Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu

 

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Tô Châu (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, khi thầy cô và các bạn nhìn thấy cái tựa bài với hai chữ tuy ngắn ngủi nhưng lại gợi cho chúng ta một ký ức rất quen thuộc … »Tô Châu »…..A nếu trong bối cảnh là Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì Tô Châu đây chính là bài viết về núi Tô Châu của Hà Tiên yêu dấu của chúng ta…Không thể nào khác đi được, Tô Châu chính là tên hai ngọn núi giữ vai trò cửa ngõ bước vào Hà Tiên đây…Tuy nhiên nếu ta chỉ viết đơn thuần hai chữ « Tô Châu » và không ở trong bối cảnh « Hà Tiên » thì từ ngữ nầy chắc chắn sẽ nhắc đến một thành phố xa xưa trong lịch sữ, đó là phố thị Tô Châu nằm ở hạ lưu sông Dương Tử, thuộc tỉnh Giang Tô bên Trung Quốc…!! Chẳng những đó là tên của một phố thị xưa bên Trung Quốc mà có thời Tô Châu lại là kinh đô của nước « Việt » trong khoảng năm 473 trước Công Nguyên…Thời đó Tô Châu cũng được gọi là Cô Tô, Câu Ngô…với sản phẩm tơ lụa nỗi tiếng…Tác giả bài viết dưới đây, bạn Quang Nguyên đã nhắc lại ở phần nhập đề bài viết « Tô Châu » về thành phố nầy, với bốn câu thơ chữ Hán miêu tả quang cảnh thơ mộng của Tô Châu đó….Tuy nhiên là người con muôn đời của Hà Tiên và cũng không muốn trở thành « chủ nghĩa dân tộc quá khích », chúng ta chỉ biết, nói và viết mãi về cái từ Tô Châu để chỉ núi Tô Châu của Hà Tiên của chúng ta, và cũng không phải chỉ có nhà thơ Trương Kế làm thơ ca ngợi cảnh phố Cô Tô của nước Trung Hoa mà may mắn thay, chúng ta cũng có nhiều bậc thi nhân xuất thân từ đất nhà Hà Tiên, làm thơ ca ngợi cảnh đẹp mây trời sắc nước của xóm núi Tô Châu, hãy đọc thơ của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mà hiểu ngay ra là cảnh Tây Hồ với Hàng Châu cũng chừng thế thôi…đâu có hơn Tô Châu với bến đò qua sông Giang Thành viếng phố Hà Tiên của chúng ta…

« Cận quách kê sơn hoành cổ độ
Đã trang kiều mộc đái tân yên »

Đò ghé bến xưa vờn bóng núi
Khói tuôn xóm mới khuất ngàn cây…
(Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội)

Khách đến chơi phố Hà Tiên hãy thong thả, đừng nóng ruột chờ đò qua sông, hãy dành vài khoảnh khắc nhìn lên hai ngọn núi Tô Châu, ngắm cảnh thiên nhiên núi, hồ, rồi lại không ngăn được ý muốn leo lên ngọn núi Tô Châu nầy, ngay tại bến đò với xóm nhà thơ mộng dưới chân núi,…vì khách cũng còn muốn dừng chân đứng lại đây, ngắm nhìn bốn bên biển hồ sông núi, nhìn cho thỏa ý rồi chợt tai nghe văng vẳng tiếng máy đò cặp bến, thôi mời khách xuống đò sang thăm chợ Hà Tiên,…thăm lăng Mạc Cửu, ở đó khách sẽ lại có thêm dịp ngắm nhìn thưởng ngoạn cảnh núi Tô Châu, một lần được khẳng định là quả thật hai ngọn núi Tô Châu giống y như hai con voi nằm phủ phục trước ngưởng cữa vào đất Hà Tiên…Đến đây mình viết hơi nhiều về đề tài núi Tô Châu nầy rồi, mời Thầy Cô và các bạn đi ngay vào bài của bạn Quang Nguyên, sẽ thấy rất thú vị với những kỷ niệm thời học trò mà bạn kể lại trong bài viết dưới đây…(TVM viết lời giới thiệu bài)

Tô Châu (Quang Nguyên)

Có một Tô Châu (còn gọi là Cô Tô) của Việt Vương Câu Tiễn với câu chuyện Tây Thi – Phạm Lãi mà ai cũng biết, và mọi người cũng biết Tô Châu ấy làm say ngất lòng người trong “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế – nhà thơ sống ở thế kỷ thứ tám:

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

Thuyền đêm đỗ bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Và có một bản dịch khác của một ông quan thời nhà Nguyễn cũng rất hay – ông Nguyễn Hàm Ninh dịch rằng:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(theo Wikipedia)

… Thời học trò luôn có những kỷ niệm trong sâu thẳm của từng người chúng ta, thỉnh thoảng một câu chuyện gì đó, hoặc gặp ai đó, hoặc không có lý do gì cụ thể – có thể chỉ là một giấc mộng đêm hè – với tiếng ve ra rả đánh thức những tiềm thức đã ngủ yên cả vài chục năm trước khi chúng ta còn ấu thơ… Mấy tháng trước tôi cũng đã có một đêm như vậy, không phải là tiếng ve gọi hè đánh thức đêm khuya mà chỉ đơn giản là thấy mình thời đi học, được đi chơi đến một nơi quen thuộc, lòng nhủ lòng sẽ viết về nó và gửi cho Mr. Mãnh để ông cất vào đâu đó trong những vùng đầy ắp những câu chuyện đẹp đẽ về thời học sinh của chúng ta.
Và không chỉ là một giấc mộng mị không đầu không đuôi của tôi, cũng khoảng thời gian ấy, có một hôm tôi nhận được một tin nhắn của bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên: “Sao bạn không viết về Tô Châu? Tôi thích Tô Châu vào hoàng hôn với hình ảnh “con voi phục” có những ánh đèn nhấp nháy của ngôi chùa trên đó như con mắt của chú voi…”. Ừ thì tôi sẽ viết và giờ tôi đang viết, chút nữa tôi sẽ nhắc lại vụ “mắt voi” này sau khi tôi viết một chút về tuổi học trò mà cái tên Tô Châu của chúng ta đã luôn “dính dáng”, một Tô Châu của người Hà Tiên cũng đặc biệt không kém Tô Châu xứ người…

….Ngày xưa chúng ta không có nhiều trò chơi để giải trí, nên « dã ngoại tự phát » cũng là cách mà học trò ngày ấy ưa thích, có những buổi nghỉ học bất ngờ vì giáo viên bệnh mà trường không sắp xếp thầy dạy thế được, ngay lập tức chúng tôi tổ chức đi chơi, nhưng đi đâu chỉ vài tiết học? Hà Tiên thì có nhiều chỗ cho học trò dã ngoại, nhưng do không có nhiều thời gian nên chúng tôi đã chọn núi Tô Châu. Quả thật, núi Tô Châu rất đẹp, nếu nó không đẹp sao người xưa có câu ca dao rằng:

“Hà Tiên có núi Tô Châu,
Có lăng Mạc Cửu, có chùa Phù Dung…”

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60.

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Nếu muốn biết Tô Châu đẹp thế nào, và nếu bạn có thời gian đi kèm với lòng can đảm, bạn phải lên Núi Lăng (Bình San), bạn phải đứng ngay trước sân quynh của lăng ông Mạc Cửu vào buổi chiều tà, nhìn qua bên kia sông của cửa biển Hà Tiên, chú tâm chỉ gói gọn trong khung ảnh cần khai thác (vì các cảnh vật khác ở lân cận, cảnh nào cũng đẹp khiến bạn phân tâm), bạn sẽ thấy núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu hiện ra rất đẹp trong khung cảnh hoàng hôn của một ngày nắng đẹp… Núi Đại là con voi mẹ đang nằm phủ phục đầu hướng ra biển và chúng ta thấy rõ cái gù trên đầu voi, khoảng lõm cổ voi, với chiếc vòi đang duỗi dài ra phía trước tựa hồ voi đang thư giãn ngắm hoàng hôn tuyệt vời trên biển Tây, nó thưởng ngoạn cái thời khắc đẹp đẽ mà gần như chỉ duy nhất Hà Tiên – Phú Quốc chúng ta mới có, bởi vị trí của xứ sở đặc biệt của chúng ta trên dãi đất hình chữ S này.
Nếu Núi Đại Tô Châu là con voi mẹ thì Núi Tiểu Tô Châu lại là con voi con với cái đầu nhỏ hơn và không có gù, nằm phủ phục như mẹ nhưng hình thể lại thấp hơn, nó rất biết vị thế để nằm lui về sau mẹ một chút, nó cũng “bắt chước” mẹ thưởng ngoạn hoàng hôn trên biển, nhưng chúng ta thừa biết rằng nó chỉ “làm bộ” vậy thôi chứ voi “trẻ trâu” làm sao có thể chiêm nghiệm được cái đẹp thâm trầm ý nhị của buổi chiều tà? Nó sẽ mãi mãi nằm đó, mãi mãi tuổi nhi đồng bên cạnh bà mẹ quý phái mãi mãi không thể già thêm được nữa…

Quang cảnh nhìn từ trên lăng Mạc Cửu về phía núi Tô Châu (Hà Tiên), phía đầu núi hướng ra biển. Hình: TVM 1994

Rồi bạn cứ đứng yên trước quynh lăng, chịu khó “ghìm” nỗi sợ mồ mả chung quanh trong buổi nhá nhem, cố đừng để ý đến ngoại cảnh sau lưng và hai bên tả hữu …, bạn sẽ nhìn thấy ánh vàng chiếu thẳng vào hai quả núi, khiến nền xanh lục của cây rừng như rõ hẳn lên, vàng và lục là hai màu kế nhau trong quang phổ ánh sáng trắng (đỏ-cam-vàng-lục-lam-chàm-tím), thế nên nó hài hòa một cách lạ kỳ, những vùng mà ánh sáng không chiếu được vào trở nên xanh thẫm, càng nổi bật khung cảnh tuyệt vời của buổi chiều tà trên hai ngọn Tô Châu xinh xắn của chúng ta mà người Hà Tiên quen đơn giản như tính cách của họ, họ gọi là núi Tiểu và núi Đại.
Họ tuyệt đối không bao giờ bỏ chữ “núi” đến tối giản để gọi là: “tiểu đại”!
Thế nhưng không như trong ký ức của người bạn của tôi là có “con mắt voi nhấp nháy…”, chúng ta sẽ phải chờ mãi đến tối mịt, khi mà mặt trời đã xuống hẳn, khi màn đêm bắt đầu lan đến cái không gian âm u tĩnh mịch của nơi bạn đang đứng, nơi mà – phía sau bạn là mồ mả, bên trái cũng là mộ phần, còn đường xuống dưới chân núi là bao nhiêu “căn hộ” của người đã khuất mà ta phải đi qua, tất cả đều đang nằm trong rừng cây âm u với những hình thù tranh tối tranh sáng quái dị… Mà cái điều đã giữ chân chúng ta đứng đó là chờ đợi con mắt của mẹ con voi nhấp nháy vẫn chưa được thỏa lòng. Nếu may ra được một lần trông thấy bà mẹ voi hay chú voi con mở mắt thì cũng đáng để chúng ta chôn chân trên “vùng đất linh hồn” này… Nào có ngọn đèn nào của ngôi chùa hay ngôi nhà nào nơi vị trí của mắt voi ấy? Nhưng chúng ta hãy kiên nhẫn mà chờ chút… Ô kìa! Đã có những ánh sáng nhấp nháy, nhiều nữa là khác, mà ở đằng kia, nơi vị trí tương ứng của cái … mông voi con!
Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi.
… Đám học trò chúng tôi đi lên núi Tiểu (Tô Châu) bằng con đường có bậc tam cấp bằng đất và đá tảng xếp thành, từ quốc lộ 80 cách đầu cầu nổi trứ danh của chúng ta chừng 200-300 mét về hướng Rạch Giá, vừa qua một khúc quanh nhẹ chúng ta đã thấy đường lên núi Tiểu là lối tam cấp đó, trước khi bước vào tam cấp chúng ta phải thấy một cái giếng nước có xây bao quanh một vòng tròn lớn mà theo trí nhớ của tôi ước chừng đến 4-5 mét, đi độ một phần tư đường lên đỉnh núi sẽ có một lối bên phải, đó là lối vào nhà bác Hai Dãnh.
       Xin lạc đề chút để nhắc về bác Hai.
Bác Hai trông rất cao, cao đến độ cái yên chiếc xe đạp bác chẳng cần bước chân qua, bác đạp xe trên đường là từ xa tôi đã nhận ra cái dáng cao kều của bác. Tương phản, bác gái lại là người nhỏ nhắn, có giọng nói rất nhẹ nhàng, bác gái hay mặc áo nâu và cả hai ông bà đều tu hành tại gia, trông người đức độ… Ngày xưa cha tôi thường sai tôi đi “trao đổi kiến thức” bằng cách cầm qua cho bác ấy những quyển sách mà cha tôi có, hoặc cầm về những quyển sách của bác đang có cho cha tôi mượn… Đôi khi kèm về tôi phải vác theo người quả mít, gói tiêu hạt, hay vài loại trái cây trong vườn nhà bác mà bác đã ân cần giấm dúi bắt tôi phải mang về. Một chút tình cảm của ngày xưa ấy tuy không dành cho đứa con nít như tôi, nhưng luôn luôn ấn tượng trong tôi về tình nghĩa của người xưa, hẵn đã rất ấm lòng cha tôi khi thời cuộc xoay vần khiến ông chỉ còn biết tìm vui trong sách vở với người tri kỷ…

« Bác Hai Dãnh » trong bài viết của Quang Nguyên. Đối với mình, đây là Hia Tư vì hia là chồng của chế Thìn chị bạn dì với mình. Tên của Hia Tư là Lý Văn Nhiên, tên của chế Thìn là Lê Thị Phượng. Đây là hình Hia Tư chụp trên núi Tiểu Tô Châu, ngay phía trước nhà của hia và chế, bên phải con đường đi lên tịnh xá Ngọc Đăng

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng:

Trên lối mòn đường núi trước nhà bác Hai, đám học trò chúng tôi đi theo hướng Thuận Yên, được một đoạn trống, nhìn xuống dưới Hà Tiên ẩn hiện nho nhỏ phố xá bên kia sông, cửa biển Hà Tiên xanh biếc mùa gió bấc, phố chợ nối với bờ bên Tô Châu là cây cầu nổi gió nước dập dềnh, đương nhiên trên núi Tiểu ta không thể thấy nó dập dềnh, nhưng thật sự nó vẫn dập dềnh như khẳng định của Galileo “dù sao thì trái đất vẫn quay!”. Bên kia con lộ 80 ngày ấy vốn còn là lộ đất đỏ, là khu rừng sác đầy dừa nước được đẩy ra tới ngang núi Pháo Đài bên kia sông, và mở rộng đầm lầy đó đến qua khỏi Eo Bà Má đến trước Trung Tâm. Chúng tôi còn nhìn thấy rõ một đoạn con lộ đỏ vượt đầm lầy, bắt đầu từ bên trái đầu cầu nổi chạy thẳng ra biển đến cái mái tôn trắng của nhà máy xay bột cá làm thức ăn gia súc, và đương nhiên phía bên phải đầu cầu nổi nhìn về Hà Tiên phải là phần còn lại của hãng nước mắm danh tiếng Bỉnh Ky đã “quốc hữu hóa », với hàng đống các tĩn mắm loại 5 lít bằng sành sơn vôi trắng chất hàng hàng lớp lớp cao ngất mà không có thứ cần chứa bên trong – cái chất nước làm nên quốc hồn quốc túy, được gìn giữ, được nghiên cứu, được mày mò bao thế hệ để ẩm thực Việt Nam không thể lạc điệu, hay lơ lớ lai căng với phần còn lại của thế giới.
Vì đã “quốc hữu hóa” nên hãng đã không còn. Đã có một thời lầm lẫn đáng tiếc nuối…
Trên núi Tiểu nhìn về Hà tiên thì bến Tô Châu thương thuyền cũng tấp nập, và có lẽ trước năm 1975 có thể tấp nập hơn chăng? Hà Tiên dạo ấy còn quạ, (những chú quạ đen gớm ghiếc với cái mỏ to đùng và tiếng kêu đầy đe dọa, chúng đậu trên những cây dừa trong vườn nhà ông Ba Lón trước nhà chúng tôi), cũng có thể có khách thương hồ đậu bến Tô Châu nửa đêm nghe tiếng quạ kêu sương mà tỉnh giấc, ngắm trăng in Đông Hồ, nghe tiếng chuông công phu phát xuất từ tịnh xá mà hứng khởi làm thơ chăng? Thế thì Tô Châu của chúng ta khác nào Cô Tô của Tây Thi và Ngô Phù Sai?

Một trong những cảnh đẹp của núi Tô Châu (Hà Tiên), góc nhìn của hình cho ta thấy cả hai ngọc núi Đại Tô Châu (phía bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa và bên phải). Trên sườn núi Tiểu Tô Châu ta thấy có « Tịnh Xá » Ngọc Tiên chiếm một khoảng rất lớn của sườn núi, điều nầy có làm giảm vẻ đẹp thiên nhiên của ngọn núi hay không ? Hình: Nguyễn Lệ Thủy, 2016

… Cũng trên đường mòn trên núi Tiểu về hướng Thuận Yên như đã nói, đi thêm đoạn nữa sau khi vẹt bao bụi gai hay dây rừng, chúng tôi chợt thấy hiện ra trước mặt có nhiều cây lạ, rất to, suông thẳng và có gân lớn, vỏ cây láng trắng xám, tuy lớn nhỏ không đều nhưng chúng giống nhau một cách lạ kỳ. Thoạt đầu chúng ta nghĩ chúng là một quần thể hội tụ nơi đây của cùng một giống, nhưng không phải, mà Trời ạ! Tất cả các gốc cây này chỉ xuất phát từ… một cây.
Đúng vậy! Đó là “Cây Da Bảy Gốc”.
Thật khó để mô tả nó một cách rõ ràng như thế nào, nhưng cái cách mà nó sinh tồn thật mãnh liệt, từ một cái gốc chính nó đã vươn cành nhánh ra chung quanh, rồi từ cành nhánh đó nó phát xuất thêm những gốc khác bằng cách “đâm” xuống đất, gốc to lên và vươn xa hơn… cái cách nó vươn ra ấn tượng làm sao, cứ như là nó biết “bò” vậy…
Cây Da Bảy Gốc là một điểm đến của học trò ngày ấy, không biết bây giờ nó còn tồn tại không hay “lâm tặc” đã “xử” nó rồi? Hơn bốn mươi năm trước trong trí nhớ của tôi nó đã to lắm, có những gốc đến mấy ôm, cũng đã ngần ấy thời gian rồi tôi đã không đến đó, giờ nếu nó còn chắc đã to hơn?
Đã có một cây da có đến mười ba gốc ở Hải Phòng, nó được định tuổi là 300 năm và được công nhận là “cây di sản” và được nhà nước bảo tồn và cho khách tham quan thưởng ngoạn, nhưng công tâm mà nói cây đó nhỏ hơn nhiều và có thể nó ít tuổi hơn Cây Da Bảy Gốc mà tôi biết từ năm xưa…
Trong ký ức của học trò Hà Tiên xa quê, Hà Tiên không chỉ có thập cảnh quá danh tiếng tặng kèm mười bài thơ “xướng” và hàng chục bài thơ “họa”, mà Hà Tiên còn bao cái lạ hơn xứ người: dừa ba ngọn, dừa bốn ngọn, dừa bảy ngọn, da bảy gốc… Biết đâu được năm xưa Sơn Tinh đi bắt voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao từ vùng đất này của chúng ta?

Và “ hai con voi phục” của bạn tôi thì vẫn nằm đó, vẫn ngắm hoàng hôn từ biển Tây, hàng đêm vẫn chớp mắt từ … mông, Tô Châu vẫn thơ mộng dù giờ có những bến phà Phú Quốc và du thuyền sang trọng, Hà Tiên qua bao năm tháng đã thay đổi nhiều, nhưng trong ký ức của người xa quê thì hình ảnh xưa vẫn chiếm ngự…
Tôi không dám đòi hỏi, nhưng tôi sẽ rất vui nếu bạn nào lứa chúng tôi mà “trẻ lại”, thử leo ngọn Tiểu Tô Châu, thăm cụ Bảy Gốc có còn khỏe chăng?
                                                                                            Quang Nguyên (07/2018)

                                                         Tác giả: Quang Nguyên                       

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Lệ Thủy, Rich Krebs , Quách Ngọc Bá, TuanVo

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, bên phải hình là đường Mạc Công Du, ta thấy một phần mái ngói của Trại Gia Binh (Thành 18) ngày xưa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1970.

Vị trí Thành Mười Tám sau khi bị san bằng để chuẩn bị xây dựng Quảng Trường Hà Tiên. Hinh: IvanQuach 2015

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham, Nguyễn Hữu Tâm

 

Giới thiệu Trương Công Bạch

Thầy Cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ rất rỏ người bạn tên Trương Công Bạch nầy, bạn Bạch người Kiên Lương, lên Hà Tiên theo học bậc Trung Học (lớp Đệ Tam, lúc đó có hai bạn từ Kiên Lương đến) vừa sau lớp mình một lớp. Mình còn nhớ Bạch hoạt động văn nghệ rất mạnh, trong đầu óc mình còn nhớ buổi văn nghệ (không nhớ là trong một dịp nào, cuối năm lễ phát thưởng, hay dịp đặc biệt nào đó…), Bach có đóng một vai trong một vở kịch xã hội,..vai một thanh niên trẻ hơi sa đọa nhưng đoạn cuối thì có ăn năn tốt đẹp. Lúc Bạch diển trong vở kịch, không hiểu lúc đó mình có nhiệm vụ gì cho buổi văn nghệ mà mình cũng có mặt đứng trong « cánh gà sân khấu » nhìn ra theo dỏi vở kịch, Bach đội một chiếc mũ rộng vành rất oai phong trong vai trò đó. (Có lẻ trong buổi văn nghệ đó, mình giữ vai người đệm đàn guitare cho các bạn hát…mình còn nhớ mình đệm bài « Lời Thề Trên Đá » cho em Quách Ngọc Điền hát rất hứng thú…)    Trần Văn Mãnh

Sau đây là phần bạn Giá Khê Trương Thanh Hùng kể về Trương Công Bạch

Trương Công Bạch là người Kiên Lương, về học tại trường Trung học Hà Tiên năm học 1969-1970 (lớp Đệ Tam, đến giữa năm học thì đổi lại thành lớp 10). Bạch lúc đó ốm, dong dỏng cao, có khiếu làm thơ. Về Hà Tiên, Bạch ở trọ nhà của một chú làm cảnh sát bên cạnh Nhà Thờ cùng với Trần Văn Kiểu (cũng người Kiên Lương) và Danh Ngữ, Tô Cốt Huồl (ở Minh Lương). Đến năm học 1970-1971 thì quận Kiên Lương có lớp 11 nên Bạch và Kiểu về Kiên Lương học.

Năm học Đệ Tam có một chuyện chắc nhiều bạn còn nhớ, đó là việc trường tổ chức cho học sinh đi tham quan Nhà máy Xi Măng Hà Tiên (tại quận Kiên Lương). Tôi nhớ có khoảng 100 học sinh các lớp Đệ Tứ, Đệ Tam, Đệ Nhị, do Thầy Trương Minh Hiển hướng dẫn, toàn bộ đi bằng xe gắn máy (Honda). Đoàn xe đi qua Ba Hòn thì có sự cố, xe tôi đi (hình như là Phan Thanh Tùng chở) va chạm với xe đi kế nên té, vài xe khác cũng ngã, tôi bị bỏng chân do chạm vào ống khói xe. Sau khi vào nhà máy thăm phòng thí nghiệm, hầm đất sét, hầm đá và được nhà máy chiêu đãi nhẹ, một nhóm chúng tôi đến nhà Trương Công Bạch chơi (lúc đó ở Ngã Ba Núi Trầu), tắm sông rất vui rồi mới về lại Hà Tiên. Năm 1974, tôi đi dạy học ở Bãi Ớt thì gặp Bạch ở Bãi Ớt, Hòn Heo, vì công vụ nên hai anh em chỉ nói chuyện qua loa rồi chia tay. Sau đó, khi chiến tranh biên giới xãy ra, tôi về làm việc ở Kiên Lương thì gặp lại Bạch, lúc này nhà Bạch ở Cống Năm Cơ, đã có vợ, con, Bạch buôn bán ở chợ Tròn. Khi chiến tranh biên giới kết thúc, cơ quan dời về Hà Tiên thì rất ít gặp Bạch. Nói về năm học Đệ Tam, tôi rất phục Bạch về chuyện làm thơ, tôi còn nhớ 2 câu thơ của Bạch mà tôi rất thích:

 » Độc hành đếm bước cô đơn
Mạc Thiên Tích đó tủi hờn chất cao ».

            Vài dòng nhớ về bạn bè.   Trương Thanh Hùng  (12/12/2016)

truongcongbach_1Chân dung rất thư sinh và rất đẹp trai của Trương Công Bạch

Trương Công Bạch tự bạch…

Mình kể lại cho các bạn cùng nghe những kỷ niệm cùng các bạn Trường Trung Học Hà Tiên.
Trương Công Bạch thời gian học chung lớp với các bạn 1969-1970 (lớp 10) nhưng còn mãi trong tôi những kỷ niệm chưa bao giờ phai nhạt.
Mãi nhớ về các bạn chung lớp: Hùng, Hào, Huồl, Ngữ, Quang, Tùng, An …..và Phương, Nhu, Điệp, Lê, Mai, Thúy Vân, Xuân Mỹ….và các bạn chung trường Dõng, Mãnh, Kim Hoàn, Liên, Liễu, Hoa, Nỡ …..và và rất nhiều bạn nữa nhưng không tiện viết hết trên những dòng này mong các bạn đừng buồn và thông cãm.

Trương Thanh Hùng nói đúng dạo đó mình rất thích làm thơ và cùng rất nhiều bạn của nhóm in tập thơ “Suối Mơ” chắc có bạn còn nhớ. Hiện thời mình không còn nhớ gì ngoài bạn Hùng còn nhớ “ Độc hành đếm bước cô đơn, Mạc Thiên Tích đó tuổi hờn chất cao” là tâm sự của mình đó và còn có đôi dòng thơ về người bạn gái chung trường họ Hà (có 2 chị em cùng học dưới mình một lớp)
Rồi có lần mình được bầu làm trưởng ban văn nghệ của lớp (mình không biết ca, hát gì hết có ca thì cũng rất dở) nhưng không hiểu sao có những lần đầu tiết học các bạn lại bắt mình ca chứ mình chỉ biết ca mỗi một bài « Thương về Miền Trung » và mình ca …Sao anh không về thăm lại miền trung … không biết có dỡ lắm không? Các bạn muốn “chọc quê” mình nên cứ yêu cầu mình ca mãi, còn quê đến bây giờ đó, một kỷ niệm mà mình khó quên.

Và mình còn nhớ năm 1969-1970 đợt Việt kiều hồi hương về Hà Tiên nhiều có người còn gặp khó khăn, nghèo ở tạm Đình, Chùa. Ban văn nghệ lớp mình dám đứng ra tổ chức đêm Văn nghệ bán vé vận động hổ trợ giúp đở Việt kiều hồi hương.
Nhớ chương trình có nhiều tiết mục: Ca nhac, Ca cổ và có một vở kịch nữa chớ. Không còn nhớ nhiều chắc có lẽ phần cuối là sự ăn năn hối cải của những đứa trẻ bụi đời, làm lại cuộc đời.
– Vào vai cùng bạn Lê và vài bạn nữa cũng ăn chơi sa đọa, rượu bia, ăn hút (thời gian đó thì mình ốm nhom, ốm nhách mà ai lại giao mình vai nầy vậy Trời !!). Còn nhớ đến phần diễn và thoại sẽ kêu bạn Lê đến bên mình nói nhỏ một câu thoại gì đó, chắc bạn Lê quên dợm bước vào trong (nếu bạn Lê vào trong thì sẽ mất đi đoạn thoại kịch đó). Lúc đó tôi vội nắm tay Lê kéo lại quá đà có hơi loạng choạng rồi tôi kề tai Lê nói nhỏ (nhưng đâu có nói gì, vì là đoạn truyền đạt trong kịch mà) lúc năm tay kéo lại thì có lẽ là hơi ngượng, nhưng đó là một kỷ niệm của thời học sinh.
Thân chào các bạn.      Trương Công Bạch  (tự bạch)

Kiên Lương, ngày12 tháng 12 năm 2016

truongcongbach_2Trương Công Bạch hiện nay sinh sống tại Rạch Giá (Kiên Giang)

Hình ảnh: Trương Công Bạch

Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan)

Thầy Cô và các bạn thân mến, thật là tình cờ và thú vị khi mình nhận được một tin nhắn của một đọc giả Blog THHTX của chúng ta, đó là tin của một em gái quê ở tỉnh Rạch Giá vì biết được tin buồn về Mạnh Thường và đồng thời cũng muốn hỏi thăm về đời sống hiện tại của bạn Hoàng Đức Trung…Khi đọc tin mình rất vui vì biết được nhờ có Blog THHTX mà từ từ các bạn có liên quan đến Trường Trung Học Hà Tiên đều thông qua Blog và tìm cách liên lạc lại với nhau. Trường hợp của bạn Bạch Loan cũng vậy,..Bạch Loan và gia đình có quen thân với bạn Lý Mạnh Thường và bạn Hoàng Đức Trung của chúng ta. Trường hợp quen với Mạnh Thường thì Thầy Cô và các bạn sẽ đọc bài viết đầy đủ dưới đây, trường hơp quen với Hoàng Đúc Trung thì có lời giãi thích của Bạch Loan như sau: « Anh Trung đi lính khóa 3/1972 sĩ quan Thủ Đức, đổi xuống quận Kiên-An, Kiên-Giang (quê nội của BL) và quen biết từ đó, anh Trung thường gọi BL là bé Loan, lần sau cùng gặp anh Trung là năm 1974, anh Trung ghé qua nhà BL ở Rạch-Giá. BL biết anh Trung qua Mỹ bình an cũng được rồi ». Qua bài viết về những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường do Bạch Loan nhớ lại và kể ra, chúng ta sẽ thấy nhớ rất nhiều về mảnh đất Hà Tiên với những ngôi chùa quen thuộc và các thắng cảnh không thể bỏ qua mà không thăm viếng đối với một du khách,..Bạch Loan có kể những lần đến chơi nhà bạn Mạnh Thường và có gặp ngay ban nhạc đang tập dợt nhạc và nhân tiện có cho Bạch Loan thưởng thức vài bài nhạc,…chắc là lúc đó có mình trong nhóm vì mình là tay đàn guitar cho nhóm, chắc đang đàn cho các bạn trong nhóm ca,..rất tiếc là mình không còn nhớ ra có gặp Bạch Loan lúc xưa hay không?? Thôi nếu đã là duyên thì trước sau cũng có hội ngộ, nay thì đã gặp lại đó tuy chỉ gặp trên Blog THHTX cũng là rất vui và rất cảm xúc…Thầy Cô và các bạn đọc bài của Bạch Loan viết và xem hình xem có bạn nào đã biết Bạch Loan từ xưa không nhé,…!!                                                                          (Trần Văn Mãnh)

Những kỷ niệm về anh Lý Mạnh Thường

loan_1973_ha_tienTác giả: Cái Thị Bạch Loan chụp trước bãi biển Mũi Nai Hà Tiên năm 1973

Gia đình tôi quen biết anh Lý Mạnh Thường qua người chị Hai. Năm 1967, chị hai tôi đi Hà Tiên chơi và ở chùa Tam Bảo vì có người bà con là cô Tư Thọ, một thành viên trong ban quản trị của chùa. Chị hai tôi gặp và làm quen với anh Thường và anh Ngọc (Nguyễn Văn Ngọc?) ở tại chùa. Anh Thường và anh Ngọc nhỏ hơn chị hai tôi vài tuổi nên cũng gọi bà chị của tôi là chị hai. Thấy chị em tâm đầu ý hợp nên hai anh tình nguyện làm người hướng dẫn cho chị hai tôi đi thăm những thắng cảnh của Hà Tiên. Nhớ lời anh Thường kể lại là mấy chị em rủ nhau đi qua biên giới Việt-Campuchia chơi. Vì mãi mê đi coi hàng hóa bên đó mà quên giờ biên giới Việt–Campuchia đóng cửa nên khi về tới biên giới thì họ nói đã đóng cửa không còn cho ai qua lại, làm mấy chị em rất là lo lắng. Thời may nhờ chị hai tôi biết vài câu tiếng Khmer, không biết chị năn nỉ với mấy ông lính Khmer thế nào mà cuối cùng rồi mấy chị em cũng được trở về nhà. Thiệt là hú hồn, hú vía, may mà đã thoát nạn!.

Vài tháng sau, anh Thường qua Rạch-Giá tìm đến nhà tôi. Chị hai tôi giới thiệu anh Thường cho cả nhà và  chị em tôi đón nhận anh Thường như người anh em trong nhà. Từ đó cho đến năm 1975, mỗi lần xuống Rạch-Giá là anh Thường ghé lại nhà tôi ở trọ 1 vài ngày. Tính tình anh Thường vui vẻ, hiền hòa, anh hát và ngâm thơ rất hay. Mỗi lần anh Thường tới nhà là chị em tôi hay có chương trình nhạc yêu cầu với anh Thường. Tôi rất thích anh thường ngâm bài thơ “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” của thi sĩ Kiên-Giạng. Thỉnh thoảng anh Thường mua những món quà làm bằng đồi mồi, đặc biệt của xứ Hà Tiên như kẹp hay vòng đeo tay tặng cho mấy chị em tôi. Tới bây giờ tôi vẫn còn giữ chiếc vòng đồi mồi của anh Thường trao tăng.

Tháng 8, năm 1973, tôi theo phái đoàn chùa Tịnh Xá Ngọc Sơn đi Kiên Lương và Hà Tiên chơi, nhờ dịp nầy tôi mới biết được hòn Chông, chùa Hang, hòn Phụ Tử ở Kiên-Lương. Sau đó qua Hà Tiên đi núi Đá Dựng, Thạch Động, chùa Phù Dung, lăng Mạc Cữu và qua biên giới Việt-Campuchia nữa. Tối thì về chùa Tam Bảo, Hà Tiên tá túc. Tôi không còn nhớ liên lạc với anh Thường bằng cách nào, chỉ nhớ là anh Thường đến đón tôi từ chùa Tam Bảo tới nhà của anh ở số 1 đường Mạc Công Du. Lúc đó trời cũng về chiều, đến nhà chào Ba Má của anh Thường xong, anh giới thiệu tôi với vài người bạn của anh đang quanh quẩn trước hiên nhà. Hình như ở đâu có anh Thường là ở đó có đờn ca; các anh cho tôi thưởng thức vài màn văn nghệ rồi đưa tôi đi ăn yogurt ở quán Ti-La. Mấy anh em vui vẻ trò chuyện xong, anh Thường đưa tôi trở lại chùa Tam Bảo. Một chuyến đi chơi với nhiều kỷ niệm.

Anh Thường đi học ở viện đại học Hòa Hảo, Long Xuyên. Khoảng tháng Tư, năm 1974  anh cùng các sinh viên của trường đại học Hòa Hảo qua trường trung học Nguyễn Trung Trực, Kiên-Giang tổ chức buổi văn nghệ, hát và quảng cáo cho trường đại học Hòa Hảo. Tôi rủ mấy đứa bạn đi coi và khoe với bạn bè là có ông anh của tôi hát hay lắm. Hôm đó anh Thường trình diễn bài “Lý quạ kêu”, cả hội trường tán thưởng nhiệt liệt.

Chân dung Lý Mạnh Thường vào năm 1968 (bức ảnh tặng Trần Văn Mãnh)LyManhThuong_1968

Sau 1975, gia đình tôi và anh Thường không còn gặp nhau nữa, vì gia đình tôi lần lần di tản qua Mỹ. Bận lo miếng cơm manh áo ở xứ lạ quê người, đành gác lại mọi chuyện về kỷ niệm ở VN qua một bên, mặc dù tâm tư tôi vẫn luôn ấp ủ những hình bóng quê nhà. Chỉ cần một cơn mưa dầm hay một buỗi nắng trưa hè cũng làm xao xuyến lòng tôi . Đầu năm 2015, một người bạn của tôi cho hay sẽ về VN ăn tết. Biết bạn có người thân ở Hà Tiên nên tôi cho địa chỉ và nhờ tìm dùm anh Lý Mạnh Thường. Ít hôm sau bạn tôi cho biết là anh Thường đã qua đời vì bạo bệnh. Ôi, thật tiếc thương cho ông anh vắn số! Tôi buồn ngẩn ngơ rồi lang thang vào internet để tìm coi có ai viết gì về anh Thường. May mắn thay, trang website “Trung Học Hà Tiên Xưa” có anh Trần Văn Mãnh viết rất đầLyManhThuong_ay đủ về anh Thường.

Trong niềm luyến tiếc, tôi xin viết ra bao kỷ niệm để tưởng nhớ đến anh Thường. Nguyện cầu cho linh hồn anh Thường luôn được bình an nơi cõi vĩnh hằng.

 Xin kính chào vĩnh Biệt !

 Bạch-Loan  (Virginia, Mỹ)

ha-tien-chua-tam-bao

Ngôi chùa mang tên « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » (Hà Tiên)

DSC_0021Ngôi nhà của bạn Lý Mạnh Thường, nơi xem như trung tâm văn nghệ thường xuyên có nhóm bạn tập dợt ca hát trong những năm ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » hoạt động mạnh.

Tái bút của Bạch Loan sau khi đọc bài viết trên:

Bạch Loan đã thấy anh Mãnh post bài viết của Bạch Loan vào Blog THHTX rồi, chắc không có ai biết Bạch Loan ngoại trừ anh Trung. Bạch Loan nhớ ra còn có quen với anh Huỳnh Văn Bé là em của anh Huỳnh Văn Quang, anh Bé qua Rạch-Giá đi học trường Nguyễn Trung Trực cùng lớp với người chị thứ 5 của Bạch Loan, thỉnh thoảng anh Bé có đến nhà Bạch Loan chơi. Bây giờ anh Quang và anh Bé đang ở California, anh Quang có tiệm Bakery (tiệm bánh mì).

