Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn Lê Phước Dương, một cây bút rất thường xuất hiện trên Blog Trung Học Hà Tiên xưa của chúng ta có một dự án là sẽ viết lại vài bài hồi ký về một vài người bạn thân ngày xưa, thời đi học đã cùng nhau chia sẻ cơ hàn, khổ cực…Sau bài viết về anh La Văn Cao, một người đàn anh mà Dương Lê rất mến mộ và cùng trải qua nhiều lúc gian nan, hôm nay Dương Lê viết về một đàn anh khác, đó là anh Trần Văn Dõng, cũng là một hồi ký nhớ lại quảng đời học sinh Hà Tiên đi học xa nhà với bao nhiêu là thiếu thốn về vật chất…Đời người học sinh xa nhà đi ở trọ học ở tỉnh xa có nhiều vui buồn, vì hoàn cảnh, phải lên tỉnh lớn để theo học cho xong chương trình học. Nhiều khi chỉ thiếu có mỗi một chai dầu lửa để nấu cơm thôi, trong khi đó đã có gạo, khô, nước mắm vừa mới về Hà Tiên thăm nhà và được nhà viện trợ đủ cả…Bởi người ta thường nói có khổ cực mới có lúc thành công, nhưng cuộc đời dành cho ta nhiều nỗi bất ngờ,…Không ai biết ngày sau sẽ ra sao,…Nếu hiện tại, mỗi thành viên của nhóm ở trọ học ở Cần Thơ ngày xưa (Dương, Mãnh, Dõng,…), mỗi người cũng đã thành công ít nhiều trong cuộc sống, thì cái công khó thời đi học đó cũng được đền bù chút ít…Tất cả đều đã trôi qua, chỉ còn lại trong chúng ta nỗi nhớ và kỷ niệm xưa, viết lại hồi ký ngắn nầy giúp chúng ta giữ và nhớ mãi thời đi học xa nhà với bao buồn vui mà mãi mãi chúng ta không thể nào sống lại giây phút đó, có chăng là có được một vài cảm xúc, một vài xao xuyến khi đọc bài viết của tác giả Dương Lê, đó cũng là mục đích của bài viết hôm nay…(TVM, viết lời giới thiệu, Paris 30/05/2020)

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Năm 1972, đậu Tú Tài 1 xong.
Ngày tựu trường, mình theo anh Dõng, Mãnh đi học ở Cần Thơ. Vì những trường công, thủ tục vào học rất nhiêu khê nên mình ghi tên học ở Trường tư thục Ngọc Phú, học phí mổi tháng 800 đồng.

trọ cùng với 2 chàng ở khu Đại Học Khoa học, phía trước nhà có ao lục bình rất lớn, đóng tiền ăn ngày 2 buổi với bà chủ nhà. Ba chàng ở trên căn gác gỗ, mái nhà lợp tôle nên buổi trưa rất nóng, tối thì mát, khi mưa rất ồn, ba chàng quấn ba cái mền như sâu làm tổ.

Không có giường ngủ chỉ có hai cái bàn học xiêu vẹo của hai chàng, trong góc bàn học của anh Dõng có cái ấm nhôm, mình hỏi:

 – Cái ấm nhôm đó để nấu nước pha trà hả anh Dõng?

– … ừa!

Hai cửa sổ hai bên hông nhà nằm trên mái ngói hai nhà hàng xóm nên ba chàng thường ngồi hóng gió, đôi khi mình cảm nhận mùi lạ nên cứ nghỉ là của chuột thôi.

Ban ngày thì không nói gì, còn ban đêm phải dò dẫm xuống từng nấc thang gỗ, tỉnh táo không nói gì, mê ngủ ngầy ngật mà xuống thang thì thật là vất vả lắm.
Vào một đêm, trời đứng gió, không gian oi bức, lúc đầu hôm đi cùng hai chàng ghé quán cafe nghe Miên Đức Thắng với « Bông hồng cài áo », Trịnh Công Sơn với « Ca khúc da vàng » và với « Gia tài của mẹ »… , một ly cafe đen, vài điếu thuốc Capstan, vài ly trà quạu…hệ thần kinh trong đầu nó căng như dây đàn nốt Mí…nên khi về, leo lên căn gác trọ, trằn trọc mãi, cố ngủ mà có ngủ được đâu!
Lúc này không biết đã là mấy giờ, chắc cũng đã khuya nên không gian nghe im lặng quá. Chợt nghe tiếng động nhẹ từ mùng anh Dõng … chàng ta vén mùng bước ra, trong bóng đêm chàng ta bò nhè nhẹ lại lấy cái ấm … mình nghĩ:

– Giờ này, khuya vầy, lấy cái ấm làm gì vậy ta …  không lẽ xuống nhà nấu nước sôi pha trà uống! Chiều tới giờ uống trà quá nhiều rồi…!!

Không nghe tiếng bật lò nấu, chàng ta nhẹ nhàng đi lại đứng bên cửa sổ, với một động tác … rồi âm thanh phát ra….

…t..r..ừng , t..r..ưng , t.r..ứng…

Như âm điệu dạo đầu thon thả của tiếng đàn guitar độc tấu bản sonate Ánh Trăng…dìu dặt, réo rắt khi khoan khi nhặt khi dầy khi thưa … lúc mạnh như mưa giông … lúc thoáng nhẹ như cơn mưa rào mùa hạ … làm cho kẻ khó ngủ đêm khuya nghe những âm thanh đó càng thêm ray rứt.

Rồi thì tiếng sắt tiếng nilon cũng nhỏ dần rồi tắt hẳn … chàng ta nhoài người ra cửa sổ rồi…rót…rót…rót nhẹ nhàng ri rỉ lên mái ngói nhà kế bên.

Sự bí ẩn của cái ấm đã được giải mã cho cái đầu óc của mình, những đầu óc quá thông tuệ, chắc là cũng phải mua một cái ấm nhỏ cho mình thôi.

Ở đó được một tháng thì dời về trọ nơi mà phía trước có phòng làm răng của nha sĩ Tịnh. Trong nhà nầy có một nàng làm osin cho chủ nhà mê anh Dõng như điếu đổ, cứ khi nàng rảnh tay và lúc có ba chàng thư sinh ở nhà thì nàng cứ vô phòng nằm lăn ra giường … rồi cười rồi nói, có lần còn đố ba chàng là lưng con rùa kêu bằng cái gì!! … Những lúc đó là chàng Mãnh nháy mắt với mình rồi cả hai lang thang để phó bỏ mặc cho chàng Dõng đối phó với tình huống cực kỳ nghiêm trọng…!!

Rồi có một hôm tới phiên chàng Dõng nấu cơm, mình và anh Mãnh đi học buổi sáng, vì là vào những ngày cuối tháng nên chỉ uống một ca nước rồi đi học … Tan học đi bộ về tới chổ trọ là cũng đã 12g trưa, bước vô phòng thấy chàng Dõng ta đang ngủ, bếp lò lạnh tanh, mình hỏi:

– Giờ này mà anh còn chưa nấu cơm, đói bụng muốn xỉu rồi nè!

Chàng Dõng nói:

– Gạo và khô thì còn mà dầu lửa nấu thì khô queo rồi.

Lúc đó anh Mãnh cũng vừa về tới liền lên tiếng:

– Vậy có ai còn tiền để mua dầu không?

Cả ba cùng im lặng.

Thế là cả ba chàng cùng uống nước lã cầm hơi rồi cùng lên giường tìm giấc ngủ cho qua cơn đói.

Mà rồi có quên được đâu, có ngủ được đâu khi cơn đói dày vò.

Sau một hồi suy nghĩ cuối cùng chàng Mãnh đưa ra ý kiến:

– Anh Dõng, năm thứ hai Kỷ sư Canh Nông, còn anh, năm thứ nhứt Đại Học Sư Phạm, chỉ có em học Đệ nhứt và nhỏ nhất … nên em chịu khó làm mặt dầy bước qua cây Xăng Dầu bên kia đường mua chịu 2 lit dầu về nấu cơm, hai thằng anh hứa cho em khỏi rửa chén 10 ngày.

Nghe vậy thì cũng đành thôi, đói quá phải liều … may là gặp chị bán dầu tốt bụng, đong cho thiếu chịu 2 lit dầu … Hai chàng thấy mua được dầu về mừng quýnh.
Ui, có ai từng bị đói từ sáng đến 3 giờ chiều mới thấy chén cơm nóng, tô nước canh, miếng xương khô cá bè nướng vội…nó ngon gì đâu, nó hạnh phúc gì đâu.
….

Đường đời bập bềnh xô đẩy, ở trọ đi học với hai chàng được hai tháng thì có lệnh tổng động viên phải lưu luyến chia tay với hai chàng để trình diện nhập ngũ vào học nơi Trường BB Thủ Đức.

30/4/1975 buông súng tan hàng về lại quê hương.

5/5/1975 trình diện ban quân quản để đươc đi ở tù.

Sáng ngày 30/5/1975 , sắp hàng ở cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên nghe đọc tên để đi Long Xuyên học cho trở thành người.

Đọc tên từng người :
 – La văn Tạnh! ….có.
 -Lê phước Dương!…có.
 – Trần văn Dõng!…có.
 – Nhan hồng Hà!…có.
……
Vị cán bộ hỏi:

– Có ai có ý kiến gì không?

Trần văn Dõng:

– Có , xin hỏi?

Cán bộ:

– Anh nói đi!

Trần văn Dõng:

 – Xin hỏi sao mấy anh mang cấp bậc Chuẩn úy thì được học ở Hà Tiên, còn tôi và anh Hà còn là SVSQ mà sao phải đi tỉnh học?

Viên quản giáo:

– Vì khi hai anh ra trường mang cấp bậc Đại Úy nên phải đi Long Xuyên học.

….huhuhu…huhuhu…

Anh Dõng là mẫu người sống nội tâm, như nhà hiền triết, ít nói, ít cười, ít tranh luận hơn thua. Anh học rất giỏi mà sao thời vận lúc đó chưa tới, nếu không thì anh cũng đã là Kỷ Sư Canh Nông, thời mà giáo sư Võ Tòng Xuân còn dạy học ở Đại Học Nông Nghiêp Cần Thơ.

Lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên, anh có trồng cây si một người em gái tên Lan … mà rồi anh chưa lần nào nói tiếng…yêu em. !!

Hà Tiên, 28/5/2020.
Lê Dương.

Chân dung ba chàng: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Lê Phước Dương ngay trong khoảng thời gian trọ học ở Cần Thơ, những năm đầu của thập niên 70

Trần Văn Mãnh đang làm bài ngay trong căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

Trần Văn Mãnh ngoài mái hiên lầu căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

 

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn La Văn Cao là một người bạn thân trong nhóm những người bạn thân cùng đi chơi trong suốt thời gian còn là học trò của Trung Học Hà Tiên…Mình không biết ở các trường Trung Học khác thì ra sao, nhưng ở Hà Tiên, tình bạn bè chơi với nhau không phân biệt « đẳng cấp » thứ hạng…Có nghĩa là ta có thể kết bạn chơi thân với nhau mà không nhất thiết phải học cùng lớp…Đó là trường hợp của đa số bạn bè thời học trò ở Trung Học Hà Tiên…Mình có nhiều bạn thân học trên mình một lớp (đó là trường hợp bạn La Văn Cao, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…v..v…), ngược lại mình cũng chơi thân vói nhiều bạn học sau mình vài lớp (Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….v..v….). Xin các bạn thân chưa có tên kể ra đây thứ lỗi vì mình vẫn nhớ nhưng chưa kể hết ra đây nhé…

Đi chơi nhiều với bạn Cao thì có rất nhiều chuyện vui buồn kỷ niệm, chuyện vui thì có cái khái niệm « ngồi đồng » mà Cao chính là « cha đẻ » của khái niệm nầy…Nói đến từ ngữ « ngồi đồng » thì dân Hà Tiên biết rành, vì ở Hà Tiên là nơi vốn có rất nhiều chùa chiền, cổ miếu, nơi mà hàng năm cứ đến ngày cúng vía thần thì sẽ có người « lên đồng » để cho bùa phép các con dân trong chợ, để phù hộ tránh các điều không may mắn…Tuy nhiên khái niệm « ngồi đồng » ở đây thì lại khác hẳn ý nghĩa đó, thầy cô và các bạn đọc bài của cây bút Dương Lê dưới đây sẽ rỏ thế nào là ngồi đồng,…Phải ngồi cho đến khi nào bạn Cao cho « thăng » thì hồn sẽ nhập trở lại xác và mọi xác đồng mới được ra về nhà thảnh thơi…Ngoài ra mình còn nhớ có một chuyện vui với Cao khi cả nhóm cùng ngồi uống cà phê tối ở quán Ti La, lúc đó có ai trong bàn nhắc một chuyện tình nào đó của « anh Mãnh », Dương nghe vậy nên lên tiếng:

– Chắc lúc nầy trái tim của anh Mãnh đập theo nhịp nhanh chóng đều…

Bạn Cao nghe vậy liền thốt lên :

– Ủa sao Dương lại biết từ ngữ nầy…(từ ngữ «nhanh chóng đều»…)

Sở dĩ bạn Cao nói như vậy là vì bạn hiện đang theo học ở Sài Gòn lớp Đệ Nhứt, mà ở lớp nầy thì có môn Vật Lý đang học về Cơ Học, nói về các chuyển động trong đó có chuyển động đều (tốc độ luôn bằng nhau và chuyển động nhanh chóng đều, tốc độ tăng đều đặn theo thời gian. Mình cũng không nhớ tại sao Lê Phước Dương biết được từ ngữ Cơ Học nầy…

Đặc biệt là trong chuyến đi Mỹ vừa qua để dự buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, mình có dịp gặp lại người bạn thân đi chơi chung ngày xưa, đó là Bạn La Văn Cao, bạn Cao đã đến sớm dự buổi họp mặt Đồng Hương Hà Tiên để gặp lại bạn bè Hà Tiên, bạn bè hơn 40 năm qua tuy chỉ có liên lạc qua tin nhắn nhưng chưa được dịp gặp lại, nay đã gặp lại tận mặt bạn Cao, mình rất vui. Tuy rằng cuộc gặp gở chỉ gò bó trong khuôn khổ họp nhóm đông đúc, thiếu phần riêng tư giữa hai người bạn lâu năm gặp nhau, vì điều kiện không gian và thời gian hạn hẹp nhưng cuối cùng cũng được vui lòng, thỏa mãn vì được hội ngộ với nhau.

Thân mời thầy cô đọc bài về câu chuyện « ngồi đồng » do cây bút Dương Lê viết rất hay và vui sau đây.  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 20/05/2020)

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Anh lớn hơn mình vài tuổi và vì có lần đổi tên là La Văn Tạnh nên mình không biết chính xác là sinh năm nào, anh có chiều cao từ 1,8 m trở lên, có lúc ảnh hưởng phong trào hippy của giới trẻ nên anh để tóc dài rất đẹp và lãng tử.

Đêm Noel năm 1970, sau khi lang thang viếng nhà Thờ rồi dạo chơi đường phố Hà Tiên, nhóm của mình gồm: Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hà Quốc Hưng, cùng ghé lại Quán Ti La thì lúc đó đã có bàn của bàn của anh Cao, anh Nguyên, Dõng, Mãnh…và vài người khác đã rất là rôm rả.

Lúc này anh Cao đang học ở Sài Gòn, nhân dịp Giáng Sinh nên về nhà chơi, nhà anh khá giả, ba anh có xe Lam chở hàng và khách lên xuống biên giới Kampuchia-Hà Tiên. mẹ anh mua bán lớn hàng Việt, Kam và Thái Lan. Tính tình anh rất hào sảng và rộng rãi nên khi thấy nhóm mình vào quán anh liền gọi cùng ngồi chung bàn cho vui. Thấy anh vui vẻ nên cả nhóm cùng kéo ghế ngồi chung, cùng hòa nhập chuyện trò tranh luận đấu lý… Chợt anh Cao lên tiếng đề nghị:

– Bây giờ Nguyên nói lên một câu ngắn rồi mình dịch ra tiếng Anh, Pháp, Miên, Tàu, các bạn thì phụ họa theo nghe!

Tất cả khoái chí và cùng đồng ý.

Anh Nguyên nói: Anh yêu em!

Cả bàn: Anh yêu em.

– Anh Dõng: I love you.

Cả bàn: I love you.

– Anh Mãnh: Je t’aime.

Cả bàn: Je t’aime.

– Anh Trung: Bon salanh ôl.

Cả bàn: Bon salanh ôl.

– Anh Cao: Úa ái lứ.

Cả bàn: Úa ái lứ.

…..

Càng về sau độ dịch càng khó và độ đồng hét càng lớn.

Khi đến 12g khuya thầy Hiển bước ra nói:

– Trò chơi này vui quá, mà thôi các em dừng lại cho Thầy dùm vì 12g khuya rồi.

Không ai bảo mà cả bàn cùng hô lớn:

– Dạ Thầy.

Anh Cao nói lớn với cả bàn:

– Đêm nay gặp được các bạn, các em…vui quá nên chầu nước này “Úa » trả khỏi phải hùn tiền…5g sáng sớm mai, Mãnh ra bến xe gặp anh để lấy tiền trả cho Thầy, nhớ tới sớm nghe.

Anh Mãnh nói:

– « Oui », mình sẽ vặn đồng hồ reo lúc 4g để được uống một ly xây nại nóng rồi tiễn bạn lên đường.

……

Cái câu chuyện uống nước và anh Cao sẽ trả tiền thì ở Hà Tiên nầy nó đã trở thành một huyền thoại, có một danh từ đặt tên cho huyền thoại đó, đó là từ “ngồi đồng”. Ở Hà Tiên lứa tuổi như mình hoặc nhỏ hơn vài tuổi đều từng được anh Cao cho ngồi đồng. Để mình giải thích cho các bạn biết ý nghĩa của từ “ngồi đồng” nầy.

Có lần, lúc anh La Văn Cao học lớp Đệ Tứ Trường Trung Học Hà Tiên, buổi sáng một hôm vào ngày nghỉ, anh chạy xe đạp chở mấy thùng đường đi giao cho người mua, khi gặp bạn, gặp đàn em là anh kêu:

– Lại quán chị Lệ cây me uống cà phê nghe, anh giao thùng đường này rồi anh lại ngay.

Không biết anh chở bao nhiêu thùng đường đi giao mà những khuôn mặt thân quen cứ lai rai lại quán ngồi đó, lớp nào theo lớp đó, điểm danh cũng được mười mấy em. Nhìn bộ dạng của mọi người thì chắc là ai cũng mong ngóng anh Cao thôi.

Ngày xưa, là học sinh, đa số chỉ có hai bộ đồ, túi rổng không, đi đâu cũng chỉ là « lô ca chân ». Có được chiếc xe đạp đã là may. Thế là cả đám, người đá bào đậu đỏ, kẻ cà phê đá, xịt xà thòn…rồi cùng ngồi đồng, ai đói bụng mà có tiền túi thì tự trả rồi về, ai không có tiền mà lở uống nước rồi thì ngồi đó…nhấp nha nhấp nhổm còn lại khoảng mười em, bụng đói meo cùng ngồi chịu trận tới 2g trưa thì anh Cao đạp xe tới và nói :

– “Úa” kẹt công chuyện, mấy “lứ” có uống gì nữa thì kêu đi!

Mọi người năn nỉ anh trả tiền để “giải đồng” rồi thì « thăng » và thất thểu đi về với cái bụng đói meo.
……..
Trở lại chuyện uống nước ở quán Ti La, buổi sáng hôm sau sự kiện đêm Noël ở quán Ti La, cả nhóm cùng gặp lại ở quán cà phê ngoài chợ và anh Mãnh đã kể lại như sau:

Tao về nhà vặn đồng hồ reo lúc 4g mà không biết sao khi giựt mình thức dậy là đã 5g hơn, tốc dậy không rửa mặt đánh răng chỉ mặc cái quần dài vào rồi bay ra bến xe, đến bến xe thì hởi ơi! Xe đã chạy rồi.

Có một bài hát tựa là: “Thúy đã đi rồi”, rất buồn mà nay thì: “Cao đã đi rồi” còn buồn hơn. Trở về nhà thì không có tiền trả cho Thầy Cô vì đã nhận nợ, biết ăn nói làm sao!

Bổng có anh xe ôm chờ khách lên tiếng hỏi:

– Tính đi đâu sớm vậy Mãnh?

– Chạy theo kịp xe Lộc Thành không?

– Chắc kịp mà!

– Vậy thì đi.

Lúc đó chạy xe ôm chỉ là chạy chiếc Honda SS67, chạy 40km/g đã là nhanh, ngoài ra còn bị đắp mô, còn mìn…..Bên Tô Châu có anh tên Dự, chạy xe ôm chở khách. đến chổ cây me gần Tà Săng, cán ngay trái mìn, mìn nổ và cả hai người đều bị nạn…..Thật là tâm trạng ngổn ngang, ruột rối như tơ vò, cái vụ uống nước thiếu chịu mấy trăm ngàn này mà tới tai bà ngoại , bà má thì không biết giải thích thế nào!

May mắn làm sao, xe ôm vừa qua cua quẹo Mũi Ông Cọp thì thấy xe Lộc Thành đang dừng lại bên ven đường, lơ xe đang thay vỏ, người đi xe thì không may mắn phải chờ khoảng 15, 20 phút, chỉ có Mãnh này là hên thôi.

Cao thì đang vươn tay xoạc chân làm động tác thể dục buổi sáng bên bờ biển gió lộng.

Mừng quá Mãnh ta gọi lớn:

– Cao ơi Mãnh nè!

Một nụ cười với hàm răng ám khói thuốc:

– Ngủ cho dữ, “Úa” tính Tết về trả luôn…Vừa nói Cao vừa móc túi lấy tiền đưa.

Mừng quá, Cao lên xe đò chạy đi, tao lên xe ôm về, không kịp chào nhau…trả tiền xe ôm, tiền quán còn dư được tô hủ tiếu và ly cà phê mà…hú hồn.

……

Anh La Văn Cao là như vậy, anh chơi với anh em là chơi bạc mạng, chơi hết tiền túi kiếm người quen mượn tiền chơi tiếp. Là con trai cả, anh em đông, có hiếu với cha mẹ, chơi là chơi mà học là học, anh học rất giỏi, Tú tài 1 đậu hạng Bình, Tú tài 2 hạng Binh thứ, thi vào Kỷ Sư Điện Phú Thọ, 2000 thí sinh lấy một khóa 50 người, anh đậu thứ 52 vì vậy bị động viên học khóa 4/72 TB Thủ Đức, anh chọn Pháo Binh học thêm 3 tháng về chuyên môn rồi ra trường về đơn vị đóng quân ở Huế, Vùng 1 Chiến Thuật.
……..

Hà Tiên, 14/5/2020, ghi lại để nhớ mãi về người anh: La Văn Cao.

Dương Lê

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, cây bút của phong trào « hiện thực » của nền văn học hiện đại Hà Tiên một lần nữa đã trở lại với chúng ta qua một câu chuyện vừa hấp dẫn vừa mang đầy tính chất « khoa học thường thức »…Thật vậy, mọi đọc giả khi đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, sẽ học hỏi được một vài kiến thức rất thực tiễn trong đời sống… Câu chuyện cũng cho ta thấy sức mạnh của khoa học nhất là nền khoa học Y Khoa, người ta có đủ khả năng tìm ra mọi nguyên nhân của mọi chứng bệnh dù cho bệnh trạng có cực kỳ phức tạp như trong trường hợp được mô tả ở đây…Thời xưa không cần phải lặn lội ngoài đồng ruộng với tình trạng đất đai nhiểm đầy các ấu trùng giun lãi để phải bị bệnh « có sán lãi » trong ruột…, Mình còn nhớ thời con nít, trẻ nít nào có có ít nhiều thời kỳ có sán lãi,…lâu lâu cha mẹ ở nhà cho uống thuốc để « trục xuất » các vị « cư trú không có giấy tờ hợp lệ » nầy ra khỏi cơ thể…Mình còn nhớ rỏ như vậy,…mà cái mùi thuốc xổ lãi đó nó rất khó chịu, có dạng chất lỏng hơi kẹo màu trắng đục…Đâu có ai ngờ một thiếu niên có sán lãi mà tình hình lại đưa đến một kết luận khi thì là đau tim, khi lại có thể bị bệnh về máu…Câu chuyện thật là ly kỳ để đi đến một kết luận rất là lý thú và rất tốt đẹp, bệnh đã được chẩn đoán đúng ngay nguyên nhân và việc chữa trị lại rất đơn giản..Không phải tác giả là người duy nhất có cái may mắn là vừa được trị khỏi bệnh lại có cơ duyên gặp người bạn đời của mình trong lúc nằm nhà thương…Hồi mấy năm về trước mình có đứa con trai đầu lòng, vì đam mê văn hóa nước Nhật nên cũng muốn đi phiêu lưu mạo hiểm qua xứ lạ đế học hỏi và phát triển chí tang bồng, ở nhà thì cha mẹ thường hay lo lắng cho con đi xa…Cuối cùng cũng có câu chuyện đứa con mình đang chạy xe đạp xuống dốc pho pho, vì muốn tránh không cán phải một con mèo đang ngồi giữa đường mà thắng gấp và bị té phóng nhào ra phía trước đúng theo quy luật quán tính của vật lý về chuyển động, kết quả là bị bể càm phải vô nhà thương xứ người để làm radio và may vá lại vết thương…Vì được săn sóc tốt quá nên cuối cùng chàng ta cảm nhận được cái tình cảm của cô cán sự làm việc trong nhà thương để rồi đi đến sự kết hợp ngàn đời, vết thương ở càm lành lặn và lúc vào nhà thương thì có một thân một mình mà lúc ra khỏi nhà thương thì lại có cặp có đôi…

Tác gải bài viết nhắc đến người bác sĩ nhân hậu và rất tốt bụng là bác sĩ Phạm Như Bách, ở Hà Tiên chúng ta không ai vào thời đó mà không biết bác sĩ Bách, ông là người hiền hậu, vui vẻ và rất có lương tâm nghề nghiệp…Mình cũng có nhiều dịp tiếp xúc với bác sĩ Bách tuy là lúc mình còn thời học sinh nhưng cũng đã cảm nhận được cái thanh tao, cao cả thoát ra từ con người của ông. Mong rằng có những dịp được nhắc nhở về ông qua các bài viết ở đây để người Hà Tiên chúng ta còn có dịp tưởng nhớ lại ông, để đáp lại phần nào sự phục vụ tận tụy của ông đã cống hiến cho dân Hà Tiên thời xưa..Bây giờ mời thầy cô và các bạn trở lại câu chuyện của cây bút tả chân rất linh hoạt Quang Nguyên qua bài viết « Món nợ ân tình » sau đây. (viết lời giới thiệu TVM, Paris 15/05/2020)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Tháng mười âm lịch của năm 1983, khi lúa đã chín vàng các thẻo ruộng, anh em nhà tôi tạm gác chuyện “đất nước” (xe đất và đổi nước) để lo chuyện đồng áng, làm nông cũng rất cần sức mạnh của cơ bắp và cả sự dẻo dai, mà cái này thì tôi có thừa, thuở ấy sức của tôi mạnh lắm có thể vác bao lúa hai giạ rưỡi chạy băng băng hàng mấy trăm mét nhưng không thấy mệt, lên bờ xuống ruộng lội bùn ì oạp vẫn không ăn thua…Vậy mà dạo này tôi hay thấy mệt, cứ tưởng rằng sau một năm rời xa trường cũ bạn quê đi học ở Sài Gòn hoa lệ đã làm “biến chất” tôi rồi cũng nên? Cho đến một hôm trên đường làm ruộng về, sau khi dầm mưa lội bộ bốn cây số, về đến bến phà Hà Tiên chờ đò qua sông thì anh Khanh (gia đình bác Sáu “cò” Lương) nói với tôi rằng:

– Ê  Bé! Mày có muốn người ta tới coi mày không?       

– Chi vây? Bộ em có cái gì ngộ hả? – Tôi hỏi.

– Có gì đâu? Mày mà nằm xuống đây, tao lấy tấm chiếu đắp lại, thò hai cái chưn mày ra bảo đảm người ta bu lại coi. Ha ha ha…

– …???

– …Cái xác chết! – Anh ấy buông thêm mấy lời chòng ghẹo và cười ha hả…

Nhìn xuống đôi chân đất của mình, quả thật chân tôi chuyển màu trắng xanh đến bạch tạng, các đầu ngón thì móp méo, không một tí sắc hồng nào dù chỉ một đốm nhỏ xuyên qua những cái móng chân từ nhỏ đến to rồi từ to đến nhỏ của mình, chân tôi giờ y như chân người chết, tôi tự lý giải rằng “chắc tại mình ngâm nước suốt ngày”.  Dạo này sao da tôi trắng hỗn, không phải “bì bạch” mà vượt qua hẵn cái nền da trắng của cha mẹ đã cho từ trong ADN? Tôi lại quay về ý nghĩ rằng do lâu ngày đi học ở thành phố không được hưởng cái nắng ngọt gió mặn của Hà Tiên quê mình nên mình bớt đen chăng? Tôi cũng thấy có những sự thay đổi lạ trong người ví dụ như hay giật mình nửa đêm, làm việc mau mệt, hay vã mồ hôi bất thường, ăn không tiêu và hay choáng váng, bị chuột rút (vọp bẻ) thường xuyên… những triệu chứng này thường không làm cho tôi lo lắng vì nó chỉ thoáng qua, và thỉnh thoảng thôi.

Một hôm, khi đang vác bao lúa vừa leo lên bờ ruộng, tự dưng tôi nghe thấy tiếng u u ong ong trong tai, cảnh vật “nhảy lâm thôn” uốn éo, những nàng mây trắng bềnh bồng thi thoảng điệu đàng chầm chậm, dìu dịu nhè nhẹ vuốt từ từ cái bóng của mình, làm cho mình tan biến vô hình trước ông mặt trời già cỗi có gương mặt cau có bốc hỏa với tóc râu dựng đứng, sao hôm nay các nàng bỗng dưng giận dỗi đổi màu nửa trắng nửa đen, nhạt nhòa ảnh sắc…? Không biết các đám mây Tầng tích hay trôi bềnh bồng khiến cái thằng tôi hay mơ mộng đôi khi ngưng việc để ngước tìm, trưa nay đã có hay không vì quả thật tôi không thể nhìn xa được nữa, ánh sáng ban ngày bị tách quang phổ xanh đỏ tím vàng trộn lẫn ma quái, âm thanh bùm bụp của tiếng đập lúa, tiếng nói cười rổn rảng của bà con nông dân đang làm “dần công” với ba tôi chợt xa xa văng vẳng như vọng về từ cõi ta bà nào đó, hình ảnh nhạt nhòa của họ như bị kéo dài ra rồi lùn lại cứ giãn nở rất bất thường theo động tác cắt lúa của họ…. Rồi tất cả tối sầm lại rất nhanh cũng như khi ảo giác đến… (làm “dần công” là ngày này người ta làm phụ cho mình, ngày khác mình sẽ đi làm phụ trả lại với người ta).

Mở mắt, tôi thấy mình nằm vắt trên bờ ruộng, bao lúa văng xuống ruộng đầy nước còn đằng xa mọi người vẫn đang cắt lúa, gom lúa, và đập lúa…  Họ đang làm công việc của mình, không ai thấy tôi té xỉu, còn bản thân tôi cũng không biết mình vừa bị chuyện gì, lật đật ngồi dậy tôi thấy lạnh cả hai bên mang tai, tay chân thì bủn rủn, đầu óc rỗng tuếch, nhẹ tênh, không suy nghĩ gì được cả… Một lát sau tôi mới khoẻ lại và tiếp tục công việc, ngày ấy tôi nghĩ rằng chắc mình bị say nắng.

Hôm sau nữa khi đang cắt lúa cùng ba, vô tình tôi để lưỡi hái (liềm) cắt ngọt vào lóng tay của ngón út, tai nạn kiểu này là bình thường của những người gặt lúa bằng lưỡi hái, bất bình thường ở chỗ là máu chảy ra có màu đỏ hồng tươi (chứ không đỏ đậm), nhưng sao hắn chảy hoài không đông? Ba tôi phải rất vất vả dùng thuốc rê và nhai mấy cây cỏ gì đó, xé một miếng vải đâu đó để buộc chặt vết thương cầm máu lại cho tôi.

Đêm hôm đó ba nói chuyện cùng má sự việc này và rồi sau đó mọi người trong nhà lúc này mới nhìn kỹ lại cái cục ốm nhách cao nhồng là thằng tôi, rồi cùng nhận thấy có một sự thay đổi rõ ràng về mặt thể chất của tôi, cả nhà lập tức họp “chi bộ”, nhanh chóng ra nghị quyết là : “nó có bệnh”!

Ba bèn đưa tôi lên bệnh viện Hà Tiên khám, bác sĩ ghi nhận cái sự xanh xao vàng vọt, “lấy lời khai”, kẹp ống nghe vào tai, vị bác sĩ nghe ngóng gì đó ông ta nói “… nghe tiếng thổi tâm thu…” rồi phán rằng tôi … đau tim (?). Không thể! Vì tôi đang có trái tim khoẻ hơn tim bò mộng.

Em gái tôi quả quyết rằng tôi bị “bồ đá” nên lên cơn đau tim!

Về cái chuyện “bồ đá” thì em tôi có lý lẽ của nó.  Số là khi còn học tại trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, tôi có một cô bạn, mà việc “có bồ” trong trường trung học đâu dễ dấu được đám bạn bè ma quỷ?  Vả lại, chuyện có gì phải dấu cơ chứ bởi chúng tôi đều là học trò đang học chung một trường mà? Ngày ấy trái tim khỏe mạnh của tôi chợt một hôm loạn nhịp mỗi khi bắt gặp cặp mắt liếc bén ngót khi di chuyển bên phải tôi, rồi cũng cặp mắt ấy liệng theo hướng ngược lại khi đi ngang bên trái tôi, có hôm tôi nhận thấy chỉ có một con mắt len lén nhìn tôi qua khe cửa của phòng Ký Túc Xá nữ trên thềm cao khi tôi vào học buộc phải băng chéo lối vào dưới thấp, đôi mắt ấy khi đong đưa lúc “đứng hình” kiểu đó khiến tim tôi cứ lộn xộn dao động không biên độ như đồ thị động đất, tâm thần cứ bấn loạn nên nhanh chóng tôi “đổ sụp”, rồi không biết tự khi nào bạn bè và cả “đương sự” đều mặc nhiên công nhận như “chuyện đã rồi”… Tuy không khác những cặp đôi khác của học trò – hai đứa tôi cũng có bạn bè đưa đẩy bằng “lời ong tiếng ve” hoặc “tiếng mặn tiếng ngọt” hay “tiếng bấc tiếng chì” (học trò mà?) nhưng tình cảm nhẹ nhàng, mỏng manh ở lứa tuổi học trò mới lớn khiến tôi chưa bao giờ nói “I love you” (đương nhiên là bằng tiếng Việt!) với bạn ấy.  Dù vậy hai đứa tôi cũng như mấy « cặp » học trò khác, cũng có những cái trò thư đi tin lại với những câu chuyện thường ngày, những mâu thuẫn trong quan hệ bạn bè tự mình vẽ ra rồi thêm mắm dặm muối để không còn nhạt nhẽo như “mùi vị” ban đầu, lồng vào trong đó là các phương cách giải quyết rất ư là học trò, rất trẻ con nhưng hoàn toàn không kém phần thú vị, đó phải chăng là một “sắc thái” cơ bản thành hình, có thể nếu không có những biến cố trên ‘’con đường tình học trò’’ đó thì chúng sẽ nhiều dần tiến lên đến “50 sắc thái”? (tên của một bộ phim 2015).

Cứ thế mà trôi qua hết cả năm học lớp 11, rồi lớp 12 tôi đi học ở Sài Gòn, trước khi đi hai đứa tôi (cũng như tất cả các trường hợp đồng cảnh khác) cũng để lại bao lời hứa hẹn, đồng thời tôi bao bọc cẩn thận và mang theo hình ảnh đôi mắt bén ngót ấy vào hành trang… Cho đến một hôm tôi nhận được hung tin, rằng đôi mắt bén ngót đó đã được một chàng trai khác mà tôi rất quen biết tặng cho cục đá mài (!) Có thể nói anh ấy hơn tôi đủ điều kể cả chuyện biết cách “mài dao”.  Nghĩ đến bao nhiêu đó thôi thì máu tôi đã dồn lên tới đầu, và trong một não trạng bốc hỏa, tâm trạng đóng băng, tôi đã quyết định nhanh chóng, lạnh lùng tự tuyên bố “đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao”.  Rồi để vùi chôn chuyện tình học trò chẳng có gì đáng để buồn đó, tôi còn làm một chuyện điên khùng – không thể điên khùng hơn: vẽ “đôi mắt” ấy xuống dưới lòng bàn chân, để mỗi bước chân của tôi là một lần chôn vùi “niềm đau con nít”… (xin lỗi các bạn, đó là hành động sến súa, sai quấy và bộc phát của một thằng nhóc 17,5 tuổi!)

Tôi đã học cái kiểu “thắng lợi tinh thần” từ AQ của Lỗ Tấn.

Và em tôi cho rằng tim tôi “thổn thức tâm thu” vì câu chuyện đó, nhưng tôi biết rõ mình như thế nào, tôi đã cho chuyện của mình đi theo bụi của những con đường mà tôi đã đi qua, tinh thần của tôi rất tốt, và quả tim đó đã không đau theo cả hai nghĩa đen và bóng.

Vậy thì tại sao bác sĩ phán tôi “đau tim”?

Phải có lý do gì đó, ba tôi hồ nghi và tôi cũng không tin chuyện này, chỉ vài hôm sau ba đưa tôi qua Rạch Giá, thời ấy khi có bệnh mình sẽ không được quyền chọn bệnh viện, vì tất cả phải theo luồng tuyến, dĩ nhiên là bệnh viện Phó Cơ Điều – Rạch Giá không nhận tôi vì không có thuyên chuyển của bệnh viện Hà Tiên, ba phải dẫn ông “bác sĩ chiến khu” mà ba nhanh chóng làm quen ra trước rạp hát Châu Văn ngồi nhậu lai rai với ổng (mặc dù ba không hề biết nhậu), để được gửi gắm thằng tôi.

Ba thành công, cuối cùng tôi được nhận vào bênh viện, tôi nằm đây gần ba tuần lễ để họ tìm bệnh, thật sự họ tìm hoài, lấy máu hoài và nghe tim phổi hoài mà không có một kết quả gì rõ ràng, cuối cùng họ phán rằng tôi bị “suy đa tạng” (!) cái tên bệnh nghe thật lạ. Rằng tôi bị thiếu máu không rõ nguyên nhân, rằng suy tim, suy thận, đau bao tử, chức năng ruột suy giảm ..v.v. Ba càng lo lắng và càng rối thêm… Đêm hôm đó hai cha con đi bộ trên đường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) nói chuyện với nhau rất nhiều, ông thật sự lo lắng và trông ba rất tội, hai cha con đứng tâm sự trên cầu đúc Nguyễn Trung Trực hồi lâu đột nhiên ông hỏi thằng con trai mười tám tuổi của ông rằng nó có bị… bất lực?

Trời đất! Tôi phì cười. Thật sự ba có lý do của ba, vì tất tần tật cái gì trong người thằng lớn cũng suy, thì nghĩ làm sao mà thằng nhỏ còn đứng vững?

Rồi cũng đêm đó ba quyết định đưa tôi đi Sài Gòn tìm bệnh sau khi ba viết thư nhờ ai đó mang về Hà tiên để báo cáo tình hình với má, rồi ba mượn tiền của những người quen ở bên này để đưa tôi đi luôn…Chuyến đi này mọi vấn đề còn nằm phía trước, ba cũng không biết sẽ làm sao vào được các bệnh viện ở Sài Gòn, chỉ biết rằng cứ đi rồi tính vì tôi càng ngày càng xanh rớt, sụt cân dữ lắm rồi, lưng quần tôi phải dùng dây nylon mà buộc chứ hồi đó nghèo đến độ không có tiền mua dây nịt, nói ra thì không ai tin chứ ngày ấy quả thực tình trạng gia đình tôi là như vậy.

Phải nói rằng ba tôi có nhiều bạn quý, ba sực nhớ đến một ông bạn là một bác sĩ của VNCH thời chiến tranh, đó là bác sĩ Phạm Như Bách.  Ông này chuyên khoa mắt, được học hành bên Đức, bên Mỹ chi đó rồi theo về Hà Tiên làm giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trước năm 1975, rồi sau đó ông chuyển đi, ba đã bặt tin nhiều năm nay, chỉ biết rằng ông có phòng mạch riêng ở khu vực chợ Tân Định, và ba đã đi hỏi thăm… Những người Sài Gòn hào sảng, vui vẻ, tử tế đã dẫn ba tới phòng mạch tại gia của ông ở đường Trần Khánh Dư. (Mr. Trần Văn Mãnh đã nhiều lần nhắc đến bác sĩ Phạm Như Bách trong các bài viết trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » này).

Người Hà Tiên xưa ai lại không biết bác sĩ Phạm Như Bách? Ba nói ông là một bác sĩ giỏi, tận tâm và đáng kính… Tôi còn thấy ông đẹp trai, phong độ và nho nhã…Ba dẫn tôi tới, ba nói chuyện với ông rất lâu vì đã lâu hai người không gặp, đương nhiên chuyện của tôi vẫn là chính. Hôm sau ba dẫn tôi đến bệnh viện Trưng Vương nơi ông đang công tác (một số ít người tài giỏi của VNCH như ông may mắn được chế độ mới sử dụng), tại đây ông giới thiệu với một bác sĩ khác người miền Bắc tôi còn nhớ tên là bác sĩ Luyến, bà Luyến đưa tôi vào nhập viện ngay mà không có “on-đơ” chi cả, đủ thấy bác sĩ Bách uy tín thế nào.

Một tuần lễ trôi qua các bác sĩ chưa tìm được bệnh cho tôi, cũng phải thông cảm, đó là vào năm 1983 đất nước đang rất khó khăn, đói nghèo và lạc hậu… Các phòng xét nghiệm không hiện đại như bây giờ. Sau vài ngày lấy máu xét tới nghiệm lui, họ thấy hồng cầu suy giảm đáng kể, phần còn lại to nhỏ không đều và dị dạng, nhược sắc tới bốn cộng  (++++), và dĩ nhiên các xét nghiệm khác nữa cho thấy tôi đang sở hữu một cơ thể rã rời và yếu đuối… Một hôm, tôi thấy bác sĩ Bách nói chuyện với ba hơi lâu, trông ba rõ ràng biến sắc và khuôn mặt căng thẳng lo âu, tôi hỏi ba chuyện gì thì ba không nói.  Thoáng nhìn thấy tờ giấy chỉ định phân tích máu ba đang cầm, tôi thấy có ba chữ “nghi K máu”!  Lúc ấy, tôi nào đã hiểu “K” là gì cho đến khi tôi hết bệnh, khi ấy ba mới nói cho tôi biết là người ta nghi tôi bị ung thư máu. Ba kể rằng cầm tờ giấy trong tay mà ba đi hết muốn nổi!  Ba không tin tôi bị K máu, chỉ vì ba không muốn tin, không một người cha nào muốn tin điều đó xảy ra với con mình. Nếu thật sự tôi mà bị K máu thì chỉ có Trời cứu chứ người thì bất khả!

Tuy nhiên sau đó thật may mắn cho tôi – vô cùng may mắn cho tôi, cái số của tôi không vắn đến vậy, người ta không tìm thấy tế bào ung thư máu mà thay vào đó người ta tìm thấy một dạng “vật lạ” rất nhiều trong bệnh phẩm thải ra là… trứng giun móc. À! Thì ra tôi bị nôm na là sán lãi, thật đáng xấu hổ cho đấng nam nhi đại trượng phu này.

Do tôi đi làm ruộng bằng chân đất trong những vùng đất ẩm và nhiều phân người thải ra, vì ruộng của gia đình nằm trong khu dân cư sơ tán, người ta phóng uế bừa bãi ngoài đó, cha con, anh em tôi thì vô tư cày cấy trên đất, ấu trùng con giun móc này chui vào da ở lòng bàn chân, bàn tay, qua máu qua phổi, lên họng rồi xuống ruột… Eo ôi! Có một dạo tôi “ngậm lãi phun người” mà tôi không hề biết? Kinh thật! Bọn chúng tồn tại bằng cách bám chặt vào thành ruột của vật chủ bằng cái mỏ có mấy cái răng hình móc và cái miệng như ống giác để hút máu.  Bằng kiến thức y khoa của mình, bác sĩ bảo rằng rất nhiều đến độ không biết bao nhiêu trăm (hay ngàn?) con trong chục mét ruột rà (non già) của tôi đang chứa đầy … giun móc!

Con này có tên khoa học là Ancylostoma…gì gì đó, cái tên bằng tiếng Latin dài hơn từ Biên Hòa đi Bình Chánh! Mặc dù thân hình nó chỉ dài độ 1,5 cm (con cái) và khoảng chừng 1,2 cm (con đực) mà thôi. Mỗi ngày một con hút chừng 0,1 – 0,3 ml máu nhưng hàng trăm con như vậy thì thử hỏi tôi đâu còn máu trong người? Mà cái bọn này độc địa và lười biếng, chúng không bò đi đâu mà cứ “tứ khoái” một chỗ, muốn được vậy chúng phải tiết ra chất độc làm máu không đông, để chúng cứ ngậm và máu của vật chủ cứ tự động tuôn vào họng chúng.

Để chống lại cái đám ăn cắp hồng cầu trong cơ thể nhưng chưa bị bắt này, cơ thể ngày đêm liên tục sản xuất thêm hồng cầu nhằm bù đắp vào số lượng bị hao hụt do mất trộm, lượng hồng cầu mới xuất xưởng vội vàng có chất lượng không cao, giống như một nhà máy sản xuất cứ mãi mê theo đuổi sản lượng mà không quan tâm đến chất lượng, hay vì nhu cầu quá lớn nên yếu tố chất lượng bị bỏ qua, hàng hoá sản xuất ra chỉ toàn là loại hàng thứ phẩm. Hồng cầu không khoẻ, to nhỏ không đều, thiếu sắc tố… nên việc vận chuyển ôxy về não không đủ làm tôi hay bị mệt và ngất, ô xy và dưỡng chất không đến được các cơ bắp đầy đủ nên tôi hay bị chuột rút và mệt mỏi, hơn nữa để tăng cường lượng ôxy cho quá trình làm việc liên tục của tôi – trong tình trạng thiếu máu – buộc tim (là cái bơm, bơm máu) phải làm việc nhiều hơn trong thời gian dài nên tim của tôi mau chóng có vấn đề suy yếu.  Cùng lúc, gan thận phải gồng mình giải độc tố mà mấy thằng “giặc móc” tiết vào trong máu nên gan thận của tôi cũng suy giảm chức năng, tôi trở nên xanh chành và vàng khè ai nhìn cũng thấy ớn. Ruột không còn đủ diện tích mặt bằng để hấp thu thức ăn vì bị bọn này chiếm đóng, mà thức ăn không được hấp thu cơ thể sẽ thiếu chất trầm trọng, hơn nữa sẽ bị lên men vi sinh khiến tôi hay bị tiêu chảy và sình bụng liên tục, bao tử thì đau và thỉnh thoảng quặn thắt từng cơn…

Đột nhiên mọi bệnh lý từ nội tạng của tôi được lý giải rõ ràng như tìm được nghiệm của một hệ phương trình nhiều ẩn số…

Hai tuần ở bệnh viện Trưng Vương các bác sĩ đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh cho tôi, sau khi tìm ra được trứng giun móc tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, ba tươi vui hớn hở đi cắt tóc cạo râu (bằng lưỡi lam chứ không như bây giờ – nhổ bằng răng!), buổi sáng ba vào bệnh viện với nét rạng rỡ phong độ, diện cái áo sơ mi tay ngắn bằng vải Pho màu kem, quần tây vải Canada màu rêu, chiếc kính mát vuông màu trà với gọng đồi mồi thương hiệu của xứ Hà Tiên yêu dấu của ba, trên tay ba là một cà mèn to là phở và đầy thịt bò tái, đó là bữa ăn ân huệ cuối cùng mà ba dành cho lũ yêu quái, thì cũng ngay trong ngày hôm nay thôi người ta sẽ cho chúng một liều thuốc độc (yên tâm! Vì có thuốc sẵn, chứ không phải chờ đợi mỏi mòn như tử tù trong hành lang chờ!).  Sáng hôm đó tôi nhận thuốc Vinacor với liều nhiều lần hơn bình thường cho một người, phải uống liên tục trong một tuần như vậy, đủ thấy tôi nhiễm giun móc nhiều như thế nào. Và sau hôm đó ba nói với tôi rằng tôi ở bệnh viện vài hôm, ba sẽ đi chơi Phan Thiết thăm bà con, ba giờ được thoải mái trong suy nghĩ, không lo âu nữa, không sợ hãi nữa, ba đã cứu thằng con trai của ba, đó là thành công ngoài mong đợi, ba “tự thưởng” cho mình.

… Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi chở ba tôi đến thăm bác sĩ Bách tại phòng mạch tư gia của ông, hay khi gia đình con cháu có ai bệnh mắt tôi đều đưa đến ông, ông có “độc chiêu” là tiêm vào mắt cho những trường hợp bệnh mắt nặng và hiệu quả điều trị tốt vô cùng… Mỗi khi ba tôi ghé là ông thường nói chuyện với ba rất lâu sau khi hẹn lại các bệnh nhân khác, và sau này khi mỗi khi tôi đến ông vì khám bệnh hay vì gì thì ông mừng lắm, ông hỏi han nhiều về những người quen biết của ông năm xưa tại Hà Tiên, hẵn là xứ sở này đã “đóng dấu” vào cuộc đời của ông những kỷ niệm đẹp.

Vào một ngày tháng 3/2018, nhờ facebook của cô Dương Hồng Châu, tôi biết được ông đã giã từ chúng ta ở cõi tạm này, tôi kịp đến thay mặt ba tôi để thắp cho ông nén hương cảm ơn ông đã giúp ba cứu thằng con trai của ba, tôi cũng đồng thời “ăn ké” lời tri ân dài dòng hơn đôi chút để nói lên cảm xúc của mình trước vị ân nhân của cuộc đời riêng của tôi, bởi ngày ấy nếu không có ông có lẽ bọn ăn cắp trong cơ thể tôi đã biến tôi thành “Mummy” (xác ướp Ai Cập) mất rồi.

Quan trọng hơn hết là chỉ vài tuần ở bệnh viện Trưng Vương mà ông đã dắt tôi vào, tôi đã kịp thời nhanh chóng “lụm” tại đây cho riêng tôi nửa mảnh đời còn lại, tôi đã kịp mang về cho cha mẹ tôi một nàng dâu thảo, cho xứ sở Hà Tiên một cô giáo Trung Học mà mấy mươi năm sau học trò xưa còn nhắc nhớ… (Sẽ là câu chuyện mà tôi có dịp sẽ kể sau này).

Và cũng phải nhắc thêm nơi đây, có một lần tôi dẫn mẹ của các con tôi tới chữa mắt ở phòng mạch của bác sĩ Bách, lần đó tôi có nói cho ông biết chuyện của chúng tôi đã gặp nhau như thế nào trong bệnh viện « của ông », ông chăm chú lắng nghe và đặt vài câu bông đùa… Đó cũng là dịp duy nhất giúp tôi được nói ra những lời tri ân với vị ân nhân của mình. « Em còn nhớ ánh mắt ngạc nhiên và thích thú của ông bác sĩ già, chắc lúc đó ông nghĩ : « ai nói là trên đời không có cái gọi là ‘số phần’? » – Vợ tôi đã nói với tôi như vậy.

Đúng! Sự xuất hiện của ông trong cõi tạm này là một phần số rất ý nghĩa của tôi, phần số đó đã và đang theo cuộc đời tôi gần bốn mươi năm qua…

Tạ ơn ông, bác sĩ Phạm Như Bách – một vị bác sĩ tài ba, đức độ, nghĩa tình của xứ sở Hà Tiên chúng ta nói chung, của đại gia đình cha mẹ tôi và của riêng gia đình tôi. Ngoài ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, tôi đã nợ ông, món nợ ân tình cả cuộc đời này.

Tháng năm/2020, Quang Nguyên.

Bao thư của chính bác sĩ Phạm Như Bách gởi cho người quen năm 2007

Mẫu giấy cho toa thuốc của bác sĩ Phạm Như Bách dùng làm giấy viết thư cho gởi cho người quen.

Chú thích: Thành thật cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn đã chia sẻ cho mình một vài tài liệu cá nhân về bác sĩ Phạm Như Bách.

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong những năm giữa thập niên 70, trường Trung Học Hà Tiên có đón tiếp nhiều thầy cô đến nhậm nhiệm sở, trong số quý thầy cô, có Thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa, Sinh Vật và cô Ngô Thị Tuyết Dung dạy môn Văn. Trong thời gian giảng dạy, lúc những năm đầu sau khi tình hình đổi mới, quý thầy cô thường có công tác phụ trách nạn xóa dốt ở những thôn ấp xa xôi…Trong những chuyến công tác như vậy, thường là quý thầy cô cùng với các em học sinh đi đến tận thôn ấp, thời gian chừng vài tuần lễ, để đem anh sáng của giáo dục đến với người dân vốn thật thà, chất phác và thường còn lâm vào cảnh mù chữ…Đó là một nhiệm vụ thật cao quý, thầy cô cùng các em học sinh đã đảm trách rất thành công dù cho phải có mặt trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn về mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần…Ở ấp Trần Thệ, một ấp thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, một địa phương tuy là láng giềng của Hà Tiên chúng ta, nhưng từ xưa đến nay, người Hà Tiên ít khi lui tới vì tình hình còn khó khăn, câu chuyện những ngày xóa dốt được cô Ngô Thị Tuyết Dung kể lại đây cho chúng ta hình dung được những ngày khó khăn đi công tác giáo dục như thế,..Cô Tuyết Dung cũng qua bài viết nầy, muốn trang trải với chúng ta, những con người của quê nhà Hà Tiên, một tình cảm quyến luyến, thương nhớ về mảnh đất mà cô thầy ngày xưa từng sinh sống và thực hành chức năng nhà giáo,…Có thể nói như cô đã tâm sự qua bài viết, cô trả xong món nợ với dân tình Hà Tiên, nhưng theo thiển ý mình thì Hà Tiên thân thương vẫn còn mãi trong tâm khảm của thầy cô, mỗi người trong chúng ta cứ giữ mãi trong lòng mình một chút tình cảm ngày xưa, một mảnh nhỏ ký ức về trường lớp Hà Tiên, một món nợ tinh thần về những kỷ niệm vui có buồn có, sung sướng trong tinh thần, khổ cực qua thân xác, nhưng tất cả sẽ sống mãi trong chúng ta, dù người còn ở lại Hà Tiên, người đã đi xa bên kia bờ Đại Dương, hay ngay cả với những người đã ra đi vì đã xong kiếp người,…Cũng như cô đã nói, bây giờ cô có thể « vổ tay reo » vì đã trang trải được tình cảm, ký ức với học trò ngày xưa…(Paris, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 08/05/2020)

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Hà Tiên ..Những ngày tháng ấy, tưởng rằng đã quên, nay sao bỗng nhớ …rời rạc một mảnh vụn ký ức một thời… 

Gần cuối năm đó, cô trò lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi xóa dốt ở ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành. Nơi đây là vùng kinh tế mới, đồng không mông quạnh, còn sót lại vài hố bom – vết tích chiến tranh – chứa nước phèn. Cư dân ít ỏi, ở lác đác trong những mái tranh đơn sơ. Trẻ con, người lớn đen đủi  ốm o, đứng ngồi tối ngày trước sân, lơ thơ mấy khóm rau, cuống hành!
Mấy ngày đầu đối với cô trò lớp 8A là cả một sự đối phó và thích nghi hãi hùng! Một cô giáo trẻ và 6 học sinh, 2 nam 4 nữ ở dồn trong một túp lều tranh cửa nẻo chông chênh, nền đất trống trải! Ngăn trước đủ kê một nan giường tre với một tấm bảng trên phên vách. Ngăn sau nhỏ, nền thấp hơn, trống hoác với vài ba cục gạch vương vãi tro tàn, làm nơi nổi lửa nấu nướng qua ngày (nhà này là nơi tạm trú của thầy giáo địa phương đặc trách xoá dốt cho cư dân vùng kinh tế mới, nay tạm bàn giao cho cô trò lớp 8A trong khoảng một tháng (?)). Đêm đầu tiên cô trò không sao ngủ được! Không điện, không nước, không một chút an toàn nào trong mầu tối đen với những bước chân, tiếng động rình rập quanh nhà! Đêm sau: cô giáo nằm tót trong cùng, kế đến là mấy cô bé nhút nhát: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên, Nghĩa. Ngoài là  cậu nhỏ Hà Dũng, Mình Nhựt to con giọng ồn ào can đảm nằm ngoài cùng, nối kết với một hệ thống chuông báo động tinh vi tự chế bao gồm dây nhợ và ống lon phục kích ngay cửa ra vào! May sao, đêm đó không nghe động tịnh gì! Chắc kẻ gian thấy mấy cô trò tội nghiệp quá nên tha cho làm phước!

Thế là quen dần, hết cả sợ. Mấy cô trò bắt đầu lên lịch công tác xoá dốt. Đầu tiên là chiêu mộ người học. Sau đó phân công nhiệm vụ: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên lên lớp ngay tại lều ở của mấy cô trò. Hà Dũng, Minh Nhựt hăng hái qua vùng phụ cận đảm nhiệm xoá dốt cho bà con Khmer. Riêng cô bé hạt tiêu Nghĩa dùng tài tháo vát đảm đang của mình phụ giúp cô giáo làm hậu cần! Mỗi ngày em xung phong đi kiếm nhặt củi khô vùng cỏ cháy đem về cho cô nấu cơm. Những buổi nổi lửa cay mắt phùng hơi mà gió thổi bạt tứ bề không sao chụm nổi ngọn lửa chín cơm! Nước không có, cô trò phải đi xách từng lon nước phèn ngoài mấy hố bom. Thức ăn toàn lương thực khô đem theo từ Hà tiên, thảng hoặc mấy cậu học trò hí hửng  đem về ít cá lóc con con rồi ra công làm cá thiệt là điệu nghệ. Bữa no bữa đói, ngày vui ngày lo ..Dân tình ban đầu có phần tò mò đến học cho biết cái chữ cái nghĩa, nhưng thưa thớt dần bởi cuộc sống khó khăn vùng kinh tế mới. Còn giữ lại là tình làng nghĩa xóm trước lạ sau quen, nhất là đồng bào thiểu số người Khmer, họ chân chất thật thà lưu chân người đi xoá dốt bằng các món đặc sản, đường thốt nốt, đệm giỏ đan lát rất tiện dụng!

Thời gian qua … rồi cũng đến ngày hành quân trở về đơn vị xuất phát. Từ giã bà con ấp Trần Thệ … Trở về lại trường lớp HÀ TIÊN, tiếp tục hoàn tất năm học… với giáo án, phấn trắng, bảng đen và những buổi học xen kẽ phần đọc phân vai tiếp cận tác phẩm, hoặc hoạt cảnh sinh động cuối tiết nếu dư giờ… Năm chủ nhiệm lớp 8A là mảnh tranh ký ức đậm màu nhất trong đời cô giáo, một thời tác nghiệp ở miền đất hoa gấm Hà tiên!

Tác giả, cô Ngô Thị Tuyết Dung, cô giáo dạy môn Văn, trong khoảng thời gian những năm 70 trường Trung Học Hà Tiên.

Vị trí Ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, nơi cô Ngô Thị Tuyết Dung và lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi công tác xóa dốt.

Chùa Quảng Tế Phật Đường (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu trong Blog về mục « Hà Tiên phố xưa » đã có bài về ngôi chùa xưa « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » mà không viết về ngôi chùa « Quảng Tế Phật Đường » là một thiếu sót lớn. Thật vậy ngoài vị trí rất quan trọng và chủ yếu của ngôi chùa Tam Bảo đối với Hà Tiên chúng ta, ngôi chùa Phật Đường cũng không kém phần quan trọng. Nếu tính theo nguồn gốc và thời gian xây cất thì ta có thể xếp ngôi chùa Phật Đường vào thứ bậc một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của Hà Tiên chúng ta. Theo thứ tự thời gian, ta có thể xem thang bậc xuất hiện những ngôi chùa hay ngôi đình miếu ở Hà Tiên như sau:

Chùa Tam Bảo: khoảng thời gian 1708-1718
Đình Thần Thành Hoàng Mỹ Đức: 1820
Chùa Phù Dung (núi Bình San): 1845
Đền Thờ Mạc Cửu (núi Bình San): 1846
Chùa Quảng Tế Phật Đường: 1863
Chùa Bà Mã Châu: 1869
Chùa Phật Đà (chùa Lò gạch): 1945

Ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường chiếm một vai trò tinh thần và tôn giáo rất to lớn đối với những gia đình theo đạo Phật ở Hà Tiên, nhất là đối với những gia đình người gốc Hoa. Thật vậy, đối với gia đình của mình ở Hà Tiên, chính ngôi chùa Phật Đường là nơi gặp gở của ông và bà ngoại của mình ngày xưa. Bà ngoại của mình vốn là một trong những chị em dòng dỏi người tu ở Nhà Bàng, Châu Đốc, khi bà ngoại mình vào Hà Tiên đi hành hương ở chùa Phật Đường thì gặp ông ngoại mình ở nơi đây và sau đó hai người kết hợp với nhau. Mỗi năm cứ sau ba ngày Tết Nguyên Đán thì bà ngoại bắt đầu một chuyến đi cúng chùa, ngôi chùa đầu tiên chính là chùa Phật Đường. Đó là vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch, đúng là ngày cúng sao mỗi năm cả nhà chuẩn bị đi chùa Phật Đường để cúng sao. Đầu tiên là phải ghi rỏ tên họ tất cả mọi người trong nhà không phân biệt lớn nhỏ gởi cho quý vị trụ trì trong chùa và kèm theo tiền cúng chùa. Mình còn nhớ thời gian đó có ông Sáu ở chùa thường hay chạy chiếc xe đạp « đòn dong » ra chợ và ghé nhà mình để nhận giấy viết tên họ cúng sao và tiền cúng chùa, ngoài ra ông cũng thường ghé nhà mình thăm ông bà ngoại. Đến ngày cúng sao, bà ngoại dẫn ba anh em mình đi chùa, vào buổi tối…Khi vào chùa, bà ngoại thường kêu ba đứa cháu đến chào một hai bà cụ rất cao tuổi, đều là người quen biết với bà ngoại mình, cả ba anh em mình đến ngay tại căn phòng của quý cụ bà nầy, khoanh tay chào rất kính cẩn, quý bà cụ rất vui vẻ, hỏi thăm việc học hành và thường hay xoa đầu anh em mình…mà lúc đó mình lại cũng hay sợ quý bà cụ nầy, có lẻ vì thấy quý cụ bà rất cao tuổi…(lúc đó mình còn nhớ là có cô Tư Thọ, quen rất nhiều với bà ngoại mình, cô Tư thường hay kêu đem chè khi cúng xong cho mấy anh em mình ăn…)

Rồi đến lúc vào xếp hàng quỳ ở chánh điện để làm lễ cúng Phật và nghe thầy đọc tên mọi người trong gia đình. Mình vẫn còn nhớ là lần nào cũng nghe rỏ tiếng thầy đọc tên ông, bà ngoại, vú và tên các anh em mình. Sau thời gian cúng và đọc tên mọi người, đến lúc bà ngoại thả cho mấy anh em mình đi quanh quẩn dạo chơi trong và ngoài sân chùa. Bên ngoài sân chùa chung quanh đều có sân trồng cây cảnh, cây xanh rất xinh đẹp, hồi trước người dân thường đi vào chùa bằng lối đi phía bên hông chùa, cạnh đường Mạc Thiên Tích vì gần cổng chánh phía trước thường có bụi cây cỏ rậm rạp nên ít người dùng lối nầy để vào chùa. Gần cổng chánh phía trước chùa có một miệng giếng tròn to, thành giếng cẩn đá hộc, anh em mình hay đứng đó nhìn vào giếng..Đêm tối trong sân chùa có ánh đèn điện chiếu sáng, ánh sáng xuyên qua các cành lá tạo ra một khung cảnh rất thanh tịnh và cũng không kém phần huyền bí, không gian im lặng và có chen lẫn tiếng dế kêu nho nhỏ……Vì lúc đó mình vẫn còn rất nhỏ tuổi, ở tuổi trẻ thơ, nên nhìn thấy sân chùa có vẻ rất huyền bí và rất rộng…Mấy anh em chạy chậm chậm chung quanh ngôi chùa, mình còn nhớ lần nào cũng gặp một cô bạn tuy không học cùng lớp nhưng cùng trường Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Phan Kim Chi, cháu của Ông Ký Phan Kim Tố (có một thời gian ông chính là một nghị sĩ Quốc Hội của nền Đệ Nhất Cộng Hòa nước Việt Nam 1955-1963). Vì đều là trẻ con nên khi chạy quanh chùa và nhiều lần đụng mặt nhau,  mình và Kim Chi cũng chỉ cười bẻn lẻn, không ai dám nói chuyện với ai cả, rất ngượng ngùng mắc cở, không ai nói chuyện gì với nhau cả tuy đã quen biết nhau. Kim Chi cũng có một người em trai tên là Phan Kim Quang, sau nầy mình cũng có nhiều dịp đi chơi chung với Quang, vì Quang học cùng lớp với các bạn cùng đi chơi với mình như Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh…Nhà của hai chị em Phan Kim Chi và Phan Kim Quang ở phía dưới Cầu Câu, đường Nguyễn Thần Hiến, mình cũng thường đi chơi lúc đạp xe đạp hoặc thả bộ đi trên con đường đó mỗi buổi chiều, lần nào đi ngang cũng ghé mắt nhìn xem có ai trong nhà không …!! Mãi sau nầy đến khi quen biết kết bạn bè trên mạng face book, mình quen được với cô bạn tên Therese Tran (tên Việt là Trần Thị Nhung) mình mới hiểu rỏ nhiều hơn về gia đình và gốc gác của Kim Chi và Kim Quang, rốt cuộc hai bạn đều là cháu ruột của cô Chín Phan Thị Triệu, ngày xưa cô Chín Triệu có thời gian làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên và cũng có lúc cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, Kim Chi và Kim Quang đều là anh chị em vai cô cậu với Therese Tran.

Bên trong chùa Phật Đường, phía sau chánh điện là một căn phòng rộng lớn, mình còn nhớ rất rỏ là ngay sau vách tường của chánh điện, mặt trước là bàn thờ Phật, và mặt sau vách tường nầy trong căn phòng giữa phía trên cao có treo một bức tranh vẻ một cảnh xưa của nước Pháp, loại tranh to lớn và hình thức như những bức tranh của Viện Bảo Tàng nước Pháp. Phía bên trái có một cái bàn mà ngày xưa đó là nơi bàn học của một người bạn tên Ngọc, ở Rạch Giá sang theo học ở Trung Học Hà Tiên (Ngọc học cùng lớp với anh Trần Văn Dõng, người rất đẹp trai và rất có dáng thư sinh). Vì chùa Phật Đường ngày xưa cũng rất hay giúp học sinh nghèo nên chùa có chấp nhận cho một vài học sinh trú ngụ trong thời gian theo học ở Hà Tiên.  Mình còn nhớ, ngoài bạn Ngọc ra, còn có một người bạn khác cũng theo ở trọ trong chùa để theo học ở Trung Học Hà Tiên, người nầy là bạn của Trần Tiên, có lúc Trần Tiên dẫn mình vào chùa Phật Đường để thăm người bạn nầy, rất tiếc là mình không còn nhớ tên của người bạn nầy, lúc đó người bạn nầy còn lén mấy vị trụ trì trong chùa, mua một chai rượu trắng nhỏ và rũ mình và Trần Tiên uống rượu…

Trở lại buổi tối cúng sao ở chùa Phật Đường, sau khi cúng Phật, đọc tên cầu an, mọi người giúp ban quản trị của chùa dọn các món cúng trên các bàn thờ, cúng sao thì chùa có nấu chè và xôi để dâng cúng Phật, có rất nhiều cô bác quen biết chung quanh chợ Hà Tiên lên chùa trong buổi cúng sao nầy nên mình cũng gặp rất nhiều vị, trong đó có má của người bạn tên Sện (tên chánh là Tường, con của ông bà chủ tiệm Trồng Răng Phục Hưng ở đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên), Đến lúc nầy thì mấy nhóc trẻ con bắt đầu nhốn nháo phía sau hậu liêu của chùa vì đã đến lúc được ông bà, cha mẹ cho phép ăn chè,…Ba anh em của mình cũng được phân phát cho mỗi đứa một chén chè, có xôi trộn vào, ăn rất ngon,…có lẻ đó là động cơ chánh trong những lý do phải theo bà ngoại đi chùa ngày cúng sao…

Bây giờ mình nói đến vị trí của ngôi chùa Phật Đường nầy. Ngôi chùa Phật Đường nằm trong khuôn viên của một tứ giác do bốn con đường thành lập. Phía trước mặt chánh của chùa là đường Chi Lăng, bên phải ngôi chùa (nếu đứng trước mặt chùa ở đường Chi Lăng nhìn vào) là đường Mạc Thiên Tích, sau lưng ngôi chùa cách một khoảng đất rộng là đường Mạc Cửu và bên trái ngôi chùa phía xa ra là một con đường nhỏ không tên…Ngoài cửa chánh để vào chùa trên con đường Chi Lăng, bên đường Mạc Thiên Tích cũng có một cửa phụ để vào ngay phía nhà hậu liêu của ngôi chùa, ngày xưa khi mình có dịp đi chùa Phật Đường, mình thường vào chùa bằng cửa nầy. Trong khu vực tứ giác nói trên, trên đường Mạc Thiên Tích, phía sau chùa Phật Đường là Miếu Quan Thánh (người Hà Tiên thường gọi là chùa Năm Ông). Ở ngay góc nhọn nơi giao nhau của hai con đường Mạc Thiên Tích và Mạc Cửu ngày xưa là Nhà Đèn, nơi có những máy đèn cung cấp nguồn điện cho toàn khu vực Hà Tiên, ngày nay chính là trụ sở của Công Ty Điện lực Kiên Giang – Điện lực Hà Tiên.  Ngay gần phía sau chùa Phật Đường, hơi lùi vào bên trong, có một miếng đất rộng, nơi có một căn nhà ngói rất to lớn, đó là ngôi nhà của gia đình chị Mỹ Dung, chị có người chị bán bánh xôi vị rất ngon  trong nhà lồng chợ cũ Hà Tiên ngày xưa, chị Mỹ Dung học trường Trung Học Hà Tiên trước mình rất nhiều lớp, chị rất hiền, nhu mì, nói năng nhỏ nhẹ và cũng là một cô gái rất đẹp.

Cổng chánh chùa Quảng Tế Phật Đường ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Hình TVM 2012

Sơ đồ chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên: 1= Chùa Phật Đường, 2= Quan Thánh Miếu, 3= Công ty Điện lực Kiên Giang-Điện lực Hà Tiên, 4= Ngôi nhà ngói lớn của gia đình chị Mỹ Dung.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phật Đường:

Góc nhìn khác của ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, 2018

Ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên được thành lập vào năm Quý Hợi 1863 và thuộc hệ phái Minh Sư Đạo (tên đầy đủ là Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo). Môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo có nguồn gốc Phật Giáo Thiền Tông bên Trung Quốc từ đời Tổ Sư thứ sáu Huệ Năng (638-713).Sau rất nhiều thế kỷ thăng trầm, lúc bị đàn áp, lúc hưng thịnh, cho đến cuối thế kỷ thứ 19, được sự phân công của vị truyền thừa thứ 16, ngài Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879) sang Việt Nam truyền đạo vào lúc đời Tự Đức thứ 16. Đầu tiên ngài lập ra một ngôi chùa lấy tên Chiếu Minh Phật Đường tại địa điểm Cầu Kho (Chợ Lớn). Sau đó khi ngài sang Thái Lan khai đạo, trên đường trở lại Việt Nam, vì có trở ngại thời Pháp chiếm ba tỉnh miền đông, ngài ghé lại Hà Tiên và thành lập một ngôi chùa thứ hai của hệ phái Phật Đường, đặt tên ngôi chùa là Quảng Tế Phật Đường, đó là ngôi chùa Phật Đường hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Điều nầy đủ chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị lịch sử của ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên, vì đó là ngôi chùa đầu tiên thứ hai (sau chùa Chiếu Minh Phật Đường ở Chợ Lớn) của môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo trên đất nước Việt Nam. Lúc nầy ngôi chùa chỉ lợp lá đơn sơ và được sự đóng góp, giúp đở nhân lực, tài chánh của những người Minh Hương và các vị thân hào nhân sĩ kỳ cựu ở Hà Tiên. Từ đó quý nhân sĩ, trí thức Hà Tiên tìm đến quy y cầu đạo, số tín đồ ngày càng phát triển, việc truyền giáo gặp thuận lợi và cảnh chùa ngày càng thêm sung túc.

Đến năm 1937 tu sĩ Trần Văn Tiền, pháp danh Xuân Hòa với chức vụ Giáo phẩm Thiên Ân được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Công lao của ngài là đã chỉnh trang lại ngôi Phật Đường bằng gạch ngói kiên cố, tổ chức ban quản trị trụ trì việc hành chánh trong chùa và lại tạo bộ phận làm kinh tế gây quỹ cho chùa bằng việc làm tương chao, nấu đậu hủ, nuôi dấm, trong công việc kinh tế nầy có rất người người địa phương giúp đở và công quả cho chùa. Thời gian nầy còn có tu sĩ Nguyễn Thị Thu (Mỹ Hương), cô Bảy, cô Tám cùng hành đạo ở chùa. Ngài làm việc liên tục 25 năm thì ngả bệnh qua đời tại chùa (1937-1962), mộ phần được tôn tại ở Hà Tiên.

Tiếp theo đó, Lão Sư Trần Vận Hưng ở chùa Nam Nhã (Cần Thơ) được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên (dân địa phương Hà Tiên gọi ông là Ông Sáu Thợ Mộc), trong thời gian nầy có Bà Trần Thị Thọ, pháp danh Nghiêm Kỉnh, vốn là con gái của tu sĩ Xuân Hòa, khi ông mất đi, bà ở lại chùa nối tiếp đường tu, hộ đạo công quả. Đến năm 1968 trong lần về thăm chùa Nam Nhã, Lão Sư lâm bệnh đột ngột và qua đời tại chùa Nam Nhã Phật Đường.

Trong thời gian cùng năm nầy Minh Sư Đạo được chánh phủ công nhận và giáo hội trung ương được thành lập, Đức Tổ Vương Đạo Thâm cử hai vị về chùa trụ trì: Cô Thái Trần Ngọc Liêng (thường gọi là Cô Thái Bảy) và thầy Nguyễn Xương Thành (thế danh Nguyễn Văn Chùng). Vì hoàn cảnh có trách nhiệm ở chùa Phước Tế Vĩnh Long nên cô Thái Bảy thỉnh thoảng tới lui hoạt động ở chùa Phật Đường Hà Tiên, chỉ có thầy Xương Thành thì thường trực tại chùa. Ban trị sự chùa trong thời gian nầy gồm quý vị: thầy Trần Văn Hương (trưởng ban), cô Phan Thị Triệu (phó ban), quý vị Phạm Đình Khương, Phạm Thị Thìn và Trần Mỹ Hương là ủy viên, cùng trông lo Phật sự còn có cô Tư Thọ. Thầy Xương Thành tổ chức khám bệnh, châm cứu giúp dân địa phương rất nhiều. Từ đó được dân tình tín nhiệm và ủng hộ, thầy mở mang xây dựng thêm nhà kho, tậu mua thêm nhiều vật dụng cho chùa. Đến năm 1977 hoàn cảnh chiến tranh biên giới gây khó khăn, cô Thái bảy và thầy đều trở về quê, Phật tử cũng ít tới lui chùa, ban quản trị cũng tự giải tán. Đến năm 1979, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại, được chánh quyền địa phương giúp đở thuận lợi, chùa Quảng Tế Phật Đường hoạt động trở lại, bà Trần Thị Thọ cùng một số Phật Tử hộ đạo trở về chùa khôi phục việc cúng kiến, tu hành. Công việc chùa được ổn định và có nấu nướng thức ăn chay để gây quỹ tự túc. Cô Thái Bảy thỉnh thoảng trở lại Hà Tiên thăm viếng và hành đạo.

Năm 1989 bà Trần Thị Thọ qua đời tại chùa. Cô Thái Trần Ngọc Liêng trở về chùa khởi công tu sửa nhà hậu tổ và xin gia nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đồng thời cô Thái Bảy đề cử ông Nguyễn Văn Tường đạo danh Thiện Phú cư sĩ cấp nhị bộ ở chùa Phước Tế Vĩnh Long về công quả ở chùa Phật Đường Hà Tiên. Sau đó cô Thái Bảy cũng dặn dò, gởi gắm mọi đạo sự của chùa Phật Đường Hà Tiên cho Ban Hộ Trì trong những khi cô vắng mặt. Cô trở về chùa Phước Tế và do tuổi cao, sức yếu nên không đi lại được nữa.

Năm 1997, sau khi công quả tại chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên được 8 năm, tu sĩ Thiện Phú trở về chùa Phước Tế, cô Thái Bảy ủy quyền việc trọng nhậm tạm thời chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cho hai vị thượng nhân: Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí, trụ trì chùa Tế Sanh Phật Đường ở Vĩnh Long và Cô Thái Phạm Ngọc Anh, trụ trì chùa Huệ Nam Phật Đường ở Cần Thơ. Hai vị hoan hỉ nhận việc và cùng với công đức bá tánh, các đạo hữu tại Hà Tiên, Vĩnh Long, Cần Thơ, chùa Phật Đường Hà Tiên được hoàn công sau một tháng tu bổ. Trong ngày diễn ra buổi lễ bàn giao tiếp nhận chùa, hai vị thượng nhân trọng nhậm đã cử hai vị Thiên Ân lãnh trách nhiệm trụ trì chánh thức chùa Phật Đường Hà Tiên kể từ thời gian nầy. Đó là hai vị: Cô Lê Thị Kim Anh, pháp danh Ngọc Chi, tu tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ làm Chánh trụ trì, Thầy Lê Văn Sách, pháp danh Hữu Hạnh, tu tại chùa Nam Nhã Phật Đường Cần Thơ làm phó trụ trì. Sau lần cũng cố nhân sự nầy, đạo sự ở chùa Quảng Tế Phật Đường đi vào nề nếp, người dân Hà Tiên tới lui đông đảo và ủng hộ chùa về mọi mặt.

Đến ngày mùng một tháng 8 Âm lịch (năm 2006), Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí sau nhiều tháng ngả bệnh nặng, đã quy tiên. Ngày mùng 9 tháng 11 Âm lịch (năm 2009) Cô Thái Phạm Ngọc Anh quy tiên tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ sau nhiều thời gian lâm trọng bệnh. Đó là sự mất mát to lớn của toàn môn phái Minh Sư Đạo và đặc biệt là đối với chùa Quảng Tế Phật Đường vì hai vị, nhất là Đại Lão Sư đã quan tâm rất nhiều đến việc đạo sự của chùa, cho đến hiện nay chùa vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm và ấn tượng khó phai đối với Đại lão Sư.

Nhân dịp đại hội toàn phái Minh Sư Đạo (năm 2008), ban giáo hội trung ương đã chỉ thị các Phật Đường hoàn chỉnh ban trị sự, trong đó chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cũng thực hiện bầu cử ban trị sự của nhiệm kỳ 2008-2013, ban trị sự đã được thành lập và ra mắt gồm 7 vị:

Cô Thái Lê Ngọc Chi: trưởng ban
Cô Phan Thị Triệu và Ông Phan Văn Đây: phó ban
Cô Huỳnh Nghiêm Trang: thư ký
Cô Lâm Xuân Mỹ: thủ quỹ
Cô Huỳnh Thị Xuân Phượng và cô Huỳnh Thị Xuân Đào: ủy viên.

Từ năm 1997 đến năm 2007 ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên đã được tu sửa như sau: lợp mới khu chánh điện, lót gạch nhà hậu tổ. Xây dựng nhà khói, xây dựng hàng rào kiên cố vành đai chùa. Tu sửa nhà kho, tất cả đều do công lao, vật chất, tiền bạc của chư Phật Tử, đạo hữu xa gần và nhất là có phần đóng góp không nhỏ của Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí. Ngoài công việc đạo sự ở chùa, ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên còn góp phần vào công tác từ thiện xã hội, phân phối lương thực, sách vở, tập viết cho dân và học sinh nghèo, tích cực ủng hộ và tham gia ở địa phương qua các phong trào xóa đói, giảm nghèo, cứu dân trong thiên tai, bảo lụt, bảo trợ bệnh nhân nghèo.

Hình trái: Chân dung Đức Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879), người sáng lập chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên và truyền Minh Sư Đạo tại Việt Nam. Hình phải: Ông Đốc Lý Văn Nhơn. Hình thờ tại chùa Phật Đường Hà Tiên. Hình: Therese Tran

Tóm lại ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên là một trong những ngôi cổ tự ở Hà Tiên, chùa mang đậm nét lịch sử của thời khai đạo mà chính Đức Đông Sơ Tổ Sư từ bên Trung Hoa sang đặt nền móng « dựng chùa, khai đạo, truyền giáo ». Cho đến ngày nay qua xuyên suốt hơn 150 năm qua, so với các chùa đồng môn đã và đang hành đạo rải rác ở khắp nơi trên ba miền đất nước, chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên có một vị trí rất quan trọng, tiêu biểu cho toàn phái đạo, xứng đáng được tôn vinh, là con cháu dòng dõi người Hà Tiên, tất cả chúng ta đều có bổn phận gìn giữ tốt đẹp ngôi cổ tự Quảng Tế Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo tại Hà Tiên được vĩnh viễn trường tồn.

C/ Vài nét về hệ phái Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo:

Thời kỷ bên Trung Hoa: Phật Đường Minh Sư là một hệ phái Phật Giáo mang tính cứu thế, phổ độ, kính thờ Đức Phật, tu tiên và sinh hoạt theo Nho Giáo. Trong số 17 đời Đức Tổ, ngài Hoàng Nhẫn là Đức Tổ thứ 5 có nhiều môn đệ, trong đó có hai ngài là Thần Tú và Huệ Năng (Đời Đường 638-713). Khi Đức Tổ Hoàng Nhẫn liễu đạo, ngài truyền thừa cho ngài Huệ Năng (lục tổ). Phật giáo lúc đó chia thành hai nhánh: một do ngài Thần Tú mở đạo, Bắc Tông, một do ngài Huệ Năng dẫn dắt, Nam Tông. Sau khi ngài Huệ Năng liễu đạo, 70 năm đạo pháp bị đình đốn, đến năm 783 có thiền sư Mẫu Công Đạo Nhất và cư sĩ Bạch Ngọc (tỉnh Tây Giang) song thừa kế vị Đức Tổ thứ 7 cùng chấn hưng đạo pháp. Sau đó ngài La Công Húy đắc pháp thành đời tổ thứ 8 và được vua nhà Đường kính trọng. Đến đời vua Thế Tôn nhà Hậu Chu (năm 955), Phật giáo bị pháp nạn vì phong trào « phá hủy Phật tự »…Sau đó hơn 800 năm đến cuối nhà Minh, tông phái Phật Đường mới được phục hưng, năm 1623 ngài Hoàng Công Đức Huy đắc pháp thành Đức Tổ thứ 9, sau đó là ngài Ngô Công Tinh Lâm, Đức Tổ thứ 10 và ngài Hà Lão Huệ Minh, Đức Tổ thứ 11. Ngài Viên Thốn An được truyền trao Pháp đạo thành Đức Tổ thứ 12.  Đến đời Đức Tổ thứ 13 là song hành hai vị: ngài Vương Công Hườn Hư hành đạo về phía bắc và ngài Từ Hườn Vô mở đạo về hướng nam. Đến khi nhà Thanh tiếp nối nhà Minh (năm 1863, cùng thời vua Tự Đức thứ 16 bên nước Việt Nam ta), ngài Đông Sơ Tổ Sư được cử đi đưa sự nghiệp đạo pháp đến các nước Thái Lan và Việt Nam, từ đó hệ phái Phật Đường Nam Tông được truyền đến nước Việt Nam: thành lập ngôi chùa đầu tiên là Chiếu Minh Phật Đường tại Cầu Kho Chợ Lớn và ngôi chùa thứ hai là Quảng Tế Phật Đường tại Hà Tiên.

Thời kỳ bên Việt Nam: Hệ phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo sau khi lập hai chùa Phật Đường ở Chợ Lớn và Hà Tiên, bắt đầu phát triển với số bổn đạo ngày càng đông. Ngài Lão Sư Ngô Cẩm Tuyền xây ngôi chùa Ngọc Hoàng tại Đa Kao, quận 1 Sài Gòn, năm 1900, sau đó chùa được chuyển sang chùa Phật, sau đó ngài cũng xây một ngôi chùa Phật Đường khác cũng tại quận 1, Sài Gòn vào năm 1920, đặt tên là Quang Nam Phật Đường. Lúc nầy với những ngôi chùa Minh Sư Đạo đầu tiên chỉ để thu hút người mộ đạo Minh Hương, dần dần đã có hơn 50 Phật Đường trên toàn nước Việt Nam. Về thờ phượng, chùa Phật Đường Minh Sư Đạo tôn thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Tử và Đức Thái Thượng Lão Quân. 

Hiện nay Minh Sư Đạo có hơn 50 Phật Đường hoạt động ở khắp 18 tỉnh, thành phố, với 300 chức sắc, hơn 1262 chức việc và trên 11000 tu sĩ, tín đồ. Tổ Đình Minh Sư Đạo đặt tại chùa Quang Nam Phật Đường, quận 1 TP HCM.

D/ Chú thích:

1/ Phần một:  Người dân Hà Tiên chúng ta rất hâm mộ đạo dù cho theo khuynh hướng nào cũng vậy. Ở Hà Tiên có đủ các tôn giáo cùng hòa đồng sinh hoạt với nhau: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Cao Đài,…Tất cả các tôn giáo nầy đều có rất nhiều tín đồ,, đa số đều có thực hành các quy lễ như đi chùa, đi nhà thờ cúng  lễ đều đặn. Đối với hệ phái Phật Đường Minh Sư Đạo, ngay từ khi Đức Trưởng Lão Đông Sơ ghé Hà Tiên thành lập ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường vào năm 1863, đã có sự tiếp đón, ủng hộ, góp công sức của người mộ đạo Hà Tiên, nhất là những người Minh Hương sinh sống tại Hà Tiên. Vào những năm cuối của thập niên đó (cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ thứ 20) sau khi Trưởng Lão liễu đạo thì có nhiều gia đình kỳ cựu ở chung quanh chợ Hà Tiên đã đóng góp rất nhiều trong việc củng cố, trị sự và phát triển ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường. Ta có thể kể ra vài gia đình tiêu biểu như: gia đình ông Huỳnh Đăng Khoa và phu nhân là bà Trần Thanh Tùng (Ông bà Cố của bạn Therese Tran), rồi đến đời ông Phan Kim Tố (Nghị sĩ Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, Ông ngoại của bạn Therese Tran), sau đó đến đời quý vị ái nữ của ông, trong đó có cô Chín Phan Thị Triệu (Dì Chín của bạn Therese Tran), từ đời ông bà cho đến đời sau, gia đình của cô Chín Triệu đã không ngừng tham gia vào việc xây cất, chỉnh tu, và quản trị trong ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, đó là một việc làm rất đáng được người dân Hà Tiên chúng ta khâm phục và ghi nhớ. Ngoài ra còn có gia đình của ông Đốc Hà Văn Điền (thân phụ của cô Ba Hà Thị Bích Thủy và cô giáo Hà Thị Hồng Loan), gia đình của Thầy Trần Văn Hương (Ông từng là Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Hà Tiên), gia đình ông Đốc Lý Văn Nhơn,…Những gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên nầy đã có công góp sức và thời giờ rất nhiều trong công việc tạo dựng và quản trị ngôi chùa, mình nêu sự việc lên đây mong người Hà Tiên chúng ta luôn nhắc nhở và ghi nhớ để em cháu về sau còn biết được và theo gương sinh hoạt đó. Đặc biệt trước khi viết bài về ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường nầy, mình đã nhờ đến sự giúp đở của bạn Therese Tran rất nhiều, nhờ bạn đã chuyển giao cho mình nhiều hình ảnh, thông tin tư liệu về nguồn gốc ngôi chùa do cô Chín Phan Thị Triệu còn lưu giữ và thảo ra nên mình mới có được những chi tiết, tên họ chính xác trong bài viết. Xin qua những dòng chữ nầy kính gởi đến cô Chín Phan Thị Triệu và bạn Therese Tran lời cám ơn trân trọng về sự giúp đở quý báu nầy.

Từ trái qua phải: Cô Chín Phan Thị Triệu, cô Lý Ánh Nguyệt và cô Ba Hà Thị Bích Thủy. Hà Tiên, 1950-1960, Hình Lâm Xuân Mỹ

Từ trái qua phải: Thân mẫu của bạn Therese Tran, cô Ba Hà Thị Bích Thủy, cô Chín Phan Thị Triệu và Thầy Trần Văn Hương. Hình: Therese Tran, 1991

Cô Chín Phan Thị Triệu (một trong những ái nữ của ngài Nghị Sĩ Phan Kim Tố, gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên). Cô Chín từng làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên trong những năm 50-60, sau 1975 Cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, đồng thời Cô cũng giữ nhiều vai trò trong ban quản trị chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Hiện nay Cô Chín đã 87 tuổi, vẫn sinh sống tại quê hương Hà Tiên. Hình: Therese Tran, 2019

Vài nét nhắc nhở về bạn Therese Tran, bạn Therese Tran tên Việt Nam là Trần Thị Nhung, là người gốc gác ở Hà Tiên, trong một gia đình kỳ cựu, đứng với vai Therese Tran: ông Cố Ngoại là ông Huỳnh Đăng Khoa, ông Ngoại là ông Phan Kim Tố, thân phụ là ông Trần Văn Thuận, dì Chín là Cô Phan Thị Triệu. Therese Tran cũng là một cựu học sinh Trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, hai người chị của Therese Tran là chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi, bạn học Trung Học Hà Tiên cùng thời với quý anh chị Đoàn Kim Minh, Lý Thị Lắc, Nguyễn Thị Sồ, Hà Thị Hồng Loan, Vương Văn Quý, Trần Đại Hải,…Gia đình bạn Therese Tran chuyển về Cần Thơ trong giữa thập niên 60 và sau đó trong những năm sau 1975, bạn định cư ở nước Úc. Bạn Therese Tran và hai bạn Phan Kim Quang và Phan Kim Chi cũng là anh chị em cô cậu vì thân phụ của Kim Quang và Kim Chi là anh của thân mẫu của Therese Tran.

Bạn Therese Tran (Trần Thị Nhung), trái : 1968, phải: Hình chụp trước sân chùa Quảng Tế Phật Đường năm 2019. Hình: Therese Tran

Hình trái: Phan Kim Quang, bạn học chung Trường Trung Học Hà Tiên (cùng lớp với các bạn Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh). Kim Quang ra trường Bộ Binh Thủ Đức, về Rach Giá mang cấp bậc Thiếu Úy và tử trận năm 1974. Hình phải: Phan Kim Chi, hiện sinh sống với gia đình tại Vĩnh Long.  Hai chị em Kim Quang và Kim Chi là anh chị em cô cậu với bạn Therese Tran.

2/ Phần hai: Bài viết trên đây (các phần B, C và D) đều dựa trên các tài liệu nghiên cứu trên mạng, riêng phần nguồn gốc thành lập chùa Quảng Tế Phật Đường thì viết theo bài kể lại quá trình thành hình và quản trị ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường do cô Chín Phan Thị Triệu, thay mặt Ban Trị Sự chùa, đã viết ra năm 2011 và có chữ ký của Cô Thái Lê Ngọc Chi. Mình vẫn còn giữ tài liệu nầy, bạn nào cần tham khảo xin cho địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chia sẻ tài liệu gốc.

Tài liệu nghiên cứu:

a/ Quảng Tế Phật Đường (Phan Thị Triệu, 2011)
b/ Vài nét về Phật Đường Nam Tông (Trần Tiến Thành, nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2009)
c/ Chùa Quảng Tế Phật Đường (2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt)
d/ Giới thiệu về Ngũ chi Minh đạo và Minh sư đạo tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Huấn)

Các tài liệu nầy mình đều có bài dưới dang file, bạn nào cần tham khảo xin viết tin nhắn cho mình với địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chuyển cho. Các tài liệu đánh dấu b, c và d thì có đường link, các bạn bấm vào link sẽ có bài hiện ra nhé.

Paris, 16/12/2019  Trần Văn Mãnh

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu