Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần F-Thiên nhiên đùm bọc (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi đọc bài về việc đi khẩn hoang làm ruộng với các giai đoạn cắt cỏ, đốt cỏ, bừa đất, rồi lại đốt các cụm rễ cỏ ăn sâu trong đất, và sau cùng là cấy mạ và bắt đầu chăm sóc miếng ruộng vừa mới khai thác, thật là một bài học đầy kinh nghiệm về thực tế và trạng thái tinh thần cho chúng ta suy ngẫm, tác giả Quang Nguyên cùng gia đình tiếp tục cho chúng ta biết thêm một cách thực hành việc mưu sinh khác, đó là kỹ thuật bắt cá trong những hố bom của thời chiến tranh ngày trước, vì có rất nhiều hố bom mà qua mùa mưa các hố bom nầy trở thành những cái ao đầy cá và người dân địa phương chung quanh đã phát hiện và tụ họp về đó để bắt cá…Đọc qua bài viết phần nầy với cái đề phụ là « Thiên nhiên đùm bọc », thầy cô và các bạn cũng sẽ đoán ra được là tác giả Quang Nguyên sẽ cho chúng ta thấy « thiên nhiên đùm bọc » con người ra sao…!! Sống trong một vùng hoang vu, đồng cỏ và nước nổi, con người chỉ còn biết nương tựa vào thiên nhiên và quả thật thiên nhiên không phụ lòng người,…Ở đây có tất cả các chất liệu cho một cuộc sống khá « đầy đủ » nếu con người biết được ý muốn của thiên nhiên để hài hòa khai thác với mức độ đúng đắn và có trách nhiệm…Khai thác lá dừa, cây tràm một cách vừa phải để cất nhà, bắt cá lớn và chừa lại những con cá nhỏ để duy trì và điều hòa nguồn sinh thái,…Như vậy đúng như tác giả đã nhận xét một cách lạc quan: tuy có « cực » nhưng không « khổ », mà nếu có « khổ » thì lại không « đói »…Kết quả đó là do thiên nhiên đưa đến cho những con người sống trong vùng hoang vu đó và đã biết hài hòa với thiên nhiên để được « hưởng » cái tính chất lạc quan đó…Ngoài ra khi đọc bài, cộng với sắc thái của một câu chuyện đồng quê, nếu chúng ta còn giữ lại trong đầu óc một vài khái niệm khoa học khi còn học ở nhà trường, chúng ta sẽ thấy thích thú ngầm khi thấy tác giả đã khôn khéo pha trộn vào câu văn của mình một vài yếu tố hóa học và vật lý để giải thích các hiện tượng trong hoàn cảnh thực tế đang đối phó: nước phèn tuy có cảm giác « ngọt » nhưng vẫn là phèn vì có tính chất là một dung dịch a-xít (chúng ta đã còn nhớ một dung dịch có độ pH dưới 7 thì là dung dịch có tính chất a-xít = acide…, còn trên 7 thì là dung dịch có tính chất kiềm = basique.), còn những con cá nếu muốn vượt lên trên mặt nước thì cứ cựa quậy đuôi, thân, vây để tạo một lực đẩy lên trên mặt nước tìm o-xy mới…, đó là khái niệm lực đẩy của môi trường chất lỏng…Còn gì thú vị hơn khi một đọc giả tìm lại được một vài khái niệm khoa học còn ẩn náo đâu đó trong đầu óc khi đọc được những đoạn văn khôn khéo nầy…(Paris, 10/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông:

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

 F – Thiên nhiên đùm bọc:

Con kênh xáng Hà Tiên – Rạch giá đoạn từ Đèn Đỏ đến Cờ Trắng năm xưa đã có nhiều người ở, nhất là từ Đèn Đỏ đến một phần ba đoạn kênh xáng này khi qua khỏi vàm kênh Rạch Vược trổ ra. Đến đây thì nhà cửa thưa hơn, xa xa có một căn và đặc biệt người ta chỉ ở bên phải theo hướng về Cản Cờ Trắng, còn bên trái là những cánh rừng dừa nước, hoặc rừng tràm, hoặc vùng trống nhìn thấy cỏ cháy đồng khô… Từ Đèn Đỏ đến Cản Cờ Trắng chúng tôi còn thấy có những cái ngã ba kênh mà nếu rẽ vào cũng sẽ đi vào vùng Trà Phô, Phú Mỹ như con kênh “Bà Sáu bồi” mà tôi đã nói trên.

Sơ đồ đoạn kênh Hà Tiên-Rạch Giá, điểm A: nơi rạch Cái Tắt thông với kênh HT-RG (đó là Ngả Tư Đèn Đỏ), điểm B: nơi Rạch Vược thông với kênh HT-RG.

Ảnh vệ tinh chi tiết vùng Ngả Tư Đèn Đỏ (Rạch Vược, Thuận Yên, Hà Tiên). A: Ngả Tư Đèn Đỏ. B: Rach Cái Tắt. C: Xã Thuận Yên. D: Kênh Hà Giang. E: Núi Tiểu Tô Châu. F: Núi Đại Tô Châu. G: Đông Hồ (Hà Tiên). H: Kênh Hà Tiên-Rạch Giá.

Dòng kênh này ghe xuồng luôn tấp nập, những năm sau chiến tranh biên giới càng tấp nập hơn nữa vì đường bộ lúc ấy còn rất xấu, và Rạch Giá Hà Tiên thì hàng hóa và hành khách đều đi bằng đường này, họ di chuyển bằng những chiếc tàu khách với máy dầu (diesel) đặt trong hầm máy gọi là “tàu máy trong”. Tàu loại này to bự có thể giăng võng ở lối giữa mà đòng đưa suốt tuyến, hàng hóa có thể sắp xếp dưới hàng võng đó, còn người ta đi lại hai bên hành lang nho nhỏ trước hai dãy ghế gỗ được thiết kế cố định vào be tàu. Ngoài ra rất nhiều vỏ vọt chở khách loại to chạy tuyến Rạch Giá- Hà Tiên, Kiên Lương – Hà Tiên, cũng chạy bằng máy dầu lớn nhưng đặt ngoài sau đuôi vỏ vọt có cái “láp” dài có cánh quạt to bự gọi là máy đuôi tôm, có khi có cả hai máy do hai người điều khiển. Loại vỏ hai đuôi máy ngoài này chạy nhanh hơn tàu khách máy trong, nhưng tính an toàn thì kém hơn và sức chở ít hơn, đã có nhiều tai nạn giao thông đường thủy gây ra thiệt hại lớn về nhân mạng liên quan đến vỏ vọt chở khách loại này, vì hồi đó làm gì có phao cứu sinh? Lỡ như bị chìm thì ai vớ được cái gì trôi nổi thì cứ ôm mà lội vào bờ mà thôi.

Ai thường sống trên vùng sông nước đều biết chuyện này: rằng những chiếc tàu to hay những chiếc vỏ vọt khi chạy trên sông đều tạo ra những con sóng cao, cũng tùy vào tốc độ và độ lớn của con tàu mà con sóng sẽ cao như thế nào, và con kênh đâu phải dành cho riêng nó? Vì vậy bằng một cách rất tử tế, các tài công khi lái các phương tiên này khi đi gần đến các chiếc xuồng ba lá lé đé mặt nước đang chở người hay chở tràm thì họ tự động giảm ga đến tối thiểu, để an toàn nhất cho những phương tiện thô sơ nhỏ bé kia. Đó cũng là những hình ảnh đẹp của người miền tây này.… Nhưng, nói gì thì nói đã có một thời gian dài khi giao thông đường bộ từ Rạch Giá, Vàm Rầy, Kiên Lương hay từ Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc ..v.v.. còn trở ngại, vì đất nước còn nghèo hay vì chiến tranh mà chưa phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, thì các phương tiện kém an toàn về đường thủy này đã phát triển vượt bậc, giúp cho bà con tới lui thuận tiện trên vùng sông nước. Kênh xáng Hà Tiên – Rạch Giá (hay Rạch Giá – Hà Tiên cũng được, thích sao cứ gọi vậy) đã trở thành một tuyến giao thông tối quan trọng cho vùng miền này từ khi nó được khai sinh…

Nước dưới kênh thì cũng tùy mùa, nhưng tôi ấn tượng nhất là vào mùa lũ, ở đầu Đèn Đỏ đôi khi nó có màu phù sa là lúc nước của dòng Giang Thành nhận được từ rất xa ở một nơi gọi là dòng Bassac (tức Hậu Giang), từ Tịnh Biên Châu Đốc mượn đường Vĩnh Tế mà tràn về, rồi hợp với màu nâu như nước trà của nước đồng tràm Trà Phô đổ ra, chúng song hành với nhau theo kiểu “nước sông không đụng nước giếng” nên tại đầu Đèn Đỏ nó có hai màu rõ rệt “bên trong bên đục, bên tục bên thanh”.

Mùa lũ thì cánh đồng bất tận của Tứ Giác Long Xuyên* luôn ngâm giữ nước lại, ở đây cũng không ngoại lệ, chỗ nào đất thuần đã chuyên canh lúa được thì nước phù sa màu vàng đỏ, còn những khu vực đất phèn hoang chưa thuần thì nước rất trong bởi phèn nhiều, múc uống vẫn thấy ngọt, nhưng cái ngọt đó chỉ là “cảm giác” vì nước ngọt đang nhiều quá, còn nếu đem phân tích định tính định lượng thì chắc chắn rằng vi lượng các hợp chất làm nồng độ pH thấp vẫn hiện diện (là nồng độ a-xít làm tăng tính chua của đất mà không thể canh tác được). Ngồi trên xuồng ta có thể thấy rõ đáy kênh hơn hai ba mét nước, các loại hẹ nước tận đáy nhận được ánh sáng mặt trời mà phát triển mạnh mẽ, bông súng nở hai bên bờ kênh, trong đồng các loại cỏ năng cỏ bàng mọc từng vùng xanh mướt…

Vì không có nhiều “đất” để mô tả trong bài này nên tôi sẽ không nói về các loại cỏ đồng nơi đây (năng, đưng, bàng, lác, súng, rau mác…) mà loại nào cũng có những công dụng riêng của nó, đến nỗi đã có cụ ông xưa người Rạch Vược đã dùng nó đặt tên cho bốn người con của mình: “Năng, Đưng, Hiệu, Nghiệm…”. Đương nhiên các loại cỏ này có hiệu nghiệm riêng khi làm việc gì đó thì các cụ mới nói chứ?  Các vị trong “bộ tứ” này có người vẫn đang còn khỏe trong độ U90, đang sống tại Hà Tiên, và chúng ta đang biết họ… Tôi cũng như số đông độc giả đã biết các công hiệu của các loại cỏ đồng này, các bạn đồng ý với chúng tôi là nếu kể ra sẽ rất dài dòng chứ? Vậy thôi khoan hẵn nói.

Năm xưa người dân bên bờ kênh xáng này họ sống bằng khai thác lá dừa nước, cây tràm và củi tràm lục. Cây tràm là một loại cây đa dụng, lá của nó có thể chưng cất tách dầu để hỗ trợ trị “bá bệnh” phổ thông là: đau bụng vì thực phẩm bẩn, nhức đầu vì nhiều lý do, cảm gió, cảm nắng, cảm mưa nhưng không thể trị “cảm nàng, cảm chàng” và “cảm tình, cảm tính” (!). Cây tràm thì các bạn dư biết công dụng của nó nhất là trong xây dựng, cừ tràm là loại cừ tốt nhất, nhất là khi vùng đất có sình lầy thì cây tràm ngâm dưới đó hàng trăm năm không bị mục.

Cây tràm muốn bền tốt để làm cột, kèo, đòn tay, giăng, rui nẹp… bạn phải lột vỏ và bạn phải ngâm nước (ngâm sình càng tốt), bảo đảm không có loại mối mọt nào có thể ăn vì nó hôi kinh lắm và khi đã no sình thì nó trở nên vô cùng cứng chắc. Những đoạn tràm không thẳng thì người ta đoạn khúc ra chừng 40 cm sau đó xếp cao 1 mét ngang 1 mét mà bán “củi thước”. Củi tràm là nguồn sống của nhiều gia đình ở Đèn Đỏ và Cừ Đứt những năm tháng xưa đó. Tràm rừng Trà Phô năm xưa rất nhiều, tôi và ba tôi đã mấy lần chèo xuồng đi đốn tràm về để sử dụng cho rất nhiều việc, nhất là cất nhà. Đã nói là ba tôi “giàu” lắm, một năm cất hai căn nhà, hai năm cất ba căn: cất nhà sau Đình, cất nhà gần Mũi Giông, cất nhà Hà Tiên sau khi chạy giặc về (những năm chạy giặc, nhà Hà Tiên bị người ta “dỡ hộ” họ lấy tôn, gỗ… Sau khi hết giặc năm 1979-1980 chúng tôi cất lại căn nhà này, cũng bằng cây tràm và lá dừa nước). Tràm còn giúp cho mọi người làm hàng rào, làm phên dậu, làm giàn leo cho bầu bí, làm củi đun … v.v. và… v.v…

Vùng Trà Phô – Trà Ten còn là “nghĩa địa” của tràm “lục”. Các bạn đã biết thế nào là “tràm lục”? Tôi không chắc nhiều bạn đã biết, nên tôi sẽ viết ra đây để cùng chia sẻ những gì tôi đã biết về nó.

Cây tràm được bao bọc nhiều lớp vỏ như giấy, sau hàng chục lớp “giấy” đó sẽ tới phần gỗ, nhưng cái bạn gọi là gỗ đó nó chưa thật sự là gỗ chắc, cái bền vững của cây tràm nó nằm ở phần lõi, mà cái lõi đó nếu được ngậm nước đến no đủ nó có thể tồn tại hàng mấy trăm năm… Có một thời gian rất dài người dân Đèn Đỏ, kênh xáng, Giang Thành, Cừ Đứt… sống bằng nghề khai thác tràm lục để làm củi. Củi tràm lục ngợi than và nhiệt lượng cao nên đương nhiên giá nó cao hơn củi tràm tươi.

Sở dĩ tôi dùng “nghĩa địa” tràm lục là có lý do của nó, bởi đây là những cây tràm cổ, vì lý do gì đó nó bị gãy đổ bị vùi lấp dưới các lớp trầm tích dày, được ẩm ướt hoặc ngập nước trong môi trường yếm khí và môi trường phèn chua nhiều trăm năm… Ở điều kiện đó các phần tử “gỗ mềm” bên ngoài như “giấy” và lớp gỗ ngoài của nó bị tan mất vào đất, phần còn lại là cái lõi đen thui mà cái phần ngoài cùng là phần giáp với “thịt mềm” hồi thanh xuân của nó giờ cũng nhăn nheo kỳ lạ và nhiều hào rãnh ăn sâu vào trong lõi, nếu cắt ngang tiết diện thì bạn sẽ có một hình ngôi sao vô số cánh – nói vậy sẽ dễ hình dung. Tóm lại , tràm lục là lỏi của cây tràm bị vùi dưới trầm tích, còn lõi của tràm lục là “lõi của lõi” cây tràm nên nó cứng lắm, chẻ dọc không có vấn đề nhưng chặt ngang mẻ dao như chơi.

Ở đâu có nhiều để người ta sống nhờ vào việc khai thác nó?

Vì tràm lục có giá trị “kinh tế củi” cao nên người ta phải đi kiếm nó, bình thường bạn sẽ không thấy vì nó không lộ thiên, nhưng nếu rắp tâm tìm kiếm sẽ thấy bằng cách vào những khu rừng tràm già tự nhiên thưa thớt vì già cỗi (không phải rừng trồng), bạn dùng những cây xà beng cứ đi và xom xuống đất, xà beng nặng mà đất rừng tràm xốp ngậm nước (hay ngập nước) thì công việc đó cũng không quá khó khăn, cứ như thế nếu đụng “cụp cụp” thì bạn cứ moi lên sẽ có cây tràm lục. Người ta sẽ lấy tất cả rễ thân và gốc của nó mà không một chút áy náy vì dù sao đi nữa nó đã chết từ hàng mấy trăm năm trước. Nó cũng thường xuyên xuất hiện ở những vùng không còn một cây tràm nào, mà hiện tại là đồng năng hay đồng bàng hoặc đồng lác chi đó bởi đơn giản trước đó ở đây đã từng có rừng tràm…Một khi bạn đã thấy nơi nào có tràm lục thì cả vùng rộng lớn luôn có tràm lục nằm yên đâu đó trong đất, việc của bạn là tìm nó, moi lên và mang về đổi gạo…

Năm xưa, tại sân vườn nhà tại Hà Tiên bà tôi có vườn trầu, thì cọc trầu là những cây lõi đen thui, suông và rất chắc, tôi khi ấy còn rất nhỏ không biết là cây gì, hỏi nội thì bà nói “tràm lục”, nghe thì nghe vậy chứ chẳng biết là cây gì cho đến những năm 1977-1980 khi tôi đi cùng ba tôi vào những vùng đất này để canh tác thì mới biết. Chúng tôi cũng đi kiếm củi tràm lục về sử dụng để đỡ tiền mua chất đốt, vì vậy mà tôi có thể “kể lể” với các bạn đôi điều về nó…

Vùng rừng tràm và đồng phèn này không chỉ có tràm, nó còn có rất nhiều cá… Khi mùa lũ về thì nó mang theo các loại cá nước ngọt của sông Cửu Long về tận đây, cá linh đặc sản của mùa lũ như các bạn đã biết, cá he hay cá mè dinh vảy mềm thịt ngọt và xương nhiều, đương nhiên là người dân nơi đây sẽ “không tha” cho nguồn lợi từ tự nhiên đó. Xuồng ba lá, lưới trắng 2,5 cm, chài, lưới kéo, lưới bao… ăn theo mùa cá mà ăn nên làm ra.

Khi nước rút thì các loài cá nước ngọt hình như chúng nó phân chia “lãnh thổ” mà sinh sống hay sao ấy? Loại cá vảy trắng và da trơn trắng (tra, mè, he…) thì theo con nước ra sông, còn các con da trơn đen hoặc vảy đen (trê, lóc, sặc…) thì rút vào đồng cố thủ trong các vũng còn nước, trong các đìa sâu mà người ta đào đất đắp nền nhà rồi chúng cư ngụ trong đó. Nước rút hết là tới mùa tát đìa. Cá nhiều ơi là nhiều trong các cái đìa trong đồng dạo ấy…

… Còn nhớ, sau con lũ lịch sử năm 1978, ba tôi dắt hai anh em đi “đánh cá” trên ruộng khô! Đồ nghề gồm một cái lu (?), chài, các bao đựng lúa, cơm gạo mang theo…

Như mọi khi từ ba bốn giờ sáng sau khi quấy quá cơm sớm chúng tôi đã chèo chiếc xuồng lườn “huyền thoại” của nhà tôi mà đi ra kênh xáng. Sau khi vào kênh bà Sáu Bồi đi thêm đoạn nữa, rồi neo xuồng ngoài bờ kênh, ba cha con tiếp tục lội băng đồng… Ba nói rằng mình đi hướng Trà Phô..

Khoảng 7 hay 8 giờ sáng chúng tôi tới nơi, neo con thuyền ngoài bờ kênh, ba cha con chúng tôi lội sâu vào trong đồng hướng Giang Thành, đi một hồi mà chẳng thấy nhà cửa gì mà chỉ thấy lố nhố người trên một vùng rộng lớn có đến hàng chục hecta trên đồng khô, người ta đang làm gì đó nhộn nhịp lắm… Đến nơi tôi mới hiểu rằng người ta đang bắt cá dưới các ao. Mà trời ạ! Bao nhiêu là cái ao, hằng hà sa số ao không đếm xuể, ao lớn ao nhỏ, đa số tròn vành vạnh, khoảng cách các ao cũng không đều nhau, dứt khoát không phải là các loại “đìa” mà người dân đào, vậy sao có cái vùng này bất đồ xuất hiện giữa đồng? Sao có nhiều ao vậy?

Mục kích sở thị mới thấy sự “hoành tráng” của khung cảnh bắt cá này. Đời tôi chỉ một lần và tới già không quên…

Người Việt và người Khmer bắt cá khác nhau lắm, họ cùng quần tụ nơi đây trong mùa bắt cá này, bởi đó là câu chuyện “chim trời cá nước” ai cũng có quyền bắt. Có những người Việt có điều kiện khá giả, họ đem hẳn cái máy bơm đổ xăng chạy ầm ầm, nhanh chóng hút hết nước trong ao, và sau đó là họ vét bùn bắt cá, nhanh gọn và triệt để, lớn nhỏ gì cũng bắt, sau đó họ đi kiếm cái ao khác, và cái ao đó sẽ trơ đáy chờ đến năm sau.

Người Khmer thì bắt cá rất “phong lưu” và bình tĩnh, chậm rãi, “có hậu”, và rất thông minh. Trước tiên họ chọn những cái ao nhỏ chừng 5-6 mét đường kính, rồi cắt cỏ năng lấp kín hết một lớp dày cỡ 10 cm, sau đó chừng năm sáu người ngồi chung quanh cái miệng ao nhỏ đó, người nào cũng có một cái giỏ tre đựng cá và một điếu thuốc rê tổ bố hình cái loa kèn lòng thòng với cái cuống dính hờ trên bờ môi dưới mà không thể rớt, thỉnh thoảng họ khép miệng lại và cái điếu loa kèn đó nhảy dựng dựng hai ba cái rồi tỏa ra một vùng khói trắng… Bởi đôi tay họ không hề rảnh rang, hai tay là hai cây gậy dài trên hai mét, kế bên có những cây ngắn hơn, mà cây nào ở đầu cũng có cái cù nèo cong cong nho nhỏ, tôi đang thắc mắc không biết họ đang làm gì thì … Ô kìa! Mọi chuyện diễn ra khiến tôi hiểu tất tần tật. Con cá nào cũng vậy, dù nó sống trong nước thì lâu lâu nó cũng phải ngước mặt nhìn ông trời và lấy của ông ta tí ô- xy, mà mấy người này đã dùng cỏ năng bịt kín hết bề mặt nước thì làm sao để cá thở? Nó buộc phải ngoi lên khỏi lớp cỏ, mà đã lên được rồi thì không cách nào mà nó xuống được, bởi nó đã ra khỏi vùng sống của nó. Ở dưới nước nó có thể dùng đuôi, dùng thân, dùng vây mà tạo một lực nhất định trong môi trường chất lỏng đó để đẩy nó vượt lên khỏi đám cỏ, nhưng sau khi nó đã hít thở thỏa thích thì nó bất lực trong việc “chun” xuống nhà mình, lúc ấy các cây “cù nèo” nhỏ sẽ kéo nó vào tầm tay của các anh Khmer đang hút thuốc kia. Mà hay lắm, hai tay hai cù nèo mà họ kéo cá vào lia lịa chứng tỏ cá dưới ao nhiều lắm, cá lóc, rô, trê, sặc rằn … con nào cũng cần phải thở nên chúng đều bị bắt. Nhưng những người Khmer luôn thả lại những con nhỏ xuống dưới ao chứ không bỏ vào giỏ, và khi đã ít cá ngoi lên cỏ thở thì họ đánh giá rằng đã hết cá, họ bèn vớt cỏ lên rồi kiếm ao khác …

Việc họ dùng cỏ năng thả trên mặt ao tôi xem như là một việc làm đầy tính khoa học, bởi cỏ năng xốp và có những khoang rỗng như thân tre vậy nên nó không thể chìm, hơn nữa thân của nó trơn bóng nên con cá dễ dàng “lách” lên, rồi khi đã ở trên mặt cỏ rồi con cá bị kéo vào trên bề dày các ống cỏ trơn này nên nó không xuống được, còn gai ngạnh gì của nó đều trở thành vô dụng. Thật là hay hết chỗ nói!

Ba cha con chúng tôi lại chọn cách đánh bắt khác, chúng tôi chọn những cái ao nhỏ nhất cỡ đường kính cái chài chừng 6 mét, sau khi chúng tôi dọn sạch cỏ bờ để dễ bung tròn cái miệng chài ra bao trùm cái ao, mấy cha con mới từ từ “lần” cái mép chài sao cho sát đất xuống tận đáy ao, ao không sâu lắm chỉ chừng hơn 2 mét nước, và ba người cứ hit sâu rồi lặn xuống mà “tém” từ từ, khi đến đáy thì ba tôi mạnh tay hơn mới làm một công việc cuối cùng là túm lấy cái đáy chài cột cái đáy lại và hai anh em sẽ hợp sức cố gắng mà lôi cái chài đầy cá vào vùng nước cạn ven bờ, sau đó mấy cha con hợp sức đưa nó lên đất bằng rồi tháo đáy chài ra… Trời ạ! Lớn nhỏ gì chúng chun vào đây hết, chúng tôi tha hồ bắt, chỉ bắt lấy những con trọng trọng, còn nhỏ thả về ao hết, vậy mà mỗi một ao chắc cũng cỡ 20 – 30 kg cá.

Trời đã về chiều, còn một ao cuối cùng chúng tôi làm nốt sẽ nghỉ, đến công đoạn cuối cùng khi kéo cái chài vào vùng cạn thì “ùm!” một phát rõ to, một con cá lóc bông khổng lồ tung rách chài một lỗ bự, rồi nó đập vào ngực ba một phát mạnh, mặt ông xanh xám và ông chới với dưới ao sâu, hai anh em nhào xuống giẫm đạp cả lên chài để dìu ba lên bờ… Ông mất thở một lúc, sau khi định thần lại ba cha con “quyết tâm” bắt cho bằng được cái con cá dám làm ông mất thở!  Chúng tôi làm lại từ đầu với cái ao này sau khi dùng một đoạn dây để “nhíp” cái lỗ hồi nãy lại, rồi cuối cùng chúng tôi cũng bắt được nó, đó là con cá lóc bông nặng chừng 3 kg. Thắng lợi “vẻ vang”, ba cha con vác đồ nghề và thành quả lao động về, phải đi làm hai lượt mới hết. Bốn bao cá hơn trăm ký và lỉnh kỉnh các thứ. Ra tới bờ kênh chúng tôi bắt cá còn sống cho vào cái lu sành mang theo để rọng, còn cá chết chúng tôi cứ cho nó nằm trong xuồng dùng cỏ đậy lại, trời chiều trong đồng lạnh dần nên cũng không sợ ươn, mà nếu ươn thì ba nói “để làm mắm”.

Vì phải lựa cá nên mất nhiều thời gian, và ba tôi bị mệt nên ba tôi quyết định ngủ lại giữa đồng; hơn nữa, đi đồng xa thường xuyên nên trong xuồng luôn có đồ mang theo ngủ lại.  Sau khi tắm rửa sạch sẽ dưới kênh, chống con thuyền ở đó, chọn một vùng đất bằng trên bờ kênh rồi mấy cha con đốt lửa nấu ăn ngoài trời, ăn một bữa đã đời với cơ man là cá tươi kia rồi cắm mấy cây cọc giăng mùng ngủ.

Nửa đêm, lại “ÙM!” một phát rất to. Chúng tôi bị dựng dậy bởi tiếng động đó. Đốt đuốc xuống bờ kênh nơi phát ra tiếng động thì hỡi ôi… Cái lu to cỡ 5 đôi nước mà chúng tôi rọng cá có cái nắp bằng sành, được một cục đá to dằn lên, mà cái con cá làm ba tôi mất thở đó nó đã quẫy mạnh cỡ nào mà có thể bể cả cái lu? Bể luôn cái nắp!  Một số các con cá lóc bự khác đã đi theo cái thằng đàn anh của nó mà vượt ngục… Thôi đành! Chúng tôi không thể truy nã chúng nó để “quy án”.  Buồn bã, mấy cha con thu hồi phần chiến lợi phẩm còn lại mà chèo xuồng về luôn.

Nhắc lại việc này em gái tôi nói rằng “Trời ơi! Cả đời không quên chuyện làm cá hôm đó. Cá đâu mà ngập sân!”

Ba tôi làm mắm, cũng muối, cũng thính, cũng lèn chặt; chúng tôi cho hàng xóm, cho bà con… vậy mà cái lu mắm ăn hơn cả năm cũng không hết. Phải ngay thẳng mà nói rằng những năm tháng khó khăn đó gia đình tôi chỉ ăn bo bo và khoai độn trong thời gian ba tôi đi “học tập” mà thôi, sau khi ông về thì chúng tôi đã tự làm ra lúa, tự đi kiếm cá tôm, rau củ…

Cụm từ “cực khổ” chỉ đúng 50 %: cực chứ không khổ, chúng tôi còn sướng hơn bao gia đình. Cụm từ “đói khổ” cũng chỉ đúng 50 %, vì chúng tôi chỉ khổ chứ không đói, vì ngoài kia còn bao nhiêu gia đình bị đói. Nghe thì có vẻ như mâu thuẫn? Nhưng không! Khổ thân và khổ tâm khác nhau chứ?

Còn cái vùng “bắt cá trên đồng cạn” đó ba nói là “vùng trắng” thời chiến tranh. Đó là vùng rộng lớn không có người ở nên dùng cho các máy bay ném bom tự do. Tại sao họ lại mang bom thả tự do vào đây mà không có mục đích gì? Bởi, khi máy bay đi ném bom mà vì lý do gì đó họ không thể thả bom được, có thể không tìm được địa điểm thả bom vì thời tiết xấu, hay có lệnh hủy thả bom… Mà máy bay đã mang bom đi rồi, họ không thể thả lung tung rủi như nhằm người dân vô tội thì không được, nên phải có một vùng để họ trút bỏ các quả bom đó vì không thể mang bom trên càng để đáp xuống các sân bay được, việc đó vô cùng nguy hiểm cho phi công và các đồng sự cũng như các khí tài quân sự tại các sân bay… Vùng này được chính quyền xưa chọn làm nơi “xả bỏ” các quả bom đó, nó có thể còn là nơi các máy bay diễn tập ném bom với các mục tiêu quân đội tự tạo nên, và đây là một bãi bom đúng nghĩa. Mùa nước nổi thì nước ngập trắng đồng, cá mú bơi lung tung, khi nước rút thì chúng tụ về đây vì trong các ao hố bom còn nước, hàng năm bà con đều về đây bắt cá như đã kể.

Tuy nhiên, tôi không hiểu sao ngày xưa họ biết mà cùng tụ lại để bắt cá chỉ trong một vài ngày…

Vị trí nơi gia đình tác giả bắt cá, vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nay được xem như là vùng « bảo tồn » về sinh thái của xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành.

Ảnh vệ tinh chụp vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nay được xem như là vùng « bảo tồn » về sinh thái thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành.

Ảnh vệ tinh chụp cận cảnh các hố bom của vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nơi tác giả và gia đình bắt cá trong những hố bom thành ao nước có cá. (Phú Mỹ, Giang Thành).

Vậy là, từ các bức ảnh cổ của Mr. Trần Văn Mãnh sưu tầm được, đã gợi lại cho tôi cả một vùng kỷ niệm đã trôi qua hơn 40 năm… Mọi cái nó trở về rõ ràng như mới vừa trải qua vậy. Tuy nhiên, đó là hình ảnh của quá khứ mà bây giờ chắc chắn không còn lại được. Tôi chắc rằng ngoài phương hướng và các khoảng cách mà tôi mô tả một cách khái quát chung chung, thì các bạn cũng có thể định vị lại vị trí ngày nay của các vùng đất đó. Nếu các bạn biết nơi đó hôm nay thì hãy tin rằng nó của ngày xưa ấy đã giống như tôi mô tả, bởi tôi đã sống và làm việc nơi đây trong một đoạn đời rất thú vị với vùng đất và những con người giàu lòng nhân ái, giàu tính tương trợ, tràn đầy tình nghĩa bà con xóm giềng…

Đoạn đời đó nó đã rất có ích cho tôi sau này, để tôi luôn nhìn lại mà vượt khó trong cuộc tha phương cầu thực, rồi sống chan hòa với những con người đồng cảnh ngộ giữa cuộc mưu sinh vốn không dễ dàng này… Thật khó để diễn tả cảm xúc của mình chỉ bằng giấy mực. Vậy thôi.

Trong các bài trên là câu chuyện của gia đình tôi và của tôi tại Rạch Vược thời “cận xưa” như đã kể. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các tấm ảnh, tình cờ tôi phát hiện ra một câu chuyện trăm năm, câu chuyện của ông bà tôi, một gia đình trong những gia đình kỳ cựu tại Rạch Vược này.

Quang Nguyên

Mời các bạn đón đọc phần sau: phần III – “Trăm năm trong cõi người ta” (Kiều- Nguyễn Du)

Chú thích:

Sơ đồ vùng gọi tên là « Tứ Giác Long Xuyên », vùng màu xanh lá cây có diện tích gần bằng năm ngàn kilo-mét vuông

* Tứ Giác Long Xuyên: Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa phận ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Bốn cạnh của tứ giác Long Xuyên là: biên giới Việt Nam-Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Bassac (sông Hậu). Bốn đỉnh góc của tứ giác này ứng với bốn thành phố: Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên.
Vùng Tứ giác Long Xuyên có diện tích tự nhiên khoảng 489.000 hecta. Địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,4 đến 2 mét.
Mùa lũ (từ tháng bảy đến tháng mười hai), vùng này thường ngập trong nước với độ sâu từ 0,5 đến 2,5 mét. Mùa khô, vùng này thường khô hạn và bị nước mặn xâm nhập.
Nhiều người nông dân đã quyết dấn thân với mảnh đất « muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh ». Nhiều người khác đã cùng làm theo, góp phần xây dựng nên diện mạo mới của vùng tứ giác Long Xuyên ngày nay. 

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần E-Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu thầy cô và các bạn nhín chút thời giờ đọc bài dưới đây, sẽ có cảm tưởng là đang đọc một đoạn trong một quyển tiểu thuyết của các tác giả rất nổi tiếng ở miền nam ngày xưa, đó là các nhà văn Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam…Tuy nhiên, nếu các nhà văn bậc cha ông nầy có một phong thái viết văn mô tả những câu chuyện đồng quê rất thú vị nhưng còn pha lẫn một chút vẻ nghiêm nghị cổ điển của văn chương thì bài viết dưới đây của tác giả Quang Nguyên lại có một sắc thái mới, ngoài phong cách tả chân với các sinh hoạt đồng ruộng, tác giả Quang Nguyên còn pha vào câu văn của mình một vẻ hoạt bát, đầy tính chất trẻ trung và rất thân mật với người đọc, giống như Quang Nguyên đang kể lại câu chuyện hằng ngày của mình bằng cách đang nói chuyện với bạn bè chung quanh… Qua câu chuyện kể nầy, Quang Nguyên đã đưa chúng ta đến những vùng tuy tên tuổi cũng rất quen thuộc với người Hà Tiên chúng ta (Trà Phô, Trà Ten, Phú Mỹ, Hòa Điền…), nhưng mình nghĩ rằng rất ít người trong chúng ta đã từng đặt chân đến các vùng nầy…Đây là một vùng đất vẫn còn rất hoang sơ khi tác giả cùng gia đình đến đây theo phong trào khai khẩn đất hoang để trồng trọt …Đứng ở gữa vùng đất hoang vu đầy lau sậy, cỏ ống cao ngất…con người cảm thấy bơ vơ, lạc lõng đến độ như bị bỏ rơi giữa cái xã hội đang đổi mới….Tuy nhiên điều đó cũng lại gần như là một yếu tố giúp tác giả cùng gia đình có một ý chí quyết liệt muốn chiến thắng với cái khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn và vượt mọi khó khăn…Cuối cùng thì cỏ ống và lau sậy đã được sức người biến thành những cọng lúa vàng tươi cao ngất, sự cô đơn của con người nhỏ bé được an ủi bằng những ưu đãi, khuyến khích, tương trợ của những người dân đồng cảnh ngộ và với một cách nhìn tích cực hơn, thiên nhiên đã đem đến cho con người vùng đất đó nhiều sản phẩm tự nhiên như cây tràm, lá dừa nước, cá cua đủ loại, hẹ, súng, mật ong….v…v….Rỏ ràng đây là một bài học quý giá cho chúng ta, một kinh nghiệm mà tác giả cùng gia đình đã trải nghiệm thay cho chúng ta để mọi người học được bài học để đời cho mọi tầng lớp, trước mọi khó khăn, gian khổ, chỉ có ý chí mạnh bạo của con người mới có thể giúp chúng ta vượt qua tất cả và làm thay đổi được vận mệnh của mình, trong cái « thời », cái « vận » còn có cái « ta » trong đó, nếu chúng ta biết vận dụng cái « ta » một cách hữu hiệu trong đời sống, chúng ta sẽ làm chủ được cuộc sống của mình …Xin mời thầy cô và các bạn bước vào bài học kinh nghiệm đồng quê dưới đây …(Paris, 06/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

Nhà nước khuyến khích nông dân Thuận Yên đi khai khẩn vùng đất hoang ở Lò Bôm. Do đã không đi KTM rồi nên chúng tôi phải tham gia vào công việc này cùng bà con ở xã Thuận Yên.  Đó là một vùng rộng lớn hoang vu, nếu đứng giữa đồng nhìn về hướng Hà Tiên thì trước mặt là Trà Phô, bên phải là kênh Trà Ten (Tà Ten), bên trái là hướng Cờ Trắng, sau lưng là cái cột ống khói đang bay tỏa của nhà máy xi măng Hà Tiên đặt tại Kiên Lương, mà vị trí nào so với địa điểm của chúng tôi đứng cũng ngót chục ki lô mét… Xa xa có một vài khóm rừng tràm nho nhỏ và mênh mông là cỏ ống bụi to cao hơn đầu người, và các loại cỏ nước phèn: năng, đưng, bàng, lác, thủy trúc (lác dù) ..v..v… Chúng tôi cứ lựa chỗ đất nào có cỏ ống là tốt nhất rồi cắm cọc chọn.

Việc chọn đất được làm trước vào mùa nước nổi vừa rút bớt, khi còn nước cỡ 20-30 cm thì chúng tôi phát cỏ bằng cây phảng và cây cù nèo, một tay cầm phảng tay kia cầm cù nèo, vung cao lưỡi phảng chém xuống nước rồi dùng cù nèo quơ cho đám cỏ lùi về sau, cứ một nhát chém thì một cú lùa nhịp nhàng, cứ vậy mà đi tới… Ba tôi chọn 5000 mét vuông đất toàn cỏ ống đó, cứ mỗi chiều sau khi phát cỏ xong ông chống xuồng vào ở trong rừng tràm gần đó cùng bà con Thuận Yên, ông làm cái chõng bằng cây tràm và che bằng Poncho trên ngọn các cây tràm để ở. Nước uống, gạo, và khô cá được mang theo vì nước đồng chua không uống được, cá tươi thì có cá rô, cá sặc, cá lóc… được bà con giăng lưới bắt cũng “ổn” lắm, cà chua và các loại rau củ thì chịu khó lội ra bờ kênh Bà Sáu Bồi sẽ có các xuồng nhỏ dọc kênh bán cho bà con. Tại chỗ thì có hẹ nước, bông súng và cây rau mác ăn tạm cũng qua ngày… Hàng ngày cần nấu ăn uống thì mọi người cùng tụm lại một cái gò cao giữa đồng có một cây trâm già gọi là “gò Cây Trâm”, vì chung quanh chỉ toàn nước và nước. Củi thì đầy trong rừng tràm và củi tràm lục thì đầy dưới đất, chỉ moi lên và chẻ ra phơi thôi rồi sử dụng mà thôi.

Khi đã phát quang xong thửa ruộng (mà của ai người nấy biết, cùng tôn trọng lẫn nhau mà không ai xâm phạm của ai, vì phát cỏ vào cuối mùa lũ hàng năm nên phát xong là nước vừa rút đi) thì sau đó chúng tôi chờ thêm một hai tuần để phơi khô cỏ, cho đến khi lớp thực bì lâu năm trên bề mặt khô hẵn thì chúng tôi đốt đồng. Ngày đốt đồng cũng vui lắm, cả xóm cùng vào làm, dùng tàu dừa khô đánh thành con cúi (thắt bính) rồi đốt nó và kéo chạy vòng vòng khắp thẻo ruộng, kéo tới đâu lửa bén tới đó, hết con cúi này mình mồi con khác, khói lửa lan tỏa khắp nơi trên một vùng rộng lớn, và để tránh cháy lan chúng tôi thường phát trống độ một tầm cỡ ba mét rộng bao lấy chu vi đất của mình, rồi dọn sạch cỏ để không cho lửa bén sang những vùng khác… Đốt đồng xong chúng tôi đã thấy nhiều chuột đồng, rắn, và có cả rùa chết cháy trong đó, nhưng biết làm sao?

Mùa này cỡ tháng 1 hay tháng 2 âm lịch, trước Tết thì chúng tôi gặt vụ lúa sớm mà gia đình tôi làm tại Thuận Yên, còn sau khi ăn Tết xong chúng tôi vào đồng làm lúa mùa có tuổi đời từ 5 tháng, đặc tính của vùng này chỉ làm được lúa mùa để khi con nước về tràn đồng (vào tháng 7 đến tháng 9 âm lịch hàng năm) là đến mùa thu hoạch lúa mùa ở đây. Chúng tôi dùng giống lúa Som Ka (loại lúa địa phương) năng suất không cao như các loại thần nông, nhưng sức chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, chịu phèn và có một đặc tính tối quan trọng cho vùng này là nó bất chấp con nước, nước cao tới đâu nó luôn vươn cao hơn nước, thật là mãnh liệt, tôi đã từng đo một gốc lúa sau khi thu hoạch nó cao lên đến hơn hai mét.

Sau khi đốt cỏ đã phát và đất đã nguội hẳn thì bắt đầu bừa, ở Thuận Yên có bác Ba Đúng, ông có hai con trâu to mập, một con to và một con rất là to! Hàng ngày ông đi bừa cho mọi người trong đó, bừa đến ba hay bốn tát (lượt). Đó là dàn bừa muỗng giống cái bàn cào khổng lồ với cái bàn bừa rộng hơn hai mét, có hàng răng bừa bằng thép cỡ 2,5 cm đường kính, cao độ gang tay và đầu nó dẹp to bè ra như muỗng ăn canh. Mắc cái ách vào cổ hai con trâu, rồi ông đứng trên cái dàn bừa đó mà la bằng những “tiếng lạ” chi đó để nó lôi ông đi, ông điều khiển nó bằng các cọng dây, ông liên tục phát ra những khẩu lệnh bằng cái thứ “tiếng lạ” đó mà chỉ “bộ ba” là ông và hai con trâu hiểu nhau! Vậy mà “họ” ăn ý nhau đến tuyệt vời, không thể “chuyên nghiệp” hơn.

Đất ở đây tuyệt đối không dùng cày mà chỉ dùng bừa, vì cày sẽ “ăn đất” sâu hơn rồi sẽ làm dậy phèn lên, còn bừa tác dụng chỉ để bật rễ của cỏ bụi ở bề mặt chừng 5 – 7 cm, rồi chúng tôi sẽ đốt các gốc rễ cỏ đó mà lấy tro hạ phèn. Sau khi bừa bật các gốc rễ lên chúng tôi phải phơi thêm mươi hôm cho rễ thiệt khô rồi đốt đồng lần nữa, lần này lửa sẽ ngún cháy dưới rễ cỏ mà tạo một lớp tro dày cỡ 3 đến 5 cm. Sau đó chúng tôi bắt đầu tỉa lúa trên lớp tro đó bằng một cái cây gậy đường kính 5 cm, một người đứng thọt lỗ độ sâu chừng 5 cm, cách đều 30 đến 35 cm một lỗ, một người bỏ hạt với mỗi lỗ chừng mươi hột lúa đã được ngâm nảy mầm, sau khi tỉa xong để tránh chim ăn mất chúng tôi phải lấp lại. Việc tỉa lúa mấy anh em chúng tôi làm cũng “chuyên nghiệp” lắm, một tay ôm thúng lúa giống, còn tay kia dùng để tỉa lúa vào lỗ. Cầm một nắm lúa giống trong tay chúng tôi dùng giữa ngón trỏ và ngón cái định lượng số hạt vào lỗ, hai ngón kế để giữ lúa đừng rớt ra, còn ngón út còn lại chúng tôi quẹt nhanh cái lỗ đó để tro đất lấp lại.

Phải mất mươi ngày chúng tôi mới làm xong và khi đó đầu kia của thửa rộng lúa đã lên lún phún, vì có những ngày ba tôi vì mệt quá mà sinh bệnh, căn bệnh đường ruột mạn tính mắc phải trong những năm “đi học” mới đây, ba tôi phải nghỉ ngơi và mấy anh em thiếu người chỉ huy nên chơi giỡn nhiều hơn làm… Nhưng cuối cùng cũng xong, mấy cha con ra kênh Bà Sáu Bồi cách đó hơn 1 ki-lô-mét để lấy xuồng gửi nhà bà để chèo về Hà Tiên, còn ruộng lúa để đó cho Trời trông chừng.

Rồi khoảng năm hôm sau chúng tôi lại vào thăm đồng, khi ấy lúa đã lên xanh, chúng tôi xem có những chỗ bị chim chuột ăn mất giống thì chúng tôi tỉa dặm lại để sau này có năng suất cao. Rồi sau đó hai ba tuần chúng tôi lại vào thăm để nhổ bớt cỏ dại. Trước đó ba tôi còn vào hãng nước mắm Bỉnh Ky (lúc này hình như đã quốc hữu) xin lấy xác mắm trong các thùng ủ, việc lấy xác mắm vô cùng kinh khủng vì nó hôi nồng nặc chúng tôi phải thay phiên nín thở xúc rồi nhảy ra chứ không khéo chết ngộp. Kéo chiếc xe cây đầy xác mắm từ Tô Châu về Thuận Yên tới đâu người ta “la làng” tới đó, rồi chúng tôi mang về đất nhà ở Đình Thần Hoàng ủ một hầm to chung với phân bò và tro trấu, lá đậu phọng (chúng tôi có xen canh trồng đậu phọng dưới núi Đồn). Cái hầm phân này sau đó được ba “khai quật” lên và chở vào đồng bón cho đám ruộng đồng hoang. Việc này mấy người bà con cứ chọc ghẹo ba tôi kiểu “tưới nước cho dừa Tam Quan”, nhưng ba tôi tin ở việc mình làm, và rõ ràng đám ruộng của ông xanh tốt hơn hết. Năm đó chúng tôi trúng lúa nhất xóm Thuận Yên, 5000 mét vuông đất thu được 70 giạ lúa (so với năng suất bây giờ thì bấy nhiêu có bõ bèn gì? Nhưng ngày xưa với lúa mùa thế là “trúng” rồi đó). Mọi người lại chọc ba tôi tiếp. Họ gọi ông là “ông Thần Nông!”.

… Ngày cắt lúa cả xóm rủ nhau đi chung vì khi xuống giống cùng đợt, sớm thì mạnh ai nấy đi nhưng chiều về thì một lượt, lúc này biên giới căng lắm rồi, đánh nhau liên tục nên chúng tôi không dám ngủ lại trong đồng. Nhưng vì việc “chèo chống mỏi mê” mất nhiều thời gian nên có một số người ở lại nên chúng tôi cũng ngủ lại theo cho có bạn, mà lúc này nước đã ngập lớn rồi, cắt lúa mà phải ở trên xuồng hoặc phải lội nước đến thắt lưng, cắt đầy xuồng thì phải chở ra bờ kênh, hoặc để trên Gò Cây Trâm rồi quay đệm lại làm bồ đập lúa… Công việc vì vậy mà trễ nãi kéo dài, lúa gặt không kịp gãy ngọn xuống nước lớp thì cá ăn lớp thì mọc mọng, nhìn xót lắm.

Lúa chín thì chim về, chim nhiều lắm bay như những đám mây biến đổi hình thù kỳ dị theo những con đầu đàn, chim áo già thì mây màu nâu, chim sẻ mây xám, còn két xanh – là cái thứ đông nhất, đám mây xanh lè bự nhất, ồn ào nhất, và đáng ghét nhất vì nó không ăn mà nó phá, nó phá tàn phá hại, cái bông lúa nó cắn làm hai rồi nhả xuống nước rủ rê bầy cá rô bu đến ăn phụ, rõ ràng chúng đang “trả thù” loài người đây mà?

Khắp cánh đồng ồn ào tiếng đuổi chim bằng tất cả thứ gì họ có, thùng thiếc, kẻng vỏ đạn hay bất cứ thứ gì phát ra tiếng to ồn ào át tiếng chim. Bù nhìn không có ý nghĩa nơi đây, người ta nhảy dựng dựng trên xuồng vung chân tay xuồng chao lắc vỗ nước ồ oạp nó còn không sợ. Áp lưc về an ninh, áp lực tự nhiên của mùa vụ, nước lớn quá nên cắt lúa chậm, chim chóc phá hoại… làm cho công việc vốn đã chậm như càng chậm hơn.

Đêm hôm đó chúng tôi đang ngủ trên các nền nhà hoang ngoài bờ kênh thì phía Trà Phô có đánh nhau dữ dội, tiếng súng to súng nhỏ nổ liên hồi, nhìn về hướng đó thấy rõ các đường đạn hai bên giao chiến đan qua lại như một cái lưới chụp khổng lồ, lửa lóe sáng hai bên rồi những tiếng nổ to dội lại… Đụng nhau ác liệt lắm, chúng tôi tất cả đều thức giấc và lo lắng, đến gần sáng thì tiếng súng giao tranh thưa dần, chúng tôi bèn ra đồng sớm để làm việc. Tầm 8 giờ sáng, chúng tôi nhìn thấy một đoàn quân mặc bà ba đen vác súng ống đang di chuyển từ chiến trường đêm hôm về phía chúng tôi, ở bên kia kênh, nhưng con kênh bà Sáu Bồi thì nhỏ xíu, vượt qua là dễ dàng, chúng tôi nghĩ là Miên Đỏ, phen này chết chắc!

Ai đó la lên “chạy! Chạy…”. Thế là cả xóm ù chạy, mà chạy gì được với nước mênh mông? Chạy đi đâu? Dứt khoát chạy không kịp với súng đạn! Thế nhưng phải chạy, và chúng tôi chạy về hướng Kiên Lương, cứ nhắm cái ống khói của nhà máy mà chạy về đó, ai chống xuồng thì chống, ai đẩy xuồng thì đẩy, ai lội nước được thì cứ lội… Chạy được vài trăm mét thì có ai hô lên “là quân mình!”. Mọi người dừng lại thì thấy đoàn quân rẽ về hướng Trà Ten thấp thoáng mấy cái mũ cối và nón tai bèo. Hú hồn!

Sau hôm đó không còn ai dám ngủ lại trong đồng, và người ta vận động hết sức để làm nhanh. Riêng gia đình tôi dù sao cũng không thể nhanh bằng các tay nhà nông cự phách kia, thế nên thật cảm động với nghĩa cử của họ. Cả xóm dành một ngày sau cùng để xúm vào gặt cho kỳ hết cái đám ruộng của gia đình tôi, đem hết cả lúa nguyên rơm chở về Thuận Yên mà không chờ đập, ai có xuồng chở giúp bằng xuồng, ai có vỏ vọt chở giúp bằng vỏ vọt… Chỉ một ngày cuối cùng đó cả xóm làm nốt phần công việc mà ba cha con tôi làm chắc phải trong mười ngày!

Ba tôi xót nhặt những bông lúa rơi rớt, vì đó là công sức hơn nửa năm của ông mà? Thấy vậy thì mấy chú đồng hương la lên:

–          Ông Sáu! Tụi tui về! Ông ở đó mà ‘lụm’ lúa với Miên Đỏ nhe!

Người Rạch Vược đã sống với gia đình tôi nghĩa tình như thế đó.

“Kênh Bà Sáu Bồi”, “nhà bà Sáu Bồi”… Là những cái “mốc” để định vị trong cái cánh đồng chó chạy thẳng đuôi này.  Bà Sáu Bồi là một người to con với cái khăn rằn vắt chéo đội trên đầu, bà là trưởng ấp hay chi đó, là người có “uy tín” trong vùng, và bà là người của chính quyền mới. Tuy vậy với chúng tôi bà không hề có đối xử khác biệt, nói chung là bà rất tốt. Có những lúc cha con chúng tôi chống xuồng đến nhà bà thì đã quá tối không vào sâu trong đồng được thì bà cho ngủ nhờ. Khuya chừng ba bốn giờ khi sương mù còn bít lối (sương mù nơi đây dày lắm, nói không tin chứ cách nhau ba bốn mét đã là không thấy nhau) thì ông chồng bà Sáu Bồi cùng mấy đứa con trai của bà (trạc tuổi chúng tôi) đã dắt bầy chó cả chục con vào sâu trong đồng để bắt chuột, sáng chúng tôi ngủ dậy nấu cơm ăn sáng thì bầy chó sủa inh ỏi cùng chủ của chúng đã về. Ba bốn cái lồng chuột lúc nhúc, con nào cũng to mập ú, không biết chúng ăn thứ gì trong đồng mà béo vậy, lông chúng màu vàng vàng chứ không đen như chuột nhà. Rồi bà mang cái lồng ra sân thì cái đám chó săn hung tợn đó nó ùa ra, tôi rất ấn tượng với đàn chó của bà, bà dạy nó không bao giờ ăn chuột săn được, tụi nó chỉ được ăn đầu và da chuột khi bà làm thịt chuột gọn gàng chỉ bằng một nhát chém ngang cổ và kéo xoạt một phát hết da, trong tay bà chỉ còn là một con thịt trắng bóc. Bà quăng một chùm các thứ bỏ đi đó ra sân, bầy chó nhào tới dọn sạch nhách như chưa hề có một hiện trường tanh tưởi của lũ chuột bị bà Sáu “xử trảm”, nhanh đến độ có khi con chuột chưa hiểu chuyện gì xảy ra… Sau khi bầy chó đã ăn xong thì thằng con bà mang một nồi cơm bự chảng ra chắt nước cơm đang sôi vào cái máng heo kế cạnh, khói còn đang bốc lên nghi ngút thì bầy chó đã nhào tới xồng xộc tranh ăn, chúng hầu như không biết nóng là gì ngoài chuyện nóng ruột muốn ăn! Thì cũng có con sặc nóng phì phì nhưng nếu chúng không chịu được thì sẽ mất phần.

–          Bác Sáu có cho tụi nó ăn cơm không? – Tôi hỏi.

–          Cơm người ta còn không có mà ăn. Tụi nó chỉ ăn vậy thôi đó con. Đói thì tự đi ra đồng kiếm ăn…

Bà cười trả lời tôi, lát sau bà múc ra một chén thịt chuột mà bà làm sao nó thơm ngậy.

–          Anh Sáu! Làm một miếng hén! (ba tôi cũng thứ Sáu).

Bà mời mấy cha con chúng tôi đang ngồi ăn cơm trên cái tợ (sàn) bằng cây tràm ngoài sân. Đó là lần đầu tiên trong đời ba cha con tôi rón rén ăn thịt chuột. Cũng ngon và chắc lắm.

Tôi không biết con kênh này tên gì, từ Hà Tiên qua nó nằm bên trái như đã nói, vị trí đầu vàm của nó ngay kế cạnh cái Cản Cờ Trắng, đến đây chúng tôi phải chèo xuồng rẽ vào. Vùng này có người gọi tên là Thuận Án, có người gọi là Trần Thệ, đó là Xã hay Ấp hay một đơn vị hành chánh nào đó tôi cũng không biết vì lúc đó tôi không quan tâm lắm, chỉ biết mọi người lấy nhà bà Sáu Bồi làm mốc, lấy Gò Cây Trâm sâu trong đồng phía sau lưng nhà bà làm mốc, và con kênh trước nhà bà – cũng gọi là kênh bà Sáu Bồi để làm đường đi bằng xuồng… Con kênh vào mùa dọn đất và tỉa lúa này nó kiệt nước lắm, người ta đi bằng xuồng ba lá đáy bằng và nhỏ nhẹ thì có thể chống lướt nhẹ nhàng trên đó, nhưng chiếc xuồng lườn đáy sâu mũi nhọn của cha con chúng tôi là loại to đi ngoài cửa biển không phù hợp cho vùng này tí nào, thế nên chúng tôi luôn khó khăn khi ra vào vì suốt cả năm sáu cây số vào từ ngã ba kênh Rạch Giá – Hà Tiên vào tới đây, có những đoạn ba tôi phải xuống lội bùn để đẩy chiếc xuồng đi tới, một trong hai chúng tôi phải đi trên bờ kênh mà dùng dây kéo phụ, còn đứa còn lại ngồi ở mũi xuồng để điều hướng, rồi khi nào ai mệt thì thay phiên… Cứ vậy mà từ từ chúng tôi cũng lôi được chiếc xuồng lườn với đủ thứ trên đó để vào đến nơi nhà bà Sáu Bồi.

… Cứ ba bốn giờ sáng là chúng tôi bắt đầu chèo xuồng đi khỏi bến sông sau Đình Thần Hoàng, và cứ chèo theo con rạch Rạch Núi (Rạch Vược), vòng vèo ôm sát chân Núi Nhọn rồi trổ ra kênh xáng như đã nói. Có khi chúng tôi đi cùng ba, nhưng cũng có khi chỉ có hai anh em vì ba đã “cắm dùi” trong đồng và chúng tôi về nhà lấy đồ ăn thức uống tiếp tế. Đường khuya vắng vẻ lạnh lẽo nhưng đi hoài riết quen, trời tối đen như mực thì chúng tôi vẫn có thể đi được dù chẳng có đèn vì dòng nước rạch ban đêm nó “trắng” hơn hai bên bờ, đó là kinh nghiệm của chúng tôi theo kiểu “mưa tránh trắng, nắng tránh đen” khi đạp xe hay đi bộ trên đường nhiều ổ gà mà tránh sình tránh sụp… Những chuyến đi này thường xuyên nên anh em chúng tôi dù còn nhỏ nhưng hết sợ bóng đêm.

Một hôm sau khi xuồng đã đến nơi, neo ngoài bờ kênh bà Sáu Bồi, tôi gánh hai thùng nước ngọt được chắt ra từ cái phuy của chiếc xe nước mà chúng tôi hành nghề từ hồi năm trước ở Hà Tiên, giờ được anh em chúng tôi tiếp tế nước ngọt được chở từ Thuận Yên vào đồng. Trời trưa nắng gắt mà từ ngoài bờ kênh vào khóm tràm nơi ba tôi cùng bà con tá túc có hơn cây số băng đồng theo lối mòn trâu bò và người đi, đặt quang gánh xuống để uống nước từ trong thùng ấy tôi thấy có hai ba con ong mật bay đến uống chung, “thì thôi, tao uống được mày cũng uống được..” nên tôi chẳng thèm để ý. Một chút sau thôi khi tôi tiếp tục đi, thì tôi nghe như có tiếng như máy bay đầm già bay dạo trước, tôi chợt nghĩ “Ủa! Sao hôm nay lại có tiếng máy bay?”, ngó lên tôi thấy một đám đen thui không rõ hình thù vì nó liên tục biến dạng. Đám mây phát tiếng kêu u u đó vần ngay trên đầu tôi, rồi chưa kịp biết là gì thì nó đã sà ngay vào hai thùng nước tôi đang gánh, một vài con đậu trên mặt tôi thì tôi biết là ong, nhưng tôi dại dột dùng tay đập nó và dùng cái nón bàng để xua đuổi bầy ong đó, thế là chúng “bề hội đồng” oánh tôi tới tấp, cả một đám đen thui bu vào người tôi, chỗ nào có da thịt là chúng cắm đít vào, sợ quá tôi ù chạy mà quăng cả hai thùng nước quý giá đổ tràn ra đồng khô cỏ cháy, tôi tối tăm mày mặt cứ cắm đầu thục mạng cho tới khi không còn nghe bầy ong u u nữa thì lúc đó tôi cũng đà hết hơi, ngã vật ra đám cỏ lút đầu mà không nghĩ mình còn sống…

Khi tỉnh táo hoàn hồn thì thấy toàn thân sưng múp và đau nhức, đôi con mắt nhỏ của tôi chỉ còn ti hí hai cọng chỉ, lổ mũi cũng sưng to như quả cà chua mà ba hay mua ngoài bờ kênh Bà Sáu Bồi, môi miệng sưng mọng như mới vừa bơm silicon ở viện thẩm mỹ về, hai bắp tay và cánh tay chỗ nào cũng có đầy đít ong hình chữ V cắm vào. Lần đầu tiên trong đời tôi “khám phá” là ong chích xong sẽ bỏ kim – giống như y tá vậy, nhưng y tá sẽ rút kim ra quăng vào thùng rác y tế, còn con ong do không có tay nên nó không thể làm chuyện đó, đơn giản chích xong nó chỉ “phủi đít” bay đi thôi…

Tôi lò dò để tìm đến đôi thùng nước khi nãy, chỉ còn đôi thùng không vì tôi quăng ngang nó đổ hết, về đến rừng tràm gặp ba, tôi khóc hu hu, mấy chú mấy bác xúm lại hỏi thăm và an ủi bằng cách chọc ghẹo tôi đủ kiểu, ba nạt biểu tôi nín. Xong, ông biểu tôi ngồi trong cái lán nhỏ của ông dưới tán cây tràm, và “cái giường” là một đống vỏ tràm trải ra, trải thêm tấm nylon để ngăn hơi đất và trên cùng là chiếc chiếu. Ông cũng không làm cái điều mà thằng nhóc tôi đang chờ là an ủi hay dỗ dành, mà ông chỉ xoay qua lại cái mặt tôi săm soi cái gì đó?

Đoạn, ông hỏi tôi bầy ong bay hướng nào? Tôi đâu có biết nó bay hướng nào? Chỉ có thể chỉ cho ông hướng tôi chạy thoát thân trối chết lúc nãy. Ông bỏ đi và cầm theo cây dao câu liêm, khoảng tiếng đồng hồ sau ông về. Không nói tiếng nào, ông quăng xuống “giường” một cái bọc nylon nghe tiếng “bịch!” rõ to, trong bọc là nguyên một tổ ong mật vàng ươm, to cỡ cái dĩa trung 20 cm, trong tổ còn đầy những con ong non trong những cái ngăn hình lục giác… Và tôi ăn ngon lành cái tổ ong thơm ngọt đó, phun ra “phèo phèo” cái chất sáp ong lạt lẽo không nuốt được. Ba nhìn tôi ăn ông khẽ cười rồi ông lấy đâu ra cái nhíp mà nhổ mấy cái đít ong hình chữ V trên vai, trên cổ và trên mặt tôi… Đếm được đâu cả hàng mấy chục cái. Đêm đó tôi chỉ hơi sốt chút có lẽ vì sợ chứ ba nói rằng ong mật này không độc, và ăn mật của nó cũng có tác dụng tiêu độc…

Thiệt là một câu chuyện nhớ đời..

Vị trí nơi tác giả Quang Nguyên cùng gia đình làm ruộng (ô vuông màu xanh). Điểm A là nơi Rạch Cái Tắt  gặp kênh Hà Tiên-Rạch Giá, điểm B là nơi Rạch Vược gặp kênh Hà Tiên-Rạch Giá.

Lại có chiều hôm khi ba cha con đang tỉa lúa ngoài đồng thì má tôi chợt xuất hiện. Bà như từ đâu hiện ra với gương mặt đen nhẻm vì muội than của các con trốt đồng hay bất đồ xuất hiện giữa cánh đồng này, nó mang tro bụi và các gốc rễ cỏ đất lên tít cao rồi bất ngờ tung ra khắp nơi, thật khổ cho những ai gặp nó giữa đồng nóng với mồ hôi hễ nhại, các hạt tro bụi li ti đó như ngàn mũi kim châm ngứa xót chẳng khác bạn đụng nhằm lông “mắt mèo”… Má tôi đã đi bộ từ Cờ Trắng và băng đồng khoảng chục cây số để đến đây sau khi bà dò hỏi người dân để biết khu khẩn hoang của xóm Thuận Yên này mà tìm ba tôi. Hai người nói với nhau những vấn đề gì đó xem chừng rất quan trọng mà chúng tôi không được quyền biết. Đến mờ sáng khi sương mù còn lãng đãng trôi từng cụm trên đồng thì cả nhà tôi cùng ra bờ kênh, tại đây má tôi nói có người sĩ quan là đồng nghiệp của ba, và cũng là học trò Hà Tiên, vì thương ba má tôi và gia cảnh chúng tôi nên ông muốn giúp đỡ cho anh em chúng tôi đi vượt biên miễn phí, má tôi vì thế mà “xâm mình” dặm trường vào đây… Ba má tôi phân tich rất nhiều điều hay lẽ phải để chúng tôi hiểu vấn đề, nhưng cả hai anh em chúng tôi nhất định không chịu đi vì không muốn xa gia đình, và vì chúng tôi là lao động chính trong nhà, trong những lúc ba tôi bị gom vào “trong ấy” (mà chuyện này thì rất thường xảy ra) còn má tôi phải cố đi dạy học để “chạy điểm” cho ba tôi nên không thể “chạy chợ” được, thì hai anh em chúng tôi trở thành lúa gạo, cá mú, rau rác, củi lửa, tiền bạc… để lo cho cả gia đình.

Hai đứa “đàn ông nhí” 12 và 13 tuổi không chịu đi vượt biên đơn giản chỉ là vậy. Tuy nhiên với chuyện này, chúng tôi đã chịu ơn tấm thịnh tình cùa người sĩ quan ấy, mà cho đến ngày hôm nay chúng tôi chưa có dịp để thổ lộ cùng người…

Quang Nguyên    

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần F)

Tái bút: Con kênh mang tên « kênh Bà Sáu Bồi » mà tác giả đề cập trong bài có thể là kênh Nông Trường thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành trên bản đồ. Kênh Nông Trường là một trong những nhánh kênh ngang chính được đào ngay trong thời gian đào kênh Hà Tiên-Rạch Giá (1930), kênh Nông Trường xuất phát từ xã Thuận Yên, nối liền kênh Hà Tiên-Rạch Giá đến kênh Vĩnh Tế.

Giới thiệu anh Trần Thành Lập

Thầy cô và các bạn thân mến, mình rất cảm kích và hoan hô anh Trần Thành Lập đã bỏ thời giờ quý báu để viết ra bài viết tự thuật rất hay dưới đây. Mình hiểu rất rỏ hoàn cảnh của các bạn ở quê nhà, có nhiều bạn gặp may mắn hưởng tuổi già nhờ con cái đã lập nghiệp xong, cũng có bạn tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn còn bận rộn với đời sống vì còn phải lo cho các con, ngay cả các bạn đã có cuộc sống ở nước ngoài cũng vậy thôi….Đó là hoàn cảnh riêng mỗi người, mong rằng dù trong hoàn cảnh nào cũng vậy, mọi việc đều tốt đẹp, thành công như ý muốn. Việc góp mặt viết tự thuật theo như mình đề nghị với các bạn chỉ là việc bên lề cuộc sống, khi rảnh rổi và có thời giờ yên tỉnh để nhớ lại những ngày xưa êm đềm sống với gia đình và thầy cô bạn bè thì viết ra thôi, không phải gấp rút hay nhất định phải có. Nay nhận được bài viết nầy của anh Lập mình rất vui và cũng rất tự an ủi vì thấy mình cũng đã góp được một phần nhỏ vào việc đem các bạn thân ngày xưa dù cuộc sống mỗi người một nơi nhưng đã có dịp tiếp xúc với nhau nhắc lại chuyện xa xưa cho vơi bớt những nhọc nhằn của cuộc sống hằng ngày, đó cũng là một món bồi bổ cho tinh thần chúng ta, mình rất cảm kích và cám ơn anh Lập. Đọc bài anh viết mình thấy rất chân thành và đầy tình cảm, xin phép anh được đăng lên trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » trong mục « Bạn Học Cùng Trường » để thầy cô và bạn bè đọc và nhớ lại anh, cám ơn anh Lập rất nhiều, thân chúc anh cùng toàn gia quyến luôn an lành, vui khỏe và được mọi điều tốt đẹp nhé.

Nhớ lại những ngày xưa khi chập chửng bước vào ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên với lớp đầu tiên là lớp Đệ Thất, tuy mình và anh Lập không cùng lớp, vì anh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng trên mình một lớp, nhưng mình còn nhớ những giờ học về môn Thể Dục với thầy Trịnh Học Ký, buổi sáng sớm phải cùng nhau lên sân vận động Hà Tiên ở sát chân đồi Ngũ Hổ, khi lên đến nơi thì trời còn rất sớm, cũng may mà có đèn chiếu sáng tuy ánh sáng vàng vọt nhưng cũng đủ để cả nhóm yên tâm, không sợ « ma ».…Vì thầy chưa tới nên cả bọn xúm lại ngồi thành vòng tròn trên bãi cỏ nói chuyện với nhau cho vui, đề tài nói chuyện thì đủ cả, nhưng chắc cũng không thể  thiếu đề tài về các bạn gái cùng trường cùng lớp, lúc đó mình vẫn còn nhớ cũng có anh Lập ngồi nói chuyện,…Ngoài ra trong những giờ tập nhạc của ban nhạc « Sao Đêm » hay « Tiếng Hát Quê Hương » và những buổi tối lên Chi Thông Tin Hà Tiên trình diễn các tiết mục ca nhạc để phát thanh ra toàn quận Hà Tiên, thỉnh thoảng cũng có hai cậu cháu: anh Trần Thành Lập (vai cậu) và anh Lê Minh Cang (vai cháu) cùng có mặt trong nhóm rất vui, lúc đó có anh Tống Châu Thành và mình thường đệm đàn guitare cho các bạn hát…

Thân mời thầy cô và các bạn đọc bài tự thuật dưới đây để nhớ lại một thành viên xa xưa của ngôi trường Trung Học Hà Tiên của những năm đầu thập niên 60. (Paris, ngày 02/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Bài viết của anh Trần Thành Lập:

Trước hết, mong các bạn thông cảm cho, vì dù nay đã ngưỡng hơn thất thập rồi song tôi vẫn còn phải bận việc trong đời sống hằng ngày, chưa được như các bạn thảnh thơi, tự toại tuổi già nên ít khi tham gia viết bài vở trên trang Trung Học Hà Tiên Xưa nầy.

Tên tôi là Trần Thành Lập, sinh ngày năm 1950. Lúc nhỏ sống ở khu Chợ Quán, Quận 5 Sài Gòn xưa. Cha tôi mất khi tôi đựợc 6 tuổi, hoàn cảnh gia đình tôi được người chị thứ hai (mẹ của Lê Mai Hương, Lê Mai Hoa) đem về nuôi dưỡng ăn học và đến Hà Tiên vào khoảng năm 1959. Chính nơi đây tôi đã có một thời gian sống vô cùng cực đẹp ở tuổi học trò. Lúc đó tôi sống cùng gia đình chị ruột thứ hai (tôi thì thứ 11 út). Thòi đó ở hai nhà, nhà thứ nhất là nhà dinh phó quận hành chánh đường Mạc Tử Hoàng, nhà kế bên văn phòng quận lỵ cách con đường đi lên núi Ngũ Hổ hay còn được gọi là Lầu Ba, nhà thứ hai là ở cư xá Bảo Sanh Viện Hà Tiên, ngay ngã tư Bạch Đằng-Mạc Cửu, có cây dừa ba ngọn (vì mẹ của Mai Hương, Mai Hoa lúc này là nữ hộ sinh trưởng ở đây).

Anh Trần Thành Lập (hình 2021)

Ở Hà Tiên tôi theo học lớp nhì, lớp nhất và một năm tiếp liên (vì không trúng tuyển vào trường Trung Học Công Lập Hà Tiên lúc thi cuối năm lớp nhất). Năm sau (1963) trúng tuyển vào Trung Học, tôi học năm đệ thất và cuối năm đệ lục (1965) thì lại phải trở về Sài Gòn.

Bạn cùng lớp theo danh sách anh Lâm Hữu Quyền viết ra là đúng nhưng có lẽ quá lâu anh nhầm lẫn họ của tôi là Nguyễn thay vì đúng là Trần. Bạn cùng lớp tôi không nhớ được toàn bộ theo danh sách anh Quyền viết.Tôi chỉ nhớ rõ những bạn cùng nhóm hay chơi cùng nhau: Lý Cảnh Tiên, Tống Châu Thành, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Văn Tấm, Nhan Hồng Hà, Thái Cẩm Hà, Quách Ngọc Sơn ….Những bạn này ngoài những bạn đã mất, các bạn khác có thể nhớ hoặc quên tôi vì thời gian không quá lâu là bạn bè bên nhau thời thơ ấu.

Hiện tại và cũng gần đây thôi tôi cũng đã có liên lạc được với bạn Lý Cảnh Tiên và Thái Cẩm Hà qua Facebook. Về những kỷ niệm xưa, riêng đối với tôi toàn bộ thời gian sống ở Hà Tiên là khoảng đời đẹp nhất tôi có được trong cuộc đời kể đến nay. Tôi vẫn nhớ những buổi cúp cua tiết học trưa cùng nhau lên lăng Mạc Cửu nhổ trộm khoai mì rồi đem nướng hay đúng hơn là thui đen khét lẹt bằng lửa tàu dừa, rồi cùng nhau ăn và khen ngon, hoặc ra bãi biển dưới chân núi Pháo Đài mò ốc, sò huyết….. Chỉ còn là những kỷ niệm. Bài tự thuật đã hơi dài, xin hẹn lại các bạn sau nhé. Thân chào các bạn…

Thủ Dầu Một /Bình Dương, ngày 25/02/2021 Trần Thành Lập

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần D-Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, qua các phần A, B, C, tác giả Quang Nguyên đã mô tả ra cho chúng ta thấy các địa danh tuy rất quen thuộc với chúng ta qua tên gọi thường nghe đến, nhưng nếu phải định vị trí của các địa danh có tên gọi nầy thì lại không dễ, một phần vì một nơi chốn có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau khiến dễ gây lầm lẫn, một phần vì ta lại không để ý đến các địa điểm thực tế nầy vì ít khi có dịp đến nơi tại chỗ…Nay khi đọc các bài viết về Rạch Vược, Hòn Chông, Cái Tắt,…v…v…., chúng ta đã có khái niệm phần nào về các vị trí tương đối của vùng nầy, xem như chúng ta đã học được một bài học địa lý cơ bản của vùng đất Thuận Yên…Tuy nhiên đây cũng không phải là một bài học Địa Lý đơn thuần và khô khan theo kiểu ta học ở trường lớp, mà đây còn là một bài học về tìm kế mưu sinh và tranh đấu trên đường đời một khi mà chúng ta bước vào một giai đoạn khó khăn nào đó trong cuộc sống, giai đoạn gian truân mà mình nghĩ rằng không ai là không phải trải qua với mức độ ít nhiều trong đời sống…Nếu trong phần A và B, ngoài các khái niệm về Địa Lý và kinh nghiệm sống, ta còn biết thêm nhiều ý kiến hay về mặt văn thơ (các địa điểm Lư Khê Ngư Bạc, Châu Nham Lạc Lộ, Nam Phố Trừng Ba,…) thì trong phần C và D ta lại được tác giả Quang Nguyên thổ lộ nhiều hơn về mặt tâm tình, hồi ký về một quảng thời gian khá dài tác giả và gia đình phải đương đầu, đấu tranh mỗi ngày với bao khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống hằng ngày….Hôm nay xin được giới thiệu đến phần giải thích về hai tên gọi: « Ngả Tư Đèn Đỏ » và « Cản Cờ Trắng » với những kỷ niệm vui buồn trong cuộc sống hằng ngày của một gia đình phải đối phó với nhiều khó khăn trong những ngày đầu của một cuộc sống mới. (Paris, 31/03/2021, Trần Văn Mãnh viết lời dẫn).

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

Sẵn đây tôi xin nói thêm về hai cái địa danh “Ngã Tư Đèn Đỏ” và “Cản Cờ Trắng” với những gì tôi đã biết:

Ngã Tư Đèn Đỏ này là nơi giao nhau của các đầu giao lộ đường thủy: con rạch Cái Tắt đổ ra như đã nói và đầu bên kia là một con rạch khác đi vào vùng đất lưu vực của sông Giang Thành, nó cắt ngang con kênh xáng Rạch Giá – Hà Tiên nên tạo thành một ngã tư. Nhưng tại sao có tên “Đèn Đỏ”?

Khoan! Xin các độc giả đừng quá “nhạy cảm” mà liên tưởng đến các khu “phố đèn đỏ” nổi danh trên thế giới, mà tội nghiệp cho người dân Hà Tiên ta chơn chất hiền lành… Chẳng qua là để đào một đoạn kênh cho thẳng, người Pháp đã làm hai cái mốc hiệu cao và rõ từ xa để nhắm mà đào. Đầu hướng Đông Hồ Hà Tiên là cây cột đèn đỏ đặt tại Ngã Tư này, còn đầu kia là cây cột Cờ Trắng đặt tại vùng đất của Dương Hòa Hòn Heo, nay gần nhà thờ Cờ Trắng. Con kênh này quả thật rất thẳng, thẳng tưng, như kẻ chỉ, như lập lòn… Đoạn này dài lối 10 km.

Kênh đào Hà Tiên – Rạch Giá, với đoạn màu đỏ nét đậm là khúc từ Ngả Tư Đèn Đỏ tới Cản Cờ Trắng.

Còn nhớ, vào những năm 1976-1977, ngay tại Đèn Đỏ này có một cái đập, cái đập bằng đất khá kiên cố ngăn hoàn toàn dòng kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Cái đập này hoàn toàn làm bằng tay do người Hà Tiên làm nên. Dân miền nầy được chính quyền mới trẻ với lửa nhiệt tình hừng hực, nôn nóng muốn cải tạo vùng đất hoang hóa phèn chua rộng lớn chung quanh Hà Tiên thành vùng canh tác được trong thời gian ngắn nhất, mà  áp dụng những mô hình và những kỹ thuật canh tác hay thủy lợi được sao chép lại từ việc canh nông của đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình… ngoài Bắc. Hàng ngày người dân được nghe các câu chuyện điển hình “chị Hai Năm Tấn quê ở Thái Bình…”, các điệp khúc đào kênh và đắp đập được hát phổ biến ra rả thường xuyên vào lúc 5 giờ sáng. Chẳng phải hòa bình rồi sao? Ai cũng mong muốn xứ mình giàu mạnh, mà Hà Tiên thì có cả một vùng rộng lớn đất đai bạt ngàn vùng Trà Phô, Trà Ten, Phú Mỹ, Lò Bôm rộng lớn đang bỏ hoang hoặc hoang hóa… Mục đích của các công trình loại này là để giữ nước ngọt lại để “rửa phèn” và cũng để ngăn nước mặn của cửa biển Hà Tiên chảy vào. Cái đập thành hình rất nhanh sau đó mà chưa để ý đến các yếu tố tự nhiên khác.

Nhưng, khoa học đã chứng minh cái điều ngược lại. Nếu bạn có dịp đi máy bay từ Sài Gòn ra Phú Quốc, bạn sẽ thấy bao nhiêu là ô bàn cờ kênh rạch mà từ thời nhà Nguyễn và sau đó thời Pháp thuộc rồi thời tiếp sau đó đã vẽ nên hệ thống thủy lợi cho đồng bằng miệt miền Tây thêm trù phú. Cả vùng miệt thứ Kiên Giang kéo về tận Cà Mau và vùng Tứ Giác Long Xuyên với bao nhiêu con kênh đổ ra phía biển, hoặc hợp nước với các con sông cái để nhờ sức mạnh của nó mà thoát nước khỏi những vùng ngập úng. Hệ thống kênh nước chằng chịt đó ngoài vai trò lưu thông, dẫn thủy nhập điền, rửa phèn… còn có vai trò tối quan trọng cho đồng bằng sông Cửu Long là nhiệm vụ thoát lũ.

Lũ miền tây là loại lũ hiền hòa và tốt bụng, nó về chơi với người nông dân đồng bằng hàng năm, vui thì nó kéo bạn bè về đông và ở chơi với gia chủ hơn hai tháng, buồn gì thì nó cũng về một mình rồi hơn tháng lại ra đi… Nhưng kiểu nào thì cũng vậy, nó rất “biết điều” vì khi ra về nó để lại cho chủ nhà bao nhiêu là sản vật cá tôm và phù sa dày cộp, đồng thời giúp chủ nhà vệ sinh sạch sẽ cái “căn nhà” của mình, rửa bớt nồng độ phèn chua lét, tiêu diệt cái đám thiên địch gây hại cho nông sản của mùa vụ sắp tới.

Thế nên người miền tây họ không buồn khi lũ về mà ngược lại họ chung sống vui vẻ cùng với nó.  « Nó » mà không về thì người dân buồn lo nhiều hơn vì họ phải chuẩn bị đối phó với những khó khăn của mùa vụ năm sau… Nhưng, gì cũng phải có chừng mực, khách đến ở chơi mà “lầy lội” quá cũng làm phiền gia chủ, nên vừa đủ để thắm tình cho tất cả là điều tốt đẹp nhất. Bởi vậy người xưa đã phát triển hệ thống kênh bàn cờ nói trên để lũ thoát biển vừa đủ mau để người dân sản xuất mùa vụ của năm mới. Lâu rồi thành quen họ đón “khách lũ” như người con đi làm ăn xa về thăm gia đình…

… Mùa lũ năm 1978, mùa lũ lớn nhất mà tôi biết cho đến hôm nay, nước ơi là nước, nước khắp nơi. Do Cờ Đỏ đã ngăn dòng chảy bằng con đập nên con rạch Cái Tắt nước chảy ào ào… Có hôm, hai anh em tôi đi đốn lá dừa nước về bán, xuồng khẳm mà nước ngược, nước tràn vào xuồng theo hai mép lá gie ra hai bên, chiếc xuồng chìm giữa dòng Cái Tắt mà ngày xưa ấy nó rộng hơn bây giờ (do bây giờ dòng bớt chảy nên dừa nước hai bên lấn ra). Hai anh em sãi bơi để vớt mấy chục bó dừa nước trôi băng băng để đưa vào bờ, vớt chiếc xuồng lườn đã chìm cùng sạp gỗ và tay chèo, và tất cả những thứ “ăn theo”, chúng tôi đã lôi nó sát mép bờ trải dài hàng hai ba trăm mét… Kiểm đếm lại tất cả các thứ chúng tôi mang theo thì mất cây dao “tầm bứt” là loại dao đổ lá rất bén, và cây búa Mỹ – là hai trong ba “bảo bối” của ba tôi gồm: Tầm Bứt – Câu Liêm – Búa Mỹ. Cây búa Mỹ là “chút tàn dư cũ” còn tầm bứt và câu liêm là ba tôi đặt rèn ở lò rèn trứ danh ngày ấy ở Hà Tiên là lò rèn ở cây số 1 dưới chân Tiểu Tô Châu, họ làm từ thép nhíp xe GMC của Mỹ.

Việc làm mất hai bảo bối làm chúng tôi hết cả hồn, chuyến này chắc về ăn đòn tét đít, thế nên hai anh em bàn nhau … lặn mò. Sau hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi lặn dưới lòng kênh hơn ba mét, nước chảy, nước lạnh, trời mưa và trời …đãi. Cuối cùng hai báu vật đã tìm thấy, hai anh em đã thề với nhau là tuyệt đối không cho ba chúng tôi biết chuyện này.

Lời thề đó hai chúng tôi đã giữ đến hôm nay, và ba tôi thì đã 87 tuổi rồi, rõ ràng là ông không còn cầm nổi hai vật đó nữa nên chẳng cần giấu ông nữa…

Năm 1978 ở Hà Tiên là năm của nước, nước nhiều lắm các bạn ạ! Nước tràn và ngập sâu vào trong nhà, và năm đó cá nhiều vô kể, nghe đồn rằng Ăng Ka không cho người dân đánh bắt nên cá Biển Hồ tràn về Việt Nam. Cũng nghe đồn nước ngọt Giang Thành đổ ra tới gần Phú Quốc! (Phải chăng câu chuyện Nguyễn Ánh năm xưa bôn tẩu ra Phú Quốc được Trời giúp biến nước biển thành uống được là tại ông đi nhằm mùa lũ?) Nước ngập sâu và ngập lâu nên chân cẳng chúng tôi đứa nào cũng bị nước ăn chân ngứa ngáy, ban đêm ngủ đứa này co chân thò tay xuống ngoáy mấy ngón chân cho đã ngứa thì nghe đứa kia cũng chà mấy ngón châm xuống chiếu xoạt xoạt, chỉ vài hôm mấy cái chiếu trơ lác chỉ còn các cọng dây xơ đan…Được cái nước về và cá nhiều nên vui lắm, chúng tôi thỏa sức tắm lội trên dòng Rạch Vược, đi lượm những đoạn lưới rách người ta bỏ rồi nối lại, xong giăng bao các khóm dừa nước, cá sặc cá rô nhiều vô kể, rồi hai anh em ngồi trên sàn nước mà câu cá rô, rồi leo lên cây sau nhà để “ị” xuống và xem lũ cá chốt dọn dẹp!

Ôi…! Cái thời nhiều kỷ niệm dù không đẹp nhưng vui.

Cái đập Cờ Đỏ góp phần làm nước Rạch Vược nó tràn vào tận chỏng tre trong nhà chúng tôi, cả vùng Thuận Yên hai bên con Rạch Vược là nạn nhân trực tiếp của nước, mà mùa nước thường ngâm đến hai tháng, mùa này hình như nhiều hơn… Chịu hết xiết nên ngoài kia Ủy Ban Xã kêu đi phá đập Đèn Đỏ, có người dân hô đỏng lên:

–          “*..%..$..#..@…!! Hồi đó mấy ông nằng nặc bắt dân đi đắp, mới có một năm, giờ kêu phá? Mấy ông tự đi làm đi!”

Chú đó cương quyết không đi, nhưng gia đình tôi thì ba tôi phải đi, phải đi phá cái mà mình đã làm mới gần đây thôi. Nản chứ? Nhưng “Đời” mà! 

Sau này người ta còn làm cái chuyện ngược lại với chuyện “đắp đập”, là phải đào thêm nhiều con kênh thoát lũ ra biển tây, đồng thời trao ruộng đất cho dân để “khoan sức dân làm kế vững bền…” (lời vua Trần Anh Tông), rồi người dân tự bao bờ làm cống đóng mở, điều tiết nước bảo vệ cây lúa của mình.  Nhờ vậy mà vùng Tứ Giác Long Xuyên đến giờ hầu như canh tác nuôi trồng đã phủ kín, và Việt Nam lên hàng Top III của thế giới về xuất khẩu gạo. Tứ giác Long Xuyên đã đóng một vai trò không hề nhỏ…

Đã có một thời như thế đó…

Như đã nói trên Đèn Đỏ và Cờ Trắng là hai điểm của đoạn thẳng phục vụ cho việc đào kênh. Vậy tại sao có địa danh “Cản Cờ Trắng”?

Lại là một câu chuyện lịch sử khác mà tôi nghe người xưa nói lại. Đó là vào “thời 9 năm” kháng chiến chống Pháp, như đã nói ở phần trưóc của câu chuyện “Lộ Đứt”. Cả vùng Thuận Yên, Dương Hòa, Núi Trầu… Việt Minh kiểm soát và triệt để chống Pháp, người ta dùng một chiếc xà lan cũ cùng các vật thể to khác nhấn chìm xuống chặn ngang dòng kênh Rạch Giá – Hà Tiên, để không cho tàu Pháp đi càn từ Hà Tiên qua… Sau năm 1954 thì cái “cản” này vẫn tồn tại, nhưng để lưu thông được người ta phải đào con kênh đi vòng qua. Hồi tôi còn nhỏ khi đi đường thủy từ Hà Tiên qua Kiên Lương hay ngược lại, đến đây tàu ghe phải bẻ hai cái “ngoặt” rồi mới đi thẳng tiếp vì con kênh đã “né” cái vật cản to đùng này, không biết bây giờ người ta đã phá cái “cản” này chưa?

Bên kia “cản” là bạn thấy núi Trầu xanh xám sừng sững về bên phải. Ngọn núi này hôm nay đã cùng số phận với núi Còm ở Kiên Lương, nó đã bị người ta khai thác đá hầu như không còn một chút gì hình thù quả núi đá vôi năm xưa, cùng với đó là sự biến mất cùng bao hang động luồn lách thú vị mà những năm 1980 tôi cùng các bạn về đây chơi, tôi còn nhớ mình đã đi thu hoạch khoai môn ăn tới óc ách cái bụng và tước mía thì tới tróc cả môi miệng vì vùng này bạt ngàn khoai môn và mía, nhất là loại mía vỏ cứng mà hàm lượng đường cao dùng để nấu đường, nó khác với các loại mía ăn thông thường là loại mía vỏ đỏ hay mía vỏ vàng mọng nước mà các bạn trẻ thời ấy – vì không có cái smartphone – đã chơi trò “chẻ mía” rất vui (Đây là trò chơi cổ truyền đã không còn nữa, có một thời Hà Tiên mình, nhóm đàn anh của tôi – cở thời Mr Trần Văn Mãnh –  thường chơi trò chẻ mía nầy rất nhộn nhịp trên lề đường Bạch Đằng…., Hà Tiên).

Nhưng chưa, trước khi đến Núi Trầu bạn phải vượt Cản, sau khi qua Cản bạn sẽ đến ấp Cản, rồi ấp (hay xã?) Cờ Trắng, nơi đây ngày xưa đã có một khu dân cư khá đông nằm bên bờ hữu ngạn hướng về Núi Trầu.

Đường bộ từ Hà Tiên đến đây cũng có, nhưng bạn phải xuống ngay ngã tư Hòn Heo (tuyến thẳng là lộ 80, bên phải là đường vào chùa Vạn Hòa) bạn phải chọn bên trái là đường đi Cờ Trắng, hồi xưa thời đó bạn phải đi xe lôi thùng do xe Honda kéo (một phương tiện cải tiến từ “xe vua” do xe đạp kéo), đi một đoạn ngắn bạn sẽ gặp con kênh Tam Bản đi kèm bên phải con đường suốt cho tới con kênh Rạch Giá – Hà Tiên là bạn đã đến ngã ba Cờ Trắng….

Hiện nay tôi thấy người ta gọi là Cảng, ấp Cảng là sai. “Cản” là ngăn chặn chứ không phải “cảng” là bến tàu ăn hàng.

Sơ đồ vị trí tương đối của các đơn vị hành chánh: Thành Phố Hà Tiên, huyện Giang Thành (với 5 xă: Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú), Huyên Kiên Lương (với thị xã Kiên Lương và các xã: Dương Hòa, Hòa Điền, Kiên Bình, Bình Trị, Bình An, Hòn Nghệ, Sơn Hải).

Sơ đồ vị trí Ấp Cờ Trắng, Xã Hòa Điền, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang. Bên trái hình có điểm A đó là « Ngả Tư Đèn Đỏ ».

Vị trí Ấp Cờ Trắng với nhà thờ Cờ Trắng (Xã Hòa Điền, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang)

Nhà thờ Cờ Trắng, thuộc Ấp Cờ Trắng, Xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương. Hình: Ân Nguyễn, 2018.

Nhắc đến Cản Cờ Trắng gợi nhớ cho tôi nhiều ký ức. Chuyện thời này rất nhiều điều để kể…

Đùng một cái, nhà tôi chuyển đi Kinh Tế Mới (KTM), nghe đâu Vĩnh Thuận Gò Quao… Ba tôi nhẫn nại chuẩn bị tất cả cho việc phải đi xa mà bỏ lại tất cả. Ông vá lại chiếc chài, lấp rò chiếc xuồng lườn, chuẩn bị các nông cụ cầm tay như cuốc cào, leng xuỗng, dao mác..v.v.. Công việc cuối cùng là ông triệt hạ vườn chuối đang thu hoạch để lấy các thân cây chuối lót đường đá, để đẩy chiếc xuồng lườn đã lấp rò cẩn thận trượt trên đó mà đẩy ra tỉnh lộ 80 trước Đình Thần Hoàng vì nó nặng quá không thể khiêng nổi.

Ngày lên đường cũng đã đến, sáng sớm thì có chiếc xe GMC loại 10 bánh đã đậu trước sân Đình, chúng tôi lục tục đưa đồ đạc lên xe, ba cha con chúng tôi cùng cả xóm buồn bã đẩy chiếc xuồng trượt trên đám thân chuối để đưa chiếc xuồng lên xe tải… Tất cả đã xong và đã quá buổi trưa, xe nổ máy và chúng tôi chuẩn bị lên đường thì mọi người chợt phát hiện chỉ có bầy con nít 8 đứa cùng đống đồ trên xe và chiếc xuồng to bự mà không thấy cha mẹ chúng đâu? Tài xế cáu gắt, nhưng không thể bắt chúng đi mà không có cha mẹ nên ông đã phải tắt máy đợi chờ…

Chiều xế má tôi hớn hở cầm trên tay cái tờ quyết định đồng ý cho gia đình tôi ở lại (mà má tôi cẩn thận chờ cấp cho được tờ giấy nầy rồi mới về nhà…), theo sau là ba tôi. Má tôi đã đi từ sớm và không cơm nước gì cả để có được cái “quyết định” này, còn ba tôi lánh mặt để chờ kết quả từ má tôi. Lại cả xóm phụ đưa đồ xuống, lại đẩy chiếc xuồng trượt trên đống thân cây chuối giờ đã nát nhừ để đưa nó trở về với bến sông của nó, chỉ tội cái vườn chuối Xiêm giờ tan nát…

Má tôi luôn mạnh mẽ để bảo vệ hiệu quả gia đình của mình. Lần này bà đã  tính được việc cho cả gia đình chúng tôi, các anh em chúng tôi không lỡ dở chuyện học hành và  ba tôi thì giữ được cuộc đất của tổ phụ. Trong mắt chúng tôi bà thật sự là một “bà mẹ anh hùng ».

Nhưng, cái gì cũng có giá của nó. Chúng tôi phải dời căn nhà khỏi miếng đất của mình vì có «quy hoạch» của làng xã… Đến lúc ba tôi “ra tay”, bằng những mối liên hệ quen biết trước đó mấy mươi năm với bà con chòm xóm khi ông còn là con dân vùng Rạch Vược này, ông đã xin mượn được một chỗ để dựng tiếp một căn nhà lá cách Đình Thuận Yên về hướng Mũi Giông chừng 700 mét, xa căn nhà cũ hơn một kí lô mét…

Nơi ở đó cũng tiện, má tôi dạy học và chúng tôi đều học ở trường Rạch Núi, và đi về đất Đình để săn sóc ruộng vườn cũng gần. Ngày cất nhà cả xóm Rạch Vược quay quần giúp ba tôi rất vui, căn nhà này rộng rãi hơn, khang trang hơn căn ở Đình vì giờ chúng tôi có xuồng để đi đốn tràm, đốn lá về cất nhà mà không tốn tiền mua gì ngoài đinh và dây kẽm… Các chú các bác đùa rằng ba tôi là người “giàu” và “chơi đẹp” nhất xã Thuận Yên vì đất nhà thì cho người khác ở còn mình đi nơi khác ở và một năm cất hai căn nhà!

…. Bắt đầu từ giai đoạn này chúng tôi có điều kiện “khám phá” một vùng đất mới, đó là vùng đất bên trái con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên hướng về Núi Trầu. Vùng đất Trà Phô – Trần Thệ – Phú Mỹ – Trà Ten – Lò Bôm… Một thời gian dài chúng tôi chèo xuồng đi và về suốt trên độ dài của đoạn kênh gần 10 km này từ ngã ba kênh Rạch Vược đến sát Cản Cờ Trắng, nên tôi rất rõ về các dòng kênh này vào dạo ấy…

Quang Nguyên    

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần E)

 

 

Trương Thanh Hào (Hồ Thị Kim Hoàn)

Trương Thanh Hào

Anh là người bạn thân thiết của tôi suốt 55 năm dài. Chúng tôi học chung từ lớp đệ thất dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. 

Em trai anh là Trương Thanh Hùng cùng học chung lớp, nên chúng tôi quen gọi anh là “Hia Hào” theo như cách gọi của Hùng. Không nhớ tôi thân với anh từ lúc nào, chỉ nhớ mỗi khi anh có tiền, anh hay ghé nhà tôi và rủ:

– Kim Hoàn, đi quán Ti La ăn kem, hia mời! 

Thường thì có thêm vài người bạn nữa, chúng tôi tụ họp nhau tán gẫu, nghe nhạc ngoài sân quán Ti La êm đềm dịu mát về đêm.

Tôi nghĩ tôi… đặc biệt đối với anh lắm, vì khi làm bích báo của lớp, anh lấy bút hiệu là “Hồ thị Mường Kha” khiến bạn bè tưởng người viết là tôi. Chuyện tôi nhớ nhiều trong thời ấy là có vài lần đi chơi với các bạn, để tránh không đi chung xe với một người bạn đang “theo đuổi” mình, tôi cứ leo lên xe đạp của hia Hào, để hia chở tôi là xong.

Năm năm học chung, gặp gỡ nhau hàng ngày có biết bao kỷ niệm để nhớ. Rồi cuộc hội ngộ nào cũng đến lúc chia tay. Tôi lên Sài Gòn học, anh cũng rời xa quê, chỉ còn gặp nhau mỗi năm 2 lần, vào dịp nghỉ hè và Tết. 

Sau 1975, cuộc sống đổi thay, chúng tôi mất liên lạc với nhau. Rồi “Áo tím ngày xưa đi lấy chồng”. Tôi bước xuống cuộc đời lúc 20 tuổi, không tiền bạc, không nghề nghiệp. Tôi và anh Xuân, đôi vợ chồng trẻ làm đủ thứ việc vẫn nghèo xác xơ. Công việc ổn định và tạm đủ sống của chúng tôi là cái xe đẩy bán nước rau má và sữa đậu nành. Địa điểm tôi và chàng chọn là trước cổng trường “Đại Học Khoa Học” gần nhà, ngôi trường xưa nơi chúng tôi gặp gỡ, quen nhau và yêu nhau. 

Một ngày năm 1976, có người khách dừng xe ghé lại, “cô hàng nước” nhìn lên, sững sờ bắt gặp một khuôn mặt thân quen. Là hia Hào đó ư?

– Kim Hoàn, em làm gì ở đây?

– Thì em… bán nước. 

Anh đứng lặng câm nhìn tôi. Ánh mắt ấy mới ngậm ngùi chua xót chi đâu! Tôi hiểu được anh đang nghĩ gì.

– Đừng đau lòng cho em, có việc làm này là tốt lắm rồi. Em bán 1 tuần, bằng lương đi dạy học 1 tháng của bạn Lệ Thủy đó sư huynh ạ!

Chúng tôi hẹn gặp nhau ở nhà người cô của anh. Tôi vẫn còn thói quen mặc áo dài mỗi khi ra đường, nhưng tôi không đi một mình nữa, tôi đã có chồng luôn cùng đi chung lối với tôi. Hình như anh Hào ngạc nhiên hơn lúc gặp tôi “bán nước”. Anh đã nở nụ cười vui tươi:

– Tưởng đâu “Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây”, nhưng hia đã thấy lại được cô tiểu thư của ngày nào! Đúng là em gái đây rồi!

Chúng tôi kể nhau nghe chuyện bây giờ, nhắc chuyện ngày xưa, kể hoài không hết chuyện!

Rồi anh rời Sài Gòn, rồi chúng tôi không gặp nhau nữa. Tôi cứ ngỡ đó là lần cuối cùng tôi gặp anh. Vì tôi theo gia đình vượt biên đến Mỹ năm 1978. Xa nhau nửa vòng trái đất. Tôi tất bật lo cuộc sống mới, lo gia đình, con cái… Lúc ấy cũng chưa có phương tiện để liên lạc với bạn bè, bao kỷ niệm tuổi hoa niên nằm yên trong ký ức.

Mãi đến 30 năm sau chúng tôi mới có tin nhau. Anh nói anh không ngừng hỏi thăm tin tức của tôi, nhưng vẫn… bóng chim tăm cá. Cuối cùng anh gặp được Lệ Thủy, và 3 đứa đã gặp nhau trên đất Mỹ này, lúc 3 mái đầu xanh đã đổi thay màu.

Nhớ lần đầu gặp lại, tôi theo thói quen của người Mỹ chạy a đến ôm chầm lấy anh, anh giật mình lẫn bất ngờ nên đứng chết trân tại chỗ. Xúc động bồi hồi, chúng tôi muốn khóc. 

Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH

Năm sau tới Mỹ, anh đã tự nhiên hơn, và tự nhiên tột cùng khi chia tay về lại quê nhà, anh còn ôm tôi và hôn lên trán. Chỉ vì lần nào gặp gỡ, chúng tôi cũng xem là lần cuối cùng. Đứa nào cũng tới tuổi ra đi, có gì mà không dám tỏ bày. Còn với anh Xuân thì sao? Chao ơi, Hia còn ôm anh ấy nồng nàn thắm thiết, ôm lâu còn hơn ôm đứa em gái này!.. hihi…

Bạn bè có thể có cả ngàn người, nhưng chưa chắc tìm được 1 bạn thân. Còn tôi bạn không nhiều, nhưng có mấy người bạn thân thiết, mang tới cho tôi biết bao niềm vui, có thể chia sẻ bất cứ chuyện gì, có thể lắng nghe, hiểu và cảm thông nhau. Tôi xem đó là một đặc ân của Thượng Đế mà tôi diễm phúc nhận được. Ôi tình tri kỷ quả tuyệt vời!

Cảm ơn hia Hào đã luôn chiều chuộng và thương yêu em, hia chưa từng từ chối em điều gì, từ lúc bé cho đến khi em già thế này, hia vẫn luôn xem em là đứa em gái nhỏ!

Hồ Thị Kim Hoàn, Mars – 2021

Trương Thanh Hào, Hồ Thị KIm Hoàn và anh Xuân (phu quân của Kim Hoàn). Hình: HTKH

Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH

Trang Lệ Thủy, Trương Thanh Hào và Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần C-Chị em Rạch Vược-Cái Tắt (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, qua hai phần viết trước đây, ta đã được tác giả Quang Nguyên hướng dẫn đến các địa điểm: Rạch Vược thuộc xã Thuận Yên (Hà Tiên) và con đường từ những năm xa xưa đi từ Hòn Chông về Hà Tiên, qua các địa danh Bãi Ớt, Hòn Heo, Thuận Yên và Tô Châu mà trên con đường nầy ta đã tình cờ đặt chân lên nhiều nơi có liên quan đến vài cảnh đẹp của Hà Tiên ngày xưa…(đó là cảnh « Châu Nham Lạc Lộ » ở Bãi Ớt, cảnh « Lư Khê Ngư Bạc » ở Rạch Vược và cảnh « Nam Phố Trừng Ba » ở bờ biển nơi hai ngọn núi Tô Châu kết thúc. Trong phần II nầy, tác giả sẽ bày tỏ cho chúng ta biết một cách rỏ ràng lối đi dòng chảy của con rạch mang tên Rạch Vược (hay Rạch Núi hay kênh Núi Nhọn): Ngày xưa thì con rạch nầy thông ra biển nơi gần Mũi Gành, sau đó đoạn rạch nầy đã bị lấp đi để làm đường lộ liên tỉnh (1943), con rạch uốn khúc trong phần đất thuộc vùng quê cha đất tổ của tác giả và sau đó chia làm hai nhánh tại ngả ba gọi là Ngả Ba Vàm Cui (Giồng Cui) để rẽ trái thành con rạch mang tên Rạch Cái Tắt đi luôn xuyên qua kênh Hà Tiên-Rạch Giá tạo thành ngả tư mang tên Ngả Tư Đèn Đỏ, nhánh kia còn quyến luyến đất quê nhà nên quay lại uốn éo cập về Núi Nhọn trước khi đi thẳng ra nhập vào con kênh đào Hà Tiên-Rạch Giá mà nếu ta đi theo con kênh nầy một khúc nữa theo phía Hòa Điền thì sẽ tới « Cản Cờ Trắng »… Nếu thầy cô và các bạn có đọc các quyển sách nghiên cứu về Hà Tiên của học giả Trương Minh Đạt thì sẽ hiểu rỏ vì sao ngày xưa muốn đi từ Hà Tiên sang Rạch Vược (Thuận Yên) để câu cá như lối hưởng nhàn của thi sĩ Mạc Thiên Tích thì chỉ có hai cách đi: trước hết phải mua một chiếc xuồng (ghe) giống như trong bài dưới đây Quang Nguyên có kể cho chúng ta việc đi mua xuồng nầy, sau đó nếu có gan thì dùng xuồng đó chèo ra cửa biển Hà Tiên, rồi quẹo trái hướng về Nam Phố, nhắm Mũi Gành tiến tới thì sẽ thấy cửa vào Rạch Vược sau Mũi Gành, mình nói có gan vì đi kiểu nầy sẽ gặp chút đỉnh sóng gió (bởi vậy ông Mạc Thiên Tích mới đặt tên cho bài thơ của ông là « Nam Phố Trừng Ba »…!!), còn nếu muốn đi một cách an nhiên tự tại thì chèo ghe đó về phía Đông Hồ rồi quẹo phải nhập vào đầu kênh Hà Tiên-Rạch Giá, chèo một khúc thì sẽ gặp « Ngả Tư Đèn Đỏ » là quẹo phải luôn đi vào con rạch Cái Tát chèo luôn đến Ngả Ba Vàm Cui thì quẹo nhẹ bên phải nữa thì vào Rạch Vược…Chính thật trên dưới 240 năm sau khi ông Mạc Thiên Tích đã dùng con đường thủy nầy đi Rạch Vược câu cá mà hai cha con tác giả Quang Nguyên cũng đi đường thủy nầy đem chiếc xuồng « lườn » về để chở lá dừa nước cất nhà. Đó là câu chuyện bên dòng Rạch Vược mà nếu thầy cô và các bạn muốn vừa tìm hiểu địa lý vùng nầy vừa nôn nao để biết sinh hoạt trong những năm gặp khó khăn của gia đình Quang Nguyên ra sao, mời thầy cô và các bạn đọc bài tiếp theo dưới đây, câu chuyện rất hay đầy tính chất đồng quê theo kiểu « miền đồng bằng sông Cửu Long » tuy không kém phần thực tế đầy gian nan trắc trở của một thời kỳ mà không ít những gia đình « bên nầy » phải dùng tay chân của mình để còn được tồn tại với xã hội…(Trần Văn Mãnh viết lời dẫn, Paris 21/03/2021).

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

Phần trước là tôi viết về “Tàn Tích Lư Khê” và “Đường Hòn Chông’ đầy hoài niệm, giờ tôi viết tiếp về “Dòng Rạch Vược”. Nghe hơi kỳ kỳ? Bởi Lư Khê là Rạch Vược mà? Ồ! Các bạn không sai, nhưng chậm lại một chút để tôi nói rõ ý của mình: Lư Khê là tên “chữ nghĩa” mà người xưa dùng, nó được “đóng đinh” với thập cảnh danh tiếng của Hà Tiên, còn trong phần này tôi chỉ nói về con rạch “thuần nôm” mang tên Rạch Vược, nơi quê cha đất tổ, nơi tôi đã ở đây khi còn nhỏ, và là nơi tôi đã có những năm tháng đầy ắp kỷ niệm cơ cực của một quãng đời tạm bợ tiếp diễn, dẫu rất ngắn ngủi nhưng mình phải liên tục chiến đấu chống đỡ với vô vàn khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, mà nếu quên những năm tháng cơ cực đó tôi sẽ là kẻ phản bội “bắn vào quá khứ”của mình…

Khi bạn đi vào con đường bên hông Đình Thuận Yên để vào các khu vườn bên trong sau mõm núi Đồn là bạn đang đi trên phần đất của ông bà tôi để lại… Cái nền Đình Thuận Yên là của bà nội tôi hiến tặng làng xã xưa kia xây dựng Đình Thần Hoàng để bà con có nơi cúng Kỳ Yên, còn ngôi chợ Thuận Yên là cha tôi noi gương ông bà nội mà hiến đất cho dân chúng có nơi họp chợ vào năm 1995, từ đó có một nơi gọi là “Chợ Thuận Yên” hoàn chỉnh, được nằm gọn trong “cục đất thịt” gần 1000 mét vuông mà mấy cha con gia đình tôi bao năm cày cấy; chứ trước đó dân làng tự họp “chợ chồm hổm” rồi mua bán ở ven lộ, hay ven bờ biển….

Trên con đường nhỏ bên hông Đình này đi sâu chừng 200 mét bạn sẽ thấy dòng Rạch Vược tiệm cận với con đường sau một khúc uốn lượn, đoạn tiệm cận kéo dài trăm mét để đến Doi đã nói ở phần trên. Đến đây, dòng Rạch Vược từ giã con đường vườn mà cong sang hướng khác…

Ba bức ảnh làm thành tựa bài : »Từ những bức ảnh trăm năm ». Hình trên: « HATIEN: Pont de Rach-Vuoc (Thuan Yen), 3km500 du chef-lieu. 1920-1930 » (Cầu Rạch Vược, Thuận Yên, cách Hà Tiên 3,5 km). Hình giữa và dưới: « Cochinchine, HATIEN: Route de Hon Chong 1902-1901 ». Ba tấm hình nầy đều được chụp cùng một quang cảnh, đó là Rạch Vược với chiếc cầu sắt. Hình sưu tầm.

Đến đây ký ức ùa về khiến tôi phải kể sang một câu chuyện khác về Doi:

Con đường mòn này chẻ hai tại đây, nhánh trái vào các khu vườn của cư dân Thuận Yên, nhánh phải cũng băng ngang các khu vườn mà thẳng tiến đến Núi Nhọn. Nếu ai đã là cư dân Hà Tiên chạy giặc qua đây trong khoảng thời gian từ 1977 sẽ biết rằng Đình Thần Hoàng là khu vực quần cư của rất đông người tị nạn, ba tôi đã cho rất nhiều có đến mấy chục hộ ở tạm trên đất nhà vì chiến tranh loạn lạc thì sự thống khổ là như nhau.

Một cái chợ “chồm hổm” (đã nói trên) hình thành trên con lộ 80 trước đình Thuận Yên kéo dài xuống cái cống Lộ Đứt, hàng ngày chính quyền xã phải đưa quân xuống dẹp chợ để giữ trật tự, mà dẹp đi đâu khi người dân không có cái chợ mà lại rất cần? Cho nên cũng dẹp, cũng bắt bớ, cũng tịch thu, cũng chế tài… Nhưng, mèo vẫn hoàn mèo. Cái chợ này của bao gia đình và cũng là nguồn sống tạm bợ của gia đình chúng tôi, hàng ngày hai anh em chúng tôi sau khi thu xếp xong các việc học hành đồng áng là lấy chiếc xe cây (mà trước đó dùng để xe nước mướn ở Hà Tiên) để mang hàng hóa mà các xe đò bỏ xuống bằng cách đẩy tay về nhà theo yêu cầu của người thuê. Phải nói là chúng tôi trở thành trụ cột của gia đình rất sớm từ ngay khi 10 tuổi, vì ba tôi sau khi đi “học tập” về khó có thể làm việc gì chính thức hoặc ổn định; cứ vài ba tháng ông lại phải đi “ôn tập tập trung” một thời gian, nên lúc có thể ba tôi sắp xếp công việc gì cho gia đình là sau đó “hai thằng đàn ông nhí” tiếp tục đảm trách; má tôi thì cố gắng dạy học thật tốt để ba tôi “trong ấy” được điểm cộng… Ôi! Cái chuyện thời cuộc thiệt là dài và nhiều đoạn nhiêu khê lắm. Mà thôi, chuyện đó để khi khác!

…Người di tản về đây đông lắm, chưa bao giờ trong suốt lịch sử thành hình đất Rạch Vược mà có nhiều dân quần tụ nơi đây như khi ấy, họ tràn xuống biển và kéo dài qua cả núi Đồn để ở … Phát sinh vấn đề cơ bản là nước ngọt để uống vì người ta chưa chuẩn bị cho tình huống này. Mà hay lắm kia, các căn nhà sát dưới biển họ chỉ cần đào một cái lỗ rồi đặt cái thùng phuy cắt đáy xuống là có nước trong vắt để sử dụng, những hộ ngoài biển đối diện núi Đồn thì nước ngọt hơn và uống được hẳn hòi. Vậy đó nhưng vẫn chưa đủ cho người dùng, lại có thêm các giếng nước ngọt rất xưa của người kỳ cựu của Rạch Vược cung ứng. Trong các giếng này, phải kể đến giếng nước ngay sau Đình Thần Hoàng của nội tôi mà mùa kiệt nước cả xóm phải xếp hàng vét từng ca nước mọi, được cái nước ra hoài quanh năm suốt tháng. Đi sâu vào trong đường vườn thì có giếng bà Hai Ánh nổi tiếng là “ngon” nhất, ao vườn hay các giếng trong vườn của anh Hai Lý, anh Tư Cẩn, ông Ba Len, ông Năm Tốt … đều cung cấp cho dân dùng, sở dĩ tôi biết rõ vì bản thân tôi phải đi gánh nước, tôi gánh cũng “dịu dàng” lắm, cũng đòng đưa thả lỏng vai và cánh tay đánh theo nhịp võng của đôi thùng nước hai đầu, để nước không sóng sánh văng ra và để bước đi của mình nhẹ nhàng khoan thai hơn… Chỉ mỗi chuyện nước uống được sẵn sàng sẻ chia trong bao nhiêu sự giúp đỡ của cư dân kỳ cựu, đã nói lên rằng tinh thần tương trợ của người dân Rạch Vược thật tuyệt vời, lưu dân tứ xứ về đây được tiếp đón khác nào người bản địa?

Sau khi “từ giã” Doi, thì dòng Rạch Vược chảy thẳng đến “Vàm Cui” mà trước khi chính thức đến Vàm Cui nó còn kịp làm một cái ngoặc ẹo khác như một cô gái dỗi hờn, đoạn này không biết nay ra sao chứ trong thập niên 70 – 80 thì hai bên đều toàn dừa nước, thỉnh thoảng phía bên trái con rạch (hướng về Vàm Cui) ta thấy ẩn hiện một con đường mòn. Đó là con đường sau trường Rạch Núi, vòng sau núi Thanh Hòa, và đi riết nó sẽ trổ ra sau lưng Trung Tâm và vùng đất đầm lầy rừng lá vùng Ngã Tư kênh xáng Hà Tiên Rạch Giá, sau lưng núi Đại Tô Châu rồi cuối cùng là vùng Thất Cao Đài giữa vùng núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu… Con đường này rất nhỏ, năm xưa chỉ là con đường mòn người đi, những năm đói kém anh em chúng tôi đã “hành quân” trên những con đường này với cái chài lưới trên tay để kiếm cá kiếm tép trong mấy con mương nho nhỏ dẫn nước từ sông rạch vào. Cũng có những ngày chúng tôi vác dao vắt búa đi kiếm củi khô hay củi tươi về đun nấu (bởi “lò đã nóng, củi tươi cũng cháy”!). Cũng bằng con đường này chúng tôi đã đi “khám phá” các ngọn núi chung quanh Thuận Yên và Tô Châu mà khi về thế nào cũng đầy ắp sản vật thiên nhiên mà má tôi không phải kiếm tiền để mua từ chợ; và cũng chính vì “từng trải” vậy mà hôm nay tôi mới có thể kể lể dài dòng về cuộc đất chung quanh Rạch Vược này.

Vàm Cui, chỗ này năm xưa được mở rộng ra vì đó là ngã ba của hai con kênh tự nhiên là kênh Rạch Vược và kênh Cái Tắt. Dòng Cái Tắt nằm bên trái của Rạch Vược từ Doi ra, nước chảy mạnh ngoằn ngoèo rồi đổ ra Ngã Tư Đèn Đỏ, còn Rạch Vược sau khi gặp Cái Tắt nó làm một việc thuận theo ý tự nhiên và công bằng của tạo hóa, là vay (hay trả) một phần nước của Cái Tắt rồi nó đi tiếp qua Núi Nhọn… Ngay ngã ba này có một vùng đất giồng cao phía trên có mấy cây dừa cổ, đất đai mầu mỡ canh tác được gọi là Giồng Cui.  Bởi thế, nếu tại địa điểm này nếu có người nào đó gọi là Vàm Cui, thì sẽ có kẻ lớn tiếng cãi lại: “là Giồng Cui!”, rất tiếc là cả hai đều… đúng! Vì dưới nước có “vàm”, còn trên có “giồng”, cả thảy đều mang tên “Cui”. Còn tại sao mang tên “Cui” thì tôi không biết.

Hai con kênh chị em Cái Tắt và Rạch Vược đều uống chung một nguồn nước Đông Hồ và kênh xáng (Rạch giá- Hà Tiên) mà khác nhau đến lạ. Em Cái Tắt thì hẹp hơn chút nhưng nước sâu hơn, màu nước nâu hơn, dòng chảy mãnh liệt hơn, ít cong cớn làm dáng hơn, tính tình dứt khoát nhanh nhẹn, đi một phát là cô em ra tới Ngã Tư Đèn Đỏ. Cô chị Rạch Vược thì thướt tha, chảy êm đềm, quanh co uốn lượn… Phải nói là khi bắt đầu từ biển vào là chị đã vờn cái mũi của anh Gành (Mũi Gành) rồi liếc mắt với anh Núi Đồn, đi song hành cùng anh Thanh Hòa. Chị chàng tiếp tục ve vãn anh Núi Nhọn riết rồi mang danh kênh Núi Nhọn luôn như mặc nhiên công nhận chị là của anh ấy! Ấy vậy mà không biết cách nào đó chị còn dòm ngó anh Núi Đồng? Cho nên chị ấy bị anh Nhọn lo sợ ôm sát vào còn anh Đồng thì với tay níu kéo. Để vừa lòng cả hai chị đã nhận chút nước của anh Nhọn, tí phèn của anh Đồng làm cho đoạn này của chị phình to ra đồng thời dòng nước đã đổi màu xanh ngọc rất lạ… Bởi cái tính đòng đưa và đặc biệt chuyên xàng xê với mấy anh núi mà người dân xưa của xứ này còn chốt danh chị là “Rạch Núi”. Chị đỏng đa đỏng đảnh, nhỏng nhảnh nhởn nhơ, vừa đi vừa làm thơ, lơ ngơ lạc lối, đi đến tối rồi cũng trổ ra kênh đào Hà Tiên Rạch Giá mà ở hướng Cản Cờ Trắng, cách nàng em Cái Tắt hơn hai cây số ngày nào cũng đứng chờ từ sáng đến đêm ở Ngã Tư Đèn Đỏ…

Kể từ đó chị có quá nhiều tên mà tên nào cũng là chị: Rạch Vược, Rạch Núi, kênh Núi Nhọn.

Sơ đồ vùng xã Thuận Yên (Hà Tiên) nơi có dòng Rạch Vược chủ đề của bài viết. 1/ Núi Tiểu Tô Châu. 2/ Núi Đại Tô Châu. 3/ Núi Thanh Hòa Tự. 4/ Núi Đồn. 5/ Núi Nhọn. 6/ Núi Đồng. 7/ Rạch Cái Tắt. 8/ Rạch Vược. 9/ Mũi Gành, chùa Sơn Hải. 10/ Ngả Ba Vàm Cui, Giồng Cui. 11/ Ngả Tư Đèn Đỏ. 12/ Kênh Hà Tiên-Rạch Giá

Sơ đồ vùng xã Thuận Yên (Hà Tiên) nơi có dòng Rạch Vược. 1/ Chợ Thuận Yên. 2/ Đình Thần Thành Hoàng. 3/ Núi Đồn. 4/ Ngả Ba Vàm Cui, Giồng Cui. 5/ Chùa Sơn Hải. 6/ Núi Thanh Hòa Tự.

Chùa Sơn hải thuộc Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên (Hà Tiên). Hình: Khanh Lam, 2015

Tôi còn nhớ rõ vào năm 1977, khi chiến tranh biên giới nổ ra, Hà Tiên sơ tán, gia đình tôi chạy về Thuận Yên nơi miếng đất của tổ phụ phía sau Đình, cách Doi chừng trăm mét. Việc đầu tiên là ba tôi cất căn nhà nhỏ bằng lá dừa nước trên nên đất của căn nhà cũ của nội xưa kia. Nhà không có tiền nên ba tôi chỉ mua được một phần cây tràm đủ làm hai mái nhà mà không có vách, căn nhà nhỏ xíu lối 30 mét vuông, chỉ kê giường chõng tre mà cả nhà 10 người lăn lốc trên đó trong một thời gian ngắn.

Lá dừa nước lợp nhà tạm thời được đốn từ các bụi dừa nước mọc dại sau nhà nên không đủ đâu vào đâu, nhà có sác lá khá rộng nhưng nằm ở Vàm Cui, ba cha con đi đốn rất nhiều lá nhưng không có phương tiện đưa về… Ba tôi mới nghĩ cách, và rồi ông mượn tiền đi kiếm mua được một chiếc xuồng “lườn”, là loại độc mộc lên hai be, dài chừng hơn 7 mét, chỗ rộng bụng chừng 1,5 mét và dùng chèo chiếc để chèo, nó khá to cho cả hai là xuồng và chèo, làm chủ được cây chèo to và điều khiển được chiếc xuồng lườn nặng này không phải là chuyện đơn giản. Đây là chiếc xuồng chuyên đi thăm đáy của ai đó ở Cầu Câu, nó được dùng ở cửa biển Hà Tiên chịu được với sóng to và dữ. Cái ngày đi lấy chiếc xuồng có ba và tôi, tôi thật ngưỡng mộ ông khi loay hoay quay vài vòng với chiếc xuồng nặng nề mà rồi ông cũng làm chủ được nó, tôi hỏi ông “sao ba biết chèo vậy?” ông trả lời rằng “ông nội dạy!”. Ông đã nhanh chóng chấp nhận sự thay đổi của cuộc đời để bước sang một phần đời khác đầy gian nan, mà cho đến ngày hôm ấy ông cũng như mọi người trong hoàn cảnh của ông chưa ai biết trước được cái gì chờ đợi mình phía trước! Chỉ mới 11 tuổi thôi mà tôi ngày hôm ấy đã học được thêm bài học đương đầu với nghịch cảnh từ ba tôi “gặp thời thế, thế thời phải thế” đó. Cũng như vừa hơn một năm trước đó thôi tôi cũng đã học những cách mà má tôi phải chèo chống con thuyền gia đình chở tám đứa con vượt sóng dữ cuộc đời khi ba tôi còn “ở trỏng”.

Bài học đó là: Ý Chí Vượt Khó.

Cuối cùng, ông cũng làm chủ được chiếc thuyền đưa cái mũi của nó chậm chạp chồm chồm trên sóng mà thẳng tiến vượt đầm Đông Hồ hướng về Rạch Vược. Ông chèo rất nhịp nhàng, bước tới bước lui khoan thai, cây chèo bản to gần một gang tay, dài hơn 3 mét nó gọn gàng trong từng bước tới đẩy xoáy, bước lui rẽ nước, khiến cho tốc độ ngày càng được cải thiện… Sau khi vượt Đông Hồ là vào dòng kênh xáng, dòng kênh xáng này trước khi đến Ngã Tư Đèn Đỏ đã làm ta khó định vị, bởi bờ trái (là phía Cừ Đứt) nước luôn tràn ngập, cứ men theo bờ phải với rừng dừa nước cặp bên Thất Cao Đài có cái biên với mép nước thẳng tưng mà đi thì đó là lòng sâu của dòng kinh xáng.

Rẽ phải ngay cái ngã tư thủy lộ là ta vào rạch Cái Tắt, con rạch này cũng loanh quanh bởi nó là con rạch tự nhiên, đi thêm một chút là ba tôi chỉ cho biết cái “sác lá” của nội để lại, cũng khá rộng và đầy dừa nước, nó kéo dài đến ngay ngã ba Vàm Cui và còn quanh qua Rạch Núi một đoạn về Núi nhọn… Trong những ngày tháng đó chúng tôi thường vào đây để đốn là dừa nước, xé soàng soạt tàu dừa làm hai đều đặn rồi bó lại thành từng chục tàu với hai cái bề gáy phô ra thẳng thóm, lấy “cù bắp” là ngọn chưa nở lá, xé ra rồi dung mũi dao để tách sống lá còn non để lấy “lạt” buộc, sau đó phải “lòi” lá đã bó ra bờ rạch từ sâu trong sác lá, nơi không có chút ánh nắng lọt vào, muỗi thì quơ cả nắm, bùn thì ngang đầu gối, còn các bọp dừa chĩa tứ tung ngang dọc… Công việc gian nan vô cùng mà không mấy chốc mấy cha con chúng tôi nhuần nhuyễn như những người đổ lá chuyên nghiệp.

Và sau ngày ấy ba tôi cất xong cái nhà sơ tán bằng lá dừa nước trên cái nền nhà năm mươi năm trước đó của ông bà tôi…

Các con rạch Cái Tắt và Rạch Vược ngày ấy có nhiều sản vật, nó đã cung cấp cho chúng tôi bao nhiêu là món ăn không tốn chút tiền chợ cho nhà mười miệng ăn…

Mùa mưa là mùa của con ốc len, chỉ cần vào đầu mùa mưa chừng mươi ngày là bạn có thể thưởng thức được món “ốc len kèn dừa” trứ danh của người Hà Tiên, nấu phải có chút sả chút nghệ, nước cốt dừa, cùng trái đu đủ “mỏ vịt” … Con ốc len chỉ được bắt những con đang leo lên bọp hoặc tàu dừa nước, tuyệt đối không bắt con đang bò dưới đất vì nó sẽ dơ đầy cát và… Mà thôi! Ăn chi cho khổ vậy? Cứ lựa các con mập to leo cây mà bắt ăn cho ngon!

Các bạn có biết “hội ba khía”? Tôi chắc không mấy người biết ngoài những con dân vùng rừng sác. Tôi không nhớ rõ tháng mấy ở Rạch Núi và Cái Tắt có ba khía hội, nhưng phải nói là ba khía nhiều vô kể vào đêm đó. Kể cũng lạ, chuyện yêu đương của chúng cũng không thể vào thanh thiên bạch nhật. Vào đêm 30 âm lịch của một mùa trong năm, các chàng các nàng ba khía tìm kiếm nửa kia của minh, việc lãng mạn đó cần nhanh chóng trước khi trời sáng nên chúng “tranh thủ” lắm, chúng có thể hẹn thề trên bọp dừa, dưới bãi bùn, trong bụi ô rô gai góc, trên rễ cây đước chằng chịt… Đã phải tranh thủ mà chắc nhiều khó khăn, có lẽ chúng phải nói với nhau rất nhiều câu yêu đương tỏ tình mới đốn ngã đối tượng hay sao ấy vì tên nào cũng sùi bọt mép? Chúng ta chỉ việc lấy cái can 30 lít cắt lỗ miệng, một cây đuốc dầu để soi, ba khía thấy đèn sẽ đứng yên hoặc giương càng, thấy nó dữ dằn vậy chứ bạn đừng ngại, cứ chụp nhanh một phát, bảo đảm nó sẽ không kịp làm gì bạn vì nó còn đang ngây ngất hương tình, còn sợ bị kẹp thì bạn chỉ cần trang bị thêm một đôi bao tay vải… Một đêm một người chuyên nghiệp có thể bắt hai đến ba thùng 30 lít đó. Đương nhiên ngày thường cũng bắt được ba khía nhưng ít hơn.

Ven các con rạch chúng ta còn bắt được con vọp, người bắt vọp chỉ việc đeo một cái giỏ rồi men theo bờ nước, đu các nhánh dừa nước và đạp xuống bùn chung quanh các gốc dừa nước nếu thấy cộm tròn lòng bàn chân thì chắc mẫm bạn đã bắt được con vọp. Đi trong sác lá bạn cũng có thể bắt được vọp. Bạn có bao giờ nghe tiếng kêu của nó chưa? Giật nẩy cả người nếu bạn đang ở trong rừng sác âm u mà nghe những tiếng to, rõ, vang xa “Cốp…Cốp”, đó là tiếng vọp mở miệng. Vọp Rạch Vược ngon ngọt, thịt không ngon bằng nghêu nhưng được cái thịt rất đầy và to, có con nguyên vỏ to bằng cái chén ăn cơm thì thịt của nó đầy cả vá canh (giờ thì không thể có), bạn có thể luộc sơ gỡ thịt rồi nấu canh rau “tạp tàng” mà bạn hái nhặt chung quanh các ngọn núi nơi đây, hoặc bạn có thể nướng mỡ hành với chút đậu phọng rang đập vỡ lộm cộm, hay đơn giản chỉ luộc cho nó há miệng rồi chấm muối tiêu (phải là tiêu Hà Tiên nhé! Bảo đảm cực kỳ ngon!) để thưởng thức trọn vẹn hương vị của nó…

Ngày ấy hàng đêm ba tôi đi chài, kinh nghiệm thời thơ ấu khi ông còn là con của một ngư dân Rạch Vược được ông đem ra “xài’ cho thời cuộc, và ông đã dạy lại cho chúng tôi… Chèo chiếc xuồng lườn dọc con kênh Rạch Vược, có đêm chúng tôi ra đến ngã ba Kênh xáng, ông dạy tôi chèo để ông chài, dù không chuyên nghiệp nhưng ông chài cũng tròn lắm, đủ để bắt được cá tôm để hôm sau nhà tôi có cái ăn… Cơ khổ, ba tôi bị thương hư một mắt trong thời gian chiến tranh, nên việc nhìn ngắm và thăng bằng không tốt, mà chài thì đứng trên mũi thuyền nên ông thường xuyên té xuống kênh, vì thế tôi phải tập chài để thay ba khi ba mệt. Kết quả, tôi là đứa con duy nhất trong tám đứa của ông vừa biết chài vừa biết chèo.

Đi chài đêm tôi mới biết thế nào là “hội đom đóm”, không biết cơ man nào là đom đóm, hàng ngàn con bay chập chờn, hàng vạn con đậu chấp chóa trên các cây bần ven kênh, chỉ đặc biệt là cây bần (các cây giống khác cũng có đom đóm nhưng không hội nhiều bằng cây bần).  Đom đóm bay ví như hàng vạn vì sao trong đêm trong vắt. Đom đóm đậu như vạn ngọn đèn lung linh chớp nháy lộng lẫy một màu trắng xanh nhẹ trên các hàng cây trong đêm Noel… Đó cũng là đêm hẹn hò của chúng, mà cuộc hẹn hò của côn trùng lãng mạn hơn ta hình dung, phải chi các bạn được chứng kiến mới hiểu và cảm nhận được cái cảm xúc làm cho người ta đã phải bật ra mà thốt lên rằng:

“Nước ròng kênh cạn chèo buông
Bần gie đóm hội, anh buồn nhớ em…”

hay là:

“Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên”

“Đóm đeo thủy liễu đôi chùm
Biết ai nhơn đạo chỉ giùm làm ơn”

Con rạch Cái Tắt và Rạch Vược đã để lai trong tôi quá nhiều ký ức đậm sâu mà nhắc lại chuyện bốn mươi lăm năm như mới hôm qua…

Quang Nguyên – 03/2021

Bên dòng Rạch Vược (Thuận Yên, Hà Tiên), bên phải là cây cầu sắt ngày xưa, nay đã biến mất, phía xa bên phải là ngọn núi Đồn. Hình năm 1902 (Sưu tầm)

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần D)

 

 

 

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần B-Đường Hòn Chông (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong bài trước với tựa đề « Từ những bức ảnh trăm năm – Phần A », tác giả Quang Nguyên đã đề cập đến Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc. Với một cách hành văn nhẹ nhàng như kể lại một câu chuyện xưa, tác giả đã định vị được cho người đọc nơi nào là Lư Khê (Rạch Vược) và sự liên quan theo thời gian giữa cảnh xưa và nay. Con rạch mang tên Rạch Vược đã có từ xa xưa thời trước ông Mạc Thiên Tích, một đầu rạch thông ra biển còn một đầu rạch kia thì theo ngả rẽ qua rạch Cái Tắt và thông đến kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Nếu từ Hà Tiên xa xưa muốn đi về Hòn Chông thì phải mượn con đường cặp theo cái rạch nầy mà đi lần dài theo bãi biển và xuống tới Hòn Chông, vì con rạch chắn ngang đường đi nên thời đó có một chiếc cầu bắt qua con rạch. Đến năm 1943, người ta làm đường liên tỉnh lộ 8 (nay là tỉnh lộ 80), và vào năm 1944 chiếc cầu bị phá bỏ, phía đầu thoát ra biển của Rạch Vược đã bị lấp đi…Từ đó nếu khách du ngoạn ngồi trên xe từ Hà Tiên về Rạch Giá,  lúc chạy qua đoạn đường có chùa Sơn Hải, Mũi Gành cho đến thấy ngọn Núi Đồn, thì đã đi qua trên phần tàn tích của « Lư Khê Ngư Bạc »…Hôm nay, để tiếp tục cuộc hành trình về thiên nhiên của một vùng Hà Tiên rộng lớn xa xưa, tác giả viết tiếp cho chúng ta biết được phần con đường từ Rạch Vược đi đến tận Hòn Chông. Nói một cách khác, là người quê quán Hà Tiên, khi đi xa theo việc học hành hay đi làm việc, lúc nào chúng ta cũng có dịp được về thăm quê nhà Hà Tiên, khi ngồi trên chuyến xe đò chạy từ quảng đường Kiên Lương về Hà Tiên, khi đã quẹo phải một góc 90° của khúc đường Ba Hòn thì ta đã bắt đầu được nhìn thấy thiên nhiên êm đềm và xinh đẹp của Hà Tiên…Chính mình đã sống qua hàng trăm lần những chuyến xe về quê như thế, lần nào khi được ngắm nhìn cảnh vật quê nhà, một bên là đồi núi xanh thẩm nhấp nhô, một bên là biển cả xa ra với các ngọn sóng bạc nhẹ nhàng uyển chuyển, lòng mình lúc nào cũng tràn ngập xúc động…Tâm hồn và ý nghĩ hầu như đã hòa nhập vào thiên nhiên đó để làm sống lại một ca khúc trở về với quê hương mà không một quảng đường xa lạ nào khác tạo cho mình cái cảm xúc như vậy…cảm xúc đó là một thứ tình cảm như là bồi hồi, phấn khởi, hồi hộp cũng như ta sắp được gặp lại một người bạn gái năm xưa, tuy đã rất quen thuộc với nhau thuở còn thơ, nhưng lại cũng rất nôn nao chờ được gặp lại để xem « dung nhan » vẫn còn như xưa hay không ?? Và lần nào cũng thế, mỗi khi trở về với Hà Tiên, mình cũng hoàn toàn được thấy « nàng » vẫn còn đó với một dung nhan tuyệt vời rất quen thuộc như những ngày còn với nhau từ xa xưa, vẫn mặn nồng chan chứa với những nét cong tuyệt đẹp của đồi núi, với làn da mát rượi của sóng biển thổi nhẹ nhấp nhô, với cái dáng trải dài của con sông Giang Thành êm đềm không tiếng động và với một bộ áo xanh thẩm của những hàng dừa, những ngọn núi không cao lắm luôn bao bọc che chở….. Đó là những kỷ niệm của mình với Hà Tiên…mà than ôi ngày nay đã không còn nữa vì cũng như trong thơ văn người xưa có nói « Thương hải biến vi tang điền », biển xanh nay đã biến thành ruộng dâu…hay nói đúng hơn, con sông êm đềm không tiếng động ngày xưa nay đã bị lấp dần hai bên bờ và chứa đầy nhà cửa, dinh thự xa hoa…!!! (Trần Văn Mãnh viết lời dẫn, Paris ngày 19/03/2021)

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:  (bạn nào chưa đọc phần A xin bấm vào link đọc)

 B – Đường Hòn Chông:

Các bạn có lạ không khi đường về Hà Tiên đang đi thẳng băng trên con lộ 80 đến Ba Hòn rồi bẻ một cái cua 90 độ muốn văng khỏi ghế? Rồi sau đó phải chỉnh lại cái sống lưng ta mới có thể lái tiếp men theo con đường lộng gió biển quanh co khúc khuỷu, để rồi khi về đến Hà Tiên bạn loạng choạng bước vào nhà vừa đi vừa ói?

Các bạn có lạ không khi bên phải con lộ 80 là một góc của Tứ Giác Long Xuyên mà từ thuở hồng hoang toàn phèn chua cỏ cháy, cớ gì người ta không băng thẳng một con đường về đến Hà Tiên cho đỡ tốn đất, tốn đá, tốn nhựa đường, tốn tiền “đền bù giải tỏa”?

Bởi xưa kia thời ông Mạc Cửu chưa có con đường 80 như bây giờ các bạn đang đi, người dân muốn đi Rạch Giá chỉ có thể đi bằng đường biển mà thôi. Đường bộ thì từ Hà Tiên chỉ có thể đi đến Hòn Chông, mà cũng chỉ có thể men theo bờ biển, họ đi bằng ngựa, hoăc xe ngựa, hoặc đi bộ… Con đường lâu ngày mà thành đó người xưa gọi là “đường Hòn Chông”. Đó cũng là con đường tuần tra, đường hành quân của Mạc Thiên Tích. Đến Hòn Chông, sẽ có con đường khác men theo biển hướng về Rạch Giá, các con đường này năm xưa có thể đến Rạch Giá được không thì quả thật tôi không thể biết. Tuy nhiên, tôi nghe nói rằng con đường Rạch Đùng cũng là một con đường cổ (bắt đầu từ ngã ba thuộc Xã Bình An – Hòn Chông) có thể đi đến Rạch Giá, dù tôi chưa đi bao giờ.

Thời Pháp thuộc, người Pháp đào con kênh Rạch Giá – Hà Tiên để vừa làm thủy lợi phục vụ nông nghiệp, vừa làm giao thông thủy, còn đất của nó “quăng lên” đã làm con đường 80 ta đi bây giờ. Con kênh đào đó đã đi suốt đến Hà Tiên gọi là kênh Rạch Giá – Hà Tiên, con kênh này đến Kiên Lương thì có nhánh đâm thẳng đến Ba Hòn như các bạn đã biết. Con kênh hoàn thành thì con đường 80 cũng hình thành cơ bản song song con kênh, đầu đường 80 chỗ Ba Hòn đã nối vào đường Hòn Chông cổ vốn là “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” (thơ Bà Huyện Thanh Quan), được người Pháp nâng cấp to hơn, chắc chắn hơn.

Đoạn từ Ba Hòn về Hà Tiên từ đó về sau được mặc định là “lộ 80” rồi tên đường Hòn Chông chỉ còn là đoạn từ Ba Hòn vào đến Hòn Chông như hiện nay.

… Bởi “phôi” đường là con đường mòn của người xưa nên nó mới quanh co uốn lượn, nhờ vậy mà đường về Hà Tiên đoạn này rất đẹp, đẹp khó tả… Ai còn nhớ trên lối xưa ta về, vừa quẹo gắt leo lên cây cầu sắt Ba Hòn là thấy bên trái là biển xanh một màu yên ả, nhất là vào mùa đông bắc. Kế cạnh bên trái là một quả núi là một trong ba cái hòn nhỏ toàn đá vôi với những cột nhọn lớn nhỏ chỉa thẳng lên trời, mà bây giờ quả núi đá nhỏ này đã nham nhở gần hết do khai thác đá.

(Nếu các bạn để ý sẽ thấy 100% các ngọn núi đá vôi vùng Kiên Lương – Hòn Chông có các ngọn đá nhọn chỉa lên như chông, mà tất cả các “cây chông” đó ngọn của nó như nghiêng vào đất liền, đó là kết quả của triệu năm bị xâm thực bởi gió biển và nước mưa. Tất cả các núi đá vôi đó đều có chân núi bị nước biển xâm thực tạo thành những hang động ngoằn nghoèo kỳ thú, mà cao độ khoảng xâm thực của các ngọn núi là cao tương đối bằng nhau, bởi hàng triệu năm vùng này bị ngâm chìm trong nước biển, rồi có một kỳ biển thoái đã để lại các hòn đá đảo này lại đất liền…).

Con đường tiếp tục lượn hai ba vòng để ta ngắm nhìn các ruộng muối trắng trước khi đi qua Tà Xăng (hay Tà Săn?), rồi đột nhiên hiện ra giữa đồng trống phía bên phải một hòn đá vôi mồ côi mà dưới hốc chân của nó có một căn nhà lá với miếng đất vườn nho nhỏ xanh ngắt nổi bật giữa vùng đồng phèn vàng võ, bên trái con đường sau khi băng qua khoảng ruộng nhỏ rồi một khoảng đất đầm lầy cạn ngập mặn, là chúng ta đến bãi biển có hàng dừa cao sát mé, vào mùa gió nam các chùm tàu lá trên ngọn được dịp cùng nhau múa hát dập dìu dưới mưa. Tôi còn nhớ những năm thập niên 70-80 chúng tôi còn ra đây « picnic », bắt nghêu sò rất nhiều, mà nay không còn dấu vết chi của hàng dừa này nữa…

Con đường về Hà Tiên tiếp tục với những đoạn đẹp ngẩn ngơ nối tiếp bắt đầu từ cầu Tam Bản mà ngày xưa chỉ là cái cống, trận lũ lịch sử năm 2000 (tôi nhớ vậy không biết đúng không) sau một đêm bọn giặc lũ mượn đường đi, chúng đã tàn ác thổi bay mất cái cống Tam Bản (bởi vậy cha ông ta đã dạy: “tuyệt đối không cho giặc mượn đường!”). Con lộ 80 nằm đè lên con đường Hòn Chông cổ vì thế đã bị đứt một đoạn rộng có đến ba mươi mét, nước chảy qua ào ào cuồn cuộn, mở rộng dòng mương Tam Bản tạo thành một cửa biển mà trước đó chỉ là “dòng nước cống”, cái cống giờ đây đã biến hình thành một cái cầu đúc khang trang và khá bề thế.

(Rồi nữa, tại đoạn cuối con đường cổ là Hòn Chông, nơi có cái Chùa Hang còn gọi là Hải Sơn Tự được người xưa đặt nằm trọn vẹn trong một lòng hang vừa dài vừa rộng. Cái hang này được tạo thành bởi dòng chảy của nước xuyên qua núi đá vôi từ triệu năm trước, khi nơi này còn chìm hoàn toàn trong nước biển. Ngày nay mọi người khi xuyên qua hang có Hải Sơn Tự, cho dù các bạn bực bội vì bị đụng đầu vào vách đá khiến bạn đau đớn, hay bị đàn dơi từ trên trần của hang động tặng vài “vật phẩm thơm tho” khiến bạn đau khổ… Thì mọi cảm giác đó sẽ tan biến khi bất chợt một khung cảnh nên thơ mà hoành tráng đập ngay vào mắt bạn: nền trời thì xanh trong với một vài cụm mây trắng xốp như bông đang treo trên một bãi cát vàng nhạt với các dãi sóng nhẹ nhàng đang “sơn mỏng” lên nó, ngoài kia các quả núi đá vôi lởm chởm như mọc lên từ nước, bên trái cách bờ vài trăm mét là Hòn Phụ Tử – một biểu tượng bất hủ của Hà Tiên… Tất cả đang rớt trọn vào một khung hình với một bố cục hoàn hảo ở mọi góc cạnh, đủ màu sắc của thiên nhiên, tất cả tạo nên một phong cảnh đẹp đến mê mệt đắm đuối… Thế mà, một trong hai cây chông đẹp nhất xứ mình đã bền vững đứng đó hàng triệu năm bất ngờ đổ ầm xuống biển trong đêm 9-8-2006, từ sau đêm ấy biểu tượng chỉ còn là hình tượng…

Đúng là câu chuyện bể dâu. Vạn vật thay đổi ngay trong đời mình. Thế mới hay rất “vô thường”. Triệu năm còn chết huống hồ trăm năm?)

… Nhưng cho dù có dâu bể thế nào thì con đường Hòn Chông bị “thằng” lộ 80 nằm đè lên ngót trăm năm đó vẫn rất đẹp, ở cái đoạn cong cong chuẩn bị cua lên dốc Bãi Ớt đó nếu bạn chịu khó dừng lại chút trên cầu Tam Bản và đưa nó vào khung hình, dứt khoát bạn sẽ thấy một bố cục hoàn hảo. Bên phải có một ngôi chùa Khmer với kiến trúc đặc trưng nằm trơ trọi giữa đồng, ngôi chùa này được xây dựng trước năm 1975 và công việc đang dở dang, vào khoảng thập niên 80 ba của tôi cùng các bạn hữu của ông, người góp của kẻ góp công để hoàn thành đẹp đẽ như hôm nay, công việc có ngót năm đến sáu năm. Bên trái là Mũi Dừa Hòn Heo với dãy núi thấp đầy màu xanh cây lá chảy dài ra biển, nơi đó có cái chùa Vạn Hòa mà tính tổng cộng thời gian từ thời ông bà tôi và cha mẹ tôi họ đã lui tới liên tục ngót đã gần trăm năm. Ngôi chùa dựa núi với bãi biển xinh đẹp trước mặt có nhiều hàng dừa mà người ta gọi đúng tên của nó: Mũi Dừa. Nơi mà năm xưa tôi có một buổi lửa trại đầy kỷ niệm với các bạn học cùng trường, ngày ấy chúng tôi còn “khám phá” có một cái lô cốt của người Pháp với bê tông dày hàng mét, rồi hệ thống các đường hầm phòng ốc bí hiểm âm vào trong núi có các lỗ châu mai mở ra hướng biển, rồi đầu óc con trẻ của chúng tôi áp đặt vào đó bao câu chuyện hoang đường đầy thuyết âm mưu hay tính phiêu lưu mạo hiểm… Cho dù thế nào thì đây hẵn là một điểm phòng thủ của người xưa.

(Theo như nghiên cứu của ba tôi thì vùng đất này còn là một thắng cảnh lừng danh khác của Hà Tiên: “Châu Nham Lạc Lộ”. Dù kết quả nghiên cứu này của ông không dễ để người đời chấp nhận bởi một sai lầm cũng của người “cận xưa” đã “lỡ” xác định “Châu Nham Lạc Lộ” là Đá Dựng. Riêng tôi, tôi tin rằng ba tôi đã đúng bởi các lý lẽ của các sách xưa đã nói rõ vị trí, và những câu chuyện chánh sử đã ghi liên quan đến “đồn Châu Nham” từ thời Minh Mạng. Vị trí của Đồn châu Nham nằm bên phải đường Hòn Chông về Hà Tiên, dưới chân núi Bãi Ớt tỏa ra vùng đất bằng tại vị trí án chừng là chùa Khmer bây giờ, mở ra đến cạnh rạch Tam Bản… Còn nhiều thông tin khoa học khác dư sức thuyết phục những ai hồ nghi điều cha tôi đã nghiên cứu và khẳng định. Việc ông làm là để trả lại một địa danh lịch sử, một danh thắng của Hà Tiên đúng vị trí của nó để tránh ngộ nhận sau này. Mời các bạn tìm đọc bộ sách ba quyển khảo cứu về Hà Tiên của tác giả Trương Minh Đạt*)

Sau khi vượt dốc Bãi Ớt thì đến Hòn Heo, nơi đây có một ngã tư, bên trái là đường ra Mũi Dừa có chùa Vạn Hòa như đã nói, bên phải có con đường đi thẳng đến Cờ trắng của dòng kênh Rạch Giá – Hà Tiên, mà nếu vượt qua con kênh sẽ là một vùng đất bằng phẳng thuộc vùng Lò Bôm, Phú Mỹ, Trần Thệ mà vào những năm 1977-1979 bao nhiêu lần tôi đã đi bộ hàng chục cây số, có khi đi cùng ba tôi nhưng cũng có lúc đi một minh vào vùng đất hoang chỉ toàn cỏ năng, cỏ đưng, và rừng tràm để khẩn hoang làm ruộng theo “ý chỉ” của chính quyền thời ấy… Quả là một quảng trời đầy ắp những kỷ niệm, cho dù buồn hay vui thì nó vẫn là cái thứ bạn không thể quên được.

Sau khi vượt qua Mũi Ông Cọp một bên là núi một bên biển thật thơ mộng, nào khác qua các khúc đèo biển núi nổi tiếng của miền Trung Việt Nam? Rồi đường xưa cũng qua núi Xoa Ảo, Hòa Phầu, Mũi Dông (Mũi Giông) là cái đuôi ra biển của núi Nhọn, đi thêm một đoạn thẳng một cây số là ta đến Núi Đồn, vừa qua Núi Đồn là đến Lư Khê Ngư Bạc, người xưa phải vượt qua cây cầu sắt như đã nói ở bài trước đây mới đi tiếp về Hà Tiên được …

Tóm lại, bức ảnh được chụp cách đây trăm năm có một con đường đất đá tại vị trí Rạch Vược mà ghi chú “Route de Honchong” (đường Hòn Chông) là hoàn toàn không sai.

Chỉ chừng ấy thôi mà chúng ta có cả một bài viết dài với bao nhiêu câu chuyện “ăn theo”. Con đường này giờ không chỉ có “Lư Khê Ngư Bạc”, các bạn còn xác định được “Châu Nham Lạc Lộ”. Các bạn để lại sau lưng vùng Hòn Chông (Bình An) đẹp “dữ dằn” mà không được ông Mạc Thiên Tích đặt tên và làm thơ, thật tiếc.

Điểm gần cuối của đường Hòn Chông về Hà Tiên các bạn có thêm một thắng cảnh nổi danh khác. Nếu bạn đứng trên đầu dốc Eo Bà Má (là cái đuôi của núi Đại Tô Châu) mà phóng tầm mắt xa hơn về hướng biển bên Hà Tiên, các bạn sẽ thấy một vùng đầm lầy rộng lớn nằm bên trái con lộ giữa Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu, nó kéo dài ra biển, nối tiếp vùng đầm lầy là vùng đất cồn bồi rất xa có đến hàng cây số rộng người Hà Tiên gọi là cồn Quai Vạc (hay Quay Vạc?), tại đây có nhiều nghêu sò ốc, nhuyễn thể, có con móng tay và cà xỉu trứ danh đặc sản Hà tiên. Đó là “Nam Phố Trừng Ba”. Ngày nay nơi dốc Eo Bà Má đã là quảng trường nhỏ có tượng ông Mạc Cửu, còn vùng đất có cồn Quai Vạc đã nói đã thành khu dân cư, bến phà Thạnh Thới… Người nay đã nắn con đường Hòn Chông cổ có cõng con lộ 80 trên lưng gần trăm năm vẫn cố gắng băng ngang vùng đầm lầy nói trên, để đưa ta đến đầu cầu Hà Tiên. Có nghĩa, toàn bộ vùng đất này nó nằm hoàn toàn trong “Nam Phố Trừng Ba”.

Tất cả đều chỉ còn là tàn tích.

Và chắc chắn các bạn cũng như tôi, sẽ yêu thương hơn con đường Hòn Chông của chúng ta cho dù nó có mang tên gì đi nữa, bởi chỉ men theo nó thôi mà chúng ta đã đi, đã đến, và đã chiêm ngưỡng ba trong số thập cảnh xưa của Hà Tiên cho dù chỉ là tàn tích… Bỏ qua các tàn tích, toàn bộ con đường từ Hà Tiên đến Chùa Hang Hòn Chông hay ngược lại, sao tôi thấy đoạn nào cũng đẹp, nó làm cho người thăm Hà Tiên sẽ muốn quay lại, người con Hà Tiên sẽ muốn trở về…

Các bạn có đồng ý với tôi không?

Quang Nguyên – 03/2021

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần C)

Sơ đồ xác định một số vị trí địa danh dọc theo bờ biển Hà Tiên – Kiên Lương

Sơ đồ các vị trí địa danh đã nhắc đến trong bài viết

Bức ảnh “Route de Hon Chong” được một người Pháp chụp đầu thế kỷ 20 (1901), một đoạn đường Hòn Chông từ Hà Tiên qua trước khi qua cầu Rạch Vược, là chiếc cầu sắt trong ảnh. Địa điểm ngay “Lư Khê Ngư Bạc” – ảnh sưu tầm.
Nhìn cận cảnh chiếc cầu sắt bắt qua Rạch Vược (1901), phía sau nền ảnh là ngọn núi Đồn của vùng Thuận Yên. (Chiếc cầu nầy đã bị tháo gở năm 1944). Ảnh sưu tầm.
Chùa Vạn Hòa thuộc Ấp Hòn Heo, Xã Dương Hoà, Huyện Kiên Lương. (Người trong hình là thầy Lý Mạnh Thường, giáo sư Trung Học Hà Tiên Xưa). Hình: Lý Thanh Xuân. (Chùa Vạn Hòa ngay nay đã được trùng tu và thay đổi rất nhiều so với hình nầy đã chụp nhiều năm trước 2012).

Chùa Khmer Bãi Ớt (còn có tên Seray Chapa Loh Bay Ok) thuộc Ấp Bãi Ớt, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương, Kiên Giang. Hình xưa, nguồn Tuan Vo.

Bãi Hòn Heo, thuộc ấp Hòn Heo, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương. Bãi nằm bên trái tỉnh lộ 80 từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua dốc Bãi Ớt. Hình: Nhiếp ảnh gia Quách Ngọc Bá, 1973.

Bên trái: Bãi biển Thuận Yên (Hà Tiên), con đường ở giữa hình là liên tỉnh lộ 8, nay là tỉnh lộ 80, bên phải hình là địa phận xã Thuận Yên. Hình: Nhiếp ảnh gia Quách Ngọc Bá, 1973.

Phía trên hình là đoạn cuối của núi Tô Châu (Hà Tiên), dải đất nhô ra hướng về bên phải chính là Cồn Quai Vạc, hình chụp từ bên Pháo Đài, phía dưới hình là căn cứ Hải Quân Mỹ lúc còn đóng tại Pháo Đài, năm 1969. Hình: Tom Lefavour**

Phía trên hình là đoạn cuối của núi Tô Châu (Hà Tiên), dải đất nhô ra hướng về bên phải chính là Cồn Quai Vạc, hình chụp từ bên Núi Lăng, phía dưới là phần cây xanh của Núi Lăng, năm 1994. Hình: Trần Văn Mãnh.

Cồn Quai Vạc (giữa hình) khi đã có cầu Tô Châu cất từ Pháo Đài (Hà Tiên) qua phía phường Tô Châu, nơi có bến đò Thạnh Thới. thời gian vào khoảng 2002-2009. Hình: Nguyễn Xuân Thắng (ARCH)

Chú thích một:
 * Bộ sách ba quyển khảo cứu về Hà Tiên của tác giả Trương Minh Đạt: 
1/ Nhận thức mới về đất Hà Tiên, 2001.
2/ Nghiên cứu Hà Tiên, 2008
3/ Họ Mạc với Hà Tiên, 2016
Chú thích hai:
Để hiểu một cách rỏ ràng về các địa danh Thuận Yên và Dương Hòa có đề cập đến trong bài viết, sau đây là vị trí hành chánh các địa danh nầy:
Thuận Yên là xã thuộc về thành phố Hà Tiên. Thuận Yên gồm các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xoa Ảo, Rach Núi.
Dương Hòa là xã thuộc huyện Kiên Lương. Dương Hòa gồm các ấp: Bãi Ớt, Chà Và, Hòn Heo, Mũi Dừa, Ngả Tư, Tà Xăng.

 

 

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần A-Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc (Quang Nguyên)

Lời dẫn:

Vào những ngày đầu năm Tân Sửu, tôi nhận được ba tấm hình của Mr. Mãnh, “soái ca” của Trung Học Hà Tiên Xưa (tôi dùng từ nầy mặc dù tôi biết là Mr Mãnh không nhận từ « soái ca » vì ông nói còn rất nhiều bậc đàn anh đàn chị đáng tôn vinh của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa). Đó là những tấm ảnh được chụp ở các thời điểm cách nhau đến hơn hai thập kỷ và các bức ảnh đã có cách đây hơn trăm năm tại cùng một địa điểm – nhất định là thế, đó là đầu con Rạch Vược đoạn ra biển. Nhưng, tại sao có những chú thích có vẻ mâu thuẫn nhau? Tấm thì đề là “Rạch Vược”, còn tấm thì ghi “Đường Hòn Chông”? Thắc mắc của Mr. Mãnh làm tôi cũng hoang mang, hỏi anh Google thì ảnh bảo “không biết! Nếu tui biết thì tui đã nói với Mr. Mãnh rồi!”. Thế là chúng tôi phải hỏi “Nhà Hà Tiên học” Trương Minh Đạt, mà nói chuyện điện thoại với ba tôi thật khó bởi xuân này ông đã 87 tuổi mụ, ông lãng tai và khó nói chuyện vì cơn tai biến liệt nửa người nhiều năm nay… Cuối cùng chúng tôi cũng có những thông tin mà minh cần biết sau hai ba ngày với nhiều cuộc điện đàm phải ngắt ngang nửa chừng để ba tôi nghỉ ngơi. Phải công nhận rằng nói về Hà Tiên thì ông là một kho dữ liệu ngồn ngộn thông tin, ông quên nhiều thứ chứ có hai vấn đề tối quan trọng với ông mà ông không thể quên: một là uống thuốc hàng ngày và hai là các câu chuyện, các sự kiện, dữ liệu…, liên quan đến Hà Tiên ông nhớ rõ và chính xác! Giờ chúng tôi phải chia sẻ hiểu biết này để hôm nay và mai sau mọi người cùng thêm hiểu biết về xứ sở tươi đẹp của mình. Không quên nhờ các độc giả chỉ ra và bổ sung thêm cho chúng tôi những thiếu sót. Rất cảm ơn các bạn. (Quang Nguyên)

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

Khách thập phương ngày nay khi tìm hiểu về Hà Tiên ắt hẵn ai cũng có thể biết về bài thơ “Lư Khê Ngư Bạc” của ông Mạc Thiên Tích, ông mô tả về dòng Lư Khê đó là một trong Hà Tiên Thập Cảnh trứ danh.  Thế nhưng mấy ai biết được sau khi tham quan Hà Tiên xong trên đường về nhà bằng quốc lộ 80 thì tất cả mọi người đều đi qua đó?

Đúng ra là đã đi qua tàn tích của nó.

“Lư” là tên chữ Hán của con cá Vược, dân dã thì gọi là cá Chẽm, khoa học thì gọi là Lates Calcarifer, nghe đồn (mà tôi không chắc lắm) bên Mỹ họ quen gọi là Seabass… Nói chung là con cá này rất phổ biến ở khắp thế giới ở những vùng nước không lạnh lắm. Thịt cá mềm đối với cá dưới 1kg và thịt “chắc” dần lên khi nó lớn, nhưng dù cỡ nào thì nó cũng ngọt ngon, bạn nấu món gì cũng ngon.

Nếu vào một ngày đẹp trời bạn đi câu ở cửa biển, vùng nước lợ, “chẳng may” bạn bị con cá Chẽm cỡ 3 kg cắn câu, nhất định nó sẽ lôi bạn xuống nước cho ướt cả áo quần bởi nó mạnh lắm, nhất định bạn phải kéo nó vào được bờ, rồi nhất định bạn phải trả thù một cách “man rợ” nhất là đoạn nó thành ba khúc. Hãy làm theo tôi:

Khúc thứ nhất là cái đầu cá có một phần bụng, mang (go), gan và bao tử, bạn chỉ bỏ ruột, bạn làm vệ sinh thật sạch bằng muối và khử bớt mùi cá bằng một chút chanh, dấm nuôi, hay cho nó “nhậu” một ly đế trứ danh của Lưu Linh, rồi bạn nấu canh chua Việt theo kiểu miền Tây, có bạc hà, có chút giá, đậu bắp, vài trái cà chua, miếng khóm, me chua và chút đường. Khúc thứ hai là cái thân mình đầy thịt và thịt của nó, bạn sẽ hả hê hài lòng bằng cách rọc xương nó ra lấy hai mảng phi lê hai bên toàn nạc, một để làm món Tàu có chút nấm tai mèo, nước tương, gừng, tiêu tỏi, chút bún Tàu, hành lá, nêm vừa ăn và hấp trên lửa vừa, miếng phi lê còn lại bạn có thể làm món Tây – cá Chẽm nướng với sốt mật ong chanh dây có bơ, tỏi, tiêu, muối và vài cọng rau mùi. Khúc thứ ba là cái đuôi, bạn có thể ướp sơ muối hoặc chiên tươi, món này ở nước nào vùng Đông nam Á tôi cũng thấy họ dùng, tuy nhiên người miền Nam Việt Nam thì dùng với nước mắm đâm ớt chua ngọt ăn với xoài băm kèm với một dĩa rau thơm sống các loại, lưu ý rằng khi chiên cá bạn phải để chảo thật nóng đến bốc khói, và dầu hay mỡ chiên không cần nhiều nhưng cần thật nóng trên lửa nhỏ (vụ này được rút tỉa kinh nghiệm vào cái thời đói ăn mà mỡ heo phải mua từng muỗng), bảo đảm phần còn lại của ‘kẻ thù’ của bạn sẽ vàng ươm và còn nguyên vẹn hình hài không dính một miếng da nào vào cái chảo… Cuối cùng, bạn có thể gọi 4-5 người đến để cùng bạn trả thù một cách ngọt ngào nhất – cái con cá đã dám lôi bạn xuống bùn! Nếu có một chút rượu “đưa cay” thì việc tiễn đưa và “hóa kiếp” cho nó có thêm phần long trọng.

Nãy giờ mới nói đến “Lư” còn “Khê”?

“Khê”: là khe nước, là dòng nước nhỏ, là con rạch tự nhiên… Ai cũng có thể biết điều này, và Lư Khê là Rạch Vược, là một con rạch có nhiều cá Vược. Nôm na là vậy.

Rạch Vược đã gắn với tôi từ thời niên thiếu, đâu đó khoảng năm 1973-1975, cứ mỗi cuối tuần khi ba rảnh việc là ông dẫn hai anh em tôi qua mảnh đất của ông bà để lại ngay sau đình Thần Hoàng xã Thuận Yên cách Hà Tiên non bốn ki lô mét. Ông trồng chuối, trồng dừa, phát quang cây cỏ… Chúng tôi đi theo chỉ để bắt cào cào châu chấu, gom cỏ đốt rác, lấy cho ông ấm nước hay vịn cho ông cây chuối non tơ để ông lấp đất trồng nó (không ai biết được điều gì, chỉ vài năm sau thời cuộc thay đổi, những gì cha con chúng tôi làm lúc ấy đã một phần phát huy tác dụng “cứu đói” cho cái gia đình nheo nhóc của ba má tôi sau này).  Và trước khi về nhà, thế nào ông cũng cho hai anh em tôi hụp lặn trên dòng Rạch Vược lợ lợ trong vắt màu nâu nhẹ, và nhờ thế anh em chúng tôi biết bơi từ rất sớm.

Đoạn sông chúng tôi tắm ba tôi gọi là “Doi”, ở đó có cái doi núi cạnh mép sông, là một cái “phá” nhỏ, hơi sâu hơn hai thằng con nít 7 – 8 tuổi chồng lên nhau. Phía đối diện bên kia sông là một mũi đất bồi mà ba nói đó là tàn tích của “Điếu Đình”, chúng tôi có thể lội qua bên đó không quá khó khăn vì chỉ cần vượt qua vũng sâu chừng hai mươi mét thì chân đã chạm đất.

Nếu đứng ở con đường vào các khu đất vườn sau Đình Thuận Yên ngay Doi, thì về bên trái khi xưa thật xưa là nàng Rạch Vược cong cớn, trước khi chảy ra cửa biển nó còn kịp lưu luyến khung cảnh hữu tình nơi đây mà uốn éo khơi gợi một đường cong hoàn mỹ hình chữ S mà người nay gọi là “ngực tấn công mà mông phòng thủ”, nước chảy qua chữ S đó bèn mở ra một cái phá to và sâu hơn cái phá nơi Doi đã nói trên. Các vũng “phá” này tạo dòng nước xoay tròn, là nơi cá nhỏ và tôm tép vào ăn các phiêu sinh vật phù du, còn cá lớn thì nuốt cá bé và nuốt cả tôm tép theo đúng luật chơi công bằng của tạo hóa.  Cá Vược là loại cá rất thích mồi tôm sống, nên bọn chúng kéo bầy đàn thê tử cùng hai họ nội ngoại về quần tụ nơi đây. “Chim trời cá nước ai bắt được người đó ăn”, vì vậy mà người dân quần tụ về đây đông đúc thành cả một xóm chài.  Và cũng bởi “ai bắt được người đó ăn” nên dân bắt được thì quan cũng thế, do vậy ông Mạc Thiên Tích rất thích đến đây câu cá (đương nhiên là cá Vược), chỉ cái việc ngồi chờ cá cắn câu và tức cảnh sinh tình mà ông còn kịp để lại theo năm tháng hơn ba chục bài thơ khác về Lư Khê …

Anh Hai Lý nhà ở Rạch Vược Thuận Yên, một người anh bà con của tôi mà tôi rất quý trọng, tính đến năm nay anh đã 82 tuổi mụ, nhiều năm trước khi anh em cùng ngồi nhâm nhi trà dư tửu hậu khi anh đến thăm tôi ở Sài thành hoa lệ mà nhắc nhớ xứ sở quê nhà, anh có nói với tôi rằng:

–          Năm xưa hồi anh còn nhỏ, anh có biết một hòn đá to nằm ngoài mép rạch, bằng phẳng như cái phản, ngay trước xeo xéo Điếu Đình, nếu đứng trên đó thì nước sâu hơn thắt lưng chút, anh hồ nghi rằng đó là nơi ông Mạc đứng câu.

–          Vậy cái tảng đó đó còn không anh Hai?

–          Còn chớ! Ai mà đem đi đâu làm gì?

–          Mình có thể tìm lại nó được không?

–          Sau này anh không thấy nữa, chắc giờ nó bị bồi lấp mất rồi khi Tây chặn cửa biển…

Có nghĩa là trăm năm trước thì Lư Khê của Mạc Thiên Tích vẫn nguyên trạng, đi từ Hà Tiên sau khi qua Tô Châu hữu tình, chúng ta còn có thêm một cái cửa biển cũng hoành tráng và đẹp “lồng lộn” chỉ cách Hà Tiên non 4 ki lô mét. Cửa biển đó được thiên nhiên tạo bởi dòng Rạch Vược đổ ra biển, từ ngoài biển nhìn vào sẽ thấy bên trái có gành đá đẹp, nó đẹp nổi bật khi sóng biển đánh vào làm tung nước trắng xóa phủ lên các tảng đá nâu nằm dưới chân một mõm núi xanh, người địa phương gọi là Mũi Gành (quả núi nho nhỏ sau chùa Thanh Hòa Tự có một đầu chạy vào khu Trung Tâm, đầu kia chạy ra biển chấm dứt bằng Mũi Gành, phía trên Mũi Gành có một cái chùa nho nhỏ có vị trí “đắc địa” để tu hành gọi là chùa Sơn Hải, con dốc Xã Thuận Yên là con đường 80 được vượt ngang cái đuôi của ngọn núi đó). Bên phải của cửa biển Rạch Vược là Đình Thần Hoàng nằm cạnh ngọn núi Đồn nhỏ xíu có cái đỉnh nhọn mà thấp, xa xa là núi Nhọn với Mũi Dông (hay Mũi Giông?), Núi Đồng, Mũi Ông Cọp (hay Mũi Con Cọp), rồi Bãi Ớt Dương Hòa, rồi nhấp nhô núi đồi miền Ba Hòn, Hòn Chông, Rạch Đùng…cảnh vật nên thơ hữu tình, xứng đáng là một danh thắng trong Hà Tiên Thập Cảnh.

Vậy đã có con đường Hòn Chông cổ trước khi nó mang tên lộ 80, và đường Hòn Chông này dành cho cơ giới bậc nhất ngày ấy là xe ngựa thì gặp trở ngại ngay cửa biển Rạch Vược. Nhưng xe ngựa hay ngựa làm sao vượt được cửa biển Rạch Vược? Có một cây cầu các bạn ạ. Một cây cầu sắt băng qua bên trong của dòng Rạch Vược, nếu người xưa đi từ Hà Tiên qua thì sau khi vượt mõm núi nhỏ chỗ dốc Xã Thuận Yên bây giờ, họ ôm phía trái một đoạn cong chừng ba trăm mét (chỗ trường rạch Núi bây giờ) rồi người xưa phải leo lên cây cầu đó để qua sông ngay sau Đình Thuận Yên rồi mới đi tiếp về Hòn Chông.

Năm 1943, người Pháp cho lấp cửa biển Rạch Vược để lưu thông tỉnh lộ 80 xuyên suốt, năm 1944 khánh thành tỉnh lộ 80 và người ta dỡ cây cầu sắt này.

Có một bài trong báo Thanh Niên, mục Văn Hóa* tác giả có chút lầm lẫn: “Lộ Đứt” là tên người dân gọi ngay địa phương này. Rạch Núi, Rạch Vược, Lộ Đứt, Đình Thần Hoàng Thuận Yên… Đều chỉ một địa điểm nơi đây. Sở dĩ có tên Lộ Đứt là vì trong thời gian chín năm kháng chiến chống Pháp (từ 1945 đến 1954), vùng Thuận Yên do Việt Minh kiểm soát, nên Việt Minh đào con đường bứt ngang đây đoạn ngắn đủ để cơ giới của Pháp từ Hà Tiên không thể đi càn qua đây… (nên nhớ năm xưa Hà Tiên là Tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên rất to lớn và quân Pháp đóng quân ở đây). Nước từ Rạch Vược lại một lần nữa được chảy ra biển Tây, và ngay sau 1954 khi Pháp rút khỏi Đông Dương thì con đường đã được lấp lại chứ không phải đến “sau giải phóng” như bài báo viết. Khi lấp người ta để nơi đây một cái cống to, đến thập niên 80 cống vẫn còn có chút nước ra biển mỗi khi triều cao.

… Vậy khi du khách giã từ Hà Tiên về bằng quốc lộ 80 (xưa là liên tỉnh lộ 8 « LTL8 »), vừa qua Ủy Ban Nhân Dân Xã Thuận Yên đến cái doi núi bên trái, các bạn đã tiếp cận với địa danh “Lư Khê Ngư Bạc” rồi đó. Các bạn sẽ đi trên “cửa biển tàn tích” của nó đến doi núi kế tiếp (núi Đồn) có cái Đình Thần Hoàng Thuận Yên – Các bạn đã thưởng ngoạn một “Lư Khê Ngư Bạc” trứ danh của Hà Tiên mà khi xưa hẵn là nó đã rất đẹp.

Lư Khê Ngư Bạc năm 1920 -1930, hướng cửa biển nhìn vào, có cây cầu sắt bắt ngang đoạn hẹp, đầu cầu hướng Hòn Chông trỗ ra cạnh Đình Thuận Yên kế bên quả núi Đồn – góc chụp đầu doi núi bên trái từ Hà Tiên qua. Góc bên trái có một cái nhà khang trang với hàng rào thẳng tắp, tôi võ đoán là ngôi trường tiền thân của Trường Rạch Núi bây giờ – Hình sưu tầm.

Vị trí con Rạch Vược, Thuận Yên so với các địa danh khác trong vùng xã Thuận Yên (Hà Tiên).

1/ Rạch Vược (còn có tên khác: Rạch Núi, Kênh Núi Nhọn). 2/ Rạch Cái Tắt. 3/ Ngả Tư Đèn Đỏ-Cái Tắt. 4/ Ngả Ba Vàm Cui hay Giồng Cui. 5/ Chùa Sơn Hải, Mũi Gành. 6/ Núi Đồn. 7/ Núi Thanh Hòa Tự. 8/ Núi Nhọn. 9/ Núi Đồng. 10/ Núi Đại Tô Châu. 11/ Núi Tiểu Tô Châu.

(Còn tiếp, mời các bạn đón xem phần tiếp theo: B – Đường Hòn Chông)

Tác giả: Quang Nguyên.

Chú thích: Mời các bạn tham khảo thêm một đoạn trong bài báo này:

 * https://thanhnien.vn/van-hoa/theo-dau-van-tho-ky-5-lu-khe-nhat-dau-365747.html

Những người thám hiểm khoa học Pháp trong nửa cuối thế kỷ 19 từng đặt chân đến vùng Hà Tiên

A/ Nhu cầu thám hiểm vùng Đông Dương:

Thầy cô và các bạn thân mến, trong thời kỳ người Pháp chiếm toàn phần miền nam nước Việt Nam (1859: Pháp chiếm Saigon, 1862: Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, 1867: Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, 1874: Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp) thì người Pháp cũng đã bắt đầu dòm ngó vào các nguồn tài nguyên, nguồn quặng mỏ, các đường lưu thông trên bộ, dưới sông, các nguồn cây gỗ trong rùng núi để tìm hiểu, thống kê và khai thác…v..v…Ngoài ra để tìm kiếm các tuyến đường tiếp cận mới vào thị trường Trung Quốc để cạnh tranh với các tham vọng thương mại của người Anh trong khu vực, người Pháp cho rằng sông Cửu Long có thể sẽ là một tuyến đường khai thác được để đến Trung Quốc.

Từ đó bộ trưởng bộ Hải Quân Pháp Marquis de Chasseloup-Laubat đã lần lượt bổ nhiệm vài phái đoàn người thám hiểm khoa học đến Nam Kỳ để thực hiện điều nầy. Thành phần những người thám hiểm Pháp trong thời gian đầu thường là các sĩ quan, các nhà khoa học đủ các bộ môn…Chuyến thám hiểm mở đường trên sông Cửu Long nổi tiếng trong lịch sử là chuyến « Sứ mạng Cửu Long » do Ernest Doudart de Lagrée (1823-1868) cầm đầu vào năm 1865 với sự hổ trợ của sĩ quan Hải Quân Francis Garnier (1839-1873). Tuy nhiên chuyến thám hiểm nầy rất hiểm trở vì đường xá khó khăn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt …gây trở ngại rất nhiều đến nổi Ernest Doudart de Lagrée phải thiệt mạng vì kiệt sức và sau đó Francis Garnier tiếp tục hoàn thành sứ mạng nầy. Tổng cộng chuyến đi kéo dài hơn 2 năm và tuy đi rằng đi đến kết luận là không thể dùng sông Cửu Long như một lối tiếp cận thương mại với Trung Quốc, thì kiến ​​thức khoa học thu thập được trong chuyến hành trình dài và gian truân này thật đáng kể. Các thăm dò đã cung cấp một sự thông tin phong phú về khoa học, dân tộc học và địa lý học cho vùng quần thể nầy. (Francis Garnier chính là người sĩ quan Pháp chiếm được thành Hà Nội của Nguyễn Tri Phương vào tháng 11 năm 1873, nhưng sau đó đã bị quân Cờ Đen giết chết tại Cầu Giấy, ngoại ô Hà Nội vào tháng 12 năm 1873).

Ngoài ra sau giai đoạn trên còn có hai chuyến thám hiểm tuy ở mức độ quy mô nhỏ hơn chuyến « Sứ mạng Cửu Long » nói trên, nhưng hai chuyến du hành sau nầy có liên quan đến vùng đất Hà Tiên của chúng ta vì chính hai người thám hiểm lần nầy đã lưu trú lại để tìm hiểu, thăm dò nhiều thời gian ở Hà Tiên. Đó là chuyến thăm dò địa chất của nhà địa chất học Anatole Petiton trong thời gian 1869-1870 và cuộc du hành của nhà tự nhiên học, bác sĩ Claude-Jean-Albert Morice trong thời gian 1872-1874. Cả hai ông nầy đều có ghé lại một thời gian ở Hà Tiên để nghiên cứu theo bộ môn chuyên khảo của mỗi ông.

B/ Cuộc thăm dò địa chất học ở Đông Dương của nhà địa chất học Anatole Petiton:

Anatole Petiton (Anatole Jules Clément PETITON-SAINT-MARD) sinh năm 1836 tại Moret (Seine-et-Marne, Pháp) là kỹ sư hầm mỏ và nhà địa chất học. Vào năm 1868, tiếp theo cuộc thám hiểm sông Cửu Long vừa chấm dứt của phái đoàn Ernest Doudart de Lagrée và Francis Garnier, Thống Đốc Nam Kỳ là Phó Đô Đốc Pierre-Paul de La Grandière bổ nhiệm kỹ sư hầm mỏ Anatole Petiton để thám hiểm tài nguyên vùng Đông Dương. Khởi hành vào năm 1868 từ Pháp, Anatole Petiton đến Sài Gòn năm 1869. Không may cho ông, lúc đó Thống Đốc Pierre-Paul de La Grandière đã trở về Pháp và người thay thế ông là Đô Đốc Marie Gustave Hector Ohier, ông nầy không phấn khởi trong công việc nầy nên đã không làm điều gì để ủng hộ cho sứ mạng của Petiton, từ chối hầu hết mọi yêu cầu về vật chất, máy móc, nhân sự. Vì thế trong thời gian hai năm thi hành sứ mạng, Anatole Petiton đã gặp rất nhiều khó khăn về phương tiện và nhân viên phục vụ trong đoàn, lại thêm sức khỏe ông càng ngày càng bị suy yếu vì khí hậu khắc nghiệt của vùng núi non Nam Kỳ và bên Cambodge. Tuy nhiên trong hai năm liên tiếp, bất chấp những trở ngại về thời tiết với những cơn mưa xối xả, những thảm thực vật dầy đặc nhiệt đới, cộng thêm sự thờ ơ không hợp tác của người bản địa, Anatole Petiton đã có thể thu thập, xác định và phân loại hàng nghìn mẫu đá, và phác thảo bản đồ cấu tạo địa chất của vùng Nam Kỳ. Ông là người đầu tiên chỉ ra, ở tỉnh Hà Tiên, có một mỏ vôi phốt phát với trử lượng rất cao và giá trị khai thác thương mại to lớn và ông cũng bác bỏ tin đồn trước kia ở địa phương cho rằng núi ở Mũi Nai và núi Sa Kỳ có mỏ bạc sau khi nghiên cứu địa chất vùng nầy. Đến năm 1870 Anatole Petiton thình lình bị gọi về Sài Gòn và bắt buộc phải ngưng mọi hoạt động thám hiểm, sứ mạng của ông bị chấm dứt theo quyết định của vị Thống Đốc Nam Kỳ mới. Bị suy sụp về tinh thần và sự hối tiếc vì không thể tiếp tục công việc, ông trở về Pháp mà không có đủ thời giờ để sắp xếp và phân loại hàng nghìn mẫu đất đá địa chất do ông thu thập. Tại Pháp, mãi đến năm 1895, nhờ sự kiên trì và bền bỉ mà ông luôn thể hiện, ông mới có thể xuất bản các tác phẩm và bản đồ địa chất Đông Dương của mình. Anatole Petiton mất tại Paris vào năm 1911.

Anatole Petiton ghi lại trong một cuốn nhật ký du hành của ông cho ta biết các giai đoạn như sau: Thám hiểm khu Bà Rịa, đến Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques), du hành từ Sài Gòn qua Mỹ Tho, Vĩnh Long, về Châu Đốc, Hà Tiên, ra đảo Phú Quốc. Sau khi xem qua vùng Long Xuyên, Rạch Giá, du hành lên Tây Ninh, Gò Công, Biên Hòa, ra đảo Côn Sơn (Poulo Condore), qua tới Cambodge tại Battambang.

B1/ Nghiên cứu Pháo Đài:

Anatole Petiton đến Hà Tiên vào cuối tháng ba năm 1869 từ kênh Vĩnh Tế mà ông gọi là kênh Hà Tiên, trong khi vào sông Giang Thành ông mô tả hai bên bờ toàn là rừng ngập mặn (végétation des palétuviers). Tại Hà Tiên, ông cư ngụ tại trụ sở tham biện trên đồi Ngũ Hổ và bắt đầu thám hiểm chung quanh. Đầu tiên ông đến viếng Pháo Đài mà ông gọi là « Đồn Hà Tiên » hay là « Batterie ». Dưới con mắt của nhà địa chất học, Anatole Petiton nhận xét là những khối đá cấu tạo Pháo Đài là đất sét giàu silice (silico-argileuse) có màu trắng như màu rượu vang trắng, trong những khối đá cũng có nhiều phần hoàn toàn là thạch anh (quartzeuses). Ông cũng nhận xét núi Tô Châu đối diện bờ bên kia, cũng cùng một loại đất đá như ở Pháo Đài.

B2/ Nghiên cứu Thạch Động:

Tiếp đến Anatole Petiton thám hiểm Thạch Động mà ông viết trong nhật ký là tên « Tháp Động ». Ông mô tả Thạch Động được chia làm hai phần bởi một khe hở rất rộng lớn và thẳng đứng. Có một ngôi chùa xưa ở bên trong hang động. Ông ước lượng là Thạch Động có cở 100 m chiều cao, 100 m chiều dài và 100 m chiều rộng. Về mặt địa chất ông viết là Thạch Động được cấu tạo bằng chất đá vôi đen đặc có vân carbonate màu trắng. Dưới chân tháp Thạch Động là một ngọn đồi với những phiến đá đen và bên cạnh dó là một ngọn núi phủ đầy cây xanh và được cấu tạo bằng những khối đá đất sét giàu silice màu vàng và cứng. Anatole Petiton cũng lên phía mặt sau của Thạch Động để nhìn về phía biên giới và ngắm các ngọn núi về phía Mũi Nai, nhìn ra xa ngoài khơi đảo Phú Quốc. Ông đưa ra kết luận là vì Thạch Động nằm cách khoảng 4 km với Hà Tiên nên nếu người ta thiết lập một cơ sở khai thác đá vôi thì rất tiện vì có một dòng con rạch tự nhiên nằm ngay gần chân núi Thạch Động làm con đường lưu thông vận chuyển (con rạch mà Anatole Petiton nói có thể chính là rạch Mương Đào cách núi Đề Liêm chừng vài trăm thước).

B3/ Nghiên cứu cảng Hà Tiên, Tô Châu, Thuận Yên, Bãi Ớt:

Qua ngày 3 tháng tư năm 1869, Anatole Petiton thăm viếng hải cảng Hà Tiên về phía nam, ông có ghi rỏ là điểm khởi hành là dưới chân núi Tô Châu ngay tại nhà Tham Biện cũ. ông đi bộ dọc theo bờ biển phía nam, qua khỏi núi Tô Châu, đi ngang qua khỏi Rạch Vược mà ông gọi trong nhật ký du hành là « Rạch Địch », nơi có làng Thuận Yên, ông đi qua khỏi Núi Nhọn mà ông viết là « Núi Ngọn », gần làng Thuận Bình (ngày nay ta không biết làng Thuận Bình nầy tên tương ứng là gì?), ông đi tới luôn ngọn núi Ông Cọp, núi Bãi Ớt mà ông gọi là « Bảy Ất » và đến ngọn « Núi « Mưu »? Ông ghi rỏ từ chân núi Tô Châu đến Rạch Vược là hai giờ đi bộ, từ Rạch Vược đến Bãi Ớt là ba giờ đi bộ. Về phương diện địa chất, ông ghi núi Tô Châu cấu tạo bởi loại đá silice màu đỏ và cứng, có những phần màu xanh mềm hơn. Qua khỏi Rạch Vược thì gặp loại đá sa thạch cứng và đặc, đó là loại thạch anh ngoài mặt có các hạt mica vàng. Núi Ông Cọp thì cấu tạo bởi những phiến đá xám.

B4/ Nghiên cứu các ngọn núi gần Thạch Động: Sa Kỳ, Địa Tạng:

Ngày 5 tháng tư năm 1869, Anatole Petiton cùng đoàn của ông đi bộ từ Hà Tiên, đi dần dần về phía các núi ở vùng Thạch Động, cho đến một ngọn núi ông ghi tên là Sa Kỳ, theo nhật ký, ông viết đó là một ngọn núi nhỏ, có hình dáng kim tự tháp, cao khoảng 150 m, ở về phía đông của Thạch Động, phủ đầy những cây tre nhỏ nhọn, phía trên đỉnh núi có một phần bằng phẳng ngày xưa dùng làm pháo đài (có thể là hỏa đài để đốt lửa lên dùng cho việc thông tin). Ở phía đối diện với ngọn Sa Kỳ đối với Thạch Động, ông có ghi là có ngọn núi « Đa Đồng » (có thể là ngọn núi Địa Tạng?), cách núi Sa Kỳ vài trăm thước, phia trên ngọn núi nầy có nhiều bề mặt đá lớn và nhọn. Núi Sa Kỳ cấu tạo bởi những đất đá silice cứng có chứa tinh thể oxyde sắt màu đen còn ngọn núi « Đa Đồng » thì chứa đá vôi xám có nhiều vân carbonate sắt mà ông cho là người ta có thể chế tạo ra chất vôi với nguyên liệu nầy. Trong vùng nầy ông đã không tìm thấy mỏ bạc như lời đồn ở địa phương…

B5/ Nghiên cứu núi Ngũ Hổ:

Anatole Petiton viết rỏ là ngọn núi nhỏ tên Ngũ Hổ nằm trong khuôn viên của thành cũ (ông viết là ancien fort), được cấu tạo bởi đá đất sét có silice màu trắng, đỏ và vàng nhạt. Ngọn núi nầy cao chừng vài thước và dài vài trăm thước (thực ra núi Ngũ Hổ cao khoảng 20 m). Chung quanh núi đầy cây xanh ngoại trừ mặt bằng phía trên mà ông đứng trên đó có thể quan sát được tất cả những ngọn núi bằng cách xoay mình từ trái qua phải. 

Ngày 9 tháng tư năm 1869 Anatole Petiton cùng phái đoàn đáp tàu đi Phú Quốc và trở lại Hà Tiên ngày 11 tháng năm năm 1869. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu vùng làng Bình Trị, Hòn Chông, núi Huỷnh, núi Khóe Lá..v..v…Qua ngày 17 cùng tháng ông đi thám hiểm Cambodge bằng ngỏ Giang Thành.

Có thể nói mặc dù Anatole Petiton đã trở về Pháp vào năm 1870, nhưng ông kết luận là sứ mạng của ông bắt đầu vào năm 1868 và chỉ chấm dứt vào năm 1895, thật vậy cho đến năm 1895 khi về Pháp ông mới có thể cho xuất bản toàn bộ công trình của ông gồm Nhật ký du hành, các bảng thống kê mẫu đất đá địa chất, báo cáo phân tích và tổng hợp phân loại địa chất về địa chất học ở Đông Dương. Công trình nầy được in ra tại Paris vào năm 1895 và còn được lưu trử ở rất nhiều thư viện trên thế giới: Thư viện Quốc Gia Pháp, thư viện trường Hầm Mỏ Pháp, thư viện ở các trường Đại Học Mỹ…Ngày nay Thư viên Quốc Gia Pháp và công ty Google đã cho chuyển sang tài liệu số (scanner)  tất cả những trang giấy của công trình nầy.

C/ Cuộc hành trình ở Nam Kỳ của thầy Albert Morice:

Claude-Jean-Albert Morice sinh năm 1848 tại Saint-Etienne, Pháp, là một nhà tự nhiên học, dân tộc học, nhân chủng học và bác sĩ y khoa. Trước khi du hành qua Đông Dương, ông đang là bác sĩ nội trú tại bệnh viện Lyon, bác sĩ cho Hải Quân. Đến năm 1872 ông gia nhập vào Y Sĩ Đoàn của Hải Quân và được đưa đi phục vụ ở Nam Kỳ (Đông Dương) trong một bệnh viện ở Sài Gòn. Vì ông là người rất thông minh, thích tìm tòi, nghiên cứu, ghi chép nên ông luôn chú ý đến các đề tài: động vật, côn trùng, ngôn ngữ, nhân chủng..v..v…để  viết lại tất cả những điều ông khám phá ra. Chính ông là người đã khám phá ra một loài rắn nước trên thân có sọc nâu ở Nam Kỳ, giới khoa học đã thừa nhận và đặt tên loài rắn nầy là « Oligodon moricei » để vinh danh ông. Trong thời gian phục vụ ông được điều động đi nhiều nơi ở Nam Kỳ, vì thế ông có dịp đến Gò Công, Châu Đốc, Hà Tiên, Phú Quốc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Tây Ninh. Ông được bổ nhiệm đến Hà Tiên vào năm 1873 và trú ngụ tại nhà Tham Biện trên đồi Ngũ Hổ một thời gian, từ đó ông ra Phú Quốc để chích ngừa chống bệnh đậu mùa (variole) cho dân trên đảo. Tháng chín năm 1874 ông trở về Pháp và tổ chức nhiều cuộc hội nghị để công bố những kết quả nghiên cứu của ông. Năm 1876 ông xin được trở lại Đông Dương một lần nữa và đã thu thập rất nhiều mảnh vụn, mẫu khắc trên đá, pho tượng trong một đền thờ cỗ của sắc dân Chăm (Champa) ở Hưng Thạnh, Quy Nhơn, ông đã gởi tất cả 30 thùng gỗ các mẫu tượng đá cỗ nầy về Pháp vào năm 1877 nhưng tàu bị đắm chìm trên đường biển, chỉ có 7 thùng được cứu vớt, tuy nhiên mãi cho đến năm 1995 sau nầy người ta đã vớt lên được tất cả số thùng còn lại…Vào tháng mười năm 1877 Albert Morice phải trở về Pháp gấp rút và mất tại Toulon vì ông đã mắc phải bệnh lao trong lúc thám hiểm ở Nam Kỳ, lúc đó ông chỉ mới 29 tuổi và vẫn còn độc thân, còn để lại rất nhiều công trình nghiên cứu đang dang dở.

  • Hoạt động của thầy Albert Morice ở Hà Tiên:

Vào năm 1872 Albert Morice được bổ nhiệm vào nhiệm sở Hà Tiên, trên đường từ Sài Gòn xuống Hà Tiên bằng tàu hơi nước, ông có ghé qua Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Châu Đốc. Từ Châu Đốc, quan quản trị người Pháp cấp cho ông một chiếc tàu buồm và một số người bản địa để đi cùng với ông vào Hà Tiên bằng kênh Vĩnh Tế. Ông mô tả Hà Tiên với cảnh Đông Hồ và những ngọn đồi đầy cây xanh, cửa ngõ vịnh Siam (Xiêm) với các hòn đảo duyên dáng, những ngôi chùa cỗ xinh đẹp, ngọn núi Thạch Động nhô lên từ xa, tàn tích hùng vĩ của các ngôi mộ họ Mạc, tất cả đối với ông đều rất quyến rũ, tuy nhiên bầu không khí thì lại rất khó thở, ngột ngạt và độc hại…đó là chướng khí khủng khiếp tỏa ra từ các đầm lầy ngập mặn dọc theo bờ biển. Đó cũng là lý do mà hầu hết các bác sĩ đồng nghiệp làm việc lúc trước ở Hà Tiên nầy khi trở lại Sài Gòn đều bị lâm bệnh nặng và chính sức khỏe của Albert Morice sau nầy cũng sa sút nặng sau thời gian làm việc ở Hà Tiên. Vì thế nhiệm sở về y tế ở Hà Tiên sau nầy đã bị hủy bỏ.

Sau một đêm ngủ tạm trong một cái đồn nhỏ nhưng được duy trì tốt, đồn được cất trong bãi đầm lầy, rất thấp so với mặt đường, chung quang có trồng nhiều bông hồng, vì thế thời đó người Pháp đặt biệt danh thơ mộng cho nơi nầy là « Hatien-les-Roses », Alber Morice mô tả quang cảnh chung quanh như sau: Kế cái đồn là một con đường dọc theo Đông Hồ được trồng rất nhiều cây Tuyết Tùng (Cèdres) và Phi Lao. Cuối đường là căn nhà của nhân viên điện tín và ngôi vườn của nhà Tham Biện, ngôi nhà nầy được cất trên một ngọn đồi cao 30 m (chính là đồi núi Ngũ Hổ) là một nơi duy nhất ở Hà Tiên mà không khí có vẻ trong lành…Một mặt của nhà Tham Biện nhìn ra phía Đông Hồ, còn mặt kia thì nhìn về phía một cánh đồng bao la về phía Cambodge…

Dọc theo cửa ngõ và ngay trên cảng là một thành phố người Việt và người Hoa với một con đường chính được gọi biệt danh là « Venise d’HaTien » vì con đường được cấu tạo bởi những thanh ván gỗ dài khoảng 100 hoặc 150 m, hai bên là những căn nhà được cất trên những cộc cắm trên đất bùn mà khi thủy triều xuống, bùn bị hâm nóng lên và tỏa ra một mùi hôi rất khó chịu…Dân chúng Hà Tiên đa số là người Việt, người Hoa, và nhất là người lai gọi là người Minh Hương. Họ sống bằng nghề đánh cá, Albert Morice với con mắt của nhà tự nhiên học, đã chú ý đến các loại cá ở Hà Tiên như sau: Cá lưởi trâu (Sole), rùa lớn mà cái đầu gần bằng đầu người ta,  cá chình biển (Anguilles de mer), mực, hàu, cua lột. Có một điều thú vị là Albert Morice mới biết được một loại cá quen thuộc ở ao nước Hà Tiên là cá lia thia mà ông gọi là « Poisson de combat ».

Albert Morice cũng có đi xem Thạch Động mà vào thời đó người Pháp đặt tên là « Cái mũ lông » (Bonnet-à-Poil) vì hình dáng rất giống cái mũ bằng lông mịn. Ông mô tả sự khó khăn khi đi bộ đến Thạch Động, vì con đường đi phải băng qua một khu đầm lầy nước mặn khi thủy triều lên người đi bị ướt cả người rất khó chịu, nhưng khi tới nơi người ta sẽ được đền bù công khó…Ông nhận xét là Thạch Động được thành lập do hai khối đá khổng lồ dựa vào nhau ở trên cao và tạo ra một không gian rộng lớn ở phía dưới. Ông cũng ghi nhận có một ngôi chùa xưa trong đó và người dân bản xứ rất tin tưởng vào sự linh thiêng của ngôi chùa nầy. Albert Morice đến thăm Thạch Động rất nhiều lần, và ông kể lại là có một lần ông thấy có một người Khmer đang hấp hối nằm trên chiếc chiếu được gia đình mang tới đặt trong chùa để hy vọng là thần linh sẽ cứu giúp trong lúc tuyệt vọng nầy. Ở phía bên kia của hang động, quang cảnh trải dài trên một vùng đồng bằng bao la được bao bọc bởi ngọn núi Voi ở phía chân trời. Biên giới Cambodge cách đó gần 100 m và được đánh dấu bằng một bờ lũy có cặm tre, phía sau bờ lũy là một con mương khá rộng, nhưng cạn và có thể lưu thông trên đó được. Ở bên phải là rừng xanh và ở phía trái xa xa là vịnh Siam lấp lánh với những hòn đảo trông giống như những chấm đen trong đó có dãy đen dài đảo Phú Quốc.

Ông nhận xét thấy chung quanh Thạch Động có nhiều cây ăn trái như là xoài có trái nhiều và rất nhiều dây leo phủ kín …Có một ngôi mộ hình tháp của một người nào đó không tên tuổi dựng lên trên sườn một ngọn núi nhỏ ở vài khoảng cách với Thạch Động, chung quanh ngôi mộ hình tháp có rất nhiều ổ kiến lửa đỏ…(Có thể ông nói đến ngôi mộ tháp bảy tầng ở sườn núi Phù Dung tức là núi Đề Liêm, tuy nhiên khó có thể xác đinh được vì núi Đề Liêm ở hơi xa Thạch Động!!?).

Sau đó Albert Morice đi viếng khu lăng Mạc Cửu. Ông viết trong nhật ký du hành là những tàn tích hùng vĩ của khu lăng mộ nầy nằm phía sau đồn Hà Tiên và có một đồn điền trồng tiêu rất rộng lớn với những bức tường to lớn và rất dầy, gần đó có nhiều cây cà độc dược, cây thầu dầu cùng với một màn cây xanh dầy…xen lẫn với những con thằn lằn, chim chóc và côn trùng che kín cả 5, 6 ngôi mộ. Ông cũng nhìn ra ngôi mộ ở giữa phía trên cao, của Mạc Cửu, do xi măng bao phủ, không có chữ ghi tên, lại có những lỗ bể mà trong đó có những con ong nhỏ làm tổ, có cả một cây xanh nhỏ mọc tự nhiên ngay trên đỉnh ngôi mộ…Những ngôi mộ của các phu nhân và con cái thì đơn giản hơn, không chắc chắn và đều bị hư hao dưới tác dụng của mưa nắng hằng ngày…

Những ngôi chùa cất lân cận thành phố phần lớn rất xinh đẹp, Albert Morice để ý đến hai trong số đó, ngôi chùa thứ nhất tọa lạc sau một cái ao rộng lớn có nhiều bông súng và bông sen, bên trong trang hoàng rất phong phú bàn ghế, những tấm bảng, bình phong có cẩn óc xa cừ (đây chắc chắn là đền Mạc Công Miếu tức đền thờ họ Mạc trước ao sen, thời nầy chỉ có một cái ao sen trước đền thờ). Ngôi chùa thứ hai, theo ông là rất kỳ lạ vì dân quân Pháp thời đó đặt tên là « Chùa Quỷ » (la Pagode du Diable), ngôi chùa nầy nằm không xa con đường dẫn đến Thạch Động, ở bên trái, dưới chân một ngọn đồi cây xanh (đó là núi Đề Liêm)…Bên trong ngôi chùa trên vách có nhiều hình ảnh vẽ trên giấy Tàu lớn, những hình ảnh tả cảnh hành hình tội phạm dưới địa ngục, phía trên tờ giấy có vẽ hình một vị Phật uy nghi và nhân từ hình như tươi cười chào đón những linh hồn may mắn đến với ngài…, còn chung quanh bìa bức hình ảnh thì toàn là những quỷ sứ với giáo, thương nhọn, xiên đâm thân người và nướng trên lửa hoặc nấu trong nồi dầu sôi hay cho những con hổ dử ăn thịt….(khi đọc đến đây thì mình có thể nghĩ đây chính là chùa Lò Gạch vì ngày xưa trong chùa Lò Gạch cũng có treo trên vách những tấm hình bằng vải lớn vẽ hình địa ngục với quỷ sứ…, tuy nhiên không phải là chùa Lò Gạch vì chùa Lò Gạch chỉ mới cất rất xa sau nầy khoảng từ năm 1945 trở về sau).

Albert Morice mô tả tiếp theo về ngôi « Chùa Quỷ »: Phía ngoài chùa vài trăm bước, trong một mái tranh lá, có một tượng Phật Khmer rất lớn với hai trái tai căng dài, thòng xuống và có đụt lỗ, trên đầu thì có tóc theo kiểu xếp tầng và giảm từ trên xuống, ngực thì có quàng xéo một chiếc khăn đỏ, ngồi theo kiểu xếp bằng…(Điều nầy có thể cho ta thấy « Chùa Quỷ » nầy có thể là chùa « Bà Cố » ở bên trái đường ra Thạch Động, khoảng giữa chùa Phù Dung và chùa Phật Lớn, còn pho tượng Phật lớn mà ông mô tả có thể là pho tượng Phật của chùa Phật Lớn?).

Về mặt động vật ở Hà Tiên, Albert Morice ghi lại là việc săn bắn ở Hà Tiên rất hạn hẹp, chỉ có thể săn bắn được các con chim ở đầm lầy, bồ câu, rồi là rùa, các động vật có vú thường gặp là sóc, chuột cọ, con tê tê hay trúc (pangolin), thỏ và hươu tai dài…Ông cũng có mua một con hươu tai dài đó của những người địa phương đặt bẩy được và đã huấn luyện nó thành một con vật trong nhà như con chó, ông cho nó ngủ chung phòng với ông và cũng trao đổi nhiều cử chỉ trìu mến với nó…

Albert Morice có nhận xét là ngoài việc đánh cá, người dân Hà Tiên thực hành trồng tiêu và đó cũng là nguồn lợi chính vì phần lớn hồ tiêu xuất khẩu ở Nam Kỳ là do nguồn Hà Tiên. Ngoài hồ tiêu, Hà Tiên có rất ít các loại cây ăn trái khác, chỉ có dừa, khóm, mít…Chuối thì được trồng nhiều nhưng trái ít phẩm chất gọi là « chuối lợn », còn những trái chuối nhỏ tuyệt ngon có vị « caramel » thì do Châu Đốc đưa đến, xoài rất khan hiếm, và cũng không có măng cụt.

Albert Morice kể lại là trong thời gian ông đóng nhiệm sở ở Hà Tiên, không có cuộc phiêu lưu nào khuấy động ông, riêng có một lần ông đã đối mặt với một nguy hiểm mà ông không hề hay biết. Có một ngày nọ, những người thợ người Hoa đang sửa chữa vách tường của đồn trên đồi Ngũ Hổ đến gặp ông và chỉ cho ông thấy có một con rắn và rất nhiều trứng dưới một viên gạch cũ, ông lấy tay bắt con rắn và nghĩ là không phải rắn độc, tuy nhiên con rắn đã cắn ông, ông đem tất cả là 24 trứng và con rắn mẹ về phòng nuôi và một tuần sau trứng đã nở ra những con rắn con..Tuy nhiên ông đã phải cẩn thận rửa sạch vết rắn cắn…

Albert Morice mô tả việc buôn bán thuốc phiện ở Hà Tiên như sau: Ở Nam Kỳ người Pháp đặc quyền cho các thương gia người Hoa được bán thuốc phiện và được đặt các quầy buôn bán khắp nơi nào họ muốn. Để hạn chế việc lưu thông các hàng lậu ở khắp nơi trong Nam Kỳ, các thương gia người Hoa nầy có rất nhiều đại diện, kể cả người tây phương, để đưa hàng đến các vựa và kiểm soát hàng lậu. Ông đã có lần nói chuyện với một người đại diện hàng thuốc phiện nầy ở Hà Tiên và đã chứng kiến một vụ bắt được một chuyến hàng lậu chở bằng thuyền buồm từ Vọng Các (Bangkok) đến Hà Tiên, với số lượng hàng thuốc phiện lậu hơn 80 gói lớn, mỗi gói thuốc phiện to như cái đầu người ta và có giá trị thương mại rất lớn. Những người buôn hàng lậu nầy mặc dù có trang bị vũ khí (ngay cả có súng lớn đại bác) phải chịu để bị bắt và bị tịch thu hàng lậu.

Bác sĩ Morice cũng có dịp trải qua một cái Tết Âm lịch ở Hà Tiên. Ông kể rằng cuộc sống trong thời gian đóng nhiệm sở ở Hà Tiên của ông khá tẻ nhạt, tuy nhiên ông đã có dịp tham dự vào cái Tết cổ truyền của người Hà Tiên. Trong những ngày lễ Tết nầy, mọi người đều mặc những bộ quần áo lụa đen rất đẹp, mấy em bé nhỏ thì có những chiếc quần dài hai màu nhưng lại không có đáy tạo ra một quang cảnh rất buồn cười……Trước mỗi nhà đều có dựng lên một cây cau (arequier) hay cây tre có treo các lễ vật dâng cúng và trước cửa nhà đều có bày ra một mâm cơm thịnh soạn để cúng tổ tiên. Những người Hoa thì dán những tờ giấy đỏ mới trên vách nhà để xua đuổi ma quỷ, bệnh tật và sự nghèo khó…, ngoài ra cũng có tiếng đánh trống và tiếng pháo nổ vang khắp phía…Lễ Tết như vậy kéo dài gần bảy ngày.

Một thời gian trước khi rời khỏi Hà Tiên, bác sĩ Morice có dịp ra Phú Quốc để chích ngừa cho dân trên đảo chống bệnh đậu mùa theo lời mời của quan quản trị trên đảo, đại úy Hersen, ông nầy từ Sài Gòn vừa về tới Hà Tiên, đề nghị đưa ông Morice ra đảo thăm viếng đồng thời chích thuốc ngừa luôn cho dân. Trên chiếc sà lan to chở đầy dụng cụ và thực phẩm, có thêm hai người Pháp khác, một người kiểm lâm Phú Quốc và một người thủ quỹ. Khởi hành buổi chiều và sáng hôm sau tàu mới tới Phú Quốc sau khi luồn lách qua các hòn đảo của khu quần đảo Hải Tặc và hàng ngàn rạn san hô nầm dọc theo vịnh. Trên đảo, ông có dịp thăm viếng Hàm Ninh, Dương Đông và quan sát, ghi chép rất nhiều các loài cá, thú rừng, nghề làm nước mắm của cư dân trên đảo. Trước khi rời đảo, ông đã chích ngừa cho dân và đã chỉ cho một « thầy thuốc » trên đảo tiếp tục chích với số thuốc do ông để lại. Trong chuyến về cũng với chiếc sà lan như chuyến đi, nhờ con gió lớn tây nam đẩy nhanh, không bao lâu ông đã về tới Hà Tiên vào buổi chiều.

Vài ngày từ khi đi Phú Quốc về bác sĩ Morice chánh thức rời nhiệm sở Hà Tiên bằng một chiếc tàu buồm, ghé qua nhanh Châu Đốc để chào hỏi các quan chức quen biết lúc trước, đồng thời ông có biếu tặng cho trung úy bộ binh Ledentu, một con kỳ đà rất đẹp mà ông đã bắt được khi còn ở Phú Quốc, con kỳ đà nầy đã trốn chạy mất ngay đêm hôm sau…Trên chuyến về Sài Gòn, ông ghé lại Vĩnh Long, Mỹ Tho và ông có nhận xét là ngôi nhà Tham Biện ở Mỹ Tho có lẽ là ngôi nhà đẹp nhất trong các nhà Tham Biện ở Nam Kỳ. Sau khi nghỉ dưởng bệnh vì mắt ông bị nhiểm trùng ở Hà Tiên, ông lên Tây Ninh và tại đây ông có dịp nghiên cứu rất nhiều về nhân chủng học, khảo cổ học, ngôn ngũ học của các sắc dân địa phương, các loài động vật quanh vùng..Chính tại Tây Ninh ông đã phát hiện ra một loài rắn nước lạ (Herpéton tentaculé) mà ông đã đem được về Pháp một con và giới khoa học đã chấp nhận đặt cho loài rắn nầy cái tên « Oligodon moricei » để vinh danh ông. Ông để lại rất nhiều tác phẩm khoa học do ông nghiên cứu trong thời gian ở Nam Kỳ.

Tài liệu tham khảo:

  • Bio-Bibliographie générale, ancienne et moderne de L’Indochine Française: Antoine Brébion, Paris, 1935
  • Géologie de l’Indochine: Anatole Petiton, Paris, 1895
  • Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74: Dr Morice, Lyon, 1876

 Paris, viết xong ngày 08 tháng 3 năm 2021, Trần Văn Mãnh

Quang cảnh phố Hà Tiên vào năm 1902 nhìn từ Pháo Đài, ảnh sưu tầm. Bên trái hình cho thấy có rất nhiều căn nhà gỗ cất trên sông, đó là « Venise d’Hatien » như bác sĩ Morice đã mô tả. Ngày xưa đó là đường « Cầu Câu » (Pont en bois), không phải là đường Cầu Câu mới sau nầy.

Toàn cảnh Hà Tiên vào đầu thế kỷ 20 nhìn từ phía Pháo Đài in trên một bưu ảnh xưa do nhà Nadal xuất bản. Hình nguồn delcampe.

Một trang trong tác phẩm « Géologie de l’Indochine: Anatole Petiton, Paris, 1895 », đoạn nói về Hà Tiên, tác phẩm do Google chuyển sang tài liệu số (scanner).

Phòng thí nghiệm của trường Trung Học Hà Tiên xưa như tôi biết (thầy Trương Minh Đạt)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong những năm 1960 – 1970, nếu là học sinh và giáo sư ở ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên tọa lạc tại đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, chúng ta đều biết có một dãy phòng rộng và dài nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, phía trước dãy phòng nầy nhìn về phía ao Sà Lách và dãy lớp học chánh của ngôi trường. Đó là phòng thí nghiệm thuộc về trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Sự ra đời và phát triển của phòng thí nghiệm nầy có nhiều nguồn gốc mà chúng ta ít được biết đến, ngay cả chính mình là học sinh của trường từ những năm xa xưa 1964 – 1970, cũng chỉ biết cái phòng thí nghiệm nầy đã có ngay từ khi mình bước chân vào trường và đã có rất nhiều dịp sinh hoạt tại phòng thí nghiệm nầy suốt những niên khóa học mà không hề biết rỏ giai đoạn ra đời của phòng thí nghiệm nầy. Nhân dịp có bài viết của tác giả Quang Nguyên, phòng thí nghiệm của trường Trung Học Hà Tiên được nhắc đến và tạo ra cho chúng ta một cơ hội để tìm hiểu về cái phòng thì nghiệm đó. Đối với mình, một trong những người học sinh có thể nói là tương đối « kỳ cựu » với trường so với các thế hệ học sinh đàn em sau nầy thì phòng thí nghiệm của trường đã tạo cho mình rất nhiều kỷ niệm. Từ những dịp lớp học phân ra làm hai phần vì lý do đến giờ học sinh ngữ, các bạn cùng lớp chọn môn Anh văn thì học tại lớp, còn mình là trong nhóm học sinh của lớp chọn môn Pháp văn thì phải kéo nhau đi « lên » phòng thí nghiệm để có chỗ học giờ Pháp Văn (vì thời điểm đó trường chỉ có đủ phòng học dành cho 6 cấp bậc: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam và đệ nhị, do đó không có phòng trống khác), cho đến các dịp học môn Võ (Karaté) do thầy Bùi Hữu Trí tổ chức dạy ngoài giờ chánh thức cho các học sinh nào muốn theo học, thầy dùng một chỗ thoáng rộng trong phòng thí nghiệm đó để thực hành dạy võ, rồi đến những dịp cuối năm, nhà trường dùng toàn bộ phòng thí nghiệm để tổ chức lễ phát thưởng có dựng sân khấu và có văn nghệ giúp vui, tất cả những dịp nầy mình đều có tham dự nên biết rất rỏ từng góc cạnh của phòng thí nghiệm nầy. Ngày nay phòng thí nghiệm của trường không còn nữa, hình ảnh của phòng thí nghiệm chỉ còn trong trí nhớ và trên vài tấm ảnh đã ngả màu với thời gian, tưởng cũng nên nhắc nhở lại cái gốc tích vốn ít có người biết đến của căn phòng thí nghiệm nầy hầu để thế hệ sau biết chút ít về sự sinh hoạt và phát triển các hoạt động của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Mặc dù chúng ta không biết nhiều về sự ra đời của phòng thí nghiệm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng sau những năm học hành và sinh hoạt ở trường, chúng ta cũng có được vài khái niệm và ấn tượng về dãy phòng thí nghiệm nầy …Chỉ riêng cơ sở của phòng thí nghiệm trông rất quy mô hơn cả dãy lớp học chánh, với các thiết bị Vật Lý, Hóa Học cao cấp cho các lớp đệ tam, đệ nhị, thậm chí có thể nói là có thể dùng cho bậc Đại Học nữa… thì nguồn gốc và sự phát triển của phòng thí nghiệm đó phải rất đặc biệt và được nguồn tài trợ nào đó mà chúng ta phải tìm hiểu. Mời thầy cô và các bạn đọc bài viết do thầy Trương Minh Đạt gởi đến, mục đích giúp chúng ta hiểu rỏ giai đoạn ra đời của phòng thí nghiệm trong những năm đầu khi ngôi trường Trung Học Hà Tiên được thành lập với ý chí và sự vận động của thầy để con em học sinh Hà Tiên được có một ngôi trường bậc Trung Học để theo học mà khỏi phải đi ra các tỉnh thành xa xôi thời đó…(Paris, mùng một Tết năm Tân Sửu, nhầm ngày thứ sáu 12/02/2021, TVM viết lời giới thiệu)

PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀ TIÊN XƯA NHƯ TÔI BIẾT (Trương Minh Đạt)      

Trước đây tôi có bài nói rằng năm 1954, khi vừa tốt nghiệp trường Sư Phạm Nam Việt Sài Gòn, tôi được về quê nhà dạy học tại Hà Tiên. Năm sau, 1955, tôi được ông hiệu trưởng kiêm Thanh tra Tiểu học Hà Văn Điền giao nhiệm vụ cầm đơn thỉnh nguyện của nhân dân Hà Tiên về Sài Gòn, gặp giám đốc Nha Trung Tiểu Học Trần Bá Chức, trình bày việc xin mở trường Trung học. Từ đó ở đây mới có lớp Đệ Thất, Đệ Lục bậc Trung học, thế nhưng các em phải ngồi nhờ một hai phòng ở trường Nam Tiểu học. Năm học sau Hà Tiên chính thức có trường Trung học.

Bây giờ đón Tết Tân Sửu 2021, nhằm ôn cố tri tân là để tri ân các bậc có công lớn trong sự nghiệp giáo dục tại quê nhà, tôi xin nói về sự ra đời phòng thí nghiệm của trường Trung học Hà Tiên xưa.

…Vào hè năm 1955, tôi lại được ông hiệu trưởng Hà Văn Điền đề cử theo học khóa tu nghiệp ở trường Trung học Gia Long – Sài Gòn. Đặc biệt khóa học có chương trình hướng dẫn cách tổ chức một trường Trung học kể cả điều hành một phòng thí nghiệm cấp Trung học.

Rồi năm 1958, một lần nữa, ông hiệu trưởng Hà Văn Điền giao cho tôi việc đi liên hệ với NHA TRUNG HỌC SÀI GÒN, xin thiết lập phòng thí nghiệm cho trường. Khi được Nha duyệt xét, Hà Tiên bắt đầu xây phòng thí nghiệm trong khu vực trường theo sơ đồ của Nha đưa ra. Đó là bản sơ đồ khuôn mẫu dành cho các trường Trung học lúc bấy giờ, gồm một nhà có chiều ngang trải dài được chia làm hai ngăn như hai phòng. Phòng đầu tiên nhỏ, ngang 6 mét, sâu 10 mét. Phòng lớn ngang 15 mét, chiều sâu bằng phòng nhỏ. Phòng thí nghiệm Hà Tiên nằm dưới chân núi Ngũ Hổ, mặt tiền hướng lên núi nhưng  ngỏ vào thì ở đầu đường Mạc Công Du. Cũng theo sơ đồ này, phòng nhỏ, dành chứa các vật liệu và để giáo viên tự làm thí nghiệm trước khi hướng dẫn thí nghiệm. Phòng lớn là phòng học sinh làm thí nghiệm, giữa phòng có cái bàn dài, đặt sẵn các vật dụng như đĩa vuông, lọ, bình cổ cao, ống nghiệm, que đũa v.v.,  được sắp ra nhiều cụm, giúp học sinh thoải mái sử dụng khi cần. Phòng này lại có nhiều tủ nhỏ được gắn lên tường để cất các chai lọ chứa các chất như a-xít, lưu huỳnh, muối, rượu, nước v.v…

 Khi phòng thí nghiệm của trường hoàn thành, ông Hiệu Trưởng Hà Văn Điền nói với tôi : “ Tôi (ông Điền ) được lịnh của Nha Trung học cho biết, phần vỏ thì địa phương lo còn phần ruột thì để Nha Trung học lo, nghĩa là dụng cụ thí nghiệm sẽ do Nha Trung học giao thẳng cho trường, nhưng tôi nghĩ mình nên đích thân đi nhận vì chờ Nha, mình sẽ bị động. Tôi viết giấy giới thiệu, em sắp xếp đi Sài Gòn tiếp nhận, ghi chép, lưu giữ sổ sách và điều hành công việc.” Tôi nghe vậy lo lắm vì đây là một trọng trách.

Thấy phòng thí nghiệm “của mình” có nhiều cửa kính, lọai mỏng 3 ly, dạng cửa chớp lại nằm dưới chân núi, đến mùa mưa gặp gió lớn dễ bị vở kính. Để bảo quản, tôi hướng dẫn học trò của mình là các em Trần Phình Chu, Đường Minh Phương, Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng, … cắt giấy làm hoa văn dán lên kính, phòng khi kính vở, giấy dán sẽ giữ kính không rơi rớt, không xé toạc.

Nhận nhiệm vụ tiếp quản, điều hành phòng thí nghiệm không bao lâu thì ông hiệu trưởng Hà Văn Điền về hưu. Tân hiệu trưởng là ông Hồ Văn Chiếu từ Rạch Giá được điều về. Và tự nhiên, tôi nhận thấy ông Chiếu hay chú ý đến tôi, có phần thiện cảm. (Tôi nghĩ là ông đốc Điền có nói với ông Chiếu về tôi). Một hôm, ông Chiếu gọi tôi vào phòng Hiệu trưởng, khuyên tôi nên nghe lời ông, vì tình hình hoàn cảnh riêng, nên xa Hà Tiên càng sớm càng tốt. Thế là tôi đành để lại mẹ già, từ giả ngôi trường Trung Học Hà Tiên thân yêu, các bạn đồng nghiệp cùng các em học sinh. Tôi ra đi vào cuối hè 1959, để đến một nơi xa lạ là Phan Rang, theo quyết định của Nha Trung học Sài Gòn. Đến Phan Rang, tôi dạy tại trường Trung học Duy Tân, sau đó được chuyển về Phan Thiết theo nguyện vọng, rồi phải đi lính vì chiến sự.

Xa rời Hà Tiên từ lúc đó, tôi nào biết sự thể tình hình hoạt động trường Trung học và phòng thí nghiệm thời ông hiệu trưởng Hồ Văn Chiếu được phát triển ra sao.

Trong nỗi nhớ miên man về trường Trung học Hà Tiên và phòng thí nghiệm xưa, tôi không sao quên được công lao của người dân Hà Tiên đã một thời tạo dựng nó, điển hình là ông Hiệu trưởng kiêmThanh Tra Tiểu học Hà Văn Điền./.

 Hà Tiên cuối đông Canh tí – 2021 (TMD)

Giấy chứng nhận khóa tu nghiệp ở trường Trung học Gia Long – Sài Gòn. Đặc biệt khóa học có chương trình hướng dẫn cách tổ chức một trường Trung học kể cả điều hành một phòng thí nghiệm cấp Trung học.

Tái bút:

1/ Bài viết của thầy Trương Minh Đạt cho chúng ta thấy sự ra đời của phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên. Qua đến giai đoạn kế tiếp vào cuối hè năm 1959, lúc thầy Trương Minh Đạt rời Hà Tiên, phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên được tiếp tục phát triển do sự trợ giúp của các nhân viên quân sự người Mỹ lúc đó đóng tại Hà Tiên. Theo ý kiến những bậc đàn anh học sinh thời đó, nhà trường thời đó có tổ chức một buổi lễ khánh thành dãy phòng thí nghiệm của trường, có thầy Hồ Văn Chiếu tham dự. Sau nầy chúng ta được quý đàn anh góp ý thông tin về việc trang bị thêm cho phòng thí nghiệm các dụng cụ khoa học quy mô và hiện đại so với thời gian lúc đó, việc nầy cũng là do cơ duyên tốt đẹp đến với ngôi trường của chúng ta. Câu chuyện được kể lại như sau:

Vật liệu của phòng thí nghiệm rất đắt tiền, không một trường trung học nào có khả năng gây quỷ đủ để tạo lập phòng thí nghiệm hiện đại này (vào thời đó tỉnh Kiên Giang chưa có phòng thí nghiệm như vậy). Phòng thí nghiệm này có được một phần cũng do sự đóng góp của thầy Vỏ Thành Tài (em thầy Vỏ Thành Tường). Ngày xưa khi Phái đoàn Cố vấn Mỷ đến Hà Tiên họ khó tìm được thông dịch viên tiếng Anh nên tìm đến trường trung học Hà Tiên để tìm một thông dịch viên giúp họ. Với tư cách giáo sư dạy sinh ngữ tại trường lúc đó, thầy Võ Thành Tài nhận làm công việc nầy với tính cách không nhận tiền thù lao nên rất được ông Đại Uý cố vấn Mỷ kính trọng. Tánh người Mỷ rất sòng phẳng nên khi sắp hết nhiệm kỳ ông Đại Úy cố vấn nầy muốn giúp cho ngôi trường chúng ta một phần nào về vật chất để đáp trả lại công lao của thầy Võ Thành Tài, vì thế thầy Võ Thành Tài nhân cơ hội nầy góp ý với phái đpàn người Mỹ về việc trang bị thêm về vật chất cho căn phòng thí nghiệm của trường đã được thành hình nhưng cần được phát triển thêm. Vì thế phòng thí nghiệm được trang bị thêm nhiều dụng cụ, vật liệu rất quy mô và hiện đại. Đây là một việc làm rất tốt đẹp và đáng được chúng ta ghi nhớ về công lao của thầy Võ Thành Tài trong công việc giúp cho trường Trung Học Hà Tiên được phát triển như thế.

2/ Xin cám ơn thầy Trương Minh Đạt về bài viết giúp hậu sinh biết rỏ nguồn gốc ra đời của phòng thí nghiệm trường Hà Tiên và xin cám ơn quý đàn anh cựu học sinh thời xưa của trường Trung Học Hà Tiên đã góp ý thông tin giúp hiểu thêm về sự phát triển của phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên. Xin quý độc giả, các vị tiền bối, đàn anh đàn chị vui lòng đóng góp, thông tin thêm về đề tài nầy để chúng ta có được một nguồn tài liệu quý giá và hiểu rỏ thêm về ngôi trường thân yêu của chúng ta. Xin cám ơn tất cả.

Hình trái: Thầy Trương Minh Đạt, hình phải: Thầy Võ Thành Tài . Trường Trung Học Hà Tiên.

Sơ đồ vị trí phòng thí nghiệm trong khu vực trường Trung Học Hà Tiên thời xưa.

Vị trí phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên so với đồi Ngũ Hổ, Hà Tiên. Photo: Rich Krebs (1966-1970)*

Vị trí phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên so với đồi Ngũ Hổ, Hà Tiên. Photo: Rich Krebs (1966-1970)*. Chú thích hình:  1/ Phòng Thí Nghiệm. 2/ Dãy lớp trường Trung Học Hà Tiên. 3/ Văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên. 4/ Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. 5/ Nhà tù xưa. 6/ Căn cứ duyên đoàn 44 Hải Quân.

Kỷ niệm ngày lễ phát thưởng học sinh nhân dịp cuối niên học, ngày 03/06/1967. Thầy Nguyễn Văn Thành trao phần thưởng cho học sinh Trần Văn Mãnh. Buổi lễ tổ chức bên trong phòng thí nghiệm trường Trung Học Hà Tiên.

Học sinh chụp hình trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ).  (1960-1970). Hình: Trần Hoàng Trang

Học sinh chụp hình tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969). Sau hình ta thấy rỏ ao nước có tên ao Sà Lách, dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba. Hình: Dương Phương Hà

Học sinh của một lớp học Trung Học Hà Tiên chụp hình tại sân trường, phía sau ta thấy rỏ Lầu Ba và phòng thí nghiệm vẫn còn vào thời điểm 1975. Hình: Dương Minh Đức,

http://www.tf116.org/vgallery7.html#Krebs

https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/albums/page8