động đến độ là tại căn biệt thự đường Bạch Đằng của quý thầy đang ở, có tổ chức Đại Nhạc Hội, chương trình do các anh Hồ Hải, Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng Trang,…phụ trách, lúc đó có cả anh Bảy Kế là công chức đang làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên cũng tham gia vào tổ chức Đại Nhạc Hội này với tính cách là kỹ thuật viên phụ trách về âm thanh, máy móc…Trong đầu óc mình vẫn còn nhớ rỏ cái áp phích quảng cáo cho chương trình Đại Nhạc Hội nầy dựng trước căn biệt thự đường Bạch Đằng, có ghi rỏ tên các anh chị ca sĩ và tên anh Bảy Kế, lúc đó anh không ghi là Bảy Kế mà ghi là Văn Kế….Còn về giá tiền vào cửa và giá các thức uống trong đó thì mình quên rồi, nhưng vẫn còn nhớ là lúc đó buổi chiều anh Trần Văn Dõng đi học về có nói là « Mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng »…(vì là đi uống nước và có văn nghệ phục vụ… ». Thời đó nói đến nước ngọt tức là loại chai nước như: xá xị, nước cam, bạc hà, mỏ nách (Limonade),…và nếu là « người lớn » thì dĩ nhiên có quyền uống bia 33 con cọp… Trong các buổi Đại Nhạc Hội nầy mình còn nhỏ nên đâu có phương tiện để vào xem, chỉ ở bên nhà bên đường nghe tiếng đàn hát và thấy khách đi xem ra vào rất đông…Lúc đó mình không biết có nữ ca sĩ không mình chỉ nhớ các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng,Tùng Trang mà thôi, quý thầy cô, anh chị hay quý bậc cao niên còn nhớ các chi tiết về thời hoạt động văn nghệ nầy, nhất là thầy Võ Thành Tường nếu còn nhớ xin thầy góp ý, cho thêm thông tin chi tiết nhé, rất cám ơn quý thầy cô, anh chị và các bạn.NguyenHoHai_a

Anh Nguyễn Hồ Hải

Có thể nói anh Hồ Hải là một trong những người đi tiên phong trong nền âm nhạc ở Hà Tiên, dĩ nhiên là trước anh, Hà Tiên vẫn có tổ chức văn nghệ đàn ca, kịch, múa,…Nhưng nếu nói thời vàng son của phong trào ca nhạc ở Hà Tiên thì phải nói là vào những năm có mặt anh Hồ Hải..Thật vậy, lúc đó anh Hồ Hải rất nổi tiếng, chẳng những anh được biết qua tài đàn rất hay của anh, mà mọi người đều ái mộ anh về dáng vóc thanh nhã, đẹp trai và nét lãng tử của anh. Chính mình ngày xưa tuy không phải là bạn của anh (vì sự chênh lệch tuổi tác và không sinh hoạt trong cùng một môi trường) nhưng mình cũng biết anh, có lần mình cũng có qua chơi trong căn biệt thự của quý thầy ở đường Bạch Đằng và cũng có gặp anh, cười nói, tiếp xúc….mình rất ái mộ anh ngay cả về cách ăn mặc rất mode và đẹp của anh…Vì thế từ lâu rồi trong đầu óc mình đã có ý nghĩ phải cố gắng viết một bài về anh, để giới thiệu anh Hồ Hải với tư cách là một người « bạn » học cùng trường…Trong Blog Trung Học Hà Tiên Xưa nầy có một mục « Bạn Học Cùng Trường », mình đã cố gắng và cùng với sự đóng góp bài vở, hình ảnh của quý thầy cô, các bạn mà mình đã giới thiệu được rất nhiều bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên, chỉ có một cái tiêu chuẩn không phải là tuyệt đối lắm để có mặt trong mục nầy là có được một (hay vài) tấm hình ngày xưa, để thầy cô và các bạn nhìn lại người bạn được giới thiệu đó mặt mày ra sao ngày xưa…Dĩ nhiên là tên của tiết mục là « Bạn Học Cùng Trường » nhưng người bạn đó có thể là một bậc đàn anh, đàn chị, đàn em hay bạn cùng một lứa tuổi…Như vậy thì trong mục nầy không thể thiếu anh Nguyễn Hồ Hải vì anh cũng là một người đàn anh từng theo học trường Trung Học Hà Tiên, hơn nữa mình muốn viết về anh để thứ nhất cho quý anh chị cùng thời với anh Hồ Hải có dịp nhớ lại anh, thấy lại, nghe lại những mẫu chuyện thời anh ở Hà Tiên, thứ hai cũng không kém phần quan trọng là phải viết về anh để bậc đàn em đi sau biết được về anh, về một thời Hà Tiên có sinh hoạt văn nghệ rất là hay, rất sâu đậm…và biết được tài năng của anh về môn chơi đàn guitare, tất cả những lý do đó khiến mình bắt đầu đi vào sự tìm hiểu về anh, tìm thông tin, tìm hình ảnh để viết bài…

Anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô, quý anh chị và các bạn sẽ đặt câu hỏi là người tài năng, tài tử, lãng tử như anh Hồ Hải vậy được người ta mến mộ đã đành, nhưng về phía « fan » thuộc phái nữ thì sao ?? Không nói ra nhiều thì ta cũng hiểu là không thiếu những tình cảm của phái nữ dành cho anh vào thời đó,…Các bạn gái cùng thời với anh, các nữ ca sĩ, hay các nữ sinh học sau anh vài lớp chắc hẳn cũng rất ái mộ anh về mọi phương diện…Mặc dù vào thời gian đó mình vẫn còn ở bậc Tiểu Học, nhưng mình cũng rất chú ý đến sinh hoạt ở bậc Trung Học qua lời kể của anh Trần Văn Dõng và người chị bạn dì của mình là chị Huỳnh Thị Kim về quý thầy cô và các anh chị ở Trung Học…Chị Huỳnh Thị Kim có nhiều bạn cùng chung lớp chị như chị Lê Thủ Điệp, Trịnh Ngọc Lệ, chị Liên (chị của bạn Trương Trung Cang), chị Ngọc Hằng, chị Mỹ Dung,…Nghe các chị kể lại là thường ngày các chị chơi đánh vũ cầu (cầu lông) trên con đường Bạch Đằng, và từ cơ hội đó cũng có quen biết anh Hồ Hải và cũng rất ái mộ anh Hồ Hải…!!

Khi anh Hồ Hải học xong bậc Trung Học ở Hà Tiên vào giữa thập niên 60, tình hình chiến tranh đã phát triển nhiều, anh quay trở về quê anh ở Châu Đốc..Một thời gain nữa anh trở lại Kiên Lương để làm việc ở nhà máy Xi măng Hà Tiên…Thời gian sau anh đi vào đơn vị Tâm Lý Chiến để phục vụ đúng với khả năng của anh. Tại đây anh gặp được người bạn đời của anh và anh lập gia đình. Sau khi rời khỏi đơn vị Tâm Lý Chiến, anh và gia đình chọn Kiên Lương làm nơi định cư sinh sống. Gia đinh ngày càng đông vui vì anh chị có nhiều con, một trong những người con trai của anh có vợ là người Hà Tiên và lập nghiệp ở Hà Tiên. Một người con trai khác của anh chính là ca sĩ, nhạc sĩ Chi Dân (tên thật là Nguyễn Trung Hiếu), tiếp nối truyền thống của anh, chính Chi Dân sáng tác bài hát « Anh Muốn Em Sống Sao » rất nổi tiếng giúp cho ca sĩ Bảo Anh trở thành ngôi sao ca nhạc…

Vào ngày 24/10/1997 tại Kiên Lương, anh Nguyễn Hồ Hải lúc đó 52 tuổi, đã đặt cây đàn guitare xuống vĩnh viễn, và vì anh vẫn còn luyến tiếc khung trời thơ mộng của Hà Tiên mà ngày xưa anh đã từng trải qua một thời tuổi trẻ, anh được chôn cất tại Hà Tiên, mộ của anh ở gần khu mộ của Bà Cô Năm..

Anh Nguyễn Hồ Hải

Cho đến ngày hôm nay mình vẫn còn ái mộ anh Hồ Hải và mong rằng qua bài viết ngắn ngủi và nhiều thiếu sót nầy, mong quý thầy cô, anh chị và các bạn hãy tưởng nhớ lại một tài năng ngày xưa, một người học trò, một người anh, một người quen biết mà trong những năm tháng của thập niên 60 ở Hà Tiên, không ai là không biết đến tên tuổi của anh Hồ Hải.

Trần Văn Mãnh Paris, 28/04/2019

Một trong những người con trai của anh Nguyễn Hồ Hải, ca sĩ Chi Dân (Nguyễn Trung Hiếu)

Đặc biệt xin trân trọng cám ơn chị Hồ Hải đã giúp và chia sẻ cho mình thông tin, hình ảnh, cũng như xin cám ơn cô Dương Hồng Châu, chị Huỳnh Thị Kim và chị Trịnh Ngọc Lệ, không quên cám ơn Lê Ngọc Ngân, Lê Thị Việt Nga  đã chia sẽ thông tin, hình ảnh

* (Về căn biệt thự của chú Hai Bày nầy, mình có nói nhiều trong bài viết về bạn học Lê Văn Đông, mời thầy cô và các bạn có thể xem thêm qua link nầy).

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2019/03/29/gioi-thieu-le-van-dong/

Giới thiệu Lý Thị Thúy Hà

Thầy cô và các bạn thân mến, tên tuổi thầy cô và các bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên còn rất nhiều, mình sẽ cố gắng lần lượt tìm hiểu, động viên các cây bút cộng tác với Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để tiếp tục viết bài giới thiệu cho ngày càng đầy đủ hơn nữa. Blog đã có nhận được một bài tự thuật của một bạn vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, mà cũng rất quý là bạn nầy lại cũng có liên hệ mật thiết với quê hương Hà Tiên chúng ta. Bài viết gởi đã lâu, lâu đến hơn cả một năm, nhưng mình xin « nhận tội » ở đây là vì đã để quên trong dòng « tin nhắn » (messenger) nên chưa cho lên trang để ra mắt thầy cô và các bạn, mong rằng tác giả bài viết, không ai xa lạ với chúng ta, đó là bạn Lý Thị Thúy Hà, thông cảm cho « chủ bút » mà xóa lỗi cho nhé,..Hôm nay xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn, bạn Lý Thị Thúy Hà, một người con của đất Hà Tiên, bạn Thúy Hà vốn là người gốc gác ở Hòn Heo, thuộc xã Dương Hòa (nay thuộc vầ Kiên Lương). Hiện trong gia đình vẫn còn ngôi nhà xưa tai đây. Thúy Hà vốn là cháu của Ông Mai Thọ Truyền, một nhà chánh khách đã có thời làm chức Quốc Vụ Khanh phụ trách Văn Hóa, và cũng là một nhà Phật Tử có tên tuổi trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Ba của Thúy Hà cũng có thời làm việc ở Quận Đường Hà Tiên.  Lý Thị Thúy Hà cùng gia đình lập nghiệp ở Sài Gòn và đã có quá trình theo học tại Sài Gòn. Sau 1975, theo gia đình về Hà Tiên nên Thúy Hà trở thành học trò của Trường Trung Học Hà Tiên, lớp học Thúy Hà thường gắn liền với các sinh hoạt của cô giáo chủ nhiệm, là cô Nguyễn Thúy Vân, vì thế ngoài giờ học tập, cô trò thường hay sinh hoạt chung với nhau như tập dợt văn nghệ, hoạt động trong phong trào xóa mù chữ, …v…v…

Riêng đối với mình thì mình chưa có dịp biết bạn Lý Thị Thúy Hà, vì trong lúc Thúy Hà học tập tại Hà Tiên trong những năm sau 1975 thì mình cũng trong hoạt động phấn trắng bảng đen tại những miền An Phú, Hồng Ngự, Mỹ Luông….(Châu Đốc, An Giang…).

Lý Thị Thúy Hà học chung lớp với các bạn:

Tiền Ngọc Ánh, Ong Tấn Bình, Lại Bình Minh, Mai Thu Thủy, Lục Minh Lạc, Quách Kim Hoàng, Trinh Xuân Mai, Lâm Thu Cúc, Giang Bạch Tuyết, La Kim Hồng, Lâm Văn Chiêu, Trịnh Kim Anh, Huỳnh Anh, Giang Văn Dũng, Lâm Văn Nam..v..v…..

Hiện nay trong gia đình thân thuộc của bạn Lý Thị Thúy Hà có tham gia việc quản lý Khách Sạn Pháo Đài (Hà Tiên), công việc kinh doanh tiến hành được hơn một năm rồi: tu hoạch, sửa chữa, bổ túc để toàn cảnh khu du lịch Pháo Đài được tốt đẹp và thu hút khách đến nghỉ ngơi trong thời gian thăm viếng Hà Tiên. Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn bạn Lý Thị Thúy Hà đã vui vẻ đóng gớp cho Blog của chúng ta thêm phong phú bài vở và hình ảnh.

Bạn Lý Thị Thúy Hà cũng là một thành viên trong nhóm bạn học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: Cô Nguyễn Ngọc Mai, ngày 14/06/2018 tại Long Thành (Đồng Nai).

(TVM viết lời giới thiệu, 24/01/2019)

Những kỷ niệm thời học sinh Trường Trung Học Hà Tiên

Quay về kỷ niệm lúc còn học sinh
Tà áo trinh nguyên tô thắm sân trường…

(Tuổi Học Trò; Minh Kỳ & Dạ Cầm)

Hình ảnh cô học trò Trường Trung Học Hà Tiên: Lý Thị Thúy Hà vào năm 1975

Mỗi khi nghe bài hát này tôi lại nhớ đến thời học sinh dưới mái trường Trung Học Hà Tiên sau năm 1975. Tôi vốn sinh ra tại Hà Tiên nhưng gia đình lên Sài Gòn lập nghiệp đến năm 1975 mới trở về quê. Thời còn học bậc Tiểu Học tôi học ở Trường Tiểu Học Chí Hòa Nữ. Khi vào bậc Trung Học, niên khóa lớp Đệ Thất thì học ở Trường Trung Học Gia Long hiện giờ là trường Nguyễn Thị Minh Khai. Ngày xưa ở Sài Gòn, học sinh nam nữ học riêng. Đến tháng 9/1975 tôi chuyển về Trường Trung Học Hà Tiên. Sáng ngày khai giảng hai chị em vào trường mặc đồng phục áo dài trắng quần trắng gây chú ý cho các học sinh trong trường vì các bạn nữ mặc áo dài trắng quần đen và chị em tôi cũng bất ngờ khi học chung với các bạn nam sinh. Những bỡ ngỡ ban đầu rồi cũng qua đi, tôi quen dần mau chóng và hoà đồng cùng các bạn. Tôi được vào lớp 7A do cô Nguyễn Thuý Vân dạy Văn làm chủ nhiệm. Đây là danh sách học sinh lớp 7A cô viết thành vần cho dễ nhớ:

Ánh Bình Minh Vân Sơn Thủy Hà Tiên
Nhàn Lạc Hoàng Mai Hoa Cúc Huệ Tuyết
Hồng Chiêu Tài Anh Tuấn Dư Quang Ảnh
Dũng Sĩ Tương Nam Hải Phúc Hùng Liệt

Chính vì tên bạn Liệt cô để cuối bài thơ như tên tác giả nhờ vậy mà chúng tôi vẫn nhớ tên nhau dù xa cách đã lâu. Cuối năm học trường tổ chức thi văn nghệ, buổi tối chúng tôi tập múa tại nhà cô Thúy Vân. Hồi xưa trước nhà Cô có trồng mận và xoài, các bạn nam phá lắm không biết bạn nào khắc tên 1 bạn nam + 1 bạn nữ lên các trái xoài làm cho ba của cô Thúy Vân rầy la quá, vì thế không bạn nào dám nhận. Đến năm học lớp 8 sau khi thi học kỳ 1 xong nhà trường cho học sinh nghỉ một tháng để đi tham gia phong trào xóa nạn mù chữ cho đồng bào Khmer, họ không biết tiếng Việt nhưng rất giỏi tiếng Pháp. Lớp chúng tôi dạy ở Thuận Án, từ Hà Tiên phải đi đò mới đến được. Không chịu ở nhà dân vì phải chia ra mỗi đứa ở một nhà, thầy trò chúng tôi lại tập trung ở trại chăn nuôi bò bỏ hoang, thầy trò phải ra tay cùng nhau dọn dẹp. Vì nền đất không bằng phẳng phải lấy rơm phủ cho bằng để tối trải đệm ra ngủ. Ôi một thời tuổi trẻ lúc đó chẳng thấy cực mà rất vui. Ban ngày chúng tôi đi tát mương bắt cá để cải thiện bữa ăn. Vui nhất là bắt được cá thác lác Thầy trò đem đi kho vì không biết rành loại cá nầy nên rốt cuộc cá kho có  xương nhiều quá ăn không được. Sau này lớn lên tôi mới biết cá đó đem nạo ra làm chả rất ngon. Buổi chiều chúng tôi phải ăn cơm sớm trước 3 giờ vì ở đây nhà đân ở cách xa nhau lắm, Cô và các bạn nam dạy ở điểm xa nhất nên khi dạy xong Cô phải đến từng nhà đón chúng tôi về. Ở Thuận Án mùa khô không có nước ngọt nên mỗi tuần cử các bạn trai về Hà Tiên mang đến nước ngọt và thức ăn do gia đình gửi cho cả nhóm. Ở đây các ao nước đều bị nhiễm phèn. Các bạn trai đi rất xa tìm những bụi cây mọc xanh tốt là dấu hiệu nơi đó ao nước ít bị nhiễm phèn.

Những kỷ niệm không quên nếu nói đến ao bò thì chỉ có học sinh lớp tôi và cô Thúy Vân biết thôi xin giữ bí mật nhé. Thầy Mạnh Thường dạy Anh Văn và dạy hát, tôi còn nhớ mãi buổi sáng có tiết học Anh Văn, Thầy vào lớp báo tin vui cô Mai vợ thầy Cường vừa sinh được một bé trai. Cả lớp mừng vui ồn ào như cái chợ nhưng chẳng bị Thầy la. Nhớ nhất những lần tập văn nghệ cùng Thầy để trình diễn ở rạp Phát Minh có bán vé gây quỹ cho trường. Thầy Lý Mạnh Thường là người Thầy hát bài Hà Tiên hay nhất, nay Thầy không còn nữa nhưng với tôi Thầy vẫn còn mãi trong ký ức của học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975 Trường Trung Học Hà Tiên có nhiều giáo viên từ Sài Gòn về dạy. Trong đó có cô Phan Thị Tuyết Mai và thầy Trương Tự Cường. Thầy Cường dạy môn toán rất hay và dễ hiểu. Hôm ấy đầu giờ Thầy cho kiểm tra 15 phút. Tôi nhớ đã làm đúng mà Thầy lại cho 0 điểm!! Thế là ấm ức không học được, Thầy bảo tôi làm ẩu kết quả đúng mà sai dấu. Trong giờ Thầy đang dạy nên tôi không dám nói gì, sau tiết học tôi chạy theo Thầy và khiếu nại: « Thưa Thầy! Em làm đúng mà nhờ Thầy xét lại… ». Thầy xem bài làm của tôi lại và cho thêm số 1 trước số 0 và thêm chữ rất giỏi. Thầy nói Thầy rất thích học trò như vậy. Không biết lúc đó Thầy nhầm lẫn hay cố tình thử tôi? Còn cô Mai vợ Thầy Cường, dạy môn Hóa. Lúc đó Trường Trung Học Hà Tiên chưa có lệnh sơ tán nhưng tình hình ở Hà Tiên đã bắt đầu bất an. Sáng hôm đó khi đến Trường tôi thấy học sinh nghỉ học rất nhiều. Thầy Hiệu Trưởng Lê Thanh Chương thông báo là nếu Trường còn một học sinh đến học thì thầy cô vẫn dạy. Lớp 8 A chỉ có mình tôi mà cô Mai vẫn dạy. Một thầy một trò, có lớp học nào đặc biệt như vậy không? Còn nhiều nhiều nữa những kỷ niệm về Thầy Cô, nhưng đây là những kỷ niệm tôi nhớ nhất khi còn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên.

Nếu là ngày tôi cho ngày dài mãi
Nếu là thời gian tôi sẽ ngừng trôi
Để giữ mãi trong tôi kỷ niệm
Tuổi thần tiên ở ngưỡng cửa học đường

Sau cùng tôi còn nhớ một kỷ niệm vui về Thầy Nguyễn Văn Tiêu và Cô Nguyễn Thị Bình, kỷ niệm mà riêng tôi cũng không dám kể ra đây, nhưng với tinh thần vô tư, nhớ Trường lớp, nhớ Thầy Cô, tôi cũng viết ra mong thầy cô và các bạn thông cảm nhé,…Ngày xưa ở gần nhà tập thể của quý Thầy Cô là căn nhà « vệ sinh »! mỗi khi tan học thì mỗi lớp học có trách nhiệm dọn dẹp cho sạch sẽ, mỗi lớp thực hiện công tác một lần…Hôm đó chính lớp 8A của tôi trực việc dọn dẹp nhà « vệ sinh ». Vì biết là Cô Bình và Thầy Tiêu quen với nhau, nên thừa lúc sau giờ dạy Cô thường xuống ngôi nhà tập thể để hàn huyên với Thầy, chúng tôi núp sau bức tường để xem…!! Không may bị phát hiện, cả bọn bỏ chạy tứ phía và lại còn đẩy tôi vào để giải thích với Thầy…Thầy hỏi: « Em đi đâu đây, có việc gì? », Vì sợ quá tôi đáp theo phản ứng tự nhiên: « Dạ em xin Thầy cho mượn hộp quẹt để đốt rác ạ…! ». Thầy cười và đưa hộp quẹt cho tôi…Hú hồn, sau đó khi về tự thấy giận các bạn chơi xấu, bỏ chạy và đẩy mình ra chịu trận…Đúng là một kỷ niệm của bọn học trò mà trong xếp hạng đứng hàng thứ ba…(« Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò… »). Không biết bây giờ Thầy Cô có đến với nhau không, tụi em xin Thầy Cô thứ lỗi nhé,..(Sau nầy lại có nghe tin là Thầy Tiêu và Cô Bình kết hôn với nhau, vậy xin chúc mừng Thầy Cô nhé…)

08/11/2017, Lý Thị Thúy Hà, học sinh ngày xưa của Trường Trung Học Hà Tiên

Hình chân dung và sổ học bạn Lý Thị Thúy Hà (Trung Học Hà Tiên năm 1975)

Một trang điểm thi kỳ 1 và 2 và kết quả cuối năm trong sổ học bạ của Lý Thị Thúy Hà, kết quả cho thấy bạn Thúy Hà là một học sinh rất xuất sắc trong tất cả các môn học, bravo bạn Thúy Hà nhé,…(Trung Học Hà Tiên 1975)

Bạn Lý Thị Thúy Hà hiện nay sinh sống tại Sài Gòn với gia đình.

Lý Thị Thúy Hà tham gia nhóm học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Mai từng dạy học tại Hà Tiên (1961 – 1968). Hàng đứng: Trần Quý Nương, Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Người ngồi là cô Nguyễn Ngọc Mai. (ngày 14/06/2018 tại Long Thành, Đồng Nai)

Hình ảnh: Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Trần Quý Nương

 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Chú thích: Theo tài liệu của Phật Giáo Kiên Giang (Giác Ngộ Online), sau đây là tên các vị thầy đã có thời gian trụ trì ở chùa Tam bảo Hà Tiên:

« Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là Hòa Thượng Ân Hạ cũng là vị Hòa thượng khai nguyên cho Phật Giáo xứ Hà Tiên. Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như Hòa Thượng Hòa Quang, Thiền sư Nhất Đới, Thiền sư Trí Tàng, Thiền sư Hoằng Ân, Thiền sư Hải Huệ, Thiền sư Giác Ngạn, Thiền sư Như Đức, Thiền sư Như Khả, Thiền sư Phước Chơn, Hòa Thượng Thuần Hạnh, Yết Ma Phước Thành, Hòa Thượng Phước Ân (1920 – 1946), Hòa Thượng Phước Quang, Hòa Thượng Quảng Đức, Hòa Thượng Vĩnh Đạt, Hòa Thượng Chánh Định, Thượng Tọa Thiện Giác (1960 – 1974) và  từ năm 1974 đến nay là Ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)