Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỷ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sống hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vãng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sống trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lửa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bỗng thấy dạt dào kỷ niệm và buồn da diết, lòng nửa vui nửa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lửa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bỗng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bỗng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Thi hào Camoëns, tập sử thi và cuộc đắm tàu gần vùng biển Hà Tiên

Thi hào Camoëns, tập sử thi và cuộc đắm tàu gần vùng biển Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, thật là một sự tình cờ và cũng là một thiếu sót lớn lao nếu mình không có một dịp tìm kiếm, khảo sát các quyển niên giám tổng quát của Đông Dương trên thư viện số của thư viện quốc gia Pháp (BnF: Bibliothèque nationale de France) trong những năm 1900 đến 1925. Thật vậy, khi đọc quyển niên giám về năm 1909, qua phần nói về tỉnh Hà Tiên, đến tỉnh Mỹ Tho, mình phát hiện ra một thông tin khá thú vị và bất ngờ. Trong thông tin nầy có nói đến một người nước Bồ Đào Nha (Portugal) tên là Camoëns  vào khoảng giữa thế kỷ thứ 16, bị đắm tàu khi con tàu chở ông đi qua vùng vịnh gần Hà Tiên và được cư dân vùng nầy tiếp cứu, sau đó đưa ông đến Mỹ Tho. Chúng ta cũng biết rằng vào thế kỷ thứ 16, Mạc Cửu chưa đến vùng Hà Tiên và nơi nầy hoàn toàn chưa có chủ quyền nhất định mặc dù về phương diện địa lý, vùng nầy thuộc Vương Quốc Khmer. Về mặt xã hội, vùng nầy chỉ có một số cư dân nhiều gốc gác đến sinh sống, nhất là người Việt, người Khmer và người Trung Hoa…v…v…Vậy Camoëns là ai, tại sao ông lại đi qua vùng biển nầy và chi tiết ông được cư dân cứu sống như thế nào, mời thầy cô và các bạn đọc qua bài viết dưới đây, bài được viết sau nhiều thời gian tham khảo các tài liệu xưa của các tác giả viết về ông Camoëns và tác phẩm của ông mặc dù còn rất nhiều điểm chưa được biết rỏ về cuộc đời của ông.

A/ Sơ lược về tiểu sử ông Camoëns:

Luis Vaz de Camões, người Pháp gọi là «Le Camoëns» được coi như là một nhà thơ vĩ đại nhất của Bồ Đào Nha (Portugal), và là đối tượng của một sự sùng bái thực sự của người dân Bồ Đào Nha nói chung, và những người trong lãnh vực thơ văn nói riêng. Tài năng về thi ca của ông có thể sánh bằng Molière (nước Pháp), Dante (nước Ý) hay Shakespeare (nước Anh). Vì thế người ta xem ông như một trong những đại thi hào của thế giới.

H1: Chân dung bằng hình vẽ của thi hào Camoëns

Cuộc đời của thi hào Camoëns không được biết một cách chính xác vì có nhiều điểm pha trộn giữa thực tế lịch sử và huyền thoại. Ngay cả năm và nơi sinh của ông cũng chưa được ghi rỏ, nhiều nguồn ghi ông sinh năm 1524 (hay 1525) tại Lisbonne,  thủ đô nước Bồ Đào Nha (giả thuyết nầy được tin cậy nhất trong ba thành phố được ghi lại là nơi sinh của ông : Lisbonne, Coïmbre, Santarem)  trong một gia đình quý tộc nhưng nghèo. Sách còn ghi là mẹ của ông có bà con với nhà hàng hải nổi tiếng Vasco de Gama (người Bồ Đào Nha).

Lúc nhỏ ông có được một nền giáo dục tốt, học chuyên về ngôn ngữ và văn học : La Tinh, Hy Lạp, La Mã, Tây Ban Nha…Lớn lên ông về Lisbonne, thôi học vì có nhiều chuyện tình lôi thôi. Sau đó, ông vào đội quân đi tham chiến ở nước Maroc và bị thương hư một mắt. Trở về Lisbonne, ông sống một cuộc sống du mục. Trong một cuộc đọ sức ông gây ra thương tích cho một người quý tộc nên bị vào tù. Một năm sau ông được thả ra và tình nguyện vào hạm đội đi vùng Đông phương (nước Ấn Độ). Tại Ấn Độ, ông lưu trú ở thành phố Goa, một thành phố thuộc bờ biển phía tây của Ấn Độ, sống với một số tiền rất nhỏ. Đến năm 1559, vì ông viết một số bài thơ chế nhạo các viên chức Bồ Đào Nha trong phần thuộc địa nầy nên bị lưu đày đi đảo Moluques (thuộc Nam Dương), một thời gian sau ông được cử đi làm việc ở Macao (Trung Hoa). Từ đây ông bắt đầu viết tiếp theo phần lớn tập thơ Les Lusiades (Os Lusiadas) mà về sau nầy đã trở thành kiệt tác của ông và của cả nước Bồ Đào Nha.

Một thời gian sau (khoảng năm 1560) ông có được đủ tiền và được phép trở về thành phố Goa ở Ấn Độ. Chính trong chuyến vượt biển đầy gian nguy nầy trên đường về, lúc đi gần vịnh Xiêm và ngoài khơi vùng đất tuy thời đó thuộc đế chế Khmer nhưng bị bỏ hoang (đó là vùng đất sau nầy hơn 150 năm trở thành vùng đất mang tên là Hà Tiên do ông Mạc Cửu gầy dựng nên), đến cửa biển của vùng đất nầy, thuyền của ông Camoëns bị một cơn bão lớn và bị chìm…Nhiều người đồng hành bị chết  và vật chất của cải trên tàu bị trôi mất cả, ngay cả ông Camoëns cũng suýt bị chết trong chuyến nầy, nhiều nguồn sách pha trộn với huyền thoại ghi lại là ông không cứu được người vợ người Trung Hoa của ông cùng đi theo ông, ông chỉ cứu được tác phẩm to lớn của ông là tập thơ Les Lusiades (Os Lusíadas) bằng cách một tay cầm bản thảo tập thơ giơ lên cao khỏi mặt biển và tay kia bơi vào bờ…Theo quyển niên giám tổng quát Đông Dương (năm 1909) phần viết về tỉnh Mỹ Tho, người Pháp có ghi lại là ông Camoëns bị đắm tàu ở gần Hà Tiên, được người ta cứu sống và đưa ông về tỉnh Mỹ Tho nơi mà sau nầy có một thương điếm do người Bồ Đào Nha dựng lên.

Sau cơn tai nạn đắm tàu biển đó, năm 1561 ông được trở về thành phố Goa ở Ấn Độ, nhưng lại bị kết tội về lạm dụng tiền bạc lúc ông làm việc ở Macao, ông bị vào tù và được thả ra vài năm sau. Khoảng năm 1564 ông được cho về Lisbonne, nước Bồ Đào Nha, trên đường về ông ghé lại đảo Mozambique ở bờ biển phía đông của Phi Châu và vốn là một thuộc địa của Bồ Đào Nha. Tại đây ông sống một thời gian trong tình trạng nghèo nàn không có tiền bạc. Một vài tác phẩm do ông viết lúc ở đảo nầy bị đánh cắp mất và không còn tìm lại được sau nầy. Đến năm 1570 ông mới được về đến Lisbonne do có người bảo trợ chu cấp tiền cho ông đi tiếp cuộc hải trình từ đảo Mozambique về đến Lisbonne.

Vào năm 1572, ông cho công bố tập thơ kiệt tác Les Lusiades (Os Lusiadas). Tác phẩm được giới thi văn học đón nhận niềm nở và được sự ngưởng mộ của vua Sébastien Bồ Đào Nha, từ đó ông được một số tiền trợ cấp nhỏ do vua cung cấp để sống. Tuy nhiên vua Sébastien lại chết trận sau đó, ông Camoens mất đi người bảo trợ, ông lại trở thành nghèo khổ mặc dù tác phẩm của ông lại rất thành công…

Luis de Camões, chán ghét những tệ nạn của triều đình, tuyệt vọng trước những bất hạnh của đất nước mình đã rơi vào tay của vua Philippe II của Tây Ban Nha (Espagne), đã trải qua những tháng cuối đời trong sự thờ ơ và thiếu thốn. Ông qua đời ở Lisbonne vào ngày 10 tháng 6 năm 1580, ở tuổi 55.

B/ Kiệt tác : Tập sử thi Os Lusiadas :

Les Lusiades (Os Lusiadas trong bản gốc tiếng Bồ Đào Nha) là một thiên sử thi của Luis de Camões, có lẽ hoàn thành vài năm trước khi được xuất bản vào năm 1572, ba năm sau khi ông từ Ấn Độ trở về. Giống như các kiệt tác Iliade hay Odyssée của Hy Lạp cổ đại hay Énéide của Rome, Les Lusiades là một tác phẩm nhằm kể lại, tôn vinh sự ra đời và vận mệnh của quốc gia đế chế Bồ Đào Nha. Tập thơ gồm gần 9000 câu thơ, chia làm 10 đoạn (Chants, Cantos), mỗi đoạn gồm trung bình 110 khổ thơ (Strophes), mỗi khổ thơ chứa 8 câu thơ.

Tập thơ được coi là tác phẩm quan trọng nhất của di sản thi văn học Bồ Đào Nha, cả về phẩm chất lẫn về lòng yêu nước mà tác phẩm truyền bá. Chủ đề trọng tâm của tác phẩm là ca tụng sự khám phá con đường biển đến Ấn Độ của Vasco de Gama. Xung quanh chủ đề này, chúng ta khám phá các giai đoạn khác trong lịch sử của Bồ Đào Nha từ thuở sơ khai đến thời Luis de Camões. Trong đó, ông tôn vinh người dân Bồ Đào Nha, thường xuyên nhắc đến thần thoại và các thời kỳ cổ điển. Thuật ngữ Lusiades cũng chỉ người Bồ Đào Nha, hậu duệ của người Lusitaniens.

Kiệt tác nầy là hoàn toàn dành riêng cho người Bồ Đào Nha, những anh hùng thực sự của bài thơ, ca ngợi chiến công và vinh quang của họ vào thời điểm có những khám phá hàng hải vĩ đại. Chính tiêu đề của tác phẩm đề cập đến Lusus, tổ tiên của người Bồ Đào Nha, định cư từ thời cổ đại ở phía tây bán đảo Ibérie, giữa con sông Tage và sông Douro. Do đó, đối với Lusiadas, Camoëns bày tỏ lòng kính trọng trong tác phẩm của mình, đối với « những đứa con của Lusus », những nhà hàng hải dũng cảm đã làm rạng danh tên tuổi trên tất cả các đại dương trên thế giới.

Thi hào Camoëns rất bị ám ảnh về chuyện ông bị đắm tàu ở vùng biển Đông Nam Á gần Hà Tiên đến mức độ ông đã kể lại sự kiện nầy ngay trong kiệt tác Les Lusiades của ông ở đoạn thơ cuối tác phẩm (đoạn thứ 10, khổ thơ 127 và 128). Bản dịch từ thơ gốc tiếng Bồ Đào Nha ra tiếng Pháp đoạn thơ nầy như sau :

Tu vois, par le Cambodge, le fleuve Mékong,
(…)
Celui-là recevra, placide et large,
Dans ses bras les Chants humides
Du triste et misérable naufrage,
Échappés des bas fonds tourmentés,
De la faim, des grands périls, quand
L’injuste commandement sera exécuté,
Sur celui dont la lyre sonore
Sera plus fameuse que fortunée.

Tạm dịch ra tiếng Việt :
Bạn thấy đấy, bên nước Cambodge, sông Cửu Long
Con sông nhẹ nhàng và rộng rải sẽ nhận
Trong những nhánh của sông, các đoạn thơ ướt át
Của một cuộc đắm tàu buồn bả và đau khổ
Những đoạn thơ thoát khỏi vùng cạn bão tố
Từ sự đói khát và nguy cơ
Khi mệnh lệnh bất công sẽ được thực hiện
Trên mệnh lệnh có tiếng đàn lia vang lên
Và sẽ nổi tiếng hơn may mắn…

Kiệt tác Les Lusiades nầy đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, đặc biệt là cũng được trích dịch ra tiếng Việt. Bản dịch thông dụng nhất từ dạng thơ gốc tiếng Bồ Đào Nha sang dạng văn xuôi tiếng Pháp vào năm 1825 là do Jean-Baptiste Millié (1772 – 1826).

Ngoài sử thi thành công nhất của thời kỳ Phục Hưng, Les Lusiades, thi hào Camoëns cũng là tác giả của nhiều bản kịch, tác phẩm triết học, những bài thơ trữ tình đặc biệt với chủ đề chính là tình yêu, đôi khi nhẹ nhàng và thông thường, đôi khi đau đớn và hoài cổ, đôi khi bị thương, nguồn gốc của sự cay đắng và cuộc nổi dậy. Những bài thơ đó là một trong những câu nói hay nhất trong tiếng Bồ Đào Nha.

H2: Trang bìa của tập thơ kiệt tác Les Lusiades (Os Lusiadas) của Camoëns, xuất bản năm 1572

C/ Các sự kiện gây tưởng nhớ thi hào Camoens :

C1-/ Ở thành phố Macao thuộc địa của Bồ Đào Nha thời xưa, có một khu vườn được mang tên Vườn Camoëns chung quanh một cái hang mang tên là Hang Camoëns, khu vườn được dựng lên năm 1835 để ghi nhớ sự việc khi ông còn ở Macao, đã trú ẩn trong hang đó để sáng tác tập thơ Les Lusiades. Ngày nay là một địa điểm du lịch.

C2-/ Một tượng đài hình ảnh ông được dựng lên ngay tại thủ đô Lisbonne vào năm 1856.

C3-/ Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất của thi hào Camoëns (từ năm 1580 đến năm 1880), nước Bồ Đào Nha lấy ngày 10 tháng 6 làm ngày « Ngày Bồ Đào Nha », ngày nầy được xem như là một ngày lễ lớn của nước Bồ Đào Nha và đặc biệt là của thủ đô Lisbonne. Sau nhiều lần đổi tên, ngày nay « Ngày Bồ Đào Nha » vẫn còn là ngày lễ của quốc gia và được toàn thể người Bồ Đào Nha trong nước lẫn những người Bồ Đào Nha ở khắp thế giới làm lễ trong ngày 10 tháng 6 nầy.

C4-/ Năm 1979, các nhà Thiên Văn Học đã khám phá một tiểu hành tinh (Astéroïde) mới trong vành đai các tiểu hành tinh chính của hệ mặt trời, vành đai nầy nằm ở giữa quỹ đạo của Sao Hỏa (Mars) và Sao Mộc (Jupiter) và đã đặt tên cho tiểu hành tinh nầy là Camoes.

C5-/ Ngoài ra còn có một tượng đài để tưởng nhớ ông ở Paris, được dựng lên vào năm 1987 và do Clara Menerès điêu khắc, ở đại lộ Camoëns tại quận 16 Paris ngay góc đại lộ Delessert (thực ra từ năm 1912 đã có một bức tượng bán thân của Camoëns do Hiệp hội nghiên cứu Bồ Đào Nha đặt tại đây, tuy nhiên vì có tranh chấp với công đoàn các chủ nhà hai bên đại lộ mang tên ông ở đây, bức tượng bị tháo gở đi, đến năm 1987 một tượng đài mới được dựng lên như đã nói ở trên).

C6-/ Một bức tượng của ông đặt trên đảo Mozambique, nơi không xa ngôi nhà mà ông đã sống trong thời gian ở trên đảo.

C7-/ Trên sao Thủy (Mercure) có một miệng núi lửa được đặt tên là Camoes.

C8-/ Một giải thưởng lớn về văn học được đặt tên là Giải thưởng Camoes được thành lập năm 1988 giữa hai nước Bồ Đào Nha và Ba Tây (Brésil). Sau đó năm 1989 giải thưởng nầy được dành cho tất cả các nước nói tiếng Bồ Đào Nha.

H3: Tượng đài hiện nay để tưởng nhớ Camoëns đặt tại quận 16, gần tháp Eiffel, thủ đô Paris. Hình: TVM

D/ Tính chất thực hư của sự kiện thi hào Camoëns bị đắm tàu gần vùng biển Hà Tiên :

D1-/ Nhắc lại sự kiện :

Theo nhiều nguồn tài liệu (kể cả các huyền thoại) phần tiểu sử của ông Camoëns có nói đến giai đoạn ông bị đắm tàu khi đi tàu từ Macao (Trung Hoa) trở về thành phố Goa ở Ấn Độ. Địa điểm chính xác của nơi đắm tàu không được ghi lại rỏ ràng và tùy theo các nguồn, ngay cả thời gian xảy ra sự kiện nầy cũng rất khác nhau.

Về địa điểm người ta ghi là ở ngay tại cửa sông Cửu Long (tên mà người Bồ Đào Nha ghi trên bản đồ hàng hải thời đó là Mecom, người Pháp ghi là Mecon). Nguồn khác ghi là ông bị đắm tàu ở tại vịnh Xiêm (Siam: tên xưa của Thái Lan) hay vịnh Cambodge, một nguồn khác thì ghi là ở gần Hà Tiên (hiểu là ở ngoài cửa biển thuộc vùng đất Hà Tiên vì vào thế kỷ 16 vùng nầy chưa có tên chánh thức là Hà Tiên và thuộc vùng đất hoang của đế chế Khmer). Lại có cả nguồn ghi ông bị đắm tàu ở Cap Saint Jacques (tên xưa của Vũng Tàu).

Về thời gian xảy ra việc đắm tàu, tổng hợp nhiều nguồn, ta chỉ có thể xác định trong khoảng từ năm 1556 đến năm 1560 (giữa thế kỷ thứ 16) mà thôi.

D2-/ Tình hình chánh trị và địa lý vùng Đông Nam Á vào thế kỷ 16 :

Tìm hiểu thêm về tình hình địa lý và chánh trị của Việt Nam nói riêng và của vùng Đông Nam Á nói chung trong thời kỳ nầy sẽ giúp cho việc xác định tính thực hư của sự kiện ông Camoens đắm tàu trong vùng biển gần Hà Tiên.

Một cách sơ lược, từ thế kỷ thứ 16, nước Việt Nam mang tên là Đại Việt, nhà Hậu Lê suy yếu, không còn khả năng quản lý đất nước. Các thế lực phong kiến nổi lên tranh giành quyền lực, nhà nước rơi vào tình trạng bị chia cắt. Phía Bắc, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lập nhà Mạc với một lãnh thổ nhỏ. Trong phần nước Đại Việt về phía Nam, công thần Nguyễn Kim giúp khôi phục nhà Hậu Lê và gây chiến tranh với họ Mạc, thời kỳ nầy gọi là thời nội chiến Lê-Mạc hay thời Nam Bắc triều, kéo dài gần 150 năm. Quyền lực nhà Lê đều nằm trong tay Trịnh Kiểm (con rể của Nguyễn Kim). Con của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng lánh nạn về phía Nam và từ đó hai họ Trịnh Nguyễn cai trị đất nước với danh nghĩa nhà Lê và sẽ là nguồn gốc của một cuộc nội chiến thứ hai vào đầu thế kỷ thứ 17, kéo dài cũng gần 150 năm.

Về địa lý, nước Đại Việt vào thế kỷ thứ 16 gồm gần như toàn bộ miền Bắc, kéo dài cả từ miền Trung về phía Nam cho tới Qui Nhơn, chấm dứt ở Phú Yên. Phần lãnh thổ tiếp theo về phía Nam : Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn còn thuộc Vương Quốc Chiêm Thành. Ngoài ra tất cả lãnh thổ còn lại về phía Nam cho đến vịnh Thái Lan đều là của Vương Quốc Khmer tuy vào thời kỳ nầy đã bắt đầu suy yếu vì các cuộc xâm chiếm liên tục của Xiêm La (Siam). Còn riêng vùng mà sau nầy trở thành vùng gọi là Lục Tỉnh miền Tây thì còn rất hoang sơ, có rất ít người ở, các dân tộc Việt, Khmer, Hoa sống chung với nhau thành từng cụm dân cư, không có cơ quan hành chánh đặc biệt, không có quan cai trị…

Về tình hình sinh hoạt đường hàng hải thì vào thế kỷ thứ 15 và 16 nầy, chính người Bồ Đào Nha đã chinh phục và gìn giữ trong vòng một thế kỷ sự độc quyền có mặt của người Âu Châu tại vùng đất Á Châu nầy về mặt thương mại và truyền giáo. Sau đó xuất hiện người Hòa Lan và người Anh vào cạnh tranh, trong khi đó người Pháp hoàn toàn vắng mặt.

Người Bồ Đào Nha đi tàu đến vùng Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 15 (khoảng năm 1498), lập thuộc địa Bồ Đào Nha tại Ấn Độ ở các thành phố Cochin (1503) và Goa (1510), đó là hai thành phố được xem như thủ đô của đế chế thuộc địa Bồ Đào Nha tại Đông phương. Từ đó người Bồ Đào Nha phát triển các cuộc tiếp xúc và chiếm thuộc địa làm cảng thương mại : năm 1511, chiếm Malacca (thuộc Mã Lai), đến Ayutthaya thuộc nước Xiêm năm 1511. Xây một thành ở Colombo (thuộc nước Tích Lan) năm 1518.

Năm 1524, người Bồ Đào Nha tiếp xúc với nước ta lúc đó tên là Đại Việt tại Hội An, sự kiện nầy được ghi dấu bằng một cột đá (padrão) dựng ở hòn đảo Cù Lao Chàm, đối diện với cảng Hội An.

Năm 1550, giáo sĩ người Bồ Đào Nha tên là Gaspar de Santa Cruz thuộc giáo hội Malacca đã đáp tàu đến vùng Cancao (hơn 150 năm sau, vùng đất nầy chính là vùng Hà Tiên của Mạc Cửu), lúc đó còn thuộc đế chế Khmer. Tuy nhiên giáo sĩ nầy không dừng lại để truyền đạo mà đi đến một hải cảng thuộc Bà Rịa để đáp tàu đi Quảng Châu (Trung Hoa).

Người Bồ Đào Nha đến Nagasaki (Nhật Bản) năm 1555. Thành lập kho thương mại ở Macao (Trung Hoa) năm 1557.

Trong các cuộc chinh phục các thành phố cảng trên các bờ biển thuộc vùng Đông phương nầy, các thương thuyền của ngườ Bồ Đào Nha chỉ chạy cặp theo các bờ biển và từ Cochin, Goa, họ đi tàu vượt eo biển Malacca, đi ngược lên vùng vịnh Xiêm La, chạy thẳng lên đến Macao rồi từ đó lên đến Nagasaki. Trong các chuyến đi như thế, họ chỉ ghé lại các nước ven biển như Cambodge và Việt Nam (Đại Việt) như để khám phá và tiếp xúc nhưng chưa có mục đích thiết lập thương điếm buôn bán vì họ nhận thấy điều kiện chưa thuận lợi do sự thờ ơ của người Khmer và các vua quan Việt Nam. Tuy thế chính người Bồ Đào Nha đã đi tàu và khám phá ra con sông Cửu Long (năm 1540) mà thời đó họ đặt tên là Mecom và một bản đồ thiết lập năm 1563 đã có nêu tên con sông nầy lần đầu tiên. Năm 1570, người Bồ Đào Nha khám phá ra lần đầu tiên các đền đài AngKor Vat ở nước Cambodge.

H4: Bản đồ hàng hải chỉ những nơi người Bồ Đào Nha đi tới trong thế kỷ 15 và 16

D3-/ Các chi tiết trong tập thơ Les Lusiades kể lại việc đắm tàu :

Trong đoạn 10 (Chant 10) của tập thơ Os Lusiadas (Les Lusiades), trong các khổ thơ (Strophes) số 125 đến 129, có nhiều từ ngữ (viết bằng tiếng Bồ Đào Nha) liên quan đến địa lý vùng Đông Nam Á và đặc biệt là Camoëns đã nhắc lại vụ ông bị đắm tàu ở vùng biển gần vịnh Siam :

Khổ thơ 125, câu 6 có từ : Sião = Siam (Xiêm La).

Khổ thơ 126 câu 3 có từ : Laos : Nước Lào.

Khổ thơ 127, câu 1 có từ Camboja = Cambodge (Cao Miên, Khmer) và từ Mecom = Mékong (Cửu Long)

Khổ thơ 128, câu 3 có từ : naufrágio = Sự đắm tàu.

Khổ thơ 129 câu 1 có từ : Champá = Champa = Chiêm Thành (Chàm) ; câu 3 có từ : Cauchichina = Cochinchine (vào thể kỷ 16 từ nầy chỉ toàn thể nước Đại Việt – Việt Nam); câu 4 có từ : Ainão = có thể là An Nam (từ chỉ nước Việt Nam ngày xưa ?).

Để hiểu được ý của tác giả kể lại trong 5 khổ thơ nầy, chúng ta tạm đọc theo bản tiếng Việt dịch ra từ văn xuôi tiếng Pháp của Jean-Baptiste Millié người dịch các khổ thơ nầy từ tiếng gốc Bồ Đào Nha và xuất bản năm 1825 như sau :

« Phía đầu của lục địa có mỏm đất Singapour bao quanh, chúng ta hãy đi vào con kênh dài này, nơi tuyến đường biển thu hẹp lại của các nhà hàng hải. Những khúc quanh co của bờ biển dẫn chúng ta đến các vương quốc Lahang, Patane, đến những vùng đất rộng lớn phụ thuộc vào đế chế Siam. Con sông cung cấp nguồn nước cho họ bắt nguồn từ hồ Chamai.

Trên bề mặt bao la này là những quốc gia trải rộng vẫn chưa được biết đến: có các dân tộc Lào, tự hào về số lượng và phạm vi lãnh thổ của họ; người Avans, người Bramas, những người sống trong các dãy núi dài. Đến những đỉnh núi xa xôi nhất, bạn sẽ thấy những người Guéos du mục, những người tàn ác và man rợ, những kẻ ăn thịt người. Cơ thể của họ được tô điểm bằng nhiều hình vẽ khác nhau bằng thanh sắt nóng ấn vào.

Dòng sông Mecon chảy qua vùng đồng bằng của Campuchia, con sông ngự trị các dòng nước. Vào mùa hè con sông nhận nước vào từ hàng ngàn các nguồn sông khác, nó lớn rộng ra và tràn ngập cả vùng nông thôn ở phía xa. Những cư dân trên hai bờ của sông đó tin rằng các loài động vật cũng có các miền đau khổ và an nhàn của chúng.

Dòng sông hữu ích, một ngày nào đó, đôi bờ sông hiếu khách sẽ cứu được một kho tàng thơ ca khỏi con tàu đắm, tập thơ đã bị ngọn sóng cay đắng thấm ướt; chỉ nhờ có các mảnh vụn con tàu mới thoát khỏi cạm bẫy của một đại dương bao la, thoát khỏi bão tố, thoát khỏi vô số hiểm nguy, thoát khỏi tất cả những đau khổ sẽ lấn át kẻ lưu đày nầy mà cây đàn lia hòa hợp sẽ có vinh quang hơn là may mắn.

Nhưng hãy cùng tôi chiêm ngưỡng bờ biển chứa đầy những cụm rừng cây thơm của nước Chiêm Thành, nước Việt Nam, vẫn còn ít người biết đến, và con vịnh nhỏ Ainan chưa được biết đến; cuối cùng là Trung Quốc, nơi mà sự phong phú đổ tràn vào các kho của báu. Các khu vực rộng lớn của nước nầy trải dài từ vùng nhiệt đới rực lửa đến vùng băng giá ».

Rỏ ràng là trong đoạn 10 của thiên thi sử ca Les Lusiades mà ta đã đọc được ý chính của Camoëns qua 5 khổ thơ viết thành văn xuôi ở trên, ông đã kể lại cuộc hải hành của ông, qua đó ông đă nhìn thấy nhiều vùng xa lạ, các quốc gia chưa được người Âu Châu biết đến, với những cư dân miền núi, những bộ lạc còn sơ khai…Khi nói đến con sông Mecon (sông Cửu Long) ông đã ca tụng đó là con sông đã cứu sống ông, và nhất là cứu sống được tác phẩm thi ca của ông. Ông cũng nhớ ơn những cư dân (có thể là người Việt, Khmer và người Hoa) sống ở hai bên bờ sông, rất hiếu khách và đã tiếp cứu ông…

Thực ra các chi tiết chính xác và thực tế về việc từ lúc Camoëns bị đắm tàu cho đến phương cách ông được cứu sống qua cơn đắm tàu, được đưa lên bờ và được cư dân nuôi sống như thế nào, có rất ít các nguồn tài liệu kể lại.

Các chi tiết về giai đoạn nầy mà ngày nay chúng ta có một cách có thể xem như tạm đầy đủ nhất được kể lại qua một số tác giả : Jean Pierre Nicéron (1685 – 1738), Charles Magnin (1793 – 1862), Raoul De Navery (1828 – 1885), Clovis Lamarre (1836 – 1899), Jean François Antoine Brébion (1857 – 1917), Henri De Lunaret (1861 – 1919), Jean Michel Strobino (1956 –   ),  ..v..v…

Theo nguồn của các tác giả kể trên, khi đi tàu từ Macao (Trung Hoa) trở về thành phố Goa (Ấn Độ), Camoëns đi cùng với một người giúp việc của ông, đó là người gốc đảo Java (Chà Và) thuộc nước Nam Dương, người ta gán cho người giúp việc nầy tên là Antonio (riêng trong tác phẩm của Nicéron thì người giúp việc Chà Và nầy có tên là Jean). Chính Antonio đã giúp Camoëns thoát chết trong lúc bị đắm tàu ở vùng biển Cambodge (gần vùng Hà Tiên hiện nay, hoặc ngay một trong các cửa sông Cửu Long tùy theo nguồn dẫn), hơn nữa, hai người chủ và tớ cũng đã cứu được tác phẩm để đời Les Lusiades của Camoëns, có thể nói đối với Antonio, toàn thể Âu Châu có món nợ với anh ta vì đã bảo toàn được tác phẩm Les Lusiades khỏi bị mất đi ngoài biển.

Khi đến bờ sông Cửu Long, Camoëns và Antonio được các cư dân lúc bấy giờ sống ở hai bên bờ, đa số là người Việt, người Khmer và người Hoa tiếp đón và nuôi sống một thời gian, tuy nhiên không có nguồn nào đồng nhất về thời gian Camoëns ở lại vùng đất thuộc Vương Quốc Khmer nầy, chỉ biết là ông có sáng tác nhiều bài thơ trong thời gian nầy và thời gian ở lại vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy không quá một năm.

Có một nguồn tài liệu khá ngạc nhiên lẫn thích thú và chính đó cũng là nguyên nhân có bài viết nầy, đó là trong một quyển niên giám tổng quát về Đông Dương, số viết về năm 1909 và do người Pháp xuất bản, phần chuyên khảo về tỉnh Mỹ Tho có đoạn nói đến sự đắm tàu của Camoëns như sau (bản tạm dịch ra tiếng Việt từ nguyên văn gốc tiếng Pháp) :

« Lịch sử địa phương về các giai đoạn trước cuộc chinh phục của người An Nam không được biết đến nhiều do thiếu tài liệu. Người ta chỉ biết rằng sáu tỉnh miền Nam của người Pháp chúng ta chiếm được là một phần của vương quốc Khmer đã bị người An Nam chinh phục. Lịch sử cũng đề cập đến vụ đắm tàu ​​gần Hà Tiên, vào khoảng năm 1556, của con tàu chở Camoens và kiệt tác của ông. Người ta nói rằng con người vĩ đại nầy đã được đưa bằng thuyền đến Mỹ Tho, nơi người Bồ Đào Nha đã thiết lập một thương điếm bằng đường biển ».

Nếu ta so sánh với các nguồn đã kể ở đoạn trước thì có hai sự khác biệt : về năm xảy ra vụ đắm tàu và nơi chốn. Nguồn trong quyển niêm giám Đông Dương, năm 1909 ghi vụ đắm tàu vào năm 1556 và địa điểm đắm tàu gần Hà Tiên. Nhiều nguồn tin cậy hơn ghi rỏ là Camoëns làm việc ở Macao (Trung Hoa) và được phép trở về thành phố Goa (Ấn Độ) năm 1560, chính trong năm 1560 tàu chở ông về bị đắm ở cửa sông Cửu Long (hoặc ở vùng vịnh Siam mà thời đó cũng được gọi là vịnh Cambodge). Không có một tài liệu nào ghỉ rỏ thêm tên tỉnh Mỹ Tho, nơi ông được cư dân đưa về ở đó sau khi ông lên bờ sông Cửu Long như đoạn văn trích dẫn phía trên của quyển niên giám Đông Dương năm 1909.

Tuy nhiên rỏ ràng là thành phố Mỹ Tho nằm trên bờ sông Tiền Giang, một trong hai chi nhánh chính của sông Cửu Long mà thời đó sách địa lý còn gọi là sông Cambodge vì con sông nầy nối liền đến miền cao trong nội địa của lãnh thổ Cambodge. Như vậy việc các cư dân vùng Vương Quốc Khmer đã đưa ông và người giúp việc đến ở vùng Mỹ Tho có thể là bằng cách đi thuyền trên nhánh sông Cửu Long đó, việc nầy cũng có phần hợp lý. Ngoài ra khi Camoëns bị đắm tàu trong vùng vịnh Siam (hay vịnh Cambodge, xem hình 5 : vùng khoanh tròn có đánh số 1) hoặc ở ngay một trong các cửa sông của sông Cửu Long (xem hình 5 : vùng khoanh tròn có đánh số 2) thì nói là nơi đắm tàu ở gần Hà Tiên cũng không hoàn toàn sai vì hai nơi nầy đều là hoặc ở ngay vùng sẽ có tên là Hà Tiên sau nầy (trường hợp 1) hoặc là gần toàn bộ vùng đất đai thuộc tên Hà Tiên (trường hợp 2) nếu cho nơi đắm tàu là ngay cửa sông Cửu Long.

H5: Bản đồ chỉ hải trình của tàu chở Camoëns đi ngang qua vùng cửa sông Cửu Long và vùng vịnh Siam. Vùng màu cam 1 và 2 là nơi có thể xảy ra vụ đắm tàu

Vả lại theo tác giả Jean Michel Strobino, mặc dù sự kiện Camoëns bị đắm tàu ở cửa sông Cửu Long ít được biết đến một cách chính xác, nhưng sự kiện nầy đã tình cờ làm cho Camoëns trở thành một trong vài người Tây Phương đầu tiên di chuyển bằng thuyền trên sông Cửu Long (trước đó chí có vài giáo sĩ Bồ Đào Nha đến và đi thuyền trên con sông nầy). Từ đó phải đợi hơn 80 năm sau, một người thương buôn Hòa Lan Gerrit Van Wuysthoff mới khám phá ra sông Cửu Long vào năm 1641. Ngoài ra chính Camoëns đã làm cho thông dụng cái tên Mecom (tên sông Cửu Long vào thế kỷ 16 do người Tây Phương đặt) từ đó về sau.

Trong quyển sách « Les Voyages de Camoëns » do Raoul De Navery viết và xuất bản ở Paris năm 1880, có một chi tiết khá thú vị là trong thời gian ông được lưu trú ở nhà cư dân bên bờ sông Cửu Long khi vừa được cứu sống nạn đắm tàu, các bạn ông ở thành phố Goa (Ấn Độ) đang chờ ông về đây, vì chờ đợi khá lâu nên dò hỏi và biết được ông bị nạn đắm tàu và đang tạm trú ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, những người bạn nầy góp công góp của mướn một chiếc tàu từ Goa đến vùng bờ sông Cửu Long để tìm và đưa ông về. Vài tuần lễ sau, Camoëns và người đày tớ Java của ông lên tàu về đến Malacca (Mã lai). Tại đây không thiếu các dịp đáp tàu về đến Goa, từ đó hai người đã được về đến thành phố Goa và đã gặp lại đầy đủ các người bạn đã giúp ông.

Một nguồn chính thức khác có ghi chép lại sự kiên Camoëns bị đắm tàu ở vùng biển Cambodge là do một người cùng thời và là bạn thân thiết với Camoëns, nhà Sử học Bồ Đào Nha Diogo do Couto (1542 – 1616), ông nầy đã ghi chép lại chi tiết Camoëns bị đắm tàu trong tập Sử có tên là Décadas da Ásia (Những thập kỷ của Châu Á), trong tập thập kỷ thứ 8. Đây là một bộ Sử gồm 12 tập, ghi lại tất cả các chi tiết về sinh hoạt của người Bồ Đào Nha có mặt ở thủ đô đế chế thuộc địa Bồ Đào Nha của Đông phương (thành phố Cochin và sau đó là Goa, thuộc Ấn Độ). Lúc đầu người khởi sự viết thiên Sử về Châu Á nầy là nhà Sử học Bồ Đào Nha João de Barros (1496 – 1570), ông viết được 3 tập đầu, sau đó Diogo do Couto tiếp tục viết 9 tập cuối.

E/ Huyền thoại đối mặt với thực tế cay nghiệt:

Sau khi phân tích hư thực về việc Camoëns bị đắm tàu ở vùng vịnh Cambodge hoặc ở cửa sông Cửu Long (tuy nhiên kết quả sự phân tích vẫn chưa ngã ngũ về các chi tiết trong giai đoạn nầy !!), chúng ta không thể chấm dứt bài viết ở đây mà không nói lên dù một cách sơ lược cái nghèo khổ, cái chết rất đau thương và ngôi mộ của Camoëns, người mà sau nầy được tôn vinh là một trong những thi hào của thế giới…

Sau khi thoát khỏi nạn đắm tàu trên chuyến đi từ Macao (Trung Hoa) về thành phố Goa (Ấn Độ), Camoëns tìm cách trở về đất nước quê hương Bồ Đào Nha của ông mặc dù trước khi rời Bồ Đào Nha đi Ấn Độ ông đã thể là sẽ không trở lại nữa…Vì thiếu tiền đi tàu, ông được người ta bảo trợ cho đi tàu đến Sofala, một thành phố thuộc Mozambique, ở đây ông hy vọng sẽ có nhiều dịp đáp tàu về đến Lisbonne. Tuy nhiên tại Sofala ông bị bỏ rơi, sống trong sự nghèo túng hoàn toàn và đau khổ nhất là không thể có tiền để về nước…May thay có dịp vài chiếc tàu từ thành phố Goa đến ghé lại Sofala và sẽ tiếp tục về Lisbonne, trên các chiếc tàu nầy có nhiều người bạn của Camoëns, trong đó có nhà Sử học Diogo do Couto. Camoëns vui mừng vì sẽ đi được về quê hương với các bạn của ông, tuy nhiên người bảo trợ lúc trước lại trở mặt đòi ông phải trả số tiền đã ra cho ông đi tàu từ Goa về Sofala, vì số tiền khá lớn ông không thể trả nổi, các bạn ông đã đóng góp lại và trả được nợ cho ông. Chính trong thời gian nầy Diogo do Couto, nhà Sử học và là bạn thân của Camoëns đã đọc lại tác phẩm Les Lusiades do Camoëns mang theo, để chuẩn bị cho in khi về tới Bồ Đào Nha, ngoài ra Diogo do Couto còn viết một vài quyển sách rất uyên bác, các quyển sách nầy đã bị đánh cắp mất cũng như một số tác phẩm của Camoëns viết trong thời gian nầy.

Cuối cùng Camoëns và các bạn của ông (trong đó có Diogo do Couto) cũng đã về tới được thủ đô Lisbonne của quê hương Bồ Đào Nha năm 1569, tuy nhiên trong thời kỳ nầy Lisbonne đang là mồi ngon của cơn bệnh dịch hạch (la peste), cơn dịch nầy gây chết khoảng 70000 người (trong một ngày có thể chết đến 600 người), các chiếc tàu đến Lisbonne đều bị cấm vào cảng, Camoëns và các bạn của ông đều bị cấm lên thành phố, tình trạng kéo dài đến nhiều tháng. Cuối cùng năm 1570, Diogo do Couto được phép một mình lên bờ và sau đó ông đã xin phép cho cả đoàn tàu được vào thủ đô Lisbonne. Tính ra là 17 năm trải qua từ khi Camoëns từ giả Lisbonne để đi phiêu lưu ở Đông phương. Lúc nầy ông đã được 46 tuổi, ông nhận thấy thủ đo Lisbonne là một thành phố chết chóc, suy thoái…

Sau khi xuất bản được tập thơ Les Lusiades của ông, sự thành công tập thơ mang lại cho ông một số tiền trợ cấp rất nhỏ bé và chỉ trong một thời gian ngắn. Camoëns tiếp tục sống trong một sự nghèo khổ cực điểm, ông sống trong một ngôi nhà nhỏ liền kề với nhà thờ tu viện Santa Anna. Cuộc sống của ông trở thành hiện hữu nhờ qua sự bố thí, ban đêm người giúp việc Chà Và Antonio của ông phải đi xin ăn để nuôi sống cả chủ và tớ. Sự đau khổ vẫn không buông tha Camoëns, ông chứng kiến cái chết của Antonio, người đầy tớ trung thành của ông, từ đó ông lâm vào bệnh hoạn trầm trọng và được đưa vào nhà thương thí cho người nghèo. Khi ông ra khỏi nhà thương thì một thời gian sau (1580) ông chết, một nhà quý tộc đã cho một tấm vải để liệm và chôn cất ông.

Camoëns, ban đầu được chôn một cách nghèo nàn và vô danh, không một bia đá ghi tên, trong một góc nhỏ ở nhà thờ Santa Anna, nỗi bất hạnh của ông gây ra một ấn tượng sâu sắc cho những người quen biết chung quanh ngôi nhà ông ở.

Vào lúc nầy nước Bồ Đào Nhà hoàn toàn rơi vào tay vua Philippe II của Tây Ban Nha, khi nghe tin Camoëns đã chết, vị vua nầy không ngăn nổi sự tiếc nuối. Một người quý tộc Đức hỏi thăm nơi chôn cất Camoëns ở Lisbonne và ngỏ ý muốn cam kết với thành phố nếu Camoëns không có một ngôi mộ xứng đáng thì ông sẽ xây cất ngôi mộ một cách trang trọng.

Sự vân động nầy của một người ngoại quốc đối với người Bồ Đào Nha đã nhắc lại một sự thật là Camoëns vẫn chưa có một ngôi mộ đúng nghĩa…Hơn mười mấy năm sau khi Camoëns chết, một người bạn tìm ra ngôi mộ vô danh của Camoëns và đã chuyển mộ ông đến gần bên trong chánh điện của nhà thờ Santa Anna với một phiến đá có đề hàng chữ :

« Ci gît Luiz de Camoens, le prince des poètes de son temps ; il vécut pauvre et misérablement et mourut de même »

(Nơi đây an nghỉ Luiz De Camoens, ông hoàng của các nhà thơ cùng thời với ông ; ông đã sống một cách nghèo nàn và đau khổ và chết tương tự như thế)

Phía dưới còn có hàng chữ ghi tên của người bạn đã trùng tu lại ngôi mộ cho ông. Thật đúng, hàng chữ ghi trên phiến đá nầy đã tóm tắt một cách đầy đủ cuộc đời của Camoëns.

Còn một điều nữa, như thể là định mệnh vẫn chưa cho phép Camoëns yên nghỉ dưới nấm mồ đã được trùng tu. Nhắc lại, ông chết vào năm 1580, đến năm 1755, tức hơn một thế kỷ rưởi sau, một cuộc động đất và hỏa hoạn xảy ra đã hoàn toàn tàn phá thủ đô Lisbonne, nhà thờ Santa Anna cũng sụp đổ với các ngôi vườn, mồ mã chung quanh. Sau nầy nhà thờ đã được xây dựng lại, nhưng không ai biết được trong đóng gạch vụn đổ nát, đâu là tro cốt của nhà thơ Camoëns. Cuối cùng vào năm 1880, tro cốt của Camoëns đã xem như là kiếm lại được (người ta vẫn chưa biết có phải thật sự là phần còn lại của ông hay không) và chuyển đến tu viện Jerónimos ở Lisbonne (còn được gọi là tu viện Santa Maria de Belém), nơi ông được vĩnh viễn an nghỉ trong một ngôi mộ trang hoàng bằng cẩm thạch trắng, kế bên ông là ngôi mộ của Vasco de Gama, nhà hàng hải to lớn và là nhân vật anh hùng được ông ca tụng trong tác phẩm Les Lusiades của ông.

Tâm nguyện của tác giả viết bài nầy là một ngày nào đó nếu có dịp, sẽ đi du lịch nước Bồ Đào Nha, ghé lại thủ đô Lisbonne và đến tu viện Santa Maria de Belém để tỏ lòng kính trọng thi hào Camoëns…

Paris, viết xong ngày 14/09/2022, Trần Văn Mãnh (Patrice Tran).

Trích các khổ thơ 125 – 129 trong đoạn 10 của tác phẩm Os Lusiadas, bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha, có các danh từ địa lý vùng Đông Nam Á

Quang cảnh bên trong sân của tu viện Jerónimos ở thủ đô Lisbonne, Bồ Đào Nha, nơi có các ngôi mộ của Camoens và Vasco de Gama. Hình: Jean-Christophe Benoist

Ngôi mộ của thi hào Camoens trong tu viện Jerónimos. Hình: Carlos Luis M. C. da Cruz

Toàn cảnh tượng đài Camoëns ngay tại đầu đại lộ Camoëns thuộc quận 16, thủ đô Paris. Hình: TVM

Hình trái: bảng tên đường: Đại Lộ Camoëns, bên phải: tượng đài Camoëns ngay tại đầu đại lộ nầy thuộc quận 16, thủ đô Paris. Hình: TVM

Tượng đài tưởng nhớ Camoëns đặt tại quận 16, thủ đô Paris (gần tháp Eiffel). Hình: TVM

Tác giả bài viết chụp trước tượng đài tưởng nhớ Camoëns đặt tại quận 16, thủ đô Paris (gần tháp Eiffel). Hình: TVM

Tác giả bài viết chụp trước tượng đài tưởng nhớ Camoëns đặt tại quận 16, thủ đô Paris (gần tháp Eiffel). Hình: TVM

Sách tham khảo cho bài viết « Thi hào Camoëns, tập sử thi và cuộc đắm tàu gần vùng biển Hà Tiên »

Mémoires pour servir à l’histoire des hommes illustres dans la république des lettres avec un catalogue raisonné de leurs Ouvrages par le R. P. Niceron Tome 37. Nhà xuất bản (NXB) Briasson, Paris 1729-1745. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les Lusiades ou Les Portugais : poème de Camoens en dix chants; traduction nouvelle avec des notes par J. B. J. Millié, Tom premier. NXB Firmin Didot Père et fils, Paris 1825. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les Lusiades ou Les Portugais : poème de Camoens en dix chants; traduction nouvelle avec des notes par J. B. J. Millié, Tom second. NXB Firmin Didot Père et fils, Paris 1825. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Luiz de Camoëns : Charles Magnin, Revus des deux Mondes, Tome Sixième, NXB Paris, 1832. (Exporté de Wikisource le 7 septembre 2022)

Les Lusiades ou Les Portugais : poème en dix chants par Camoens ; traduction de J. B. J. Millié, revue, corrigée et annotée par M. Dubeux. NXB Charpentier, Paris 1841. (Digitized by Google)

Les Lusiades, poëme de Camoens, traduit en vers par F. Ragon. NXB CH. Gosselin, L. Hachette, Paris, 1842. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les Lusiades ou Les Portugais : poème en dix chants par Camoens ; traduction de J. B. J. Millié, revue, corrigée et annotée par M. Dubeux. NXB Charpentier, Paris 1862. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les Lusiades ou Les Portugais: poëme en dix chants par Camoens ; [traduction de Millié] : NXB Bureaux de la Publication ; Paris 1867. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Camoens et les Lusiades: étude biographique, historique et littéraire suivie du poëme annoté par Clovis Lamarre : Clovis Lamarre, NXB Didier et Cie, Paris, 1878 (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les voyages de Camoens : Raoul De Navery. NXB A. Hennuyer, Paris, 1880. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Essai littéraire et biographique sur Luiz de Camoëns : sa vie et ses œuvres : Henri De Lunaret. NXB A. Quantin, Paris, 1882. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Annuaire général de l’Indo-Chine 1909 : Indochine Française, NXB Extrême Orient Hanoi-Haiphong 1909. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Dictionnaire Bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l’Indochine Française : Tom VIII. Antoine Brébion. NXB Société d’Editions, Paris 1935. (Source gallica.bnf.fr / BnF)

Les Portugais sur les côtes du Viêt-nam et du Campa. Contribution à l’étude des routes maritimes et des relations commerciales d’après les sources portugaises : Pierre-Yves Manguin, École pratique des hautes études. 4e section, Sciences historiques et philologiques, Annuaire 1970 – 1971.

Camoes, les Lusiades et le Mékong « portugais » : Jean-Michel Strobino,

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Niên học đầu tiên 1964 – 1965 (Thầy Huỳnh Văn Hòa)

Thầy cô và các bạn thân mến, trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » nầy, chúng ta đã có dịp thưởng thức các bài viết của thầy Huỳnh Văn Hòa, một vị giáo viên đã có thời gian giảng dạy ở Hà Tiên vài năm và đã có một ảnh hường nhất định trong các sinh hoạt văn nghệ, họp thầy bạn, dạo chơi các thắng cảnh đẹp ở Hà Tiên đối với mình và các bạn ở trung học Hà Tiên…Thầy Hòa đã đến với chúng ta qua bài viết  » Hà Tiên và sự yên bình của một vùng đất cổ kính, nên thơ« , đăng trong tiết mục « Thầy Cô » và thầy cũng có viết một bài nhắc lại những kỷ niệm vui buồn thời gian thầy ở trọ tại chùa Phật Đường Hà Tiên. Thầy Hòa dùng lối văn giản dị, không cầu kỳ, nhưng rất lôi cuốn và pha trộn giữa hai tính chất hiện thực và lãng mạn…Đọc bài viết của thầy, chúng ta hình dung được một Hà Tiên yên bình, rất xinh đẹp và nên thơ của những năm 60, với những con đường rợp cây xanh, đôi khi cặp bờ biển khi còn trong phố xá với mùi cá biển hơi tanh nhưng rất điển hình của không khí Hà Tiên, đôi khi con đường lượn khúc quanh eo núi với các ruộng lúa màu xanh nhạt phía xa…Tất cả những nét đẹp đó đã được thầy Hòa cho qua ngòi bút chấm phá rất hiện thực và nên thơ. Nếu một mai chúng ta không còn lưu giữ được một bức hình nào của Hà Tiên trong những năm 60, thì may mắn thay, chỉ cần đọc qua bài viết của thầy Hòa, ta sẽ thấy được trước mắt một Hà Tiên với thôn xóm Lộc Trĩ an nhàn, với bãi tắm Mũi Nai được viền quanh một bãi cát vàng nâu,…, với ngôi trường sơ cấp xinh đẹp có mái ngói đỏ và hàng dậu me keo bao quanh…Thầy Hòa đã có dịp ngắm nhìn một cách thảnh thơi một bãi biển rất thơ mộng và bình yên, dù cho có tiếng sóng gió luôn đập vào ghềnh đá, nhưng không gian vẫn giữ được một sự yên tỉnh của một nơi đã được thầy Hà Văn Thành cho là cảnh đẹp nhất mang tên vùng Mũi Nai và thôn Lộc Trĩ của Hà Tiên. Cảnh vật và tâm hồn con người đã có một sự đồng cảm khiến cho người ngắm cảnh phải thả hồn mơ mộng một ngày nào đó mình sẽ đưa người mình yêu thương đi dọc trên bãi cát vàng nâu…Đó là tâm trạng của tác giả bài viết, thầy Huỳnh Văn Hòa, thầy viết về kỷ niệm ngày đầu tiên được thấy ngôi trường sơ cấp Lộc Trĩ mà thầy sẽ gắn bó trong hai năm trong sự nghiệp giáo chức của thầy, làm sao không xúc động cho được khi mình thấy một nơi mà mình sẽ thực hành sứ mạng giáo dục, đem đến cho con em học sinh vùng xa xôi như thôn Lộc Trĩ một nền giáo dục chân chính, với tất cả nhiệt tình của một ông giáo trẻ vừa ra đời, nguyện đem hết tâm huyết ra phục vụ xã hội…Thay mặt Blog « THHTX », xin trân trọng cám ơn thầy Huỳnh Văn Hòa đã vui vẻ đóng góp tâm tình vào đây để chúng ta được tận hưởng những áng văn rất hay, rất sống động và nhất là để được một lần nữa, thả hồn về quê hương Hà Tiên, nơi đã hơn một lần mình cùng với quý thầy cô và các bạn, từng rảo bước trên những hạt cát vàng nâu của bãi tắm Mũi Nai, hay thả hồn theo gió biển với hy vọng cơn gió sẽ mang tâm tình của mình đến một nơi đáp nào đó, hòa nhập vào một ý tưởng nào đó để cùng nhau tận hưởng một thời thanh xuân tuổi trẻ…Paris, ngày thứ năm 18 tháng tám, 2022, Trần Văn Mãnh (Patrice Tran) viết lời giới thiệu.

Niên học đầu tiên 1964 – 1965 (Thầy Huỳnh Văn Hòa)

A/ Lộc Trĩ thôn và ngôi trường sơ cấp:

Tôi được thầy Châu giới thiệu (tôi) với thầy Thành (Hà Văn Thành), trưởng giáo trường sơ cấp Lộc Trĩ từ nhiều năm qua cho tới niên học nầy. Buổi sáng hôm đó (19 tháng tám 1964), thầy Thành tiếp chúng tôi tại nhà riêng, cách nhà tôi ở trọ không xa, nếu đi đường tắt (hẻm) thì không quá năm, bảy phút đi bộ. Gặp thầy Châu hôm bữa trước, tôi đã mến ngay chân tình của thầy qua sự niềm nở đón tiếp. Giờ nầy đến với thầy Thành cũng thế, qua cách chào hỏi, tôi có cảm tưởng thầy Thành xem tôi như người anh em đã quen biết từ thuở nào! Thầy Thành có vẻ chơn chất, nhiệt tình, trông thầy khỏe mạnh như một người lao động chân tay. Còn thầy Châu (Trần Huỳnh Châu) thì có khác, thầy lẹ làng, bặt thiệp, đẹp trai nên rất dễ thân thiện. Trước hai thầy, tôi thoáng nghĩ mình rất là may mắn!

Tôi còn nhớ hôm đó, thầy Thành thông tin cho tôi đôi điều về tình hình trường Lộc Trĩ, học trò và cả phụ huynh (học sinh). Tôi được bổ nhiệm về trường là để thế chỗ, bởi thầy được điều về Tiểu Học Hà Tiên, nơi thầy Châu đang dạy. Hai thầy cũng trao đổi và chỉ dẫn cho tôi một vài địa chỉ nấu cơm tháng dành cho các viên chức xa nhà. Đến đây việc cần nói cũng đã được nói hết, nên thầy Châu hội ý trước khi ra về. Thầy Thành không quên cho tôi nghỉ thêm bốn ngày để ổn định chỗ ở, thư giãn và thầy cũng dành cho tôi một buổi sáng để giới thiệu trường trước ngày khai giảng niên học mới (1964 – 1965).

Buổi sáng hôm đó, tôi tính ra là vào ngày 22 tháng tám 1964, từ đường Cầu Câu (Hà Tiên), thầy Thành đạp xe đến đón tôi trước cửa nhà (16 đường Nhật Tảo). Tôi ngồi phía sau và chúng tôi theo đường Trần Hầu (bến Trần Hầu) hướng về Lộc Trĩ thôn. Dù không phải là ngày làm việc nhưng hai chúng tôi mặc đồ chỉnh tề như khi lên lớp. Con đường cặp bờ sông Hà Tiên đi qua bến đậu của ghe thuyền đánh cá. Nơi nầy tôi chưa từng một lần đi qua! Gió biển và mùi cá ươn thật ấn tượng. Tôi trông xa phía cửa sông, nơi biển nước bao la lộng gió, dưới ánh nắng ban mai, lòng tôi phơi phới. Đi qua khỏi Pháo Đài một đỗi, thì con đường uốn khúc theo một ngọn núi (…) đá. Thầy Thành có giải thích địa danh như là người hướng dẫn, nhưng nghe qua là tôi chẳng còn nhớ, có lẽ tôi bị chi phối bởi cảnh đẹp xung quanh.

Nắng đã lên, trời mùa thu trong xanh và gió mát. Trên đường thì vắng người qua lại. Tôi hỏi:

– Đường nầy vắng người quá phải không thầy. Thầy Thành giải thích:

– Vào mỗi sáng sớm, con đường nầy cũng đông người đi từ thôn ra chợ. Họ mang đồ rẫy và cá biển ra chợ bán và mua về mọi thứ cần dùng; và họ thường trở về nhà sớm để tiếp tục ra đồng, lên nương cho ngày mới.

Đi qua tới khoảng đường trống (không có nhà cửa và cây cối bên đường) tôi thấy bên trái là rừng lá, bên phải là đồng cỏ úa trải dài đến chân núi (…) rồi chúng tôi ngang qua một mõm núi đá nhô ra về phía đường lộ. Thầy Thành nói:

– Mõm núi nầy có sự tích, rồi lần lần ông sẽ biết; nhưng biết rồi thì đừng có sợ mỗi khi đi qua lúc trời tối và có mưa gió sấm chớp.

Sự việc nầy đã làm tôi để tâm chú ý! Dù đạp xe mệt, nhất là lúc gặp gió ngược, nhưng thầy cũng nhắc lại ngôi trường và tán thán các phụ huynh thôn Lộc Trĩ; thầy cũng nói đến (nhắc lại) đám học trò đa sắc tộc, nói tiếng Việt chưa rành của thầy và thầy sẽ giao lại tất cả cho tôi. Tôi ngồi phía sau và cảm nhận sự cố gắng của thầy. Trải qua đoạn đường hơn nửa giờ, chắc là chân thầy mỏi lắm! nên tôi có ý kiến với thầy:

– Mình xả hơi, nghỉ chân chút đi thầy!

– Tới rồi, ngôi trường ở cánh đồng phía trước đó, thầy Hòa thấy không?

Tôi chú ý và nhận ra ngôi trường mái đỏ hiện ra phía trái lối đi. Lòng tôi có đôi chút xuyến xao! Không gian phía trước mắt tôi là một màu xanh thẫm từ cánh đồng lúa đến bầu trời, bao quanh là những ngọn núi và rừng cây. Phút chốc trường Lộc Trĩ đang ở trước mắt tôi.

Thầy Thành dừng xe bên đường; tôi bước xuống và đứng nhìn ngôi trường. Đó là dãy nhà ba căn xây dựng kiên cố trên một nền gạch khá cao với vách tường gạch làm cho ngôi trường trở nên đẹp và vững chãi. Mái trường lợp ngói đỏ (đó là điều ít thấy ở các trường khác xung quanh Hà Tiên mà sau nầy tôi được biết như trường Thuận Yên, Hòa Phầu và Thạch Động).

Như để cho tôi được tiếp tục ngắm nhìn, thầy Thành dắt xe đi vào trường. Tôi liền theo sau. Hai bên lối đi vào có hai hồ sen và phía trước là cột cờ rất uy nghi trên một cái sân rộng. Cột cờ to cao được dựng trên nền gạch (chân đế) hai bậc hình tròn. Cùng với ngôi trường, cột cờ nầy quả là có ý nghĩa rõ ràng khi nó được dựng lên. Nhìn rộng ra, ngôi trường được xây trên khoảng đất rộng, có hàng rào bằng cây me keo được cắt cao khỏi tầm với và cách khoảng, là những cây để che bóng mát. Người ta không xây tường rào mà chỉ làm tường bằng me keo có gai, được trồng khít nhau thành hàng, quả là có ý nghĩa của nó. Trong khi tôi ngắm nhìn, thầy cũng hết lời ca tụng ngôi trường nầy, chắc là để un đúc tinh thần của tôi! Thầy nói:

– Hồi thời ông Ngô Đình Diệm, khoảng năm 1957, người ta cho xây ấp chiến lược ở đây. Những ngư dân sống ven biển, ven chân núi hay trên đồng thuộc thôn Lộc Trĩ nầy đều được gom về đây. Rồi thầy Thành nói tiếp:

– Nhìn phía sau trường, thầy Hòa thấy có những dãy nhà ngang, dọc thẳng hàng trên cánh đồng tiếp giáp với Bãi Nò… và ngôi trường được xây đẹp và kiên cố dành cho con em thôn Lộc Trĩ nầy hẳn là có mục đích rõ ràng!

Chúng tôi chỉ đứng trên sân, ngoài cửa lớp dưới mái hiên và đi vòng quanh trường. Nơi đây đã được phụ huynh dọn dẹp, tu sửa để chuẩn bị cho lễ khai trường. Bởi thầy Thành không có mang theo chìa khóa phòng học nên buổi tham quan tiếp xúc trường chỉ có thế và thầy Thành nói:

– Ông (thầy Hòa) có một lựa chọn: Hoặc đến nhà ông Hội trưởng hoặc tôi dẫn ông đi bãi tắm Mũi Nai. Tôi liền có ý kiến:

– Mình đi bãi tắm Mũi Nai đi. Có xa không? Thầy liệu giờ giấc nhé.

– Bây giờ hãy còn sớm, chưa tới 9 giờ.

Thế là hai người ra đường đi tiếp hướng ra Mũi Nai.

B/ Bãi biển du lịch Mũi Nai:

Khi dắt xe ra lộ, tôi có đề nghị với thầy Thành:

– Để tôi chở, thầy dẫn đường nhé!

– Đoạn đường nầy dẫn ra biển, có gió thổi ngược chiều, thầy đạp không nổi đâu; để tôi chở, thầy Hòa yên tâm đi.

Thế là tôi ngồi phía sau, tiếp tục ngắm cảnh. Con đường phẳng lì, băng qua cánh đồng lúa nên xe lăn rất êm. (Chỉ có gió ngược chiều thổi mạnh làm xe bị chao đảo).

Xe lăn êm được một đoạn đường ngắn thì tôi thấy một cái đồn canh trên một ngọn đồi trọc, cách đường đi không xa. Đồn có nhiều hàng rào kẽm gai bao quanh từ trên đồi xuống ruộng lúa. Thầy Thành nói:

– Đồn canh nầy được xây dựng kiên cố là để canh giữ và chống tiếp cận. Đó là mục đích xây dựng ấp chiến lược.

Vừa đi khỏi đoạn đường nầy là tôi thấy có một cái đầm nước mênh mông phía trước, nên con đường rẽ sang phải và đi dọc theo bờ dốc thoai thoải của một ngọn đồi bên phải trước khi rẽ trái chín mươi độ (90°) cặp theo chùa Miên trên một ngọn đồi cây cối um tùm. Vậy là hai anh em vừa vượt qua cánh đồng lúa để đi vào đoạn đường có rừng cây rậm rạp, tiếp giáp với chân núi phía trái lối đi. Thật là ngoạn mục!

Tôi mãi ngắm nhìn cảnh vật đổi thay nối tiếp trên từng khúc đường vắng vẻ, cho đến khi thầy Thành chỉ cho tôi nhìn về phía tay phải lối đi:

– Đây là khoảng ruộng được trồng dưa hấu vàng, đặc sản nổi tiếng của thôn Lộc Trĩ, Hà Tiên đó thầy.

Hai anh em vui cười trao đổi ý kiến được bấy nhiêu đó thì bãi tắm hiện ra trước mắt: Gió, sóng biển và bãi cát vàng cùng với hàng cây; tôi liền bị thu hút vừa cảm thấy rộn ràng niềm vui trong lòng, bởi đây là lần đầu tiên tôi đến với biển. Thầy Thành tiếp tục đạp xe chạy dọc theo con đường ven bãi cát và hàng cây, rồi dừng lại tại nơi có một cái bờ đá; có lẽ đây là nơi tốt nhất để ngồi nghỉ chân và ngắm biển. Giờ nầy, bãi biển không một bóng người (1964) nên dù biển ồn ào nhưng cũng rất là vắng vẻ. Giờ đây, đối diện với cảnh nầy, tôi bỗng nhớ lại quê mình, nơi vùng đất bùn lầy có nhiều sông rạch, mưa nắng hai mùa và tôi cảm thấy tâm hồn mình lớn lên trước biển rộng trời cao!

Yên lặng được giây lát, chắc là đã qua cơn mỏi mệt, thầy Thành hỏi tôi với nụ cười thân thiện:

– Quê thầy là đồng bằng với sông rạch còn Hà Tiên là biển cả với núi rừng như thầy thấy đó nên hoàn cảnh sống ở hai nơi là có khác biệt. Nhưng đến với Hà Tiên, thầy sẽ quen dần. Tôi nhận ra ý động viên của thầy Thành nên có lời:

– Tôi thấy Hà Tiên là vùng đất yên bình và nên thơ phải không thầy!

– Đúng vậy, nhưng nó không phù hợp với những người thích một cuộc sống sôi động. Rồi thầy Thành nói tiếp một mạch:

– Cảnh vắng lặng ở bãi tắm nầy như hôm nay là do chiến tranh; thuở tôi còn nhỏ, du khách đổ về đây tắm biển, nghỉ mát rất đông. Mũi Nai là bãi tắm nổi tiếng đó thầy! và thôn Lộc Trĩ được xem như là nơi đẹp nhất Hà Tiên đó. Thầy về trường Lộc Trĩ, theo tôi đó là sự lựa chọn tốt nhất, bởi nếu đem so sánh các trường sơ cấp xung quanh Hà Tiên thì không nơi nào bằng Lộc Trĩ đâu. Rồi thầy sẽ có dịp tiếp xúc với phụ huynh trong thôn; họ rất quý thầy của các con em họ và hễ có cơ hội (Tết, lễ giỗ…) là họ mời thầy cô đến nhà…Thầy yên tâm làm việc nơi ngôi trường nầy đi và nếu có gì cần, thầy nói với tôi. Đó là những lời tâm sự chân tình mà thầy Thành đã truyền cảm hứng cho tôi.

Đến đây hai anh em bách bộ trên bãi cát, nhìn ngắm và nghe sóng gió. Bãi cát vàng tươi trải dài giữa sóng biển trắng xóa và hàng cây hoang dại dọc theo lối đi. Nhìn ra khơi, tôi thấy có tàu thuyển như là neo đậu. Có lẽ đó là tàu thuyền đánh cá của ngư dân Hà Tiên! Đi gần đến cuối bãi cát vàng, hai anh em quay trở lại, rời bãi cát và tiếp tục đi trên đường dưới bóng mát của hàng cây hoang dại có nhiều dây leo và bụi gai. Trong giây phút yên lặng, tôi trộm nghĩ như là một giấc mơ: Rồi sẽ có một ngày mình trở lại đây và đi trên bãi cát vàng nầy với một người thiếu nữ mà mình yêu thương. Đang nghĩ vẫn vơ thì thầy Thành dừng bước bên chiếc xe đạp:

– Thầy Hòa! Mình ngồi đây nghỉ chân hay đi về luôn?

– Về luôn đi thầy. Bận về có gió xuôi nên thầy để cho tôi đạp xe nhé. Sau một lúc do dự, thầy Thành đưa xe cho tôi:

– Để thầy thử sức đạp xe xem sao?

Thế là tôi đi sau thầy, dẫn xe qua lạch nước (bởi cầu ván đá sập từ lâu).

Rồi thầy Thành dừng lại:

– Đây là lạch nước chảy ra biển mà trước đây có cầu ván bắc qua. Lạch nước nầy vào mùa mưa chảy như là một dòng suối nhỏ. Nó bắt nguồn từ trên núi, chảy qua ruộng dưa hấu (mà tôi chỉ thầy lúc nãy) và đổ ra biển tại chỗ nầy. Theo chỗ tôi biết là như vậy. Rồi thầy Thành tiếp lời:

– Thầy Hòa nhìn nền gạch đá đã bị sụp đổ trên voi đất đằng kia. Đó là vị trí ngọn hải đăng mà người Pháp đã xây dựng trước đây. Hai di tích nầy sẽ bị xóa sạch và người đời sau sẽ không còn biết đến nữa đâu! Là vô thường đó thầy Hòa! Yên lặng giây lát.

Thấy thầy Thành không còn nói gì thêm, tôi mời thầy ngồi lên xe và tôi đèo thầy (Thành) trên đường trở về. Đến đường Nhật Tảo khoảng hơn 11 giờ trưa. Tôi nói lời cảm ơn và vẫy tay chào.

Một buổi sáng đã đi qua.

                                                            Tác giả: Thầy Huỳnh Văn Hòa (08/2022)

Chân dung thầy Huỳnh Văn Hòa: trái: năm 1964, phải: năm 1967.

Thầy Huỳnh Văn Hòa: hình trái: chân dung trong những năm dạy học tại Hà Tiên (1964-1967); hình phải: chân dung hiện nay (Cần Thơ)

Bên trái là Thầy Trần Huỳnh Châu (người được nhắc đến trong câu chuyện), bên phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, chiếc mini Vespa là của thầy Huỳnh Văn Hòa, phía xa là Thạch Động. (1966). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Thầy Huỳnh Văn Hòa chụp hình với học sinh Trung học Hà Tiên trước căn nhà thầy ở trọ số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên. Từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Cui, thầy Huỳnh Văn Hòa, Lý Văn Tấn. (Ba người bạn nầy đều học cùng lớp với Trần Văn Mãnh ở Trung Học Hà Tiên. Hình: Thầy Huỳnh Văn Hòa, 1965.

Quang cảnh bãi tắm Mũi Nai trong những năm xa xưa (1950 – 1960). Ảnh: TuanVo sưu tầm.

Quang cảnh bãi tắm Mũi Nai năm 1959. Ảnh: TuanVo sưu tầm.

 

 

Núi Kim Dự (còn gọi là núi Pháo Đài) với những câu chuyện thực hư.

Núi Kim Dự (còn gọi là núi Pháo Đài) với những câu chuyện thực hư.

A/ Giới thiệu sơ lược về núi Kim Dự:

Trong tác phẩm bằng chữ nôm của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh) có nhắc đến tên “Kim Dự”, đó chính là một trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên. Ông Mạc Thiên Tích xướng thơ ca ngợi cảnh đẹp của đảo Kim Dự, là một hòn đảo ở ngay vị trí cửa biển Hà Tiên. Vì đảo có vai trò như ngăn cản sống dữ từ ngoài khơi bủa vào, che chở cho nội địa Hà Tiên nên Mạc Thiên Tích đặt tên cho bài thơ ca ngợi hòn đảo Kim Dự là “Kim Dự Lan Đào” (Kim: vàng, Dự: hòn đảo nhỏ, Lan: ngăn chận, Đào: sóng to, « Kim Dự Lan Đào »: Hòn đảo vàng nhỏ ngăn chận sóng to). Sau đây là bài thơ ca ngợi hòn đảo Kim Dự nguyên tác bằng chữ nôm của Mạc Thiên Tích, năm 1960 do thi sĩ Đông Hồ chỉnh và sắp xếp lại từ các bản dịch xuất bản từ năm 1904 trước đó như sau:

Kim Dự nầy là núi chốt then,
Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên,
Ngăn ngừa nước dữ không vùng vẩy,
Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng,
Thế cả vững vàng trong Bắc hải,
Công cao đồ sộ giữa Nam thiên,
Nước yên chẳng chút lông thu động,
Rộng bủa nhơn xa tiếp bách xuyên.

Tuy nhiên cũng cần chú ý là theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách địa lý, lịch sử Việt Nam soạn trong thời gian 1865 – 1882 dưới thời vua Tự Đức), đảo Kim Dự được mang tên đầy đủ là Đại Kim Dự, vì còn có một cảnh nữa đối diện với đảo Đại Kim Dự bên kia cửa sông, mang tên là Tiểu Kim Dự, theo thời gian đảo đã dính liền với đầu ngọn núi Tiểu Tô Châu, chỗ doi đất có miếu thờ Thủy Thần và miếu thờ cá Ông Nam Hải.

Từ xưa, mặc dù dưới thời họ Mạc trấn thủ Hà Tiên, đảo Kim Dự vẫn là một cứ điểm phòng thủ quan trọng để chống lại giặc Xiêm, nhưng trên mặt bằng của đảo vẫn chưa có công trình quân sự gì đáng kể. Sau trận giặc Xiêm lấn chiếm và phá hoại Hà Tiên (1833), nhà Nguyễn cử người tái thiết Hà Tiên, vua Minh Mạng cho lập một pháo đài và các công trình phòng thủ trên mặt bằng đảo Kim Dự (năm 1834).

Về địa hình, trên đỉnh hòn Kim Dự có dạng trái xoan, có xây công sự phòng thủ hình chữ U, chu vi khoảng 84,5 m và cao gần 3 m, nhà Nguyễn cho đắp đồn lũy trên đồi, đặt súng thần công nên từ đó có tên là núi Pháo Đài. Như vậy ta nên nhớ là khi nói đến núi Pháo Đài (hay người dân còn gọi tắt là Pháo Đài) tức là nói đến hòn đảo, ngọn đồi, hay ngọn núi Kim Dự, Từ đây về sau ta có thể đồng hóa tên gọi theo chữ nghĩa “Kim Dự” với cái tên thông dụng và bình dân là Pháo Đài.
Theo tài liệu do nhà chụp hình nỗi tiếng ở Hà Tiên ngày xưa, ông Quách Ngọc Bá viết trong quyển sách du lịch « HATIEN PHOTO »: Pháo Đài là một trái núi nhỏ ở ngay cửa sông Hà Tiên, cách chợ 600 m. Từ hồi Nam Triều đến thời Pháp thuộc vẫn là cứ điểm quân sự trấn giữ biển cả, trên có bố trí trọng pháo nên tên gọi là Pháo Đài. Ngọn núi Pháo Đài nầy có chiều cao khoảng 25 m.

Cách đây hơn một thế kỷ, hòn đảo Pháo Đài còn tách rời khỏi đất liền. Do có thủy triều lên cao thấp, nước lớn nước rồng, khoảng cách giữa hòn đảo nầy và đất liền xa gần khác nhau nên dân gian có đặt truyền thuyết là hòn Kim Dự là một hòn đảo nổi, trôi ra trôi vô theo con nước….

Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng Kim Dự là một hòn đảo nổi, dưới hòn đảo đó có một con Giao Long nằm ẩn mình tu lâu đời. Thỉnh thoảng con Giao Long cựa mình thì làm cho hòn đảo lay chuyển, khi trôi ra xa, khi dạt vào gần bờ.
Trong thời Pháp chiếm Hà Tiên, do công sức của các tù nhân, họ xây đắp một con đường nối liền đảo Pháo Đài với chợ Hà Tiên, gọi là đường Cầu Đá, dần dần con đường trở thành đường đất, rộng rải đủ cho xe cộ lưu thông. Bây giờ con đường trở thành một đại lộ đã tráng nhựa. Con đường nầy nối từ khu Chùa Quan Thánh (tên đúng là Miếu Quan Thánh Đế) chạy thẳng đến dưới chân núi Pháo Đài, ngày nay chính là đại lộ Mạc Thiên Tích. Xóm nhà hai bên con đường nầy còn có tên là xóm Cầu Đá.

Thời Pháp chiếm Hà Tiên trên Pháo Đài có lập một ngọn Hải Đăng và có nhân viên người Pháp quản lý. Sau nầy trong thời kỳ chiến tranh 1960 -1970 ngọn Hải Đăng bị bỏ hoang phế, ngày nay đã được phục hồi.

Trong những năm đầu của thế kỷ 20 (1900…) người Pháp dùng Pháo Đài để làm trại tù, nhốt những thường dân bị tội phạm. Thời gian sau vì Hà Tiên chưa có bệnh viện, người Pháp dùng mặt bằng trên Pháo Đài để làm trạm y tế. Đến khi bệnh viện Hà Tiên được cất lên, người Pháp xây dựng một nhà nghỉ mát trên mặt bằng Pháo Đài, gọi là Bungalow. Thời gian hoạt động của khu nghỉ mát Bungalow trải dài khoảng vài chục năm có lẽ từ những năm 1930 đến 1960…(Trong tập du ký xuất bản năm 1935 tác giả Cửu Long Giang có thuật lại chuyến du ngoạn ở Hà Tiên và có đến ngụ ở khách sạn trên đồi Pháo Đài).

Suốt những năm chiến tranh 60 – 70 Pháo Đài trở thành căn cứ quân sự, có tiểu đoàn 528 Địa Phương Quân đóng trên đó, lúc đó Đại Úy Trần Văn Thiệt là tiểu đoàn trưởng, dân chúng không được lui tới. Ngoài ra còn có một bộ phận của Hải Quân Mỹ đóng ở Pháo Đài.

Hiện nay Pháo Đài đã được phát triển thành một nơi ngắm cảnh, nghỉ ngơi, có khách sạn, hồ bơi, hoàn toàn được xem như một nơi tự do du lịch và dạo chơi rất lý thú, hoàn toàn có tính chất dân sự không còn dính líu đến việc phòng thủ quân sự nữa. Hơn nữa, ngày nay tên Pháo Đài cũng được dùng để đặt tên cho Phường Pháo Đài thuộc thành phố Hà Tiên.

B/ Những câu chuyện thực hư có liên quan đến núi Pháo Đài :

Sau đây là những câu chuyện có thật hoặc truyền thuyết có liên quan đến núi Pháo Đài được gom nhặt theo các tài liệu xưa, sắp xếp theo trình tự thời gian, mời các bạn đọc nhé.

1/ Chuyện sư nữ Tống Thị Sương tu ở am Quan Âm trên núi Kim Dự :

Theo sách chữ nôm “Gia Định Thành Thông Chí“ (1820), tác giả Trịnh Hoài Đức (1765-1825), bản dịch do Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh, xuất bản năm 1998, nhà xuất bản Giáo Dục, phần « Phong Tục Chí », trang 152, có kể lại câu chuyện bà Tống Thị Sương đi tu ở một cái am nhỏ trên núi Kim Dự. Câu chuyện được tóm tắt như sau :

Vào thời Đô Đốc họ Mạc ở Hà Tiên, có một người con gái, tuổi mới 15, con nhà gốc gác giàu có, tài năng về nữ công khéo léo. Tiếng đồn vang xa, nhiều người làm môi giới đưa tin nhưng cô quyết không nhận lời ai cả, chỉ nguyện rằng : « Phải có lời Phật dạy mới kết nhân duyên ». Cha mẹ thấy khó hiểu nhưng cũng nghe theo lời và kiên nhẫn chờ đợi. Một hôm có nhà sư du phương, tên là Ngô Chân, sư theo giới pháp tinh mật, không chuộng kinh điển, chỉ niệm danh hiệu quý Phật, hằng ngày chỉ ăn rau quả, ngũ cốc, dân gian kêu là »Thái tăng » (tức nhà sư ăn rau), đi qua cửa nhà cô, nhân thấy y phục lót của cô họ Tống đang phơi, sư thích lắm và đi vào nhà cố xin cái áo đó, bảo là dùng để cúng Phật. Cha mẹ cô gái thấy kỳ lạ, xua đuổi nhà sư, nhưng cô họ Tống ra can ngăn, nhà sư cười to một tiếng rồi bỏ đi. Từ đó cô Tống Thị Sương phát lòng từ bi, niệm Phật hằng ngày và tỏ ý muốn trở thành ni nữ để theo hầu Bồ Tát Quan Âm. Cả nhà tìm cách khuyên ngăn, an ủi, cô nhất định không nghe, rốt cuộc gia đinh cô phải dựng một cái am nhỏ bên phía tả hòn núi Đại Kim Dự, cô vui vẻ đến tu trong am, người ta gọi là Quan Âm Viện. Cô bắt đầu thực hiện một bức thêu lớn hình Bồ Tát Quan Âm, mỗi một mũi kim thêu cắm qua vải là cô niệm Phật một tiếng, thêu được ba tháng thì xong bức thêu, hình ảnh Phật Quan Âm rất sống động như là Phật sống, Đức Bà đã thật sự sống động trên bức tranh thêu, rất giống một cách chính xác và không bao giờ một người họa sĩ nào có thể thành công trong việc tạo ra một bức tranh tương tự.

Đồng thời lúc đó, trong trấn Hà Tiên, có nhiều nhà tu đã hành trình đến ngôi chùa nỗi tiếng ở tỉnh Quãng Đông, để tìm những quyển kinh sách và học thuyết chân chính. Vì thế việc tu tập theo tông chỉ của phái Thiền Tông dần dần được người đương thời rất khen ngợi.

Chú thích: Câu chuyện kể trên thực hư như thế nào chúng ta khó mà kiểm chứng được. Theo một ý kiến của bạn Trương Thanh Hùng (học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, nay là nhà nghiên cứu văn hóa vùng Hà Tiên), có thể ông Trịnh Hoài Đức đã lầm lẫn khi xác định vị trí của ngôi am Quan Âm trên hòn Đại Kim Dự, vì ngay thời gian câu chuyện là thời ông Mạc Cửu (hay Mạc Thiên Tích), hòn Đại Kim Dự nầy còn là một hòn đảo không gắn liền với phần đất của vùng Hà Tiên, việc đi lại ngôi am tự có thể là khó khăn nên ngôi am tự của bà Tống Thị Sương có thể là một ngôi am nào đó trong vùng đất liền của Hà Tiên. Các bạn ở Hà Tiên nếu có dịp hảy lên Pháo Đài cố gắng tìm hiểu về dấu tích, vị trí của ngôi am viện Quan Âm nầy nhé.

2/ Sách Gia Định Thành Thông Chí miêu tả về đảo Kim Dự :

Đảo Đại Kim ở vùng biển phía Nam trấn (tức trấn Hà Tiên), chu vi 193 trượng 5 thước. Đảo nầy ngăn đón sóng cồn, làm hạt ngọc biển của trấn. Nơi bờ có gác cái cầu ván để thông ra vào, phía sau có Viện Quan Âm là chỗ của Tống Thị Lương thờ Phật ở đấy ; phía tả có điếu đình, người du ngoạn thường khi gió tốt trăng trong thả câu ngâm vịnh. Phía trước có đặt trại Thủ Bị, phía Tây Nam xây vòng lũy đá để giữ giặc biển ? Đây là cảnh Kim Dự Lan Đào (đảo Kim ngăn sóng) trong 10 giai cảnh ở Hà Tiên, (trích sách Gia Định thành thông chí (1820), tác giả Trịnh Hoài Đức (1765-1825), dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo, tập thượng, Nha Văn Hóa, phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa xuất bản, năm 1972, phần viết về Trấn Hà Tiên, trang 108).

3/ Núi Pháo Đài thời Pháp chiếm đóng Hà Tiên :

Theo quyển niên giám Đông Dương năm 1871 xuất bản tại Sài Gòn, và liên tiếp trong các năm 1874, 1876, 1878, 1879,…v…v  , có ghi rỏ trong mục căn cứ đồn bót quân sự thời đó, có dân quân (milices) do người Pháp chỉ huy, đóng tại núi Pháo Đài. Tuy nhiên sự đóng quân trên núi Pháo Đài nầy không biết kéo dài cho đến năm nào thì ngọn núi Pháo Đài được dành lại cho công cuộc du lịch dân sự với khu nghỉ mát Bungalow. Chỉ biết là theo quyển niên giám Đông Dương năm 1912, có ghi rỏ là trong thời gian nầy, người Pháp đã giải tán một phân đội gồm khoảng 40 người lính, do một trung úy chỉ uy với sự hổ trợ của hai trung sĩ, đều là người Pháp, trước đó đóng quân trên cao điểm núi Pháo Đài, Hà Tiên. (Annuaire Indochine 1912 : Service militaire : Un détachement d’une quarantaine de tirailleurs, commandé par un lieutenant aidé de deux sergents français, qui occupait le camp élevé de Phao-Dai a été supprimé).

Như vậy ta có thể biết là từ khi người Pháp chiếm Hà Tiên năm 1867, sau đó họ đã có trấn đóng trên núi Pháo Đài với một lực lượng dân quân sự, và cho đến đầu thập niên 1910 thì việc quân sự hóa núi Pháo Đài đã bị hủy bỏ, từ đó, trên mặt bằng núi Pháo Đài dùng làm trạm y tế cứu thương rồi sau đó có cất khách sạn Bungalow làm nơi nghỉ mát của khách du lịch.

Một phần của trang 159, quyển niên giám Nam Kỳ xuất bản năm 1871, phần viết về tỉnh Hà Tiên, có mục đồn bót quân sự: Các nơi có dân quân đóng đồn được kể ra là: Thạch Động, Giang Thành, Ghe-Him (không rỏ nơi nào) và Pháo Đài. Nguồn: gallica.bnf.fr / Bibliothèque nationale de France.

4/ Núi Pháo Đài là nơi có trại nhốt tù thời Pháp đóng ở Hà Tiên :

Trong những thập niên đầu thế kỷ 20, người Pháp dùng Pháo Đài làm nơi nhốt tù tội hình sự xã hội. Theo một bản tin của cảnh sát hình sự Pháp, số đặc biệt ra ngày 25 tháng ba năm 1936, trong danh sách các tù nhân vượt ngục trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng giêng năm 1916 đến ngày 31 tháng mười hai năm 1935, có kể đến một người tù nhân tên là Sơn Ruong, nông dân, sinh năm 1895 tại Thanh Xuyên, Trà Vinh, bị kết án ngày 3 tháng tám năm 1915 tại tòa Vĩnh Long, án khổ sai 10 năm vì tội giết người. Người tù nầy đã vượt ngục tại trại giam Pháo Đài, Hà Tiên ngày 9 tháng mười một năm 1916.

Tài liệu của cảnh sát hình sự Pháp về một người tù vượt ngục tại trại giam Pháo Đài, Hà Tiên. Nguồn: gallica.bnf.fr / Bibliothèque nationale de France.

5/ Trong bài « Cảnh Vật Hà Tiên » do Đông Hồ viết, có nhắc đến Pháo Đài :

Trong bài « Cảnh Vật Hà Tiên », do Đông Hồ viết và Nguyễn Văn Kiêm soạn đăng trên Nam Phong tạp chí, số 150, trang 451; xuất bản tháng 5 năm 1930 có một đoạn tả núi Pháo Đài như sau :

«Trên núi Pháo-đài, thuở cựu trào đóng đồn lính. Tân-trào cũng làm thế; đồn ấy thì còn mà quân lính Pháp đã đem hết về các trại Sài-gòn hay Châu-đốc.

Đồn cất kiên-cố, mà đã phá đi một phần, ngày nay chỉ còn một phần. Mấy khẩu súng cà-lâm vẫn còn chôn quanh theo núi.

Sở nhà trong đồn, đã phá các vách dày làm vách mỏng mảnh hơn. Nhà này để làm nhà thương cả vài mươi năm và làm nhà khách cả 3,4 năm nay, bóng cây rậm rạp, gió biển bốn mùa. Trên chót núi, trang đất bằng-thẳng, trừ một chót nhỏ cao lên 5, 7 thước. Lên đó được trông bãi nhà nò Lộc-trĩ, mấy khóm chà cây nhử cá ngoài biển. Sóng không trông được rõ. Dầu cho lượng sóng dữ-dội, ở trên cao cũng không biết được. Thấy sóng tuồng như bò bò chậm rải vô bờ, mà ghe thuyền tuồng như đi chậm chậm chứ không phải chạy buồm. Xe hơi, xe đạp đi vòng theo đường Khu-ốc; đường người đi là hai thang đá nhỏ, một thang xuống đường Cầu-đá, một thang xuống mé biển».

Chú thích : Qua đoạn mô tả nầy chúng ta rút ra được một thông tin là : Pháo Đài vào đầu thế kỷ 20 (khoảng 1900) được người Pháp dùng mặt bằng làm nhà thương. Sau đó khoảng từ năm 1920 hoặc 1930, Pháo Đài được dùng làm nơi nghỉ mát, có cất khách sạn Bungalow cho khách đến Hà Tiên du ngoạn có chỗ nghỉ ngơi. Ngoài ra có nhắc đến mấy khẩu súng thần công đặt trên Pháo Đài, không biết hiện nay súng có còn  hay không và có được giữ gìn tốt hay không.

6/ Câu chuyện kho báu họ Mạc :

Theo như sử liệu, chúng ta thấy rằng trong suốt thời gian họ Mạc gầy dựng và cai quản vùng đất Hà Tiên, giai đoạn cực thịnh là dưới thời ông Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tích. Thời đó Hà Tiên trở nên một vùng đất rất phát triển, nền thương mại hàng hải đang tiến trển rất mạnh, họ Mạc trở nên rất giàu có. Từ đó có một vấn đề được đặt ra là họ Mạc có tích lũy một kho tàng của cải, báu vật hay không, và kho tàng báu vật nầy, nếu có, sẽ được lưu truyền lại cho con cháu về sau và đã được chôn dấu ở đâu?

Cho đến khi Pháp chiếm Hà Tiên năm 1867, người Pháp đặt một nền hành chánh lên các tỉnh miền Nam, dĩ nhiên là Hà Tiên lúc đó cũng bị đặt dưới quyền cai trị của người Pháp. Các quan chức Pháp lần lượt nắm quyền đứng đầu Hà Tiên dưới các danh xưng: Thanh Tra, Tham Biện, Chủ Tỉnh, Tỉnh Trưởng. Vào năm 1911, nhằm lúc viên Chủ Tỉnh tên là Roux Serret cầm quyền ở Hà Tiên. Viên chức nầy có nghe tin đồn về kho báu của gia đình họ Mạc nên tìm cách chiếm lấy. Viện cớ cần có đất đá để làm đường xá trong nội tỉnh Hà Tiên, viên quan nầy đặt ra công trình khai thác đá tại núi Bình San. Tất nhiên công trình sẽ chọn ngay những ngôi mộ xưa trong gia đình họ Mạc để khai quật, lấy đá. Ngôi mộ xưa của bà Hiếu Túc Phu Nhân Nguyễn Thị Thủ, chánh thất của Đô Đốc Mạc Thiên Tích bị xâm phạm trước nhất. Công cuộc khai quật mộ do một đoàn tù khổ sai thực hiện, họ đào xới, đục mộ trong vòng 10 ngày mới đến phần bên trong mộ. Lễ bốc mộ có sự chứng kiến của chính quyền và con cháu họ Mạc. Lúc đó ông Mạc Tử Khâm, hậu duệ trong gia đình họ Mạc, có mặt và đã gom góp hài cốt của bà Hiếu Túc Phu Nhân xếp vào một cái quách nhỏ và đưa về đền thờ họ Mạc chờ cải táng.

Thự sự trong việc khai quật ngôi mộ nầy, viên chủ tỉnh không tìm được kho báu gì cả, chỉ vỏn vẹn vài vật dụng mang theo cho bà không gì quí cả. Chỉ có cây trâm vàng cẩn ngọc thạch, vài cái trâm cài đầu, vòng trang sức đeo tai, đeo cổ…, hàng nhiễu tẩn liệm và bình nước, ấm trà bằng sứ mà thôi. Tất cả đều rất ít giá trị.

Có một câu chuyện được truyền tụng sau nầy, không biết thực hư như thế nào, chuyện kể là trong thời gian quật mộ, việc chức chủ tỉnh thường xuyên đi ngựa đến núi Bình San để xem xét, đốc thúc công việc. Có một hôm đang trên lưng ngựa trú mưa cạnh núi Lăng, bỗng nhiên có sấm sét nổi lên, một tia sét đánh trúng một thân cây gần đó làm con ngựa hoảng sợ tháo chạy, viên quan Roux Serret bị ngã ngựa và suýt mất mạng… Sau khi thoát nạn, ông ta tin rằng mình đã bị trừng phạt về việc đào mộ tìm kho báu nên đã ra lịnh cho ngưng công trình đào các ngôi mộ còn lại và đem các cổ vật tìm được trả lại cho gia đình con cháu họ Mạc và cho tiến hành việc cải táng bà Phu Nhân trong khuôn viên khu mộ trên núi Lăng.

Có một tin đồn là trong lúc lấy các vật dụng trong ngôi mộ bà Phu Nhân, viên chức chủ tỉnh có để lại cho ông Mạc Tử Khâm một cái trâm vàng có gắn ngọc quý. Về sau, ông Mạc Tử Khâm có bán lại chiếc trâm vàng có gắn ngọc nầy cho viên chức người Pháp tên là Pierre Chapuis, người đang cai quản ngọn hải đăng ở núi Kim Dự, Pháo Đài (ông Pierre Chapuis cũng có thời gian coi sóc ngọn hải đăng ở núi Đèn, Mũi Nai). Từ đó về sau, gia đình Chapuis gặp nhiều điều không may mắn…

7/ Bức ảnh chụp toàn diện phố Hà Tiên từ phía Bungalow trên Pháo Đài :

Khoảng giữa năm 2017, mình có tìm thấy một thông tin trên site AAVH (Association des Amis du Vieux Huế : Hội Ái hữu Cố đô Huế ), thông tin có ghi hàng chữ như sau : « Romer Cochinchine, Hatien, 1942 – Vue prise du bungalow ». (Người chụp tấm ảnh tên Romer, Nam Kỳ, Hà Tiên, quang cảnh chụp từ phía Bungalow). Sau đó mình có liên lạc bằng mails với người quản lý site nầy, ông là người Pháp tên là Jean Cousso và ông đã vui vẻ hồi âm và còn chia sẻ cho mình bức ảnh đó. Ông Cousso giải thích như sau :

« Voici la photo demandée en haute définition. Elle a été prise par le Directeur de la météo de Hatien. Merci de mettre la mention suivante pour la photo : AAVH Jean Cousso AP5268. C’est madame Denise Romer, fille du Directeur de la Météo qui m’a confié ce fonds de photographies des centres météo de l’Annam ».

Ông gởi tặng cho mình bức ảnh chụp toàn diện Hà Tiên từ phía Bunglow trên núi Pháo Đài, bức ảnh do ông Romer, lúc đó làm giám đốc sở Khí Tượng tại Hà Tiên và có dặn là hảy ghi rỏ nguồn bức ảnh là AAVH Jean Cousso AP5268. Ông nói chính bà Denise Romer, con gái của ông giám đốc sở Khí Tượng trao cho ông quản lý toàn bộ những bức ảnh về các đài Khí Tượng ở An Nam.

Chú thích : Qua bức ảnh nầy ta thấy người chụp đứng trên núi Pháo Đài, chỗ có khách sạn nghỉ mát (Bungalow) chụp về phía phố chợ Hà Tiên, năm chụp hình là năm 1942. Như vậy từ những năm 1930 đến năm 1940, Pháo Đài vẫn là nơi có khách sạn nghỉ mát Bungalow (sau giai đoạn người Pháp dùng mặt bằng trên Pháo Đài để làm nhà thương).

Toàn cảnh Hà Tiên được chụp từ trên Bungalow, núi Pháo Đài, Hà Tiên.Nguồn: AAVH Jean Cousso AP5268

8/ Quá trình quân đội VNCH và Mỹ đóng quân trên núi Pháo Đài :

Thực sự là rất khó biết được chính xác quân đội VNCH đóng căn cứ trên núi Pháo Đài từ khi nào, trước hay sau khi quân đội Mỹ đến Pháo Đài. Tuy nhiên, ta có thể ghi nhận là sau một thời gian dài khoảng từ thập niên 30 đến giữa thập niên 60, Pháo Đài vẫn là nơi khách du ngoạn được tự do lui tới và nghỉ đêm tại khu khách sạn (Bungalow). Đến thời kỳ chiến tranh 60-70, Pháo Đài trở thành một căn cứ quân sự, dân chúng không được lui tới. Có một tiểu đoàn Địa Phương Quân VNCH đóng trên núi Pháo Đài dưới quyền chỉ huy của trung úy Thịnh (trung úy Thịnh có cưới vợ là học sinh trường Trung Học Hà Tiên) và sau đó là đại úy Trần Văn Thiệt, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 528, trung úy Tài là tiểu đoàn phó.

Hải Quân Mỹ đến Hà Tiên và đóng tại núi Pháo Đài vào cuối năm 1968 hoặc đầu năm 1969. Đó là đơn vị thuyền tuần tra sông ngòi RIV DIV 532, PBR (River Divison 532 : Đơn vị sông ngòi 532, PBR: Patrol Boat Riverine : Thuyền tuần tra sông ngòi). Lúc đầu đơn vị nầy bị thương vong gần 50% sau đó phải bổ sung thêm. Đơn vị nầy dùng những chiếc tàu nhỏ, nhưng chạy rất nhanh để hoạt động (Swiftboats). Những chiếc tàu nhỏ nầy đậu tại những cầu phao dọc theo dưới chân núi Pháo Đài và thường xuyên đi tuần theo con sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế.

Trên mặt bằng của núi Pháo Đài, có một căn nhà là nơi ở của một đội cố vấn người Mỹ gồm khoảng 4 người cùng với một đơn vị Địa Phương Quân đóng trên đó. Đại úy chỉ uy trưởng đơn vị Địa Phương Quân (tiểu đoàn 528) thường xuyên liên lạc với thiếu tá lục quân Mỹ, trưởng đoàn cố vấn Mỹ trên Pháo Đài. Ngoài ra từ năm 1969 cũng có một sĩ quan đặc biệt Mỹ ở cùng với đội cố vấn Mỹ.

Vào khoảng giữa năm 1970, hải quân Mỹ trên Pháo Đài chuyển giao tàu thuyền cho hải quân VNCH, lúc đó công việc thiết lập căn cứ hải quân ACTOV ở phía Đông Bắc Hà Tiên dọc theo bờ sông Giang Thành cũng hoàn thành. (ACTOV : Accelerated Turnover to the Vietnamese : tăng tốc độ chuyển giao cho người Việt Nam), cố vấn Mỹ và một số người Mỹ chuyển qua căn cứ mới.

Tàu tuần tra hải quân Mỹ đóng tại căn cứ Pháo Đài Hà Tiên (khoảng năm 1970). Nguồn hình: VAS078886 LOH at Hatien, VAS078886, Harry Peplinski, Jr. Collection, The Vietnam Center et Sam Johnson Vietnam Archive, Texas Tech University. (https://vva.vietnam.ttu.edu/repositories/2/digital_objects/607378)

Tàu tuần tra hải quân Mỹ đóng tại căn cứ Pháo Đài Hà Tiên (khoảng năm 1970). Nguồn: Alyson Craig (https://slideplayer.com/slide/14776829/)

9/ Câu chuyện em bé tên Châu :

Trong thời gian hải quân Mỹ đóng trên Pháo Đài, có xảy ra một câu chuyện thương tâm là vụ tai nạn nổ lựu đạn làm chết một em bé trai người Việt. Câu chuyện được một người sĩ quan đặc biệt Mỹ kể lại trong một quyển sách của ông viết về các hoạt động của ông trong thời gian 1968-1970 tại Hà Tiên. Câu chuyện như sau :

Trong số những người lính Mỹ đóng quân tại cao điểm Pháo Đài, có một anh nhân những lúc đi lại ở Sài Gòn, có làm quen với một em bé trai, tên là Châu, em khoảng 9 tuổi, mồ côi cha mẹ, vì thế em thuộc nhóm trẻ con đường phố. Anh lính Mỹ đưa em Châu về sống với anh ngay tại trên núi Pháo Đài, Hà Tiên. Trước kia ở Sài Gòn, em Châu vốn là một cậu bé trộm cắp sống theo ngoài đường phố, thế mà qua sáu tháng sống ở Pháo Đài, Hà Tiên, em Châu trở nên hiền hơn và trở lại thành một đứa bé với cái cá tính trẻ con của lứa tuổi của em. Với không gian tỉnh lẻ khá êm dịu của phố Hà Tiên, sự săn sóc, bảo trợ của anh lính Mỹ và nhất là không còn lo lắng về bữa ăn phải tìm ra từng ngày, tính tình em Châu trở nên cân bằng và ổn định hơn. Những lúc anh lính Mỹ phải vắng mặt nhiều ngày vì việc quân sự, em Châu tỏ ra buồn bả và khóc lóc với ý nghĩ là anh lính không trở lại được với em…Thêm nữa là vì lý do an ninh, em Châu ở trong cùng căn nhà với cô Hoàn (hay Hoan?), một cô thợ giặt ủi người Việt phục vụ trên Pháo Đài. Anh lính người Mỹ cũng có dự định tìm trong khu phố Hà Tiên một ngôi nhà nào có thể tiếp nhận em Châu để nuôi dưỡng em, nhưng công việc tuần tra không cho phép anh có thời giờ lo cụ thể việc nầy.

Một hôm, tự dưng các người lính Mỹ trên Pháo Đài thấy cô Hoàn chạy từ căn nhà cô ở ra ngoài sân, cô vừa chạy vừa rên rỉ, rồi tiếp theo đó là cánh cửa sổ và cửa cái của căn nhà bay tung ra với tiếng nổ xé không gian…, khói xám bay đầy và cô Hoàn té xuống giữa đám bụi mịt mù.

Mọi người đều nghi rằng có một cuộc tấn công đang diễn ra, tuy nhiên tiếp theo đó là vài tiếng kêu la bằng tiếng Việt, lực lượng địa phương chạy tung ra khỏi các căn trại với súng trên tay. Khi thấy không có biến cố nào khác tiếp tục, họ chạy vào căn nhà nơi cô Hoàn vừa chạy ra, lập tức họ đã hiểu là điều gì đã xảy ra… !! Trong căn nhà, mùi thịt cháy lấn át mùi khét, chung quang bức tường có trang hoàng các hình ảnh Playboy đang bốc cháy với những miếng thịt đỏ nhỏ xíu văng tung tóe…Miếng niệm của em Châu đang nằm bốc cháy ngùn ngụt với một lỗ thủng lớn.

Theo lời cô Hoàn thuật lại, sự việc là dưới gầm giường em Châu nằm có một thùng lựu đạn, hôm đó em Châu thấy và lấy một quả lựu đạn cầm trên tay chơi. Cô Hoàn rầy la và nói đừng chơi như thế rất nguy hiểm…Em Châu lại cười và giả vờ rút chốt quả lựu đạn, rốt cuộc cái chốt lựu đạn lại tuột ra…, cô Hoàn hoảng sợ chạy cuồng ra khỏi căn nhà, thế là một tai nạn khủng khiếp đã xảy ra, nhiều quả lựu đạn cùng nổ và em Châu đã chết một cách thảm khốc với thân xác tan nát cả ….Hài cốt của em Châu đã được chôn cất tại một nơi nào đó ở trên núi Pháo Đài. Cái chết của em đã làm cho người lính Mỹ rất đau buồn.

Chú thích : Câu chuyện nầy do một sĩ quan người Mỹ tên là HL Serra kể lại cho mình qua trao đổi mails (ông cũng chia sẻ cho mình nhiều tấm hình về Pháo Đài, dừa ba ngọn, khách sạn Lâm Văn Cao… rất quý và hiếm có về cảnh của Hà Tiên vào những năm 60-70). Ông có nói tại dưới chân núi Pháo Đài còn có một nghĩa địa (theo góp ý của bạn Lâm Thị Lan, học sinh của Trung Học Hà Tiên xưa, đó là nghĩa địa Thiên Chúa Giáo, vì kế dưới Pháo Đài có một xóm Đạo rất đông đúc) và như trên đã kể, ở núi Pháo Đài cũng có ngôi mộ của em Châu. Như vậy nếu các bạn có dịp đi chơi trên Pháo Đài, thử tìm hiểu xem hiện nay có còn nghĩa địa nào trên sườn núi Pháo Đài hay không.

10/ Ngày nay vẫn còn có tác giả nhắc lại bà Tống Thị Sương :

Trong bài viết « Sự ra đời của ‘’con gái đức Phật’’ vùng Nam Bộ », tác giả là Thích Nữ Liên Thảo, đăng trong quyển sách « Các hệ phái Phật giáo và tôn giáo mới tại vùng Nam Bộ », chủ biên Thích Nhật Từ, nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội, 2020,, tại trang 140, có nói về hai vị Ni xuất hiện đầu tiên vùng Nam Bộ như sau : « Có hai vị Ni xuất hiện và được nhiều người quan tâm đến là sư Lê Thị Nữ, ẩn tu trên núi Thị Vải thuộc Bà Rịa, Vũng tàu và sư Tống Thị Sương ở đảo Kim Dự, thuộc trấn Hà Tiên. Chỉ biết có thế thôi còn việc hai vị nầy có thọ đại giới (Tỳ kheo ni) không thì không thấy sách sử ghi lại».

C/ Tạm kết luận:

Qua các tài liệu hình ảnh và trích dẫn trên, chúng ta có thể biết được một cách sơ lược quá trình sinh hoạt của con người trên hòn núi Kim Dự. Tuy những mốc thời gian còn chưa được biết đến một cách chính xác, nhưng ta có thể thấy các giai đoạn sinh hoạt trên núi Kim Dự như sau:

a/ Thời kỳ từ Mạc Cửu khai phá đất Hà Tiên cho đến năm 1833: Núi KIm Dự có thể còn chưa thực sự gắn liền với nội địa Hà Tiên, tuy nhiên về sau có thể đã có cầu đá giúp cho việc đi lại từ đất liền Hà Tiên với núi Kim Dự dễ dàng hơn. Không biết đã có quân lính họ Mạc trấn giữ trên núi hay không. Thời gian nầy có thể có ngôi am tự « Viện Quan Âm » của ni Nữ Tống Thị Sương cất để tu trên núi Kim Dự.

b/ Từ năm 1833 trở đi đến năm 1867 khi Pháp chiếm đóng Hà Tiên: Nhà Nguyễn cho tu bổ lại các công trình phòng thủ và xây pháo đài kiên cố, có đặt súng thần công trên núi Kim Dự, từ đó núi Kim Dự còn có tên là núi Pháo Đài.

c/ Sau năm 1867 đến khoảng đầu thế kỷ 20 (1900): Người Pháp đặt đồn bót và có dân quân cùng với sĩ quan Pháp trấn đóng trên núi Pháo Đài.

d/ Những thập niên đầu của thế kỷ 20 cho đến khoảng thập niên 1950: Người Pháp dùng mặt bằng trên núi Pháo Đài làm nhà thương, có trại giam giữ các tội nhân hình sự. Sau đó người ta cất nhà cửa, khách sạn gọi là Bungalow và núi Pháo Đài được dùng như một nơi nghỉ mát và nghỉ đêm, phục vụ cho khách du ngoạn viếng thăm Hà Tiên.

e/ Thời kỳ chiến tranh 1960 – 1970: Pháo Đài dùng làm căn cứ quân sự, có đơn vị Địa Phương Quân của VNCH và đơn vị hải quân Mỹ đóng tại núi Pháo Đài. Dân chúng không được tự do lên núi như thời trước.

f/ Sau năm 1975, sau một thời gian quản lý, chánh quyền địa phương đã cho phép khai triển mặt bằng Pháo Đài thành một nơi du lịch, có khách sạn, hồ bơi và các sinh hoạt trên mặt bằng Pháo Đài hoàn toàn có tính chất dân sự, khách du lịch đến nghỉ qua đêm và có cửa hàng ăn uống rất phồn thịnh.

D/ Một số hình ảnh sưu tầm về núi Pháo Đài qua các giai đoạn thời gian:

D1/ Hình ảnh Pháo Đài đầu thế kỷ 20 (khoảng 1900):

Cổng vào trại lính trên núi Pháo Đài, Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp. (Vietnam COCHINCHINE, Hà Tiên, Entrée de Pháo Đài, Citrate print 1902 – 18×12 cm)

Cổng vào trại lính trên núi Pháo Đài, Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp. (Vietnam COCHINCHINE, Hà Tiên, Entrée de Pháo Đài, Citrate print 1902 – 18×12 cm)

Hai người sĩ quan Pháp trên núi Pháo Đài, Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp. (INDOCHINE, Deux Officiers du 11e RIC au cap de Phao Dai, Citrate 1902 – 12x16cm)

Trại lính Pháp trên Pháo Đài, Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp. (INDOCHINE Phao Day – Caserne du 11e Col. et Tirailleurs, Citrate 1903 – 12×16 cm)

Nhà của sĩ quan Pháp trên núi Pháo Đài, Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp. (Indochine COCHINCHINE Phao Dai, « L’ami Boitard*chez lui », Citrate 1902 – 12×18 cm)

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng ». Nguồn: gallica.bnf.fr / Bibliothèque nationale de France.

D2: Hình ảnh Pháo Đài trong thập niên 50:

Pháo Đài (Hà Tiên) thời lính Pháp đóng quân tại Hà Tiên (trước năm 1953). Photo: Roland Drosson. (http://www.anciens-cols-bleus.net/t23368p850-operations-de-guerre-indochine-tome-7)

D3: Hình ảnh Pháo Đài trong những thập niên 60-70:

Mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) chụp không ảnh thời chiến tranh 60-70. Photo: Fred McCarthy. Credit: E. « Doc » Riojas. (http://www.sealtwo.org/photoalbum06.htm)

Mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên), Photo: DaveKathyCrawford, PointGarnet, 1966. (https://www.flickr.com/photos/dave_kathy_crawf/)

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên), Photo: DaveKathyCrawford, PointGarnet, 1966.   (https://www.flickr.com/photos/dave_kathy_crawf/)

Vị trí núi Pháo Đài, Hà Tiên do ảnh chụp trên không trung. Hà Tiên Aerial – Photo by Don Griffin 1966-67. Nguồn: Collection Nguyễn Xuân Thắng, TommyJapan1 chia sẻ trên mạng.
(https://www.flickr.com/photos/97930879@N02/albums/page4)

Pháo Đài (Hà Tiên) trong những năm 60-70. Photo: Dave Stevenson.  (http://www.pcf45.com/sealords/hatien/hatien.html)

Mặt bằng trên Pháo Đài chụp không ảnh năm 1969. Photo: Jim Deal . (http://www.pcf45.com/sealords/hatien/hatien.html)

Pháo Đài (Hà Tiên) trong những năm 60-70. Photo: Rich Krebs.  (http://www.tf116.org/vgallery7.html#Krebs)

Pháo Đài (Hà Tiên) trong những năm 60-70. Photo: Rich Krebs.  (http://www.tf116.org/vgallery7.html#Krebs)

Pháo Đài (Hà Tiên) từ ngoài khơi nhìn vào. Photo: Tom Lefavour 1969.  (https://brownwater-navy.com/vietnam/Ha_Tien.htm)

Căn cứ hải quân Mỹ tại Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Tom Lefavour 1969.  (https://brownwater-navy.com/vietnam/Ha_Tien.htm)

Pháo Đài (Hà Tiên) trong thời chiến tranh 1968-1970. Photo: Steve Bingham. (https://stevebingham1945.tripod.com/steve_page2.htm)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa. Photo: HL Serra, Alyson Craig (trước năm 1970). (MACV Compound: Military Assistance Command, Vietnam, Một thành phần hổ trợ quân sự của Mỹ đóng tại Pháo Đài trong những năm 68-70).  (https://slideplayer.com/slide/14776829/)

Dưới chân đồi Pháo Đài, Hà Tiên, thời chiến tranh. Photo: HL Serra 1970

Mặt sau dưới chân núi Pháo Đài, Hà Tiên, phía nhìn ra cửa biển về phía núi Đèn và Mũi Nai. Nguồn hình:  VAS078954, Ha Tien bay, Harry Peplinski, Jr. Collection, The Vietnam Center et Sam Johnson Vietnam Archive, Texas Tech University. (https://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=VAS078954)

Vị tướng 4 sao, bên trái, Phó Đô đốc Hải quân Mỹ Elmo Russell Zumwalt (1920-2000) thăm lính Mỹ tại căn cứ Pháo Đài, Hà Tiên, khoảng năm 1968-1970.(VADM: Vice Admiral of the Navy). Nguồn: Alyson Craig (https://slideplayer.com/slide/14776829/)

D4: Hình ảnh Pháo Đài trong thập niên 70:

Pháo Đài (Hà Tiên) nhìn từ núi Tô Châu. Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Quách Ngọc Bá (1973). Nguồn hình do: Trần Hoàng Trang.

Một phần vỉa hè phía mé sông của Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp từ phía chợ cá xưa. Phía xa xa là núi Pháo Đài. Photo: Kim Lý, thập niên 1970.

Cảnh trên đường Trần Hầu và ngay đầu đường Nhật Tảo (Hà Tiên). Phía xa ta cũng thấy đồi Pháo Đài Kim Dự. Phía dưới ảnh là lề đường sân trước khách sạn Lâm Văn Cao (khách sạn không thấy trong hình). Nguồn hình: Lưu Như Việt 1971-1972

D5: Hình ảnh Pháo Đài trong thập niên 90:

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

D6: Hình ảnh Pháo Đài sau năm 2000:

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phạm Duy Thảo (2007)

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phat Austin Tran 2015

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: 2015

Di tích hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) còn sót lại hình chụp năm 2016. Photo: Asienreisender

Vị trí hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên)

Trên mặt bằng Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay có khách sạn Pháo Đài (2015)

Đường xe chạy lên núi Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay. Photo: Lâm Thị Lan, (2016)

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay chụp từ cầu Tô Châu. Photo: Nguyễn Hồng Thu (2017)

Một trong những bức ảnh đẹp nhất chụp Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay. Photo: Nguyễn Hải Đăng (2017)

Paris, viết xong ngày 29/07/2022, Trần Văn Mãnh (Patrice Tran).

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.(TVM). Grands Remerciements aux auteurs des photographies illustrées à l’article. Many thanks to the authors of the photographs illustrated in the article.

Tài liệu tham khảo: Trân trọng cám ơn quý tác giả và dịch giả.
Đại Nam Nhất Thống Chí.
Gia Đinh Thành Thông Chí: Bản dịch Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh.
Gia Định Thành Thông Chí: Bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo.
HATIEN PHOTO: Quách Ngọc Bá.
Annuaires de la Cochinchine française: Bibliothèque nationale de France.
Quyển sách của người Mỹ: HL Sera.
Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) Trương Minh Đạt 2016.
Hà Tiên, đất nước&con người: Nhóm biên soạn Hà Tiên 1999.
Hà Tiên thập cảnh: Đông Hồ&Mộng Tuyết 1996.
Thất Sơn, Hà Tiên: Cửu Long Giang.
Sự ra đời của ‘’con gái đức Phật’’ vùng Nam Bộ: Thích Nữ Liên Thảo.

Những vị công tử và công nương trong gia đình họ Mạc ở Hà Tiên

A/ Lời dẫn đầu :

Trước khi đi vào chi tiết bài viết, mình xin chia sẻ một vài ý nghĩ như sau: Là một người sinh ra và lớn lên ở ngay đất Hà Tiên, từ năm 1952 cho đến những năm 70, 71….rời Hà Tiên đi học ở Rạch Giá rồi lên Cần Thơ học Sư Phm, rồi đi dạy học vài năm ở các trường Trung Học An Phú (Châu Đốc), Mỹ Luông, Long Xuyên (An Giang), cho đến năm 1986 rời Việt Nam đi định cư ở nước Pháp, và để nói cho chính xác luôn nữa là trước khi được dịp may đọc các quyển sách về đề tài « Nghiên Cứu Hà Tiên », « Họ Mạc với Hà Tiên » của học giả Trương Minh Đạt, mình có một hiểu biết rất thiếu sót và mơ hồ về lịch sử Hà Tiên…Chẳng hạn như mình chưa hề biết là có một ngôi chùa Phù Dung ở triền núi Đề Liêm ngoài ngôi chùa Phù Dung hiện tại, cũng không hề biết một cách rỏ ràng về các nhân vật trong gia đình họ Mạc, nhất là về Bà Cô Năm, cũng không hề biết thực hư về các bà thứ thiếp của ông Mạc Thiên Tích mà nỗi tiếng nhất là bà Dì Tự…!! Điều đó cũng dễ hiểu vì một phần lớn là khi còn nhỏ, chỉ lo rong chơi, ngoài các giờ phải lo học bài, không có đầu óc yêu quê hương đến mức độ phải tìm tòi sách vở để hiểu biết về lịch sử của quê mình.

Tất cả những hiểu biết hay nói đúng hơn là những tin tức truyền khẩu về họ Mạc chi thu gọn ở vài thông tin như : tên họ lần lượt các vị trong gia đình họ Mạc nổi tiếng như : Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Hoàng, Mạc Công Du…v…v…Ngay cả mối liên hệ trong gia phả của các vị nầy cũng chỉ được mình biết là từ đời cha, rồi đến đời con, đời cháu,… chứ không phân biệt một cách rỏ ràng các chi nhánh trong dòng họ Mạc.

Bài viết hôm nay hoàn toàn không phải là một bài có tính chất nghiên cứu, hàn lâm mà chỉ muốn thu gọn, tóm tắt, súc tích tên họ các vị công tử, công nương trong gia đình họ Mạc kể từ lúc ông Mạc Cửu lập nghiêp và đặt nền tảng cho một Vương Quốc Hà Tiên được Chúa Nguyễn tiếp nhận kể từ năm 1708 trở về sau. Hy vọng chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và hệ thống, phân biệt rỏ ràng các chi nhánh trong đại gia đình họ Mạc qua nội dung của bài.  Phần lớn bài viết dựa trên tư liệu là quyển sách : « Họ Mạc với Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt, NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM, năm 2017.

Ngày xưa, khi còn là học sinh Trung học Hà Tiên trong những năm 60-70, mình thường nghe người ta truyền khẩu về bốn chữ do vua ban : « Thất diệp Phiên hàn » (có nghĩa là « Báy lá che chống »). Bốn chữ nầy nằm trong hai câu đối trước cổng tam quan đền Mạc Công Miếu, Hà Tiên :

Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng

Thất diệp phiên hàn quốc sủng vinh

(Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ, Bảy lá che chống, cả nước mến yêu).

Vì có con số bảy (Thất) trong đó nên người Hà Tiên thường truyền tụng là ông Mạc Cửu sẽ truyền dòng họ được bảy đời theo đúng bảy chữ trong Thất diệp Phiên hàn: Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử , Nam. Bảy chử nầy sẽ là bảy chữ lót trong cách đặt tên cho các vị hoàng tử, công chúa trong dòng họ gia đình kể từ đời thứ nhất là con của ông Mạc Cửu là ông Mạc THIÊN Tích. Tiếng truyền tụng nói là đến người có mang chữ lót là NAM (bà Mạc NAM Hương?), thì không có con trai nối dòng nên đến đời nầy thì dứt họ Mạc…Quả thật thông tin nầy đã đeo đuổi người Hà Tiên từ xưa đến nay, ngay cả giới học sinh như mình thời đó cũng chỉ biết như vậy, không tìm tòi hay nghiên cứu gì cả…

Thật sự qua các bài vở nghiên cứu và sau đó được gôm lại xuất bản thành sách dưới đề tài “Nhận thức mới về đất Hà Tiên” (2001), “Nghiên cứu Hà Tiên” (2008) và “Họ Mạc với Hà Tiên” (2017) của học giả Trương Minh Đạt, ta mới biết có rất nhiều thông tin mới về Hà Tiên, về gia đình họ Mạc. Những thông tin nầy được ông trình bày một cách khoa học, căn bản và có nguồn gốc tư liệu hẳn hoi. Qua đó ta sẽ thấy là dòng họ Mạc ngày nay vẫn còn nhiều hậu duệ, nhất là chi nhánh ở Cà Mau (đất Hà Tiên ngày xưa từ thời Trấn Hà Tiên đến tỉnh Hà Tiên bao gồm cả phần lớn vùng Cà Mau ngày nay), nhóm hậu duệ họ Mạc ở Cà Mau nầy mỗi năm vẫn đến Hà Tiên cúng kiến và thăm mộ tiền nhân.

B/ Những đời Công tử và Công nương họ Mạc ở Hà Tiên:

MẠC CỬU: (1655 – 1735), Tổng binh Trần Thủ Hà Tiên, người tạo dựng và phát triển đất Hà Tiên xem như một Vương Quốc tương đối độc lập dù có phụ thuộc nhà Nguyễn. Ngôi mộ chính số 1 tại núi Bình San, Hà Tiên. Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Mạc Cửu.

   BÙI THỊ LẨM (? – 1735), vợ ông Mạc Cửu, bà là người Việt Nam, sau khi mất được chúa Nguyễn ban cho họ Nguyễn: “Ý Đức Thái Phu Nhân Nguyễn Thị”. Mộ số 12.

1/ Đời thứ nhất (nam tên lót chữ THIÊN): Ông Mạc Cửu có hai người con, một trai là Mạc Thiên Tích và một gái là Mạc Kim Định.

MẠC THIÊN TÍCH: (1718 – 1780), người có công to lớn sau Mạc Cửu trong công cuộc phát triển Vương quốc Hà Tiên. Tổng binh Đô Đốc Hà Tiên Trấn. Mộ số 2. Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Mạc Thiên Tích.

   NGUYỄN NGỌC BỘI: (? – 1752), có nguồn tên là NGUYỄN THỊ HUY, vợ chánh ông Mạc Thiên Tích, Nguyễn Thị Hiếu Túc Thái Phu Nhân, mộ số 16.

   Từ Thành Thục Nhân Nguyễn Thị: (? – 1761), vợ thứ hai của ông Mạc Thiên Tích, còn gọi là bà Dì Tự. Mộ số 30.

   Từ Thục Cung Nhân Hoàng Thị: (? – 1767), vợ thứ ba của ông Mạc Thiên Tích. Mộ số 23.

   Người thiếp: Không rỏ họ tên, vợ thứ tư của ông Mạc Thiên Tích. Chết bên Xiêm không có mộ.

   Từ Hòa Cung Nhân Nguyễn Thị: (? – 1765), vợ thứ năm của ông Mạc Thiên Tích. Mộ số 29.

   Từ Tín Cung Nhân Ngô Thị: (? – 1765), vợ thứ sáu của ông Mạc Thiên Tích. Mộ số 44.

   Từ Thiện An Nhân Trần Thị: (? – 1769), vợ thứ bảy của ông Mạc Thiên Tích. Mộ số 40.

   Từ Thuận Nghi Nhân Nguyễn Thị: Không biết năm sanh và mất. Mộ số 41.

MẠC KIM ĐỊNH: bà là em gái của ông Mạc Thiên Tích. Không rỏ ngày sinh, ngày mất. Không có mộ ở Hà Tiên.

   TRẦN ĐẠI ĐỊNH: (? – 1732), Tổng binh Định Sách Hầu, chồng của bà Mạc Kim Định. Không có mộ ở Hà Tiên. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Đại Định (?).

2/ Đời thứ hai (nam tên lót chữ TỬ): Ông Mạc Thiên Tích có 8 người vợ và có tất cả 18 người con.

          a/ Con ông Mạc Thiên Tích với bà vợ chánh Nguyễn Thị Hiếu Túc Thái Phu Nhân (4 trai và 4 gái):

MẠC TỬ HẠO: Chết yểu, không có mộ.

MẠC TỬ HOÀNG: (? – 1820), từng giữ chức Hiệp Trấn Hà Tiên. Mộ số 3. Có 3 vợ, vợ chánh là Từ Chân Phu Nhân Hứa Thị (? – 1776), mộ số 13. Vợ thứ 2 là Từ Mẫn Nghi Nhân Vương Thị (? – 1820), mộ số 42. Vợ thứ 3 là thiếp tên Bùi Thị Nga, không rỏ ngày sinh, ngày mất (mất bên Xiêm, không rỏ mộ). Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Mạc Tử Hoàng.

MẠC TỬ THẢNG (hoặc THƯỢNG): (? – 1780), chết bên Xiêm, sau đó có đem hài cốt về núi Lăng, Hà Tiên nhưng ngôi mộ chưa được định rỏ và chưa đặt số. Có 2 vợ, vợ chánh là bà họ Trần, không rỏ tên và năm sanh, năm mất, không rỏ mộ. Vợ 2 là Phan Thị Thục Nhân Chí Thành Đạo, mộ số 28. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Tử Thắng (?).

MẠC TỬ DUNG: (1752 – 1780), chết bên Xiêm, sau đó có đem hài cốt về núi Lăng, Hà Tiên nhưng ngôi mộ chưa được định rỏ và chưa đặt số. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Tử Dung.

MẠC THỊ LONG: (? – 1770), trưởng nữ của ông Mạc Thiên Tích. Mộ số 38. Chồng của bà là Long Hổ Đại tướng quân Trần Hoàn (? – 1754), mộ số 10.

MẠC THỊ HAI (MẠC THỊ TRẠM): Không rỏ mộ. Chồng của bà là Ngũ Nhung Cai cơ Đại tướng quân Từ Hữu Dũng (? – 1767), mộ ông số 5. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Từ Hữu Dũng.

MẠC THỊ LIÊN (MẠC THỊ GIÁC): Không biết chồng là ai, không rỏ mộ.

MẠC MI CÔ: (1750 – 1763), tiểu thư Mạc Mi Cô, mất sớm lúc 13 tuổi, dân kính trọng gọi là bà Cô Năm. Mộ số 43. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Công Nương.

          b/ Con ông Mạc Thiên Tích với bà Dì Tự, Từ Thành Thục Nhân Nguyễn Thị (1 trai):

MẠC TỬ CHÚ: chết trẻ, mộ số 26.

          c/ Con ông Mạc Thiên Tích với bà Từ Thục Cung Nhân Hoàng Thị (4 trai):

MẠC TỬ DỰ (TỬ ĐÍNH, TỬ ĐẢNH): Chết non, mộ số 35.

MẠC TỬ HIỂN: Không rỏ thông tin, không rỏ mộ.

MẠC TỬ HẠNG: Không có thông tin, không rỏ mộ.

MẠC TỬ PHA: Không có thông tin, không rỏ mộ.

          d/ Con ông Mạc Thiên Tích với bà thiếp, tức vợ thứ tư (3 trai):

MẠC TỬ SANH: (1769 – 1788), theo phò vua Gia Long, được phong chức Tham tướng. Vè sau làm Lưu thủ Hà Tiên trấn. Không rỏ mộ. Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Tham Tướng Sanh.

MẠC TỬ TUẤN: Không có thông tin, không rỏ mộ. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Tử Tuấn.

MẠC TỬ THIÊM: (? – 1809), từng làm Trấn Thủ Hà Tiên. Không rỏ mộ. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Tử Thiêm.

          e/ Con ông Mạc Thiên Tích với bà Từ Hòa Cung Nhân Nguyễn Thị (1 trai):

MẠC TỬ QUANG: Không có thông tin, không rỏ mộ.

 Ngoài ra còn có MẠC TỬ PHỔ, không biết con bà vợ nào với Mạc Thiên Tích. Mạc Tử Phổ chết yểu, mộ số 36.

Đời thứ hai, con của bà Mạc Kim Định và ông Trần Đại Định (1 trai):

TRẦN CƠ (TRẦN ĐẠI LỰC, TRẦN VĂN PHƯƠNG): (? – 1770), khi chết được truy thăng Cơ Trí Hầu nên còn được dân Hà Tiên gọi là Trần Hầu. Mộ số 9. Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Trần Hầu.

3/ Đời thứ ba (nam tên lót chữ CÔNG): Trong số 13 con trai của ông Mạc Thiên Tích, có hai người con duy trì thế hệ thứ ba là Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thảng.

Mạc Tử Hoàng có 3 vợ và có 8 người con.

          a/ Con ông Mạc Tử Hoàng với bà vợ chánh Từ Chân Phu Nhân Hứa Thị (5 trai):

MẠC CÔNG VÂN: Chết yểu, không rỏ mộ.

MẠC CÔNG BÁ: Không có thông tin, không rỏ mộ. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Công Bá.

MẠC CÔNG TRỤ: Không có thông tin, không rỏ mộ.

MẠC CÔNG BÍNH: (? – 1792), từng làm Lưu Thủ Long Xuyên và Trấn Thủ Hà Tiên. Không rỏ mộ. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Công Bình (?).

MẠC CÔNG THỨC: Chết yểu, Chết yểu, không rỏ mộ.

          b/ Con ông Mạc Tử Hoàng với bà vợ Từ Mẫn Nghi Nhân Vương Thị (1 trai):

MẠC CÔNG BÁ: Chữ Bá nầy viết khác với chữ Bá tên của con bà vợ chánh họ Hứa kể trên. Không có thông tin, không rỏ mộ.

          c/ Con ông Mạc Tử Hoàng với bà vợ thiếp Bùi Thị Nga (2 trai):

MẠC CÔNG DU (? – 1833), từng làm Hiệp Trấn và Trấn Thủ Hà Tiên. Mộ số 56. Từ xưa Hà Tiên đã có tên đường Mạc Công Du.

MẠC CÔNG TÀI : (? – 1833), từng làm Quản Thủ Hà Tiên. Có một vợ là bà Phiên Thị Nhụ Nhân, hai vợ chồng đều mất năm 1833. Mộ Mạc Công Tài số 11, mộ người vợ kế bên số 11bis. Ngày nay Hà Tiên có tên đường Mạc Công Tài.

Mạc Tử Thảng có 2 vợ và có 2 người con.

          a/ Con ông Mạc Tử Thảng với bà vợ chánh họ Trần (1 trai) :

MẠC NHƯ ĐÔNG : mộ số 45.

          b/ Con ông Mạc Tử Thảng với bà Phan Thị Thục Nhân Chí Thành Đạo (1 trai) :

MẠC CÔNG THÊ : mộ số 28. Có thông tin rằng Mạc Công Thê là ông Tổ của dòng dỏi họ Mạc ở Cà Mau nên hiên nay họ Mạc còn rất nhiều hậu duệ ở Cà Mau.

Đời thứ ba, con của bà Mạc Thị Long và tướng Trần Hoàn (2 trai):

TRẦN THIỆU HỔ : Không có thông tin, không rỏ mộ.

TRẦN THIỆU PHÁCH : Không có thông tin, không rỏ mộ.

Đời thứ ba, con của bà Mạc Thị Hai và tướng Từ Hữu Dũng (1 trai):

TỪ KHUÔNG : Không có thông tin, không rỏ mộ.

4/ Đời thứ tư (nam tên lót chữ HẦU): Trong số 8 con trai của Mạc Tử Hoàng, có Mạc Công Bính và Mạc Công Du duy trì thế hệ thứ tư.

Mạc Công Bính có 1 vợ và có 1 người con.

          a/ Con ông Mạc Công Bính và người vợ không biết tên (1 trai) :

MẠC HẦU ĐỒ : Không có thông tin, không rỏ mộ.

Mạc Công Du có 1 vợ và có 3 người con.

          a/ Con ông Mạc Công Du và người vợ không biết tên (3 trai) :

MẠC HẦU HY : vì bị trọng tội đời vua Minh mạng nên chết xa xứ, không rỏ mộ.

MẠC HẦU HIỆU : vì bị trọng tội đời vua Minh mạng nên chết xa xứ, không rỏ mộ.

MẠC HẦU PHONG (MẠC VĂN PHONG) : Đời vua Tự Đức, được hưởng Ấm Thụ Xuất Đội chăm lo việc cúng tế tại Mạc Công Miếu. Có một vợ không biết tên. Mộ số 57.

Mạc Công Tài có 1 vợ và 2 người con.

          a/ Con của Mạc Công Tài với bà Phiên Thị Nhụ Nhân (2 gái) :

MẠC NGỌC HẠNH : Không có thông tin, không rỏ mộ.

MẠC NGỌC MAI : Không có thông tin, không rỏ mộ.

Mạc Như Đông có 1 vợ và 1 người con.

          a/ Con của Mạc Như Đông và bà vợ không biết tên (1 trai) :

TRẦN HỮU TẠO : Mặc dù là con trai của Mạc Như Đông nhưng vì có thời gian Mạc Như Đông mang họ mẹ là họ Trần nên con ông cũng lấy theo họ Trần.

5/ Đời thứ năm (nam tên lót chữ BÁ):  Con của Mạc Công Du là Mạc Hầu Phong duy trì được thế hệ thứ năm.

Mạc Hầu Phong cùng với người vợ không biết tên có 2 người con (2 trai) :

MẠC BÁ BÌNH : Không rỏ năm sinh và mất, được hưởng Ấm Thụ Xuất Đội. Có một vợ tên là Ngô Thị Chương ; hai ông bà cùng chung một ngôi mộ số 19.

MẠC BÁ THÀNH : Không có thông tin, không rỏ mộ.

6/ Đời thứ sáu (nam tên lót chữ TỬ):  Con của Mạc Hầu Phong là Mạc Bá Bình duy trì được thế hệ thứ sáu.

Mạc Bá Bình cùng với vợ là bà Ngô Thị Chương có 2 người con (1 trai, 1 gái) :

MẠC TỬ KHÂM : : Không rỏ năm sinh và mất, được hưởng Ấm Thụ Xuất Đội. Có một vợ tên là Trần Thị Nguyên. Mộ số 25.

MẠC THỊ ÂN : Không có thông tin. Mộ số 52.

7/ Đời thứ bảy (tên lót chữ NAM):  Con của Mạc Bá Bình là Mạc Tử Khâm chỉ có 2 người con gái, không có con trai.

Mạc Tử Khâm cùng với bà vợ là Trần Thị Nguyên có 2 người con gái, đến đời nầy thì bỏ lệ, không ghép tên lót với chữ NAM theo đúng 7 chữ đã nói trên.

MẠC THỊ HƯƠNG (MẠC QUẾ HƯƠNG) : (1904 – 1949), mộ số 67. Chồng bà tên là Thiềm Văn Tường (1901 – 1988). Hai người có 10 người con và có thỏa thuận với nhau cho người con trai trưởng theo họ Mạc của mẹ, các người con khác khi theo họ Thiềm của cha khi theo họ Mạc của mẹ.

MẠC THỊ LAN (MẠC PHƯƠNG LAN, MẠC QUẾ LAN) : (1906 – 1946), bà không có chồng, ở vậy chăm lo thờ phụng tổ tiên tại Mạc Công Miếu. Mộ số 68.

8/ Đời thứ 8 : Đáng lẽ là đến đời thứ 7 là hết con trai mang họ Mạc, nhưng theo trên đã nói, hai ông bà Mạc Thị Hương và Thiềm Văn Tường thỏa thuận cho một người con trai lớn mang họ mẹ. Hai người có 10 người con (5 trai, 5 gái) :

MẠC CHÍ MỘNG, THIỀM KIM XUYẾN, THIỀM KIM HOA, THIỀM CHÍ TRUNG, THIỀM CHÍ CAN (sau đổi là MẠC THANH CAN), THIỀM KIM LUYẾN, THIỀM KIM VÂN, MẠC CHÍ TRỌNG, THIỀM VĂN NGHĨA, THIỀM KIM PHỤNG.

C/ Kết luận :

Nếu theo dõi toàn bộ phần liệt kê dòng họ Mạc như đã viết ở phần B nói trên, ta thấy có vẻ cũng hơi phức tạp và khó nhớ. Tuy nhiên để trang bị một kiến thức phổ thông và ngắn gọn, ta có thể giữ lại một số tên họ các công tử và công nương họ Mạc nổi tiếng mà cuộc đời những vị nầy gắn liền với lịch sữ Hà Tiên. Ta có thể ghi nhớ : Mạc Cửu là người khai phá và phát triển ra Vương quốc Hà Tiên, con ông là Mạc Thiên Tích tiếp nối sự nghiệp ông cha với tài năng cả văn lẫn võ, người cũng là chủ soái của Tao Đàn Chiêu Anh Các. Tiếp theo là các ông Mạc Tử Hoàng và Tham tướng Mạc Tử Sanh. Riêng bà Cô Năm Mạc Mi Cô là con gái út của ông Mạc Thiên Tích, người tuy mất rất sớm nhưng có một ảnh hưởng tâm linh rất quan trọng ở đất Hà Tiên. Tiếp đến là ông Mạc Công Du người có từng làm Trấn Thủ Hà Tiên. Là người may mắn được sinh ra và lớn lên tại vùng đất Hà Tiên, mình luôn tự hào là con cháu của các vị tiền nhân trong gia đình họ Mạc và là con dân của một Vương quốc tuy ở xa xôi tận cùng của cái chấm chữ S, nhưng đó là một vùng đất đầy tính chất lịch sử và sự phát triển của vùng đất Hà Tiên đã đóng góp rất to lớn nếu không nói là một cách quyết định trong công cuộc tiến về phía Nam của các vị Chúa nhà Nguyễn.

Trong tất cả các công tử họ Mạc đã kể trên, chỉ có quý ông : Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Thiêm, Mạc Công Bính, Mạc Công Du và Mạc Công Tài là những ông từng nắm quyền chỉ huy toàn bờ cỏi Hà Tiên (chức vụ Trấn Thủ Hà Tiên).

Trần Văn Mãnh (Paris, viết xong ngày 29/06/2022)

Mộ ông Mạc Cửu và một phần lăng mộ phía dưới. Núi Bình San, Hà Tiên. năm 1994. Nguồn: TVM

Bản tóm tắt một phần sơ đồ gia đình họ Mạc với một số tên họ nhân vật được biết đến nhiều nhất.

Ngựa ơi, ta với mi cùng đi! (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mở đầu phần lời giới thiệu bài viết, mình cũng cứ lập lại cái câu rất « cổ điển » là: « một lần nữa, cây bút Quang Nguyên đã trở lại với chúng ta »… với một hồi ký hoàn toàn đầy tính chất bi hài kịch…. Thật vậy, nếu tác giả Quang Nguyên đã có một năng khiếu là nhớ rất kỹ những chi tiết của những giai đoạn trải qua rất xa xưa trong cuộc sống, thì Quang Nguyên lại có thêm một tài năng khác là viết hồi ký rất hay…Chính nhờ khả năng đó mà từ lâu chúng ta đã có dịp thưởng thức những đoạn hồi ký cực kỳ sống động, không thiếu một chi tiết nào và cũng không cần phải trau chuốt, mài dũa cho từng câu văn mà bài viết nào cũng rất hấp dẩn, lôi cuốn và lại đầy tính văn chương nữa. Hôm nay, chúng ta sẽ có dịp sống lại với tác giả một giai đoạn trung gian giữa nếp sống gần như vô tư của đời học sinh và một cảnh đời gay go, khó khăn của một sinh viên đi học xa nhà muốn được tự chủ về mọi mặt…Thời còn trẻ trong chúng ta ai cũng có ít nhiều những cuộc « phiêu lưu », giang hồ lãng tử…!! Đi rong chơi xa nhà theo cái kiểu:

« Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà »…

Tạm mượn hai câu thơ trong bài thơ « Giang Hồ » của thi sĩ Phạm Hữu Quang để chỉ cái tính « giang hồ vặt » của tuổi trẻ chúng ta thời xa xưa…Tuy nhiên đối với những kinh nghiệm sống đã trải qua, cái giang hồ của tác giả Quang Nguyên thật sự không còn là giang hồ vặt mà đó chính là những kinh nghiệm sống đầy bi hài…Chúng ta có thể đi « lưu linh » từ tỉnh nầy qua tỉnh khác để vui chơi, nhưng chúng ta chỉ « đi » bằng xe đò, tàu bè, chưa bao giờ chúng ta ra sức đạp xe đạp để băng qua những chặng đường hàng trăm cây số như vậy…Phải thành thật ngả nón chào kỳ công và quyết tâm của Quang Nguyên trước một sự việc mà anh đã dấn thân, rồi sau đó biến « kỳ công » thành phương tiện sống qua hoạt động chạy « xe đạp ôm » chở khách để có thêm điều kiện hoàn thành chu kỳ học và lập thân…Thân mời quý thầy cô và các bạn đọc bài viết dưới đây, với một cách hành văn luôn có tính hiện thực, lấy cái « hài » tô điểm và che lấp cái « bi » để cuộc sống vẫn luôn có nét nên thơ, đáng vươn lên trong mọi hoàn cảnh và do đó, cuối cùng rồi thì tất cả công lao khó nhọc đều được đền đáp một cách xứng đáng…(Paris, ngày 02/06/2022 Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Ngựa ơi, ta với mi cùng đi! (Quang Nguyên)

…Thằng Bé đã sống ở Cần Thơ một mình bắt đầu từ tháng 8/1984, năm ấy nó vừa tròn 18 tuổi. Nó đã  không thư từ về nhà, không nhận chu cấp của gia đình (mà gia đình thì cũng quá khó khăn lấy chi mà chu cấp cho nó?). Nó đã rất cô đơn và nặng nề trong lòng với những nỗi niềm của cái ngày bỏ nhà ra đi với độc một bộ đồ trên người và vài đồng của Tícô em gái. Đó là một câu chuyện rất thường xảy ra cho những tên thanh niên “trẻ trâu” xốc nổi. Chuyện cãi cha cãi mẹ rồi bỏ nhà ra đi là một căn cớ diễn ra theo một lối mòn duy nhất của đám thanh thiếu niên ăn chưa no lo chưa tới của xưa và nay…

Nó đã rất khổ tâm, nó không nghĩ rằng nó mất gia đình hay gia đình mất nó mà sao vẫn có những lực cản nhất định để cho thằng Bé không thể viết thư về cho cha mẹ hay anh em? Nhà nó dạo này thế nào, ba má và các em nó có khoẻ không …Tất cả nó đều nhờ mấy thằng bạn ở Hà Tiên có về quê ghé chơi nhà nó bí mật dòm ngó rồi lên “báo cáo” lại cho nó! Nhờ vậy mà nó đỡ nhớ nhà, nhớ anh chị em và ba má nó.

Không biết từ khi nào câu “tam thập nhi lập” đã ở trong suy nghĩ của những ông cha bà mẹ nho giáo? Vì họ thường lo lắng cho con cái của mình cho đến ba mươi tuổi họ mới yên tâm mà tin rằng con mình đã trưởng thành? Năm đó nó chỉ mới mười tám tuổi, cái tuổi còn là con nít của gia đình gia giáo nhưng là cái tuổi đã quá trưởng thành của trẻ em đường phố! Thế nhưng nó nào phải trẻ em đường phố? Thà rằng nó lớn lên từ đường phố thì đơn giản cho nó hơn, nó sẽ dễ kiếm sống hơn rồi ra sao thì ra… Đằng này nó là thằng “ba rọi”! Với đường phố thì nó chỉ “lập lò” thọt ra thọt vô giữa nhà và phố, còn với việc “gia giáo” – dù cha mẹ nó cũng dạy dỗ kỹ càng đủ điều, nhưng cái chuyện nó tiếp thu và giữ lại trong mình bao nhiêu phần trăm còn là vấn đề mà nhiều năm sau những người biết nó – mà có quan tâm đến nó – phải trăn trở?!

Nó nhớ nhà lắm chứ, nhớ mấy anh em đã cùng nó bươn chãi, nhớ từng cuốc xe nước chổng vó khiến cho nó hay anh nó bay bổng lăn quay. Nhớ má nó bên ngọn đèn dầu với cái bóng của đôi cánh tay, mấy ngón tay và hai cọng cây đan thoăn thoắt khiến cái bóng đôi cánh tay của má trên vách nhà như những kiếm sĩ đang chiến đấu quyết liệt với cái bóng ma đói nghèo! Nó nhớ con Tí hàng buổi chiều với cái tủ thuốc lá nhỏ xíu mà nhiệm vụ của nó là phải “bồng” ra ngoài chợ để em chong ngọn đèn dầu hột vịt vừa học bài vừa bán thuốc lá lẻ. Thằng Đen giờ chắc đang gồng mình kéo nước, còn ba đang phải một mình chiến đấu với ruộng vườn, đến tối mịt mới lội năm ki lô mét về nhà mệt mỏi, rồi ba lại quăng “vài cục bực dọc” lên vai thằng “thiếu niên lao động siêu giỏi” độc nhất ở nhà lúc này là Đen, hắn chỉ mới 12 tuổi, để rồi nhiều năm sau hắn oằn mình khổ ải kêu rằng cuộc đời hắn chỉ độc một màu “hắc ám”!

Nó nhớ tới anh Quang của nó mà giờ đây anh ấy không ở xứ Hà Tiên, anh ấy đang được cậu nó dẫn đi làm “cu li” đúng nghĩa. Nhiệm vụ hàng ngày của anh là nén từng hòn than bùn (là một loại trầm tích của thực vật bị chôn vùi nhiều ngàn năm, than bùn được hình thành do sự tích tụ và phân huỷ không hoàn toàn các loại thực vật đầm lầy trong điều kiện yếm khí xảy ra liên tục…) ở vỉa than xứ Hòn Đất quê hương của người nữ anh hùng Cộng Sản Phan Thị Ràng, mà nhà văn Anh Đức đã ‘mắm muối” thành một chị Sứ với một cuộc đời sống và chiến đấu hy sinh thật dữ dội, làm cho nhiều thế hệ sau người ta quên mất người thật tên Ràng! Qua những lá thư được anh Quang viết cho nó, nó được biết anh nó hàng ngày ngoài công việc được giao, anh vẫn đang miệt mài ôn tập để chờ ngày “xung trận”, tiếp tục chiến đấu với ước mơ Đại học đang còn dở dang, và năm nay anh ấy sẽ đăng ký thí sinh tự do để thi vào đại học Cần Thơ (ĐHCT) sau hai năm gián đoạn.

… Bấy giờ đã là tháng 9/1985, có nghĩa là là nó đã ở Cần Thơ một năm, giật mình nó thấy sinh viên khóa mới đã háo hức vào học, lớp của nó cũng đã được sắp xếp, nó vào lớp Sư Phạm Hóa khóa 11 và đã vào học cả hơn hai tuần. Ngành Hóa? Đó là một sự ngạc nhiên thú vị của nó vì nó khi thi Đại Học thì chọn ngành Nga Văn (cho dễ đậu!), nhưng bây giờ họ cũng cho nó vào Sư phạm nhưng lại là ngành Hóa chỉ vì điểm thi của nó có môn Hóa đạt điểm cao. Không sao, nhà nước cho nó học gì cũng được, “có giáo dục” là tốt rồi! Ủa, anh Quang của mình đâu nhỉ ? Nó tự thắc mắc. Qua thư nó được anh ấy cho hay là bài làm của anh ấy tốt lắm mà? 

Thằng Bé đâm thắc mắc, mà nó đã thắc mắc chuyện gì thì nó sẽ tìm hiểu cho ra l chuyện đó, cho tới khi nó không thể giải quyết được thì thôi chứ còn thắc mắc là nó còn moi móc. Nó bèn đi ra phòng Đào Tạo của ĐHCT, tìm trong cả mấy ngàn sinh viên được vào học trong niên học này, tim nó như đứng lại ngay cái hàng tên của ảnh hiện rõ đây mà? Trương Minh Nhật Quang không thể lẫn với ai được! Số điểm lại cao nhất trong số sinh viên của tỉnh Kiên Giang đậu vào ĐHCT, nó nhớ không lầm là mười chín trên ba mươi điểm (19/30) và do có môn Vật Lý anh ấy đạt chín trên mười điểm (9/10) nên anh được xếp vào lớp Sư Phạm Vật Lý K11 bất chấp nguyện vọng của ảnh là vào ngành Công Nghiệp Chế Biến, tư duy thời bao cấp là vậy.

Lao ngay vào phòng Đào Tạo của trường để hỏi sao anh nó không thấy có giấy triệu tập vào trường, cô phụ trách uể oải nói:

–  À cái này bên thầy Dõng ký, em tìm thầy mà hỏi nhé!

Nó bèn tìm gặp ông Lê Thế Dõng hiệu phó của trường để hỏi (thầy Dõng sau này làm hiệu trưởng Đại Học Mở Bán Công thành phố HCM 1995-2002). Thầy Dõng ốm nhách với gương mặt xương xẩu khó đăm đăm, ông luôn mặc bộ đồ mùa hè màu cỏ úa của bộ đội, hai bên vai chuyển màu bạc thếch với hai bệt thâm kim, thầy dạy nó môn chính trị, với giọng xứ Nghệ An Hà Tĩnh chi đó khó nghe gần chết, nội dung bài giảng thì thường vòng vo, giáo điều lạt nhách, tương phản với bài giảng là thái độ nhiệt thành với một chút hung hăng giống như chính ủy ngoài mặt trận của thầy…Tất cả tạo thành một cái thứ không ăn nhập nhau kiểu “bầu rục mà chấm mắm nêm” vậy.

Sau khi gõ cửa vào phòng của thầy, nó cất tiếng:

–  Thưa thầy! Anh của em có trong danh sách đậu vào trường mình, sao không thấy giấy triệu tập vào trường?

–  Thế em có vào phòng Đào tạo mà hỏi chưa? – thầy Dõng gắt gỏng.

–  Dạ rồi! Nhưng mấy cô bảo rằng giấy triệu tập là thầy ký nên thầy sẽ cho em biết trường hợp nào không được triệu tập.

–  Aaa…! Mấy cái cô này… Thế anh của em ở đâu nào? Bao nhiêu điểm?

–  Dạ. 19 điểm, Sinh viên tỉnh Kiên Giang!.

–  À, tôi hiểu rồi, anh em đỗ vào trường mình là chắc chắn rồi, tất cả các giấy gọi vào trường tôi đã cho gửi về Ban tuyển sinh tỉnh, được đi học hay không là do ở đấy nhé!

Thầy Dõng đã giải thích rất rõ như vậy, tuy nhiên lời giải thích của thầy càng làm cho nó thắc mắc thêm, tại sao Ban tuyển sinh tỉnh Kiên Giang không gửi thông báo trúng tuyển của anh Quang về Hà Tiên?  Nó phải tìm hiểu cho ra chuyện này, muốn vậy nó phải về Rạch Giá. Nhưng chỉ có vậy thôi mà thời ấy không phải dễ dàng để tính, thằng Bé đã “tái nghèo” không có một hào lận lưng thì làm sao mà về Rạch Giá để tìm hiểu (trước đó nó đã khá “giàu”, độc giả sẽ biết trong câu chuyện khác)? Nghĩ mãi không ra nó đành liều:

–  Khánh! Mày cho tao mượn xe đạp mấy ngày nhe – nó nói với người bạn cùng phòng (bác sĩ Lâm Nguyên Khánh sau này)

–  Mày làm gì mà mượn mấy ngày?

–  Tao đạp xe về Hà Tiên!

–  Giỡn hoài mậy? mấy trăm cây số đó nhe!

–  Tao đạp được mà, nhằm nhò gì!

Nó bèn nói cho Khánh nghe chuỵện của anh Quang, Khánh thông cảm và đồng ý cái rụp, Khánh sẽ tạm mượn xe đạp của bạn để đi học, còn nó sẽ lấy xe đạp “đầm” (là loại xe đạp thường, sườn cong chứ không phải xe sườn ngang đòn giong) của anh ấy để về Hà Tiên cách Cần Thơ 220 km. Chiều hôm đó nó mượn của thằng bạn khác cùng phòng mấy đồng để mua khoai mì luộc, quấn sẵn một gói thuốc rê nát vụn của nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội đóng gói bán cho mấy bác đạp xích lô ở Sài Gòn mà mấy lúc đi Sài Gòn thăm bồ nó cầm về cả chục hộp giấy vuông vuông.

Cái thứ thuốc lá nát này được cái cực rẻ mà cũng thơm tho như thuốc Mai hay Đà Lạt (là vụn của hai loại thuốc này, bây giờ nó “nghèo” đến độ thuốc đen nguyên điếu Mai và Đà Lạt cũng không còn có thể!), chỉ có điều không khéo vấn thì sẽ không tài nào hút được vì cái vụn thuốc nát như bột sẽ chun vào phổi mất, nó vấn thứ này phải nói là cực nhanh và khéo vì ngày xưa nó đã quan sát ba nó và mấy ông nông dân vấn thuốc. Điếu thuốc vấn xong phải hình loa kèn, đầu to thì cỡ ngón tay út, còn đầu nhỏ thì cỡ cọng nhang, vấn vừa xong phải lè lưỡi liếm cái mép cuốn của giấy pơ-luya để dán cái mép cuốn (papier pelure – tiếng Pháp, giấy có màu vàng ệch hay xám xịt tùy đợt được cung cấp theo nhu yếu phẩm), rồi sau đó bóp và lận cái đầu loe kèn cho kín lại để vụn thuốc không rơi ra, điếu thuốc đã vấn xong với hình thù được như mô tả vậy thì cứ “vô tư” mà ngậm, vì khi đốt thuốc nhựa nicotine cháy dẻo sẽ keo đầu cháy mà không làm cho thuốc rơi ra được. Chuẩn bị lương thực là khoai mì luộc, thuốc rê nát hiệu “ông già le lưỡi” để hút dọc đường, nó bỏ theo một túi cờ-lê sửa xe đạp, cột vào sườn xe cái ống bơm và châm đầy một bi đông nước, một cái áo và cái quần xà lỏn sơ-cua (secour – dự phòng, tiếng Pháp quen dùng) được bỏ vào cái bọc ny-lon vì trời tháng 9 hay mưa bất chợt… Vậy là nó sẵn sàng lên đường.

Trước khi lên đường nó cũng còn nghĩ lung lắm vì cả năm nay nó không về nhà, không thư từ về nhà vì giữa nó và ba “đang rất bung xung”. Má thì như mọi khi bà không bao giờ bênh đứa nào, vì bà và ông luôn đứng về “một phe” để dạy con. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của ông và bà. Nhưng chuyện đi học của anh Quang là một chuyện lớn, gia đình ở Hà Tiên có lẽ chưa ai biết anh ấy đã đậu Đai học mà trường nhập học đã hơn tháng nay…

           –  Thôi! Dẹp mày qua một bên đi Bé! Nó tự nhủ…

Ba giờ sáng nó lên đường sau khi lấy cơm nguội rắc muối tiêu “làm đỡ ba hột”, mở cửa phòng ra nó thấy trời se lạnh, nó bèn quay vào phòng lấy chiếc áo thun ba lỗ tròng thêm vào (cái ba lỗ này sau đó đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong chuyến đi), bên ngoài là chiếc áo công nhân bảo hộ lao động nên khá dày và ấm, ngày xưa không có giầy nên nó xỏ vào chân đôi dép nhựa đen thui cứng ngắc của cửa hàng bách hóa tổng hợp bán cho dân, đội lên đầu chiếc nón tai bèo đặc trưng của mấy chú “giải phóng quân”, dẫn chiếc xe đạp với lỉnh kỉnh nào ống bơm, bi đông nước, túi vải đựng lương thực một bên còn túi đồ nghề thì bên kia của cái ghi-đông xe đạp… Giờ chỉ có đạp, đạp, đạp và… 220 ki lô mét!

Vì phải dưỡng sức nên tốc độ trung bình chạy trên đường chừng 15-20 km/h mà thôi, được cái đường khuya xe ít và trời mát nên đi cũng không mệt nhọc lắm, gần sáng trời đổ mưa, tháng 9 đang vào mùa mưa. Thằng Bé đã quen làm ruộng dưới mưa nên mưa không phải là vấn đề gì, lạnh thì có lạnh nhưng do đạp xe nên cái lạnh không thấu được tới xương, nhưng ướt át và rít rát làm nó khó chịu nên nó cởi áo quần ra vắt lên ghi đông xe, mặc độc một chiếc xà lỏn mà đạp cho khỏe, cũng để phơi gió áo quần cho mau khô, và cũng dễ để làm cái “tiện lợi nhỏ nhất” là chỉ cần vén ra chút mà không cần dừng lại!

Đến khoảng bảy giờ sáng nó đến Lộ Tẻ (Vàm Cống), chợt nhận thấy mình không giống mọi người qua cái cách mà người ta nhìn mình, nó mới giật mình nhìn lại “cái thằng nó” với cái nón tai bèo uớt sụp, mặc xà lỏn ở trần với làn da trắng bóc tái nhợt, trên ghi đông xe lỉnh kỉnh áo quần, bi đông nước, cái túi đồ ăn đồ mặc và túi đồ nghề, mặt mày thì chắc là xơ xác vì đã đạp xe bốn tiếng đồng hồ dưới mưa xối xả và mù sương nhạt nhòa…Thật trông nó giống như vừa ở Biên Hòa mới ra vậy.

Kiếm một cái bụi cây bên đường nó chun vào thay vội cái quần đùi ẩm ướt vì sợ sớm làm “giám đốc” nông trường… “lác” (!). Được thay đồ khô nó thấy khỏe hẳn ra, lấy vài củ khoai mì lót dạ và nốc một ngụm nước kèm theo là hút một điếu thuốc rê nát hiệu “ông già le lưỡi”… Bây giờ nó đã sẵn sàng để tiếp tục sau khi đã nạp vào “năng lượng”. Tính ra nó đã đi được khoảng sáu mươi kí lô mét từ khuya tới giờ, “vậy là không đến nỗi nào”, nó tự nhủ vậy nhưng nó còn chưa biết hết những gì đang chờ nó phía trước.

“Sau cơn mưa trời lại sáng”. Trời bắt đầu hửng nắng, nó khoan khoái bước lên xe, tiếp tục chặn thứ hai Lộ Tẻ – Rạch Giá, đoạn này khoảng sáu mươi mấy kí lô mét. Đến khoảng mười giờ sáng thì nó mới nhận ra là giá như được đi trong mưa! Nắng đã bắt đầu gắt, nó phải mặc vào chiếc áo bảo hộ và thả tay dài cho đỡ hanh nắng vì vừa nắng vừa gió làm cho nó dễ mất nước, nó phải uống nước nhiều hơn, mồ hôi ra nhiều hơn càng làm cho người nó nhớp nhúa, rít rát hơn với cái không khí nóng ẩm của mùa mưa nhiệt đới. Chiếc áo bảo hộ giờ xuất hiện những quầng muối trắng trên vai trên lưng, chân nó bắt đầu nặng nề hơn, mu bàn chân và lòng bàn chân xuất hiện những nốt phồng rộp, cả hai ống chân thì mỏi nhừ nhưng nó không dám bước xuống xe để nghỉ, vì nó biết chắc là đã ngừng lại thì phải giải quyết thêm một chuyện khó khăn vô cùng – là phải đấu tranh với bản thân để bước lên xe mà tiếp tục hành trình còn đang dang dở…

Nó phải cố gắng đến Rạch Giá trong giờ làm việc buổi sáng, đó là điều nó dự tính khi xuất phát từ Cần Thơ, thế nhưng dù nó xuất phát lúc ba giờ sáng với ý định là chạy tà tà cũng tới Rạch Giá trước mười một giờ trưa để vào Sở Giáo Dục và Ban tuyển sinh tỉnh thì chuyện nó tính là một chuyện, còn làm được hay không là chuyện khác. Lúc này áp lực về thời gian đang đè nặng nó, nó cần phải nhanh hơn vậy mà cả cơ thể rã rời này đang chống lại mệnh lệnh từ cái khối óc cũng đang mệt mỏi không kém… Không thể nhanh hơn được. Đuối!

Cuối cùng thằng Bé cũng đến được Rạch Giá tầm khoảng 12 giờ trưa, đương nhiên Sở Giáo Dục không còn ai làm việc, hỏi bác bảo vệ nhà của Giám Đốc Sở Giáo Dục nó biết được cô H. nhà ở đường Mạc Cửu. « Tốt! Trên đường về Hà Tiên,«  nghĩ vậy nó uể oải đạp xe đến nhà cô H. Giám Đốc Sở.

Người nhà cô H không cho nó vào có lẽ vì bộ dạng của nó, nó năn nỉ ỉ ôi nhưng người ta cũng không cho vào nhà, có lẽ lời qua tiếng lại nên trong nhà cô H nhìn ra và cũng có lẽ vì tò mò nên cô H dè dặt cho nó vào nhà.

Cô H. năm ấy tầm ngoài bốn mươi, gương mặt phúc hậu, tạng người đậm hơi thấp và trông khỏe mạnh, tóc pha sương dài gần chấm vai…Cô đeo cái kính trễ xuống sống mũi, nhìn nó xong cô nhìn chiếc xe, hết nhìn chiếc xe xong cô nhìn cái mặt đỏ như mặt gà chọi của nó.

–  Em ở đâu đến thế? – Cô nói bằng giọng Nam pha Bắc vì Cô là người “tập kết”.

–  Dạ Cần Thơ!

–  Cái gì? – Có vẻ không tin rằng mình nghe đúng, Cô đặt lại câu hỏi.

–  Dạ em ở Cần thơ về!

–  Trời, Trời! Đi bằng cái này? Sao không đi xe đò?

– Dạ em không có tiền! – nó thành thật trả lời Cô.

–  Thôi vào đây đi, vào đây đi, tắm rửa nhanh rồi ăn cơm với cô!

Cô nhiệt tình, chân chất, và cư xử thật tốt với nó, không hề có vẻ là một bà Giám Đốc Sở Giáo Dục.  Lâu lắm rồi nó mới được ăn bữa cơm thân mật mang không khí gia đình như vậy, và quan trọng nhất là đó là bữa cơm thật sự, dù đạm bạc canh chua cá kho theo đúng “gu” Nam bộ chứ không phải cao lương mỹ vị gì nhưng với nó sao ngon vô kể, phần vì cả năm trời ăn xin ở ký túc xá mà chúng nó thường gọi là “cơm tù”, phần thì nó đã đói rã rời vì củ khoai mì cuối cùng nó đã chén sạch từ mấy kiếp!

Bữa cơm này thật là nhớ đời với nó.

Cô nói cô biết gia đình nó, cô biết má nó là một giáo viên giỏi và là một bà mẹ “nuôi con khỏe, dạy con ngoan” nổi tiếng của tỉnh (nghe tới đây nó thấy hơi xấu hổ với má nó, nó có ngoan bao giờ đâu?), cô nói cô là học trò của Bác Ba Trương Văn Vinh của nó vì cô học Đại Học Tổng Hợp Hà Nội và là lưu học sinh miền Nam v.v... Về chuyện của anh Quang, cô nói rằng cho đi học hay không là quyền của địa phương tức là chánh quyền Hà Tiên, chứ cô không can thiệp được vì cô cũng đã chuyển giấy báo trúng tuyển của anh Quang về Hà Tiên rồi, và cô cũng cho biết thêm với “đối tượng chính trị” như nhà nó thì chuyện họ xét cho đi học đại học sẽ là chuyện khó khăn…

Dù sao đi nữa thì nó đã về đến đây để tìm hiểu, và mọi chuyện dần dần sáng tỏ, cái địa phương của nó đang “có vấn đề” với gia đình nó. Ái chà! Chuyện đến hồi gay cấn rồi đây!

Hôm đó vì nói chuyện với nó mà đến hai giờ chiều mà cô chưa đi làm, cô hỏi nó giờ nó sẽ về lại Cần Thơ hay sao? Nó nói nó phải về Hà Tiên để báo cho gia đình biết (ngày xưa không có điện thoại như bây giờ), cô móc túi dúi cho nó một ngàn đồng bảo nó ra đi xe đò, nó cảm động gần rớt nước mắt nhưng nó từ chối không dám lấy tiền của cô, nó cảm ơn cô về bữa cơm quá ý nghĩa với nó… Thằng Bé chào cô, vị ân nhân của nó, và leo lên con ngựa sắt, “Ngựa ơi, ta với mi cùng đi!”.

Ra khỏi nhà cô chạy một đoạn quay lại nó còn thấy cô nhìn theo và lắc lắc cái đầu…

Còn chín mươi cây số nữa, đoạn đường này sẽ rất gian nan vì đường rất xấu, từ khuya giờ nó chỉ chạy bon bon trên đường nhựa thôi mà đã mệt nhừ rồi vậy thì phần còn lại sẽ ra sao? Ra sao ai mà biết ra sao? Kệ! Tới đâu tính tới đó. Dấn chân lên pê-đan (pédale) nó đạp tiếp, trời chiều dần cũng đỡ bức bối nóng nực thì vấn đề mới lại phát sinh.

Vừa qua khỏi Rạch Giá vài ki lô mét đến đoạn Mỹ Lâm là vào đoạn đường đá cục nào cục nấy to như cái chén ăn cơm mà ngổn ngang l chỗ như hàng triệu cái hàm cá mập nối tiếp nhau, nó đạp xe len lỏi lúc thì trong lề khi thì giữa lộ sao cho chuyện va chạm với những hòn đá đó càng ít càng tốt, thế nhưng đường về quá dài thì làm sao có thể cứ mãi căng thẳng với những hòn đá? Thế là nó đành liều, mặc kệ cái chuyện phải nhảy chồm chồm trên những viên đá…

Nhảy một hồi nó ê ẩm cái mông, để tránh cái chuyện “ông mê” nó phải xì bớt độ căng của lốp xe, sau đó một hồi vẫn không chịu nổi nó phải nhỏm nhỏm cái mông khỏi cái yên xe đạp làm bằng nhựa không lấy gì làm mềm mại lắm, thế nhưng nó đâu thể nào cứ nhấp nhỏm mãi trên cái yên xe đạp vì giờ nó đã quá mệt? Cái cảm giác “buông xuôi cho số phận” mà xưa giờ nó nghe kể, hay nó đọc được trong sách vở, hoặc nó nhìn thấy người ta diễn đạt trong phim ảnh kịch nghệ… mà từ lâu nay nó vẫn tự hỏi “có thật không?” thì bây giờ nó cảm nhận rõ ràng một cách “tâm phục khẩu phục” rằng không thể nào thật hơn!

Nó đang đuối dần sức lực và nó muốn buông xuôi… Nó cũng hơi nuối tiếc tại sao mình không lấy tiền của cô H để đi xe đò có phải hơn không? Nhưng cái sự kiêu hãnh và lòng quyết tâm thêm một lần chiến thắng, vì thiên thần trên vai nó đã cho nó biết rằng nó đã xử sự đúng đắn không gì đáng chê trách.

Chui vào một bụi rậm ven đường, nó lấy cái áo may-ô ba lỗ mà hồi sớm trời se lạnh nó đã mang theo, rồi xếp lại làm tám, lót “trực tiếp” vào mông. Khi làm cái việc không mong muốn này nó phát hiện một vấn đề “khủng hoảng” hơn, làm cái tâm trạng buông xuôi mà nó đã nói trên hoàn toàn biến mất! Đó là cái mông trắng bóc của nó giờ ửng hồng và hai bên là hai bệt cỡ nhỏ hơn bàn tay của nó đang phồng rộp và bóng bẫy. Dù cái cổ của nó không thể quay được 180 độ để kiểm tra “lâm sàng” cái mông của nó, nhưng nó rờ được và cảm nhận rất rõ độ lớn, độ tổn thương và độ phồng dày của hai túi “silicon” đang được con đường ban tặng vào “vòng ba” của mình dù nó không hề có nhu cầu làm đẹp! Hai cái túi này mà vỡ ra sẽ là thảm họa cho nó. Nguy quá!

Cởi cái quần dài mà nó đã mặc lại hồi sáng khi đã khô, giờ nó cứ tiếp tục quần đùi cho nhẹ bớt dù một chút xíu thôi cũng sẽ tốt hơn cho động tác đạp, và hơn nữa cho nó thoáng vòng ba “nóng bỏng” theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen với hai cái túi “silicon” miễn phí.

Thật đúng là “dậu đổ bìm leo”!

… Gia đình thằng Bé ở Hà Tiên và anh Quang đã không hề biết rằng anh ấy đã trúng tuyển vào ĐHCT, cái phiếu điểm mà nó xin được ở Phòng Đào Tạo ĐHCT đang trong người nó. Cái vật vô tri vô giác đó như nguồn năng lượng tiềm ẩn, như một động lực vô hình. Từ sớm tới giờ nó ít quan tâm đến chuyện gia đình đón nhận chuyện này như thế nào, nhưng giờ đây nó chỉ mãi nghĩ tới chuyện đó, nó nghĩ rằng ba má và anh Q sẽ hạnh phúc lắm, sẽ có một niềm vui “nổ tung” nhà! Nó sẽ hãnh diện là người xuất hiện đúng lúc, đúng thời điểm, nghĩ đúng, hành động đúng… chỉ nghĩ tới điều đó là nó tự sướng rân mà quên đi mệt nhọc. Nó đã đọc đâu đó về phép “thắng lợi tinh thần”. Quả thật, trong trường hợp của nó hôm nay thật đúng, thằng Bé có thêm nhiều sức mạnh tinh thần để quên đi cái mỏi mệt mà nó đang đối diện.

Hoàng hôn đỏ ối nơi chân trời, mặt trời xuống thấp trông như lòng đỏ trứng vịt, nó đang ngồi trên con ngựa sắt và đơn độc hoàn toàn đang đi về hướng mặt trời lặn, bạn với nó chỉ là con đường đá gồ ghề l chỗ đầy những vũng lầy và đất đỏ… Bất giác một tình cảm lãng mạn ập vào tâm tư nó, nó nghĩ mình như anh chàng Lucky Luke cao bồi với con ngựa Jolly Jumper, đơn độc cùng những hành động cao đẹp, đi về phía mặt trời lặn mà hát rằng: “Đường trường xa mưa nắng không sờn chí, ngựa ơi! ta với mi cùng đi” (bây giờ chuyện dịch Lucky không hát câu này nữa, tiếc thật!).

Trời tối, đường không đèn, nó không thấy đường nên đi chậm hơn, chính vì đi chậm hơn nên nó cảm nhận cái rã rời của cơ thể rõ hơn, nó biết một bên túi “silicon” đã vỡ ra với cái cảm giác bỏng rát kèm với một bên mông “xẹp” xuống. Ôi trời! Rát ghê quá! Nó ké né một bên để đạp, lúc này nếu trời sáng, trông cái tướng nó đạp xe chắc người ta sẽ cho rằng nó là người tàn tật vì bại liệt một bên.

Đóng vai người tật nguyền chỉ được một lúc, do động tác niễng người để đạp xe nên toàn bộ trọng lượng bị dồn sang bên cái túi “silicon” còn lại, vì vậy mà không lâu sau nó cảm nhận rõ một sự “bùng nổ”, cái túi thứ hai bị vỡ. Thế là “hều!” (huề). Lại một lần nó phải suýt soa vì rát…Vậy là hai bên rát như nhau, đau như nhau, và ướt át như nhau nên nó không cần phải ké né né nữa, bỗng chốc nó hết tật nguyền!

Nó cắn răng chịu đựng cơn đau để đạp xe, trời tối lắm rồi mà đường về còn xa quá, nhìn những xóm làng thỉnh thoảng hiện ra trong đêm tối trên đường mà nó đi qua nó đoán dần là nó đã về tới đâu, chứ tối đen như mực thì làm sao có thể thấy cột cây số được? Giờ nó chỉ đạp xe bằng “quán tính”, không suy nghĩ, không ưu tư, không thấy đau và thôi không còn thấy ướt át dưới cái-chỗ-để-ngồi nữa. Nó cũng mất luôn cái cảm giác có cái áo may-ô mà nó đã gấp lại làm tám để lót bàn tọa… Hai chân cứ xoay vòng, xe cứ chạy tới, muốn uống nước nó cứ một tay lấy bi-đông mà mở uống, muốn lấy bớt nước trong người ra đơn giản là nó chỉ cần vén cái tà-lỏn sang một bên mà “tưới” đại xuống đường, cứ vừa chạy vừa tưới, ắt hẵn nó đã vẽ nên những hình ảnh kỳ lạ, kỳ lạ như những quyết định của nó cho đến lúc này, những hình thù bằng “nước sinh học” rời rạc ngoằn ngoèo trên đoạn đường mà nó đi qua!

Cứ vậy mà nó đi tới. Khoảng tám giờ tối nó tới Kiên Lương, vậy là chỉ còn hơn hai mươi bảy cây số là nó sẽ về đến nhà, đoạn đường từ Ba Hòn về Hà Tiên nó sẽ đi được nhanh hơn vì đoạn này là đường đất mà ít đá cục, cứ bám theo lề mà chạy sẽ êm hơn và an toàn, tốc độ của những ki lô mét cuối này tăng lên đáng kể. Lòng nó rộn ràng vì sắp về quê, sắp được ăn uống, sắp được tưởng thưởng với niềm vui của đại gia đình, sắp được tắm táp và nằm dài nghỉ ngơi trên bộ ngựa của nội nó để lại và ba đã ráng gìn giữ tới hôm nay, nó sẽ được buông ra cái con ngựa sắt mà mười mấy tiếng đồng hồ phải nhảy chồm chổm, long sòng sọc….Thôi! Sắp sửa sướng rồi, bây giờ nó không còn thấy mệt mỏi, rất nhiều suy nghĩ xộc vào đầu óc nó, nó đạp hăng lên chứ không như lúc nãy đạp theo quán tính, khi nó tỉnh táo nó bắt đầu suy nghĩ tích cực, nó thấy khả năng chịu đựng của nó, nó thấy nó thật sự “trâu bò” và một ý tưởng phát sinh trong đầu mà nó phải thực hiện, nhất định vậy! Rằng sau khi đi về Hà Tiên chuyến này trở lại Cần thơ  nó sẽ nhất định kiếm cho bằng được chiếc xe đạp, nó sẽ mưu sinh bằng xe đạp đó, nó sẽ có tiền tự trang trải những nhu cầu của nó, sẽ giúp đỡ em gái Sài Gòn của nó trong chuyện học hành… Nhất định khi nó có phương tiện là chiếc xe đạp nó sẽ đi Sài Gòn bất cứ khi nào, đường xá như vầy mà nó còn vượt qua được hàng trăm cây số, đường đi Sài Gòn trải nhựa láng o thì bõ bèn gì?

Bằng chiếc xe đạp, thêm một lần nữa, nhất định nó sẽ thoát nghèo (!).

… Đang suy nghĩ mông lung về những cái “nhất định” phải làm và đang lâng lâng sung sướng trong trí tưởng tượng thì “Rầm!”.

Khi tỉnh hồn nó không còn nhớ nãy đang nghĩ gì, giờ nó không biết gì, choáng ghê lắm, chỉ thấy mình nằm lăn quay trên một mặt phẳng bằng xi măng! Ủa, nãy mình đang chạy trên đường đất kia mà??

Qua ánh sáng lờ mờ từ xa của nhà máy xi măng Hà Tiên nó lơ mơ nhận ra là mình vẫn đang trên đường, nhưng mà là nằm (?). Chung quanh không một bóng người, không một nóc gia… Ô hay! Sao con đường đất biến đâu mất rồi mà thay vào đó là con đường xi măng? Còn chiếc xe đạp của mình đâu? Tưởng rằng chiêm bao hay mình chết rồi chăng? Thằng Bé chồm dậy nhưng ê ẩm mình mẩy, và cái đầu đau như búa bổ còn cái bàn tọa thì như dao chém, hai ống chân trần trầy xước như nhám chà, rát ràn rạt… Yên tâm rằng mình còn sống nên nó lại nằm xuống một chút để lại sức, nó nằm giữa lộ nhưng không sợ xe cộ vì ngày xưa giờ ấy có ai ra đường đâu?  Thôi thì chút nữa tính!

Nằm độ vài ba phút gì đó nó nhổm dậy vì tính nó không thích ở không. Nó đi tìm chiếc xe đạp, trong bóng tối lờ mờ nó nhận ra chiếc xe đạp nằm kia dưới thềm. À! Đó không phải “thềm” mà là cái bậc chênh lệch cao độ giữa con đường đất và con đường bê tông mà người ta đang đổ dở dang, cao độ đó là độ dày của tấm bê tông khoảng chừng 20-22 xăng ti mét (cm), tự dưng nó hiểu mọi chuyện.

Trời tối rồi, đã không thấy rõ đường mà mãi chuyện tơ tưởng những ảo vọng nên nó đã lủi mạnh vào cái “thềm” này khiến nó bị bắn ra khỏi xe (ngày xưa người ta ít chú ý đến chuyện an toàn – chẳng ai cảnh báo chi cả). Dựng chiếc xe dậy để tiếp tục hành trình vì còn hơn hai mươi cây số, thì tình cảnh hiện tại hiện ra thật “thê thảm” cho nó. Chiếc xe đạp của Khánh bị cúp cổ, cái song kiếm trước bị bẻ gục vào sườn xéo của chiếc xe đạp “đầm” khiến bánh xe trước chạy vào gần tới cái “đùm giữa”, còn cái niềng (vành xe) bằng sắt xi nên không bị gãy mà chỉ bị vẹo vọ méo mó tùm lum, cái ghi-đông cũng không bị gãy (may thay!) nhưng lại cong cúp khá thảm hại…

Nó bần thần một lúc, đốt điếu thuốc rê rít vài hơi để “sáng óc” rồi bắt tay vào việc. Đầu tiên là tháo bánh trước ra (có đem theo đồ nghề sửa xe), bỏ lên nền bê tông rồi cứ thế mà nó đạp hết chỗ này đến chỗ khác sao cho chiếc niềng tương đối tròn trở lại. Để trị cái cổ xe bị cụp nó bèn vác chiếc xe vào trong hàng rào bảo vệ chân cầu vượt của nhà máy, nó lựa một cây cọc hàng rào nào còn cứng cáp nhất để “lòn” cặp song kiếm vào và dùng hết sức lực còn lại để kéo hắn ra, nó khó nhọc kéo từng chút một, cứ một lần kéo mạnh thì song kiếm hắn hở ra vài mi li mét, cứ kéo riết khi mà cái song kiếm bung ra đủ để bánh trước không còn đụng vào sườn xéo nữa rồi nó bắt đầu gắn vào xe, cũng may là có chút ánh sáng hắt ra từ nhà máy chứ hồi xưa không có đèn đường… Cuối cùng cũng tạm xong.

Nó về Hà Tiên trên chiếc xe mượn của bạn Khánh, chiếc xe giờ đã bị nó làm cho tan nát, vè chắn bùn bị gãy làm ba đoạn, cổ xe bị cúp vào sườn, niềng xe bị ô van nên cứ mỗi vòng quay nó vẹo một phát trông thật tức cười, dân gian gọi là tướng đi “dzách ..dzách … sảnh..!!”

Ngày nay ai đi hướng Rạch Giá về Hà Tiên bằng xe hơi, xe đang đi trên đường nhựa vừa qua khỏi cầu Cống Tre để vào Kiên Lương bỗng nghe lụp phụp…lụp phụp… lụp phụp… Cánh tài xế thập phương sẽ ngạc nhiên tưởng xe mình bị cán nhầm vật lạ? Xin thưa rằng tiếng động phát ra bởi các khoảng hở của các tấm bê tông. Và, nếu có ai thắc mắc con đường này làm từ năm nào? Nó sẽ không chút ngần ngại mà nói rằng “hắn đang làm dang dở vào tháng 9 năm 1985”, và nếu họ còn thắc mắc về độ dày cùa tấm bê-tông, “xin thưa là khoảng 20 đến 22 cm”. Đó là điều chắc chắn!

… Cuối cùng nó cũng về được tới nhà, không có cái không khí “bùng nổ” như nó hằng tưởng, không có gì ầm ĩ như nó mong đợi, chỉ có một chút ngạc nhiên của má và mọi người khi biết nó đi xe đạp về từ Cần Thơ nhưng cũng không ai thắc mắc ở đâu nó có xe đạp? Nó trầy xước lung tung cũng không ai thắc mắc tại sao? Và nhất là không ai biết nó đã đấu tranh với bao nhiêu thử thách từ ba giờ sáng ở Cần T đến mười một giờ khuya đến Hà Tiên (gần hai mươi tiếng đồng hồ) vì có ai hỏi đâu mà nó kể? Chuyện ấy cho đến bây giờ gần bốn mươi năm sau nó mới kể lể chi tiết ra đây.

Giờ nó phải nghỉ ngơi, công việc cao cả (nó tự cho vậy) đã hoàn thành, bây giờ phải tự thưởng cho mình. Việc trước tiên là tắm rửa cho khỏe cho sạch sẽ bụi trần, để băng bó những vết trầy xước ngoài da, để cơ thể nó “relax” (thư giãn)… Nó chuẩn bị sẵn bông băng với thuốc đỏ tạm đủ để hành sự, thế nhưng thêm một lần nữa vào giờ thứ hai mươi mốt nó lại bị “hố” nặng!

Vào buồng tắm khi cởi đồ ra nó mới sực nhớ đến cái áo may-ô ba lỗ vì hắn lủng lẳng sau mông, hóa ra cả cái mông của nó bị tê đến mất cảm giác nên nó quên! Nó loay hoay như “chó cắn đuôi” để tìm cách gỡ cái áo ra vì ba lỗ giờ bị dính chặt vào một lỗ (?) như bị đổ keo dán sắt, nước vàng và máu rướm ra bị vải cô tông (cotton) hút khô nên giờ mới giữa vải và da không còn biên giới… Nó từ từ gỡ ra nhưng trời ạ, nó đau đến độ trên dưới gì của nó cũng đều rỉ nước (?). Bây giờ phải lấy cái ba lỗ khỏi “cái một lỗ” chứ chẳng lẽ phải để nó loòng thoòng? Nó muốn cứ để vậy lúc xối nước tắm có khi hắn sẽ rớt ra, nhưng nó sợ cái áo ba lỗ lúc đó ngấm nước nặng chịu không nổi nên lỡ như hắn tróc một cái ào thì chắc chắn các thứ phế thải trong “cái một lỗ” sẽ “xòa” hết ra sàn vì chịu không được nỗi đau, nếu đến thế thì lại thêm chuyện để làm.

Thế là một tay xối nước một tay khẽ khàng gỡ, với một thái độ thật trân trọng, thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng như vuốt tóc người yêu vậy, dù lúc đó thằng Bé biết rõ rằng nó chẳng có cô nàng nào có mái tóc dài… phủ mông! Rồi bằng cách êm dịu như vậy, với đôi mắt nhòa lệ nó đã khiến thằng Ba Lỗ giã từ gã Một Lỗ, thằng em nhỏ đứng phía trước gã Một Lỗ cũng phải nhỏ vài giọt nước cam chịu. Quả thật, cuộc chia ly này thật ướt át…

Kết quả là một tuần nằm sấp để lành vết thương (ngoài) lòng, chính xác là ngoài sau và phía dưới! Sau đó nó sửa xe cho bạn Khánh rồi cầm tiền của Tí (hay má?) cho, nó quăng chiếc xe đạp lên nóc xe đò mà về lại Cần Thơ.

Chuyến đi “lịch sử không bao giờ được lặp lại” như trên đã dẫn tiếp một câu chuyện nữa của má nó. Bà đã cầm giấy báo điểm ĐHCT của anh Quang để ra công quyền. Bà gõ cửa các nơi để xin cho con bà được đi học, nhưng người ta trả lời thẳng thừng là gia đình bà “đối tượng 11” nên không được đi học, rằng người ta đã giải quyết cho một đứa (là thằng Bé) đi học rồi..v..v.. Không chấp nhận với cách trả lời đó vì con bà học giỏi và xứng đáng được đi học Đại Học, nên bà đã cố gắng « lý sự » với các cấp ngay cả cấp cao nhất ở địa phương. Cuối cùng con bà cũng được đi học.

Anh Quang nhập học trễ gần hai tháng, do trường hợp này đặc biệt và phòng Đào Tạo ĐHCT biết rõ do thằng Bé có trình bày với thầy Lê Thế Dõng hiệu phó trường trước khi nó đạp xe về Hà Tiên, nên anh ấy vào trễ cũng không gặp trở ngại gì ngoài chuyện phải cố gắng theo kịp bài vở của trường lớp…

Trương Minh Nhật Quang làm luận án tiến sĩ về ngành mà anh say mê là “diệt virus máy tính” vào năm 2009. Hiện anh là Phó hiệu trưởng trường Đại Học Công Nghệ Cần Thơ.

Mời các bạn vào đường link dưới đây.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_Minh_Nh%E1%BA%ADt_Quang

Còn thằng Bé? Sau cái ngày hôm đó nó “phát hiện” ra khả năng của nó, rằng nó có thể đạp xe hàng trăm cây số và suốt đêm, nó đã mua trả góp một chiếc xe đạp, rồi hành nghề “xe đạp ôm” như nó mơ tưởng để có tiền ăn học mà không phải nhờ vả gia đình. Bằng chiếc xe đạp ọp ẹp trả góp đó từ Cần Thơ nó đã đạp đi SG để “cua” được một em gái, rồi cũng bằng tiền đạp xe nó đã chuẩn bị lễ vật để đưa em về làm dâu xứ sở xa lắc tận cùng miền biên viễn Hà Tiên này…

Cảm ơn bác sĩ Lâm Nguyên Khánh lần nữa vì ngày xưa bạn đã cho nó mượn chiếc xe đạp (là cả tài sản cả sinh viên ngày ấy), và xin lỗi bạn vì thằng nó này đã làm hỏng xe của bạn.  

Nó hay làm những chuyện “bứt gân”!

Quang Nguyên (Viết 2013 – hiệu chỉnh 5/2022).

Chân dung Quang Nguyên trong thập niên 80, khuôn mặt của một sinh viên còn đang theo học ngành Sư Phạm, Đại Học Cần Thơ.

 

Ngày xưa có một thằng nhóc… – Phần 3 và 4 (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, qua bài viết « Ngày xưa có một thằng nhóc… » về phần 1 và 2, chúng ta đã cùng với tác giả Quang Nguyên bắt đầu một cuộc phiêu lưu mà không hề biết được « ngày mai sẽ ra sao » và ta tự hỏi rốt cuộc rồi chú bé vừa qua 10 tuổi nầy có làm xong công việc mà má cậu giao cho hay không ?? Nếu trong phần 1 và 2 chúng ta đã thấy trên chuyến xe đầu hành trình từ Hà Tiên qua Rạch Giá được êm xuôi, rồi trên chuyến xe từ Rạch Giá lên Sài Gòn đã bắt đầu có nhiều chuyện « lộn xộn » xảy ra: « Ăn vặt », « chột bụng », « bị chó rượt »…rồi bị cảnh xe hư, phải « nằm đường »….v….v….thì trong phần 2 và 3 nầy sự cố và « rắc rối » còn đến trăm bề nữa,….một phần là do hoàn cảnh khách quan, một phần cũng do thằng bé nầy không tin lời người lớn khuyên giúp…Tuy nhiên ta cũng phải công nhận chú « nhóc » nầy rất giỏi xoay sở và biết tính toán, cuối cùng rồi chú ta cũng hoàn thành sứ mạng một cách « vẻ vang » và chính nhờ chuyến đi lịch sử nầy mà chú bé đã giúp cho người cha được trở về nhà sớm hơn dự định thay vì phải tiếp tục bổn phận người đi học tập trong một khóa học rất dài hạn… (Paris, ngày 03/05/2022, Trần Văn Mãnh viết lời giói thiệu).

NGÀY XƯA CÓ MỘT THẰNG NHÓC…

(NGÀY XƯA CÓ MỘT THẰNG NHÓC…- Phần 1 và 2)

Phần 3/ VỊ CỨU TINH:

Ngồi ở bến xe Vĩnh Long nó nghe mấy bà buôn chuyến ngồi buôn chuyện với nhau “trạm Mỹ Thuận bắt dữ lắm!”, bà này kể cho bà khác nghe chuyện bị bắt ở Mỹ Thuận như thế nào v.v… Chuyện không liên quan gì với nó nhưng nó có tính xấu là hay “hóng chuyện” của người khác nên nó cũng chăm chú lắng nghe… Dè đâu thói xấu cũng thật sự có ích, nhất là trong lúc này, hai chữ “Mỹ Thuận” gợi nhớ cho nó một điều gì đó, hôm qua anh lơ xe cũng có nói với nó là đi Sài Gòn (SG) qua hai cái bắc Cần Thơ và Mỹ Thuận mà do lúc đó không có rớt vào hoàn cảnh bây giờ nên nó không nghĩ gì cả, vì khi đó nó còn hy vọng là ảnh gửi nó đi tới SG luôn mà?

Nó nhớ ba nó hay nói chuyện với bác Năm Hiển của nó trong những lần bác về Hà Tiên thăm ba, ba hay hỏi thăm một ông tên Bân cũng là thầy giáo ở Mỹ Thuận, nghĩ được tới đó tim nó nhói lên và lòng vui sướng dâng lên tột độ – lối thoát của nó là đây! Cả ba và bác Năm của nó đều là giáo viên và ông Bân là bạn của hai ông, ba nó sau khi đi dạy rồi làm quân nhân mới sinh ra cớ sự thế này.
Như đã nói thằng Bé hay hóng chuyện người lớn nên nó biết lắm chuyện mà lẽ ra nó không nên biết, vậy mà hôm nay “thói hư tật xấu”đã cứu nó, nó phải tìm cách đi Mỹ Thuận. Nhất định vậy!

  • Cô ơi, Mỹ Thuận là ở chỗ nào vậy cô? – nó hỏi.

Bà đó nhìn nó từ đầu tới chưn rồi hỏi nó:

  • Mày đi hàng gì vậy? Xe nào? Trạm nó di động chứ có một chỗ đâu mà hỏi? Có hàng gặp nó thì phải dấu chứ hỏi tao, tao biết hỏi ai?

Chắc là bà tưởng nó hỏi trạm bắt hàng lậu đặt ở đâu, và tưởng nó là con nít đi buôn chuyến đầu? Chuyện con nít đi buôn thời đó không hiếm, vì con nít dễ “qua mặt chính quyền”. Do chính sách kinh tế tập trung bao cấp nên họ phải chấm dứt nền kinh tế thị trường của miền Nam bằng cách ngăn sông cách chợ, dẫn đến việc không có hàng hóa lưu thông nên cái gì cũng thành hàng lậu. Tất cả mọi thứ nhu yếu hàng ngày đều tập trung về nhà nước, và họ phân phối lại bằng tem phiếu, mỗi người 13 kg gạo một tháng, mỗi gia đình 5 lít dầu lửa mỗi tháng, và một năm được vài ba mét vải, đá lửa, vỏ ruột xe đạp, thuốc lá Hoa Mai và Đà Lạt… Chuyện này nảy sinh nhiều vấn đề rất bi hài cho người thời ấy, ví dụ hai nhà chung một cái vỏ xe hay chế độ nhu yếu phẩm của đàn ông mà có cả bông Bạch Tuyết của phụ nữ, còn phụ nữ thì “được” hút thuốc thoải mái kèm theo đá lửa! Dịp Tết khi ra đường sẽ thấy mọi người mặc đồ giống nhau một cách lạ kỳ bởi loại vải được cấp từ hoa văn đến chất liệu đều là một thứ v.v…

Hàng hoá thiếu thốn vô cùng, cán cân cung cầu nghiêng lệch kinh khủng mà nhà nước lại cấm mua bán, nên tự người dân phải thiết lập những cách phân phối cho nhu cầu rất thiết yếu đó, và phân phối trao đổi hàng hóa như vậy đương nhiên là “lậu”; và để chống lại chuyện đó nhà nước lập trạm bắt bớ khắp nơi. Mỗi khi tới trạm là tiếng khóc, tiếng la mắng, chửi nhau, tiếng năn nỉ, rên rỉ ỉ ôi của con buôn (thường là đàn bà con gái), làm cho không khí đã căng thẳng mà còn thêm phần thê lương, ảm đạm…

Thật ra đội ngũ buôn lậu này cũng góp một phần lớn cho sự “bình tâm” của người miền Nam lúc ấy vì xã hội miền Nam đã quen với nền kinh tế thị trường, nay thay đổi 180 độ, cho nên dù là việc làm lậu và vi phạm luật pháp thời ấy nhưng ít nhiều nó cũng làm được một việc là tạo một kênh riêng cho nền kinh tế tự phát của riêng người dân để khai thông dòng chảy kinh tế phù hợp quy luật tư nhiên muôn đời giữa cung và cầu.

Biết là bà đi buôn hiểu lầm ý nó, nó hỏi lại:

  • Cô ơi! Con không biết Mỹ Thuận, nó ở…

Chưa nói dứt câu bả quất liền, đàn bà con gái mà chửi thề cũng gớm lắm:

  •  Đ.M.! Ngu cái kiểu này … thì chút nữa đi là mày biết Mỹ Thuận chỗ nào!

Thấy khó mà “đàm phán song phương” với bà này nên nó bỏ đi, “đường đi trong miệng!” chẳng phải má nó từng dạy như vậy sao? Cuối cùng cũng có người chỉ cho nó Mỹ Thuận, cách bến xe Vĩnh Long độ chừng 10 km, nó quyết định đi bộ vì không còn đồng xu nào trong túi, bụng thì đói meo và cổ thì khô queo, nó ghé bà bán nước trong bến xe xin một cốc nước uống và bắt đầu hành trình “chú bé đi tìm… (bạn của) cha”.

Trời đã chiều lắm rồi đường đi thì xa tắp, thông tin về bác Bân thì rất mơ hồ, nhưng nó tự tin vào nó vì tên ông thầy giáo Bân là có thật và khó quên (cái tên tương đối ngộ nên dễ nhớ dai), nó không ngại chuyện hỏi, gặp trưòng học là nó hỏi những người sống gần đó vì nó không dám vào trường, nó hỏi và cứ đi tới về hướng Mỹ Thuận, nhưng ai cũng lắc đầu – không biết, không biết, không biết!

Đi gần 3 tiếng đồng hồ, nó đã đến phà Mỹ Thuận, nó quá đói nhưng không biết làm gì để có miếng ăn, nước uống thì vô tư, hễ xin là người ta cho, nhưng nó ngại không xin ai đồ ăn vì lý do như đã nói. Loanh quanh ở phà Mỹ Thuận hồi lâu, hỏi tên thầy giáo Bân không ai biết, nó hơi lo vì không biết như vậy thì đêm nay sẽ ra sao…

Thằng Bé chợt nghĩ phải kiếm người già để hỏi:

  • Bác ơi! ở Mỹ Thuận này có ông thầy giáo nào tên Bân không? Bác chỉ nhà dùm con?
  • Ở đây không có ai tên giáo Bân, tao biết một ông giáo Bân mà ở bên bờ Tiền Giang kìa! – ông già chỉ tay qua bờ bên kia.

Con sông Mỹ Thuận bờ phía Nam thuộc Vĩnh Long và Sa Đéc, còn bờ phía Bắc thuộc Tiền Giang. Phải nói là nó quá may mắn chứ không phải là may mắn. Nó chạy ào xuống phà, ông soát vé la lên:

  •  Ê! Ê!! Thằng nhỏ vé đâu??

Nó vừa chạy vừa quay lại nói:

  • Má tui cầm xuống dưới rồi!

Miệng nó nói, chân nó chạy, phà sắp tách bến … đố ổng làm gì được nó? Phà chạy, lần đầu tiên nó đi bộ qua phà mà không có ai là thân nhân, nó vui lắm và nó thấy sao mà nó giỏi quá vậy ta? Nó tự thấy sung sướng và tự khen mình (!). Bị ức chế thần kinh từ nãy giờ, trời về đêm vừa tắt nắng sông Mỹ Thuận nổi gió hù hù, nó phát lạnh và chợt mắc tè, nó chạy ra mỏ bàn, chỗ quay lên quay xuống, nó ‘đánh dấu’ thành công của mình bằng một vũng nước tiểu có một phần chảy xuống sông… Nhiều chục năm sau cho đến khi cái cầu Mỹ Thuận xây xong nó mới ngưng tè vào chỗ đó (vì không còn phà), chứ trước khi có cầu Mỹ Thuận cho dù nó đi xe đò rồi đến có đi xe hơi riêng và già gần như bây giờ, có bảnh tỏn điệu đà nó cũng tè vào chỗ đó, có cố tỏ ra đàng hoàng đứng đắn nó cũng đàng hoàng đứng … đái vào chỗ đó – bởi đó là kỷ niệm đẹp thuộc loại nhất của đời nó!

Qua tới bờ bên Tiền Giang, nó hỏi thăm nhà giáo Bân. Ngược lại với bên kia, bên đây không ai là không biết, nó nhanh chóng lần mò ra nhà bác ấy, thế nhưng đến nơi nó hơi thất vọng vì bác không có ở nhà, chỉ có bác gái, bà cho nó biết là ông đã ở riêng “ở trong rẫy” và có vẻ bà không sẵn sàng cho nó tá túc đêm nay. Nó không nản lòng vì nó nghĩ ông sẽ khác vì nó là con của bạn ông mà? Nghĩ vậy nó mới hỏi bà là ông ở chỗ nào, bác gái nói là ông ở An Hữu và bà chỉ đường cho nó đi thêm 4,5 km nữa, nó uống vội ly nước và cuốc bộ tiếp trong cơn đói bụng, nhưng bây giờ nó không còn lo nữa vì sớm muộn gì đêm nay nó cũng được ăn ngủ đàng hoàng thôi.

Để đến được nhà bác Bân trong rẫy, đôi lần nó phải gõ cửa nhà người ta để hỏi, mà ở quê người ta ngủ sớm nên nó khiến tất cả các giống loài thuộc hệ chó: chó mực, chó phèn, chó cò, chó tây, chó ta chó cỏ, chó Pu Ku Ốc (chó Phú Quốc – nước ngoài viết “Phuquoc” đọc theo kiểu Nga!) … sủa vang khắp xóm. Đến được nhà thì bác Bân đã ngủ, nó kêu to để dựng niềm hy vọng của mình dậy, rồi thì ông cũng mở cửa để nó tự giới thiệu mình, và sau khi ông biết được nó là ai, nó đi đâu, và tại sao nó ở đây v.v… ông đã thảng thốt tỉnh cơn ngái ngủ, còn nó thật sự bị sốc khi ông ôm nó mà khóc hu hu! Ông hỏi thăm ba nó, nó kể hết chuyện gia đình nó từ ngày giải phóng đến giờ, chuyện nó đi thăm ba nó đi cải tạo ra sao, chuyện nó đi từ HT đến đây như thế nào … Ông rất chú ý và lắng nghe nó, còn nó sau một hồi chịu hết xiết nó nói.

  • Bác ơi! Bác có cơm nguội không? Con đói quá sáng giờ con chưa ăn cái gì hết!
  • Chết! Bác quên…

Đêm đó như nó dự đoán, nó được ăn một bữa cơm đạm bạc ngon nhất đời, ông soi đèn bắt cá dưới đìa và rau trong rẫy, hai bác cháu trò chuyện tới gần sáng, chủ yếu là ông hỏi còn nó thì vừa nhai vừa trả lời. Nó ở đó tới mấy ngày vì bác không có tiền cho nó đi tiếp, bác cũng nghèo lắm, tự cung tự cấp, bác gái bán trà đá ở Mỹ Thuận cũng đâu có tiền? Không biết bác xoay sở được ở đâu nên một vài ngày sau bác bảo nó bác có tiền cho con đi tiếp, nhưng chỉ có thể tới Tiền Giang thôi, “đến Mỹ Tho kiếm bác Năm Hiển của con xin thêm tiền để đi Sài Gòn!”.

Vậy là gian nan vẫn còn phía trước và nó biết nó sẽ phải tiếp tục tự thân vận động, nhưng nó chưa lường được rằng những gì nó sắp chứng kiến về cuộc sống chung quanh trong cuộc phiêu lưu đó sẽ gây cho nó nhiều suy nghĩ sâu sắc trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ lên mười…

Rồi thằng Bé cũng được đi tiếp sau khi bác Bân cho nó vài đồng để đi xe đến nhà bác ruột của nó ở Mỹ Tho, nó cầm tiền của Bác mà trong lòng không vui tí nào vì khó khăn lắm và mất mấy hôm bác mới kiếm được dù chỉ vài đồng cho nó, nó rất mang ơn bác chuyện này. Rất nhiều năm sau nó gặp bác và hỏi, bác chỉ cười mà nói “Làm sao bác nhớ được?”.

Thật là một điều đáng học hỏi về tư cách làm người: không màng đến việc phải nhớ những chuyện mình đã làm ơn cho người khác.

Phải sống ở thời đó thì mới có thể hiểu và cảm nhận được cái khó khăn của toàn xã hội, hàng ngày kiếm cơm độn ăn đã khó rồi thì nói chi đến có tiền và các nhu cầu khác về vật chất hay tinh thần? Cuộc sống là tối thiểu, hạn chế điện nước, không điện thoại, giao thông tệ hại, không phim ảnh giải trí, sách báo cũng rất hạn chế về số lượng và nội dung chỉ dành cho tuyên truyền, đời sống tinh thần và vật chất của xã hội đã thay đổi rất khác biệt với chỉ hơn một năm trước.
Bác Bân dặn nó: “con đón xe đò đi Trung Lương, rồi xuống Trung Lương đón xe Buýt vào Mỹ Tho!”. Nó hồ hởi lên đường, rồi bắt đầu từ đây nó lại sai lầm thêm lần nữa.

Phần 4/ KHÔNG NGHE LỜI, KHÔNG TIN NGƯỜI TỐT. NÓ LẠI TRẢ GIÁ:

Đi bộ khoảng hơn 1 cây số ra đến cầu An Hữu, nó chờ xe đò nhưng lâu quá không thấy, nóng lòng nên nó đi xe chuyền khi có bác tài mời hỏi. Quyết định đó là thêm một lần tai hại vì xe chuyền mà nó đi là xe lam. Lần này nó cương quyết không ăn gì cả vì biết rằng mình đi như vậy sẽ tốn nhiều tiền hơn, và nó cả tin rằng nó sẽ có cách để đến được nhà bác Năm Hiển của nó.

Từ An Hữu nó đi xe lam đến Cái Bè (20 km), từ Cái Bè nó đi xe lôi tới Cai Lậy (12 km), đến Cai Lậy nó nhớ tới câu chuyện trường Cai Lậy bị pháo kích chỉ hơn hai năm trước đó (ngày 09/3/1974), còn vương vất trong đầu nó hình ảnh tang thương của những đứa học trò trẻ con như nó…

Có ngồi xe lôi và xe lam đi dọc tuyến đường đó nó mới thấy sự trù phú của đồng bằng sông Cửu Long, hai bên đường lúc ấy có những đoạn người ta trồng chôm chôm đỏ rực trĩu quả, từng chùm từng chùm kết ken dày trong màu xanh đậm của lá, trái chín tới màu đỏ tươi, trái chín lâu màu đỏ bầm, trái chưa chín màu vàng vàng. Cây chôm chôm người ta lên luống cao trồng thành hàng để chống lại mùa nước nổi mỗi năm, nhìn từ xa các luống chôm chôm nhiều màu sắc trông rất ấn tượng .

Lại có những khoảng trống nhìn tít tắp là màu xanh của lúa, vào khoảng tháng 7 âm lịch là lúa sớm bắt đầu trổ đòng, dạo ấy miền Tây người ta chỉ trồng hai vụ, lúa sớm và lúa mùa, chứ không như bây giờ lúc nào cũng canh tác được. Lúa sớm vừa chín là nhanh chóng gặt đập, phơi lúa và trữ bồ xong là kịp lúc nước nổi về; và khi mùa nước nổi về là người miên Tây lại làm thêm chuyện khác. Hôm ấy là lúa đang đồng loạt trổ đòng, phải thấy mới cảm nhận được cái đẹp của nó, cả vùng đồng bằng một màu xanh mượt, gió tạo từng đợt sóng vờn đuổi trên ngọn lúa nhấp nhô giỡn hớt trên cánh đồng xanh bát ngát. Thân cây lúa khi ấy no tròn chứ không còn dẹp mỏng mảnh, lá đã hết tươi non màu mạ mà chuyển sang màu xanh chắc nịch vững vàng, cọng lá cũng to ra hơn, dài hơn, dầy hơn, và mướt hơn. Trong tận cùng của lõi cây lúa là cái bông lúa truyền thống Bách Việt đang tượng hình, là những chấm li ti hình khối sắc nét kích cỡ hạt đường cát, màu trắng đục, hình thoi nho nhỏ, chúng xếp hai hàng trông rất trật tự và đẹp mắt. Người ta ví lúa trổ đòng như sức sống, sự tươi trẻ, dáng thanh xuân và nét son đẹp của một thời con gái…

Từ Cai Lậy nó đón xe lôi đi về đến cầu Kinh Xáng khoảng 20 ki lô mét (ngày xưa gọi là cầu Long Định) thì hết tiền. Lại câu chuyện cũ, nếu như nó ráng đợi xe đò lớn thì bây giờ nó có thể đến được Trung Lương và còn dư tiền để đón xe buýt vào nhà bác Năm như lời bác Bân dạy, đằng này nó đã không ăn uống gì mà còn đi không tới nơi? Là cũng tại nó thôi, người lớn kinh nghiệm nhiều, dặn nó mà nó không làm theo.

Thằng Bé nhớ tới cái anh lơ xe ở Cần Thơ hôm xe hư đã bảo nó “mày cứ xin quá giang!”, vậy là nó xin đi quá giang sau khi nói rõ lý do cho một bác tài chạy xe lam, chiếc xe nổ “pành pành”, khói trắng khói xám mù mịt, người ta đu đeo chật nít ngoài đuôi xe và ngồi cả lên mui. Bác tài cho nó quá giang một chân vì chỉ có chỗ trống vừa vặn một bàn chân ở bệ lên xuống mà ông đã gắn thêm, nó phải đu đeo kế một ông già ba năm không tắm đang ở trần, thỉnh thoảng xe qua ổ gà hay lên xuống cầu thì cả người nó đong đưa, đưa cả cái mặt thư sinh trắng trẻo của nó rút vào nách ổng, nhanh chóng thoát ra thì mặt nó đã ướt nhẹp, “ná thở”, mấy lượt muốn té xe, trưa hè oi bức mà xe lam lại chạy chậm nên mồ hôi của ông nhỏ lên người nó giọt giọt, lúc đầu nó kinh lắm nhưng chỉ một chút sau là nó mặc kệ.
Bác tài cho nó đi tới ngã ba Trung Lương rồi ông bảo nó:

  • Xe tao về Tân Hiệp. Xuống đây đi con!
  • Con cám ơn bác nhiều!

Nó xuống giữa đường chiều hè vẫn nóng gắt, nó tiếp tục bài ca xin nước và rảo bước về hướng Mỹ Tho sau khi hát tiếp bài “đường đi trong miệng!”. Từ Trung Lương vào Mỹ Tho nghe nói khoảng 4 đến 5km, với thằng bán bánh mì “chiến đấu” như nó thì đây là chuyện nhỏ, quá nhỏ! Điều to lớn quan trọng bậc nhất lúc này là nó vừa thoát khỏi “ông già nách ướt”! Ung dung vừa đi vừa chơi, nó còn bắt dược mấy con cào cào bông đỏ đẹp vô cùng bên vệ đường. Thuở ấy từ Trung Lương vào Mỹ Tho hai bên đường không có nhà như bây giờ, có những đoạn là ruộng vườn, hay trang trại, hay những công xưởng nhỏ…

Hơn một giờ sau nó thấy xuất hiện cái hồ nước to vuông vức là nó biết đã tới Mỹ Tho, vậy là nhà bác Năm nó gần đây. Còn nhớ hồi mấy năm trước, nó với các anh em chú bác của nó có ra đây chơi, sau khi chơi bời tắm táp đã đời, bọn con nít còn chui qua hàng rào để chun vào chiếc trực thăng Chinook loại hai cánh quạt to đùng đậu ở bãi đất cạnh đây, lát sau có một ông Mỹ và mấy ông lính vác súng đạn chạy ào ào tới đuổi, tụi này lúc nãy “chun lỗ chó” để vào giờ phải “chun lỗ chó” ra, hai ba thằng bị kẽm gai cào tét lưng, tối đó cả đám bị đòn, người lớn la “may mà tụi nó không bắn tụi bây, chơi gì mà ngu vậy?”. Chuyến đi chơi lỗ nặng nhưng mà vui!

Nó hỏi nhà bác Năm Hiển của nó, vì bác trai và bác gái của nó cùng là giáo viên nên chuyện hỏi nhà hai ông bà cũng không khó, nó vào được tới nhà là trời đã chiều tối. Mọi người đang ăn cơm thì nó xuất hiện bất ngờ, ai cũng hoảng hốt tại sao nó lại ở đây? Nó đi với ai? v.v… và v.v… Nó nói chỉ một câu ngắn gọn nhưng chắc nịch “cho con tắm cái đã! Chút ra nói chuyện sau ”.

Sau khi nó đã triệt thoái khỏi người nó cái mùi của ông già “nách ướt” bằng cục xà bông đá vuông vức 72 phần dầu để trả lại cho nó ‘origin’ (nguyên gốc) mùi con nít thì nó mới ngồi vào ăn, lúc đó nó mới thấy rằng bữa cơm của gia đình bác nó còn tệ hơn gia đình nó bội phần. Chuyện ăn độn ngày ấy là bình thường, ai cũng ăn độn nên không nói làm gì, nhưng trên mâm cơm nhà bác không có một chút gì là đạm cả, chỉ rau muống luộc và nước tương loãng dầm ớt, mà nó dễ ăn và nó đói nên ăn rất ngon lành.

Những câu chuyện nó kể làm cả nhà rất vui, nó lại kể trọn chuyến phiêu lưu từ lúc nó đi khỏi Hà Tiên đến giờ, kể chuyện nhà Hà Tiên, kể chuyện đi đường v.v… Bác Năm gái nó rất thích nghe nó nói chuyện, sau này bác thường nhắc là mỗi lần nó ghé Mỹ Tho là nó mang đến nhà bác tiếng cười, không phải nó có khiếu kể chuyện khôi hài mà vì nó hay nói sàm, chuyện có lâm li bi đát cỡ nào nó cũng có thể làm thành chuyện cười cợt được.

Mãi mê nói chuyện mà nó quên mất là nó phải chào bác trai – anh sinh đôi của ba nó, hỏi tới bác thì bác gái nó nước mắt lưng tròng, té ra là bác ấy cũng đi cải tạo rồi, và cũng như ba nó, không biết bao giờ mới về! Nó ngạc nhiên vì bác trai nó là giáo viên sao phải đi cải tao? Dè đâu trước khi ông đi dạy thì ông là sĩ quan! Thế mới nói chế độ mới họ không bỏ sót, họ xét lý lịch tới ba đời, huống chi trong cuộc đời này bác của nó đã từng là sĩ quan “ngụy”?

Cuộc sống gia đình bác gặp rất nhiều khó khăn, đói kém hơn nhà nó bội phần, bác gái nó không được như má nó, bác không bươn chải bằng, bác không “ngầu” bằng má, và quan trọng hơn là các anh chị cũng trạc tuổi anh em nhà nó, thời gian này cũng không làm gì ra tiền được, chỉ có ăn học… Cả nhà chỉ sống bằng việc bác gái đi dạy học và bán đồ trong nhà để ăn, nên cực kỳ tiện tặn.

Vậy là sự xuất hiện của nó ở nhà này ví như là “tai hoạ” cho gia đình bác. Lúc này, bác chưa hề biết nó chuẩn bị mở miệng hỏi xin tiền bác để đi tiếp lên SG!

Sau một vài ngày cuối cùng Bác gái cũng kiếm được vài đồng cho nó đi tiếp…Bác mua vé cho nó đi Sài gòn, xe đò ngày ấy chạy tuyến Mỹ Tho là loại xe Ford 4 chỗ mà người xưa hay gọi là xe “Huê Kỳ”, người ta đã cải hoán để chạy chở khách Mỹ Tho-Sài Gòn, dân chúng quen gọi là “xe lô”. Xe lô Mỹ Tho thường sơn màu đỏ, xe dài và rộng, hai bên cái cốp to đùng là hai cái cánh dựng đứng giống hai cái đuôi cá trông rất đặc biệt, cái cốp ấy già trẻ lớn bé chứa được cũng ba bốn người, cứ dựng cốp lên, người ngồi quay lưng ra trước đưa mặt ra sau nhìn những chiếc xe chạy sau xe mình, nếu không quen rất dễ bị chóng mặt và hay muốn óí, nó cũng được cho ngồi trong cốp đó và xe cứ chạy “vô tư”. Ngoài cốp xe là vậy trong xe người cũng chật nêm, có lẽ ghế trước và băng sau cũng được 10 người. Trên đường tuyệt nhiên không thấy cảnh sát hay công an gì cả, chỉ có các trạm “cải tạo công thương” hay bắt bớ lái buôn hàng hóa thiết yếu mà được gắn cái tên gọi nặng nề: “hàng lậu”! Cái thời đó là như vậy.

Các xe bên lề là loại được cải hoán thành “xe lô” – hình chép lại từ Internet.

Ngồi trong cái cốp đó cũng có những cái thú vui của riêng nó, xe chạy chầm chậm nên khói xe và bụi cuốn vào đuôi xe làm nó ngạt thở, mũi nó đầy bồ hóng, nó khịt khịt vài cái rồi phun vèo một bãi nước bọt màu đen ra không gian, lúc nó phát hiện mình bị “hố” thì đã không còn kịp thu hồi cái của nợ đã thoát ra, bởi thế người xưa nói cái chi đó thoát ra khỏi miệng thì “tứ mã nan truy”! Chiếc xe chạy sau xe đó chỉ vài mét đã hứng đủ một tiếng “chạch” lên kính chắn gió, bác tài xe đó tưởng “bị bắn” nên né nhanh cái đầu qua một bên, sau khi hoàn hồn thì ông đưa đầu ra cửa sổ “Đ.m. thằng nhỏ mất dạy…!”.

Thằng Bé còn không biết ra dấu xin lỗi mà chỉ quay mặt đi mà nhe răng cười!

Đến Tân Hương thì có một cái trạm “cải tạo công thương” đặt cố định để bắt những người buôn lậu. Mặt hàng buôn lậu bị bắt thời đó là những thứ mà bao đời nay trong cuộc đời người ta là không thể thiếu: là gạo, là đường, là tôm khô, là cá mú v.v… Nhưng tất cả đều bị bắt tuốt vì là “lậu”!

Người la, kẻ khóc, người than nghèo, kẻ kể khổ, người rên rỉ ỉ ôi, kẻ loi choi chửi mắng… là âm thanh hỗn tạp của những bà ngoại, bà mẹ, bà chị Việt Nam anh hùng dám đem những mặt hàng nhu yếu từ vùng làm ra sang vùng không có mà bất chấp sự ngăn sông cách chợ của chính quyền địa phương!

Trạm Tân Hương là trạm “chằn” nhất miền Tây dạo ấy. Dù ngồi ở trạm này cả buổi để chờ mấy ông công bộc đầy tớ của dân « phục vụ » dân, tài xế nào cũng phải chờ vì con buôn là khách quen, là hầu bao túi gạo của nhà xe; cũng vì vậy cánh lái xe rất tích cực giúp đỡ con buôn cất dấu hàng hoá, lúc lỡ bị bắt thì họ cũng dùng sự quen biết hay lo lót để giải quyết lấy hàng hoá ra hay chí ít là thuế bị đóng ít đi. Xe nó đi cũng vậy, bác tài bắt cả xe phải chờ mà không ai bỏ đi xe khác (vì đón xe không dễ và tiền xe thì cũng trả rồi), nó cũng phải ở lại chờ và tiếp tục « thói nào tật nấy » – như những lần trước – nó ăn đến hết tiền bởi nó ham ăn. Ai có thể nhịn đói trong khi có tiền trong túi mà đồ ăn thì bày kế bên?

Má nó dặn xe về tới Xa Cảng Miền Tây nó phải bắt xe xích lô về ngã sáu Nguyễn Tri Phương, mà nó hết tiền rồi, một bà con buôn tốt bụng ngồi chung cốp xe nói với nó:

  • Xe này về bến xe Mỹ Tho ở Chợ Lớn, mày về Nguyễn Tri Phương gần lắm!

Nhưng nó quyết nghe lời má nó nên nó xuống Xa Cảng Miền Tây, bả rủa với theo:

  • Đồ ngu! Tao nói thiệt mà không nghe, cho mầy đi bộ chết cha mày luôn!

Cha nó không sao chứ nó thì mệt muốn chết, nó đi bộ từ Xa Cảng Miền Tây về Ngã Sáu, chắc có hơn 7 cây số, nó mệt lắm, không phải vì đường xa mà vì căng thẳng, bụi bặm, xe cộ ào ào, người ngợm nhiều quá, sợ lường gạt, sợ bắt cóc con nít, sợ du côn trên đường kiếm chuyện oánh nó vì nó nghe nói du côn tỉnh lẻ mà nó thường biết không bằng một góc mẻ của du côn Sài Gòn. Tâm trạng nó rất lo âu và nói chung là nó cảnh giác với mọi thứ từ khi nó bước từ trên xe xuống bến xe Miền Tây.

Bài học cho nó: nó ngu thiệt! Không biết tin người tốt.

Nhà bác Ba ở đường Minh Mạng (sau này nó biết bến xe Chợ Lớn về nhà bác Ba chỉ bằng một phần ba đoạn đường từ Xa Cảng Miền Tây, và thầm cảm ơn bà con buôn năm xưa dù nó đã không nghe bà), nó tìm ra nhà bác nhờ địa chỉ, nó chưa được biết mặt bác nó vì năm 1976 ông mới vào SG được vài tháng (ông đi kháng chiến thời chín năm và năm 1954 ông cùng gia đình đi tập kết).

Nó bấm chuông và nó chờ, nó chờ… lâu thật lâu sau nhìn qua khe cửa sắt nó thấy một ông già cao lớn, da trắng hồng hào phúc hậu, ông lê từng bước khó khăn bên cây gậy tập đi của những người bị tai biến mạch máu não, ông chậm chạp trên một chân trụ lê bước ra cửa, ông chậm chạp lách cách mở hai lớp cửa sắt (SG khác Hà Tiên quá, nhà nó ngày ấy không bao giờ có cổng, mà nhà này cổng có hai lớp cửa ngoài và thêm một lớp cửa ở sâu bên trong!), rồi cũng thật chậm chạp ông nhìn nó… Với một thằng nhóc mà lúc nào cũng có “cục lửa trong quần” như nó thì nãy giờ là quá sức chịu đựng của nó, nó nhanh nhẩu:

  • Thưa bác! Có phải bác là bác Vinh?

Ông lịch sự trả lời giọng trầm và run “vâng!”, nó lạ lẫm về từ “vâng” mà lần đầu tiên người miền Nam như nó nghe phát ra bằng âm miền Nam chứ mấy ông bộ đội Bắc Kỳ thì nó đã nghe quen tai hơn cả năm nay rồi.

  • Dạ, ba con là ông Đạt ở Hà Tiên…

Mới chỉ nói đến đó là nó ngưng, ngỡ ngàng nhìn bác nó đỏ mặt và lảo đảo, ông đứng lại cho vững và … khóc hu hu như một đứa trẻ (sau này bác nó nhiều lần khóc như vậy mỗi khi có người nhà Hà Tiên lên thăm, đó là nỗi nhớ anh em dồn nén mấy mươi năm), nó đỡ bác vào nhà, và chờ khi bác nó bình tâm lại. Cũng như mọi khi, nó huyên thuyên câu chuyện của nó đi từ Hà Tiên lên đây như thế nào và đương nhiên nó không quên nói rõ mục đích của chuyến đi và lá thư của má nó.

Hôm sau bác Ba gái đánh điện tín về Hà Tiên báo tin cho má nó là nó đã đến SG. Sau vài hôm, bác Ba trai và bác Ba gái của nó ký giấy tờ bảo lãnh ba nó và mua vé xe đò cho nó về tới Hà Tiên, chuyến về không có gì trở ngại vì bác Ba gái đã mua vé suốt cho thằng Bé về đến Rạch Giá và cho tiền nó dư dả để nó ăn uống và mua vé về Hà Tiên. Khoảng ba tháng sau ba nó được cho về, gia đình mừng lắm, riêng nó không ấn tượng lắm về ngày về của ba nó, có chăng là má nó! Chỉ biết rằng ba nó là người sĩ quan đầu tiên ở Hà Tiên được về nhà.

Và cuộc phiêu lưu hồi năm 10 tuổi của nó với bao rắc rối do nó tự gây ra đã “mở hàng” cho nhiều cuộc phiêu lưu sau này trong cuộc đời thằng Bé, rồi thì qua những lần như vậy nó có thêm nhiều bài học quý giá và mở mang cho nó cách nhìn cũng như đánh giá về sự vật hiện tượng, về con người, về hoàn cảnh…, giúp nó chiêm nghiệm một cách sâu sắc hơn một chút về mọi thứ diễn ra trong cuộc đời của mình.

Bác Ba Trương Văn Vinh, bác Năm Trương Minh Hiển đã về khu mộ gia tộc ở Hà Tiên và cùng với bác Hai Lư Khê – Trương Văn Em đoàn tụ cùng cha mẹ mình (là ông bà nội của thằng Bé) từ lâu. Bác Ba gái Nguyễn Kim Đính cũng về đó nằm cạnh bác Ba trai cho trọn phận dâu con của dòng họ Trương kỳ cựu của xứ này. Thế hệ trước đây có khi họ khác nhau về lý tưởng, khác biệt về tính cách… Nhưng máu mủ ruột rà là không thể cắt rời và họ đã gắn bó với nhau đến cuối đời như hồi còn trong buồng trứng của bà mẹ.

Phải nói thêm về bác Bân. Tình bạn của bác với ba thằng Bé bắt đầu từ năm 1954 kéo dài cho đến ngày hôm nay năm 2022, qua nhiều biến cố thời cuộc, một tình bạn gần bảy mươi năm, thật đáng ngưỡng mộ và trân quý. Họ vẫn thăm hỏi nhau, vẫn gặp nhau khi có thể, vẫn thương quý nhau như ngày đầu… Riêng thằng Bé, nó không những mang ơn ông cái ngày hôm tháng 8/1976 đã cho nó ăn, ngủ, và cho tiền nó “đi công tác” tiếp để nó hoàn thành nhiệm vụ mà “tổng tư lệnh” của nó đã giao, mà nó còn mang ơn ông cái ơn tinh thần lớn hơn nhiều – bác Bân đã làm chủ hôn đi cưới vợ cho nó vào tháng 3/1989. Một cách gián tiếp là ông đã giúp nó mang về xứ Hà Tiên của nó một nàng dâu là cô giáo, và rồi cái “vía” của bác đã đóng đinh cho nó vững bền 33 năm nay!

Nó kể câu chuyện này để đóng góp cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » bởi chỉ một lẽ: câu chuyện có liên quan đến các cựu giáo viên của xứ Hà Tiên từ rất xưa là thầy Trương Văn Vinh, cô Nguyễn Kim Đính, thầy Trần Văn Bân, thầy Trương Minh Hiển, thầy Trương Minh Đạt, cô Nguyễn Phước Thị Liên, tác giả là Trương Minh Quang Nguyên và vợ là cô giáo Nguyễn Thị Thiên Hương đã từng dạy Trung Học Hà Tiên hai niên khóa 1989-1990, 1990- 1991.

Quang Nguyên.
(Viết vào năm 2010 – hiệu chỉnh 4/2022)

Tác giả Quang Nguyên ở tuổi thiếu niên đang nhìn lại quá khứ một chú nhóc tên Bé, cậu bé từng đi Sài Gòn một thân một mình ở cái tuổi trên 10 tuổi một chút…Hình: TMQN

Ngày xưa có một thằng nhóc… – Phần 1 và 2 (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn là học sinh, nói đến đi Sài Gòn thì chắc là cậu học sinh nào cũng thích và muốn đi…, tuy nhiên phải đi với cha mẹ hay người thân trong gia đình, chứ rỏ ràng là không cậu học trò nào dám đi Sài Gòn một mình,…nhất là ở cái tuổi trên dưới 10 tuổi…Thế mà trong câu chuyện hồi ký dưới đây, tác giả Quang Nguyên sẽ kể lại cho chúng ta từng chi tiết một, không bỏ thiếu một giai đoạn nào về chuyến đi « phiêu lưu » từ Hà Tiên lên đến tận Sài Gòn, một thân một mình, trong túi thì chỉ có mớ giấy tờ đơn từ mà thôi chứ không có một đồng hay một tờ giấy bạc nào để chuyến đi được vẻ thú vị, thoải mái…Thật vậy, được người mẹ trao cho một « sứ mệnh » là đi lên Sài Gòn tìm Bác Ba để người bác chứng vào giấy tờ bảo lãnh cho người cha ra khỏi trại về nhà sớm, khỏi phải đi lên đến tận ngoài Bắc tiếp tục học tập…!! Vì hoàn cảnh gia đình không thể có ai đi để làm công việc đó được, tác giả – lúc đó chỉ là cậu bé (và cũng có tên gọi ở nhà là Bé) – khoảng trên dưới 10 tuổi,…phải liều lĩnh nhận lấy công việc nầy. Thật ra nói liều lĩnh nhận việc cũng chưa hoàn toàn đúng vì cậu bé nầy cũng rất « khoái » đi một mình như vậy mặc dù là không biết rồi sự việc sẽ diễn ra làm sao,…, chính cậu ta gật đầu chịu đi Sài Gòn một mình theo như mẹ cậu giao công việc, mà trong lòng cậu bé nầy nửa rộn ràng nửa lo âu…

Thế rồi không phải chỉ có cậu ta lo âu mà quả thật là chúng ta – độc giả – cũng phải lo âu và hồi họp theo dõi câu chuyện nầy vì dù cho người ta có tính toán, sắp xếp chương trình đi đứng cẩn thận vẹn toàn đến đâu mà nếu giao dự án đó cho cậu bé nầy thì do tính chất « vô tư lự » trẻ con, cậu ta sẽ không ngần ngại « chế biến » chương trình tính toán đường đi nước bước trở thành hoàn toàn khác hết cả những dự tính…, và rồi từ đó, cậu bé chỉ còn có cái an ủi là « sự việc sẽ tới đâu tính tới đó », cầu mong vào sự may mắn, tháo vát dù chỉ là do suy nghĩ của một đứa trẻ hơn 10 tuổi…Thân mời thầy cô và các bạn đọc tập hồi ký dưới đây, có rất nhiều chi tiết, nhiều sự cố đến liên tiếp mà mình không thể nói trước ra đây vì muốn trao cho quý vị sự thích thú, bất ngờ khi đọc bài. Đó là một câu chuyện cũng như mọi câu chuyện kể ra trên Blog nầy, có thật mà tác giả đã trải nghiệm qua, đã sống từng giây từng phút các chi tiết có thú vị có cay đắng mà may mắn thay hồi kết cuộc rồi cũng sẽ tốt đẹp. (Paris, 02/05/2022 Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

NGÀY XƯA CÓ MỘT THẰNG NHÓC…

Phần 1/ ĐƯỢC ĐI THĂM NUÔI:

Ba nó đi cải tạo vậy là đã hơn một năm, năm đó má chỉ mới 36 tuổi, má một mình chăn một bầy 8 đứa con và một đứa cháu, tất cả những đứa đủ tuổi đều được đi học, bà quả nhiên là một bà mẹ anh hùng. Có người cũng thương cảm mà khuyên má sao không cho mấy con nghỉ học để người ta chỉ công việc cho làm kiếm cơm – có nghĩa người ta nuôi cơm mình và mình làm việc cho họ, cũng là cách để giảm áp lực cho bà, nhưng má quyết tâm cho con mình ăn học đàng hoàng trong mọi hoàn cảnh, bà là giáo viên nên bà hiểu rất rõ chuyện học quan trọng thế nào.

Đã rất nhiều lần thằng Bé xin nghỉ học, nhưng thật may cho nó khi bà luôn kiên quyết: “không!”

Thật ra không có bà mẹ nào muốn con mình cực khổ, nhất là khi chúng nó còn quá nhỏ. Thằng Bé vô tư không biết rằng hằng đêm bà nuốt nước mắt vào lòng khi nghe tiếng rao bánh mì lanh lảnh trong đêm khuya của hai anh em nó. Bà là người mẹ cứng rắn, anh chị em thằng Bé không bao giờ có ký ức về sự dịu dàng của má, bà không thể hiện ra ngoài bao giờ, nhưng phải thấy sự hy sinh, gồng gánh của má khi đó – trong hoàn cảnh một gánh 9 đứa nhỏ và chồng thì đang “ở trỏng” – thì mới thấy bà cao cả như thế nào! Với thằng Bé, má là tổng tư lệnh nên má muốn gì hay không muốn gì thì nó phải nghe. Đơn giản vậy thôi!

…Ba cải tạo ở U Minh, (nghe cái tên đã thấy không lối thoát rồi) sau đó được chuyển về Cần Thơ. Được người ta cho phép đi thăm nuôi, má dẫn cả nhà đi thăm ba lần đầu tiên và duy nhất.

Còn nhớ sau khi đi xe chuyền ba bốn chặng từ Hà Tiên đến Trà Nóc, xe đò bỏ cả gia đình thằng Bé ở ngoài lộ Trà Nóc, má bèn dẫn một bầy con nít lủ khủ, lôi thôi lếch thếch, đồ đạc linh tinh, đứa nọ bồng đứa kia, dắt dây dưa, kéo rồng rắn đi bộ hơn 1km để vào trại tập trung của ba đang ở. Đó là một phần đất rất rộng của sân bay Trà Nóc. Đột nhiên, nó thấy một chiếc xe nhà binh chở một đám người trên đó, có người nhận ra má vẩy tay chào, đó là những người mà hơn một năm trước họ là những sĩ quan quân đội của một chính quyền khác biệt lý tưởng.

Người ta chưa cho vợ gặp ngay chồng, cha gặp ngay con để họ thỏa lòng mong ước… Các gia đình đi thăm nuôi đông lắm, tất cả được lùa vào một hội trường bự chảng, thằng Bé tìm ba trong đám đông các ông đang ngồi dưới đất mặc đồ lính VNCH (?) (Thật ra sau này ba nói, má đốt đồ lính đi là quá uổng phí, vì khi đi cải tạo, mấy ông cán bộ mở kho quân nhu của Mỹ phát áo quần lính cho đi lao động chứ họ làm gì có điều kiện bao cấp khoảng đó?). Ba đã thấy cả nhà và hình như ba đã khóc, vì khi ba đi thằng Út đang trong cái bụng ‘chà bá’ của má, còn bây giờ nó đã đứng chựng được rồi, thằng Út với cái đầu ba vá đang chập chững bi bô với mọi người quanh nó.

Tuy nhiên cuộc trùng phùng đáng mong đợi vẫn chưa xảy ra vì cán bộ phải giảng cho một bài chính trị trước khán giả là hàng mấy trăm tù nhân đang ngồi dưới đất, còn vợ con họ đang được tách ra đằng kia. Một ông chính uỷ lên nói rất là dài, là rất dai, những giáo điều thuộc lòng, là lý sự của kẻ chiến thắng… Sau một hồi thật lâu mà khiến đám con nít các nhà phải mỏi mòn chờ đợi, khiến cho cơ thể phản ứng chuyển sang trạng thái bền vững từ ngồi tới nằm thì ông nọ mới nói xong. Nhưng chưa! Ông bắt đầu bắt nhịp hát bài “Bác Đang Cùng Chúng Cháu Hành Quân”, bắt tất cả các ông sĩ quan chế độ cũ trong hội trường hát theo. Tay ông ấy bắt nhịp bằng cách chém những đường rất dứt khoát, rất mạnh vào không khí như nhà nông đốn mía, mặt thì nghiêm trọng, trông rất ấn tượng hung hăng. Mọi người phải hát trong ánh mắt đảo quanh của những cán bộ quản giáo. Sau khi hành quân rồi thì bác đại thắng vì sau bài hát đó là bài “Như Có Bác Trong Ngày Vui Đại Thắng”!

Thật tội cho mấy ông sĩ quan khác biệt lý tưởng đang sa cơ lỡ vận, với họ đó là một sự sỉ nhục, một hoàn cảnh thật lố bịch, bi và hài.

Ba hôn từng đứa (đương nhiên có cả má!), đứa nào cũng khóc vì quá nhớ ba, tụi nó có nói chuyện gì với ba được đâu vì ba má phải tranh thủ thời gian chứ? Thời gian không có nhiều, hai người phải bù đắp cho hơn một năm vắng nhà đã khiến ba má thiệt thòi trăm bề. Ba má biến đi đâu lâu lắm, anh em nó chờ đợi mấy tiếng đồng hồ luôn. Sau này lớn lên thằng Bé mới nghĩ ra là người ta cũng nhân đạo bố trí những nơi riêng tư của vợ chồng, để ở đó họ tâm sự, bầy nhỏ chút chít con nít này mà bu vào chắc ba má cắn lưỡi tự tử còn sướng hơn!

Rồi ba tặng cho mấy con những món quà làm bằng nhôm máy bay, tự ông mài gọt dũa rất đẹp, là lược lớn, lược nhỏ, là kẹp, là các mô hình cho mấy thằng con trai. Còn má được ba tặng cái gì tụi nhỏ này không thể nào biết được? Đó là “chuyện hai người”!

Chuyến đi thăm ba là một ký ức đẹp và nó “ghim” vào đầu đứa nhỏ nhiều điều khiến thằng Bé suy nghĩ đến cả đời vẫn chưa thông về các phạm trù đối nghịch: được – mất, đúng – sai, thịnh vượng – suy tàn …

Không biết hôm gặp ba trong trại cải tạo ba má đã trao đổi với nhau những gì vì đó là chuyện người lớn, chỉ biết rằng má đã rất lo lắng về tương lai của ba. Có những lời đồn về chuyện họ sẽ chuyển mấy ông sĩ quan ra Bắc (mà thật sự là dân VN mình “đồn đâu đúng đó”), mà đi ra đó thường là “mút mùa” luôn!

Cuộc chiến hai mươi năm huynh đệ tương tàn để lại trong từng gia đình VN những vấn đề xã hội mà thật sự không biết đâu là điều đúng đắn. Ba có người anh ruột trước 1954 ông dạy học tại Hà Tiên, ông đi tập kết, rồi sau là thầy giáo dạy Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đang bị tai biến mạch máu não và về hưu sớm, sau  tháng 4/75 ông được về Sài Gòn, nghe nói là học trò của ông rất nhiều và làm lớn phía Cách mạng, má chợt nảy sinh ý định là nhờ ông bảo lãnh cho ba về sớm.

Có lẽ má đã suy nghĩ mấy hôm liền sau khi đi thăm ba về, một hôm má hỏi thằng Bé.

  • Mày đi Sài Gòn (SG) được không?

Nghe đi Sài gòn là nó mê tơi rồi, nó khoái đi xe đò, chỉ vậy thôi, nó hỏi:

  • Đi với ai vậy má?

Má nói:

  • Một mình mày chứ ai vô đây?
  • Đi SG làm gì vậy má?
  • Kiếm nhà bác Ba, anh của ba.
  • Sao mà con biết nhà bác?
  • Thì có địa chỉ! Đường đi ở trong miệng chứ đâu!

Cũng như mọi khi, thằng Bé hay hỏi, nó hỏi linh tinh. SG thì nó đã từng đến nhưng là do ba má dắt đi không thôi và mấy năm mới đi một lần, nó nhớ khu nhà bà ngoại ở gần cổng xe lửa số 9 đường Hoàng Văn Thụ. Nơi mà ngày xưa cứ mỗi mùa hè má dắt anh em nhà nó đi thăm ngoại và mấy bà dì, nhớ cái đường ray mang nhiều kỷ niệm quậy phá của cái đám con nít trong xóm hẻm Lê Hữu Từ, nhớ về cái tên “sư cọ đầu bang” mà tụi con nít trong xóm đạo đặt cho nó vì chỉ có nhà ngoại là đạo Phật trong cái xóm Công giáo, hơn nữa đầu do nó thường hớt cua như lính Mỹ vậy.

Nó nhớ mấy thằng bạn trong xóm thường nghịch ngợm “ị” vào trong cái bọc nilon rồi để trên đường ray để khi xe lửa chạy ngang văng tung toé, xú uế thối inh cả một xóm, và rồi sẽ nghe mấy bà mẹ chửi đổng, chửi nháo nhào cả xóm lên rằng con nít nhà nào mất dạy, mà mấy bà Bắc kỳ đã chửi thì khỏi phải nói, đạt đủ cả cường độ, tốc độ và độ nặng của ngôn từ bằng những câu thơ văn vẻ. Cũng cái đường ray đó mà anh em nó “lợi dụng” một cách nhẹ nhàng hơn, chúng lấy cây đinh sáu phân để lên trên mặt ray để khi xe lửa chạy ngang sẽ cán nát bét dẹp lép như con tép, rồi tụi nó làm dụng cụ chơi trò dích hình ăn hình với con nít trong xóm, hình thì mua ở các sạp báo, các tấm hình cỡ trang vở in loè loẹt các phim hoạt hình về siêu anh hùng thời đó như Batman, hình các chuyện cổ tích Việt Nam v.v… Tụi nó cắt ra từng ô nhỏ theo khuôn hình có sẵn, xong nhập vào mỗi thằng chơi là 10 hình, hay tuỳ giao hẹn, trải ra sao cho có hình văng ra, đoạn dích tấm này chồng lên tấm kia, chồng được thì ăn và đi tiếp, còn không được thì tới thằng khác, cứ thế… Nó nhớ chuyện này chuyện kia rồi liều mạng trả lời má một cách dứt khoát “dạ được!”.

Kể từ đó nó đã không biết cái gì chờ đợi nó ở phía trước, nó chỉ biết là được một chuyến đi SG, đơn giản thế thôi. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy!

Phần 2/ SAI LẦM TIẾP NỐI SAI LẦM:

Má dặn dò nó rất nhiều, có lẽ bà rất lo vì nó chỉ mới hơn 10 tuổi một chút, đường đi ngày xưa gian nan lắm chứ không như bây giờ, những ngày ấy xe cộ không còn hoạt động nhiều vì thiếu phụ tùng, nhiên liệu hiếm hoi, hoạt động giao thông hạn chế vô cùng, muốn đi từ Hà Tiên lên Sài Gòn phải qua rất nhiều chặn, thì hẳn nó phải đối diện bao nhiêu điều nguy hiểm ngoài xã hội mà thằng nhỏ này phải băng qua? Thằng Bé thấy má lo lắng nó cũng trấn an má rằng sẽ không sao, tới đâu tính tới đó (nói vậy chứ nó cũng không biết sẽ tới đâu và tính cái gì!).

Bây giờ thì nó hiểu má không có sự chọn lựa, má không đi được vì má mới đi thăm ba, nghỉ dạy nữa người ta để ý, người ta “ghim”. Hơn nữa, ngày xưa đi đâu cũng phải xin giấy phép của chính quyền, còn thằng con nít như nó sẽ không ai để ý và không phải đi xin giấy. Thằng Bé có chị có anh, má không thể để chị nó đi SG một mình vì chị mới 13 tuổi, con gái đang hồi dậy thì, cạm bẫy và rủi ro thì ẩn lậu khắp nơi, hiểm nguy cho chị sẽ nhiều hơn cho nó. Má không thể để anh của nó đi vì anh nó “hiền”quá, chỉ có nó là thằng có thể “đơn giản những vấn đề phức tạp” và là đứa có nhân tố “hành động” nên má đánh liều chọn nó. 

Phải nói là má “nuôi gà biết (nhìn) cựa!”.

Nhưng tiền đâu cho nó đi? Nhà nó dạo đó “làm ngày nào xào ngày đó”, vả lại cả nhà vừa mới đi thăm ba nên không còn tiền để cho nó đi SG, má bèn gom tiền bán bánh mì của ngày hôm trước của hai anh em sau khi để lại tiền chợ thì còn đủ để cho nó qua tới Rạch Giá, dặn nó qua Rạch Giá phải tìm đến nhà người bạn của má để hỏi đường đi tiếp, mà nó thì không ngại chuyện không biết đường vì má đã nói với nó « đường ở trong miệng mày! ».

Bà bạn của má có tiệm chụp hình lớn lắm tại thị xã Rạch Giá là tiệm Tấn Hưng, má có viết cho bà vài chữ để mượn cho nó ít đồng mua vé đi SG, hồi đó không có điện thoại, muốn thông tin nhanh chỉ bằng điện tín, mà điện tín thì đếm ký tự mà tính tiền, nên liên lạc rất khó khăn chứ chẳng như bây giờ, nên má chẳng liên lạc với ai được. Má dặn tới SG nó phải bắt xe buýt (bus) từ Xa Cảng Miền Tây để về tới chợ cá Trần Quốc Toản, rồi hỏi đường Nguyễn Tri Phương, tới đó sẽ thấy cái bùng binh có một cái cột cao có cái tượng ông Nguyễn Tri Phương đứng trên đầu cột, ở đó nó phải hỏi đường Minh Mạng (nay là Ngô Gia Tự) và kiếm cái địa chỉ ghi trên giấy là nhà của Bác, “nhớ đừng làm mất giấy tờ!”- má dặn nó. Đó là các giấy tờ gửi lên cho Bác của nó gồm đơn từ, chứng nhận đang cải tạo ở trại, chứng nhận hộ khẩu v.v… để bác nó làm bảo lãnh cho ba, má dặn dò kỹ đường đi nước bước…

Thế nhưng, do thằng Bé hay làm những chuyện tệ hại nên cuối cùng mọi chuyện đều đảo lộn, và nó có một chuyến đi “lịch sử” để nhớ suốt cuộc đời.

Nó đã làm đúng theo lời má được ¼ đoạn đường, tới Rạch Giá nó gặp đuợc dì Tấn Hưng bạn của má, bà cho tiền ăn và cẩn thận mua vé cho nó đi SG, dạo ấy đường Vàm Cống là con đường Hà Tiên (HT) – SG ngắn nhất, nhưng con đường này dạo ấy rất xấu, do nước lũ, do chiến tranh, và do sau 1975 không có điều kiện sửa chữa nên xe phải đi đường Cần Thơ tốt hơn một chút.

Xe mới chạy chút xíu là nó bắt đầu làm chuyện tệ hại đầu tiên: ăn (nó rất ham ăn!), hai ba trái bắp luộc rồi tới củ ấu, rồi ăn cà rem bán dạo, rồi chuối chiên, chả chiên v.v… Khoái cái gì là nó ăn ngay cái đó, mà đồ ăn chất lượng bến cóc xe dù mà, nên chỉ độ khoảng 2 tiếng là bụng nó bắt đầu đau, nó hỏi anh lơ xe chừng nào xe ngừng được, ảnh bảo “ tới bắc!” (là phà Cần Thơ), nó bèn hỏi bao lâu thì ảnh nói “3 tiếng nữa!” (hồi đó xe chạy rất chậm), nghe tới đó nó thấy hơi lo, nhưng vẫn hy vọng có thể chịu (nhịn) được.

Nhưng đâu phải cái gì cũng như ý mình muốn đâu!  Xe chạy thì chậm và đường sá hồi đó thì xấu, mà nó lại ngồi phía sau xe, chiếc xe cà tưng, cà tưng mỗi lần qua cầu (đường miền Tây cầu rất nhiều) là nó lại hót đít lại, bụng thì sôi ùng ục, nó cố nhịn, lắm khi mồ hôi ướt lưng, ướt trán… Bụng nó đau có cơn chứ không liên tục, và hết cơn đau nó lại mừng thầm, thế nhưng cái sự mừng của nó không lâu, cơn đau chốc chốc lại bùng lên và nhặt hơn, tới hồi chịu hết nổi nó nói với anh lơ:

  • Cho tui xuống!
  • Chút nữa tới bắc (bến phà) rồi!
  • Hổng được, chịu hết xiết rồi!
  • Mày cứ đái đại đây đi! – anh ấy chỉ nó cái bục cửa lên xuống

Nó nhăn mặt nói với anh lơ:

  • Hông được, tui đau bụng mà!
  • Thì đâu có sao, mày cứ ỉa đại xuống đường, tao vịn cho, mày con nít mà, mắc cỡ gì?
  • Tui mà ngồi đưa đít ra đường là đái lên chưn anh đó! – trong đầu nó nhớ tới chuyện Trạng Quỳnh (ị mà cấm đái!)
  • Vậy mày ráng nhịn chút đi! Hổng lẽ cả xe chờ mày à?
  • Tui nói hổng được đâu nhe, “nó” sắp ra rồi!

Mặt nó lúc đó chắc xanh lắm, và độ chừng thằng này sẽ gây “hậu quả nghiêm trọng” nên anh lơ xe la lên:

  • Xuống đê ê ê ê ê!

Bác tài bực quá la:

  • “Đ.M. xuống cái con C., có một thằng nhỏ mà mày cũng không xử được?

(Xin lỗi độc giả về những ngôn từ đường phố trong bài này, có thể phản cảm đôi chút nhưng chỉ là tác giả mô tả chân thật cái tính cách và phương ngữ của người miền Nam. Sẽ có vài câu chữ hơi thô tục nhưng hoàn toàn không có ý xấu hay dã tâm độc địa trong ngôn từ người miền Nam thường sử dụng).

  • Ừ! Ông giỏi thì xuống đây mà xử cái đống của nó!

Anh lơ này cũng lớn gan dám cãi lại tài xế, và có lẽ ổng cũng sợ thằng nhỏ làm bầy hầy xe ổng nên “K.K.K..E..E.E..TTT !!!”,  chiếc xe cà giựt, cà giựt, cuối cùng cũng thắng lại, hành khách người thì cười, kẻ càu nhàu. Quá mừng, nó xách quần nhảy đại xuống xe, không có thời gian đi xa, nó chui vào lùm cây bên vệ đường làm một “bản trường ca”đầy âm thanh, màu sắc, có cả trống, kèn, và nhạc du dương!

Nó đang lim dim tận hưởng cái thứ tư trong bài “tứ khoái” thì bỗng nghe tiếng chó sủa ầm ầm sau lưng, ngoái lại thấy có một bầy chó lao ra, lúc đó nó mới định thần là mình đang ngồi trước nhà người ta; hoảng hồn, nó bứt đại nắm lá cây (lúc nãy nó quên xin ai đó trên xe một chút giấy), quẹt vội vàng, vừa chạy vừa kéo nhanh cái quần xà lỏn thót lên xe, làm anh lơ xe và hành khách một phen cười muốn bể bụng!  Xe cà rịch cà tang lên đường, ngoái lại nó thấy có 3 con chó đang dọn cái mớ bầy hầy của nó.

Nó học thêm các bài học sau những lần gặp “tai nạn” kiểu như vậy. 

Xe chạy tới khoảng gần Thốt Nốt đột nhiên bị hư, nó nghe nói là bị hư nặng phải cho người về nhà Rạch Giá lấy đồ sửa xe.  Nó chưa liên hệ được chuyện này hệ trọng thế nào, nó nghĩ sửa xong sẽ chạy tiếp chứ có gì đâu? Nó thấy người ta rục rịch bỏ xe, tới chiều tối thì trên xe chỉ còn nó và anh lơ giữ xe, bác tài thì cũng đã đi mất vì bác làm nghề lái xe thì đâu thiếu chỗ ngủ “êm ấm” dọc đường? Anh lơ hỏi nó sao không bỏ xe đi tiếp, nó bảo nó lỡ ăn hết tiền rồi chỉ còn mấy đồng đi xe buýt thôi, ảnh nói rằng sẽ không sao, xe sửa xong thì đón khách đi SG tiếp mà như vậy ông tài xế ổng thích hơn vì bây giờ xe trống hoác, đỡ hao dầu mà còn đón được thêm nhiều khách.

Khuya có người ở Rạch Giá đến nói phải đi SG mua đem phụ tùng về và như vậy thì mai xe cũng sẽ không xong, đêm đó nhờ anh lơ xe mà nó biết những địa danh mà nó sẽ qua khi đến SG. Ảnh hỏi nó đi làm chi, nó nói nó đi đưa đơn để má nó bảo lãnh ba nó bị đi cải tạo, người Miền Tây dạo ấy nghe nói đến “người cải tạo” họ dễ sinh lòng trắc ẩn, thương tình ảnh nói “để mai tao đón xe quen để gởi mày đi cho!”.

Đêm đó lần đầu tiên trong đời nó ngủ ngoài đường rất xa nhà, chứ ở Hà Tiên khi đi bán bánh mì nó ngủ bụi ngoài thớt thịt của bà Út Cà Mau thì cũng thường, giờ nó ở trong tình trạng “một mình một ngựa một khẩu súng…nước” với một anh lơ xe xa lạ tốt bụng, nên nó yên tâm ngủ. Tới khoảng 9-10 giờ sáng  hôm sau anh ta đón được chiếc xe, mà xe này chỉ đi tới Vĩnh Long thôi, ảnh nói:

  • Đi hay ở tuỳ mày thôi chứ tao hổng biết chừng nào sửa xe xong, đi thì tới đó mày xin quá giang tiếp!

Anh mua cho nó ổ bánh mì không và nó ăn ngấu nghiến, mặc cho anh lơ xe đang nói giúp với tài xế xe quen anh ấy cho nó đi quá giang đến bến xe Vĩnh Long.

Đường xa lại đói bụng quá nên nó ăn hết những đồng tiền cuối cùng. Khát nước thì nó xin nước uống, không ai nỡ không cho một thằng nhóc trắng trẻo dễ thương như nó một cốc nước lạnh, bụng nó đã đỡ rồi vì đêm qua khi nó nằm đường với anh lơ xe nó đã tranh thủ tháo hết cái mớ hỗn độn trong bụng; tuy vậy, giờ dù nó đói nó chưa dám xin ăn, bởi lẽ nó biết người khác cũng đói như nó, cái ăn là vấn đề rất quan trọng.

Nó hỏi thăm mọi người từ Vĩnh Long về tới SG còn bao nhiêu cây số người ta nói còn khoảng 150 cây; lúc này nó thấy thật sự hoang mang, vì bây giờ nó không còn một xu dính túi, nhiệm vụ thì chưa hoàn thành, nó xin đi quá giang thì người ta không cho, cũng dễ hiểu vì trong điều kiện kiếm tiền cực khổ và đi lại khó khăn thì một chỗ đu đeo trên xe – dù là một thằng nhóc – cũng là cơm là gạo.

Chưa bao giờ một mình mà nó đi xa như vậy, nó không có khái niệm SG xa như thế nào.

Phải nhắc lại rằng mấy năm đó xe cộ rất hiếm vì hiếm nhiên liệu, hiếm phụ tùng, các chủ xe đều không còn xe mà phải xung công, hoặc “công tư hợp doanh” với hình thức khoán để ăn chia với nhà nước, nhà nước cấp nhiên liệu, họ phải chịu làm để còn được kiếm ăn. Nhà xe nào cũng phải tranh thủ mà chở, chen chúc, chồng chất, chật chội, đu đeo bám víu cả ngoài thùng xe, nhìn từ xa chiếc xe như một con vật di động chậm chạp lề mề. Tài xế và lơ xe quyền lưc vô biên, họ là vua, là cha, là mẹ, họ muốn chửi là chửi, muốn đuổi khách là đuổi, muốn cho đi thì được đi – mà phải trả tiền nhiều (vì vé nhà nước bán lấy tiền trước rồi, sau đó mới chia lại), nhà xe chỉ sống được khi đón nhiều khách dọc đường vãng lai, mà xe thì hiếm chứ khách vãng lai thì không hiếm – chỗ đâu cho nó quá giang?

Trời đã ngã về chiều, thằng Bé hết đứng lại ngồi trong bến xe Vĩnh Long chưa biết mình sẽ ra sao, nó cũng hoang mang lắm. Hết tiền, mà nó mau đói, nó đói lắm, uống thì xin được, chứ nó vẫn chưa dám xin ăn, nó ngồi nghĩ vẩn vơ, nó hy vọng đêm nay nó sẽ ngủ ở bến xe, sáng mai biết đâu nó xin quá giang đi tiếp được?

Chợt phép mầu đến với nó. Tim nó nhói lên và trong bụng khấp khởi, nó đã tìm ra lối thoát trong cơn cùng cực…

Quang Nguyên (Viết vào năm 2010 – hiệu chỉnh 4/2022)

(xin mời xem tiếp phần 3/: VỊ CỨU TINH và phần 4/ KHÔNG NGHE LỜI, KHÔNG TIN NGƯỜI TỐT. NÓ LẠI TRẢ GIÁ).

Trương Minh Quang Nguyên hay chú nhóc tên Bé, cậu bé từng đi Sài Gòn một thân một mình ở cái tuổi trên 10 tuổi một chút…(Chúng ta sẽ hình dung gương mặt lúc 10 tuổi ở khoảng giữa hai gương mặt trên). Hình: TMQN

Về tên gọi Quần Đảo Bà Lụa tại Hà Tiên-Phần 2 (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong bài trước (Về tên gọi Quần Đảo Bà Lụa tại Hà Tiên-Phần 1), tác giả Quang Nguyên đã đưa ra một sự kiện thực tế có đề cập đến vấn đề tìm hiểu tên gọi « Bà Lụa », một danh xưng được đặt tên cho một nhóm đảo nằm phía trước mũi Hòn Chông dọc theo bờ biển từ Hà Tiên về Hòn Chông. Danh xưng « Bà Lụa » theo các câu chuyện được truyền khẩu từ xa xưa đến nay, và được nhiều nhà khảo cứu, các thông tin du lịch đều chấp nhận, đăng tải, phổ biến trên mạng, theo đó tên gọi « Bà Lụa » xuất phát từ tên một người đàn bà mang tên thực sự là Nguyễn Thị Lụa (1896 – 1912), sống trong khoảng đầu thế kỷ 20 tại vùng xã Bình An thuộc Kiên Lương và có chồng là người Pháp. Vì hai vợ chồng có ảnh hưởng lớn đến công việc trồng trọt, chăn nuôi tại vùng nầy nên người đời sau lấy tên của người vợ (tức Bà Lụa) đặt tên cho quần đảo. Một nguồn khác thì lại cho là tên quần đảo phát xuất cũng từ tên một người đàn bà là nữ tướng của ông Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868), chuyên dệt vải may áo quần cho nghĩa quân…Tuy nhiên qua các tài liệu xác định về địa lý, kinh tế, chánh trị của người Pháp còn lưu lại thì ta thấy tên nhóm đảo nầy được người Pháp ghi lại dưới nhiều hình thức như sau: « Ba-lua », « Balua », hay « Ba-Lụa »…, và tên « Balua » đã xuất hiện sớm nhất vào năm 1873 trong một báo cáo xuất bản tại Paris năm 1877. Như vậy so với thời kỳ bà Nguyễn Thị Lụa sinh sống thì quả thật cái tên « Balua » đã có từ trước rất lâu. Trong bài viết cùng tên, phần 2 tiếp theo sau đây, Quang Nguyên cũng sẽ dựa trên các bản đồ do người Pháp phác họa, chứng mình cho ta thấy đã có các địa danh “Îles Balua” (quần đảo Balua) hay “Baie Balua” (Vịnh Balua) đã có mặt trên bản đồ Nam Kỳ thuộc Pháp được in vào năm 1868…Một lần nữa, ta thấy nguồn gốc cái tên « Balua » không còn liên hệ đến tên của một hoặc hai người đàn bà Việt Nam như đã nhắc đến trong phần 1. Chúng ta thử đọc bài dưới đây và cùng suy nghiệm xem nguồn gốc tên gọi quần đảo như thế nào. (Paris, ngày thứ hai, 29/03/2022, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

VỀ TÊN GỌI QUẦN ĐẢO BÀ LỤA TẠI HÀ TIÊN (tác giả Quang Nguyên)

Về tên gọi Quần Đảo Bà Lụa tại Hà Tiên-Phần 1 (Quang Nguyên)

I-  Bà Lụa là ai?

II- Bà Nguyễn Thị Lụa không hề liên quan đến “quần đảo Bà Lụa”.

Về tên gọi Quần Đảo Bà Lụa tại Hà Tiên-Phần 2 (Quang Nguyên)

III- Thời điểm xuất hiện cái tên của quần đảo Bà Lụa.

1- Thử thắc mắc về tên gọi.

Vậy tên gọi quần đảo này là gì? Cũng có thể có hai bà Lụa sống ở hai khoảng thời gian khác nhau chăng? Người Pháp thì họ phát âm không bỏ dấu, và họ viết là “Ba-Lua”. Dân Hà Tiên và Hòn Chông bây giờ họ gọi là Bà Lụa, nhưng xưa họ gọi là gì? 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký – một học giả người Việt và ông có nhiều công trình viết bằng tiếng Pháp. Trong quyển “Petit Cours de Géographie de la Basse-Cochinchine” đã nói trên, ông ghi rất rõ bằng chữ quốc ngữ tên gọi này “Ba-Lụa”. Ông ghi rõ bằng chữ Việt của người Việt cho người Pháp xem, có nghĩa là ông đang gọi đích danh quần đảo là: Ba-Lụa. Chữ “Ba” không có dấu “huyền” và chữ “Lụa” rõ ràng với dấu “nặng” của hệ dấu trong hệ thống bảng chữ quốc ngữ của người Việt. Đó cũng không phải là phiên âm chữ ngoại quốc theo cách viết hiện nay, cái gạch giữa trong từ “Ba-Lụa” là cách viết danh từ đôi theo văn phạm Việt ngữ xưa.

Vậy rất có thể ngày xưa ấy tên của quần đảo là Ba-Lụa. Đó có thể là tên một người chủ của một vùng đất hay các hải đảo trong vùng vịnh này, mà khi gọi Ba Lụa ta lại liên tưởng là tên của môt người đàn ông hơn.

Có một điều thú vị hơn là vùng này nổi tiếng nhiều sò lụa, có thể nói là nhiều nhất Việt Nam về mật độ sinh sống của sò lụa. Có thể Ba Lụa là một cái tên để chỉ “số nhiều” về sò lụa? Diễn đạt cái cách nói đặc trưng của người miền Nam xưa nay: ba sàm, ba xạo, ba hột cơm, ba lăng nhăng, Ba Tàu (chỉ người Hoa xưa dùng tàu để đi kinh doanh trên khắp nơi của địa cầu)… Có thể đó là cách nói gọn của người Việt: quần đảo của “ba con sò lụa”, rồi “ba con lụa”, rồi nói riết thành “Ba Lụa” như ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã ghi chú từ 1875?

Còn nữa, Hà Tiên có một đặc thù rất khác các vùng miền khác vì nơi đây hội tụ nhiều nền văn hóa, bởi có rất nhiều sắc dân cùng sinh sống như người Việt, người Kh’mer, người Hoa, người Thái, người Pháp, người Indonesia- Malaysia- Java- Ấn độ mà người Hà Tiên quen gọi chung là người Chà Và… Trong ngôn ngữ Hindi phổ biến nhất của Ấn Độ thì Balua có nghĩa là “đầy cát”. Có thể thấy từ Hòn Heo qua đến đây thì chỉ toàn các bãi bồi sình đen thì đến nơi đây lại có những bãi cát vàng ven bờ… Phải chăng năm xưa đã có một số cư dân người “Chà Và” dùng phương ngữ Hindu đã sống nơi đây?

Tất cả các giả thuyết nói trên đều chỉ là giả định. Giờ đây chúng ta chỉ nên công nhận tên của quần đảo đó là “quần đảo Bà Lụa” mà thôi, chúng tôi đã không thắc mắc chi thêm về cái tên, nhưng chúng tôi lại thắc mắc về một chuyện khác…

2- Tên Bà Lụa xuất hiện khi nào?

Thông tin được lan truyền Bà Lụa là một nữ tướng của ông Nguyễn Trung Trực, bà đã có nghề dệt vải và lo về hậu cần cho nghĩa quân… Thông tin này được cho là của ông Anh Động (Hội nhà văn Việt Nam) vào năm 2010 (Theo”Quần Đảo Bà Lụa”- Wikipedia).

Để bác lại cái thông tin rất không hợp lý này, chúng tôi có các tư liệu sau:

          a/-  Các bản đồ xưa:

Trước tiên, mời độc giả xem các bản đồ của ông Théophile Hyacinthe Louis BIGREL: (1828 – 1890). Ông là tham mưu trưởng thống đốc Nam Kỳ năm 1870. Chỉ huy thủy quân tại Sài Gòn (1877-1879). (3)

(Bản đồ Nam kỳ thuộc Pháp do ông Théophile Hyacinthe Louis BIGREL vẽ vào năm 1878*). Nguồn: BNF Thư viện Quốc Gia Cộng Hòa Pháp.

  (Bản đồ Nam Kỳ thuộc Pháp do ông Théophile Hyacinthe Louis BIGREL vẽ vào năm 1878- chúng tôi đã phóng to góc trái đoạn Mũi Hòn Trẹm)

Khi phóng to góc này ra từ bản đồ, chúng ta thấy trong đất liền có hai địa điểm mà chúng ta cần quan tâm, đó là “Ba lua” (Bà Lụa) và “Ba trai” (Ba Trại). Chính tại trại Ba Trại này ông Nguyễn trung Trực đã dùng ghe đưa quân băng qua vùng vịnh biển Rạch Giá, hợp quân với nghĩa quân của ông Lâm Quang Ky đang ở Tà Niên cách Rạch Giá hơn 10 km, cùng tiến đến đánh úp dồn Rạch Giá ngày 16/6/1868. Cuộc đánh đồn thành công nhưng cuộc kháng chiến bị thất bại, Ông bị Tây xử tử tại chợ Rạch Giá vào 27/10/1868. Bản đồ này được người Pháp lập mười năm sau khi họ dập tắt cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực.

 (Ghi chú của Mr.BIGREL rất rõ các điểm nhỏ hình chữ nhật là “C (Chợ) Marché”)

Theo các chú thích của bản đồ trên thì các điểm nhỏ hình chữ nhật được ghi chú là “chợ”, có nghĩa đây là nơi tập trung cư dân. Chúng ta thấy có địa danh Bà Lụa, và Ba Trại có đông dân cư sinh sống và có chợ. Dựa vào đây chúng ta hiểu là vào năm 1878 thì hai địa danh này đã cùng tồn tại. Có thể chăng người ta đã dựa vào đây để viết nên một câu chuyện về Bà Lụa gắn với công cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực?

Nhưng đó là một câu chuyện hư cấu hoàn toàn. Bởi vì địa danh Bà Lụa đã có từ trước đó.

          b/ – Địa danh Bà Lụa còn xưa hơn nữa.

Cũng dựa vào nguồn tư liệu quý giá khác (3), đó là tấm bản đồ xưa hơn vẽ hoàn thiện và in ra vào 1868 (có thể hiểu là công việc vẽ và chú thích tên địa phương đã có từ trước 1868). Ỏ tấm bản đồ này chúng ta đã không thấy có địa danh “Ba Trại”. Đơn giản là lúc người Pháp lập bản đồ thì ông Nguyễn Trung Trực chưa về lập trại quân kháng chiến nơi đây, ông về đây vào năm 1867 nhưng là  sau khi Pháp chiếm Hà Tiên cùng năm đó (6/1867).

Bản đồ năm 1868 này không có tên Ba Trại mà đã có tên Bà Lụa rồi, chứng tỏ tên Bà Lụa đã có trước.

Phóng to tấm bản đồ chúng ta thấy góc dưới ngoài biển có chữ “Îles Balua” (quần đảo Bà Lụa), còn bên trong bờ có dòng chữ “Baie Balua” (Vịnh Bà Lụa) 

Như vậy 1868 thì địa danh Bà Lụa đã có trong bản đồ Nam Kỳ của người Pháp, mà việc thực hiện bản đồ không thể nhanh chóng, có nghĩa địa danh này đã có trước đó, trước cả khi ông Nguyễn Trung Trực về đây, vậy thì không thể có việc người dân lấy tên của nữ tướng nào đó của ông Nguyễn trung Trực mà đặt cho vùng này?  

(Đây là bản đồ Nam Kỳ Thuộc Pháp được in vào năm 1868**). Nguồn: BNF Thư viện Quốc Gia Cộng Hòa Pháp.

(Đây là một góc của bản đồ Nam Kỳ 1868 do tôi phóng to ra tại vị trí mũi Hòn Trẹm)

Lời kết:

Vậy qua bài viết này, chúng tôi khẳng định địa danh quần đảo Bà Lụa ở Hòn Chông nay thuộc xã đảo Sơn Hải, huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang đã thấy xuất hiện trong tàng thư ít nhất là hơn 153 năm đến nay. Tên gọi này hoàn toàn không liên quan đến bà Nguyễn Thị Lụa có chồng là ông Ange-Léon Blanc người Pháp đã sống và canh tác ở vùng Hòn Chông- Hòn Heo và Hòn Heo đảo, và càng không phải là của một nữ tướng của ông Nguyễn Trung Trực làm nghề dệt vải, hay bất cứ một câu chuyện thêu dệt đầy tính hư cấu thiếu căn cứ khoa học rồi ấn ép nó vào một địa danh đã tồn tại xưa nay.

Cho dù người Pháp gọi Balua, ông Trương Vĩnh Ký gọi Ba-Lụa, hay gì đi nữa thì đó là chuyện rất xưa… Nay chỉ có một tên gọi của người dân là “Bà Lụa”. Chúng ta phải rất tôn trọng cái tên địa phương, và tôn trọng giá trị lịch sử của nó mà đừng tô vẽ cho nó nhiều câu chuyện hoang đường sai quấy, điều  đó sẽ có lỗi với tiền nhân và hậu thế…

17/12/2021 Quang Nguyên

Chú thích :
(1)
https://web.archive.org/web/20130925142719/http://www.kiengiangvn.vn/portal/index.php? pageid=401&topicid=77&pagenum=1
(2)
https://doanhnhansaigon.vn/du-lich/nhung-truyen-thuyet-tren-quan-dao-ba-lua-1048779.html
(3) Nguồn tài liệu do ông Trần Văn Mãnh sưu tầm và cung cấp cho bài viết.
* https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b84450815
** https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b8441475k

Đảo Hòn Heo, một hòn đảo trong quần đảo Bà Lụa và cũng là hòn đảo lớn nhất trong nhóm đảo. Nơi ngày xưa bà Nguyễn Thị Lụa sinh sống với các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt. Nguồn hình: Bố SuSu***

Toàn cảnh quần đảo Bà Lụa. Nguồn hình: Bố SuSu***

Chú thích: *** Hình trích trong Blog Bố SuSu: https://bosusu.blogspot.com/

 

Về tên gọi Quần Đảo Bà Lụa tại Hà Tiên-Phần 1 (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, là người dân Hà Tiên, Kiên Lương hay Rạch Giá, chúng ta ít nhiều cũng biết đến cái tên quần đảo Bà Lụa, mặc dù có thể chúng ta chưa bao giờ đặt chân trên cụm hòn đảo nầy. Vậy quần đảo Bà Lụa nằm ở đâu ? Nghiên cứu bản đồ một chút, chúng ta sẽ thấy quần đảo Bà Lụa thuộc xã Sơn Hải (đảo Sơn Hải), huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên từ trung tâm của quần đảo Bà Lụa tính về mũi Hòn Chông chỉ cách có khoảng 6 km. Quần đảo Bà Lụa gồm từ 30 đến 40 hòn đảo lớn nhỏ trong một diện tích khu biển khoảng 70 km². Đảo lớn nhất trong quần đảo có tên là Hòn Heo. các đảo khác trong nhóm có tên như: Hòn Ông Triều, Hòn Đá Bạc, Hòn Đồi Mồi, ……, Hòn Thơm…v…v… Cách quần đảo Bà Lụa 15 km là một hòn đảo khá lớn tên là Hòn Nghệ, còn có tên chữ là Hòn Minh Hòa (mà riêng mình và quý thầy cô, bạn học Trung Học Hà Tiên đã có dịp viếng thăm trong một chuyến đi trên chiếc tàu HQ-607 vào ngày 20/06/1969). Trong loạt bài viết sau đây, tác giả Quang Nguyên sẽ bàn về cái tên gọi « Bà Lụa » của quần đảo nầy. Tại sao người ta đặt tên là Bà Lụa? Có chữ « Bà » chắc có thể đây là tên của một người phụ nữ? Nếu vậy người phụ nữ nầy là ai? Hai chữ Bà Lụa xuất hiện vào thời kỳ nào? Đó là những câu hỏi mà có lẽ với số vốn tài liệu nghiên cứu ít ỏi, chúng ta rất khó mà trả lời thông suốt. Tuy nhiên, nhờ một vài tài liệu xưa của người Pháp như: tập biên niên danh bạ, bản đồ xưa của các nhà hàng hải, chúng ta có thể dựa trên các niên kỷ thành lập các bản đồ để có được vài mốc thời gian để xác định được tên gọi của quần đảo Bà Lụa xuất hiện từ bao giờ và nếu suy luận theo tính chất hợp lý, chúng ta cũng có thể đưa ra một cách giải thích về cái tên « Bà Lụa »…Mời thầy cô và các bạn đọc bài dưới đây, do Quang Nguyên biên soạn và nêu lên một vấn đề về lịch sử, văn hóa để có thể – nếu được chút may mắn – lọt vào tai mắt các nhà nghiên cứu và như thế được các nhà nghiên cứu chú ý làm việc, tìm tòi, suy luận và ngay cả tranh luận thêm để một ngày nào đó cái tên « Bà Lụa » sẽ được « giải mã » (dùng từ theo thời đại!) cho chúng ta hiểu rỏ. (Paris, ngày thứ bảy, 26/03/2022, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Sơ đồ về vị trí của quần đảo Bà Lụa

VỀ TÊN GỌI QUẦN ĐẢO BÀ LỤA TẠI HÀ TIÊN (tác giả Quang Nguyên)

Kính tặng cha tôi – nhà nghiên cứu Hà Tiên Trương Minh Đạt. Đúng ra ông là người sẽ viết bài này, nhưng giờ ông đã gần 90 tuổi và sức khỏe ông yếu nhiều, nên tôi đã “mượn” một chút danh của cha tôi để truyền tải ý tứ của ông đến độc giả xa gần mà thôi… 

Kính tặng má tôi – nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên, người đã gợi ý, gợi mở và thúc giục ba tôi kể lại câu chuyện đã chìm trong mười năm, rồi từ đó có các sự việc dẫn dắt tiếp theo để chúng tôi có bài viết này…

Đồng kính tặng Mr. Trần Văn Mãnh – một Việt Kiều là một chuyên viên khoa học về hưu đang sống ở Paris. Ông rất yêu xứ sở Hà Tiên của mình. Ông đã giúp chúng tôi sưu tầm nhiều tài liệu rất xưa, được lưu trữ trong tàng thư của Thư Viện Quốc Gia Cộng Hòa Pháp, để phục vụ cho bài viết này. Xin chân thành cám ơn tấm lòng và công khó của ông.

***

Hà Tiên, đoạn cuối của bờ biển Việt Nam có một vịnh biển đẹp mê hồn, nó xứng đáng làm em của chị Hạ Long phía Bắc. Cũng nhấp nhô hàng mấy chục hòn đảo ngâm trong một vùng nước trong xanh mà mùa gió Bấc mặt biển lặng như mặt hồ, hôm chúng tôi đi ra đấy còn có đàn cá heo lặn ngụp khoe lưng cong vây thẳng, nơi đây thiên nhiên còn rất hoang sơ… Đó là vịnh biển của quần đảo Bà Lụa của Hà Tiên.

Mấy năm gần đây, trước khi dịch Covid hoành hành, thì vùng này khách du lịch đã đến khá nhiều, họ khám phá một vùng biển thơ mộng, thỏa chí tắm biển trong làn nước trong xanh, khác hẳn với các bãi biển ven bờ bị trầm tích phù sa của các con sông làm cho ngầu đục, họ còn được tự bắt các loại sản vật như ốc cờ, nghêu, nhum, và đặc biệt là sò lụa rất nhiều nơi đây…

Đương nhiên du lịch luôn là một ngành “công nghiệp không khói” nên chính quyền tỉnh Kiên Giang đã mời gọi khách thập phương về thăm thú nơi đây. Mời các bạn vào xem đường link của tác giả TRẦN VĂN LINH – Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Tỉnh Kiên Giang. (1)

Và còn nữa những bài viết giới thiệu về một vùng biển đẹp của Hà Tiên chúng ta bởi những người khách ra về mà lòng còn bồi hồi tưởng nhớ… Mời các bạn đọc một bài báo trong tờ báo điện tử “Doanh Nhân Sài Gòn online – tạp chí của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh” trong đường link (2).

Còn nhiều bài khác viết về quần đảo Bà Lụa của Hà Tiên đều có một điểm chung về cái tên của quần đảo này. Theo họ, đó là tên một nhân vật có thật chứ không phải là huyền thoại – một người đàn bà tên Lụa.

          I-  Bà Lụa là ai?

Hơn mười năm trước, vào ngày 28/3/2011 ba chúng tôi được một người địa phương biết tiếng Pháp dẫn hai vợ chồng người Pháp đến giới thiệu, họ tên là Michèle và Robert Blanc. Họ đến hỏi ba chúng tôi về những thông tin về cái tên « Quần đảo Bà Lụa », và những thông tin về bà Lụa ngày xưa .

Hai vợ chồng người Pháp đưa ra một tờ sao giấy khai sinh thời thuộc địa, (tờ sao nầy do Sở trung tâm hộ tịch nước Pháp, tại tỉnh Nantes cung cấp). Tờ khai sanh được lập tại Hòn Heo Hà Tiên vào ngày 27/5/1912, bà Lụa hạ sinh được đứa con trai. Sau đó ngày 20/8/1912 ông Ange Léon Blanc (chồng Bà Lụa) đặt tên cho con là Humbert Auguste Blanc. Ông này chính là cha của ông Robert Blanc nói trên.

Mục đích của Michèle và Robert Blanc là đến Hà Tiên tìm phần mộ bà Lụa và chồng bà (là ông bà nội của họ), nhưng việc đó là vô vọng vì không tìm được phần mộ hai người xưa… Nhưng bù lại họ được những người dân ở Bình An, Hòn Heo và Hòn Heo đảo kể về những câu chuyện về việc ông Ange Léon Blanc và bà Lụa đã khai khẩn và canh nông các loại cây công nghiệp như tiêu, dừa, và cà phê …v..v… trên vùng đất này như thế nào, còn có những tàn tích chuồng trại chăn nuôi của họ trên đảo Hòn Heo – một trong khoảng bốn mươi (40) hòn đảo quanh đó.

Chắc hẳn họ đã hạnh phúc lắm khi người dân cho biết quần đảo này còn được mang tên “Quần đảo Bà Lụa”. Sau đó họ để lại địa chỉ bên Pháp, thông tin cá nhân cho ba tôi và họ cáo từ ra về… Vài tháng sau họ còn thư từ liên lạc với ba chúng tôi.

 (từ trái qua: một người địa phương làm thông dịch đi cùng, nhà nghiên cứu Hà Tiên Trương Minh Đạt, ông Robert Blanc, và bà Michèle Blanc – hình chụp ngày 28/3/2011 tại Hà Tiên)

Hóa ra bà Lụa không phải người Việt gốc Hoa như tác giả Trần Văn Linh – Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Tỉnh Kiên Giang đã viết vào ngày 30/6/2011 (trong đường link đã dẫn), mà bà là người Việt 100%. Bà có tên trên giấy tờ là Nguyễn Thị Lụa! Họ Nguyễn cơ mà?

Hơn nữa, bằng nguồn tư liệu truy cập trên mạng, chúng tôi còn biết thêm bà Nguyễn Thị Lụa, sinh năm 1896, mất ngày 27/05/1912 tại Hòn Heo, Hà Tiên, lúc 16 tuổi. Có nghĩa là bà đã lấy chồng từ rất sớm, và bà mất ngay cái ngày bà hạ sanh cho chồng bà đứa con trai duy nhất. 

Nghe thật đau xót…

Cũng từ nguồn tư liệu trên đây, chúng tôi còn được biết thêm những thông tin rất thú vị về ông Ange Léon Blanc. Ông sinh ngày 03/01/1855 tại số 41 đường Notre Dame de Lorette, Paris. Chết ngày 09/10/1914 tại nhà thương Pháo Đài, Hà Tiên, tỉnh Châu Đốc, Nam Kỳ, lúc 59 tuổi (thời gian này Hà Tiên thuộc tỉnh Châu Đốc). Như vậy ông mất sau khi vợ ông mất chỉ hơn hai năm. 

Và, không như tác giả Trần Văn Linh viết: “…nhiều người Pháp dân sự không thuộc hệ quân sự hay hành chính. Họ đến đây khai thác rừng núi, biển hòn để làm kinh tế. Họ có ảnh hưởng rất lớn với chính quyền thuộc địa. Ở đây có người Pháp tên là Lơ-Bơ-Lăng (phiên âm tên ông Ange Léon Blanc – Quang Nguyên chú thích) đến khai thác vùng này, nhưng mọi giấy tờ đều đứng chủ quyền do vợ là bà Lụa đứng tên…” (hết trích).

Thực ra , ông Ange Léon Blanc là một “nhân viên Hải Quan hạng nhất” (3), hơn nữa ông còn là một nhà canh nông, ông khai thác đất đai để trồng hồ tiêu, cao su, dừa… và chăn nuôi heo như người địa phương đã nói, và không có cơ sở để nói bà Lụa đứng tên chủ quyền các sở đất canh nông mà ông Ange Léon Blanc đã canh tác.

Trong quyển niên giám « Annuaire général de l’Indo-Chine 1899-1925 » – trang 173, thì có tên ông Ange-Léon Blanc và cũng có ghi rõ ngày sinh và chức vụ của ông (3).

Còn nữa, trong quyển niên giám « Annuaire Illustré Cochinchine PaulVivien 1905 » ở trang 137 thì có tên ông Ange-Léon Blanc và cũng có ghi rõ làm nghề trồng trọt tại Hon Chong (3).

Như vậy, chuyện xưa có thể tóm tắt thế này: Bà Nguyễn Thị Lụa sống ở Hòn Heo vào đầu thế kỷ 20, bà lấy chồng từ rất sớm từ trước 16 tuổi, chồng bà là một nhân viên người Pháp làm Hải Quan tên Ange-Léon Blanc, ông chồng hơn bà đến 41 tuổi. Chồng bà còn là một người canh nông chuyên trồng những loại cây công nghiệp như tiêu, dừa, cao su… tại vùng đất này. Bà Lụa sinh cho ông một người con trai và bà qua đời vì sinh nở ngay hôm đó. Chồng bà cũng mất tại Hà Tiên hai năm sau. Hiện không ai biết phần mộ hai ông bà đang ở đâu… Vào tháng 3/2011 thì cháu nội của ông bà dẫn vợ về Hòn Heo để kiếm mộ phần. Những ngày tháng 3/2011 ấy người cháu nội của bà Lụa còn được biết người dân đã dùng tên của bà để gọi một quần đảo nơi đây: “Quần Đảo Bà Lụa”.

Hiện nay người ta dễ dàng chấp nhận câu chuyện quần đảo gồm khoảng 40 hòn đảo mang tên của bà Nguyễn Thị Lụa, dân gian gọi là Bà Lụa. Để quảng bá du lịch người ta đã không ngần ngại xác nhận thông tin trên trong các bài báo phổ biến lan tràn khắp nơi…

Ngoài ra, theo trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì còn có một giả thuyết khác: bà Lụa là một nữ tướng của ông Nguyễn Trung Trực, bà chuyên nghề dệt vải để may áo quần cho nghĩa quân… Đây là ý kiến vào năm 2010 của nhà văn Anh Động (1941-2021).

Nếu chấp nhận các giả thuyết trên thì sẽ không có bài viết này, vì cháu nội của bà Nguyễn Thị Lụa đã hỏi ba chúng tôi về tính xác thực của việc quần đảo mang tên Bà Lụa. Ba chúng tôi là một nhà nghiên cứu cẩn trọng nên ông đã không xác nhận nội dung này, ông biết điều đó có khả năng là không đúng, vì ông chỉ có một tài liệu để chứng minh, nhưng nguyên tắc của ông thì phải có nhiều nguồn tài liệu để xác thực cái tính đúng đắn của sự việc, bởi vậy mười năm đã trôi qua ông chưa trả lời cho ông Robert Blanc nội dung này.

          II- Bà Nguyễn Thị Lụa không hề liên quan đến “quần đảo Bà Lụa”.

Tham gia vào quá trình tìm hiểu tên của quần đảo Bà Lụa chúng tôi càng thấy cái tính nhạy cảm của ba chúng tôi về những điều không đúng đắn. Như đã nói trên, ông chưa bao giờ xác nhận với cháu nội của bà Nguyễn Thị Lụa hay bất cứ ai về việc quần đảo được mang tên bà Nguyễn Thị Lụa. Để giải quyết dứt điểm một nội dung chưa được sáng tỏ, còn tồn lưu trong trí não của ba chúng tôi, chúng tôi bèn gợi ý để giúp ba nhờ Mr. Trần Văn Mãnh tìm hiểu về nhân thân của vợ chồng bà Nguyễn Thị Lụa và thông tin về quần đảo Bà Lụa từ bên … Pháp. 

Chúng tôi rất có niềm tin là sẽ có nhiều thông tin thú vị, bởi năm 1858 người Pháp chiếm Đà Nẵng và sau đó họ hoàn tất công cuộc bình định là tại Hà Tiên vào năm 1867, đương nhiên quá trình đó họ đã có nhiều tài liệu lưu trữ về vùng đất và con người của xứ sở mà họ chiếm lấy, trong đó sẽ có Hà Tiên chúng ta.

Trong tàng thư của hệ thống lưu trữ quốc gia Cộng Hòa Pháp, trong thư viện quốc gia Pháp v..v.. còn lưu trữ lại rất nhiều tư liệu có liên quan đến khu vực địa lý vùng Hà Tiên. Những tài liệu xưa mà họ đã cho phép phổ thông đại chúng. Sau đây là các tài liệu có nhắc đến tên quần đảo Bà Lụa (3). (Lưu ý: người Pháp họ không có để dấu huyền hay nặng – họ ghi Balua, hoặc Ba-Lua)

  • 1/ Trong tạp chí Đông Dương số 170, trang 55 xuất bản ngày 20 tháng giêng năm 1902 có trích đăng một phần của quyển sách Monographie de la province d’Hà-Tiên xuất bản năm 1901, trong phần trích đăng nầy có nói đến tên “Le groupe des Îles Ba-lua”.

Lưu ý:  bà Nguyễn Thị Lụa sinh năm 1896, trong những năm xuất bản tạp chí và sách nói trên bà mới 5 đến 6 tuổi.  

  • 2/ Trong quyển « Bulletin économique de l’Indochine 1898-1945 » trang 80, có một trích một bản báo cáo của ông Eugène Haffner (1857 – 1930), cựu giám đốc Vườn Bách Thảo Sài Gòn, về một công tác mà ông E. Haffner đã thực hiện vào năm 1898. Trong báo cáo đó ông có dùng địa danh « Les Îles du Ba-Lua ». (Les Îles: quần đảo)
  • 3/ Le Chenil số 48 ; xuất bản năm 1898, trang 566, cũng có trích đăng báo cáo của ông Eugène Haffner (1857 – 1930) cũng có dùng địa danh « Les Îles du Ba-Lua ».
  • 4/ Trong quyển « La Colonisation de la Cochin-chine », của Paul D’Enjoy xuất bản năm 1898 tại Paris, trong hai trang 237 và 317 đều có nói đến tên quần đảo Ba- Lua.

Từ mục 2, 3, 4, ta thấy trong năm 1898 này chúng ta có nhiều sự ghi nhận về tên “Ba-Lua”. Năm đó bà Nguyễn Thị Lụa mới hai tuổi! Hai tuổi có thể được đặt tên cho một quần đảo không? Ai gọi đứa bé hai tuổi tên Lụa là “Bà Lụa”?

Tới đây hẳn độc giả đã mơ hồ nhận ra quần đảo Bà Lụa không phải được lấy từ tên bà Nguyễn Thị Lụa, nhưng chúng tôi chứng minh như vậy cũng chưa gọi là hoàn hảo để bảo vệ quan điểm của chúng tôi khi cho rằng quần đảo không phải mang tên bà Nguyễn Thị Lụa. 

Chúng ta hãy xem thêm hai tài liệu nầy :

  • 5/ Trong quyển « Compte définitif  des dépenses de l’exercice 1873 » xuất bản năm 1877 tại Paris, trong trang 168, hàng thứ 83, có ghi rõ công việc « Croquis du mouillage des Quatre- Îles, au sud des Îles Balua. »
  • 6/ Trong tờ báo chính thức của thuộc địa « Le Moniteur de la Martinique », số 25, ra ngày 27 tháng 3 năm 1874, trong phần thông tin « Annonces Hydrographiques », hàng số 3239 cũng có ghi công việc « Croquis du mouillage des Quatre- Îles, au sud des Îles Balua (golfe de Siam). 1/4 de feuille. »

Lưu ý : Bà Nguyễn Thị Lụa sinh năm 1896, trong những năm 1873, 1874 người Pháp đã nói đến tên quần đảo Balua trong vùng vịnh Xiêm La.

Dù chúng tôi còn nhiều tài liệu nữa để chứng minh cho quan điểm này, nhưng trong phần này tôi chỉ dùng thêm tài liệu của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký

Ba chúng tôi nói rằng ông biết từ lâu là quần đảo Bà Lụa không phải mang tên bà Nguyễn Thị Lụa, vì trong quyển sách “Petit Cours de Géographie de la Basse-Cochinchine” (tạm dịch “Tiểu giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ”) của ông Trương Vĩnh Ký viết từ năm 1875 đã có ghi nhận quần đảo Bà Lụa ở mục VI, sách tái bản trang 84, phần dịch trang 22. 

 (Ghi chép của ba tôi để suy luận về quần đảo không phải mang tên bà Nguyễn Thị Lụa trước khi ông có các tài liệu của Mr. Trần Văn Mãnh sưu tầm và cung cấp. Ông đã 87 tuổi mà còn bị liệt bên phải, ông phải viết bằng tay trái nên chữ rất khó đọc)

Vì sách dịch có khi có sai sót hoặc cũng có khi mang cái chủ quan của người dịch nên để đối chứng với quyển sách dịch, chúng tôi còn có một đường link để vào tham khảo bản gốc của ông Trương Vĩnh Ký viết bằng chữ Pháp. (3)

7- Trong quyển “Petit Cours de Géographie de la Basse-Cochinchine” của PJB Trương Vĩnh Ký, xuất bản năm 1875 tại Sài Gòn, trang 29 có ghi rõ tên đảo “Les Îles Ba-Lụa”.

Như vậy, qua các tài liệu 1,2,3,4 chúng ta còn chưa chắc 100%, thì với tài liệu số 5, 6, 7  này được viết vào những năm 1873, 1874 và vào 1875 thì ông Trương vĩnh Ký đã có nói đến quần đảo mà ông gọi là “Ba-Lụa”, khi ấy bà Nguyễn Thị Lụa còn chưa ra đời!

Vậy có thể kết luận ngay sự ngộ nhận rằng quần đảo Bà Lụa được mang tên bà Nguyễn Thị Lụa, vợ của ông Ange-Léon Blanc là hoàn toàn không có căn cứ. Sự sai lầm đó của người đương đại sẽ là sai lầm cho nhiều đời sau, mà hơn nữa trong thời đại thông tin vũ bão như hiện nay thì các thông tin sai lầm có thể phát tán rộng khắp… Chúng tôi thiết nghĩ Sở Văn Hóa Thông Tin Tỉnh Kiên Giang và các báo đài, các tờ báo mạng ..v.v.. nên điều chỉnh lại câu chuyện này trong việc quảng bá hình ảnh về du lịch tại Hà Tiên một cách nghiêm túc và đúng đắn.

Phần dưới đây chúng tôi còn những tài liệu rất quan trọng khác để chứng minh thêm quan điểm của mình, đồng thời gợi mở những vấn đề khác liên quan.

(Còn tiếp phần 2: Thời điểm xuất hiện cái tên của quần đảo Bà Lụa).

17/12/2021 Quang Nguyên

Chú thích :
(1)
https://web.archive.org/web/20130925142719/http://www.kiengiangvn.vn/portal/index.php? pageid=401&topicid=77&pagenum=1
(2)
https://doanhnhansaigon.vn/du-lich/nhung-truyen-thuyet-tren-quan-dao-ba-lua-1048779.html
(3) Nguồn tài liệu do ông Trần Văn Mãnh sưu tầm và cung cấp cho bài viết.

Những ngôi nhà nghỉ mát trên sông Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi mình còn đang học Đại Học Sư Phạm trong những năm đầu của thập niên 70 tại Cần Thơ thì ở thành phố nầy có xuất hiện một nhà hàng nổi đặt tên là Mỹ Xuyên (bảng hiệu đề là Mỹ Xuyên Tửu Lầu). Thời gian đó nhà hàng nầy rất nổi tiếng, tuy mình và các bạn thường ra bến Ninh Kiều chơi những buổi chiều tối, ngắm nhìn nhà hàng Mỹ Xuyên nhưng chưa khi nào ghé vào vì đời sinh viên thì làm gì mà dám vào đó để ăn tối, thưởng thức trăng sao, sông nước…

Nhưng….., nói vậy chứ ở Hà Tiên của chúng ta, ngay từ những thập niên 50, 60 và 70 thì đã có nhiều nhà hàng nổi lập ra, tất cả đều nằm dọc theo bờ sông Hà Tiên, kế bờ Đông Hồ thơ mộng cũng có, phía ngoài cửa sông ra biển nhìn về hòn đảo Kim Dự (Pháo Đài) cũng có…Tên gọi của những nhà hàng nổi nầy cũng rất phong phú, có người thì gọi là « Nhà Thủy Tạ » (hay nôm na hơn thì gọi là « Nhà Nghỉ Mát »), có bạn lại cho là « Nhà Hàng 12 căn » hoặc « Nhà Hàng Nổi », để tiếp tục mình đề nghị cứ gọi tên những căn nhà nầy cho tiện là « Nhà Nghỉ Mát » nhé. (Có điều là những nhà nghỉ mát nầy tuy tên gọi là nhà hàng nổi nhưng đều được cất trên các cột trụ đóng ngay xuống lòng sông chứ không phải nổi bập bềnh trên sóng nước…)

Bạn Quang Nguyên trong bài viết « Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên », có đoạn viết rất hay và ý nhị về các ngôi nhà xinh đẹp đó như sau: « “Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước! ».

Về hình thức các ngôi nhà xinh đẹp nầy thì như sau: Tất cả đều được cất bằng gỗ, từ bờ bên trong đến căn nhà thì có cầu ván bắc ra, cầu ván thường không có lan can, chỉ có bề mặt bằng của từng miếng ván ghép lại thẳng tấp thôi, cũng có khi theo thời gian (vì thời đại của những ngôi nhà nghỉ mát xinh đẹp nầy ở Hà Tiên cũng kéo dài khoảng trên dưới 25 năm…), gỗ ván bị hư, có khúc hở ra, từ trên nhìn xuống thấy nước dưới sông, có đi đứng trên đó phải cẩn thận, người lớn thì không sao, nhưng đối với trẻ con thời đó thì cũng hơi sợ bị té xuống sông…Chiều dài của cây cầu ván khoảng 20 hoặc 30 m mà thôi. Đến ngôi nhà chính thì được xây theo hình chử nhật (có một trường hợp đặc biệt là hình bát giác, sẽ nói sau).  Ngôi nhà hình chữ nhật, có hai mái y như một ngôi nhà bình thường. Khi chiếc cầu ra tới cửa nhà thì ngôi nhà được chia thành hai bên, một bên cho nam và một bên cho nữ, ở giữa có một hành lang ngắn. Mỗi bên trung bình có 6 « phòng » (hay còn gọi là « ngăn »…!!) chia ra mỗi mặt tiền có 3 phòng trước và sau, hai bên được 12 phòng tất cả. Một mặt tiền nhà phía sau nhìn ra phía ngoài sông, đây là điểm thú vị nhất vì tùy theo địa điểm của mỗi nhà nghỉ mát thì lúc ta nhìn ra ngay ngọn núi Tô Châu, với cây xanh, nước biếc, hoặc nơi khác thì cũng nhìn ra sông, xéo xéo về phía cửa biển, nhìn ra ngay hòn đảo Kim Dự, thấy Pháo Đài, còn một chỗ nữa thì nhìn ra các cồn cát, cù lao cây xanh về phía sông Giang Thành, Cừ Đứt. Còn mặt tiền chính thì nhìn về phía bờ sông, nhìn lên con đường « Bến Trần Hầu » hoặc đường « Đông Hồ », thấy cảnh nhà cửa tiệm quán, hoặc nhìn ngay văn phòng của Xã Mỹ Đức, hoặc là nhìn về phía cảnh vườn cây xanh phía sau của Chi Bưu Điện…Có điều lạ là khi đi trên cầu ván vào các « ngăn », mặc dù là không có dấu hiệu hay bảng chữ viết nào để ghi là nam hay nữ hoặc cái dấu hiệu hai bóng hình người màu đen, một người nam đứng xui hay tay và một người đàn bà hơi dang hai tay theo cái chiều cái « váy » phụ nữ như theo thời hiện đại ngày nay để phân biệt bên nào nam, bên nào nữ, nhưng dân Hà Tiên chúng ta cũng tự động đi theo mỗi bên y như có một quy luật vô hình….Nếu tính phía trước cầu ván đi vào thì nam bên trái và nữ bên phải đúng y như câu « Nam tả nữ hữu ». Các căn nhà nghỉ mát cất như thế, cao hơn mặt nước sông chừng hơn vài thước, có rất nhiều cột trụ chịu đựng, cột bằng gỗ chắc đóng xuống lòng sông. Lúc nước lớn thì rất thoải mái, nhìn y như một căn nhà Thủy Tạ trong các tranh vẽ, tuy nhiên khi nước rút nhiều xuống, để lộ ra mặt đáy sông, chỗ nầy cũng cạn thôi vì không ra ngoài sông xa lắm, thấy rỏ các ghềnh đá có hào rêu bám đầy, tự nhiên cảnh vật sẽ phản lại chúng ta để phơi bày ra những vết vật chất phế thải của con người làm cho quang cảnh bớt « nên thơ » đi nhiều (trường hợp của nhà nghỉ mát phía trước trụ sở Xã Mỹ Đức).

Hai bên hông của căn nhà thì có vách ván đóng kín đáo, còn mặt trước và mặt sau thì có chiều dài nhiều hơn, nhưng không có vách ván che lại, chỉ có lan can bằng gỗ với các thanh cây ngang và dọc và cột cao. Chỗ nầy mới là yếu tố nâng cao giá trị của các căn nhà nghỉ mát đó, vì khi mình còn ở trong tình trạng chờ đợi thì cứ đứng về phía mặt sau nhìn ra phía sông xa, hai tay tựa trên lan can gỗ và cứ tưởng tượng như là mình đang tựa lan can của một chiếc tàu du hành trên biển đảo, dõi mắt ngắm nhìn núi Tô Châu, hay núi Kim Dự đằng xa, hoặc nhìn các cồn cát, cù lao xanh rêu của Giang Thành, Cừ Đứt, lúc đó mặc dù thời gian chờ đợi có lâu bao nhiêu thì tâm hồn cứ thoải mái ngắm cảnh làm thơ, với điều kiện là nỗi ước ao được « nghỉ mát » không cấp bách cho lắm…!!

Về vị trí của 3 căn nhà nghỉ mát của Hà Tiên thời 60-70 thì như sau: một căn nhà cất ở mé sông dọc theo đường Trần Hầu, khoảng ngay đầu đường Nhật Tảo đi thẳng xuống, thuộc xóm Cầu Câu, Pháo Đài, ta cứ gọi là nhà nghỉ mát vị trí 1. Một căn thứ hai cũng ở mé sông, nhưng về phía đường Trần Hầu kéo dài về xóm Đông Hồ, khoảng ngay trước mặt trụ sở của Xã Mỹ Đức, xéo xéo căn nhà của ông Đông Hồ có thời làm nhà dạy học mang tên Trí Đức Học Xá, ta gọi là nhà nghỉ mát vị trí 2. Căn nhà thứ ba, rộng và thoáng mát hơn nhiều, cất ở mé sông Đông Hồ cũng ở đường Trần Hầu tiếp tục đi về phía mặt sau của Chi Bưu Điện (nay là đường Đông Hồ), ở ngay khoảng mặt sau của Chi Bưu Điện, ta gọi là nhà nghỉ mát vị trí 3. Nhà nghỉ mát vị trí 1 thường để phục vụ quý khách ở xóm Cầu Câu, Pháo Đài. Nhà nghỉ mát vị trí 2 phục vụ quý khách xóm chợ, xóm Đông Hồ, bến ghe tàu đi Rạch Giá. Nhà nghỉ mát vị trí 3 cũng để phục vụ khách xóm chợ, xóm Đông Hồ, thêm xóm Bình San, phía trên đường Mạc Cửu, Mạc Tử Hoàng…Trong ba căn nhà nầy, nếu tính theo tiêu chuẩn chất lượng phục vụ thì hai căn nhà nghỉ mát vị trí 1 và 2 là bình thường, trung bình còn căn nhà nghỉ mát vị trí 3 là tốt nhất, thoải mái, sáng sủa, thoáng khí, rộng rải. Tiếc là thời xưa chưa có bảng xếp hạng theo các ngôi sao như ngày nay do hảng Michelin chấm và xếp hạng, nếu tính theo tiêu chuẩn của Michelin thì hai nhà nghỉ mát vị trí 1 và 2 được xếp loại 2 hoặc 3 sao thôi còn nhà nghỉ mát vị trí 3 sẽ được xếp vào loại 4 hoặc 5 sao…

Sơ đồ vị trí của ba « nhà nghỉ mát » ở Hà Tiên hoạt động trong những thập niên 1960 – 1970.

Như trên đã viết, ngày xưa thật là xưa, khoảng trước năm 1958, tức là khoảng thời gian mình mới được 5, 6 tuổi, ở Hà Tiên có một căn nhà nghỉ mát rất đẹp, cất bằng xi măng, gạch hẳn hoi, ngay tại vị trí mé sông Hà Tiên, đường Trần Hầu, gần chợ cá ngày xưa, căn nhà nầy cất theo dạng hình bát giác rất đẹp. Tuy nhiên mình rất ít có kỷ niệm với căn nhà nầy, vì lúc đó còn nhỏ quá chắc nhà không cho đi đâu xuống sông suối…, sợ bị té sông…Trong trí nhớ chỉ còn mang máng căn nhà màu trắng, có cầu và lan can bắc ra cũng màu trắng …Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

Đây có thể là ngôi « nhà nghỉ mát » đầu tiên có ở Hà Tiên. Nguồn hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958

Hình những người lính Hải Quân Pháp chụp đứng trên tàu đậu tại bến sông Hà Tiên. Hình chụp khoảng trong những năm trước 1952. Xa xa phía sau là chợ cá Hà Tiên và nhà vệ sinh công cộng hình bác giác nói trên ở mé sông. Hình do ông Roland Drosson, lính Hải Quân chụp và có ghi chú tên ba người trong hình là: « Từ trái qua: Le Bras (mécano), Marion (radio) futur blessé et Hoffling (mécano) ». Đây là bằng chứng cho thấy nhà nghỉ mát hình bác giác đã có từ rất lâu trong những năm 1950 tại Hà Tiên, vì hình trên của người lính Pháo chụp trước năm 1952.

Hình cận cảnh cho thấy mặt sau của nhà nghỉ mát hình bác giác, phía sau là chợ cá Hà Tiên.

Từ đây về sau, ta chỉ chú ý đến 3 ngôi nhà nghỉ mát « hiện đại » cất bằng cây ván mà bài viết đã đề cặp đến phía trên vì sự hiện diện của ba ngôi nhà đó kéo dài nhiều chục năm và có ảnh hưởng sâu rộng đối với dân chúng ở Hà Tiên.

Sự sinh hoạt của ba căn nhà nghỉ mát nầy: không có quy luật về thời gian mở hay đóng cửa của ba căn nhà nghỉ mát, ai có nhu cầu nghỉ mát và ngay bất cứ thời điểm nào trong ngày hay trong ban đêm đều tự do đến để tự phục vụ…Theo thông lệ bình thường thì quý khách người lớn vì thường có thói quen và hay tự lập ra quy tắc cho mình nên thường đến vào buổi sáng sớm, khoảng từ 6 giờ đến 8 giờ sáng…, đó là giờ cao điểm của phong trào. Tuy nhiên trong ngày, sau giờ ăn trưa hay vào lúc 4 hoặc 5 giờ chiều cũng luôn có khách, ngay cả ban đêm tối trời, lúc đó phải tự trang bị cho mình một chiếc đèn pin để soi đường và đi cho ngay ngắn cẩn thận trên cầu ván, không khéo thì bị té xuống sông rất là phiền phức, có thể là không nguy hiểm đến chết người (còn tùy theo nước lớn hay nước ròng, nước lớn thì cũng có thể rất nguy cho người không biết bơi lội), tuy không chết người nhưng nếu bị ướt cả đầu, mình với lớp nước pha đầy chất bẩn cũng phiền lắm…Còn nếu gặp đêm có trăng thanh gió mát thì thời điểm chọn lựa lại càng thú vị cho việc nghỉ mát, còn gì ý nhị, êm ả cho bằng trong đêm thanh vắng, có trăng soi cá nước, được an vị tha hồ nghỉ mát cho cõi lòng cởi mở với thiên nhiên…Chá trách gì thầy Nguyễn Phúc Hậu trong bài thơ « Trăng sáng Phương Thành » đã ra bút thảo mấy vần thơ rất hay:

Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.

Trong bài thơ có nhắc đến « tiếng địch », xin các bạn đừng hiểu lầm vì từ « địch » ở đây để chỉ cây sáo dùng để thổi trong những đêm thanh vắng có trăng thanh gió mát.. để tiêu khiển ( 笛子, bính âm: dízǐ, Hán-Việt: địch tử, có nghĩa là cây sáo).

Nói tóm lại, ba căn nhà nghỉ mát ở Hà Tiên của chúng ta là nơi để nghỉ mát đúng như tên gọi đã đặt ra, ai muốn đến lúc nào cũng được, không phân biệt ngày giờ, không bao giờ đóng cửa, với lý do đơn giản là không có cửa…!! Đối với mình thì hoạt động nghỉ mát của mình là tùy theo các thời kỳ khác nhau. Khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mình thường hay đến nghỉ mát ở ngôi nhà nghỉ mát vị trí 2, tức là ngôi nhà ở trước mặt trụ sở Xã Mỹ Đức, mé sông Đông Hồ, lúc đó đường đi rất tiện, từ cửa sau của nhà mình (cửa trước nhìn ra đường Bạch Đằng), cửa sau nhìn ra một đầu là ngôi đình Thần Thành Hoàng Mỹ Đức, còn đầu kia là đường Trần Hầu ra mé sông, mình ra cửa sau, quẹo phải đi về phía sau nhà ngủ Đại Tân, ra đường Trần Hầu, quẹo trái đi thẳng xuống trụ sở Xã Mỹ Đức là đến nơi nhà nghỉ mát vị trí 2. Sau nầy khi lớn hơn một chút khoảng vào bậc Trung Học mình đổi vị trí, thường chọn nhà nghỉ mát vị trí 3 tốt hơn, vì ở đây là chỗ mặt sau của Chi Bưu Điện, nhìn ra sông Giang Thành, có cồn cát, cù lao Cừ Đứt, cảnh trí rất thoải mái, nhất là có nhiều « phòng », thoáng khí, gió mát…Việc đi lại cũng rất tiện, từ cửa sau nhà mình, ra khỏi nhà, quẹo bên trái đi thẳng về phía ngôi đình, sau đó quẹo phải theo con đường không có tên trước mặt ngôi đình, gặp đường Tô Châu thì quẹo trái đi trên con đường Tô Châu ngang qua các căn nhà cho công chức thuê mướn ở của bác Phán Cơ, tiếp tục đi đến đụng con đường Chi Lăng, ở ngả tư Tô Châu-Chi Lăng nầy một bên thì có một cây me rất to lớn, còn bên kia có một giếng nước, ghé mắt nhìn sơ xem có em gái Phan Kiều Dũng đang múc nước hay không, sau đó thì quẹo phải theo đường Chi Lăng đi thẳng xuống mé sông xóm Đông Hồ, khi gặp đường Đông Hồ (xưa thì vẫn là đường Trần Hầu, xưa nữa thì người Pháp đặt tên là Quai Rach Gia), đến đây thì quẹo trái, ngay chỗ nầy ngày xưa có một cái miếu ngay góc đường sát nhà gia đình bác Quách Ngọc Bá, đi một khoảng đến mặt sau Chi Bưu Điện thì tới nhà nghỉ mát vị trí 3.

Còn nói về thời giờ trong ngày thì ngày xưa mình không có thói quen nghỉ mát vào sáng sớm, chắc lúc đó trời còn lạnh nên không cần nghỉ mát…Mình thích nghỉ mát vào buổi trưa, thường là một tiếng đồng hồ sau bữa ăn cơm…Có một lý do nữa là buổi trưa đi như vậy thường hay gặp các bạn quen, nhất là rất thường gặp bạn Nguyễn Đình Nguyên cũng đang lơ thơ lẩn thẩn đi tới…Hai đứa rất vui gặp nhau và cùng chung lối đi nghỉ mát…Người lớn thì hay nghỉ mát buổi sáng theo đúng như quy luật tự nhiên. Mình còn nhớ hồi nhỏ, lúc mấy anh em trong nhà vừa thức rất sớm sáng mùng một Tết, dù là còn rất sớm nhưng đã lục đục thay quần áo mới, rồi vì trời còn sớm quá, nhà không cho ra ngoài đường sớm nên loay hoay trong nhà và cũng không được mở cửa nhà sớm quá vào ngày mùng một Tết nên hé cửa nhìn ra đường xem Tết bắt đầu như thế nào và có ai ra đường chưa… Lúc đó thấy hia nầy hia nọ nhà ở ngoài chợ còn đang chạy xe đạp thẳng vù ngang nhà, người còn mặc chiếc quần đùi, biết ngay là mấy hia đó đang đi xuống Đông Hồ nghỉ mát ở nhà nghỉ mát vị trí 3…, ngày Tết vậy mà mấy hia mình cũng thong thả chưa gấp gáp thay quần áo mới như mấy anh em nhà mình…

Bây giờ nói đến hoạt động ngay ở nhà nghỉ mát. Thường thì khi mình đi bộ xuống nhà nghỉ mát vị trí 3, trên đường đi nếu chưa gặp ai quen thì có khi trong lúc đang đi trên chiếc cầu ván để vào trong mấy căn nhà thì có khi gặp một người bạn quen vừa từ đó đi ra…Có lẽ vì quen miệng nên bạn hỏi ngay không kịp suy nghĩ gì cả: « Ủa đi đâu vậy ta…? », mình cũng nhanh miệng trả lời « Thì đi vô đây chứ còn đi đâu nữa…!! ». Phương tiện để đi xuống nhà nghỉ mát thì tùy theo mỗi người, có người đi bộ như mình, chắc là nhà cũng không xa lắm, đa số thì đi bằng xe đạp, nhất là mấy hia mấy chế ở hai bên chợ Hà Tiên, có người lại đi bằng xe Honda, Honda Dame cũng có, Honda đàn ông cũng có…Đến đây xin nói thêm một tính chất rất đặc thù của xứ sở Hà Tiên nầy nữa là, khi đi xem đạp đến nơi rồi thì cứ cho xe đạp tựa vào thân cây dừa trên bờ, chỗ nầy có hai ba cây dừa tha hồ mà dựng xe đạp, rồi có khi xuống đó lâu quá, mê nói chuyện với người quen gần « ngăn » của mình, đến khi xong xuôi rồi, đi một mạch lên và đi bộ thẳng về nhà quên phứt chiếc xe đạp…Đến khi về nhà hai ba tiếng đồng hồ sau, chợt nhớ lại mình bỏ quên chiếc xe đạp ở dưới nhà nghỉ mát vị trí 3, thì chạy bộ xuống lấy xe, tự nhiên chiếc xe vẫn còn ngay ngắn ở chỗ cũ như thế, không ai đụng tới cả, không bao giờ mất xe, đó là đặc điểm của xứ Hà Tiên là như vậy, đất Phật người lành không ai lấy trộm cả…

Có khi mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên tình cờ gặp nhau và vì cùng một chí hướng nên cả hai đều đi xuống nghỉ mát, gặp lúc giờ cao điểm không có chỗ trống, nên đứng tụm lại chỗ hàng lang ở giữa hai bên mà chờ đợi, lại tình cờ gặp cô em bạn gái cùng trường, vui lắm, cả ba đều nói chuyện vu vơ, hỏi thăm nầy nọ, đến một lúc bên nữ có người đi ra, tức là có chỗ trống rồi, Nguyên và mình mới nói « Thôi em vào trước đi, tụi anh còn đợi chút nữa !! », cứ tự nhiên như vậy thôi, không có gì phải ngượng nghịu cả, đó cũng là một đặc điểm khác mà chỉ có dân Hà Tiên và người ở Hà Tiên mới cảm nhận và thông hiểu như vậy thôi, chứ nếu người xứ khác lần đầu sống qua cái giây phút bối rối như vậy chắc thấy khó chịu lắm…

Có khi đi một mình xuống, khi bước vào chọn chỗ, thì lại gặp một người bạn cùng lớp đang ngồi sẳn, sau khi thủ tục chào hỏi xong xuôi thì mình cũng chọn chỗ kế đó, rồi hai đứa tha hồ nói chuyện trường lớp, em nầy anh nọ cũng vui lắm. Một lúc sau, người bạn nghỉ mát thỏa mãn rồi, nên đứng lên về trước (cũng phải theo đúng thủ tục chứ không phải đứng ngay lên liền nhé…), bạn nói lời từ giả: « Ở chơi Mãnh, mình về trước nhé..! ». 

Tuy là thời xưa ở Hà Tiên có ba nhà nghỉ mát như đã nói trên như vậy để phục vụ hầu như tất cả dân Hà Tiên, nhưng cũng có một số gia đình khá giả, cất nhà đúc hẳn hoi thì trong nhà tự nhiên là có trang bị nhà nghỉ mát riêng tư, đủ tiện nghi nên không cần thiết phải đi hóng gió như đa số những người khác. Còn đại đa số người dân Hà Tiên đều thích viếng thăm nhà nghỉ mát, vì tự nhiên được hưởng cái thú thoải mái và có tính chất cộng đồng, kết nối tính chất xã hội…

Trên chiếc cầu ván dẫn vào nhà nghỉ mát cũng thường có vài em nhỏ (còn nhỏ tuổi), vì tuổi còn nhỏ nên không dám vào bên trong ngồi như người lớn, các em ngồi ngay bên dọc chiếc cầu ván, tự nhiên mặc dù đang có người đi qua, lại…Nghĩ lại cũng hơi nguy hiểm vì không có chỗ nào để níu hay bám vào, lở có bị té ngã xuống sông thì quả là tai hại…Sao các bậc cha mẹ lúc đó không chú ý đến điều nầy nhỉ, vậy mà cũng nhờ Hà Tiên đất lành nên chưa có tai nạn té sông nào xảy ra cả ở mấy chỗ nầy…Nói về người lớn, khi người lớn vào và an vị đàng hoàng trong « ngăn » của mình rồi thì cũng phải cẩn thận, nhất là đừng móc vô móc ra tiền bạc, giấy tờ hay vật dụng quan trọng, vì phần « sàn nhà » bên trong cái ngăn của mình chỉ có hai thanh ván gỗ bắc song song cho mình đặt hai chân để ngồi thôi, phần còn lại thì sông nước mênh mông, nên nếu táy máy tay chân thì có thể sẽ làm rớt vật dụng, tiền bạc xuống sông… Về việc nầy mình có một câu chuyện nhỏ kể lại, đó là câu chuyện có thật, mình tận mắt chứng kiến và cũng còn nhớ cho đến bây giờ (xin mở một dấu ngoặc nhỏ ở đây, đáng lẽ ra khỏi cần nói là chuyện có thật vì trên Blog nầy, các bài viết đều là những bài tự thuật, kể lại những mẫu chuyện vui buồn đã xảy ra thật sự trong quảng đời thầy, trò, bạn học của Trung Học Hà Tiên, hay cả những chuyện liên quan đến nhà cửa, nơi chốn du lịch của Hà Tiên xa xưa, tất cả đều là những chuyện mà tác giả viết đều đã thật sự sống qua…). Nói là dấu ngoặc nhỏ mà cũng đã hơi dài dòng rồi,…Thôi trở lại câu chuyện đã hứa sẽ kể ra đây: Số là có một ngày đó hồi xưa, lúc mình đi viếng nhà nghỉ mát vị trí 3, tức là ngôi nhà ở phía sông Đông Hồ nhìn ra cồn cát, cù lao xanh, còn trên bờ thì nhìn lên vườn cây của Chi Bưu Điện, mình thấy có một ông người gốc Khmer (chỗ đường Chi Lăng giáp với xóm Đông Hồ nầy thì có rất nhiều dân tộc Việt gốc Khmer sinh sống ở đây, mình cũng biết mặt ông nầy, tuy không có quen), mình vừa đi trên chiếc cầu ván sắp sửa vào trong, bỗng dưng nghe ông la lên một tiếng,…Nhìn xuống mặt nước sông thì thấy có một xấp tiền đang trôi từ từ, mà toàn là tiền Khmer, giấy khổ hơi lớn màu hơi đỏ, xấp lại dầy cộm…Thôi rồi thì ra ông vừa mới vào bên trong và trong lúc định ngồi xuống đã làm rơi cọc tiền giấy xuống sông, kế đó thì thấy ông không do dự gì cả, ông bước ra mặt ngoài của căn nhà và nhảy luôn xuống sông, dù cho tình trạng mặt nước sông lúc đó tiền vàng lẫn lộn cũng không sao, có lẽ ông không có sự chọn lựa, phải nhảy xuống chụp lấy cọc tiền ngay không thể để mất tiền được…, khi ông đưa tay lấy xấp tiền rồi thì ông lội vòng qua bên hông căn nhà và lội ngay vào bờ trước vài cặp mắt kinh ngạc của nhiều người còn đang nghỉ mát trên nhà…Cũng may là nhà ông cũng ngay xóm Đông Hồ, trên khúc đường Chi Lăng đó nên ông chạy ngay về nhà để thay quần áo, tắm rửa. Có một điều là chắc trước đó ông đang mua bán gì đó với ai nên đang giữ một số tiền lớn trong túi, vì trong tình trạng cấp bách nên không kịp về nhà cất tiền, ghé nghỉ mát luôn nên mới có sự việc như vậy…Mình vẫn còn nhớ rỏ ông, người rất cao lớn và nước da hơi đen sạm kiểu người gốc Khmer…Không biết sau đó ông có còn trở lại để làm cho xong cái việc mà ông đang mới bắt đầu mà chưa làm xong trọn vẹn…

Những câu chuyện vui trong sinh hoạt của những căn nhà nghỉ mát ở Hà Tiên chắc có rất nhiều, đó là điều gây thêm ý nhị cho một lối sống rất tự nhiên và đơn giản của dân chúng Hà Tiên. Cứ như thế mà dòng đời trôi đi êm ả của một Hà Tiên an nhiên, thanh bình…Thế rồi với thời cuộc biến đổi, ngày nay trên bến sông Hà Tiên, trên dòng nước Giang Thành, hình ảnh của ba căn nhà nghỉ mát quen thuộc đã biến mất…, chiếc cầu lót ván và căn nhà vách gỗ hình chữ nhật không còn nữa …, khi ta nhìn xuống dòng sông tự nhiên thấy có một điều gì thiếu vắng… Với cuộc sống hiện tại, có thể nói từ những thập niên 80, 90, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi, sau các biến cố chiến tranh biên giới, nhà cửa và cảnh vật hư hao khá nhiều…Rồi theo tình hình mới, quy hoạch mới, Hà Tiên đã được xây dựng lại, các căn chợ cũ buôn bán hàng tạp hóa, buôn bán hải sản cá tôm cũng đã biến mất đi, ngay cả vườn cây, tiệm quán, nhà thương, trại lính Thành 18, tất cả đều biến mất…Dọc theo mé sông Hà Tiên đường Trần Hầu, chẳng những đã không còn ba căn nhà nghỉ mát đã một thời là nơi phục vụ cho dân chúng Hà Tiên, mà nhà cửa quán xá được xây cất lên từ ngay chân đồi Pháo Đài kéo dài tới khu Đài Kỷ Niệm xưa kia, nhà tiệm cao ngất che cả mặt tiền nhìn ra cửa biển…, Dọc đường đi mé sông không còn hàng dừa phơi bóng tạo cảnh thơ mộng như ngày xưa…Tuy nhiên nếu có một điều tốt đẹp so với quá khứ, đó chính là sự cải thiện sinh hoạt nhà nghỉ mát, hiện tại nhà nhà đều có tiện nghi riêng, không còn ai phải đi xuống viếng Đông Hồ như ngày xưa, dù cho có mất đi một thú ngắm trăng thanh, gió mát, nhưng với cuộc sống mới và với tiện nghi mới dĩ nhiên đời sống sẽ tốt đẹp hơn nhiều…Có tiếc chăng là đàn em con cháu sau nầy, không còn ai biết được Hà Tiên có một thời vài chục năm, sinh hoạt có khác đi rất nhiều so với bây giờ, đó chỉ mới nói là về mặt đi thăm nhà nghỉ mát…Cũng như cây bút Quang Nguyên đã viết trong bài có nhắc ở phần đầu: « Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào… ».

Thật vậy, tuy là hiện tại ta không còn thấy ba căn nhà thủy tạ để nghỉ mát trên bến sông Hà Tiên, nhưng nếu các bạn có dịp đi tàu trên kênh Hà Tiên-Rạch Giá, hay dọc theo đường ra biên giới phía Thạch Động, theo các rạch nhỏ, các bạn sẽ thấy còn rất nhiều những căn nhà nghỉ mát đơn lẻ,  cất bằng ván hay lá dừa thô sơ, đa số là không có lợp mái, chỉ có một ngăn nhỏ, có khi trên miếng ván che phía mặt trước còn có ghỉ dòng chữ bằng phấn trắng « Có Wifi » …!! Cách đây vài năm, khoảng năm 2015 mình có thấy một bài báo trên báo điện tử tiếng Việt có đăng bài: « Cầu tõm dày đặc trên tuyến kênh Rạch Giá- Hà Tiên »…. ( Lại có thêm một từ ngữ mới đặt tên theo tính chất tượng thanh…!!).

Paris, viết xong ngày 20/03/2022. Trần Văn Mãnh

Hình ảnh xưa căn « nhà nghỉ mát vị trí 1 », trên đường Trần Hầu và ngay đầu đường Nhật Tảo (Hà Tiên). Phía xa hơn là đồi Pháo Đài Kim Dự. Nguồn hình: Nguyễn Bích Thủy.

Một tấm ảnh khác chụp căn « nhà nghỉ mát vị trí 1 », trên đường Trần Hầu và ngay đầu đường Nhật Tảo (Hà Tiên). Phía xa ta cũng thấy đồi Pháo Đài Kim Dự. Phía dưới ảnh là lề đường sân trước khách sạn Lâm Văn Cao (khách sạn không thấy trong hình). Nguồn hình: Lưu Như Việt 1971-1972

Hình cận cảnh cho thấy căn « nhà nghỉ mát vị trí 1 », trên đường Trần Hầu và ngay đầu đường Nhật Tảo (Hà Tiên). Nguồn hình: Lưu Như Việt 1971-1972

Hình ảnh xưa căn « nhà nghỉ mát vị trí 2 », trên đường Đông Hồ (Trần Hầu nối dài), phía xa là ngọn núi Tiểu Tô Châu, nhìn lên đường là trụ sở Xã Mý Đức Hà Tiên. Nguồn hình: Trần Văn Mãnh, thập niên 70.

Hình cận cảnh cho thấy căn « nhà nghỉ mát vị trí 2 », trên đường Đông Hồ (Trần Hầu nối dài), phía xa là ngọn núi Tiểu Tô Châu, nhìn lên đường là trụ sở Xã Mý Đức Hà Tiên. Nguồn hình: Trần Văn Mãnh, thập niên 70.

Hình ảnh xưa căn « nhà nghỉ mát vị trí 3 », căn nhà thuộc loại tốt nhất trong ba căn nhà nói trong bài, ở trên đường Đông Hồ nối dài, nhìn lên mặt sau vườn cây trái của Chi Bưu Điện, ở đoạn giữa hai con đường Chi Lăng và Mạc Cửu, Hà Tiên. Phía xa là ngọn núi Tiều Tô Châu, cây dừa nầy là nơi người đi nghỉ mát thường hay dựng xe đạp. nguồn hình: HMO.