Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ một câu chuyện thời học sinh ở Hà Tiên nữa, xin kể ra đây cho thầy cô và các bạn nghe qua…

Lúc đó vào khoảng thời gian mình học lớp đệ ngũ, niên khóa 1966-1967, mình thường đi chơi thân với các bạn Nguyễn Văn Tài (Tài người không cao lắm, nhà ở ngay góc đường Cầu Câu – Lam Sơn, nhà Tài đối diện với bên hông chùa Ông Bổn, phía có Trường Hoa Liên, ba má của Tài người ta thường gọi là Ông Tư bà Tư, ba Tài bán kẹo kéo chung quanh các trường học ở Hà Tiên. Một bạn thân nữa trong thời kỳ nầy là Lương Cường, con của ông bà có tiệm bán thuốc Bắc ngay trước mặt bắc của ngôi chợ Hà Tiên xưa, đó là tiệm Sanh Hoạt, tiệm Sanh Hoạt nầy ngày xưa mình rất thường lui tới nào là để mua bóng đèn nhỏ để chơi pin đèn, nào là mua « xí muội » hoặc « trái táo » khô về để ngậm trong những ngày bị bệnh…Cả hai gia đình của bạn Nguyễn Văn Tài và Lương Cường đều biết mình và ba má của hai bạn cũng rất tử tế đối với mình.

Buổi chiều đó như mọi hôm, mình thả bộ trên con đường Lam Sơn để đến nhà Tài chơi, sau khi gặp nhau thì có bạn Lương Cường chạy xe Honda ghé đến (kiểu xe Honda đàn ông đời 1967). Vào thời gian nầy ở Hà Tiên cũng đã bắt đầu có nhiều xe Honda kiểu đàn ông, đàn bà (Honda Dame) xuất hiện, các nhà buôn khá giả chung quanh chợ đều có trang bị xe Honda cho con cái trong nhà để chiều chiều chạy xe dạo chơi trên các đường phố Hà Tiên. Bạn Lương Cường vừa ghé nhà Nguyễn Văn Tài với chiếc xe Honda 67 màu đen, có hai loại xe Honda đàn ông thời nầy, trước nhất là loại xe Honda 67 với tay cầm thẳng ngang và rất ngắn, sau đó có loại với tay cầm hình theo kiểu chữ V rộng ra, đó chính là kiểu xe của bạn Lương Cường thời đó. Cường rủ mình và Tài lên xe làm vài vòng buổi chiều hóng gió mát. Thế là cả ba thượng lên chiếc Honda 67 của Cường, Cường cầm tay lái ngồi phía trước, Tài nhỏ người ngồi giữa và mình ngồi phía sau cùng. Thầy cô và các bạn cũng biết là ngày xưa luật giao thông cũng hơi lỏng lẻo, chỉ một chiếc xe Honda mà người ta muốn chở trên đó mấy người cũng được, miển là các hành khách ngồi được vững vàng và ngay ngắn là tài xế chạy được, có người chở vợ phía sau và ba bốn đứa con ngồi đủ cả che kín chiếc bình xăng phía trước cũng lái xe chạy bình thường…

Ở Hà Tiên thời kỳ nầy có một vòng các đường phố mà chiều nào các anh em học sinh Hà Tiên đều « lượn » xe Honda không sót một khúc nào, nhiều khi còn phải làm lại hàng ba, bốn lần cái « circuit » nầy, giống như chạy theo kiểu thi đua theo môn thể thao « Công thức 1 » (forrmule 1) của quốc tế vậy…Chẳng những chạy xe Honda vòng vòng theo các con đường nầy mà còn tự động tập trung các xe Honda của các bạn khác, nam nữ đều có đủ, hợp lại cùng chạy chung một hướng rất là ngoạn mục…Đó là con đường bắt đầu từ đường « Bến Trần Hầu », chạy vòng qua đường Phương Thành, chạy thẳng ra phía Ấp Chiến Lược ngày xưa, quẹo qua phía núi Đề Liêm, chạy thẳng ra đường đi Thạch Động và …quẹo về…Đặc biệt là ngay khúc có Ấp Chiến Lược ngày xưa, có một khúc quanh rất đẹp mắt, đường kính khúc quanh vừa rộng rải để cho người lái xe cặp khúc quanh nầy, không bị quẹo gắt lắm…Ngày xưa có hai bạn Phan Thanh Tùng và Phan Thanh Liêm (Tùng và Liêm là hai anh em, con của bác Ba Phan Văn Thân có tiệm bán sản phẩm kỷ niệm đồi mồi ở ngay góc đường Lam Sơn-Tuần Phủ Đạt), bạn Tùng học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ,..v..v..Còn bạn Liêm thì học chung lớp với mình. Tới đây xin mở ngoặc nói về Tùng và Liêm: có một lúc mình cũng đi chơi thân với bạn Phan Thanh Tùng, đó là lần Tùng rủ mình cùng đi qua Sa Đéc để thăm anh của Tùng, lúc đó anh ấy đang đóng quân ở Sa Đéc và ở trong một căn nhà nhỏ với người vợ, mình và Tùng đến nhà anh thăm cả hai người, hai đứa ở lại vài ngày rồi mới kéo nhau qua Cần Thơ, mình còn nhớ hình như lúc đi bộ từ phà bắc lên đường xe, mình có gặp thầy Nguyễn Hồng Ẩn tại đây, lâu quá không biết có nhớ chính xác không…Còn nói về Phan Thanh Liêm, Liêm thì ít nói, rất hiền, nhưng Liêm có tài chạy xe Honda lạng lách rất hay, nhiều lần Liêm chở mình trên chiếc xe Honda 67 có tay cầm hình chữ V (đúng là mode tay cầm xe Honda thời đó…), chạy nhanh ra phía Ấp Chiến Lược đường Phương Thành, ra phía Thạch Động, Liêm nghiêng mình lạng chiếc xe Honda rất lành nghề và chiếc xe và mặt đường làm thành hình chữ V rất đẹp, tuy nhiên mỗi lần Liêm chở mình ngồi phía sau và lạng qua cua như vậy, mình rất sợ, hót bụng và nhắm mắt cho qua giai đoạn đó…

Trở lại câu chuyện bạn Lương Cường chở mình và Nguyễn Văn Tài chạy ra phía Thạch Động chơi. Khi chạy gần tới Thạch Động thì cũng xin nhắc lại là trong thời xưa Hà Tiên tuy không có chiến tranh trực tiếp ngay ở thành thị nhưng những nơi chiến lược như Thạch Động, Đá Dựng, đồi Ngũ Hổ đều có quân đội Nghĩa Quân và Địa Phương Quân đóng ở đó và dân chúng không được tới lui viếng cảnh như vào thời bình. Vì thế, ngay ở dưới chân núi Thạch Động lúc đó, có một cái cổng chắn ngang và có một người lính trẻ đang đứng gát ở đó, khi nào có xe cộ thường là xe đạp và xe gắn máy muốn chạy ngang qua thì người lính mở cổng lên cho xe chạy qua (cổng chắn ngang là một thanh cây nằm ngang, một đầu có treo một đối trọng nặng để cây được nâng lên dể dàng và đầu kia thì móc vào một cái móc để giữ cho thanh cây nằm ngang khi ở vị trí chắn ngang. Trước khi xe của bọn mình chạy tới cổng chắn ngang thì có một chiếc xe chạy phía trước và đã được người lính gát cổng mở cổng lên cho xe đó chạy qua, bạn Lương Cường thấy vậy nên nghĩ là anh ta cũng giữ cổng mở lên cao cho mình qua luôn nên cũng tiếp tục chạy qua không dừng lại, tuy nhiên anh lính gát cổng nầy có lẻ hơi « không mấy thích » mấy anh chàng học sinh chạy xe Honda đi chơi như bọn mình nên thình lình anh cho cổng quay xuống để chận đường lại, khổ thay lúc đó đã quá trể xe của Cường vừa lao tới, lại bị cây chắn ngang cản ngang mình, nên cả ba đều bị té xuống ngay liền, còn chiếc xe Honda thì vì quán tính nên tiếp tục chạy về phía trước không có người trên đó và bị mất thăng bằng xe ngả luôn xuống đường, hình như cái đèn vàng « signal » phía trước tay lái cũng bị bể văng tung ra…

