Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Publicités

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu

 

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp đệ nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 1: hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ ngày thành lập 04/10/2015 đến ngày hôm nay 12/10/2018, đã đạt được 91926 lượt xem, 24733 người đến xem (những đọc giả từ hơn 47 nước trên thế giới đến xem), với 176 bài viết trong đủ các tiết mục và do chính thầy cô và các bạn là tác giả. Tuy nhiên nhìn qua nhìn lại ta chưa thấy bài viết nào nói về quá trình hình thành ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta…! đây quả thật là một điều thiếu sót lớn lao…Bạn Trương Thanh Hùng (Giá Khê) có viết một loạt nhiều bài trong mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và có nhắc đến một phần về sự ra đời và phát triển của trường chúng ta. Thật ra cũng rất khó mà viết ra được một tài liệu đầy đủ và chính xác về lịch sử của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, đó là việc làm của các nhà nghiên cứu mà sớm hay muộn chúng ta cũng hy vọng rằng sẽ có bài viết về đề tài nầy, mong rằng các cây bút có quan hệ nhiều đến trường Trung Học Hà Tiên như Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên,…v..v….và nhiều thầy cô bạn học khác sẽ có ngày cho ra đời nhiều bài viết về lai lịch ngôi trường của chúng ta, như thế khi làm công việc tổng họp lại chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và đầy đủ về trường xưa. Bản thân mình cũng có một tham vọng dựng lên quá trình thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng phần vì ở xa không có điều kiện đến tại chỗ tìm tòi sách vở hay tham khảo các ý kiến tiền nhân tại Hà Tiên, phần lại sinh sau đến muộn, chưa đủ thời gian trải nghiệm từ khi trường được ra đời nên rất khó thực hiện được ý nghĩ nầy…Rồi lại suy nghĩ rằng « kẻ ít người nhiều », nếu mỗi người trong chúng ta đóng góp một vài tư liệu, viết một vài dòng, đăng một vài tấm ảnh kỹ niệm ngày xưa thì có khi kết quả lại bất ngờ rất hay, lý thú và giúp cho một bạn văn nào đó có ý khoa học, biết suy luận, tổng kết và từ đó sẽ có bài viết đầy đủ cho chúng ta về lai lịch ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên. Cần xác nhận là ngôi trường nói trong bài viết nầy là ngôi trường Trung Học Hà Tiên, tọa lạc tại góc đường Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Hoàng, dưới chân Lầu Ba (núi Ngũ Hổ).

Phần 1: Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ:

Sau khi tham khảo ý kiến một số bạn từng là học sinh Trung Học Hà Tiên và chiếu qua các hình ảnh về ngôi trường, ta có thể bắt nguồn như sau: Vào năm 1955, thầy giáo trẻ Trường Minh Đạt sau khi học xong các trường lớn ở Sài Gòn (Trương Vĩnh Ký, Sư Phạm Sài Gòn,…) đã trở về Hà Tiên làm việc với ý định mở trường lớp cho con em Hà Tiên có điều kiện theo học tại chỗ. Thầy giáo Đạt lập hồ sơ xin thành lập trường Trung Học Tỉnh Hà Tiên dưới sự quản lý của các Nha Bộ ở Sài Gòn. Qua năm 1956 trường được thành lập với tên chính thức « Trường Trung Học Hà Tiên » với 4 lớp học và người Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Thanh Tra tỉnh kiêm hiệu trưởng: thầy Hà Văn Điền (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Điền, chính là ba của cô giáo Hà Thị Hồng Loan, sau nầy cô Hồng Loan cũng trở về dạy học ở ngôi trường nầy vào những năm 1960, nhà ông Đốc Điền ngày xưa ở đường Bến Trần Hầu, Hà Tiên).

Thầy Trương Minh Đạt (người gốc Hà Tiên), một trong những vị thầy có công trong công việc thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên. Trái: hình chụp năm 1968, phải: hình chụp năm  2017. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên và đã trở thành một nhà nghiên cứu về Hà Tiên.

Cuối năm 1956, Hà Tiên trở thành quận thuộc tỉnh Kiên Giang, ngôi trường Trung Học Hà Tiên vẫn như vậy nhưng xem như là trường quận. (1956-1957)

Sang năm 1958 có thầy Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu) về Hà Tiên làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy thầy Trương Minh Đạt bắt đầu thuyên chuyển về Phan Rang. Theo một tài liệu trên face book mà mình tìm ra được thì vào năm 1959, trường Trung Học Hà Tiên có một giáo sư đổi về trường dạy, vị thầy nầy tên là Phạm Công Nhựt và thầy có viết trong một nhận xét trên fb như sau:

« Tôi nhận sự vụ lệnh xuống dạy ở trường Trung Học Hà Tiên tháng 9/1959. Hiệu trưởng lúc đó là Ông Hồ Văn Chiếu, thanh tra tiểu học tạm đảm nhiệm. Trường có 4 lớp, từ đệ thất tới đệ tứ. Ban giáo sư gồm có:
– Ông Bảo – dạy toán
– Ông Viên – dạy văn (tức là thầy Nguyễn Văn Viên)
– Ông Tường – Pháp văn (tức là thầy Võ Thành Tường)
– Ông Nam và Ông Điệp – Anh văn (tức là thầy Nguyễn Xuân Nam và thầy Hồ Quang Điệp)
– Ông Nhựt – Vạn Vật- Nhạc- Thể Dục (tức là thầy Phạm Công Nhựt)
– Ông Hoan- Lý Hoá (tức là thầy Lê Trung Hoan)
– ông Ký – giám thị (tức là thầy Trịnh Học Ký)
Niên khoá sau 1960-1961, ông Doãn Quốc Sỹ xuống đảm nhiệm chức hiệu trưởng trung học Hà Tiên. Ông Hồ Văn Chiếu trở về Ty tiểu học Rạch Giá. Hai năm sau, ông Doãn Quốc Sỹ trở về Sài Gòn, ông Lê Trung Hoan (dạy Lý Hoá) được thay thế. Lúc nầy tất cả các GS lần lượt bị đông viên. Ông Lại Xuân Quất được cử làm hiệu trưởng thay thế ông Lê Trung Hoan »

Thầy Phạm Công Nhựt, hình trái chụp năm 1973 (lúc nầy đã đổi về dạy trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá), hình phải năm 2017, hiên nay thầy Nhựt định cư ở nước Canada.

Như vậy qua tài liệu nầy ta biết được diễn biến của trường Trung Học Hà Tiên qua khoảng thời gian 1959 – 1961. Vì bản thân mình là « hậu bối » nên không được biết trực tiếp thầy Phạm Công Nhựt. Tuy nhiên đối chiếu lại trong bài giới thiệu bạn học cùng trường, phần bài về chị Nguyễn Thị Hoa, thì thấy thầy Phạm Công Nhựt có dạy lớp chị Hoa vào niên khóa Đệ Thất 1961-1962; thầy dạy môn Vạn Vật. Sau khi trải qua hai vị hiệu trưởng: Hà Văn Điền (1956-1958); Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu 1958-1960); theo lời thầy Nhựt viết thì đến giai đoạn thầy hiệu trưởng Doãn Quốc Sỹ (1960-1962), mãi sau nầy người Hà Tiên chúng ta mới biết được là thầy Doãn Quốc Sỹ chẳng những là một nhà mô phạm, mà lại còn là một nhà văn rất nỗi tiếng của nền văn học miền nam, ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 ông cũng từng đi học tập cải tạo, ở tù, sau đó ông đi định cư ở nước Úc và hiện nay ông sống ở nước Mỹ. Đến năm nay 2018, thầy Doãn Quốc Sỹ đã mừng sinh nhật 95 tuổi (Xin thầy cô và các bạn chú ý là tên của thầy viết là Doãn Quốc Sỹ chứ không phải là Sĩ).

Thầy hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên và cũng là nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc trẻ và hiện nay.

Kế đến là thầy hiệu trưởng Lê Trung Hoan (1962-1964); đến đây bắt đầu các vị hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên mà mình được biết đến một cách trực tiếp, đó là thầy Lại Xuân Quất (1964-1966), xin thầy cô và các bạn chú ý, tên của thầy phải viết là Quất chứ không phải « Quấc hay Quốc », vì mình còn dấu mộc tên của thầy đóng trong các sổ học bạ của mình vào thời nầy. Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Lê Trung Hoan và Lại Xuân Quất.

Mộc Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên và tên thầy hiệu trưởng: Lại Xuân Quất (1964-1966)

Thầy Lại Xuân Quất  làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên lúc mình vào lớp đệ thất, niên khóa 1964-1965

Trái: Hiệu trướng Lê Trung Hoan, phải: Hiệu trưởng Lại Xuân Quất

Khoảng cuối năm 1962, có thầy Nguyễn Văn Nén từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Nén là một trong ba vị giáo sư cùng về dạy trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 60. Đó là thầy Nguyễn Văn Hiệp (dạy môn Văn), thầy Nguyễn Trí Thuận (dạy môn Pháp văn), và thầy Nguyễn Văn Nén (dạy môn Toán).  Ba vị thầy nầy rất có ảnh hưởng đến riêng cá nhân mình và của lớp học của mình, vì quý thầy dạy lớp học của mình nhiều năm. Qua các lời phê chuẩn, chấm điểm bài làm của riêng mình và của toàn lớp mình, quý thầy đã tỏ ra có sự chú ý rất thân mật, thường khuyến khích, khen ngợi kết quả học tập của riêng mình và của toàn lớp mình. Mỗi buối tối, các học trò Hà Tiên thường thấy ba vị thầy dùng cơm tối ở quán Xuân Thạnh đường Trần Hầu, Hà Tiên.

Từ lúc 1965, trường Trung Học Hà Tiên đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì một lớp phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng từ năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có hai lớp đệ thất và phân ra lớp Anh văn và lớp Pháp văn, tuy nhiên chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích.

Vào năm 1965 có một phong trào các vị giáo sư trẻ từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là một dịp rất may mắn cho học trò Trung Học Hà Tiên vì lực lượng quý thầy cô nầy rất hùng hậu, trẻ tuổi, đầy tâm huyết và trong sự tiếp xúc, giao thiệp quý thầy rất gần gủi với học sinh. Trong số nầy có thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy môn Lý Hóa), thầy Bùi Hữu Trí (dạy môn Anh văn và Pháp văn), cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy môn Anh văn và Pháp văn), thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa)…v…v…Trong thời gian nầy, một trong những vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất với học trò là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy vừa trẻ tuổi, rất đẹp trai, ăn mặc phong độ, và thường hay tiếp xúc, đi du ngoạn với học trò nên các bạn học cùng trường ai cũng rất quý mến thầy, chính nhờ có khối tư liệu hình ảnh riêng tư mà thầy Ẩn đã chụp rất nhiều trong thời gian dạy học ở Hà Tiên mà chúng ta mới có được những hình ảnh ngôi trường xưa và hình ảnh các đồng nghiệp của thầy, mình sẽ trích đăng vào đây các hình ảnh về ngôi trường mà thầy Ẩn đã còn lưu lại được, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn rất nhiều.

Trong khoảng giữa năm 1966 có một giai đoạn ngắn thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn) giữ quyền hiệu trưởng vì thầy hiệu trưởng đương chức là thầy Lại Xuân Quất thuyên chuyển đi nơi khác. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ lục (1965-1966) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Trí Thuận:

Thầy Nguyễn Trí Thuận quyền hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn ngắn giữa năm 1966

Từ giữa năm 1966 trở về sau, thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa) được cử làm hiệu trưởng chính thức trường Trung Học Hà Tiên, đây là một giai đoạn ổn định và thầy Thành làm hiệu trưởng trong một thời gian khá lâu dài (1966-1973). Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Nguyễn Trí Thuận và Nguyễn Văn Thành. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ ngũ (1966-1967) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Văn Thành:

Thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn khá lâu (1966-1973)

Trái: Hiệu trướng Nguyễn Trí Thuận, phải: Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành

Trong lúc nầy vào ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới. Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung Học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : Nguyễn Nên). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Hiện thầy sống ở nước Mỹ. Chính thầy Nguyễn Văn Nén đã cung cấp cho chúng ta một số ảnh hiếm và quý về quý vị giáo sư trong những năm đầu thập niên 1960, xin cám ơn thầy rất nhiều.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Nén, hình trái chụp vào năm 1965, hình phải chụp vào năm 2016

Sau đây là một số hình ảnh về quý thầy cô đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu khi trường mới được thành lập.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. 1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)

1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)

1/ Thầy Doãn Quốc Sỹ, 2/ Thầy Trần Văn Hương, 3/ Thầy Trương Minh Hiển, 4/ Thầy Hồ Quang Điệp, 5/ Thầy Phạm Công Nhựt, 6/ Thầy Lê Trung Hoan, 7/ Cô Quỳnh, 8/ Thầy Nguyễn Xuân Nam, 9/ Thầy Nguyễn Như Bảo, 10/ Thầy Lê Văn Triệu, 11/ Ông Nguyễn Văn Thân, 12/ Thầy Võ Thành Tài, A/ Anh Phan Đình Khải (con trai của bác Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà Tiên ngày xưa), B/ Anh Trần Tuấn Hùng (con trai của bác Trần Thiêm Trung tức Ông Phán Trung, anh Hùng là anh của Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang)

Thầy Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), hình trái chụp năm 1962, hình phải chụp năm 2018. Hiện thầy Võ Thành Tường đinh cư tại nước Mỹ.

Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (giám thị), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Thành (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (thư ký) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước cổng chánh trường Trung học Hà Tiên năm 1968. Bổ túc thêm là vào những năm 1960, trường Trung Học Hà Tiên có hai nhân viên bảo vệ tên là Bác Ngọ và Chú Tỹ.

Thầy Trương Minh Hiển (người gốc Hà Tiên, anh song sinh với thầy Trương Minh Đạt), dạy môn Quốc văn trong những năm 1960-1970. Hình phải thầy Trương Minh Hiển chụp vào năm 1997 tại Hà Tiên. Thầy mất năm 2005.

Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

Bên trái: Cô Hà Thị Hồng Loan, giữa: cô Nguyễn Minh Nguyệt, phải: cô Vương Thị Lành, đang dự tiệc cuối năm (bánh tây và nước ngọt). Sau lưng cô là một bạn học sinh không biết tên, các bạn cố gắng nhận dạng là ai nhé. (Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Bên trái: có thể là thầy Nguyễn Tấn Ngoan, giữa; cô Hà Thị Hồng Loan, phải: cô Trần Diệu Hiền (văn phòng Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Cô Hà Thị Hồng Loan (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. Hình phải, cô Hồng Loan hiện nay sinh sống tại Hóc Môn ngoại ô Sài Gòn.

Cô Vương Thị Lành (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. cô Lành cũng có một thời gian ngắn làm xử lý thường vụ chức Hiệu Trưởng thế cho thầy Nguyễn Văn Thành.  Hình phải, cô Vương Thị Lành (2017) hiện nay cô định cư ở nước Mỹ.

Niên khóa 1965-1966, từ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), Thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Thầy Phùng Tuấn Sinh (Triết học, Công Dân)

Từ trái sang phải: Đại Úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Vật Lý). Hình chụp trong những năm 1965-1966 tai sân quần vợt đường Mạc Công Du, Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa từ năm 1965. Hình phải (2018): hiên nay thầy Nguyễn Hồng Ẩn định cư ở nước Mỹ, thầy đang chào quý thầy cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên đó các bạn…

Thầy Phan Văn Xuân (dạy lớp mình môn Toán trong những năm 1960-1970). Thầy Xuân là người gốc gác Hà Tiên, thầy là vai cậu của các bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên. Hiện thầy Xuân vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Trái: Ảnh chụp lúc thầy còn đi học; phải: ảnh chụp lúc thầy về nghỉ hưu ở Hà Tiên 2017

Đặc biệt trong thập niên 1960-1970, trường Trung Học Hà Tiên có được hai thầy cô dạy môn Sinh Ngữ (Pháp văn và Anh văn) rất nhiệt tình và rất yêu mến học trò. Đó là thầy Bùi Hữu Trí và phu nhân của thầy là cô Nguyễn Minh Nguyệt. Thầy cô trong sinh hoạt giảng dạy, văn nghệ, thể thao rất thân cận với học trò, nhất là cô Minh Nguyệt, cô có rất nhiều học trò « thân yêu », vì các bạn đó học giỏi môn của cô dạy (Pháp văn). Sự có mặt của thầy cô Trí và Nguyệt ở Hà Tiên làm cho giới trẻ học trò rất yêu thích và luôn ngưởng mộ thầy cô. Thầy Trí ngoài giờ dạy còn tổ chức lớp dạy võ Karaté, lấy phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba làm võ đường thực tập, mình cũng có tham dự học lớp võ thuật Karaté của thầy Trí. Còn cô Nguyệt thì tươi trẻ, ăn mặc rất đẹp và tân tiến, đem sắc thái « à la mode » của thủ đô Sài Gòn về Hà Tiên…Một số bạn học giao thiệp rất thân với thầy cô như: Lý Cảnh Tiên, Lý Mạnh Thường, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nhan Hồng Hà, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…(phần lớn là các bạn chơi nhạc và tập võ thuật…). Chúng ta không có tin tức về thầy cô hiện nay, chỉ biết là thầy cô đã định cư ở nước Mỹ.

Thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt, thầy cô dạy môn Pháp văn và Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong thập niên 1960-1970

Cô Tiền Ngọc Thanh (người gốc Hà Tiên, dạy môn Vạn Vật trong những năm giữa thập niên 60). Hình phải: 2018, hiện nay cô Tiền Ngọc Thanh đinh cư tại nước Mỹ. (cô luôn giữ được nết đẹp quý phái)

Trong những năm cuối thập niên 60, có một đợt các vị giáo sư trẻ đổi về Hà Tiên dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là quý thầy: Nguyễn Phúc Hậu (dạy môn Pháp văn), thầy Nguyễn Tấn Ngoan (dạy môn Toán), thầy Bùi Văn Cầm (dạy môn Vạn Vật), Nguyễn Văn Út (dạy môn Sử Địa), thầy Nguyễn Thanh Liêm (dạy môn Toán), thầy Phan Văn Chiếu (dạy môn Công Dân Giáo Dục)… Thầy Nguyễn Phúc Hậu hiện nay định cư ở nước Canada, thầy Nguyễn Tấn Ngoan thì học sinh không có tin tức, thầy Bùi Văn Cầm sau khi về quê Qui Nhơn sinh sống, có lúc vào năm 1986 bạn Trương Thanh Hùng có gặp thầy tại Qui Nhơn nhưng sau đó thì không được tin tức của thầy nữa. Chúng ta cũng không có tin của thầy Nguyễn Văn Út, nghe nói thầy đã mất lâu rồi, Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy lớp mình môn Toán, thầy Liêm rất gần gủi học trò, sau một hai năm dạy học ở Hà Tiên, thầy đã chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thầy chính là phu quân của chị Nguyễn Thị Hoa học trò kỳ cựu Hà Tiên, thầy Liêm sau khi trở về quê thì bệnh và qua đời tại quê Thốt Nốt (2013). Thầy Phan Văn CHiếu cũng đã qua đời tại nước Pháp.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu vào năm 1970, hình phải: thầy Hậu hiện định cư ở nước Canada.

Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy toán những năm 1969-1972; hình phải: thầy Liêm đổi về quê Thốt Nốt và qua đời vào năm 2013

Trong những năm đầu của thập niên 1970, có thêm một đợt quý cô đổi về trường Trung Học Hà Tiên, đó là cô Võ Kim Loan (dạy môn Quốc văn), cô Nguyễn Ngọc Oanh (dạy môn Lý Hóa) và cô Dương Thị Minh Hoa (dạy môn Vạn Vật). Cô Kim Loan hiện định cư ở nước Mỹ, chúng ta không có tin tức của cô Ngọc Oanh, cô Minh Hoa hiện định cư ở nước Mỹ. Vì mình đã rời trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu vào niên khóa 1970-1971 nên mình không được dịp hân hạnh tiếp xúc với quý cô, chỉ sau khi có Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì được bạn học giới thiệu với quý cô và vẫn giữ liên lạc với quý cô.

Cô giáo sư trẻ đẹp Võ Kim Loan (1970), hình phải (2018): hiện cô Vó Kim Loan định cư ở nước Mỹ.

Cô giáo sư tươi trẻ ngày xưa Duong Thị Minh Hoa (1970); hình phải (2017): Cô Minh Hoa hiện định cư tại nước Mỹ

Hình trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (1970), hiện nay ta không có tin tức về cô; hình phải (1970) thầy Phan Văn Chiếu, thầy qua đời bên nước Pháp

Bên trái: thầy Hứa Văn Vàng, dạy học và đồng thời là giám thị, bên phải: cô Trần Diệu Hiền, thư ký văn phòng và cũng là giám thị trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70. Thầy Vàng và cô Hiền đều đã qua đời tại Hà Tiên

Đồng thời trong thời gian nầy, những năm đầu của thập niên 1970, có thầy Huỳnh Văn Xền, người gốc gác Hà Tiên, nhà thầy ở đường Tô Châu, thầy Huỳnh Văn Xền dạy một thời gian tại trường Trung Học Hà Tiên. Hiên nay thầy Huỳnh Văn Xền định cư ở nước Pháp.

Thầy Huỳnh Văn Xền dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên vào những năm đầu thập niên 1970.

Thầy Lê Quang Khải dạy môn Anh văn, Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1970 trở đi, thầy Khải là người gốc Hà Tiên, em của thầy Lê Quang Thuyên và anh của thầy Lê Quang Khanh, thầy Khanh ngày xưa dạy mình ở bậc Tiểu Học Hà Tiên. Ba anh em thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khải và Lê Quang Khanh dều là con của nhà giáo, nhà thơ lão thành Lê Quang Phấn (hiệu là Bach Như), một trong những người Hà Tiên tiếp nối truyền thống Chiêu Anh Các (Mạc Thiên Tích). Chính nhà thơ Bạch Như là tác giả của hai câu đối chưng trong phòng tiền vãng trường Tiểu Học Hà Tiên.

« Hạnh đàn vắng vẻ chạnh tiền nhân soi tỏ đuốc quan hoài

Mộc đạc vang lừng giục hậu tấn bước lên đài tiến hóa ».

Thầy Lê Quang Khải, người gốc Hà Tiên, dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thập niên 70, hiện thầy định cư ở nước Mỹ

Vào niên khóa 1973-1974 có một thầy tên Khải nữa về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là thầy Phạm Văn Khải, thầy Khải dạy môn Anh văn. Xin mở ngoặc ở đây là vì trường có hai thầy cùng tên Khải nên học trò thường đặt tên phụ cho mỗi thầy một biệt danh để phân biệt: thầy Lê Quang Khải có râu rất oai phong học trò gọi là thầy « Khải râu », còn thầy Phạm Văn Khải không để râu, học trò gọi là thầy « Khải trụi »,….đó cũng là tính lý lắc của mấy bạn học trò ngày xưa, mong quý thầy thông cảm tha thứ cho nhé,…

Gần cuối nhiệm kỳ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành, khoảng từ năm 1973 trở đi, trường Trung Học Hà Tiên lại có thêm một cô thư ký nữa, đó là cô Lê Thị Tám, không phải ai xa lạ, cô Tám chính là người em gái ruột của bạn Lê Công Hưởng (Hưởng là bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Cô Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Hiện cô Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên.

Cô Lê Thị Tám, ngày xưa là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên và sau đó là thư ký của Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1973.

Trong khoảng thời gian 1973-1975 có cô Trương Thị Bạch Cúc người gốc Rạch Giá, về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Văn, sau đó cô Bạch Cúc chuyển về dạy tại Kiên Lương. Hiên nay cô Trương Thị Bạch Cúc định cư ở nước Canada.

Thầy Lâm Hữu Quyền, người gốc gác Hà Tiên, và cũng là một học sinh của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, là bạn học cùng lớp với các bạn Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v…Bạn Quyền học trên mình một lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Lâm Hữu Quyền về dạy môn Toán tại quê nhà, trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Lâm Hữu Quyền sau nầy làm hiệu trưởng trường cơ sở Đông Hồ Hà Tiên và hiện nay thầy về nghỉ hưu, vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Thầy Lâm Hữu Quyền dạy môn Toán trường Trung Học Hà Tiên. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Từ nhỏ đến lớn mình vẫn luôn theo học tại hai ngôi trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, đến niên khóa 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên vẫn chưa có lớp đệ nhất (lớp 12) nên niên khóa nầy mình chuyển sang theo học ở trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, vì thế sự hiểu biết về tình hình giảng dạy, đội ngũ thầy cô giáo sư, hiệu trưởng của trường Trung Học Hà Tiên đối với mình trở nên thiếu sót và thông tin hơi khá phức tạp.Tuy nhiên theo sự đóng góp của thầy cô và các bạn có liên hệ đến ngôi trường Trung Học Hà Tiên, có thể tóm tắt tình hình tiếp tục như sau tuy vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Sau khi chuyển giao ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho ban quản lý mới vào tháng 05 năm 1975, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1977. Trong thời gian nầy có cô Lâm Ngọc Mai vốn là một học sinh gốc gác Hà Tiên, đã từng theo học tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nầy từ xưa, và cô đã thành tài trở về dạy học tại ngôi trường nầy từ những năm 1969, 1970. Khi trường do ban quản lý mới điều hành sau tháng 05 năm 1975, cô Lâm Ngọc Mai được cử làm hiệu trưởng trong khoảng thời gian 1975-1976. Sau đó cô Lâm Ngọc Mai chuyển về Rạch Giá làm việc và hiện nay cô về nghỉ hưu tại Sài Gòn. Khoảng năm 1975 có thầy Nguyễn Văn Hợi dạy môn Sinh Vật.

Cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai, trái: hình chụp trong những năm 60, phải: hình chụp hiện nay 2018

Qua niên khóa 1976-1977 có thầy tên Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Dưới đây là hai mẫu học bạ có chữ ký tên của cô Lâm Ngọc Mai và thầy Lê Thanh Chương. Đến đây nếu thầy cô và các bạn chú ý sẽ thấy tên gọi chánh thức của trường Trung Học Hà Tiên đã thay đổi, trong dấu mộc đóng bên cạnh tên của hiệu trưởng, ta thấy có đề tên: Trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên, tuy nhiên dưới chữ « Phổ Thông » trong dấu mộc đóng, ta không nhìn rỏ ra được các chữ tiếp theo là chữ gì, chỉ đọc được chữ « cấp » sau đó nét mực đỏ hơi bị nhòa nên không rỏ là 3 (cấp 3) hay là 2 và 3 (cấp 2 và 3) !!

Hình trái: Chữ ký tên của cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai (1976), hình phải: chữ ký tên của thầy hiệu trưởng Lê Thanh Chương (1977)

Thầy Trần Đại Thắng là học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa (con trai của thầy hiệu trưởng trường Tiểu học Hà Tiên Trần Văn Hương), học chung lớp với các đàn anh đàn chị như Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim, Trần Hồng Khanh,..Sau khi thành tài, thầy Trần Đại Thắng trở về Hà Tiên làm hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc (trường xây tại chân núi Địa Tạng gần Thach Động). Sau 1975 thầy Trần Đại Thắng về dạy môn Sinh Vật trường Trung Học Hà Tiên và tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu. Bạn Thắng cũng có lúc (1973-1975) thường đi chơi chung với mình và một người bạn nữa là La Tấn Lực. Bạn Thắng mất vì bệnh vào ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (Âm lịch) nhằm ngày 11/10/2018 dương lịch. Thầy Trần Đại Thắng an nghỉ tại đất nhà tại núi Đề Liêm (núi Phù Dung) ngày mùng 6 tháng 9 Mậu Tuất, nhằm ngày 14/10/2018.

Hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc Hà Tiên và cũng là thầy dạy Trung Học Hà Tiên: thầy Trần Đại Thắng (hình chụp trong những năm gần đây)

Vào niên khóa 1976, một người bạn thân thiết từ sáu năm trong bậc Trung Học Hà Tiên, học chung lớp với mình là bạn Lý Mạnh Thường, sau một thời gian theo học ngành « Thương Mại Ngân Hàng » ở Long Xuyên, bạn Mạnh Thường trở về quê nhà Hà Tiên và theo ngành giáo, vào dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Mạnh Thường ngoài môn chánh là Anh văn, thầy còn phụ trách văn nghệ cho trường và có dạy thêm các môn ca, vũ, múa,…cho các em học sinh. Thầy Mạnh Thường rất được sự quý mến của các em học sinh trường Trung Học Hà Tiên. Sau một thời gian nghỉ dạy về hưu ngay tại căn nhà xưa ở đường Mạc Công Du, thầy Mạnh Thường lâm bệnh và từ trần vào năm 2013. (trước đó vào tháng 6 năm 2012, nhân một chuyến về thăm quê Hà Tiên mình và bạn Trương Thái Minh có đến thăm bạn Mạnh Thường).

Thầy Lý Mạnh Thường dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên từ năm 1976

Một trong những học trò của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Nguyễn Thúy Vân, người gốc Hà Tiên, bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn,…v…v….cũng vào ngành giáo và dạy học môn Văn tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm (từ năm 1974). Cô giáo Nguyễn Thúy Vân hiện nay đã về hưu và hiện vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thúy Vân dạy môn Văn trường Trung Học Hà Tiên; bên phải (2017) hiện cô Nguyễn Thúy Vân sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Trong khoảng thời gian 1977 – 1981, ngôi trường Phổ Thông Hà Tiên lâm vào tình trạng bị bỏ hoang phế vì dân Hà Tiên đã di tản chạy giặc miền biên giới Khmer đỏ. Học sinh ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông Hà Tiên để tránh tầm pháo. Trường Phổ Thông Hà Tiên lúc đó gồm có cấp 2 và cấp 3 và có tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, vì tình hình thực tế nên phải tách ra thành 2 bộ phận: Học trò cấp hai (từ lớp 6 đến lớp 9) thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba (từ lớp 10 đến lớp 12) thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng …(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính thầy trò học sinh dọn trường nầy trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên (của địa điểm Mạc Tử Hoàng).

Đến đây thì tình hình trở thành khá phức tạp, vì nếu tiếp tục viết theo quá trình trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên thì như trên đã viết, trường nầy đã sát nhập vào trường cấp hai của xả Thuận Yên. Lúc nầy thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cơ sở xã Thuận Yên nên tất cả học bạ của học sinh cấp 2 trường Hà Tiên đều do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, thầy Lâm Hữu Quyền làm hiệu phó cấp 2. Dưới đây là một phần trang học bạ của một học sinh cấp 2 trường Phổ Thông Hà Tiên do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, chú ý trong dấu đóng mộc, tên trường là Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên. Bắt đầu qua niên khóa 1979-1980, tình hình chiến tranh Tây Nam hơi yên ổn, thầy Hứa Nhất Tâm trở về Hà Tiên xây dựng, sửa sang lại trường lớp và năm sau thầy Tâm trở thành hiệu trưởng trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên. Cũng xin nói thêm là năm học 1977-1978 cũng chính là một năm học rất đau buồn đối với học trò cấp 2 trường Phổ Thông Cơ Sở Hà Tiên vì chẳng những phải lìa xa ngôi trường ở Hà Tiên mà lại còn chứng kiến giai đoạn bi thảm của một gia đình thầy cô đang dạy học trong thời kỳ chiến tranh nầy: đó là cái chết của cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy cấp 2 môn Sinh Vật) vì bị trúng đạn pháo kích của quân Khmer đỏ, người con của cô cũng bị chết , chồng của cô là thầy Trương Tự Cường (dạy cấp 2 môn Toán) cũng bị thương tích nhưng thoát chết. Sau đó người ta đưa cả gia đình thầy về Sài Gòn, kẻ sống người chết thật đau buồn, từ đó đến nay học sinh Hà Tiên không có tin tức của thầy Cường.

Thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên, cũng quyền hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 2 Hà Tiên. (1977-1979)

Mặt khác nếu viết theo quá trình của trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên thì như trên đã viết, từ niên khóa 1977-1978, trường di tản về Kiên Lương, lớp học dàn dựng tạm trên những chiếc lán trại, nhà lá, trong thời gian nầy thầy Lê Thanh Chương vẫn tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 1979. Đến từ niên học 1979-1980 thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn toán cấp 3 làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 (trường của Hà Tiên nhưng tạm di tản xuống ở Kiên Lương). Mình không có dịp biết thầy Nguyễn Văn Hùng, nhưng theo học trò Hà Tiên thì thầy Hùng rất dể mến, hiền hậu và rất được học trò kính mến. Thầy Nguyễn Văn Hùng đã từng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên ngay từ năm 1974. Thầy Hùng, người gốc Gò Công, khi giặc Khmer đỏ pháo kích Hà Tiên, thầy Hùng bị thương. Sau này thầy Hùng làm hiệu trưởng rồi được điều sang làm trưởng phòng giáo dục Hà Tiên. Thầy Hùng đã mất vì bệnh vào năm 2015 tại quê nhà Củ Chi ngoại ô Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Văn Hùng từng làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên trong những năm trường di tản xuống Kiên Lương. (Hình thầy về nghỉ hưu ở quê nhà Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn)

Cùng một đợt về trường Hà Tiên với thầy Nguyễn văn Hùng năm 1974, có thầy Trương Minh Tùng dạy môn Lý Hóa, sau đó thầy Trương Minh Tùng kết hôn với chị Trần Diệu Châu, em của cô Trần Diệu Hiền và là con của thầy Trần Hòa Hùng (thầy Hùng là hiệu trưởng một thời của trường Tiểu Học Hà Tiên). Hiện không biết thầy Trương Minh Tùng ở nơi nào.

Cô Trần Thị Mộng Hoàng dạy Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên khoảng những năm 1977 trở đi. Theo lời học trò kể lại (Nguyễn Hữu Tâm): « Cô rất đẹp và rất tây với cặp mắt kính gọng to. Thời trung học cô là nữ sinh trường Marie Curie. Cô hát nhạc Pháp rất hay và chuẩn… Những năm gian khổ nhất của cấp 3 Trung học Hà Tiên là phải đi lao động cực nhọc ở những công trường đắp đập đào kinh, cô luôn theo sát với các học sinh đặc biệt là lớp tụi em.Cô hát bất cứ lúc nào tụi em yêu cầu để quên đi cái cực nhọc về thể xác…rất mong muốn được biết tin của cô đó các bạn ».

Trước lúc nầy có cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên lúc trường còn ở điểm Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, sau khi về tạm ở điểm Kiên Lương, cô Huệ Vinh vẫn tiếp tục dạy hết các niên khóa ở đây. Hiên nay cô Dương Huệ Vinh định cư ở nước Canada. Thầy Phương người gốc Rạch Giá dạy môn Toán từ năm 1977.

Cô Dương Huệ Vinh lúc còn học sinh Trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá

Cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1977-1978, Cô Huệ Vinh hiện định cư ở nước Canada.

Trong giai đoạn Trường Trung Học Hà Tiên dời về Kiên Lương, có quý thầy: Thầy Mai, người Thái Bình (không nhớ dạy môn gì), thầy Phan Văn Báo về dạy ngay niên khóa 1980-1981, thầy Phan Văn Thế dạy môn Vật Lý, sau nầy thầy Thế trở thành hiệu trưởng trường Kiên Lương nhiều năm và hiện nay thầy Thế đã về nghỉ hưu. Năm học nầy cũng có một thầy dạy Thể Dục về trường dạy thầy tên Linh, rất đẹp trai, thân hình cân đối như vận động viên quốc tế…, kế đến có thầy Quang người Cần Thơ về trường dạy môn Sinh Vật, thầy Nguyễn Văn Em dạy môn Văn, theo học trò nhận xét, thầy Nguyễn Văn Em dạy rất hay, thầy lại có tài chơi đàn và hát rất giỏi, thầy thường hát bài « Chiều trên phá Tam Giang »…! Năm nầy có thầy Lê Văn Trợ người Sài Gòn về trường dạy môn Địa Lý, thầy Trợ có một thói quen là thức dậy rất đúng giờ và tập thể dục không bỏ ngày nào. Đặc biệt là thời gian nầy có cô Trần Ngọc Cầm, người gốc Hà Tiên, chính là em gái của thầy Trần Đại Thắng, cô Trần Ngọc Cầm dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học Hà Tiên giai đoạn dời xuống Kiên Lương.

Từ trái qua phải: thầy Phan Văn Thế, thầy Lê Văn Trợ, thầy Nguyễn Văn Em và thầy Trương Minh Quang Nguyên, quý thầy gặp nhau tại Cần Thơ 09/2018

Đến niên học 1981- 1982 thầy trò Trung Học Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên dọn trường lớp bàn ghế chuyển về quê nhà Hà Tiên thì ôi thôi!… ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa (địa điểm Mạc Tử Hoàng) đến bây giờ là một ngôi trường hoang cỏ ngập lút đầu, lau sậy um tùm, phòng học chỉ còn bốn bức tường không nóc không cửa vì bị dỡ trộm, lò sát sanh kể bên chất hàng núi xương trâu bò trong khuông viên trường và trong nhà vệ sinh, đầu lâu trâu bò và sừng trâu bò nhiều vô kể. Trong phòng học thì tất cả những bệ cửa sổ là…phân người chất đống vì người ta ngồi trên đó mà phóng uế xuống, họ xem đó là nhà vệ sinh tự nhiên vì cây cỏ trùm kín…Năm nầy trường bắt đầu hồi sinh sau cuộc chiến tranh biên giới, trường tạm thời chỉ có lớp 10 và 11, không có lớp 12. Đến năm sau 1983 trường mở thêm lớp 12 (mặc dầu trước khi trở về Hà Tiên trường đã có lớp 12 rồi). Thầy Nguyễn Văn Hùng vẫn còn làm hiệu trưởng của trường trong thời gian nầy cho đến năm 1985.

Trong thời gian nầy có Thầy Xuân Sơn dạy môn Văn, thầy Nguyễn Văn Tộ, người rất hiền và đạo đức, có thầy Hưng dạy môn Vật Lý, thầy Hưng người rất vui vẻ tiếu lâm, hiện thầy Hưng vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên. Cô Điệp, nhà đối diện với hãng nước đá Cữu Long cũng có dạy trường Trung Học Hà Tiên trong thời gian trở lại Hà Tiên.

Trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1989 thì mình bị mất thông tin, không biết thời gian nầy ngôi trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 3 (tên là Cấp 3 vì từ khi hết di tản ở Kiên Lương và trở về Hà Tiên thì trường bắt đầu sinh hoạt trở lại và chỉ có 3 cấp lớp 10, 11 và 12). Thời gian nầy không biết thầy cô nào làm hiệu trưởng, bạn nào có thông tin và hình ảnh thì rất quý, xin bổ túc cho bài chúng ta được đầy đủ, xin cám ơn.

Trong khoảng những năm 1989-1991, có thầy Bùi Đăng Trường làm quyền hiệu trưởng trường Phô Thông Cơ Sở Cấp 3 Hà Tiên và có thầy Trịnh Phú về trường dạy môn Toán (hiện tại 2018 thầy Trịnh Phú làm hiệu trưởng Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, Hà Tiên) . Thời gian nầy có một người thầy gốc gác Hà Tiên và cũng là con trai của thầy Trương Minh Đạt ra trường về dạy học ngay tại ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên nầy. Đó là thầy Trương Minh Quang Nguyên, dạy môn Hóa Học. Chính thầy Quang Nguyên đã cung cấp cho mình một số tư liệu quý giá về ngôi trường Hà Tiên trong khoảng thời gian sau năm 1975, xin cám ơn bạn Quang Nguyên nhé. Đồng thời có thầy Huỳnh Kim Lợi, cũng người gốc Hà Tiên, dạy môn Thể Dục từ năm 1990. Cùng thời gian có thầy Nguyễn Văn Tường dạy môn Toán trường Trung Học  Hà Tiên, hiện nay thầy Nguyễn Văn Tường vẫn còn trong ngành giáo dục tại Sài Gòn. Có thầy Hồ Văn Hải người Quãng Nam về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Vật Lý. Về thầy hiệu trưởng trong thời gian nầy là thầy Bùi Đăng Trường thì mình không có dịp quen biết và cũng không biết chính xác là thầy Trường đã làm hiệu trưởng trong bao nhiêu năm. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hình trái: Thầy Trương Minh Quang Nguyên người gốc Hà Tiên, dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên trong những năm 1989-1991. Hiện nay thầy Quang Nguyên đã chuyển ngành, lập công ty kinh doanh ở Sài Gòn. Hình phải: Thầy Hồ Văn Hải, dạy môn Vật Lý trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên.

Kế đó thì lại có thêm một thầy cũng gốc người Hà Tiên là thầy Trương Minh Nhật Quang, anh của thầy Trương Minh Quang Nguyên, cũng về dạy tại quê nhà trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên, thầy Nhật Quang dạy môn Vật Lý, Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy đến năm 1992 thì ngưng dạy và sau một thời gian khó khăn vì cuộc sống, thầy đã học thêm về môn Công Nghệ Tin Học và đi vào công việc nghiên cứu và đã có công trình phát triển rất nhiều về phần mềm chống virus rất nỗi tiếng khắp cả nước (phần mềm D2 năm 1992 và phần mềm D32 năm 2001). Hiên nay thầy Trương Minh Nhật Quang làm việc tại thành phố Cần Thơ với học vị Tiến Sĩ và với chức vụ Phó Hiệu Trưởng trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ.

Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên trong những năm 1989-1992, hiện nay thầy làm Phó Hiệu Trưởng trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ

Trong thời gian nầy có nhiều thầy cô về trường Trung Học Hà Tiên dạy nữa, mình chưa có thông tin chính xác, chỉ biết có thầy An người Hà Tiên (con Cô Lắc). Từ niên khóa 1993 đến năm 2000, lại có thêm cô Trương Thị Uyên Nguyên người gốc Hà Tiên, chính là em gái của hai thầy Trương Minh Nhật Quang và Trương Minh Quang Nguyên (và đều là con của nhà nghiên cứu, thầy Trương Minh Đạt), cô Uyên Nguyên dạy môn Toán trong các lớp 10,11 và 12 tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên quê nhà đường Mạc Tử Hoàng. Sau nầy khi trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến thành lập tại điểm đường tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài thì cô Trương Thị Uyên Nguyên chuyển vào tiếp tục dạy học tại đây. Thầy Phan Hoàng Long, dạy môn Toán nhiều năm (1993-2000), thầy Phan Hoàng Long chính là phu quân của cô Trương Thị Uyên Nguyên.

Cô giáo trẻ duyên dáng Trương Thị Uyên Nguyên dạy môn Toán tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng từ năm 1993, sau đó từ năm 2000 cô Uyên Nguyên chuyển dạy tại trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, điểm tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài.

Thầy Phan Hoàng Long và cô Trương Thị Uyên Nguyên (2018)

Cho đến năm 2000 thì đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sữ của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích !! Từ năm 2000 trở đi, trường Phổ Thông Cơ Sở Cấp 3 được dời ra một ngôi trường mới cất trên đường ra Mũi Nai, tỉnh lộ 28, thuộc phường Pháo Đài và được đặt tên chánh thức là Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên. với vị hiệu trưởng có rất nhiều công trong công cuộc lập ngôi trường mới nầy, đó là thầy Phan Văn Báu, về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Phổ Thông NguyễnThần Hiến và có đặt tượng chí sĩ, nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ người gốc gác Hà Tiên. Riêng về bản thân ngôi trường thân yêu đầy kỷ niệm tại góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích thì được đổi tên là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 (và có ghi địa chỉ là số 3 đường Mạc Tử Hoàng và thuộc phường Đông Hồ).

Như vậy trong một quá trình lâu dài từ lúc mới thành lập 1956 cho đến năm 2000, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở đường Mạc Tử Hoàng được phân các lớp như sau:

Địa điểm đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1956-1962 (?): đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ.

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1963-1972: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam và đệ nhị (xong lớp đệ nhị phải đi thi tú tài 1 ở Long Xuyên)

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1973-1976 : lớp 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12

Địa điểm Kiên Lương, 1977-1980: lớp 10, 11 và 12

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1981-1982: lớp 8, 9, 10 và 11

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1983-2000: lớp 10,11 và 12

Về tên gọi chánh thức của trường thì như sau:

a/ Trước năm 1975, tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên (gồm hai cấp: Trung Học đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) và trung học đệ nhị cấp ‘lớp 10 đến lớp 12)

b/ 1975 – 1976: tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên cấp II – III 

c/ Từ năm 1977 trở đi, có sự thay đổi là sát nhập hai cấp I và II thành trường phổ thông cơ sở, còn cấp III thành trường cấp III.

Tổng kết về đội ngũ hiệu trưởng, giáo sư, thầy cô, nhân viên văn phòng, bảo vệ của trường Trung Học Hà Tiên từ lúc thành lập (1956) đến năm 2000 (tại địa điểm đường Mạc Tử Hoàng và một giai đoạn ngắn tai địa điểm Kiên Lương):

Danh sách quý thầy (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Trương Minh Đạt (Toán, Lý Hóa), Hà Văn Điền (Thanh Tra, Hiệu Trưởng), Hồ Văn Chiếu (Thanh Tra Hiệu Trưởng), Doãn Quốc Sỹ (Hiệu Trưởng, Văn), Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), Võ Thành Tài (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn), Lê Văn Triệu (Toán), thầy Vũ Quang Vinh (Văn), Nguyễn Văn Nén (Hiệu Trưởng, Toán), Nguyễn Xuân Nam (Anh văn), Phạm Công Nhựt (Vạn Vật), Nguyễn Văn Viên (Thể Dục), Tạ Duy Phong (Lý Hóa), Lê Văn Quang (Sử Địa), Đỗ Huỳnh Có (Sử Địa), Hồ Quang Điệp (Anh văn), Nguyễn Văn Thân (Thư ký), Nguyễn Văn Hiệp (Văn), Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), Nguyễn Đức Sơn (Văn), Trịnh Học Ký (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Trí Thuận (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Đinh Văn Giáp (Sử Địa), Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Phùng Tuấn Sinh (Triết, Anh văn), Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Trần Đức Sinh (Âm Nhạc), Phan Văn Xuân (Toán), Trương Minh Hiển (Văn), Hứa Văn Vàng (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Tấn Ngoan (Anh văn), Nguyễn Văn Út (Sử Địa), Bùi Văn Cầm (Sử Địa), Phan Văn Chiếu (Công Dân Giáo Dục), Nguyễn Phúc Hậu (Pháp văn), Đỗ Văn Trợ (Lý Hóa), Nguyễn Văn Thái, Đỗ Tấn Sĩ (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Long Hồ (Sinh Vật), Nguyễn Hùng Dũng (Vật Lý), Trần Phình Chu, Thầy Phương (Toán), Huỳnh Văn Xền (Anh văn), Nguyễn Văn Thuận (Văn), Nguyễn Văn Hài (Sử Địa), Lê Quang Khải (Anh văn), Phạm Văn Khải (Anh văn), Nguyễn Văn Hùng (Hiệu Trưởng, Toán), Trần Đại Thắng (Hiệu Trưởng, Sinh Vật), Trương Minh Tùng (Lý Hóa), Lê Thanh Chương (Hiệu Trưởng), Nguyễn Trí Dũng (Toán), Lê Phước Lộc (Thể Dục), Trần Văn Thinh (Hóa Học), Nguyễn Văn Hợi (Sinh Vật), Nguyễn Văn Tiêu (Sinh Vật), Bùi Đăng Trường (Hiệu Trưởng, Văn), Huỳnh Kim Lợi (Thể Dục), Uông Văn Đính (Văn), Trương Tự Cường (Toán), Lâm Hữu Quyền (Hiệu Trưởng, Toán), Lý Mạnh Thường (Anh văn, Nhạc, Múa), Trương Minh Quang Nguyên (Hóa Học), Thầy Mai, Phan Văn Thế (Vật Lý), Phan Văn Báo (Hiệu Trưởng), Thầy Linh (Thể Dục), Thầy Quang (Sinh Vật), Nguyễn Văn Em (Văn), Lê Văn Trợ (Địa Lý), Thầy Xuân Sơn (Văn), Nguyễn Văn Tộ, Thầy Hưng (Vật Lý), Trịnh Phú (Toán), Nguyễn Văn Tường (Toán), Hồ Văn Hải (Vật Lý), Phan Hoàng Long (Toán), Thầy An, ….

Danh sách quý cô (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Lý Ngọc Mai (Nữ Công), Phạm Thị Huỳnh (Vẽ), Nguyễn Minh Nguyệt (Anh văn, Pháp văn), Hà Thị Hồng Loan (Toán, Văn), Vương Thị Lành (Văn), Tiền Ngọc Thanh (Vạn Vật), Nguyễn Ngọc Oanh (Lý Hóa), Trần Diệu Hiền (Thư Ký, Giám Thị), Dương Thị Minh Hoa (Vạn Vật), Lâm Ngọc Mai (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Võ Kim Loan (Văn), Nguyễn Kim Định (Văn), Nguyễn Thị Rớt (Văn), Nguyễn Thị Sồ (Sử Địa), Trần Kim Phấn (Giám Thị), Phan Thị Tuyết Mai (Sinh Vật), Vũ Thị Thêm (Toán), Ngô Thị Tuyết Dung (Văn), Ngô Thị Bình (Anh văn), Nguyễn Thúy Vân (Văn), Dương Huệ Vinh (Hóa Học), Nguyễn Thị Minh Châu (Pháp văn), Trần Thị Mộng Hoàng (Pháp văn), Nguyễn Thị Nhụy (Sử Địa), Trương Thị Bạch Cúc (Văn), Trần Ngọc Cầm (Hóa Học), Cô Điệp, Trương Thị Uyên Nguyên (Toán)… ….

Quý thầy cô gốc người Hà Tiên và đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên:
Hà Văn Điền, Trương Minh Đạt, Trương Minh Hiển, Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Phan Văn Xuân, Tiền Ngọc Thanh, Hứa Văn Vàng, Trần Diệu Hiền, Lâm Ngọc Mai, Lê Quang Khải, Trần Phình Chu, Huỳnh Văn Xền, Trần Đại Thắng, Nguyễn Thúy Vân, Nguyễn Thị Sồ, Lâm Hữu Quyền, Lý Mạnh Thường, Trương Minh Quang Nguyên, Trương Minh Nhật Quang, Trần Ngọc Cầm, Huỳnh Kim Lợi, Cô Điệp, Thầy An, Trương Thị Uyên Nguyên…

Đến đây hết phần 1, chắc chắn là bài viết trên còn rất nhiều thiếu sót và thông tin có phần thiếu chính xác, biên tập Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » mong mỏi quý thầy cô và các bạn bổ túc thêm nhiều chi tiết, thông tin và hình ảnh để bài viết được chính xác và phong phú hơn.

Mời quý vị thầy cô và các bạn đón xem tiếp phần 2, nói về Trường Trung Học Hà Tiên, hình thể, vị trí và hình ảnh học sinh.

Người biên soạn xin chân thành đa tạ tất cả quý thầy cô, các bạn cùng trường lớp và các em cùng quê hương Hà Tiên đã vui vẻ thông tin, góp ý và cung cấp hình ảnh cho mình rất nhiều, mình cũng có dùng một số hình trích từ những trang fb của quý thầy cô và các bạn, xin thành thật cáo lỗi, mong quý vị thông cảm và lượng thứ cho nhé.

Paris, xong phần 1 ngày 14/10/2018, Trần Văn Mãnh (học sinh Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn 1964 – 1970)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Xin đọc thêm về đề tài ngôi Trường Trung Học Hà Tiên:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/gioi-thieu-thay-co-truong-trung-hoc-cong-lap-ha-tien/

https://trunghochatienxua.wordpress.com/chuyen-vui-ngay-xua/

 

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.