A propos tranvanmanh18

Học sinh Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên vào những năm 60' - 70'. Đây là một Blog để ghi lại hình ảnh, tin tức Thầy, Cô, và các bạn cùng trải qua dưới mái trường Trung Học Hà Tiên vào những năm xưa. Xin mời Thầy Cô và các bạn hãy đóng góp tất cả hình ảnh và thông tin về chủ đề nầy, xin trân trọng cám ơn......(TVM)

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 3)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

(tiếp theo phần 2)

11/ Đường Tham Tướng Sanh ngay tiệm trồng răng Phục Hưng ngày xưa (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường Tham Tướng Sanh là một trong hai con đường ở hai bên ngôi chợ cũ của Hà Tiên (con đường kia tên Tuần Phủ Đạt). Tính từ bên trái qua bên phải của hình, đầu tiên có căn nhà thấy phân nửa đó là tiệm Hiệp Lợi (nhà của gia đình Trịnh Tố Chinh), kế đến căn nhà có dàn cây xanh phía trên đó là tiệm trồng răng Phục Hưng, nhà của bạn Sện (Tường, và có em trai là Bẻ), ngày xưa mình thường đến chơi nhà bạn Sện), căn kế về phía phải màu xanh dương là tiệm Mỹ Nam, kế đến căn màu tím nhạt là nhà của Bà Năm Quới bán trầu cau ngày xưa, kế đó căn nhà nhỏ màu vàng là nhà chị Đỗ Mùi, bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…v…v…, còn căn nhà lầu ở bìa phải thì mới cất lên sau nầy, ngày xưa nơi đó là con hẻm nhỏ đi thẳng vào là tiệm tạp hóa của Dì Hai Sánh, má của cô Điệp phu nhân của anh Minh Thế., nếu tính về phía phải nữa (không còn thấy trong hình) thì là tiệm cơm Xuân Thạnh rất nổi tiếng và nhiều khách ăn ưu chuộng ngày xưa.

12/ Thành phố Hà Tiên nhìn từ phía cầu phà bắc

(Hình: Hồ Anh Dũng, năm ?)

Đây là một hình ảnh rất quý giá và hiếm…Hình nầy có một giá trị lịch sử rất cao vì bây giờ ta không thể chụp lại cảnh thành phố Hà Tiên từ bến bắc nhìn lên như vầy được nữa. Tấm vách xi măng « Những địa chỉ cần ích » bên trái hình đó, mình nhớ rất rỏ vì ngày xưa lúc người ta đang vẻ viết bảng nầy chính mình có đứng xem, họa sĩ viết bảng nầy hình như là ông Phụng Đài ba của bạn Mạnh học chung với mình ở Tiểu Học. Trong bảng « Những địa chỉ cần ích » nầy có các mục giúp cho du khách tìm các địa chỉ dễ dàng như: Khách Sạn (Đại Tân…), Tiệm Ăn (Xuân Thạnh…), Vật kỹ niệm (Lâm Văn Cao, Phan Văn Thân, Lê Minh…). Còn chiếc cầu bắc đó mình đi lên xuống biết bao nhiêu lần rồi, mỗi lần đi Rạch Giá về đều qua cầu bắc nầy…Có khi thường xuống cầu bắc nầy ngồi chơi. Dảy phố phía xa trong hình đối diện với con đường Trần Hầu. Đầu tiên từ bên phải qua bên trái, đó là tiệm đồi mồi Lê Minh, kế đến là tiệm hớt tóc Trần Kỷ, ngày xưa mình là khách hớt tóc quen thuộc của ông Trần Kỷ, đúng ra là nhà của má Tỷ Tuột (Lào Xiếm) cho Trần Kỷ mướn phía ngoài để hớt tóc thôi. Kế đến là tiệm buôn hải sản hiệu Tân Dũ Hưng, kế nữa là một tiệm tạp hóa Cù Thú rồi đến căn nhà tiệm hình kỷ niệm và có bàn billard của ông Quách Ngọc Bá. Bên bìa trái là tiệm cơm rất nổi tiếng ngày xưa là tiệm Xuân Thạnh, ta còn thấy rỏ nóc có vách màu trắng của ngôi chợ cũ Hà Tiên, cuối cùng thật xa bên trái là một phần căn phố của con đường Tuần Phủ Đạt.

13/ Nhà vệ sinh công cộng hình bát giác trước năm 1958 (Hà Tiên)

(Hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958)

Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

14/ Trẻ em ở Đài Kỷ Niệm 1965 (Hà Tiên)

(Hình: Photo: Cliff Rocheleau, năm 1965)

Đây là một bức hình do một người lính Mỹ chụp vào năm 1965 (Cliff Rocheleau) tại bến tàu Quan Thuế dưới Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên. Theo sự nhận xét của một số bạn Hà Tiên quen biết thì những em bé nầy có thể là con của những gia đình làm nghề đánh cá ở phía Cầu Câu, Pháo Đài. Có điều có thể xem như chắc chắn là hình em bên bìa phải là con trai của Ông Thái Dủ, tên là Hồ (Huỳnh Minh Hà), lúc xưa gia đình của Ông có cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm nầy (cây xăng ở bên trái hình, không thấy trong hình). Phía xa là Đài Kỷ Niêm màu trắng ở về bên trái, xa nữa là mặt hông của chợ cá cũ Hà Tiên. Ở giữa hình cặp mé sông còn có một dãy băng đá mà ngày xưa các bạn trẻ thường hay ra ngồi chơi ngắm sông nước…Có vài ý kiến cho là em bé mặc áo bông rằn màu xanh giống em  » Tuấn cùi » con cô Thìn, Ông Đây. Em bé đưa tay chào theo kiểu nhà binh thì giống em Châu con của Bà Tám Lệ, cháu ông Bảy Kế…Từ phải sang trái em thứ tư (đứng phía sau) thì giống em Phò con Ông chủ lò bánh mì Đồng Xương…

15/ Đường Tuần Phủ Đạt, ngay khúc có các căn nhà lầu bạn Hồ Anh Dũng, Lương Cường và Hồ Thị Kim Hoàn (Hà Tiên)

(Hình: David.B.Crawford, năm 1966)

Đây chính là con đường Tuần Phủ Đạt, phía bên phải gần nhất là nhà Ông Âu Tư (ba của bạn Hồ Anh Dũng), Sanh Hoạt (Lương Cường), và lần lượt là nhà Hồ Thị Kim Hoàn và tiệm Đồi Mồi Phan Văn Thân. Phần đất trống có cỏ xanh sau nầy là rạp hát chiếu bóng Phát Minh.  Phía xa xa đó là đường Lam Sơn với nhà Bác Ba Góp và nhìn thẳng ra bờ sông. Có một thời gian phần đất trống (sau năm 1975) dùng làm địa điểm nhóm chợ tạm bán hàng hóa biên giới, sau đó có xây một kho bạc và hiện nay đã không còn kho bạc đó. Một thời gian sau nầy, khu nầy có người dùng nhà làm nơi nuôi yến. Bên phía trái hình là một dãy phố mười hai căn, đó là các căn nhà Ông Tàu Tắc, Ông Nam Xến,…, và căn biệt thự của gia đình thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…).

Xin bổ túc thêm chi tiết về bức hình nầy: tác giả tên là David. B. Crawford (Dave Crawford) là một người lính Hãi Quân Mỹ ngày xưa, phục vụ trên chiếc tàu USCGC Point Garnet (WPB-82310), tàu nầy có mặt ở VN từ 1965-1969, sau 1969 tàu nầy được trao lại lại cho Hãi Quân VN và đổi tên là Lê Văn Ngà HQ 701.

(Còn tiếp phần 4)

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 2)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa..

(tiếp theo phần 1)

6/ Ngả tư đường Nhật Tảo – Lam Sơn (Hà Tiên)

(Hình: Adriaan Castermans, trước năm 2013 )

Đây là ngả tư đường Lam Sơn (con đường nằm ngang cạnh dưới của hình) và đường Nhật Tảo (con đường thẳng đứng bên góc phải của hình). Bên góc phải phía dưới của hình là nhà cô Dương Hồng Châu (không thấy trong hình). Bên góc trái phía dưới hình là nhà của anh Độ, anh Kiệt. Quán nước có mấy cái ghế màu xanh là của một người giữ chùa Ông Bổn , kế đến là chùa Ông Bổn (không thấy trong hình) và phía sau chùa Ông Bổn là trường học Hoa Liên ngày xưa. Trên con đường Nhật Tảo (thẳng đứng trong hình, nếu từ phía dưới đi lên là gặp ngay ngả tư Nhật Tảo – Chi Lăng. Bên phải con đường Nhật Tảo nầy là mặt nhà phía sau của thầy Phan Văn Xuân (mặt trước nhìn ra đường Nguyễn Thần Hiến).

7/ Ngả tư đường Bạch Đằng – Chi Lăng (Hà Tiên)

(Hình: Dustinand Theresa, năm ?)

Đây là hình ngả tư đường Bạch Đằng (con đường bên góc trái phía dưới hình) và đường Chi Lăng (con đường bên phải hình, ở đây ta không thấy trong hình). Căn nhà màu vàng bên phải hình là nhà của gia đình ông Thái Dũ ngày xưa, ngày xưa nhà nầy thường đóng cửa. Kế đó về bên phải căn nhà màu xanh ngọc là nhà của anh Chí anh của bạn Tăng Kim Sơn, lúc trước nhà nầy thường cho trẻ con đến thuê chơi trò chơi điện tử. Chỗ có hai người thợ mặc áo màu cam là nhà của thầy La Từ Sự ngày xưa, nhà có các cửa hình vòng cung, kế đó là căn nhà lầu cao màu xanh dương, ngày xưa là nhà ngủ Bình Dân, Ông Nội của Lâm Thái Sơn.

Căn nhà màu vàng và màu xanh ngọc trên đường Bạch Đằng. (Hình: HuynhNT, năm ?)

Căn nhà thầy La Từ Sự trên đường Bạch Đằng. (Hình: HuynhNT, năm ?)

8/ Đường Lam Sơn bên vách nhà Bác Ba Góp (Hà Tiên)

(Hình: Fred Abery, năm 2014)

Đây là một khúc của con đường Lam Sơn.Vách nhà màu vàng trong hình ngày xưa là nhà của Bác Ba Góp, má của anh Minh Thế, anh Mạnh và bạn Nhựt. (anh Minh Thế là phu quân của cô giáo Điệp con Dì Hai Sánh bán tạp hóa, ngày xưa anh Minh Thế thường làm chánh thơ ký cho Tổng Hội Phật Giáo Thống Nhất Hà Tiên ở chùa Tam Bảo, còn anh Mạnh thì mình không nhớ rỏ lắm, Nhựt thì là bạn học lúc còn ở trường Tiểu Học với mình). Nghe nói nhà nầy hồi xưa Bác Ba Góp thuê lại của hia Chiêu, sau đó hia Chiêu lấy lại, sửa sang lớn ra. Bên hông nhà còn có cánh cửa sắt. Bên phải hình sau cánh cửa sắt là vách nhà màu xanh, sau đó là nhà hia Phón, vai anh cô cậu với anh Giang Văn Chương, có bà con với nhà mình. Đối diện với nhà hia Phón, là nhà sửa xe đạp Ông Tám Trọng, kế đó là tiệm Huệ Nguyên và tiệm đồi mồi Phan Văn Thân. Nhớ ngày xưa mình cũng có đặt sơn lại chiếc xe đạp ở tiệm ông Tám Trọng nầy, khi thấy cái sườn xe mới của mình được sơn rồi còn treo trước cửa tiệm để chờ khô và ráp lại, thì cứ mừng chờ cho xong để lấy xe đạp sơn mới về chạy… 🙂 …

(Hình: Fred Abery, năm 2014)

(Hình: Fred Abery, năm 2014)

(Hình: Philip Genochio, năm 2009)

9/ Đường Lam Sơn nhìn ra phía chợ và sau tiệm Lâm Văn Cao (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường trong hình là đường Lam Sơn, bên trái hình có căn nhà lớn màu hồng chính là tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, kế đó là căn nhà lầu màu xanh lá cây, hồi xưa chưa có căn nhà nầy, đúng ra phía sau tiệm đồi mồi Lâm Văn cao còn có một căn hẻm rất nhỏ, có nhà tắm, nhà bếp, phía trên còn có sân thượng nữa, nhưng sau đó các phần nầy đều bị cắt ra và tận dụng để cất căn nhà màu xanh nầy vào đó, thành ra hai căn nhà riêng biệt. Tính trở về phía bên phải hình, từ nhà màu xanh thì kế là tiệm may của hai chị Bích Nhung và Bích Thủy, rồi đến nhà may Châu Hà, rồi tới nhà bà Năm Quới ngày xưa có tiệm bán trầu cau ở chợ căn đối diện với tiệm tạp hóa anh Bôn, kế nữa là nhà Bà Nịu, và sau cùng tận cùng bên phải hình là nhà xưa của gia đình Trần Bình, hiện tại là căn nhà lầu của anh Cáo Di.

10/ Đường Tuần Phủ Đạt nhìn về vườn Ông Ba Lón (Hà Tiên)

(Hình Hồ Anh Dũng, trước năm 1972)

Một khúc đường Tuần Phủ Đạt đối diện bên hông nhà lồng chợ cũ Hà Tiên. Bên phải hình là ngôi chợ cũ Hà Tiên. Bên trái hình, tính theo thứ tự, đầu tiên là tiệm Đức Thạnh, rồi kế tới là tiệm chụp hình Đức Quang, kế nữa là nhà Hia Chiêu và căn bìa là tiệm Bác Ba Góp. Tới đây thì có con đường Lam Sơn chạy ngay thẳng góc với đường Tuần Phủ Đạt nầy. Qua bên kia đường Lam Sơn, dọc theo bên trái đường Tuần Phủ Đạt thì có tiệm đồi mồi Phan Văn Thân, tiệm vàng Minh Ngọc (gia đình Kim Hoàn, Kim Nga,…) …Bên phải hình, qua khỏi nhà lồng chợ cũ Hà Tiên, phía trên có cây me, góc đường nầy là nhà Ông Tào Lái thợ may, nhà có bạn Trọng hồi xưa học chung trường Tiểu Học với mình. Tiếp theo phía sau nhà ông Tào lái là nhà của quý thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…Ở giữa hình phía xa nhất là ngôi vườn của nhà ông Ba Lón, nhà bạn Tăng Kim Sơn.

(Còn tiếp phần 3)

 

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 1)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

1/ Nhà cô Muối: góc đường Lam Sơn – Phương Thành, (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998)

Đây là góc đường Lam Sơn (bên trái) và Phương Thành (bên phải). Căn nhà bìa mở cửa trong hình là nhà cô Muối, kế bên là nhà củ Cang, kế nữa là nhà Hia Bấu, chế Mũm. Đối diện là nhà bạn La Văn Hủi, La Văn Gồi , Huỳnh Kim Châu. Căn nhà lầu là nhà chế Mũm, có con gái tên là Lâm Kim Hoa, học trường Hoa có tên kêu là Mỹ Anh. Cô Muối là chị của bạn Vương Bình Phước, Vương Đình Lộc. Cô dạy trường Tiều Học Hà Tiên, là phu nhân của thầy Lê Phước Lộc dạy môn Thể Dục. Mình không biết thời gian chụp bức hình nầy.

2/ Đường Bạch Đằng nhìn lên phía nhà lầu anh Cáo Di (Hà Tiên)


(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Đường Bạch Đằng, bên trái hình chổ vài căn nhà ngói cũ kỷ, khúc trên là nhà anh Trần Hồng Khanh, kế đó về phía bến Trần Hầu là nhà Bác Cang hồi xưa hay bán vé xe đò Liên Trung, Lộc Thành, ba của hai chị Lệ và Liểu. Xuống hết đầu đường là tiệm đồi mồi Lê Minh. Còn đầu đường trên là miếng đất trống, hồi xưa có căn nhà ngói rất xưa của gia đình anh Khai, anh Tòng. Sau đó nhà ngói bị phá bỏ và anh Khai mở tiệm cafe cơm tấm hiệu là Lan Chi . Đối diện tiệm anh Khai bên nầy đường là biệt thự của cô Hiền, xuống một chút là tiệm cafe hủ tiếu Quãng Phát, rồi kế là một căn nhà hay đóng cửa hoài, nhà của chế Lêm may quần áo con của Ông Èm Sen. Sau cùng là phía nhà sau của ba má anh Trần Binh mặt trước là tiệm cho đánh billard …Còn căn nhà đúc đầu đường có bốn cửa sổ cong cong đó là nhà anh Cáo Di, nhà nầy hồi xưa còn là nhà ngói đời trước là của ba má anh Trần Bình …

3/ Đường vô Thánh Thất Cao Đài bên xóm Tô Châu (Hà Tiên)

(Hình: Axel Drainville, năm 2011)

Con đường nầy lúc đầu rất khó nhận ra, nhưng nhờ nhiều ý kiến đóng gớp mới biết đó là con đường dọc theo mé biển dưới chân núi Tiểu Tô Châu. Ngày xưa khi đi qua cây cầu nổi, tới bên kia xóm Tô Châu, quẹo trái là ngay con đường nầy. Bên phải là bến xe đò cũ. Đầu con đường nầy là hảng nước Mắm Bỉnh Ky. Ngày xưa khúc đường vừa qua cầu nổi bên trái có một quán nước có chiếu video ăn tiền cho khách xem. Trên con đường nầy có Thánh Thất cao Đài, và phía trên núi thì có Tịnh xá Ngọc Tiên, nếu đi sâu vào cuối đường thì ra sông rạch đi Phú Mỹ, Giang Thành.

4/ Đường Trần Hầu nhìn qua Ty Quan Thuế và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Con đường Trần Hầu hơn 30 năm về trước. Bên phải là khu có tiệm cây xăng của gia đình Ông Thái Dũ, xa hơn nữa là Đài Kỷ Niệm và chợ cá Hà Tiên. Bên trái hình là khách san Vân Tiên, sau đổi tên là khách sạn Hà Tiên, trước năm 1975 thuộc về gia đình bạn Trần Văn Hữu. Chú ý là có một cây cột sắt màu trắng, đó là cột đèn hải đăng ngày xưa. Phía trên là khu nhà làm việc và nhà ở của Ty Quan Thuế. Qua bên đường Mạc Công Du là quán nem nướng của gia đình bạn Nguyễn Thúy Vân, tiếp theo là nhà dì Loan má của bạn Tô Vĩnh Tuấn, kế nữa là tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm và nhà của bạn Trần Ngọc Sương… Đặc biệt phía bên phải hình hơi xa ta thấy có mái ngói của một căn nhà, có rất nhiều ý kiến về căn nhà nầy: lúc xưa là chợ cá, do công ty Thủy Sản xây dựng, sau đó làm cơ quan cho đội quản lý chợ. Còn người đẹp áo tím trên xe đạp thì không biết là ai, chắc giờ nầy đã lên chức bà nội, bà ngoại rồi…

5/ Nhà Hiến Binh xưa tại ngả tư đường Mạc Công Du – Mạc Cửu (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Căn nhà trong hình thời xa xưa là tòa án, sau đó để cho Hiến Binh ở, rồi sau nữa là nhà cho cảnh sát ở, trong đó có nhà của gia đình chú Ba Sanh ở. Con đường trước mặt căn nhà là đường Mạc Công Du, đường bên hông bên phải là đường Mạc Cửu. Đối diện với căn nhà nầy là phía sau khu vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn. Qua bên nầy đường Mạc Cửu, bên phải là nhà cô giáo Điệp vợ của anh Ba Mẩn, rồi tới khu Học Đường Viên cho gia đinh quý thầy cô ở, ngày xưa có nhà thầy Trịnh Học Ký, Nguyễn Văn Thất, Trần Hòa Hùng,..v..v… và lên nữa là ngay trường Tiều Học Hà Tiên. Phía trái căn nhà nầy trên đường Mạc Công Du về phía chợ là sân đánh quần vợt ngày xưa, trong sân nầy có một cây trâm rất lớn; ai đi chơi tối về ngang qua khu cây trâm nầy rất sợ ma…Về phía chợ nữa là căn nhà của gia đình Ông Kiều, ba của bạn Dzung Tran.

(Còn tiếp phần 2)

 

Anh Hào, anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời xa xưa ở nơi Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta, ai ai cũng biết nhau, nhất là đối với những bạn bè và người quen biết trong khu phố chợ Hà Tiên. Mình muốn nhắc đến những cặp anh em sinh đôi mà ít nhiều có « tiếng tăm » ở Hà Tiên… Thứ nhất là cặp sinh đôi mà chính mình là một trong hai: Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh, rồi cặp Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt (gia đình có tiệm thuốc tây Thanh Bình ở phía dưới chợ cá cũ), cặp Phật Tử ở chùa Tam Bảo ngày xưa Khưu Thiên Phước, Khưu Thiên Lộc,…v…v….., và còn nhiều nữa mà mình không nhớ ra tên. Ngoài ra ở Hà Tiên còn có những cặp sanh đôi nữ nữa…Bây giờ nói trở lại cặp anh em sanh đôi Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt: đó là hai người bạn thân của anh em mình ngay từ thời còn học trường Tiểu Học. Hào, Kiệt, Dõng, Mãnh đều học chung một lớp ở bậc Tiểu Học. Mình còn nhớ nhiều kỷ niệm với Hào Kiệt lúc còn ở Tiểu Học, nhất là lúc học lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Pho. Nhớ có năm học lớp Nhứt đó, thầy Pho cho làm thủ công, mỗi học trò trong lớp phải làm một cái nhà nhỏ bằng giấy carton. Mình và Lâm Tấn Hào đem vào lớp mỗi đứa một cái nhà bằng giấy rất đẹp, có bạn làm một căn nhà tuy rất đẹp nhưng rất giống loại nhà người ta đốt khi cúng cho người chết, thầy Pho nhìn cười và nói sao giống « nhà táng » quá…!! Ngoài sinh hoạt ở lớp học ra, mỗi buổi chiều hai anh em mình thường đến nhà hai bạn Hào, Kiệt ở đường Mạc Công Du để rủ đi chơi. Lần nào cũng vậy, hai bạn Hào và Kiệt nói chờ tắm xong sẽ đi, vì là con nhà giàu nên chiều nào cũng tắm rửa sạch sẽ trước khi đi chơi…Lúc đi chơi thì cả nhóm kéo tới các băng đá ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, ngồi nhìn ra mé sông, và nói đủ thứ chuyện, dĩ nhiên là không thiếu chuyện con gái…Lúc đó còn có bạn Khoa (mình quên họ rồi, hình như là Châu Văn Khoa) con của chủ tiệm cơm Xuân Thạnh cũng đi chơi chung, và có một người bạn mang kiếng cận con của chú phát thơ làm ở Bưu Điện thời đó, cũng có hai anh em bạn Túc con của nhà Mã Chính Yên ở phía Đông Hồ trước bến tàu đi Rạch Giá….Cuối năm học lớp Nhứt, phải chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất, năm đó đề ra về môn toán rất khó, còn đề môn Văn thì phải bình luận câu « Dùng hàng nội hóa là yêu nước »…Mình cũng làm xong bài về hai môn nầy nhưng kết quả ra là minh, Hào và Kiệt đều rớt hết, cả ba đều ở lại lớp Nhứt, chỉ có anh Trần Văn Dõng thi đậu lên lớp Đệ Thất , thế là sau cả quá trình học ở bậc Tiều Học, hai anh em đều học chung lớp nhưng khi lên bậc Trung học thì người học năm trước, người học năm sau..Năm đó mình ở lại và vào lớp Tiếp Liên của thầy Hà Phương Linh dạy, ngày xưa thầy Linh dạy rất nổi tiếng về lớp Tiếp Liên, tức là lớp chuyển tiếp từ bậc Tiểu Học lên bậc Trung Học, năm đó được thầy Linh luyện cho mình tất cả các loại toán về động tử (hai người khởi hành trước sau vài giờ, chạy cùng chiều hay ngược chiều rồi hỏi vào lúc nào hai người gặp nhau…), vòi nước chảy (có hai vòi nước chảy cùng lúc hay trước sau, lưu lượng chảy khác nhau, hỏi khi nào thì vòi nào chảy đầy bồn nước,..). Những loại toán nầy rất khó đối với các học sinh còn non mới lên lớp Nhứt nên rất khó làm được môn toán khi thi vào Đệ Thất…Còn hai anh em Hào và Kiệt thì gia đình cho lên Sài Gòn học trường Pháp La San Taberd, rồi sau đó nghe nói Hào và Kiệt có học thêm môn võ thuật Thái Cực Đạo và đạt được đến huyền đai….Từ đó thì bạn bè rất ít khi gặp nhau vì cả năm đều xa nhau theo niên khóa học, chỉ có dịp mỗi cuối năm thì những học sinh lên Sài Gòn học đều kéo trở về nhà Hà Tiên để ăn Tết cùng với gia đình, đó là lúc rất vui cho tất cả bạn bè quen biết, vì lúc gần Tết, mỗi người đều trông tin là bạn nầy đã về, bạn kia đã về nên bạn bè họp mặt lại rất vui. Mặc dù xa nhau khá lâu cả năm nhưng tình cảm bạn bè cũng còn duy trì tuy đã kém phần ngây thơ mặn nồng như lúc tuổi thơ, trong đời sống mỗi người đã có hướng đi riêng của mình…Cho đến một ngày nào đó mình lại hay tin Kiệt đã đi được đến bến bờ bình an còn bạn Hào thì không may mắn đã lìa xa vĩnh viển chúng ta…Rất thương nhớ bạn Lâm Tấn Hào, đó là một người bạn rất trầm và rất tốt trong tình giao lưu bạn bè…

Ngở rằng thời cuộc đã chia cắt tình bạn của những năm xưa thời Tiều Học, thế rồi sau một quyết định làm một chuyến đi Californie để họp mặt lại với bạn bè ngày xưa của Hà Tiên, mình đã được gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Kiệt cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nếu có thay đổi nhưng cũng không đủ để cho mình không nhận ra Kiệt, vì Kiệt vẫn còn giữ nét mặt thon gầy giống như kiểu gương mặt của mình,…Ngày nay Kiệt đã vui với cuộc sống hiện tại, quên đi những mất mát nhọc nhằn của thời khó khăn, bên cạnh Kiệt đã có một người vợ hiền Minh Nguyệt cùng chia sẻ vui buồn và những buổi văn nghệ hát hò, những chuyến đi du hành trên nhiều miền của đất nước Hoa Kỳ, mong rằng cái gia đình nhỏ bé đầy ấm cúng của Kiệt và bà xã sẽ luôn có đầy hạnh phút, đầy niềm vui trong văn nghệ ca hát và rong chơi…

Mình cũng nói thêm là Lâm Ánh Nguyệt, người em gái của hai bạn Hào và Kiệt cũng chính là bạn gái học chung lớp với mình ngay từ lớp Đệ Thất…Nguyệt rất hiền, ít nói và cũng rất chăm chỉ trong công việc học hành…Lâm Ánh Nguyệt cũng đã rời xa chúng ta về cỏi vĩnh hằng từ rất lâu rồi. Bây giờ xin giới thiệu với thầy cô và các bạn bài viết của cây bút Hồ Thị Kim Hoàn, một cây bút quen thuộc trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta, Kim Hoàn sẽ tiếp tục kể cho chúng ta nghe giai đoạn sinh hoạt với các bạn Hào, Kiệt trong thời gian đi học ở Sài Gòn những năm 70…    Paris, 28/10/2019, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

Anh Hào, Anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Đó là hai anh sinh đôi Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt mà tôi luôn xem như là anh trai của mình.

Ba tôi và bác Hai Bình (ba của hai anh) là bạn thân. Từ khi lên Trung Học tôi đã thích tung bay ra phương trời rộng, nên viện cớ muốn lên Sài Gòn học hè, sẵn có nhà bác Hai ở Sài Gòn, có các cô, chú đang trọ học, nên “đơn xin” của tôi dễ dàng được chấp thuận từ mọi phía.

Mùa hè luôn tuyệt vời đối với tôi, vì tôi được xa nhà, học thì ít mà chơi thì nhiều. Nơi căn nhà đó, các cô chú cũng đang là học sinh, sinh viên. Anh Hào, anh Kiệt lớn hơn tôi 4 tuổi, coi như anh. Thường thì năm nào cũng có tôi và Tô Vĩnh Tuấn là nhỏ nhất, nên rất được nuông chìu.

Tôi đã có biết bao kỷ niệm êm đềm, nhưng tôi chỉ xin nhắc tới anh Hào, anh Kiệt trong bài viết này.

Thuở nhỏ, niềm mơ ước của tôi là có anh trai. Tôi thấy bạn bè có anh thật sướng, được anh chỉ dẫn bài vở, được anh bảo bọc chở che, và anh đem bạn trai về nhà…   

Bên mấy anh hoài, ít được rong chơi nên cũng hơi chán. Thỉnh thoảng có chị Lâm Ánh Nguyệt là em gái của hai anh lên chơi khiến tôi vui hơn, có thêm tiết mục ăn hàng rong, đi bát phố… 

Một buổi tối tôi rủ chị Nguyệt vô quán cà phê ca nhạc. Mọi người trong quán nhìn hai đứa bé “vị thành niên”, khoảng 13, 14 tuổi, với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi cũng kêu cà phê uống và thả hồn theo những bài hát trữ tình đến nỗi quên thời gian.

Đường phố đã vắng tanh, bấy giờ hai chị em mới biết lo sợ. Quả như chị Nguyệt nói, anh Kiệt đã chờ sẵn trước cửa nhà, anh đi qua đi lại, vẻ nôn nóng lắm. Thế mà thấy mặt hai đứa em, anh chẳng mừng, còn la cho một trận:

– Có biết giờ này mấy giờ không? Con gái gì mới bây lớn vô quán nhạc uống cà phê là sao? Lần này thôi nhe, không có lần sau nghe hông!

Chị Nguyệt kéo tôi đi nhanh:

– Vô nhà mau em, ở đây ảnh đánh bây giờ!

Ảnh có đai đen Thái Cực Đạo, ảnh mà đánh, chắc… chết không kịp ngáp!

Úi chao, tôi nào biết có anh trai… dễ sợ như vậy chứ!

Khi tôi giã từ trường “Trung học Hà Tiên” để lên Sài Gòn học lớp 11 thì ba tôi đã mua một căn nhà nhỏ, tôi ở đó với hai anh, lúc ấy anh đã đi làm. Trong hai năm học liên tiếp, tôi muốn đi bộ đến trường nhưng anh không cho. Anh Hào đưa tôi đi học và anh Kiệt đón tôi tan trường về. Các bạn tôi thường trầm trồ:

– Mi sướng quá, anh tao đời nào chịu đưa rước tao.

Lúc đó tôi đã lớn, nên khi có dịp tiệc tùng nhà bạn, anh thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi là em gái. Bạn bè cứ tưởng chúng tôi là anh em ruột.

Tôi nhớ có lần anh Hào đưa tôi ra bến xe “xa cảng miền tây” để về Hà Tiên nghỉ hè sau kỳ thi. Anh lo cho tôi lên ngồi trên xe đò xong, tưởng anh đã về, nhưng tôi chợt nghe giọng anh nói với người ngồi ngoài sau tôi:

– Nhờ anh dùm ngó chừng em gái tôi nhé, nó đi xe hay bị ói, có gì xin anh giúp đỡ dùm.

Tôi thấy xúc động ngập tràn! Ôi, anh của tôi lo cho em gái thế này! Tôi trấn an anh:

– Em đi được mà, anh đừng lo. 

Anh quay bước, ánh mắt nhìn tôi vừa lo âu, vừa thương mến. Nói thế nhưng chuyến đi nào mà tôi không bị ói! Anh quân nhân ngồi sau cứ chồm lên thăm hỏi :

– Cô thế nào rồi? Có sao không? Tại anh cô kêu tôi… dòm ngó cô đó mà.

Trên xe, tôi thấy đa số là ông già bà cả, phụ nữ, con nít… mà anh lại chọn ông thanh niên… hùng mạnh này để gởi gắm em gái, anh hay thiệt!

Nhớ ngày sinh nhật thứ 16 của tôi, anh Hào đã đem về cho tôi một bức tượng thiếu nữ, đúc bằng thạch cao trắng:

– Anh thấy tượng này giống Hoàn quá!

Tôi ngơ ngẩn hỏi anh:

– Em đẹp được như vầy hay sao?

Chao ơi, chắc niềm thương mến trong lòng anh đã làm anh… hoa cả mắt! 

Cuộc họp nào cũng tới lúc phải chia tay. Rồi chúng tôi có gia đình riêng. Rồi tôi đến Mỹ năm 1978. Khoảng thời gian đó, anh Hào cũng vượt biển, nhưng anh không bao giờ đến bến bờ tự do. Tôi buồn lắm, tôi thương nhớ anh và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Giờ còn lại anh Kiệt. Có thời gian anh bệnh nặng, cô đơn, buồn bã. Anh hay gọi tôi và kể tôi nghe đủ chuyện, có khi tôi giật mình hỏi anh:

– Chuyện bí mật này có ai biết không?

– Không.

– Vậy sao anh nói với em?

– Vì em là người trong gia đình mà.

– Anh không sợ em nói cho người khác biết sao?

Anh cười vang:

– Bộ anh không hiểu tính của em hay sao chứ!

Được anh tin tưởng như vậy, tôi quả thật vui sướng!

Anh ở cách tôi một tiếng lái xe, khi có dịp là chúng tôi hẹn gặp nhau. Tôi cảm động vì anh chưa từng từ chối mỗi khi tôi ngỏ ý muốn gặp anh.

Càng ngày tôi càng thấy anh yêu đời, phong độ hơn, bởi anh đã có một người vợ tuyệt vời đi bên cạnh. Tôi mừng cho anh tôi và thầm cảm ơn chị Minh Nguyệt đã mang đến cho anh niềm tin yêu và hạnh phúc trong cuộc đời!

Californie, tháng 10, 2019 Hồ thị Kim Hoàn

Trái qua phải: Lâm Tấn Hào, Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Ánh Nguyệt và Lâm Tấn Kiệt . (Hình xưa: Hồ Thị Kim Hoàn)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Hồ Thị Kim Hoàn và Lâm Tấn Kiệt (hình hiện tại, Hồ Thị Kim Hoàn)

Lâm Tấn Kiệt và phu nhân Minh Nguyệt trong cuộc sống hiện tại ở nước Mỹ. (Hình: Hồ Thị Kim Hoàn)

Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)

*

Vài nét về địa danh Giang Thành

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi mình còn là một học sinh trung học ở Hà Tiên, thường thì chỉ biết lo học, đi chơi với các bạn và cũng biết … »thương yêu » chút chút kiểu « tình yêu học trò »…chứ chưa biết suy nghĩ, tìm hiểu về những cái hay cái đẹp của quê hương… Thật vậy ngày nay nhờ có những quyển sách nghiên cứu sâu đậm về mảnh đất Hà Tiên và họ Mạc của nhà Hà Tiên học thầy Trương Minh Đạt, mình mới bắt đầu chú ý đến tất cả những gì có liên quan đến Hà Tiên…Hồi xưa mình cũng không biết đến cái tên núi Phù Dung, không nghe ai nói núi Phù Dung cả, chỉ biết có một ngôi chùa tên là Phù Dung mà thôi, mà lại cũng không biết có đến hai ngôi chùa Phù Dung, một chùa xưa (ở núi Phù Dung, tức núi Đề Liêm, đã mất) và một chùa nay (ở núi Bình San, còn hiện tại), hoàn toàn không biết gì về ngôi chùa Phù Dung xưa. Còn về cuộc đời và sự nghiệp của các quan tướng đời họ Mạc: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích,…v..v…mình chỉ biết mơ hồ, mông lung, chỉ biết nghe những câu chuyện truyền thuyết mà thôi. Về các danh từ chỉ địa danh như: Cừ Đứt, Trà Phô, Phú Mỹ, Giang Thành,…v..v..thì lại càng mông lung hơn nữa, chỉ biết tất cả những địa danh đó là ở phía xa xa về hướng Đông Hồ trở vô sâu theo con sông về phía kênh Vĩnh Tế…Hồi xưa cũng thường nghe nói những vùng mang tên đó đều không được an ninh lắm, thỉnh thoảng nghe nói có « đụng độ » với « mấy ảnh »…và thường có ghe tàu Hải Quân PCF, Hải Thuyền thường hành quân về phía các sông rạch đó…nên cả một quảng đời mình sống ở Hà Tiên không có lúc nào dám phiêu lưu mạo hiểm đi về phía các vùng đó…Hồi đó chỉ biết là vào buổi sáng thường có ghe đò từ trong Cừ Đứt, Trà Phô chở hành khách ra chợ Hà Tiên, người dân trong vùng đó thường ra chợ Hà Tiên mua sắm hay đem các máy móc radio, truyền hình ra sửa chữa…

Bây giờ tuổi đã hơn lục tuần, nơi ở thì cách xa quê hương Hà Tiên hơn 10000 km, muốn tìm hiểu nơi chốn địa phương thực tế cũng không còn thuận tiện như xưa, chỉ có cách tìm tòi, lục lạo trong sách vở và trên mạng…Tuy thế, nhưng lại được cái đam mê tìm hiểu, do đó mình rất thích viết về những gì liên quan đến Hà Tiên, về kỷ niệm bạn bè, thầy cô xưa, về hình ảnh địa danh cũ,…v..v…Tuy nhiên vì không được mắt thấy tai nghe tận chỗ nên các bài viết chắc chắn sẽ có nhiều sai lầm, thiếu sót…mong thầy cô và các bạn thông cảm, mình chỉ mong được quý độc giả góp ý và chỉnh sửa, bổ sung thêm, đó là điều mình rất hoan nghinh và rất cảm ơn quý vị.

Bây giờ nói về địa danh Giang Thành và con sông Giang Thành. Ngay cả tên sông Giang Thành, hồi xưa mình cũng không có dùng, chỉ nói là sông Hà Tiên mà thôi,…con sông chảy ngay qua phố thị Hà Tiên mà không ngày nào là mình không nhìn thấy…Trước khi vào phần phát triển bài viết, mình cũng xin đính chánh là đây không phải là một bài khảo cứu khoa học có tính chất Địa Lý về địa danh Giang Thành, đây chỉ là những góp nhặt các tài liệu, các thông tin tuy phần lớn từ các nguồn đúng đắn và giá trị những cũng còn cần phải truy cứu, so sánh và kiểm tra lại dưới con mắt của quý độc giả, mục đich chỉ để phổ biến phần nào các kiến thức thông dụng trong chúng ta mà thôi, hoàn toàn không có tính chất cao cấp của một bài viết trong giới nghiên cứu.

A/ HUYỆN GIANG THÀNH:

Thời Pháp thuộc Giang Thành là một quận thuộc tỉnh Hà Tiên, tuy nhiên dần dần vì chiến tranh, dân cư thưa thớt, quận Giang Thành bị giải thể, tỉnh Hà Tiên cũng xuống bậc trở thành quận, Giang Thành lại thuộc về quận Hà Tiên. Cho đến năm 2009, Giang Thành được chính thức lập thành huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang và có 5 xã như sau:

1/Phú Mỹ
2/ Phú Lợi
3/ Tân Khánh Hòa
4/ Vĩnh Điều
5/ Vĩnh Phú

1/ Xã Phú Mỹ: gần Hà Tiên nhất vì giáp với phường Đông Hồ, phường Tô Châu và xã Thuận Yên. xã Phú Mỹ gồm có các ấp: Kinh Mới, Rạch Dừa, Thuận Án, Trần Thệ, Trà Phô, Trà Phọt. (Như vậy khi đọc đến đây thầy cô và các bạn xác định được ngôi thứ của các từ Trà Phô, Phú Mỹ (Trà Phô là một ẤP thuộc xã Phú Mỹ và Phú Mỹ là một XÃ thuộc HUYỆN Giang Thành). Riêng danh từ « Trà Phọt » hồi xưa mình không nghe nói tới…

2/ Xã Phú Lợi: Giáp với xã Phú Mỹ về hướng nam, giáp biên giới Cambodge về hướng tây bắc,  gồm có các ấp: Cả Ngay, Cỏ Quen, Giồng Kè, Rạch Gỗ, Tà Teng (ta lại thấy xuất hiện từ « Tà Teng », đó là tên gọi một ấp cư dân cổ, người Khmer gọi là « Tà Teng », người Việt sau đó gọi là « Trà Tiên », Trà Tiên có thời là một xã nhưng sau đó lại trở thành ấp, tên hiện tại là « Tà Teng »).

3/ Xã Tân Khánh Hòa: Giáp với xã Phú Lợi về hướng tây nam, giáp biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Hòa Khánh, Khánh Hòa, Tân Thạnh, Tiên Khánh, (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tân Tiến và Khánh Tân, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào). Chính trong xã Tân Khánh Hòa nầy là chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau tại ấp Hòa Khánh. Địa danh « Đầm Chít » nằm trong xã Tân Khánh Hòa.

4/ Xã Vĩnh Điều: Giáp với xã Tân Khánh Hòa về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Cống Cả, Đồng Cừ, Nha Sáp, Vĩnh Lợi. (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tà Êm và Tràm Trổi, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào).

5/ Xã Vĩnh Phú: Giáp với xã Vĩnh Điều về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Đồng Cơ, Mẹt Lung, Ấp Mới, Ấp T4, Ấp T5.

Trong lãnh thổ ba xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều và Vĩnh Phú đều có con kênh Vĩnh Tế chạy qua.

Vị trí huyện Giang Thành và 5 xã:1/ Phú Mỹ, 2/ Phú Lợi, 3/ Tân Khánh Hòa, 4/ Vĩnh Điều và 5/ Vĩnh Phú.

B/ SÔNG GIANG THÀNH:

Nói đến tên sông Giang Thành ta thường nghe nhắc đến tựa bài thơ « Giang Thành dạ cổ » của nhà thơ Mạc Thiên Tích (là bài thứ tư trong 10 bài thơ « Hà Tiên Thập Vịnh »).  Chính từ bài thơ nầy ta hiểu là Mạc Thiên Tích đã đặt tên cho con sông là sông Giang Thành, trước đó người Khmer gọi con sông nầy là Prêk Ten. Sông Giang Thành bắt nguồn từ nước Cambodge, ở tỉnh Kampot (tỉnh Kampot rất rộng lớn), tại đây có hai nguồn nước chảy về phía sông Giang Thành Việt Nam.

1/ Ở hữu ngạn sông (tức phía bên phải của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là cao nguyên Banteay Meas, có một nhánh sông tên Touk Meas River, sông nầy chảy vào sông Prêk Tonhon Chas (tức là tên của sông Giang Thành phần còn trong lãnh vực của nước Cambodge hiện nay).

2/ Ở tả ngạn sông (tức phía bên trái của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là khu có núi Linh Quỳnh (một cụm núi bên nước Cambodge), có một nhánh sông chảy vào phần sông sông Prêk Tonhon Chas.

Hai nhánh sông nầy cùng chảy vào sông Prêk Tonhon Chas và chảy vào khu vực nước Việt Nam, từ đây con sông mang tên là sông Giang Thành, toàn bộ khúc sông Giang Thành trên lãnh thổ Việt Nam dài 23 km và chảy ra cửa biển Hà Tiên sau khi đổ vào đầm Đông Hồ ở ngay Hà Tiên, tại đây chiều rộng cửa sông có trên 200 m.

Vào năm 1824 khi kênh Vĩnh Tế được hoàn thành dưới thời vua Minh Mạng, kênh Vĩnh Tế được nối liền với sông Giang Thành, chỗ giáp nối giữa kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành gọi là ngả ba Giang Thành, thuộc ấp Hòa Khánh, xã Tân Khánh Hòa. Trên lãnh thổ xã Tân Khánh Hòa của huyện Giang Thành, có một phần kênh Vĩnh Tế nằm rất sát biên giới, chạy từ ấp Khánh Hòa (Đầm Chít) về phía ấp Hòa Khánh để đổ vào sông Giang Thành, đoạn kênh nầy dài 5,4 km, và cặp rất sát biên giới, chỉ cách có 300 m. Còn khúc kênh Vĩnh Tế từ Đầm Chít trở đi về phía Châu Đốc thì con kênh cặp theo con đường Quốc lộ N1 chạy cho đến Nhà Bàng thuộc Châu Đốc, trên đoạn nầy con kênh Vĩnh Tế cách biên giới khoảng hơn 1 km.

Sông Giang Thành bắt nguồn từ hai nơi: cao nguyên Banteay Meas và khu núi Linh Quỳnh trong tỉnh Kampot, nước Cambodge. Kể từ năm 1824, sông Giang Thành có thêm một nguồn nước thứ ba là kênh Vĩnh Tế, kênh đổ vào sông tại điểm A. Đoạn kênh Vĩnh Tế AB là đoạn gần sát biên giới Cambodge-Việt Nam nhất, đoạn nầy dài 5,4 km và chỉ cách biên giới dưới 300m. Từ điểm B trở đi về phía phải hình (về phía Châu Đốc, kênh Vĩnh Tế cách hơi xa biên giới, khoảng trên 1 km và cặp theo con đường Quốc lộ N1.

C/ SÔNG GIANG THÀNH TRÊN ĐỊA PHẬN HÀ TIÊN:

Sông Giang Thành chảy vào địa phận Hà Tiên và trước khi đổ ra cửa biển, sông chảy ngay vào đầm Đông Hồ (một đầm nước mặn đã thành hình từ trên 6000 năm về trước…). Vì tính chất phù sa mỗi năm tụ động nên dòng sông Giang Thành ngay tại khúc trước khi vào Đông Hồ, khúc sông nầy thường có nhiều cồn cát. Ngày xưa người Pháp đóng cừ thành hai hàng để tạo lối di chuyển cho tàu bè trong thời gian nạo vét lòng sông, có chỗ cừ đóng không chắc, gặp dòng nước chảy mạnh nên cừ bị gảy, phần đất nạo vét bị cuốn trôi đi, còn phần đất nạo tụ lại có cây cỏ mọc lên thành vùng đất, người ta cất nhà tụ họp sinh sống ở đó, do đó vùng đất đó có tên « Cừ Đứt ». Vậy danh từ « Cừ Đứt » để chỉ tên một vùng đất trên sông Giang Thành mà thôi.

Sông Giang Thành từ phía bắc đổ vào đầm Đông Hồ, trong khoảng sông nầy có nhiều cồn cát và có một phần đất có tên là « Cừ Đứt ».

Sông Giang Thành góp phần rất lớn vào việc hình thành và phát triển thương cảng Hà Tiên từ thời Mạc Cửu cho đến đầu thế kỷ thứ 19, lúc đó cảng Hà Tiên mới bị suy thoái vì nhiều lý do. Trong những năm 20 của thế kỷ thứ 18, cảng Hà Tiên chẳng những đã được nhiều nước trong vùng biết đến, mà các thương nhân Âu Châu cũng biết tiếng thương cảng Hà Tiên. Trong thời gian đó hàng hóa xuất khẩu của Hà Tiên luôn bằng đường biển, xuất phát tại thương cảng Hà Tiên, gồm có các mặt hàng: muối, gạo, tổ ong, sáp ong, lông chim, gỗ, ngà voi,..v..v..

Tuy nhiên vào đầu thế kỷ thứ 19, Hà Tiên đi vào một giai đoạn khó khăn, cảng Hà Tiên bắt đầy suy tàn vì nhiều nguyên nhân:

  •  Sự tàn phá của chiến tranh: nhiều nhóm quân dân, hải tặc phản loạn gây chiến với họ Mạc: 1767, 1769, 1770, tuy nhiên Mạc Thiên Tích đều cầm quân dẹp tan các nhóm nầy. Tiếp đến sự dòm ngó của quân Xiêm mà trận tấn công năm 1771 đã tàn phá Hà Tiên nặng nề, thương cảng Hà Tiên trở nên bế tắc…Đến năm 1773 nhà Nguyễn giúp quân khôi phục lại Hà Tiên, tuy nhiên cảng Hà Tiên đã không còn phục hồi lại như xưa. năm 1777 quân Tây Sơn chiếm Hà Tiên và đã đánh tan quân Xiêm vào năm 1785 (trận Rạch Gầm – Xoài Mút). Tuy nhiên đến năm 1833 có giặc loạn Lê Văn Khôi chiếm Hà Tiên, rồi các năm 1842, 1845 quân Xiêm lại tấn công Hà Tiên, Sau các biến cô nầy Hà Tiên và thương cảng cũng bị tàn lụi theo không còn khả năng phục hồi như xưa.
  • Sự thay đổi về tình hình chánh trị kinh tế của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19: Mạc Thiên Tích mất tại Vọng cát (1780), Hà Tiên không còn thủ lãnh, trong khi đó Tây Sơn và nhà Nguyễn tranh chấp gây chiến tranh liên tục…Tiếp đến nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chánh sách « bế quan tỏa cảng », hạn chế việc ngoại thương, đến thời Minh Mạng thì triệt để ngăn cấm không cho các tàu buôn các nơi được cập bến cảng Hà Tiên, các biến cố nầy dần dần gây chấm dứt vai trò quan trọng của cảng Hà Tiên.
  • Sự thay đổi con đường thương mại đông tây: Từ xưa các nhà thương thuyền phương tây đã phát triển con đường thương mại hàng hải từ phương tây sang phương đông (thế kỷ 15 và 16). Tiếp đến các nhà buôn bán phương đông cũng dương buồm tiến qua trời tây (thế kỷ 17 và 18), trong bối cảnh đó thương cảng Hà Tiên trở nên phát triển tột độ. Tuy nhiên qua đầu thế kỷ 19, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, người ta không còn phụ thuộc vào những con đường đã vạch sẳn, các tàu lớn có khả năng vượt biển thật xa, không cần phải chạy theo ven biển, không cần ghé khu vịnh Thái Lan. Thêm các yếu tố chánh trị khiến cho đại đa số các tàu phương tây đều không được ghé bến các nước phương đông vì bị ngăn cấm hay vì sự quá dè dặt của triều đình nhà Nguyễn, nên các thương cảng sầm uất của phương đông dần dần biến mất, đó là một lý do khách quan mà thương cảng Hà Tiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề.

Nói tóm lại chúng ta là người Hà Tiên, ngày ngày đều nhìn ngắm con sông Giang Thành chảy lững lờ trước mặt, có mấy ai tự đặt vài câu hỏi con sông bắt nguồn từ đâu, nguồn nào cung cấp nước cho sông, tại sao có tên Giang Thành,…Cho đến bây giờ, đầu đã bắt đầu trắng, mình mới bỏ chút thời giờ tìm hiểu về quê hương đất nước, với vốn hiểu biết hạn hẹp, điều kiện thực tế lại không có, mình vẫn muốn cố gắng để biết được phần nào các câu trả lời các câu hỏi trên, tuy biết rằng sẽ có rất nhiều sai lầm, thiếu thốn nhưng mong sao cho bài viết được đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc tìm hiểu về quê hương mà thầy cô và các bạn muốn tìm đọc, mong tất cả vui lòng trợ giúp, góp ý để bài được chỉnh sửa, bổ sung đầy đủ và chính xác hơn nhé,.

Trần Văn Mãnh (Paris 09/10/2019)

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và đầm Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh đầm Đông Hồ. Phần giữa dưới hình là núi Tiểu và Đại Tô Châu, hình vuông nhỏ màu vàng là trại Biệt Kích Tô Châu. Hình: Ken-Fillmore 1970-71

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một thời gian bận rộn với công việc làm, cây bút quen thuộc Quang Nguyên đã trở lại với Blog chúng ta vẫn với một phong cách tả chân, hiện thực và vui nhộn…Dù cho đề tài viết về sự mất mát một người bạn, một người anh thân thuộc, nhưng tác giả vẫn giữ một phong cách tích cực để nói về sự mất mát đó,…Có lẽ đó là một cách tốt đẹp nhất để vinh danh và tưởng nhớ về anh bạn đã ra đi…Đầu bài viết tác giả có nói là « mắc nợ » mình về lời hứa sẽ viết một bài về anh Nguyễn Đình Nguyên (nhân về sự chia tay vĩnh viển gần đây của anh Nguyên đối với chúng ta), nếu ai cũng « sốt sắng » « trả nợ » theo kiểu như Quang Nguyên thì Blog của chúng ta rất phong phú bài vở,…Nói cho vui chứ mình đâu dám kèo nài thầy cô và các bạn để có bài vở đóng góp, chỉ khuyến khích và mong mỏi rằng do niềm hứng khởi và nỗi lòng nhớ trường lớp, bạn bè thầy cô mà ngày chúng ta sẽ có nhiều thêm những bài viết nói về đề tài đó…

Ngày xưa ở Hà Tiên thầy cô và các bạn đều biết là mình và Nguyễn Đình Nguyên tuy không học chung một lớp nhưng hai người là bạn rất thân, mỗi chiều hai đứa đều tản bộ đi vòng vòng Hà Tiên và cuối cùng là dừng chân bên các băng đá Đài Kỷ Niệm để hóng gió…Vì thế khi chưa rời ghế nhà trường Hà Tiên, mình đã biết Đình Nguyên dưới hai khả năng có thể nói là « rất cao cấp », đó là tài ca hát và tài hội họa của anh. Ai cũng biết là bạn Đình Nguyên có một giọng ca rất hay, trầm ấm ngân nga, nhất là các bài hát « ruột » của anh: Giọt mưa thu, Ngủ đi em, …Còn về tài vẽ hình thì như mình đã viết trong nhiều bài về bạn Nguyễn Đình Nguyên, bạn có tài vẽ chân dung rất hay, thường dùng khói đèn để chấm phá các nét đậm, lợt…vì thế có một thời Đình Nguyên đã là nơi đặt hàng của biết bao cô gái đi buôn bán ở Hà Tiên, muốn có một tấm hình chân dung bằng hình vẽ…

Về ngành chụp ảnh, mình cũng đã có từng thấy Đình Nguyên hoạt động rồi, đó là vào thời kỳ những năm đầu của thập niên 90, khi mình có dịp lần đầu tiên trở về thăm quê nhà Hà Tiên sau 8 năm rời VN. Lúc đó mình gặp Đình Nguyên tại bãi biển Mũi Nai, vai đeo máy ảnh như tác giả Quang Nguyên đã viết trong bài…Đình Nguyên cũng có chụp cho nhóm mình nhiều bức ảnh tại biển Mũi Nai…Tuy nhiên quả thật mình không hề biết các hoạt động về việc giao hình cho khách…Mình cũng không tưởng tượng ra là muốn giao hình đến nơi cho khách lại phải bôn ba đi xe đò đến tận nơi những chỗ ở của từng người khách để giao hình và nhận tiền thù lao…Hôm nay đọc bài bạn Quang Nguyên viết mình mới thấy cái khó nhọc và kiên nhẫn, hay ho của đôi tay nghề « Đình Nguyên và Quang Nguyên »…Thật vậy, phải có một lòng kiên nhẫn, sự tính toán đầy tính chất « kế toán thương mại » và sự quyết tâm vượt khó khăn để « xoay trở » trong những lúc khó khăn về kinh tế như vậy, hai bạn Đình Nguyên và Quang Nguyên mới có đủ sức mạnh và ý chí để hoạt động trong ngành chụp và giao ảnh…Về cách thức bám theo khách, chìu khách và cố vấn cho khách để chụp được nhiều ảnh cho khách thì mình cũng đã hiểu phần nào, nhưng các hoạt động về sự giao hình cho khách thì mình quả thật mới biết qua bài viết mô tả chi tiết của Quang Nguyên…Mình cũng không thể tưởng tượng là phải lên đường, đi từng tỉnh từng quận để tìm ra nhà các khách đã từng có chụp hình với nhiếp ảnh gia Đình Nguyên, để rồi lại phải thuyết phục là hình rất đẹp, nhân vật trong ảnh rất có duyên, người quá « ăn ảnh »… »nếu cô, chị, anh bạn không lấy các tấm hình nầy thì rất uổng công đến Hà Tiên »,….v…v….Càng lại không thể tưởng tượng được hơn khi mà ta muốn giao ảnh mà lại không có địa chỉ của khách để đi giao !!??  Người giao ảnh Quang Nguyên lại phải trổ tài trinh thám tư để tìm ra cho được từng chi tiết nhỏ có liên quan đến địa chỉ của khách như đã viết trong bài…Đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, mình quả thật rất phục và nể tác giả, đúng như vậy khi ta muốn thành công và đạt được mục đích, không phải cái kết quả tốt đẹp nó tự động đến với mình mà mình phải ra tay thực hiện, phải đối đầu với mọi khó khăn, không nản chí thì mới đạt được mục đích…Có lẽ tất cả những đức tính hay đó Quang Nguyên đã tự trau dồi, tự trang bị cho mình ngay từ khi có những bước khó khăn đầu đời, ngay cả khi còn ở ghế nhà trường, nên sau đó ngay lúc mà giai đoạn « giao hình » trong đời sống đã qua đi, tác giả Quang Nguyên vẫn còn hưởng được những ảnh hưởng tốt đẹp, có lợi của những đức tính nói trên…Đó là điều mà mình thán phục nhất về Quang Nguyên, và có lẽ cũng nên lấy đó học hỏi cho bản thân mình, nếu từ rày về sau, trong cuộc đời có gặp nhiều khó khăn đến đâu, hãy cố gắng khắc phục và đối đầu với những khó khăn đó hơn là chùng bước hay than phiền…Bây giờ nghĩ lại mình mới hiểu là tại sao trong giờ phút hiện tại nầy, cương vị của tác giả Quang Nguyên được tốt đẹp như hôm nay……Xin kết thúc phần viết lời giới thiệu bài viết của tác giả Quang Nguyên về người anh, người bạn quá cố Nguyễn Đình Nguyên bằng một vài nét tích cực như vậy…(TVM, viết xong ngày 04/10/2019)

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Tôi đã “mắc nợ” Mr. Mãnh về một bài viết về một người quen thuộc của Hà Tiên chúng ta vừa mới rời xa cuộc đời… Thời gian gần đây “quỹ thời gian” của tôi bị thâm thụt trầm trọng nên không có “số dư” để “trả” cho Mr. Mãnh, dù tôi cũng thích viết lách kiểu “văn nghệ” để tự thư giãn, tự cân bằng tâm thần cho cuộc sống bon chen mà mình lỡ xuất hiện trên cuộc đời này để rồi tự dính dáng vào như mắc phải cái bẫy keo dính chuột!
Thỉnh thoảng chúng ta nghe tin một người quen biết cũ mất đi, dù chỉ sơ giao nhưng lại mang đến cho chúng ta những cảm giác lạ kỳ rất thật, giật mình bàng hoàng hay một cảm giác hoang mang mơ hồ khiến chúng ta phải nghĩ “thật hay không?”, rồi cố nhớ rằng lần gần nhất mình gặp họ khi nào, để làm gì khi ấy, và mình đã trao đổi những gì trong cái quá khứ đôi khi là rất xa ấy…?
Hôm nọ tôi nghe tin anh Đình Nguyên mất, thật sự cũng như bao nhiêu lần mình nghe một ai đó mình có quen biết mà mất đi thì cảm giác tiếc thương luôn ập đến… Đó cũng là chuyện bình thường mà? Cái không bình thường khiến ai cũng nao lòng là anh ấy đã rời xa chúng ta thật lặng lẽ, thật riêng tư, thật kỳ lạ và “bình yên” như khi anh ấy sống, anh đã chọn cho mình một cách dấn thân vào cuộc đời rất “cá nhân”, một cách đối diện bình thản có chút rụt rè và tồn tại độc lập trong vạn sự quay cuồng trộn lẫn lộn xộn của thời cuộc…
Tôi rất nhỏ so với tuổi tác của anh Đình Nguyên, ngày còn nhỏ tôi vẫn thường gọi “chú Nguyên!” dù anh ấy là bạn của chị tôi, tôi vẫn nhớ mái tóc chải chuốt thẳng nếp, cái dáng đi nhẹ nhàng đôi khi anh nhìn xuống chân mình như để xem đủ chỉnh chu chưa? Và anh hay đi bộ, bước đi khoan thai của loài mèo mà như anh Phước Dương đã kể rằng đó là những con “thú cưng” mà anh rất thích. Thỉnh thoảng đang bước trên đường anh tự “điểm xuyết” thêm cho cái riêng – đã rất riêng – ấy của anh bằng việc nắm hờ bàn tay đưa lên miệng che nhẹ nhàng tiếng “tằng hắng” thoát ra dù không đủ lớn để phiền mọi người. Gặp người quen đi qua đối diện sẽ có một nụ cười xả giao vừa đủ nở trên gương mặt đăm chiêu của anh và rồi nó vội vụt tắt như cái kiểu mà nó xuất hiện, để rồi tiếp tục đăm chiêu mà anh bước tiếp, trông anh lúc nào cũng đang suy tư về một việc gì đó …
Người Hà Tiên gọi anh là “Nguyên họa sĩ” dù không có mấy người tên Nguyên trong xứ sở này? Nhưng tên gọi đó cũng là cách mà cộng đồng công nhận một khả năng hay tài năng của anh, tôi không hiểu biết về hội họa nhưng tôi đã từng hàng giờ ngồi xem tại nhà anh, anh vẽ truyền thần một bức ảnh chụp để thờ tự mà ai đó đã đặt anh vẽ, bức vẽ rất sống động, rất trung thực dù chỉ bằng bột than bút chì, muội đèn với kỹ thuật đậm – nhạt – bóng – sáng… Tên “Nguyên họa sĩ” theo tôi hợp với anh nhất và có lẽ nó thể hiện được tố chất của anh, bởi cái chất “nghệ sĩ” của anh lộ ra từ cách ăn mặc, đầu tóc, dáng đi và vẻ ưu tư mà ta luôn bắt gặp trên gương mặt anh.
Thế nhưng, tôi còn biết một Đình Nguyên khác mà mọi người đã ít nhắc đến – Đình Nguyên – phó nhòm!
Chắc mọi người không quên vào những năm 90 của thế kỷ trước, Hà Tiên chúng ta có một đội ngũ đông đúc hành nghề chụp ảnh dạo, đội quân ấy với áo gilet ký giả nhiều túi, nón vải rộng vành, tay xách nách mang túi đựng máy chụp hình… Họ tụ tập hai đầu cầu nổi, sau đó phóng Honda vù vù ra những tụ điểm du lịch tự nhiên mà tạo hóa ban cho người dân xứ sở này, đó là khi họ đã “bắt” được những chiếc xe đò chở khách thập phương vừa bò chậm chạp qua chiếc cầu phao nổi tiếng của Hà Tiên chúng ta.
Nghề nghiệp này cũng tự phát, mạnh ai nấy làm, không có nghiệp đoàn chi cả mà chỉ dựa vào tính “phải quấy, biết điều với nhau…”, cứ xử sự với nhau theo nguyên tắc tôn trọng và thấu tình đạt lý mà anh em cùng tồn tại, bởi thiên nhiên đã biếu không cho người dân xứ sở này các danh lam thắng cảnh mà không đòi hỏi điều gì vậy cớ gì người Hà Tiên với nhau không nương tựa nhau dựa vào sự ưu ái đó mà sống tốt? Đình Nguyên tự nguyện làm một “chiến sĩ” trong đội quân đó sau khi anh có được chiếc máy ảnh từ thế giới tư bản của người anh mang về tặng anh, chiếc máy ảnh tư bản của Đình Nguyên thời gian đó là giấc mơ của nhiều anh phó nhòm xứ này bởi Zenit của Liên Xô và Leica của Đức đang làm mưa làm gió giới gilet nhiều túi của Hà Tiên.
Mà hành nghề phó nhòm ở Hà Tiên cũng lắm công phu, phải “đu đeo” theo các chiếc xe hành hương du lịch, mà hiểu theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đều đúng trong trường hợp này, anh nào theo chiếc nào là phải đeo theo suốt trong hành trình du lịch của họ, khi thì đi bằng Honda tự có, lúc phải “đeo” càng “đu” cửa theo chính chiếc xe đó trôi dạt lúc thì Mũi Nai khi Thạch Động, rồi lăng Mạc Cửu, Chùa Phù Dung, vào Mo So, ra Hang Cá Sấu, ghé Chùa Hang, ra Hòn Phụ tử… Họ phải “xuất” đủ mọi “chiêu” để chiêu dụ khách chụp hình, chụp càng nhiều càng tốt, miệng càng “dẽo” càng tốt… Còn về khách du lịch cũng đa dạng phong cách, người thì thích lưu lấy cảnh, kẻ thích lưu lấy hình ảnh của mình. Lắm cô Chung Vô Diệm tưởng mình là Điêu Thuyền nên ưng diễn, lượn tới lượn lui, nghiêng đầu ở hốc hang này, cong mông trên tảng đá khác… chụp quá trời quá đất! Đủ mọi tư thế nằm ngồi, lắm kiểu bùng xòe áo xống mà không thể nào đẹp lên chút được. Trong khi đó nhiều cô đẹp như Tây Thi thì lại không chịu chụp ảnh, sợ tốn tiền, chỉ chụp vài kiểu (pose), nhưng các anh phó nhòm không cưỡng lại được cái ống (kính) của mình, lén chụp thêm vài pose “vụng dại” đẹp mê hồn!
Bởi có một nguyên tắc là chưa giao hình thì chưa lấy tiền, hình đẹp mới lấy tiền, chụp hình xong các anh thợ phải chờ tráng rọi, tráng rọi thì mất thời gian mà đoàn du lịch thì người ta không chờ được, nên hầu hết các anh thợ không trực tiếp giao hình mà việc giao hình phải có người khác đảm trách giao sau… Có mấy anh phó nhòm ranh như ma, cứ dụ người ta chụp thật nhiều pose hình để sau đó bán lại (film chưa tráng rọi) cho các người giao hình với hình thức “khoán” 34-35 pose cho một cuồn film 36 pose kèm với địa chỉ của khách. Với giá 1.300 đồng/pose, người giao hình sẽ tự đi tráng rọi, trả tiền tráng rọi khoảng 750 đ/ pose, người giao hình sẽ thu 2.500 đ/pose, trừ chi phí tráng rọi sẽ được hưởng 500 đ/pose, nhưng thật không dễ kiếm 500 đồng bởi các anh thợ chụp ảnh đã chụp cốt sao được càng nhiều càng tốt để bán “buông đuôi” như đã nói trên, khách có thể từ chối nhận hình vì những kiểu chụp mà người ta không thuận tình…
Và tôi là một kẻ giao hình chuyên nghiệp, tôi mua lại film cuộn đen của các anh em thợ chụp ảnh, đem đi Sài Gòn tráng rọi trong các Lab, sau đó giao hình và mua sỉ film Kodak và Konica mỗi lần hàng ngàn cuộn để về bỏ lại cho các anh em thợ. Tôi đã đi khắp các tỉnh miền Đông miền Tây, vào bưng biền xa xôi hẻo lánh, lên Tây Nguyên rừng sâu nước độc… Nơi nào có người đi Hà Tiên chơi và có chụp hình là tôi phải giao cho bằng được để thu tiền về, bởi mình đã đầu tư tiền bạc vào đấy, mỗi chuyến đi tôi phải xử lý trên 5000 poses ảnh.
Và thật không dễ để tôi giao những tấm ảnh của anh Đình Nguyên bởi sự “đặc biệt” của nó, phải thuyết phục khách rằng “hình của cá nhân mình thì dễ kiếm còn cảnh vật đẹp thì khó tìm…” để người ta chịu trả 2.500 đ cho một pose hình du lịch mà cảnh vật thì bao trùm còn người trả tiền thì … bé xíu! Tôi hiểu rằng khi Đình Nguyên nhấc ống kính lên thì cảnh vật tuyệt vời của xứ sở Hà Tiên đã làm anh quên luôn “vật chủ” là khách hàng, kẻ sẽ nuôi sống anh trong những ngày sắp tới…
Theo tôi, anh có thể có những bức ảnh đẹp, nghệ thuật, đầy chiều sâu … Nhưng anh không thể là một anh phó nhòm thành công được bởi cái sự xô bồ, ồn ào, lắm mưu nhiều kế, chiêu trò, mánh lới ..v..v., của nghề chụp hình xứ du lịch. Để thành công anh phải “biến hóa”, mà tôi thì không thấy điều đó từ anh.
Lại có ngày anh rụt rè giao tôi những cuồn film chưa tráng rọi mà không một dòng địa chỉ, không hiểu có cái chi đó cuốn hút anh đến độ anh quên mất việc ghi lại địa chỉ của những người khách thập phương mà anh đã bỏ ra mấy ngày “đu đeo” theo họ? Và tôi đã thật sự rất khó khăn để làm hoàn thành việc mà anh đang dang dở, ngày ấy dù rất hoang mang vì không biết sẽ giao thế nào, tôi cũng phải tốn mớ tiền để tráng rọi hàng trăm kiểu hình mà anh đã giao, rồi xem ảnh từng người cụ thể, tôi đã cố tìm một manh mối quan trọng để xác định đoàn này của tỉnh nào, có “chung đụng” với đoàn nào khác mà tôi đang có ảnh có địa chỉ của các anh thợ khác để hòng tìm những manh mối có thể có để mình truy tìm…
May mắn cho song Nguyên (Đình Nguyên và Quang Nguyên), tôi nhìn thấy số xe của xe khách ở Sài Gòn, từ cái bản số xe tôi vào Xa cảng Miền Tây để hỏi tìm chủ xe, tìm ra chủ xe tôi tìm ra trưởng đoàn, tìm ra trưởng đoàn tôi tìm ra từng người và giao hết số hình, sau khi tôi lại phải “múa mỏ” để thuyết phục khách nhận hình vì cái bố cục ảnh “rất riêng” của anh… Mô Phật!
Vậy đó, anh hay “đãng trí” kiểu vậy, anh không là bác học để mắc bệnh đãng trí, Đình Nguyên họa sĩ và Đình Nguyên chụp ảnh vẫn là một, là cái tính cách nghệ sĩ đứng ngoài những điều bình thường của người bình thường với cuộc đời bình thường như mọi cuộc đời khác. Anh lãng đãng một cách lạ lùng thú vị với những ai đã biết và có khi chỉ một vài lần hay một khoảng thời gian ngắn ngủi “dính dáng” tới anh, anh “rất riêng” mà không thể hòa trộn cho dù cuộc đời đã cố gắng lôi anh vào vòng xoáy của nó, tôi luôn có ý nghĩ như vậy khi được nhắc nhớ về anh…
Giờ anh đã về nơi chín suối, ở nơi đó với cái chất rất riêng đó của anh, hẵn anh vẫn là Đình Nguyên mà mọi người từng biết, tôi tin vậy. Bởi trần đời đầy những trói buộc mà anh vẫn tự do thể hiện cái “chất” của mình thì thiên đường đâu có gì làm anh thay đổi?
Tưởng nhớ anh Nguyễn Đình Nguyên… (10/2019)

TruongMinhQuangNguyen_2

Tác giả bài viết: Quang Nguyên

NguyenDinhNguyen_2002

Bức chân dung tự vẽ của họa sĩ Duyên Đình (tức Nguyễn Đình Nguyên). Trên góc phải có ghi « 35 tuổi », dưới góc trái có ghi « Hà Tiên năm 2002 », dưới góc phải có ghi « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo ». (Có nghĩa là năm 2002 bạn Nguyên tự vẽ chân dung mình vào lúc 35 tuổi, và có một điều lạ là tại sao bạn lại chú thích là « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo », theo mình nghĩ có lẽ bạn muốn chấm dứt giai đoạn làm họa sĩ và để bước qua giai đoạn làm nhiếp ảnh viên ??)

NguyenDinhNguyen_Photographer

NguyenDinhNguyen_Photographer_b

nguyendinhnguyen_muinai.jpg

Bạn Nguyễn Đình Nguyên trong giai đoạn làm thợ chụp hình ở bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên), hay nói cách khác Nguyễn Đình Nguyên với danh xưng là nhiếp ảnh gia. (những năm 90)

Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang).

Đến những ngày trước và sau ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 theo một số tàu Hải Quân khác ra khơi và chạy qua Philippine, vì Philippine không thừa nhận nước Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ sau 30/04/1975 nên Hải Quân VNCH phải làm lễ bàn giao tất cả tàu chiến ngoài khơi Philippine cho Hải Quân Hoa Kỳ, đó là vào ngày 07/05/1975, sau đó các chiếc tàu nầy (trong đó có chiếc HQ 607) mới được cập vào bến Subic Bay thuộc Philippine. Về sau Hải Quân Hoa Kỳ giao tàu cho Hải Quân Philippine quản lý, một số tàu còn hoạt động được, một số tàu bị hư hại thì được tháo gở lấy đồ phụ tùng. Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

 

 

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Thầy cô và các bạn thân mến, một khi rời xa trường lớp, ta tưởng chừng như theo dòng thời cuộc, sẽ không còn có dịp gặp gở nhau nữa…Tuy nhiên cuộc sống hằng ngày nếu có vui buồn, khó khăn, mệt nhọc cũng có lúc tạo cho chúng ta những giây phút vui thú, nhất là khi tình cờ gặp lại người quen biết trong một hoàn cảnh nào đó…Rất có nhiều câu chuyện bạn học cùng trường cùng lớp sau bao nhiêu năm xa cách, gặp lại nhau trong dù ở nước ngoài xa xôi hay gặp nhau tại quê nhà…Thầy, cô trò cũng có khi có dịp gặp lại nhau, tạo cho tình cảm thầy, cô trò thêm đậm đà, vì nếu là học sinh của bao nhiêu năm dưới một mái trường yêu dấu, người học sinh nào mà không nhớ và luyến lưu đến hình ảnh người thầy, người cô thân thương đã dạy mình những năm học ngày xưa..Câu chuyện thầy Nguyễn Hồng Ẩn dù đang sinh sống ở nước Mỹ, chị Hứa Nguyệt Quang, người học trò Hà Tiên ngày xưa, tuy cũng sinh sống ở nước ngoài (Canada..) lại cũng có một cơ duyên được gặp lại nhau…Theo thông tin của anh Trần Văn Dõng (bạn học cùng lớp với chị Hứa Nguyệt Quang), chị Hứa Nguyệt Quang lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên xưa thì chị ở trọ nhà của Hia Chiêu (căn nhà sát bên tiệm tạp hóa của Bà Ba Góp (góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên), chắc có bà con chi đó. Chị Hứa Nguyệt Quang cũng là bạn thân của chị Ngọc Lan, em của cô Nguyễn Thị Sồ. Hình như chị Hứa Nguyệt Quang là người quê ở Hòn Chông, Bình An, lên quận  Hà Tiên trọ để theo học bậc Trung Học.

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Nhà có năm đứa con, chúng bỏ lại rất nhiều hình ảnh khi ra riêng, hình rời hoặc album. Hôm qua tôi lướt xem qua thùng ảnh thì tình cờ gặp lại loạt ảnh tôi và hai con, Minh Anh và Minh Hằng, đi dự đám cưới của cô em họ tại Toronto, Canada mà tôi được mời làm chủ hôn cho cô dâu và chú rể khoảng trước năm 1990.

Trong tiệc cưới nầy tôi đã vui mừng gặp lại một người học trò cũ tại trường Trung Học Hà Tiên xưa trong khoảng 1965-1970, đó là em Hứa Nguyệt Quang. Em có kể nhiều kỷ niệm trường lớp, cuộc sống từ 1975… nhưng đến nay tôi không còn nhớ, chỉ nhớ lúc gặp em thì em đang có một tiệm làm tóc tại downtown Toronto.

Em họ tôi đến làm tóc nên biết Nguyệt Quang là học trò của tôi và Nguyệt Quang là khách trong bữa tiệc cưới.

Sau đó cho đến nay tôi không còn biết thêm tin tức của em Hứa Nguyệt Quang.

Nguyễn Hồng Ẩn (21/09/2019)

Bìa phải hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo veste), người ngồi bên trái thầy là chị Hứa Nguyệt Quang và cô con gái của chị. Bìa trái hình: Hai người con của thầy tên Minh Anh và Minh Hằng. Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Toronto, Canada, 1990

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HungCuongPC)

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

 

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Tin tức ngày nay (Lê Thị Tám và Lê Kim Chung)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa một trong những người bạn thân và có ảnh hưởng nhiều đến nền ca nhạc Trung Học Hà Tiên là bạn Lê Công Hưởng. Lê Công Hưởng nhà ở đường Đống Đa, phía sau Trường Tiểu Học Hà Tiên.. Bạn Hưởng có người anh trai tên là anh Lê Kim Chung và cô em gái tên là Lê Thị Tám.

Lê Thị Tám vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên và cũng có một thời gian làm việc thơ ký tại trường Trung Học Hà Tiên nầy (khoảng từ năm 1973). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hiện Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Nhân dịp Lê Thị Tám có tổ chức đám cưới dâu cho con trai (trong những ngày hôm nay 19 và 20/07/2019), người bạn học cùng lớp với Lê Thị Tám là Huỳnh Ngọc Tuyết có đi dự lễ (tại nhà riêng đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), do đó bạn Huỳnh Ngọc Tuyết có nhã ý chia sẻ hình ảnh bạn Lê Thị Tám hiện nay cho chúng ta biết. Nhân tiện cũng có hình của anh Lê Kim Chung, anh Lê Kim Chung, anh của bạn Hưởng ngày xưa, anh Chung học cùng lớp với anh Đỗ Thành Tâm, Lâm Hữu Dư (1960-1961: lớp Đệ Thất). Được biết tin hiện tại là anh Lê Kim Chung sinh sống ở Tịnh Biên (Châu Đốc).

Lê Thị Tám (em gái của bạn Lê Công Hưởng), hiện Tám sinh sống tại đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

LeKimChung_2019.jpg

Anh Lê Kim Chung (anh trai của bạn Lê Công Hưởng), anh Lê Kim Chung ngày xưa là học sinh Trung Học Hà Tiên, hiện anh sinh sống tại Tịnh Biên (Châu Đốc). Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », chân thành cám ơn bạn Huỳnh Ngọc Tuyết đã đóng góp thông tin và chia sẻ hình ảnh cho bài viết nầy. (TVM)