Lúc đó ngay cả anh chàng lính gát cũng nhận thấy tình hình hơi nghiêm trọng vì đã làm cho bọn mình bị té xe, nên anh ta làm ra mặt nghiêm muốn bắt lỗi bọn mình tại sao không dừng xe lại ngay trạm gát mà chạy luôn như vậy, bọn mình thì cả ba đang lò mò đứng dậy, nhìn chung quanh mình xem có bị thương tích gì không và cũng muốn « cự » lại anh ta tại sao anh lại hạ cổng chận ngang xe như vậy,…Rốt cuộc anh lính gát phải gọi điện lên phía trên Thạch Động chỗ đóng quân để báo cáo tình hình và xin cấp trên xuống can thiệp xem sao. Bọn mình cả ba phải dựng xe đứng lại và phải chờ giải quyết…Tới đây xin phép được nói thêm về tình hình đóng quân ở Thạch Động thời đó. Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người bạn gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Múi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ…

Trở lại câu chuyện bọn mình bị té xe Honda ở ngay dưới chân núi Thạch Động và đang chờ cấp trên xuống giải quyết. Chờ một lúc có một người lính đi bộ từ trên núi Thạch Động xuống ngay chỗ có cổng gát để hỏi chuyện, mình cũng đang lo sợ vì không biết có bị bắt bớ gì không trong vụ nầy…đến khi thấy người lính xuống để giải quyết công việc thì mình cũng bớt lo vì người lính nầy chính là anh hạ sĩ (hay trung sĩ mình không nhớ rỏ) tên là Tòng. Nói về hạ sĩ Tòng, ở Hà Tiên thời đó chắc ai cũng biết hạ sĩ Tòng nầy, vì anh bị thương trong một vụ đụng độ và bị một viên đạn trúng ngay trên đầu, làm bể một phần xương sọ, tuy nhiên anh cũng thoát nạn sau khi được chữa trị, chỉ có điều là trên tráng của anh có một chổ bên phải bị móp vô và chỉ có da bọc bên ngoài lại, anh vẫn sinh hoạt hằng ngày như thường lệ miển là đừng đụng vô chổ tráng bị móp vô thôi. Sở dĩ mình biết hạ sĩ Tòng hay còn hơn nữa là quen với anh nữa là vì lúc đó hạ sĩ Tòng có mướn một khu đất nhỏ phía bên phải nhà của má Hai của mình (nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, bà con anh chị em bạn dì với mình), nhà ở đường Tô Châu, ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng. hạ sĩ Tòng cất một căn nhà lá nhỏ ở đó để sinh sống với vợ con. Thường ngày khi mình đến nhà chị Kim (nhà Má Hai) để chơi thì gặp anh Tòng rất thường và trở thành quen biết, anh Tòng xem mình như mấy em trong nhà. Do đó rất là may mắn, khi hạ sĩ Tòng xuống đến chỗ có cổng gát và sau khi anh chàng lính gát cổng chào hạ sĩ Tòng rất nghiêm trang kiểu nhà binh, thì anh ta báo cáo lại tình hình té xe như vậy, hạ sĩ Tòng nhìn thấy có mình trong nhóm chạy xe Honda nên anh cũng rất tử tế bỏ qua câu chuyện nầy và cho phép bọn mình lên xe chạy về nhà…Cả bọn cám ơn anh hạ sĩ Tòng và sau đó cũng mất hết hứng thú nên không tiếp tục đi chơi nữa mà trở lại về chợ Hà Tiên và đi uống cafe để nói chuyện chơi cho vui…Đó là một kỷ niệm cũng vui vui, rốt cuộc thì cũng thoát nạn, nghĩ lại bây giờ thời thanh bình ai muốn đi thăm viếng thắng cảnh nào cũng được và đi chơi tới những chỗ mà ngày xưa hoàn toàn là dành cho nhà binh dân thường không được bén mảng tới. Đến đây là hết chuyện kể xin hẹn với thầy cô và các bạn một dịp khác nhé, cũng xin nhắc lại là sau khi học xong trường trung học Hà Tiên, bạn bè mỗi người đi một ngả, sau 1975 bạn Lương Cường cùng gia đình đi định cư ở nước ngoài, bạn Nguyễn Văn Tài từ trước năm 1975 đã nhập ngủ theo ngành chuyên viên kỷ thuật không quân, đóng tại Cần Thơ, trong những năm mình học Đại Học Sư Phạm ở Cần Thơ rất thường xuyên gặp lại Tài. Sau 1975 nghe nói Tài vẫn còn ở tại Cần Thơ, mình không có dịp gặp lại nữa.

Paris ngày 12/11/2018 Trần Văn Mãnh

Từ trái sang phải: Lương Cường, Nguyễn Văn Tài, Trần Văn Mãnh (hình: Trần Văn Mãnh năm 1966)

Anh Đường Hùng Việt, chân dung lúc còn học sinh trường Trung Học Hà Tiên, sau nầy anh vào quân đội với cấp bậc Trung Sĩ và hy sinh ngay tại quê nhà Hà Tiên. Hình Nguyệt Đường

Bên trái: Phan Thanh Tùng, bên phải: Phan Thanh Liêm. Hình: Hoàng Thị Minh Liên, năm 2014

Một trong những kiểu xe Honda 67 với tay cầm ngang và ngắn. Hình: tuannguyen959

Trên đường đi ngang Thạch Động, phía dưới chân Thạch Động ngay lề đường ngày xưa có một cổng gát chắn ngang đường. Hình: Herman Hermanson 2006

Từ Hà Tiên đến Cần Thơ (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Từ Hà Tiên Đến Cần Thơ

Sau khi tốt nghiệp, tôi đến nhận nhiệm sở tại một trường trung học của một quận nhỏ bé gần biên giới Việt Miên vào niên khóa 1965-1966.

Ngay khi rời con đò Tô Châu, bước chân ngay lên thị trấn Hà Tiên mộc mạc như cô gái quê nhưng chiếm lỉnh một vùng đất tịch mịch, thơ mộng, hữu tình với những địa danh lịch sử nổi tiếng, nổi tiếng cả trong văn học, tôi đã không thất vọng khi đã chọn ngôi trường nhỏ bé khiêm nhường nằm ở cuối miền đất nước bên bờ vịnh Thái Lan biển xanh, gió lộng. Khi ở cấp tiểu học, tôi đã nghe qua Hà Tiên có thời là một trong 21 tỉnh lỵ ngày xưa của miền Tây Việt Nam qua câu « bí kíp »thầy dạy cho dễ nhớ: Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà, Sa, Bến, Long, Tân, Sóc, Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc, Cấp.

Một đồng nghiệp giới thiệu tôi đến nhà bà Bảy, số 16 đường Nhật Tảo là nơi trọ duy nhất cho đến lúc tôi rời hẳn Hà Tiên vào cuối niên khoá 1969-1970 để chuyển về Trung học Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ. Ngôi nhà thân thương này của nhiều thầy giáo xa xứ ở trọ, nơi cho họ biết bao kỷ niệm vui buồn. Được biết bây giờ, 2015, ngôi nhà cổ kính này vẫn còn đó, khiêm nhường nằm dưới bầu trời xanh đất Việt đón gió biển Thái Bình Dương thoảng vào từ vịnh Thái Lan như bấy lâu, chứng  kiến những đổi thay của thị trấn sau chiến tranh để trở thành một thành phố du lịch khá nổi tiếng.

Căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên, nơi ở trọ đầu tiên

Ngôi nhà số 16 đường Nhật Tảo ngày nay

Đó là điều tất yếu theo thời gian, nhưng với những ai hoài cổ chắc ngậm ngùi khi nhớ hoặc về thăm lại để tìm chút dư hương ngọt ngào ngày cũ của mình.

Hai người bạn thân từ ngày xưa: Nguyễn Hồng Ẩn (trái), Huỳnh Văn Hòa (phải)

Tôi cũng không ngoại lệ! Có rất nhiều điều nhắc, nhớ lại, vui có buồn có,  nhưng hôm nay tôi muốn đề cập đến một người bạn lần đầu quen biết tại số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên. Chúng tôi rất thân nhau rồi theo thời gian, khi gần khi xa qua nhiều giai đoạn vui  hay khổ, kéo dài cho đến hôm nay: bắt đầu tại vùng đất Phương Thành (tên cũ của Hà Tiên), đến … đồi Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức), Tây Đô, vùng bưởi Năm Roi (Cái Vồn hay Bình Minh, Vĩnh Long), trại nuôi tép xã Long Khánh (Trà Vinh), rồi tiếp theo nhiều năm « tôi thì ngày lúc anh vào đêm » hay ngược lại…Nói cho rõ hơn, chúng tôi kề cận bên nhau từ lúc dạy học ở Hà Tiên, động viên vào Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, đổi về dạy ở Cần Thơ, về Trung học Bình Minh, đi tù « cãi tạo » tại xã Long Khánh và xa nhau khi tôi định cư nước ngoài.

Cách nay mười ba năm về trước (2002), chúng tôi tái ngộ lần đầu tại Cần Thơ sau nhiều năm mạnh ai nấy tìm đường sống cho mình sau cuộc « đổi đời ». Gặp nhau trong vội vã, hấp tấp vì thời hạn ngắn ngủi nên chẳng thoả lòng.

Sau đó thỉnh-thoảng chúng tôi có những lần thăm hỏi qua điện thoại viển liên. Anh hối tôi cố cùng nhau làm một lần về thăm lại Đông Hồ, Tô Châu, Bãi Nò, Mũi Nai, lăng Mạc Cửu trước khi những người quen, thân hữu, đồng nghiệp và cả học trò sẽ chẳng còn ai! Tôi hứa…cố-gắng  rồi tự ngẫm rằng « Sẽ ‘chẳng còn ai’, ai …gồm cả chúng ta nữa đó anh! »

Đầu năm nay, 2015, một hôm tôi nhận được điện thư của một bạn quen nhau ở hải ngoại. Thú thật chúng tôi ít gởi thư cho nhau bởi lẽ tôi thường trao đổi thư từ về thơ văn qua một người bạn chung cùng nhóm. Điện thư của anh, anh Lê Hoàng Viện, đã cho tôi một ngạc-nhiên lớn! Thú vị là vì điện thư này rất  « nặng ký » với tôi; nặng bởi vì biết thêm anh là bạn cùng nhà trọ với người bạn của tôi nhắc bên trên, thuở hai anh đi học ở Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ, và nặng hơn nữa khi cho tôi biết bạn cũ Hà Tiên của tôi đang tìm và đang ở cách tôi vài trăm miles, khoảng 4 đến 5 giờ lái xe ở đất Mỹ này. Mừng quá đổi mừng và cám ơn anh Lê Hoàng Viện thiệt là nhiều.

Vào lứa tuổi « thất thập cổ lai hy » mà lái xe ngần ấy giờ trong mùa Đông tuyết đổ này thì cũng « ái ngại ái ngộ  » lắm.
Nhớ xưa cha mẹ và thầy cô dạy: “Chuyện gì làm được hôm nay thì đừng để ngày mai” và sau này có câu “ Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương” nên tôi quyết  tâm tìm đến thăm vợ chồng bạn đang du lịch tại đất nước này để tạo cho nhau MỘT NGÀY VUI  » chộ vốn » cho chắc ăn trước cái đã.
Tôi liên lạc, hẹn hò, hỏi địa chỉ. Khi đến ngày hẹn, chiếc xe đời 2003 với GPS vượt đường dài ẩm ướt do trận tuyết hôm qua, đưa tôi và bà xã đến gặp anh Huỳnh Văn Hoà, cựu học sinh trường Phan Thanh Giản năm 1956, và hiền-thê của anh là chị Thái Thị Phượng, cựu nữ sinh Trung học Đoàn Thị Điểm tại nhà của bác sĩ Thái Ngọc Ẩn và chị Nguyễn Thị Gấm ở Watertown, Massachusetts.

Từ khi tôi về dạy ở Cần Thơ, qua trung gian của anh Hoà, vợ chồng chúng tôi đã trở thành bạn của chị Phượng, em ruột của bác sĩ Thái Ngọc Ẩn, và quen biết hầu hết các thành viên gia đình của chị, như anh Thái Minh Tước, Thái Minh Nhựt (Giám đốc Tư Thục Ngọc Phú)…

Ngày bốn tháng giêng năm 2015, chúng tôi gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, chuyện mới chuyện cũ râm ran kể ra liên tục cho đến lúc chia tay sau nhiều giờ hàn huyên. Chúng tôi hẹn gặp nhau ít nhất một lần nữa trước khi anh chị trở về Việt Nam.

Cuộc họp mặt hai người bạn xưa: Nguyễn Hồng Ẩn và Huỳnh Văn Hòa (Watertown MA USA 2015)

Một hôm tôi nói với anh Hòa rằng: « Vì đã tạo cho nhau NHÂN tốt nên dù cách xa ngàn dặm, nơi xứ lạ quê người, chúng ta đã được hưởng QUẢ tốt ngày nay ».

Họp mặt bạn thân ngày xưa: Ẩn, Hòa, Phượng và Vân (Watertown MA USA 2015)

Chắc chắn chúng tôi sẽ đến gặp anh chị một lần nữa, có thể vào ngày hợp mặt mừng Xuân Ất Mùi  2015 của Nhóm Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Vùng New England vào 29 tháng 3 tại nhà anh Ẩn và chị Gấm.

Nguyễn Hồng Ẩn
March 16, 2015

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn