Chùa Lò Gạch (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Ký ức về chùa Lò Gạch Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, từ những thập niên 40 (khoảng năm 1945), ở Hà Tiên có xuất hiện một ngôi tịnh xá đơn sơ, vách và mái lợp lá, có tên gọi là Tịnh Xá Chí Hòa. Đó là ngôi tịnh xá do thầy Thích Chí Hòa (thế danh là Nguyễn Văn Tịnh) trên đường du hành tìm Đạo, đã dừng chân tại mảnh đất Hà Tiên và dựng lên ngôi chùa nhỏ nầy. Tịnh xá tọa lạc tại phía đông bắc chân núi Bình San, Hà Tiên, tại đây kề bên tịnh xá còn có một cái lò gạch bỏ hoang từ rất lâu, ngôi tịnh xá cất kề sát với cái lò gạch nầy, vì thế thầy cho mở ra một lối vào lò gạch từ bên trong phía phải của tịnh xá để dùng làm chánh điện thờ các tượng Phật bên trong lò gạch, từ đó tịnh xá Chí Hòa còn có tên bình dân là Chùa Lò Gạch.

Ngôi chùa Lò Gạch rất quen thuộc với mình, vì ngay từ nhỏ mỗi khi qua mấy ngày Tết thì bà ngoại mình làm một chuyến đi cúng chùa quanh phố Hà Tiên, nào là chùa Bà Cửu Thiên, chùa Lò Gạch, chùa Phù Dung, chùa Phật Đường, chùa Tam Bảo,..v…v…. Lần nào bà ngoại cũng dẫn theo ba anh em mình (còn một cô em gái út nữa nhưng vì cô nầy còn rất nhỏ nên ít có dịp đi theo ba anh trai cúng chùa với bà ngoại). Phương tiện di chuyển là xe lôi đạp thùng (loại xe nầy chỉ có ở Hà Tiên, người ta còn gọi là xe « đầu mọt »,…không hiểu ý nghĩa ra sao ?!). Bà ngoại và ba đứa cháu nhỏ đi một chiếc xe lôi đạp là đủ rồi. Mỗi khi đến chùa nào phải dừng lại để vào cúng kiến thì chú đạp xe nằm trên xe nghỉ mát ngoài vệ đường, vì không khí và quang cảnh những nơi có chùa chiền ở Hà Tiên đều rất mát mẻ với nhiều cây xanh chung quanh.

Khi tới địa điểm chùa Lò Gạch thì bà ngoại dẫn ba đứa cháu vào chùa, giới thiệu với bà cô và « huynh Ba » là hai vị trụ trì trong chùa Lò Gạch mà mình biết ngay từ lúc nhỏ vì lần nào đi chùa Lò Gạch đều gặp hai vị nầy. Cho đến ngày nay, mình cũng chưa biết được bà cô và huynh Ba trụ trì là ai, tên họ là gì, có liên hệ họ hàng với nhau không ?? Chỉ biết là bà cô và huynh rất tử tế, nói chuyện với mấy anh em mình rất vui vẻ, hỏi thăm nhiều điều và thường cho ăn trái cây cúng trong chùa. Trong khi bà ngoại tiếp chuyện và tiến hành lễ cúng thì mấy anh em mình được cho lên bộ ván gỗ lớn ngay bên trái trong chùa để ngồi chơi. Từ bên ngoài bước vào chùa thì bên trái có bộ ván gỗ lớn, bên phải là cái cửa thông vào lò gạch là nơi chánh điện, ở giữa chùa cũng có bàn thờ, chắc thờ các vị Tổ và quý vị thần. Phía sau bàn thờ Tổ là hậu liêu, tức nhà sau của chùa, cũng có một cái cửa thông ra núi Bình San sau đó, hình như phía sau chùa, khi mình bước ra khỏi cửa sau thì có một cái nghĩa địa nhỏ, mình cũng có lần đi dự đám táng chôn cất của bạn quen biết tại đây, hình như là anh Đường Hùng Việt an nghỉ tại đây, bây giờ thì không biết cái nghĩa địa nầy có còn nữa không?.

Sở dĩ bà ngoại cho mấy anh em mình an vị trên bộ ván gỗ lớn là vì ngay bên vách tường chỗ kê bộ ván có một bức tranh rất to lớn, vẽ đủ hết tất cả các cảnh hình phạt ở dưới âm phủ, địa ngục do các quỷ sứ thực hành các hình phạt đó. Hồi đó mình rất thích xem toàn bộ các cảnh trong bức tranh to lớn nầy, bức tranh bằng vải trắng dầy, hình vẽ có sơn màu rất tinh vi…Mặc dù thích xem nhưng cũng hơi sợ các quang cảnh hình phạt trong bức tranh, có đủ hết các loại hình phạt: hình hai quỷ sứ đang kéo cưa, cưa làm hai một thân hình một người đàn ông, hình một quỷ sứ đang dùng cây kềm kéo lưỡi một người ra để cắt đứt lưỡi (vì người nầy trên trần gian phạm tội nói dối…, theo lời giãi thích của bà Cô), hình có một vạc dầu đang sôi nóng bỏng, có hai quỷ sứ đang đưa một người đàn bà vào trong vạc dầu sôi đó (vì trên trần gian người đàn bà nầy phạm tội…tà dâm…!!). Còn rất nhiều cảnh xử phạt khác nữa mà mình cũng hơi quên hết rồi, hồi đó mình hoàn toàn không có ý thức là tự thắc mắc ai đã vẽ ra bức tranh nầy, các sáng tạo nầy thật là hay, rất nghệ thuật, từ đâu mà có được bức tranh nầy ..?…Ngày nay khi nhớ lại mình vẫn còn rất thích bức tranh đó, thật sự bây giờ qua các biến đổi của tạo hóa và thời cuộc, qua các quá trình xây cất chùa tân thời và quy mô, bức tranh bằng vải nầy không biết đã ra sao, chắc chắn là đã bị hủy hoại, tan mất trong những đám vật dụng xưa cũ mà người ta không còn trân trọng nữa, thật là rất đáng tiếc, đó là một bức tranh tuy có tính chất tượng trưng nhưng đóng một vai trò giáo dục rất tốt, khi mình xem tranh với những cảnh tượng hình phạt người có tội trên trần gian như thế, mình sớm hiểu biết và tự nhũ sẽ không làm điều gì mắc tội như thế nữa…!!

Nhắc tới bức tranh quang cảnh âm phủ địa ngục như thế, mình và các bạn chắc chắn sẽ nhớ lại thời xưa, ở Hà Tiên có một lúc cũng có một chiếc xe hàng lớn, trong xe cũng có diễn ra quang cảnh âm phủ với đủ các hình phạt do quỷ sứ thực hành như vậy, nhưng bằng các mô hình người máy có cử động thật rất là hay, người ta muốn xem phải mua vé vào bên trong xe thùng nầy để xem, mình còn nhớ rỏ. Chiếc xe nầy đậu tại bùng binh trước dãy quán tiệm ở mé sông Hà Tiên, kế bên bót cảnh sát, bên hông chợ cá cũ Hà Tiên, người ta đi xem rất đông, bên trong xe là cảnh âm phủ rất đẹp có sơn màu và trình bày đủ các quỷ sứ bằng hình nộm cử động được (automates), các hình nộm quỷ sứ nầy diễn ra các hàng động cũng giống như trong bức tranh bằng vải treo trong chùa Lò Gạch ngày xưa, người Hà Tiên, nhất là con nít mua vé vào xem rất đông,…Chiếc xe hàng nầy chỉ lưu lại ở Hà Tiên một thời gian ngắn thôi, thường thường có thể là một hoặc hai tuần lễ, sau đó thì người ta chạy đi qua các nơi khác để tiếp tục hoạt động. Thời đó mà người ta làm được các cảnh người máy cử động như vậy thì thật là rất hay, rất kỹ thuật, tất cả đều « chạy » bằng điện do chiếc xe thùng lớn tự phát ra.

Trở lại kể tiếp việc cúng Phật ở chùa Lò Gạch. Đến giờ cúng, mình còn nhớ và còn hình dung ra được bà cô trụ trì chùa mặc vào bộ áo lễ Phật rất trang nghiêm và rất đẹp, y hệt như bộ áo mà ta thường thấy trong hình vẽ thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh. Trên đầu cũng có đội một cái mũ có nhiều miếng hình tam giác dựng đứng lên phía trên, bà cô cũng có một cây gậy, nhưng đó là cây gậy có tên « tích trượng », cây tích trượng bằng đồng hay sắt, phía trên đầu có rất nhiều khoen tròn gắn dính vào đầu cây…(giống như hình thầy Tam Tạng cầm cây tích trượng). Còn huynh Ba thì cũng mặc áo màu lam vào, trông rất đạo mạo và rất hiền từ. Các bạn Hà Tiên chắc biết và còn nhớ huynh Ba nầy,…không ai biết gốc tích hay tên tuổi của thầy, chỉ biết là người Hà Tiên thường kêu thầy là « huynh Ba », thầy không già, tuổi khoảng chừng 40 trở lên thôi, không biết là người ở đâu, theo tu ở chùa Lò Gạch khi nào, nhưng những lúc mình đến thăm chùa Lò Gạch đều gặp huynh Ba và cũng thường trò chuyện với huynh Ba, vì thầy đều biết mấy anh em mình. Cũng nói thêm về trường hợp của huynh Ba, hồi đó huynh bị nhiễm căn bệnh « cùi », những ngón tay của huynh đều mất hết đầu móng và có vẽ bóng nhẵn nhụi, tuy nhiên rất sạch sẽ không có điều gì xấu xa. Huynh lại là người tu hành, ăn chay nên căn bệnh cũng không phát triển thêm nhiều, có lẽ sau nầy huynh cũng mất vì căn bệnh như vậy. Khi đi hành đạo hoặc cúng kiến tại các tư gia, huynh thường có bộ dụng cụ như bình bát, muổng, ly và đủa riêng để dùng cho mình.

Sở dĩ huynh Ba biết mấy anh em mình nhiều là vì khoảng vào năm 1963 ông ngoại mình mất, trong lúc làm lễ cúng những cái « thất » (tức là cúng những lần vào 7 ngày sau khi mất, cho đến lần cuối là 49 ngày), nhà mình thường thỉnh huynh Ba và thầy Nhật Quang (lúc đó thầy Nhật Quang trụ trì chùa của gia đình là chùa ông Yết Ma cũng gần chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, rồi sau đó nhiều năm thì thầy Nhật Quang trụ trì chùa Phù Dung) đến nhà mình tụng kinh trong lúc cúng « thất ». Hai thầy huynh Ba và Nhật Quang đến nhà mình trước một ngày để tối đó tụng kinh và ngày hôm sau là ngày chính để cúng « thất » cho ông ngoại, hai thầy ngủ lại trong nhà mình một đêm, cùng độ cơm chay ở nhà luôn, vì mỗi lần cúng cho ông ngoại, bà ngoại mình đều cúng cơm chay. Để cho hai thầy giải trí trong đêm đó, mình và anh hai Dõng thường tổ chức « chiếu bóng » cho hai thầy xem. Nói chiếu bóng, tức là thời đó mấy anh em mình đã « chế » ra được một cái « máy » chiếu bóng, đó là một cái hộp bằng carton dầy, bên trong có thiết kế chỗ để một bóng đèn thắp cháy bằng pin đi nhặt ở trại lính thành 18 Hà Tiên. Đối diện với bóng đèn là một cái lỗ trống được khoét thành hình vuông hoặc hình chữ nhật cho ánh sáng thoát ra. Phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn «phim» vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để «sản xuất» một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẽ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chữ nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình «cao bồi» cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh «sản xuất» phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có «phim màu» rồi đó các bạn…). Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chút để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…Hai thầy xem phim rất thích thú và cứ khen hai anh em mình hoài…Ngoài ra trong thời gian đó mình thường vẽ hình ông Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát và sơn bằng màu nước, lúc đó mình có vẽ một bức hình Địa Tạng Vương để tặng cho huynh Ba và thầy Nhật Quang dùng hình để tụng kinh mỗi khi có đi cúng ở nhà người dân.

Ngôi chùa Lò Gạch nằm ngay tại chân núi Bình San, xéo trước mặt chùa bên vệ đường có một cây bồ đề rất to lớn, không biết cây bồ đề nầy có từ bao giờ (chỉ được biết là đã có hơn 70 năm nay rồi), nhưng chắc chắn rằng tuổi của nó cao hơn ngôi chùa Là Gạch rồi. Đối với học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, cây bồ đề nầy là nơi có rất nhiều kỷ niệm. Ngày xưa khi mình vào lớp đệ thất trường Trung Học Hà Tiên, năm 1964, mình bắt đầu theo các bạn lên chơi ở núi Lăng (tức là núi Bình San, nơi có lăng tẩm của nhà họ Mạc). Thường thì trong những buổi đi học ở trường, nếu tình cờ có nghỉ hai giờ đầu hay hai giờ cuối thì nhóm bạn mình, trai có gái có, thường kéo nhau lên núi Lăng chơi để chờ đến giờ học kế tiếp thì kéo về trường vì từ trường đi lên núi Lăng, theo con đường Mạc Tử Hoàng, đi ngang nhà thờ rồi tiếp tục đi thẳng theo con đường mòn lên ngay cây bồ đề và chùa Lò Gạch. Mình còn nhớ rỏ lần đầu tiên theo các bạn lên núi Lăng, lúc đó không biết cây thanh trà là của ai trồng, có người nói đó là vườn thanh trà của ông Từ Ngươn (ông từ nầy giữ gìn lăng và miếu của họ Mạc thời đó) mà các bạn mình hái rất nhiều, cả một giỏ lớn, dĩ nhiên là hái trộm thôi vì rất sợ ông Từ ra bắt được…Sau đó cả nhóm leo lên gốc cây bồ đề trước chùa Lò Gạch để bày ra và bắt đầu ăn trái thanh trà, lúc hái trái thanh trà nầy chưa chín, vỏ còn xanh lè, ăn rất chua nhưng cả bọn vẫn ăn hết một giỏ lớn. Cây bồ đề ở trước chùa Lò Gạch nầy rất to lớn, rễ của cây phủ bao trùm cả một khoảng đất chung quanh gốc cây, tạo thành một bệ đất rất cao và vuông vức, đó là chỗ ngồi và tụ tập rất được nhóm học trò trung học Hà Tiên yêu thích, từ chỗ ngồi trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề, ta có thể ngắm nhìn xuống con đường chạy ngang chùa Lò gạch, đó là một con đường còn tráng đất, chạy từ trước các ao sen của Miếu ông Mạc Cửu cho đến ngang cây bồ đề chùa Lò gạch và tiếp nối qua đến chùa Phù Dung, ngày nay con đường nầy cũng được mang tên là đường Mạc Cửu vì là phần tiếp theo của đường Mạc Cửu từ khúc nhà thương Nguyễn Thần Hiến ngày xưa. Ngồi trên bệ rễ cây của cây bồ đề, ta cũng ngắm nhìn người dân chạy xe đạp qua lại bên dưới con đường và nói chuyện với nhau rất vui. Từ dưới đường nhìn lên cây bồ đề, phía bên trái phần đất do bệ rễ cây tạo nên, hồi lúc đó có một cái miếu nhỏ, bên trong miếu thấy có một pho tượng nhỏ, trên đầu pho tượng có quấn một chiếc khăn đỏ, lúc đó, các bạn học cùng lớp đi chơi trên núi Lăng với mình thường dặn dò là đừng có quấy phá cái miếu nầy, vì đó là ngôi miếu do bà ngoại (hay bà nội) của anh Long lập ra đó, nói anh Long tức là anh « Long bảy búa », nhà anh ở phía dưới xóm Cầu Câu, anh cũng là bậc đàn anh học cùng trường Trung Học Hà Tiên, anh có nghề võ Thiếu Lâm rất cao cường nên ai cũng nể sợ không dám quấy phá ngôi miếu nhỏ đó.

Còn một chuyện nầy nữa chắc các bạn Hà Tiên mình còn nhớ, mình kể luôn ra đây vì chuyện cũng thuộc về phần ký ức nhớ về ngôi chùa Lò gạch, nơi ngày xưa nhóm bạn học sinh của mình lui tới rất thường xuyên. Đó là chuyện về « Cậu Biệt » !!. Bên phía bên kia đường chạy ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch, đối diện với cây bồ đề là một căn nhà, trong căn nhà nầy có một người đàn bà cũng không còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 60 tuổi, bà là « xác » của Cậu Biệt, còn Cậu Biệt thì mình cũng không biết rỏ ngọn nguồn, chỉ biết đó là một người con trai chết khi còn rất trẻ, có lẽ tên là Biệt nên người Hà Tiên gọi một cách kính trọng là « Cậu Biệt »…Hồn Cậu Biệt về nhập vào xác người đàn bà ở căn nhà đối diện với cây bồ đề chùa Lò Gạch, người Hà Tiên lúc đó lên nhà của bà xem rất đông, vì Cậu Biệt « về » để nói chuyện tương lai hoặc để trị bệnh cho dân chúng nếu có ai yêu cầu xin hỏi cậu. Lúc đó mình có xem tận mắt, mình cũng nghe cậu « nói chuyện » thông qua người đàn bà đó, đó là chuyện có thật ở Hà Tiên trong những năm 60-70, còn về chuyện hồn người chết nầy về nhập vào xác người còn sống kia thì mình không thể nói là thật hay giả. Mình tin chắc là nếu các bạn cùng một thời với mình đều có nghe qua và biết rỏ chuyện Cậu Biệt nầy.

Ngay tại khu vườn đất nơi có ngôi chùa Lò Gạch và cây bồ đề mà mình vừa kể ở trên, nơi đó là cửa ngõ để lên núi Lăng. Thật vậy mỗi khi nhóm bạn học của mình lên núi Lăng chơi thì đi bằng ngõ nầy, từ chùa Lò Gạch ra mình quẹo qua bên phải và đi thẳng lên núi, trước hết ta gặp ngay ngôi mộ của ông Mạc Tử Hoàng, đi lên một chút nữa thì gặp ngôi mộ của ông Mạc Thiên Tích và đi thêm nữa sẽ gặp ngôi mộ ông Mạc Cửu. Khi đó bắt đầu đi vòng vòng chung quanh những ngôi mộ nầy sẽ có những luống khoai mì, có luôn những gốc cây mít rất to lớn, tất cả những nguồn cây ăn trái và củ nầy là của ông Từ Ngươn trồng và thu hoạch, vậy mà thời đó với cái đầu óc thiếu suy nghĩ và « vô tư » của nhóm học trò mình, chúng mình đã không ngần ngại đi hái trộm nào là mít, nào là bứt các dây củ khoai mì của ông Từ Ngươn để ăn chơi…thật là có tội nhiều quá, nhân đây xin chuộc tội bằng cách viết lại những kỷ niệm vui nầy để các đàn em sau tụi mình đọc, thông cảm, và hiểu để tránh các trò dù có vui thú nhưng cũng không tốt nầy nhé,…!!

Thời gian trôi qua, từ từ mình và các bạn lên các lớp học cao hơn, phải học bài, dò bài nhiều hơn, từ từ cũng bớt rũ nhau đi lên núi Lăng vui chơi…Cây bồ đề vẫn còn đứng vững theo năm tháng, ngôi chùa Lò Gạch với cái tên chánh thức « Tịnh Xá Chí Hòa » vẫn còn đó dù cho quý vị trụ trì đã thay đổi…Có một lúc người ta xây bậc đá khối chung quanh dưới bệ gốc cây, che và chôn dấu đi những thân rễ cây ngoằn nghèo quen thuộc của ngày xưa (trước năm 1992). Kế thân cây người ta cho dựng lên một pho tượng Phật Thích Ca màu trắng, ngay chỗ ngày xưa tụi mình thường ngồi chơi và ăn trái cây hái trộm…, ngôi miếu nhỏ của bà ngoại hay nội của anh Long không còn nữa,…, trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề thì chắc bây giờ không ai được phép leo lên ngồi chơi như kiểu ngày xưa thời chúng mình rồi…Phía trước mặt pho tượng Phật Thích Ca, một thời gian sau đó người ta có đặt một cái lư hương lớn, cốt yếu chỉ để trang trí khung cảnh cây bồ đề và Đức Phật. Ngôi chùa Lò Gạch bắt đầu thay đổi hình dạng, ngôi chùa gỗ ngày xưa quen thuộc của nhóm học trò Trung Học Hà Tiên không còn nữa, người ta thay thế vào đó một ngôi chùa gạch, xi măng, sang trang, nhưng cũng không kém phần xa lạ với những người xưa như chúng mình,…Ngôi chánh điện là cái lò gạch may mắn thay vẫn còn đó, người ta không nở phá bỏ cái lò gạch nầy, thay vào đó người ta xây cất lại , mở thêm một cái cửa ra vào phía ngoài, phía trên nóc của cái lò gạch thì người ta cho dựng lên nhiều pho tượng Phật. Hình như cũng còn chưa đủ tính chất phát triển lớn mạnh của khu nầy, người ta cho cất thêm một ngôi chùa lớn chắn ngay tại cửa ngõ lên núi Lăng mà mình đã kể ở trên, sau đó lại cho xây tường rào bao quang toàn bộ khu vực chùa chiền nầy, ngôi chùa Lò Gạch ngày nay đã rất to lớn, quy mô với tường rào, cửa cổng và nhiều pho tường rải rác chung quanh chùa, tất cả tạo thành một khu chùa với tên gọi mới là Chùa Phật Đà, cái bệ gạch với xi măng bao kín khối rễ cây bồ đề thì đã mất đi, nhường chỗ cho các rễ cây hiện rỏ ra như ngày xưa, có lẽ người ta sợ bịt quá kín khối rễ cây nầy bằng xi măng thì cây sẽ chết đi…, vậy cũng tốt.. Mình cũng có dịp may mắn viếng ngôi chùa Phật Đà ngay lúc còn đang được phát triển và xây cất, trên chòm lá to rộng phủ cả một vòm trời của cây bồ đề, người ta cho treo đèn, kết hoa để ban đêm chiếu sáng toàn cả chòm cây, trông rất đẹp mắt, nhưng thử hỏi với nhu cầu tu hành ta có cần những dấu hiệu như vậy hay không, thôi mỗi thế hệ có cái cơ duyên của nó, thế hệ vui chơi vô tưu lự trong không gian tỉnh lặng và đơn giản của tịnh xá Chí Hòa của nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên đã qua rồi, hãy nhường lại cho thế hệ hiện tại với cái trang trí mới mẻ và hiện đại của nó…!!

Hình ảnh xưa nhất về chùa Lò Gạch và cây bồ đề, phía bên phải chính là tịnh xá Chí Hòa (Hà Tiên), người trong hình là Trần Hoàng Trang, học sinh Trung Học Hà Tiên. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

Hình ảnh nguyên thủy của chùa Lò Gạch (Tinh xá Chí Hòa, Hà Tiên) bên trái là một phần chùm rễ của cây bồ đề trước chùa, bên phải (không nhìn thấy trong hình) chính là vị trí của lò gạch xưa. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Lò Gạch:

Vào năm 1954 hòa thượng Thích Chí Hòa (thế danh Nguyễn Văn Tịnh) ) cho xây dựng một ngôi tịnh xá bằng cây, lá với tên gọi là tịnh xá Chí Hoà. Do chánh điện của tịnh xá tọa lạc trong một lò gạch bỏ hoang nên người dân địa phương còn gọi là chùa Lò Gạch.

Năm 1949, hoà thượng Chí Hoà cùng một số đệ tử sang Campuchia hoằng pháp và năm sau trở về quê hương Việt Nam. Một trong những đệ tử thời đó là sư cô Chí Hảo 8 (thế danh Đường Minh Hòa) trở về chùa cũ, xây dựng một căn nhà gần đó. Đến năm 1954, hòa thượng Chí Hòa viên tịch tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kế thế trụ trì tịnh xá Chí Hoà là hoà thượng Thích Quảng Tấn – không rõ thế danh, gốc gác. Sau khi hoà thượng Quảng Tấn viên tịch, trụ trì chùa là bà Dương Thị Thoàn (pháp danh Diệu Trí). Sau đó nhiều năm vì hế cuộc thăng trầm, chiến tranh loạn lạc, ngôi tịnh xá cổ kính rêu phong chịu đựng với phong sương tuế nguyệt, tình trạng đã hư hao rất nhiều.

Đến năm 1993, Hội Phật giáo tỉnh Kiên Giang đổi tên tịnh xá Chí Hoà thành chùa Phật Đà và đồng thời bổ nhiệm đại đức Thích Huệ Tâm (thế danh Nguyễn Phước Thành) về trụ trì và vào tháng 9 năm 1993, thầy trụ trì chùa cho khởi công xây cất mới lại ngôi chùa đạo tràng, đến năm 2009 thì toàn bộ khu chùa Phật Đà đã hoàn thành với nhiều công trình trang trí gồm nhiều pho tượng, khối đá và tường bao quanh với hai cổng chánh cho đến nay. Thầy Thích Huệ Tâm về vùng đất Hà Tiên này như để phục nghiệp chốn Tổ, tiếp nối truyền thống phổ hệ truyền thừa dòng Lâm Tế Chánh Tông.

Cây bồ đề và tượng Phật Thích Ca trước chùa Lò Gạch cũ, bên trái là một phần lò gạch dùng làm chánh điện ngày xưa, trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: dpa picture alliance 2AK333D (alamystockphoto), khoảng trước năm 2000

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Bên phải hình là cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa (ngôi tịnh xá lúc nầy đã bị phá hủy, bên trái hình là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới cất), trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: TVM, 1994

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Phía sau là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới xây cất. Hình: TVM, năm 1994

Cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa kể từ năm 1954 cho đến những năm đầu thập niên 90. Bên trong ta còn thấy có bàn thờ Phật và có một vị sư đang ngồi niệm Phật. Lúc nầy mái lò gạch còn lợp bằng một tấm thiếc lớn, ngôi tịnh xá Chí Hòa kề sát với lò gạch thì đã bị phá hủy. Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trinh bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Hình phía trên nóc của chánh điện lò gạch, miếng thiếc lợp nóc lò gạch đã bị tháo ra, chuẩn bị xây nóc và mái mới trên lò gạch nầy để phù hợp với chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trình bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn học Trung Học Hà Tiên, ngồi bên phải) đang đàm đạo với thầy trụ trì THích Huệ Tâm chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Di ảnh thân mẫu của bạn Nguyễn Đình Nguyên thờ ở tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch xưa) sau đó chuyển qua thờ trong chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Con đường nối liền đường Mạc Cửu chạy từ trước đền thờ Mạc Cửu đi ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch. Bên trái và dưới hình là đền thờ Mạc Cửu, bên phải và dưới hình là bờ ao sen trên. Đầu con đường phía trên trong hình là đi tới chùa Lò gạch và thẳng góc với con đường mòn nối liền đường Mạc Tử Hoàng. Con đường trong hình nầy giờ cũng mang tên là đường Mạc Cửu. Hình: TVM, năm 1999

Phần bên trái của toàn khu gồm nhiều ngôi chùa nối liền nhau tạo thành chùa Phật Đà (Hà Tiên), hậu thân của chùa Lò Gạch. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Ngày xưa trong thập niên 60-70, đây là cửa ngõ mà nhóm bạn học Trung Học Hà Tiên của mình theo phía nầy để lên núi Lăng. Hình: TVM, năm 1999

Toàn bộ ngôi chùa Phật Đà (Hà Tiên) được xây cất vào ngay khu đất có nhiều cây xanh ngày xưa nơi có chùa Lò Gạch (chùa Lò Gạch xưa tức là tịnh xá Chí Hòa lúc nầy đã bị phá hủy, vị trí ngày xưa là bên phải, phía sau cây bồ đề). Bên phải hình là cây bồ đề với tượng Phật Thích Ca vừa mới đặt thêm trên bệ rễ cây trong những năm đầu thập niên 90. Hình: TVM, năm 1999

Từ phía dưới con đường chạy ngang cây bồ đề nhìn lên khu chùa mới cất (chùa Phật Đà, Hà Tiên). Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Hình: TVM, năm 1999

Phía trên cao, trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên) nhìn xuống dưới con đường chạy ngang qua cây bồ đề. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh và bệ gốc rễ cây bồ đề đã được tháo bỏ lớp xi măng và gạch xây bít kín trước đó (khoảng 1992). Hình: TVM, năm 1999

Cây bồ đề trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên), góc nhìn từ phía chùa ra ngoài đường. Hình: TVM, năm 1999

Khu chùa Lò Gạch xưa (từ năm 1993 đã đổi tên là chùa Phật Đà, Hà Tiên), trước năm 2010 đã bắt đầy xây tường gạch và cổng lớn bao quanh.

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Con đường hiên nay mang tên Mạc Cửu chạy từ trước miếu Mạc Cửu ngang qua cây bồ đề chùa Phật Đà hiện nay (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh phía bên trong tường gạch chung quanh chùa Phật Đà (Hà Tiên), ta thấy cái lò gạch chánh điện ngày xưa đã được chỉnh trang lại với một lối vào mới và nóc lò gạch được xây gạch hình chỏm cầu, phía trên có an vị nhiều tượng Phật trên nóc. Hình: TVM, năm 2012

Phía trên nóc lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tượng Phật từ năm 2009.

Toàn cảnh lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tường Phật từ năm 2009.

Tượng Phật mới và trang trí bên trong lò gạch từ năm 2009, phía trên nóc đã xây gạch hình chỏm cầu.

Paris, viết xong ngày 18/01/2020 Trần Văn Mãnh

Tái bút:

1/ Đặc biệt tác giả trân trọng cám ơn em Trần Hoàng Trang, một cựu học sinh Trung Học Hà Tiên trong những năm 70, đã chia sẻ tấm hình về ngôi tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch ngày xưa) rất hiếm và quý.

2/ Theo tin các bạn người Hà Tiên cho biết về cái nghĩa địa nhỏ bên phải chùa Lò Gạch xưa: Bên phải lò gạch là phần đất chôn người chết …dài qua tới chùa ông Yết Ma, sau này vì nhu cầu cần đất cho người ở nên dần dần người ta cải táng di dời đi nơi khác…Chùa Phật Đà đã mua lại một số đất liền kề về phía chùa Phù Dung để mở rộng khu chùa. Trong phần đất nầy ngày xưa có mồ mả của gia đình bạn Trần Phước An, đó là mồ mả của ông bà Yết Ma, nay đã dời đi hết cả. Phần đất nầy dành cho sự xây dựng Viện Dưỡng Lão, hiện sắp hoàn thành.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Chú thích: Theo tài liệu của Phật Giáo Kiên Giang (Giác Ngộ Online), sau đây là tên các vị thầy đã có thời gian trụ trì ở chùa Tam bảo Hà Tiên:

« Đời trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo là Hòa Thượng Ân Hạ cũng là vị Hòa thượng khai nguyên cho Phật Giáo xứ Hà Tiên. Đến nay, chùa Tam Bảo đã trải qua 19 đời trụ trì là những vị chân tăng như Hòa Thượng Hòa Quang, Thiền sư Nhất Đới, Thiền sư Trí Tàng, Thiền sư Hoằng Ân, Thiền sư Hải Huệ, Thiền sư Giác Ngạn, Thiền sư Như Đức, Thiền sư Như Khả, Thiền sư Phước Chơn, Hòa Thượng Thuần Hạnh, Yết Ma Phước Thành, Hòa Thượng Phước Ân (1920 – 1946), Hòa Thượng Phước Quang, Hòa Thượng Quảng Đức, Hòa Thượng Vĩnh Đạt, Hòa Thượng Chánh Định, Thượng Tọa Thiện Giác (1960 – 1974) và  từ năm 1974 đến nay là Ni sư Thích Nữ Như Hải (thế danh Huỳnh Thị Phước).

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.