Lúc qua Hà Tiên, anh Thường có đưa Bạch Loan tới nhà của Dì Tư, gặp anh Lý Tòng Hiếu 1 lần, chắc anh Hiếu không còn nhớ Bạch Loan đâu. Tuổi đời giờ xế bóng, hồi tưởng lại những kỷ niệm xưa cũng vui vui …(CTBL)

hvb_lth

 Bạch Loan chú thích tên của Lý Tòng Hiếu và Huỳnh Văn Bé trong hình

Hình ảnh: Cái Thị Bạch Loan, Trần Văn Mãnh, Ngoc Doly, Võ Kim Loan, Hoàng Phương (Internet)                            

Khai bút đầu năm (Trần văn Dõng)

                                         KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Đã toan gác kiếm (à quên, gác bút) nhưng thấy nhiều đàn em viết lách hăng quá (Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Holly Tien, Trương Thanh Hùng….) nên đầu năm khăn áo chỉnh tề, đốt lọ trầm hương, pha một bình trà…quạu ( gọi là cho có thi hứng, văn hứng đấy mà !). Nhưng chiêu gần hết một bình trà, vào toa lét mấy lần mà chữ vẫn chưa chịu chui ra , hay là mình bị lú lẫn, quên đầu quên đuôi mất rồi!!!, than ôi ! Trung Học Hà Tiên xưa ư ? Đã xấp xỉ tròn nửa thế kỹ rồi còn gì, hồi đó mình chỉ biết có « học là chính », chớ không phải « học là chín, chơi là …mười » như…chủ thớt, à cái này nói thiệt đó nhe, chủ thớt đừng giận mà ém tài (lộn, ém bài) của mình để mấy đàn em còn xem và bình…loạn  xạ! Do vậy, nên những kỷ niệm, hồi ức của mình về cái thời áo trắng ấy như một màn khói sương bãng lãng, mờ ảo. Bạn của mình thuở đó chắc cũng chán nên quay ra chơi với…Văn Mãnh vui hơn, nhộn nhịp hơn, hoành ( tá) tràng , lã lướt nữa còn mình thì khô như …mực, im như thóc, chìm như ..người không biết lội:
 
      « Ngày xưa, ừ nhỉ, ngày xưa ấy
      Sao chẳng ngẩn ngơ chiếc áo dài?
      Tan trường bước vội dông về lẹ
       Sao chẳng làm…đuôi ngắm dáng ai? »

Để đến bây giờ mình có ít, thật ít, những kỹ niệm đẹp thời đi học dưới mái trường Trung Học Hà Tiên. Thời đó mình mê sách hơn, trong nhóm bạn chơi có Hà Quốc Hưng là khá hợp gu mình nhưng Hưng học sau vài lớp nên cũng ít dịp đi chơi chung nhau nhiều.
Còn có mối tình vắt vai nào thời đó không nhỉ? Phải nói thiệt về mặt này bản thành tích của mình mỏng như giấy…pơ luya ( thua chủ thớt xa…vạn dặm):

     » Tình là tình.mà..có cũng như không! »

Chắc chỉ để trầm ngâm trong quán Ti La, nhìn khói thuốc mơ màng (lớp đệ Tam, đệ Nhị là tập tành phì phèo rồi!) :

    » Thoáng hiện em về trong đáy cốc
    Ngở ngàng không nhớ gọi tên chi ! »

Để rồi giữa năm 1969 thế kỹ trước, sau khi thi đậu tú tài 1, chuẩn bị qua Kiên Giang học lớp đệ Nhất (lớp 12) Nguyễn Trung Trực mới giật mình sao hành trang kỷ niệm đem theo ra tỉnh học nhẹ thế, không có « người trong mộng nào để chiêm bao! »
Tại hồi xưa mình …dở quá, không xổ nho:

     » Hởi cô em gái, người trong mộng
    Tan trường chậm bước có…tôi mong!
     Đừng đi nhanh quá…theo không..kịp
   Đễ đón mùi hương dấu cõi lòng! »

TranVanDong_TruongLopTrần Văn Dõng, ngồi một mình trước lớp học tại trường Trung Học Hà Tiên, chuẩn bị rời trường sang Rạch Giá học tiếp lớp Đệ Nhất

Thế rồi, xuống tàu đò (hồi đó phải đi tàu đò qua Rạch Giá vì đường bộ không an toàn) sang Kiên Giang học lớp 12 trường Nguyễn Trung Trực (niên khóa 1969-1970). Toàn tỉnh Kiên Giang niên học đó chỉ có hai lớp 12, một lớp theo Pháp Văn, một lớp theo Anh Văn, mình theo Pháp Văn, mỗi lớp chưa đầy 40 đứa vì năm 1969 rớt Tú Tài 1 rất nhiều, các quận trong tỉnh về học lớp 12 (kể cả Phú Quốc) mà chưa đầy 100 học sinh!TranvanDong1972

Trần văn Dõng (giai đoạn lớp Đệ Nhất 1969-1970)

Đến đây thì không còn Trung Học Hà Tiên nữa rồi, nhưng lở kể thì kể thêm một chút cho tròn câu chuyện. Cuối niên khóa 69-70 mình xếp nhất toàn trường Nguyễn Trung Trực, làm cho học trò tỉnh không còn coi thường học trò quận, huyện, nhất là Hà Tiên nữa!

  « Một thuở ngu ngơ, khờ dại ấy
Ngày sau chắc hẳn mấy ai quên
Giờ đây tứ tán ngàn phương dặm
Bạn hởi, thầy ơi, chút nỗi niềm! »

(TB: Các bạn fan của « Trung Học Hà Tiên xưa » nếu xem xong đoản văn lộn xộn trên thấy được thì vổ tay, à quên, bấm like chứ, để có khí thế mình sẽ ráng nhớ thêm vài mẫu chuyện, viết tiếp, mua vui cũng được một vài…phút giây !)

Trần Văn Dõng   (Sài Gòn đêm 5/1/2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng