Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Publicités

Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ một câu chuyện thời học sinh ở Hà Tiên nữa, xin kể ra đây cho thầy cô và các bạn nghe qua…

Lúc đó vào khoảng thời gian mình học lớp đệ ngũ, niên khóa 1966-1967, mình thường đi chơi thân với các bạn Nguyễn Văn Tài (Tài người không cao lắm, nhà ở ngay góc đường Cầu Câu – Lam Sơn, nhà Tài đối diện với bên hông chùa Ông Bổn, phía có Trường Hoa Liên, ba má của Tài người ta thường gọi là Ông Tư bà Tư, ba Tài bán kẹo kéo chung quanh các trường học ở Hà Tiên. Một bạn thân nữa trong thời kỳ nầy là Lương Cường, con của ông bà có tiệm bán thuốc Bắc ngay trước mặt bắc của ngôi chợ Hà Tiên xưa, đó là tiệm Sanh Hoạt, tiệm Sanh Hoạt nầy ngày xưa mình rất thường lui tới nào là để mua bóng đèn nhỏ để chơi pin đèn, nào là mua « xí muội » hoặc « trái táo » khô về để ngậm trong những ngày bị bệnh…Cả hai gia đình của bạn Nguyễn Văn Tài và Lương Cường đều biết mình và ba má của hai bạn cũng rất tử tế đối với mình.

Buổi chiều đó như mọi hôm, mình thả bộ trên con đường Lam Sơn để đến nhà Tài chơi, sau khi gặp nhau thì có bạn Lương Cường chạy xe Honda ghé đến (kiểu xe Honda đàn ông đời 1967). Vào thời gian nầy ở Hà Tiên cũng đã bắt đầu có nhiều xe Honda kiểu đàn ông, đàn bà (Honda Dame) xuất hiện, các nhà buôn khá giả chung quanh chợ đều có trang bị xe Honda cho con cái trong nhà để chiều chiều chạy xe dạo chơi trên các đường phố Hà Tiên. Bạn Lương Cường vừa ghé nhà Nguyễn Văn Tài với chiếc xe Honda 67 màu đen, có hai loại xe Honda đàn ông thời nầy, trước nhất là loại xe Honda 67 với tay cầm thẳng ngang và rất ngắn, sau đó có loại với tay cầm hình theo kiểu chữ V rộng ra, đó chính là kiểu xe của bạn Lương Cường thời đó. Cường rủ mình và Tài lên xe làm vài vòng buổi chiều hóng gió mát. Thế là cả ba thượng lên chiếc Honda 67 của Cường, Cường cầm tay lái ngồi phía trước, Tài nhỏ người ngồi giữa và mình ngồi phía sau cùng. Thầy cô và các bạn cũng biết là ngày xưa luật giao thông cũng hơi lỏng lẻo, chỉ một chiếc xe Honda mà người ta muốn chở trên đó mấy người cũng được, miển là các hành khách ngồi được vững vàng và ngay ngắn là tài xế chạy được, có người chở vợ phía sau và ba bốn đứa con ngồi đủ cả che kín chiếc bình xăng phía trước cũng lái xe chạy bình thường…

Ở Hà Tiên thời kỳ nầy có một vòng các đường phố mà chiều nào các anh em học sinh Hà Tiên đều « lượn » xe Honda không sót một khúc nào, nhiều khi còn phải làm lại hàng ba, bốn lần cái « circuit » nầy, giống như chạy theo kiểu thi đua theo môn thể thao « Công thức 1 » (forrmule 1) của quốc tế vậy…Chẳng những chạy xe Honda vòng vòng theo các con đường nầy mà còn tự động tập trung các xe Honda của các bạn khác, nam nữ đều có đủ, hợp lại cùng chạy chung một hướng rất là ngoạn mục…Đó là con đường bắt đầu từ đường « Bến Trần Hầu », chạy vòng qua đường Phương Thành, chạy thẳng ra phía Ấp Chiến Lược ngày xưa, quẹo qua phía núi Đề Liêm, chạy thẳng ra đường đi Thạch Động và …quẹo về…Đặc biệt là ngay khúc có Ấp Chiến Lược ngày xưa, có một khúc quanh rất đẹp mắt, đường kính khúc quanh vừa rộng rải để cho người lái xe cặp khúc quanh nầy, không bị quẹo gắt lắm…Ngày xưa có hai bạn Phan Thanh Tùng và Phan Thanh Liêm (Tùng và Liêm là hai anh em, con của bác Ba Phan Văn Thân có tiệm bán sản phẩm kỷ niệm đồi mồi ở ngay góc đường Lam Sơn-Tuần Phủ Đạt), bạn Tùng học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ,..v..v..Còn bạn Liêm thì học chung lớp với mình. Tới đây xin mở ngoặc nói về Tùng và Liêm: có một lúc mình cũng đi chơi thân với bạn Phan Thanh Tùng, đó là lần Tùng rủ mình cùng đi qua Sa Đéc để thăm anh của Tùng, lúc đó anh ấy đang đóng quân ở Sa Đéc và ở trong một căn nhà nhỏ với người vợ, mình và Tùng đến nhà anh thăm cả hai người, hai đứa ở lại vài ngày rồi mới kéo nhau qua Cần Thơ, mình còn nhớ hình như lúc đi bộ từ phà bắc lên đường xe, mình có gặp thầy Nguyễn Hồng Ẩn tại đây, lâu quá không biết có nhớ chính xác không…Còn nói về Phan Thanh Liêm, Liêm thì ít nói, rất hiền, nhưng Liêm có tài chạy xe Honda lạng lách rất hay, nhiều lần Liêm chở mình trên chiếc xe Honda 67 có tay cầm hình chữ V (đúng là mode tay cầm xe Honda thời đó…), chạy nhanh ra phía Ấp Chiến Lược đường Phương Thành, ra phía Thạch Động, Liêm nghiêng mình lạng chiếc xe Honda rất lành nghề và chiếc xe và mặt đường làm thành hình chữ V rất đẹp, tuy nhiên mỗi lần Liêm chở mình ngồi phía sau và lạng qua cua như vậy, mình rất sợ, hót bụng và nhắm mắt cho qua giai đoạn đó…

Trở lại câu chuyện bạn Lương Cường chở mình và Nguyễn Văn Tài chạy ra phía Thạch Động chơi. Khi chạy gần tới Thạch Động thì cũng xin nhắc lại là trong thời xưa Hà Tiên tuy không có chiến tranh trực tiếp ngay ở thành thị nhưng những nơi chiến lược như Thạch Động, Đá Dựng, đồi Ngũ Hổ đều có quân đội Nghĩa Quân và Địa Phương Quân đóng ở đó và dân chúng không được tới lui viếng cảnh như vào thời bình. Vì thế, ngay ở dưới chân núi Thạch Động lúc đó, có một cái cổng chắn ngang và có một người lính trẻ đang đứng gát ở đó, khi nào có xe cộ thường là xe đạp và xe gắn máy muốn chạy ngang qua thì người lính mở cổng lên cho xe chạy qua (cổng chắn ngang là một thanh cây nằm ngang, một đầu có treo một đối trọng nặng để cây được nâng lên dể dàng và đầu kia thì móc vào một cái móc để giữ cho thanh cây nằm ngang khi ở vị trí chắn ngang. Trước khi xe của bọn mình chạy tới cổng chắn ngang thì có một chiếc xe chạy phía trước và đã được người lính gát cổng mở cổng lên cho xe đó chạy qua, bạn Lương Cường thấy vậy nên nghĩ là anh ta cũng giữ cổng mở lên cao cho mình qua luôn nên cũng tiếp tục chạy qua không dừng lại, tuy nhiên anh lính gát cổng nầy có lẻ hơi « không mấy thích » mấy anh chàng học sinh chạy xe Honda đi chơi như bọn mình nên thình lình anh cho cổng quay xuống để chận đường lại, khổ thay lúc đó đã quá trể xe của Cường vừa lao tới, lại bị cây chắn ngang cản ngang mình, nên cả ba đều bị té xuống ngay liền, còn chiếc xe Honda thì vì quán tính nên tiếp tục chạy về phía trước không có người trên đó và bị mất thăng bằng xe ngả luôn xuống đường, hình như cái đèn vàng « signal » phía trước tay lái cũng bị bể văng tung ra…

Lúc đó ngay cả anh chàng lính gát cũng nhận thấy tình hình hơi nghiêm trọng vì đã làm cho bọn mình bị té xe, nên anh ta làm ra mặt nghiêm muốn bắt lỗi bọn mình tại sao không dừng xe lại ngay trạm gát mà chạy luôn như vậy, bọn mình thì cả ba đang lò mò đứng dậy, nhìn chung quanh mình xem có bị thương tích gì không và cũng muốn « cự » lại anh ta tại sao anh lại hạ cổng chận ngang xe như vậy,…Rốt cuộc anh lính gát phải gọi điện lên phía trên Thạch Động chỗ đóng quân để báo cáo tình hình và xin cấp trên xuống can thiệp xem sao. Bọn mình cả ba phải dựng xe đứng lại và phải chờ giải quyết…Tới đây xin phép được nói thêm về tình hình đóng quân ở Thạch Động thời đó. Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người bạn gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Múi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ…

Trở lại câu chuyện bọn mình bị té xe Honda ở ngay dưới chân núi Thạch Động và đang chờ cấp trên xuống giải quyết. Chờ một lúc có một người lính đi bộ từ trên núi Thạch Động xuống ngay chỗ có cổng gát để hỏi chuyện, mình cũng đang lo sợ vì không biết có bị bắt bớ gì không trong vụ nầy…đến khi thấy người lính xuống để giải quyết công việc thì mình cũng bớt lo vì người lính nầy chính là anh hạ sĩ (hay trung sĩ mình không nhớ rỏ) tên là Tòng. Nói về hạ sĩ Tòng, ở Hà Tiên thời đó chắc ai cũng biết hạ sĩ Tòng nầy, vì anh bị thương trong một vụ đụng độ và bị một viên đạn trúng ngay trên đầu, làm bể một phần xương sọ, tuy nhiên anh cũng thoát nạn sau khi được chữa trị, chỉ có điều là trên tráng của anh có một chổ bên phải bị móp vô và chỉ có da bọc bên ngoài lại, anh vẫn sinh hoạt hằng ngày như thường lệ miển là đừng đụng vô chổ tráng bị móp vô thôi. Sở dĩ mình biết hạ sĩ Tòng hay còn hơn nữa là quen với anh nữa là vì lúc đó hạ sĩ Tòng có mướn một khu đất nhỏ phía bên phải nhà của má Hai của mình (nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, bà con anh chị em bạn dì với mình), nhà ở đường Tô Châu, ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng. hạ sĩ Tòng cất một căn nhà lá nhỏ ở đó để sinh sống với vợ con. Thường ngày khi mình đến nhà chị Kim (nhà Má Hai) để chơi thì gặp anh Tòng rất thường và trở thành quen biết, anh Tòng xem mình như mấy em trong nhà. Do đó rất là may mắn, khi hạ sĩ Tòng xuống đến chỗ có cổng gát và sau khi anh chàng lính gát cổng chào hạ sĩ Tòng rất nghiêm trang kiểu nhà binh, thì anh ta báo cáo lại tình hình té xe như vậy, hạ sĩ Tòng nhìn thấy có mình trong nhóm chạy xe Honda nên anh cũng rất tử tế bỏ qua câu chuyện nầy và cho phép bọn mình lên xe chạy về nhà…Cả bọn cám ơn anh hạ sĩ Tòng và sau đó cũng mất hết hứng thú nên không tiếp tục đi chơi nữa mà trở lại về chợ Hà Tiên và đi uống cafe để nói chuyện chơi cho vui…Đó là một kỷ niệm cũng vui vui, rốt cuộc thì cũng thoát nạn, nghĩ lại bây giờ thời thanh bình ai muốn đi thăm viếng thắng cảnh nào cũng được và đi chơi tới những chỗ mà ngày xưa hoàn toàn là dành cho nhà binh dân thường không được bén mảng tới. Đến đây là hết chuyện kể xin hẹn với thầy cô và các bạn một dịp khác nhé, cũng xin nhắc lại là sau khi học xong trường trung học Hà Tiên, bạn bè mỗi người đi một ngả, sau 1975 bạn Lương Cường cùng gia đình đi định cư ở nước ngoài, bạn Nguyễn Văn Tài từ trước năm 1975 đã nhập ngủ theo ngành chuyên viên kỷ thuật không quân, đóng tại Cần Thơ, trong những năm mình học Đại Học Sư Phạm ở Cần Thơ rất thường xuyên gặp lại Tài. Sau 1975 nghe nói Tài vẫn còn ở tại Cần Thơ, mình không có dịp gặp lại nữa.

Paris ngày 12/11/2018 Trần Văn Mãnh

Từ trái sang phải: Lương Cường, Nguyễn Văn Tài, Trần Văn Mãnh (hình: Trần Văn Mãnh năm 1966)

Anh Đường Hùng Việt, chân dung lúc còn học sinh trường Trung Học Hà Tiên, sau nầy anh vào quân đội với cấp bậc Trung Sĩ và hy sinh ngay tại quê nhà Hà Tiên. Hình Nguyệt Đường

Bên trái: Phan Thanh Tùng, bên phải: Phan Thanh Liêm. Hình: Hoàng Thị Minh Liên, năm 2014

Một trong những kiểu xe Honda 67 với tay cầm ngang và ngắn. Hình: tuannguyen959

Trên đường đi ngang Thạch Động, phía dưới chân Thạch Động ngay lề đường ngày xưa có một cổng gát chắn ngang đường. Hình: Herman Hermanson 2006

Từ Hà Tiên đến Cần Thơ (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Từ Hà Tiên Đến Cần Thơ

Sau khi tốt nghiệp, tôi đến nhận nhiệm sở tại một trường trung học của một quận nhỏ bé gần biên giới Việt Miên vào niên khóa 1965-1966.

Ngay khi rời con đò Tô Châu, bước chân ngay lên thị trấn Hà Tiên mộc mạc như cô gái quê nhưng chiếm lỉnh một vùng đất tịch mịch, thơ mộng, hữu tình với những địa danh lịch sử nổi tiếng, nổi tiếng cả trong văn học, tôi đã không thất vọng khi đã chọn ngôi trường nhỏ bé khiêm nhường nằm ở cuối miền đất nước bên bờ vịnh Thái Lan biển xanh, gió lộng. Khi ở cấp tiểu học, tôi đã nghe qua Hà Tiên có thời là một trong 21 tỉnh lỵ ngày xưa của miền Tây Việt Nam qua câu « bí kíp »thầy dạy cho dễ nhớ: Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà, Sa, Bến, Long, Tân, Sóc, Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc, Cấp.

Một đồng nghiệp giới thiệu tôi đến nhà bà Bảy, số 16 đường Nhật Tảo là nơi trọ duy nhất cho đến lúc tôi rời hẳn Hà Tiên vào cuối niên khoá 1969-1970 để chuyển về Trung học Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ. Ngôi nhà thân thương này của nhiều thầy giáo xa xứ ở trọ, nơi cho họ biết bao kỷ niệm vui buồn. Được biết bây giờ, 2015, ngôi nhà cổ kính này vẫn còn đó, khiêm nhường nằm dưới bầu trời xanh đất Việt đón gió biển Thái Bình Dương thoảng vào từ vịnh Thái Lan như bấy lâu, chứng  kiến những đổi thay của thị trấn sau chiến tranh để trở thành một thành phố du lịch khá nổi tiếng.

Căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên, nơi ở trọ đầu tiên

Ngôi nhà số 16 đường Nhật Tảo ngày nay

Đó là điều tất yếu theo thời gian, nhưng với những ai hoài cổ chắc ngậm ngùi khi nhớ hoặc về thăm lại để tìm chút dư hương ngọt ngào ngày cũ của mình.

Hai người bạn thân từ ngày xưa: Nguyễn Hồng Ẩn (trái), Huỳnh Văn Hòa (phải)

Tôi cũng không ngoại lệ! Có rất nhiều điều nhắc, nhớ lại, vui có buồn có,  nhưng hôm nay tôi muốn đề cập đến một người bạn lần đầu quen biết tại số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên. Chúng tôi rất thân nhau rồi theo thời gian, khi gần khi xa qua nhiều giai đoạn vui  hay khổ, kéo dài cho đến hôm nay: bắt đầu tại vùng đất Phương Thành (tên cũ của Hà Tiên), đến … đồi Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức), Tây Đô, vùng bưởi Năm Roi (Cái Vồn hay Bình Minh, Vĩnh Long), trại nuôi tép xã Long Khánh (Trà Vinh), rồi tiếp theo nhiều năm « tôi thì ngày lúc anh vào đêm » hay ngược lại…Nói cho rõ hơn, chúng tôi kề cận bên nhau từ lúc dạy học ở Hà Tiên, động viên vào Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, đổi về dạy ở Cần Thơ, về Trung học Bình Minh, đi tù « cãi tạo » tại xã Long Khánh và xa nhau khi tôi định cư nước ngoài.

Cách nay mười ba năm về trước (2002), chúng tôi tái ngộ lần đầu tại Cần Thơ sau nhiều năm mạnh ai nấy tìm đường sống cho mình sau cuộc « đổi đời ». Gặp nhau trong vội vã, hấp tấp vì thời hạn ngắn ngủi nên chẳng thoả lòng.

Sau đó thỉnh-thoảng chúng tôi có những lần thăm hỏi qua điện thoại viển liên. Anh hối tôi cố cùng nhau làm một lần về thăm lại Đông Hồ, Tô Châu, Bãi Nò, Mũi Nai, lăng Mạc Cửu trước khi những người quen, thân hữu, đồng nghiệp và cả học trò sẽ chẳng còn ai! Tôi hứa…cố-gắng  rồi tự ngẫm rằng « Sẽ ‘chẳng còn ai’, ai …gồm cả chúng ta nữa đó anh! »

Đầu năm nay, 2015, một hôm tôi nhận được điện thư của một bạn quen nhau ở hải ngoại. Thú thật chúng tôi ít gởi thư cho nhau bởi lẽ tôi thường trao đổi thư từ về thơ văn qua một người bạn chung cùng nhóm. Điện thư của anh, anh Lê Hoàng Viện, đã cho tôi một ngạc-nhiên lớn! Thú vị là vì điện thư này rất  « nặng ký » với tôi; nặng bởi vì biết thêm anh là bạn cùng nhà trọ với người bạn của tôi nhắc bên trên, thuở hai anh đi học ở Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ, và nặng hơn nữa khi cho tôi biết bạn cũ Hà Tiên của tôi đang tìm và đang ở cách tôi vài trăm miles, khoảng 4 đến 5 giờ lái xe ở đất Mỹ này. Mừng quá đổi mừng và cám ơn anh Lê Hoàng Viện thiệt là nhiều.

Vào lứa tuổi « thất thập cổ lai hy » mà lái xe ngần ấy giờ trong mùa Đông tuyết đổ này thì cũng « ái ngại ái ngộ  » lắm.
Nhớ xưa cha mẹ và thầy cô dạy: “Chuyện gì làm được hôm nay thì đừng để ngày mai” và sau này có câu “ Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương” nên tôi quyết  tâm tìm đến thăm vợ chồng bạn đang du lịch tại đất nước này để tạo cho nhau MỘT NGÀY VUI  » chộ vốn » cho chắc ăn trước cái đã.
Tôi liên lạc, hẹn hò, hỏi địa chỉ. Khi đến ngày hẹn, chiếc xe đời 2003 với GPS vượt đường dài ẩm ướt do trận tuyết hôm qua, đưa tôi và bà xã đến gặp anh Huỳnh Văn Hoà, cựu học sinh trường Phan Thanh Giản năm 1956, và hiền-thê của anh là chị Thái Thị Phượng, cựu nữ sinh Trung học Đoàn Thị Điểm tại nhà của bác sĩ Thái Ngọc Ẩn và chị Nguyễn Thị Gấm ở Watertown, Massachusetts.

Từ khi tôi về dạy ở Cần Thơ, qua trung gian của anh Hoà, vợ chồng chúng tôi đã trở thành bạn của chị Phượng, em ruột của bác sĩ Thái Ngọc Ẩn, và quen biết hầu hết các thành viên gia đình của chị, như anh Thái Minh Tước, Thái Minh Nhựt (Giám đốc Tư Thục Ngọc Phú)…

Ngày bốn tháng giêng năm 2015, chúng tôi gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, chuyện mới chuyện cũ râm ran kể ra liên tục cho đến lúc chia tay sau nhiều giờ hàn huyên. Chúng tôi hẹn gặp nhau ít nhất một lần nữa trước khi anh chị trở về Việt Nam.

Cuộc họp mặt hai người bạn xưa: Nguyễn Hồng Ẩn và Huỳnh Văn Hòa (Watertown MA USA 2015)

Một hôm tôi nói với anh Hòa rằng: « Vì đã tạo cho nhau NHÂN tốt nên dù cách xa ngàn dặm, nơi xứ lạ quê người, chúng ta đã được hưởng QUẢ tốt ngày nay ».

Họp mặt bạn thân ngày xưa: Ẩn, Hòa, Phượng và Vân (Watertown MA USA 2015)

Chắc chắn chúng tôi sẽ đến gặp anh chị một lần nữa, có thể vào ngày hợp mặt mừng Xuân Ất Mùi  2015 của Nhóm Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Vùng New England vào 29 tháng 3 tại nhà anh Ẩn và chị Gấm.

Nguyễn Hồng Ẩn
March 16, 2015

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn