Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Publicités

Kẹo Thầy ! (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời ở Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta, hình như là truyền thống, vào những ngày cận Tết như những ngày hôm nay, lớp học rất vui vì học thì ít mà chơi thì nhiều…Thật vậy vào những ngày cuối năm cận tết, học trò có chứng « đòi kẹo » mặc dù tuổi đời đã qua rồi cái thuở « ngậm kẹo »…Muốn « đòi kẹo » cũng không phải dể, phải « đấu tranh » dử dội mới được đó thầy cô và các bạn ạ…Mà đấu tranh như thế nào, chỉ cần có cái « họng » thật to để kêu gào lên hai tiếng « KẸO THẦY » (dỉ nhiên là nếu giờ học của cô thì phải kêu to « KẸO CÔ »..!! Có lúc gặp thầy hơi dể tánh thì đạt được kết quả nhanh chóng, nhưng thường thì quý thầy để cho chúng ta kêu gào thảm thiết, kêu đến muốn khàn cả cổ họng mới đồng ý cho tiền và trong lớp cử một hai bạn chạy xe nhanh ra chợ mua kẹo và nhân tiện đem đàn trống đến trường để ca hát giúp vui trong lúc ăn kẹo…Lớp nào cũng vậy, đó là truyền thống, nhưng đặc biệt là lớp của bạn Trương Thanh Hùng có cái may mắn là các bạn nam không cần « làm việc » nhiều vì có một đội nữ « xung phong » chuyên ngành « đòi kẹo » rất hiệu lực, theo như bạn Hùng kể lại thì đội nữ đó cũng khá đông và trưởng đội không ai khác hơn là cây bút thơ văn rất nỗi tiếng của Blog chúng ta, đó là bạn Trang Lệ Thủy…Vậy mời thầy cô và các bạn theo dỏi quá trình « đòi kẹo » của lớp bạn Trương Thanh Hùng nhé…(Viết lời nhập: Trần Văn Mãnh)

KẸO THẦY

Khi nói “Nhất quỉ nhì ma, thứ ba học trò”, chúng ta hay nghĩ rằng đó là những học sinh nam, nhưng thực ra thì các bạn nữ cũng chẳng hề thua kém. Xin kể về một số bạn nữ trong lớp tôi (Đệ thất năm học 1965-1966 đến lớp 11 năm học 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên) để chứng minh đây là chuyện có thật.

Trương Thanh Hùng lúc lứa tuổi còn « đòi kẹo » ở trường…

Tôi không nhớ rõ trong lớp mình hồi đệ thất có bao nhiêu bạn nam, bao nhiêu bạn nữ, nhưng những gương mặt nữ trong lớp còn để lại ấn tượng trong tôi khá đậm là Trang Lệ Thủy, Trịnh Xuân Tài, Nguyễn Ngọc Lê, Nguyễn Thúy Vân, Trần Yến Phượng, Phạm Thúy Phượng, Lâm Thị Lan, Dương Hà, Trần Thanh Tuyên, chị Mai (Nhà ở góc đường Chi Lăng-Phương Thành), Trần thị Phương Nhu, Châu Ngọc Mỹ, Lâm Xuân Mỹ, Hồ Thị Kim Hoàn. . . Trong đó có những bạn rất hiền lành, mà điển hình là Phạm Thúy Phượng và có một nhóm “quậy” tưng bừng, đứng đầu là Trang Lệ Thủy.

Trang Lệ Thủy, trưởng nhóm « quậy » của lớp Trương Thanh Hùng…!!

Đến năm học lớp 10 thì hầu hết các bạn đều chững chạc vì tự thấy mình đã là “người lớn”, đồng thời phải lo học để qua năm sau thi tú tài. Còn những năm trước đó thì khỏi nói, ít có “em” nào không quậy.

Có một chuyện mà tôi không thể quên được, đó là chuyện “đòi kẹo” vào cuối năm. Không biết các lớp khác có không, nhưng riêng lớp tôi thì năm nào cũng vậy, cứ vào những buổi học cuối cùng trước khi nghỉ tết thì cả lớp nhao nhao đòi thầy cô phải cho tiền mua kẹo, thường thì thầy cô cho khoảng 100, 200 đồng đi mua kẹo về chia nhau ăn rồi ca hát. Nếu thầy cô không cho hoặc chậm cho thì cả lớp cùng hò “Kẹo thầy, kẹo thầy. . . Thầy kẹo, kẹo thầy. . .”. Không hiểu sao các bạn nam của chúng tôi dù phá phách cũng rất dữ, nhưng trong chuyện này lại hiền. Người lĩnh xướng chuyện đòi kẹo chính là chị Trang Lệ Thủy bởi chị là trưởng lớp. Có những bạn ủng hộ hết sức nhiệt tình là Dương Hà, Ngọc Lê. . . Khi chị Lệ Thủy cất tiếng “kẹo thầy” thì cả lớp cùng hưởng ứng đến khi nào thầy cô cho mới thôi.

Lớp học của Trương Thanh Hùng, niên khóa 1968-1969, lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »…(Trường Trung Học Hà Tiên)

Sau khi mua kẹo về thì phát động phong trào văn nghệ, nhóm “tam ca” của chị Thủy gồm chị Thủy, Dương Hà và một chị nữa (mà tôi không nhớ là ai) bắt đầu bằng bài ca “Con sáo về quê”, các chị đồng thanh hát “Con sáo, con sáo về quê/ Về quê, về quê ăn tết/ Thịt kho dưa giá, bánh mì phô mai. . .”. Chỉ bấy nhiêu thôi mà cứ lặp đi, lặp lại cùng với tiếng cười rộn vang. Sau đó, Dương Hà thường hát bài “Rừng lá thấp” rồi mới đến các bạn khác.

Dương Diễm Hà hay ca bài « Rừng Lá Thấp », bạn cùng lớp Trương Thanh Hùng

Ôi! Nhớ sao những ngày hết sức trong sáng của tuổi học trò ở ngôi trường Trung học Hà Tiên.

Nhưng trong chuyện này cũng có gặp phải vấp váp, xin kể ra đây để các bạn hồi tưởng, chứ rút kinh nghiệm thì không được rồi.

Tôi nhớ vào năm học đệ tứ, vào giờ học của Thầy Út, có lẽ thầy sợ không kịp chương trình nên thầy đã không cho kẹo mà cứ dạy tiếp. Chị Thủy cũng lĩnh xướng đòi kẹo không để cho thầy dạy. Được một lúc, Thầy bực quá, tôi nhớ thầy giận đến đỏ mặt móc ra 200 đồng cho rồi bước ra khỏi lớp. Chuyện này làm cho tôi cứ áy náy mãi. Nhưng có lẽ ở tuổi học trò vô tư quá nên tất cả lớp cũng đều chia kẹo rồi ca hát như không có chuyện gì xảy ra vậy.

Thầy Nguyễn Văn Út dạy Trung Học Hà Tiên ngày xưa trong những năm 1960-1970

Không biết bây giờ thầy Út (Nguyễn Văn Út) đang ở đâu? Nếu Thầy đọc được chuyện này, xin Thầy cho phép em thay mặt các bạn gởi đến Thầy một lời xin lỗi và xin thầy bỏ qua cho hành động nông nổi của tụi em.

Tác giả bài viết: Giá Khê Trương Thanh Hùng (22/11/2017)

 

 

 

 

 

 

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hùng, Dương Phương Hà

Em yêu thầy ! (Hồ Thị Kim Hoàn)

Giới thiệu bài « Em yêu thầy » của tác giả Hồ Thị Kim Hoàn

Thầy cô và các bạn thân mến, không biết ngày xưa lúc còn đi học thầy cô như thế nào nhưng ở trường Trung Học Hà Tiên thì học trò rất đa tình, nhất là học trò nữ….(đúng không các bạn nữ sinh Trung Học Hà Tiên, nếu không đúng thì hãy đính chánh nhé vì mình có bằng chứng hẳn hoi sẽ đem ra đối chiếu ngay tại đây cho các bạn xem…). Vấn đề là cho tới ngày hôm nay không ai khám phá ra được nhân vật « thầy » trong câu chuyện của cây bút quen thuộc của chúng ta là bạn Hồ Thị Kim Hoàn, « thầy » nào được diểm phúc lọt vào mắt xanh (không! mắt đen vì nhân vật nữ là người Việt Nam mà) của em học trò 14 tuổi…Nếu thầy cô và các bạn đọc bài kỷ, sẽ thấy có một vài điểm giúp cho ta trong công cuộc tìm tòi sự thật…: đó là thầy nào đã dạy năm lớp Đệ Tứ của cô bé 14 tuổi trong câu chuyện và cô ấy đã đứng hạng nhứt trong hai kỳ thi lục cá nguyệt, dể quá chỉ cần nhớ lại cô ấy đứng nhứt trong môn nào thì có thể suy ra thầy nào dạy môn đó,…!!. Thêm một chi tiết nữa là vị thầy đó lại rời khỏi Hà Tiên trong ba tháng hè…, thôi hãy để đọc giả tự tìm tòi suy luận và nếu có kết quả nhớ viết « nhận xét » dưới bài nầy nhé,…Dù sao thì « cuộc tình to lớn của thập niên 60 » đó cũng đã tan biến nhanh đi như bọt biển Hà Tiên sau vài tuần lễ « đau khổ »….Đúng như tác giả đã viết, thà rằng như vậy để cho « mối tình » ấy vẫn đẹp, ngây thơ, trong trắng và trở thành một kỷ niệm dễ thương và như thế chúng ta mới có một câu chuyện thật vui, thật nhẹ nhàng điểm tô cho quảng đời học sinh đầy mộng mơ…

(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Em yêu thầy

Xin đừng hỏi “thầy nào?” nhé.
Nếu tôi nói:
– Thầy hiền lành nhất, dáng cao cao. Thì bạn sẽ đoán là Thầy Chiếu.
– Còn tả thầy vui vẻ, trẻ đẹp, nói giọng miền trung. Thì bạn biết ngay đó là thầy Cầm.
– Thầy đạo mạo, hay mặc áo sơ mi màu xanh. Đó là thầy Hậu.
– Thầy nổi tiếng đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt đượm tình. Còn ai ngoài thầy Ẩn.
– Thầy đã có vợ rồi ư. Đó là thầy Trí, thầy Thành, thầy Hiển.
Tôi sẽ không khai tên của thầy đâu. Đánh chết cũng không khai!
Chỉ xin kể cho các bạn nghe thôi.
Năm học đệ tứ, 14 tuổi, tôi đã biết yêu!

Cô học trò 14 tuổi học lớp Đệ Tứ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Tôi không yêu các bạn trai cùng lớp. Cũng không để ý các anh học lớp trên. Mà tôi nghe lòng xao xuyến trước hình ảnh của một vị giáo sư. Dưới mắt tôi, thầy là thần tượng, học cao, hiểu rộng. Tôi ghiền nghe giọng giảng bài của thầy. Hôm nào thầy vắng mặt, tôi buồn lắm, hồn phách tôi phiêu lạc nơi nao!

Khi yêu ai, mình cũng muốn đối tượng chú ý tới mình. Tôi không đẹp, không có gì đặc biệt để gợi sự chú ý của ai cả. Vậy thì làm cách nào đây?

Tôi nghĩ ra rồi: Tôi phải gắng học! Tôi phải hạng nhất trong môn học của thầy dạy, may ra thầy sẽ chú ý đến tôi. (Cũng chẳng cần nghĩ, thầy chú ý tôi để làm gì? :))

Thế là suốt năm học ấy, tôi đặc biệt cố hết sức vào một môn học. Kết quả là tôi đã đạt được mong muốn: Tôi đứng hạng nhất trong 2 kỳ thi lục cá nguyệt.

Thế nhưng than ôi, thầy cũng không chú ý đến tôi chút nào. Tôi cũng vẫn là một cô học trò bình thường như bao học trò khác của thầy mà thôi.

Tôi không dừng lại. Tôi tìm cách đến nhà thầy. Thường thì giả vờ hỏi bài, chuyện trò bâng quơ. Chỉ cần nhìn thấy thầy thôi, là tôi đủ vui vẻ cả ngày rồi.

Mùa hè năm ấy tôi buồn lắm. Sắp xa thầy đến 3 tháng, làm sao tôi chịu nỗi đây?

Khi thầy đi, tôi tưởng đất trời như sụp đổ. Không gian xứ Hà chợt hiu hắt hơn bao giờ:

Mây chết lặng chẳng buồn trôi
Khung trời mùa hạ chơi vơi nỗi sầu
Biển đong đưa sóng rì rào
Cảm thông cô bé nát nhàu tâm tư.

Đúng là tôi bị… thất tình rồi! Tôi biếng ăn, biếng ngủ. Ai rủ đi đâu cũng chẳng thèm đi. Tôi thấm thía 2 câu thơ của Xuân Diệu:

“Người đi một nửa hồn tôi chết
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.”

Những ngày đầu mùa hè của tôi như thế đấy. Nhưng rồi “thời gian là liều thuốc nhiệm mầu” Cho đến khi hồn tôi dường như sống lại, tôi dần dần trở về với cuộc đời bình thường.

Tôi nhẩm tính xem nửa hồn tôi đã chết trong bao lâu? : Vỏn vẹn 4 tuần lễ! Và rồi sau đó, tôi đã quên thầy lúc nào không hay.

Chao ôi, sao tôi nghe người ta nói khi mình yêu ai thì “ngàn đời vẫn còn nhớ, muôn kiếp không hề phai…” Thế sao tình yêu của tôi lại… yểu mệnh thế này?

Thì ra đây chẳng phải là tình yêu. Đây chỉ là một thứ tình lãng mạn, bồng bột của tuổi học trò. Đến như vũ bão và đi thật âm thầm.

Lại thấm thía câu: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Nhưng tình mình có “họp” đâu mà “dang dở” cơ chứ? Thôi thì cứ xem là mối tình ấy rất đẹp, thơ ngây và trong trắng. Một kỷ niệm dễ thương của tuổi học trò.

Hồ thị Kim Hoàn

July 8, 2017

Hình ảnh: Hồ Thị Kim Hoàn, Internet

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy liếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… Chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu Gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… Là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham.

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Tin tức ngày nay (Vương Đình Phước, Vương Đình Lộc)

Thầy cô và các bạn thân mến, nhân dịp mình đăng tin hỏi thăm về một số bạn bè học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, có hỏi thăm về hai anh em: Vương Đình Phước và Vương Đình Lộc. sau đó được các bạn đồng hương Hà Tiên cho biết tin tức như sau:

Vương Đình Phước là bạn học cùng lớp với mình (Trần Văn Mãnh) từ những năm bậc Trung Học, có một lúc sau năm 1975, Phước cũng có đi đổi nước từ Ao Sen đến các nhà tư nhân (một nghề rất quen thuộc và phổ biến ở Hà Tiên ngày xưa). Sau đó được biết tin là Phước về sống ở khu phố 3, phường Bình San, đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên.

Vương Đình Lộc học sau mình hai năm, tức Lộc học chung lớp với các bạn Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt,…..Được tin do bạn Trương Thanh Hào cho biết: Vương Đình Lộc hiện đang ở Sài Gòn, đường Nguyễn Đình Chiểu, gần chợ Bàn Cờ. hai vợ chồng làm nghề bán rau cải, vợ của Lộc bán rau quả trong con hẻm gần chợ. Hiện tại sức khỏe của bạn Lộc không được khả quan, đã có bị tai biến một lần nên đi đứng khó khăn, bạn Lộc đang theo phương pháp châm cứu và cũng có nằm ở bệnh viện Sài Gòn.

Bạn Vương Đình Lộc đang sinh sống tại Sài Gòn, hình năm 2016 do bạn Trương Thanh Hào cung cấp.

Xin cám ơn tất cả các bạn đã thông tin về bạn bè cùng trường ngày xưa, cám ơn bạn Thái văn Hai và Trương Thanh Hào đã cho tin chính xác về bạn Vương Đình Phước và Vương Đình Lộc.

 

Ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn

Thầy Cô và các bạn thân mến, bài viết nầy phần lớn dựa trên trí nhớ, một số tài liệu và hình ảnh xưa, và nhất là cũng dựa trên sự phỏng đoán chủ quan của mình, vì thế những điều viết trong bài cũng có thể là một sự kết luận chủ định sai với quá trình quá khứ, nhất là về địa chí nơi chốn của căn nhà sẽ nói trong bài…Tuy nhiên mình cũng hy vọng rằng bài viết sẽ đúng phần nào, mong thầy cô và các bạn, nhất là các bậc học giả đi trước, người kỳ cựu Hà Tiên đọc và chỉ giáo những sai lầm nếu có,..xin thành thật cảm tạ quý vị.

Ngày xưa trong những năm 60-70, lúc còn là học sinh của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, mình thường đi chơi thân với một số bạn cùng lớp, đúng là các bạn cùng lớp, vì với nhóm bạn nầy mình đã chơi thân ngay từ lúc vào lớp Đệ Thất (niên khóa 1964-1965) cho tới lúc năm lớp cuối của trường là năm học lớp Đệ Nhị (1969-1970)…Nhớm bạn đó gồm: Lý Cui (thường làm lớp trưởng), Lý Văn Tấn (Tấn Lý), Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài,…v….v…. Còn nhiều bạn nữa…Những năm đầu học bậc Trung Học, mình thường chơi đàn cùng với các bạn: Lý Cui, Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến…hay nói đúng hơn là mình theo học đàn guitare với bạn Lý Cui vì trong những năm 60 đó, phong trào chơi nhạc và chơi đàn rất thịnh hành trong giới học sinh.

Bạn Lý Văn Tấn có hai căn nhà mà nhóm bạn chúng mình rất thường lui tới chơi, căn nhà thứ nhất là của Ông Ngoại bạn Tấn, nhà ở ngay tại mé sông Đông Hồ, kế trụ sở xả Mỹ Đức, nếu từ dảy nhà ngủ Tô Châu đi về phía Đông Hồ thì sẽ gặp nhà Ông Ngoại bạn Tấn trước rồi sau đó là trụ sở xả Mý Đức. Xéo xéo trước nhà Ông Ngoại bạn Tấn bên mé sông chính là nhà vệ sinh, cất trên sông và có bắc cầu bằng cây đi ra…Nói đến đây phải giãi thích một sự kiện nầy cho các đàn em và người đến Hà Tiên ở sau nầy rỏ: ngày xưa nói đến xả Mỹ Đức tức là nói phường Đông Hồ, phường Pháo Đài và phường Bình San bây giờ…Vì ngày xưa Hà Tiên là Quận lỵ nên chia thành nhiều xả, ngay tại chợ Hà Tiên đó là xả Mỹ Đức, tất cả người nào sinh sống ở chợ Hà Tiên đều thuộc về hành chánh xả Mỹ Đức. Chính mình trong khai sanh ghi là nơi sanh: Xả Mỹ Đức. Người ở chợ Hà Tiên rất gắn liền với xả Mỹ Đức, mỗi khi phải thị thực chử ký trên bản sao là phải xuống trụ sở xả Mỹ Đức để xin chử ký của ông Xả Trưởng. Có nhiều đời Ông Xả trưởng xả Mỹ Đức, nhưng ấn tượng nhiều nhất là Bác Hai Hồ Văn Điệp (người cùng tuổi thì thường kêu là Anh Hai, người con cháu thì thường kêu Chú Hai). Còn người tiếp nhận giấy tờ để trình lên Ông Xả Trưởng ký tên thì có một thời là chị Nguyễn Thị Hoa, cô thơ ký ở Xả Mỹ Đức, người đã giúp ích rất nhiều cho chúng ta lúc phải đi thị thực chử ký ở dưới Xả Mỹ Đức…Mình còn nhớ hồi đó ở xả Mỹ Đức thì có chị Hoa còn cô thơ ký trên văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên thì là chị Trần Ý Chinh, chị của Trần Ý Hui học cùng lớp với mình…Có một lúc mình cũng phải đem giấy tờ bản sao lên tới trên Quận đưa cho chị Ý Chinh để xin chử ký thị thực của Ông Quận Trưởng, đúng hơn là chính Ông Quận Phó thường ký tên,…Mình vẫn còn giữ một số giấy tờ bản sao do Ông Phó Quận ký tên: Lê Văn Ca (là ba của bạn Lê Mai Hoa học cùng lớp Đệ Thất với mình). Hiện nay vì Hà Tiên lên bậc Thị Xả nên xếp thành phường và xả Mỹ Đức bây giờ là xả ở ngay tại khu Thạch Động bây giờ (trong khi hồi xưa thì lại kêu là Ấp Thạch Động…).

Trở lại nói về ngôi nhà thứ hai của bạn Tấn Lý, như trên đã nói ngôi nhà ở dưới Đông Hồ là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý, còn ngôi nhà chính của ba má bạn Tấn Lý thì ở đường Mạc Thiên Tích dưới xóm Cầu Câu ngày xưa. Nếu từ chợ đi theo con đường Lam Sơn ra phía đường đi Mũi Nai, các bạn sẽ gặp ngả tư Lam Sơn-Mạc Thiên Tích, quẹo bên trái để đi theo con đường Mạc Thiên Tích về hướng Pháo Đài một lúc bạn sẽ gặp nhà của bạn Tấn Lý, nhà bên tay trái, trước khi đến nhà bạn Tấn Lý bạn sẽ gặp nhà của bạn Bùi Văn Tư xéo xéo bên tay phải. Còn nếu tiếp tục đi theo đường Mạc Thiên Tích một lúc nữa cũng về phía Pháo Đài thì sẽ gặp nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh bên phải.  Căn nhà của ba má bạn Tấn Lý đó rất rộng lớn, lợp « tôn », và rất dài từ trước ra tới phía sau. Hồi xưa người ta thường kêu ba của bạn Tấn Lý là Chú Tư, má của bạn Tấn Lý thường đi theo ghe bán hàng Hà Tiên -Rạch Giá, và cũng thường tới lui nhà mình giao thiệp với hia Tư chị Tư của mình (hia tư tên ở nhà là Hia Dảnh, tên giấy tờ là Lý Văn Nhiên, chị Tư bạn dì với mình tên ở nhà là chế Thìn, tên giấy tờ là Lê Thị Phượng, hai vợ chồng không có con, có tiệm may quần áo ngay ở nhà mình và thường qua núi Tô Châu theo học đạo với các nhà tu sĩ theo môn phái Khuất Thực, vì thế má của bạn Tấn Lý cũng theo anh Tư, chị Tư để qua Tô Châu học đạo với các nhà sư).

Hồi xưa đó, nhà của bạn Tấn Lý đường Mạc Thiên Tích nầy cũng là trụ sở của nhóm chơi dợt nhạc của mình, gồm có Lý Cui, Lý Văn Tịnh, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Trần văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh. Tuy nhà mình ở ngay đường Bạch Đằng tại chợ Hà Tiên đi tới nhà bạn Tấn Lý cũng khá xa nhưng ngày xưa mình thường hay thả bộ từ nhà mình tới nhà Tấn Lý để họp bạn chơi nhạc, và ngay cả cũng thường lội bộ cho tới nhà của bạn rất thân là Nguyễn Ngọc Thanh để rủ Thanh đi chơi…

Đã định xong vị trí nơi chốn của hai căn nhà của bạn Tấn Lý rồi bây giờ mình xin vô đề tài chính là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở xóm Đông Hồ. Ngày xưa nhóm bạn mình cũng thường kéo nhau tới nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở Đông Hồ đó để nhóm bạn nói chuyện chơi và cũng để chơi nhạc đàn ca…Ông Ngoại bạn Tấn Lý lúc đó cũng đã khá cao tuổi rồi, chiều chiều ông thường đem một túi xách nhỏ bày hàng bán trên vỉa hè trước tiệm cơm Xuân Thạnh, nhìn ra phía đường Bến Trần Hầu. Hàng bán của ông là một số ống « pipe » hút thuốc, ngày xưa Hà Tiên thường có nhiều người bán ống « pipe » hút thuốc làm bằng một loại cây dưới biển có màu đen huyền rất đẹp. Ống « pipe » hút thuốc tức là loại ống để mình gắn một điếu thuốc lá vào đầu ống và ngậm đầu kia mà hút, ngày xưa cách hút thuốc lá bằng ống « pipe » đó rất thịnh hành, có nhiều ống « pipe » làm bằng rể cây dưới biển có hình thù cong quẹo rất lại và đẹp mắt…Mấy ông bán hàng nầy thường trải một chiếc khăn tay vuông vắn ngay trên lề đường Trần Hầu và bày các ống « pipe » ra xắp xếp rất thứ tự đẹp mắt, lủ nhóc con như mình thời đó thường hay ngồi trước mặt gian hàng của mấy ông để nhìn ngắm và xem người ta đến hỏi mua, kèo kỳ giá cả…Sau một thời gian bán ống « pipe », Ông Ngoại bạn Tấn Lý chuyển sáng nghề cho quay số để bán đồ chơi trẻ nít. Mình cũng thường là bạn hàng của ông trong món hàng nầy, Ông thường nói với nhóm con nít mình thường đứng bu xung quanh ông: « Trật thì ăn kẹo, trúng lấy hết cái nầy nè..!! »…

Thao tài liệu sách vở và ngay chính ngày xưa khi nhóm bạn học trò mình tới chơi nhà Ông Ngoại của bạn Tấn Lý, mình đã có nghe nói căn nhà nầy ngày xưa nữa chính là nhà của thi sĩ Đông Hồ, ngay chính căn nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý là cứ điểm của « Trí Đức Học Xá » một loại trường học do Ông Đông Hồ sáng lập ra. Lúc đó chi nghe nói như vậy thôi, trí tò mò cũng dừng lại ở điểm đó chỉ biết là ừ nhà nầy hồi xưa là nhà của Ông Đông Hồ,…không ai hỏi thêm chi tiết tại sao Ông Đông Hồ không giữ lại căn nhà nầy hay không ai hỏi gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà của Ông Đông Hồ trong hoàn cảnh nào…??!! Tuy nhiên tất cả các bạn trong nhóm cũng lấy làm thú vị vì hiện mình đang tới lui chơi căn nhà xưa của Ông Đông Hồ…

Bây giờ tình cờ đọc bài bản nghiên cứu trên mạng mình được biết thêm nhiều chi tiết như sau: Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) sinh ra tại Hà Tiên, có một thời xưa ở Hà Tiên, ba mẹ mất sớm nên có người Bác ruột nuôi ông. Người Bác tên là Lâm Tấn Đức (hiệu là Hữu Lân 1866-1934), là người anh ruột của Ông Lâm Tấn Thoại cha của thi sĩ Đông Hồ. Ngôi nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý đầu tiên chính là căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức. Thời đó có một bậc Tiền Bối tên là Ngô Văn Chiêu là một học giả cao kiến, vào năm 1920 đổi về tình Hà Tiên làm việc, Ông Ngô Văn Chiêu thường lui tới nhà ông Lâm Tấn Đức để nói chuyện đạo và cầu cơ, ngoài ra ông Chiêu cũng thường lên đến Thạch Động để cầu cơ. Cơ về cho ông nhiều bài thơ và trong thơ có ý khuyên ông đi tu. Về sau ông Ngô Văn Chiêu đi tu đắc đạo và lập ra đạo Cao Đài, chính ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)  là một bậc tiền bối đầu tiên của đạo Cao Đài.

Vì thi sĩ Đông Hồ ở với người Bác nên ở ngay tại căn nhà của ông Bác dưới bờ sông Đông Hồ, cho đến năm 1926-1934 ông Đông Hồ lập ra Trí Đức Học Xá trụ sở ở ngay tại căn nhà của ông đang ở…Về sau thi sĩ Đông Hồ về Sài Gòn viết sách, làm báo và được mời giảng dạy ở trường Đại Học Sài Gòn…Không biết từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào căn nhà của Bác ông Đông Hồ, (sau là nhà của ông Đông Hồ) lại trở thành nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý, tức là gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà đó từ lúc nào thì mình không được biết rỏ…

Vậy là từ lúc những năm 1960-1970, mình cùng nhóm bạn học với bạn Lý Văn Tấn tới lui căn nhà Ông Ngoại bạn Tấn đó, cũng biết là đây là nhà xưa lúc trước của ông Đông Hồ nhưng không tìm hiểu gì thêm về lịch sữ căn nhà nầy…

Vài lời về bạn Lý Văn Tấn: Tấn Lý học chung lớp với mình suốt cả thời gian học Trung Học Hà Tiên. Bạn Tấn người cao lớn, rất vui tính, khi nói chuyện bạn Tấn thường hay cười to vui vẻ. Ngày xưa lúc còn đi học Tấn Lý có để ý một cô thiếu nữ người xóm Đông Hồ, tên là Diệu. Diệu là một cô gái dáng thon cao, tóc dài rất đẹp…Nhà Diệu ở xóm Đông Hồ đường Chi Lăng. nếu tính từ ngả tư Tô Châu- Chi Lăng đí về phía mé sông Đông Hồ thì nhà Diệu ở bên tay phải, đối diện với nhà Má Hai của mình ngày xưa (tức là nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, sau đó nhà Má Hai bán đi và mua qua căn nhà đường Tô Châu ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng, sau nữa nhà nầy do gia đình ông Quách Ngọc Bá mua lại). Cuối cùng thì bạn Tấn Lý cũng cưới được cô gái xóm Đông Hồ  tên là Diệu đó, hai người thành vợ chồng đến ngày nay..

Rốt cuộc các bạn biết sao không, mình cũng không rỏ tình tiết nhưng về sau nầy, rất xa sau năm 1975, người vợ cuối cùng của ông Đông Hồ là bà Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội từ Sài Gòn và sau khi ông Đông Hồ mất đi, vào năm 1995 bà trở về Hà Tiên mua chuộc lại căn nhà xưa và xin phép cất lại thành « Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ »…thật là kỳ diệu thay, thế là căn nhà xưa bao nhiêu năm về trước của người Bác chồng là Ông Lâm Tấn Đức đã hoàn trở lại thành nhà lưu niệm để tưởng nhớ thi sĩ Đông Hồ, người mà thời nhỏ cũng đă từng ở trong căn nhà nầy…Tất cả những tài liệu, tình tiết, chi tiết về những biến chuyển nầy các bạn nếu tò mò muốn tìm hiểu , mời các bạn tra cứu trên mạng sẽ được đọc rỏ hết cả, ở đây mình không nói hết chi tiết ra chỉ cốt yếu nói về căn nhà của một người bạn học cùng lớp ngày xưa, căn nhà mà mình và nhóm bạn mình rất thường lui tới một thời trẻ tuổi, để vui chơi đàn ca văn nghệ…

Tóm lại mình viết bài nầy vì mình đã bị ấn tượng rất mạnh khi tìm hiểu được lai lịch căn nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý và nhất là khi mình thấy được bức hình căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức đăng trong một bài báo về lịch sữ ông Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra Đạo Cao Đài, khi nhìn thấy hình căn nhà trong bài viết và có chú thích là nhà của Ông Đông Hồ từng ở ngày xưa, mình rất hoang mang đồng thời cũng rất thú vị và cũng không kém phần xúc động.. vì căn nhà đó là nơi mà mình và các bạn đã một thời lui tới vui chơi. Nếu không may những điều mình quả quyết và kế ra đi là không đúng sự thật thì cũng rất buồn nhưng mình cũng sẽ chấp nhận sự sai lệch của mình, mong các bạn và các bậc học giả cao tuổi có kinh nghiệm sống ở Hà Tiên vui lòng chỉ bảo cho thêm nhé,..Xin thành thật cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cuối đông 08/01/2018

Trần Văn Mãnh

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm)

Ông Lâm Tấn Đức (hiệu Hữu Lân 1866-1934) là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ và là chủ căn nhà trên

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp phía trước trụ sở xả Mỹ Đức, đường Đông Hồ, gần nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ngày xưa.

Nhà vệ sinh cất trên sông Hà Tiên xéo xéo đối diện với trụ sở xả Mỹ Đức ngày xưa.

Bạn Lý Cui (cầm đàn) đang đệm nhạc cho bạn Lý Văn Tịnh ca bài « Giữa Lòng Đất Mẹ » tại nhà của bạn Lý Văn Tấn trên đường Mạc Thiên Tích ngày xưa

Nhóm bạn đi chơi bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên). Lý Văn Tấn đứng trên cao bìa phải (khoảng những năm 1960-1970)

Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bạn Lý Văn Tấn hiện nay (bên phải và bạn Lâm Hữu Quyền bên trái)

Mặt trong của « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ » ngày nay do nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, vợ của Ông Đông Hồ cất lại trên nền nhà xưa của ông Đông Hồ (cũng là ngay nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý)

Toàn cảnh mặt ngoài  « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ « ngày nay

Hình ảnh: Huệ Nhẫn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Bui Thi Đao Nguyên, B.C,

Tái bút: Được tin em Huỳnh Thị Sáu (học trò Hà Tiên xưa) bổ túc thêm chi tiết như sau: Ngôi nhà của gia đình ông Đông Hồ vẫn thuộc về của ông, trong thời gian ông Đông Hồ đi dạy học ở Sài Gòn thì cho người mướn lại để ở trong căn nhà đó, vì thế ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ở trong căn nhà đó là lúc mướn nhà để ở chớ không phải mua lại. cám ơn em sáu đã giúp thêm chi tiết nầy.

Ngôi chợ Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Lê Phước Dương)

Chợ Hà Tiên.
(Tuổi thơ lêu lỏng)

Không ai biết Chợ Hà Tiên có từ khi nào chỉ biết khi mình thường ra Chợ ngồi xem chừng hàng hóa cho Mẹ đi đón ở bến sông mua rau cải từ rẩy ra lúc ban sáng sớm mờ sương là đã được 5 ,6 tuổi rồi…biết mua bán gì đâu chỉ là ngồi đó xem chừng cho có mà thôi .

Chợ Hà Tiên nằm theo trục Bắc Nam ở giửa là dãy nhà lồng, đầu hướng Bắc bên kia đường là phố 3 căn bìa phải là tiệm cà fê Dũ Long, giửa là tiệm thuốc Bắc Sanh Hoạt và kề bên bìa trái là nhà ông Tàu Lái …Có 2 kiosques đối xứng nhau phía đuôi chợ nhà lồng một bên là bán bánh kẹo Nhiêu Thạnh một bên là càfê ông Bái , phía ngoài tí là 2 xe đá bào chè đậu sirô đủ màu của HiaTăng và ông Lầu Pề .

Đầu chợ về phía Nam có 2 dãy kiosques xây kín phía trong có đường giửa mổi bên có 3 căn đối mặt vào nhau và bên ngoài là mổi bên cũng có 3 căn mà xây mặt ra đường. Kiến trúc đầu chợ mái nhọn phía giửa 2 bên là mái thấp dần .Lưng chừng có một balcon cạn phía trên đó có lúc treo Chân dung ông Ngô Đình Diệm có lúc là mảng tường vôi ngà trắng .

Bên kia đường đầu chợ gọi tên là phố tứ diện , mặt Bắc bán thuốc tây , mặt Tây là quán 3 cô bán đủ thứ đồ da ,rương ,dây nịt, bóp ví , mặt Đông bán báo mặt Nam bán và sữa đồng hồ đều là của ông Minh Xuân .
Đối diện phía bên kia đường Trần Hầu là chợ Cá có kiosque bán thuốc tây Thanh Bình và cho mướn truyện Tàu ,Ta…đủ cả , phía ngoài là con sông và cũng là bến cho ghe xuồng lưới chài ghé lại đưa lên Chợ những gì đánh bắt được…
Cặp hai bên hông chợ một bên về phía Đông là dãy phố Hòa Hiệp, Nam Thiên, Thái Sơn, Phục Hưng, Hiệp Lợi, Xuân Thạnh… (con đường mang tên Tham Tướng Sanh), phía trước có con đường giửa đối xứng 2 bên là sạp hàng đồ tươi rau cải, chạp hụi, gà vịt…bên hông chợ phía Tây là dãy phố bà Ba Góp, Đức Quang, Hải Ký, Khâm Tuyền, Hoa Tân,Thái Dũ, Vạn Ích Đường, Nam Viên, Mỹ Nam… (con đường mang tên Tuần Phủ Đạt), và phía trước đối xứng con đường giửa 2 bên là …đủ thứ đồ ăn sáng trưa chiều tối …( kể sơ thôi chứ đi vào chi tiết thì người đọc sẽ ngủ quên lúc nào mà không hay không biết ).

Có lần buổi sáng không biết là vì thương con hay là có gì vui mà Mẹ cho đi kêu 1 tô hủ tiếu nhỏ (nhỏ 3 cắt lớn 5 cắt) của ông Phan bán trong chợ nhà lồng và dặn dò:

– Con ngồi ăn và coi chừng hàng cho Mẹ!!

Hằng ngày buổi sáng với Mẹ chỉ là khoai lang, khoai mì, bắp hầm, bắp luộc, xôi mặn xôi ngọt…mà nay được tô hủ tiếu là quá đã …xì xụp, rồn rột một hơi là đáy tô đã bóng lưỡng rồi, xém chút nữa thôi là đã nuốt luôn cã lưởi, nhớ lại cái tô hủ tiếu đầu đời ở ngày xưa sao mà ngon quá xá.

Có ai còn nhớ mâm bánh hỏi mở hành thịt luộc tôm đáy rau sống nước mắm tỏi ớt chanh đậu phọng rang giả nhỏ…những cuốn chả giò ngã màu dần từ trắng đến vàng sậm trong chảo mở đang sôi sùng sục được vớt lên, để nguội dần cho vào mâm rồi lấy kéo cắt xéo làm 3, gói chung với ít rau tí bún chấm vào nước mắm pha đưa vào miệng cắn nghe rào rạo, tay kia cầm chén hứng những gì rơi rớt, chã giò chiên của Chị Thu con bà Cẩm Lành là thế …không nơi nào ngon hơn được, …rồi thì bún kèn bún nhâm bà Hai Lô, bánh tầm bì se nước cốt dừa bà Năm Hía, cháo lòng bà Hai Lê, xôi mặn ngọt bà Chín, cháo giò heo, cà ri gà bà Tư Đại, bánh bò, bánh quy, bánh ít, bánh da lợn, bánh củ cải của bà Ba Tểnh, bánh khọt, bánh xèo….ôi thôi đủ thứ bánh ơi là bánh ..rồi chè nếp than, hột me, đậu trắng, chè thưng nước cốt dừa…được bày bán san sát nhau bên chợ bánh hiền hòa Hà Tiên.

Chợ vào ban đêm vui nhất là lúc có đoàn Cải lương về hát (những người mua bán trong chợ nhà lồng thì rầu), xung quanh nhà lồng chợ được che chắn bởi những tấm vải kaki màu cỏ úa được giằng sát đất bởi những cây dầu vuông…Lúc đó những thằng nhóc tì có khi thì được 2, 3 anh thanh niên hè nhau dở cây giằng lên cho đám nhóc chui vào xem, có lúc hát tuồng cũ làm biếng xem thì đi vòng vòng bên ngoài phá phách …Vậy đó mà cứ đi tới lui như bầy ròng ròng cho đến khi giữa tuồng vì nóng nực quá nên được xã giàng…thế là chung vào xem cho đở cơn ghiền.

Rồi khi cơn lạnh tê tê đi qua lúc mà buổi sáng gió mơn man hây hây phía Đông chướng, chiều gió thổi nhè nhẹ phía nồm Nam …mới gần 20 tháng Chạp thôi là đã nghe tiếng pháo chuột lẹt đẹt nổ rồi. Phía bên hông nhà ông Tàu Lái buổi sáng đã có sòng:

– sổ đề 12 con.
– bông vụ 6 mặt.
– hốt me 4 con.
– tài (lớn) xỉu (nhỏ)
– bầu cua cá cọp.

…Buổi chiều dời qua trước tiệm vàng Minh Ngọc và tiệm đồi mồi ông Phan văn Thân.
…Ôi thôi đủ thứ kiểu ăn thua .Lúc đi kiếm mình để tiếp dọn hàng về, Mẹ hay cầm 1 cây roi – nhưng chưa lần nào Mẹ đánh – thì cứ tìm ở những chỗ này là gặp vì mình chỉ là mê xem thôi chứ tiền đâu mà đặt.

Những ngày cận Tết mọi người như hối hả hơn, ăn nhanh hơn đi lẹ hơn làm việc gấp gáp hơn. Chợ dần dần có thêm màu sắc mới, người xa quê trở về rôm rã, chổ này vài bó mai rừng dầy nụ he hé nở, chổ nọ bông vạn thọ rẩy vườn rực rở đỏ vàng, chổ kia cụm dưa hấu ruộng gọi mời với 2 miếng chẻ đôi đỏ ối..Lúc này bán đắt hơn nên ít được đi rong.Thời gian chầm chậm trôi dần, ngày Tết cận kề, năm nay tháng đủ nên ngày 29 Tết đông chợ đêm, bán tối ngày không dọn về mà để sạp hàng nguyên đó, tối đến 2 Mẹ con trãi chiếu cạnh bên quấn mền mà canh mà giữ …Mình thì có ngủ được đâu chút ghé lại sòng bầu cua tí ghé lại sòng tài xỉu…xẹt đi , xẹt về. Mẹ vì cả ngày bán buôn mệt mỏi nên đặt lưng xuống là đã ngáy khò khò mặc tình Tết về tới đâu thì cũng kệ.

Chợ Hà Tiên những ngày cận Tết nhộn nhịp hẳn lên rôm rã hẳn lên …pháo nổ nhiều hơn…không khí đó …cái mùi đó .. cái âm thanh hổn độn đó …cái ân tình đó…chỉ có con dân Hà Tiên là thấy, nghe, ngửi, cảm…được cái Tết đặc trưng của riêng quê hương mình mà thôi.

Chợ sáng 30 hối hả cuống cuồng gấp gáp mới 10 g thôi mà đã thưa dần rồi vắng hẳn…Mẹ con dọn dẹp đi về, xe cây chở đồ cặn nhẹ tênh, năm nay ăn Tết lớn nên đắt hàng 2 túi áo bà ba của Mẹ nhét cứng 2 cọc tiền. Mẹ vui thấy rõ.

Rồi tiếng pháo nổ vang chổ này chổ nọ nhà đó nhà kia để cúng rước ông Bà. Đêm giao thừa tụi nhóc mình sàn sàn tuổi nhau xúng xính bộ đồ mới chạy tới chạy lui nhìn những giây pháo nổ ành đùng của những nhà giàu bổn phố xung quanh chợ mà trầm trồ mà so sánh hơn thua..

Đã qua giao thừa rồi không gian dần yên tĩnh, đám nhóc kéo nhau xuống Đài Kỷ Niệm ngồi nghỉ chân. Ngọn gió Chướng từ ngoài sông mát rượi ùa về thổi bay lá cờ trước nhà ai nghe phần phật …Tết này 7 tuổi rồi, tựu trường phải vào lớp chót,  phải đi học, không còn được lưu linh, lưu địa nữa rồi …

..Nghĩ đến đây chợt thấy Tết năm nay không còn vui nữa …nghe nói học là cái gì đó rất là đáng sợ, rất là ngán ngẫm vì có cả…đòn roi.
Hà Tiên 21/3/2016
Lê phước Dương

Mặt nam của chợ Hà Tiên (trước những năm 1960, lúc còn đang được xây cất, đây là chổ công sở nhà nước làm việc). Photo: Trần Phương Nhu

Mặt nam chợ Hà Tiên còn lại sau năm 1975

Mặt nam chợ Hà Tiên trong những năm 2000

Mặt nam chợ Hà Tiên trong những năm 2000. Photo: BuiThuyDaoNguyen

Tiệm tạp hóa Minh Đức ở mặt nam của chợ Hà Tiên. Photo: Truman Richey

Bên trong nhà lồng chợ Hà Tiên, phía đối diện với đường Tuần Phủ Đạt. Photo: Hồ Anh Dũng

Một góc chợ cá Hà Tiên ngày xưa (1950-1960), nhìn về hướng phố tứ diện. Photo; Nguyễn Bích Thủy

Phố tứ diện Hà Tiên trong những năm 1950-1960. Phía xa bên phải là chợ cá, phía xa bên trái là dảy tiệm hớt tóc cất dưới mé sông, ở giữa là bót cảnh sát. Xa hơn là sông Hà Tiên và chân núi Tô Châu. Photo: Nguyễn Bích Thủy

Chợ cá Hà Tiên, phía ngoài dành để bán rau cải. Khoảng 1968, photo: Hồ Anh Dũng

Chợ cá Hà Tiên, phía ngoài dành để bán rau cải. Khoảng 1968-1970, photo: Rich Krebs

Chợ cá Hà Tiên nhìn từ phía bót cảnh sát. Photo: Hồ Anh Dũng

Chợ cá Hà Tiên trở thành chợ tạp hóa vào những năm 2000. Photo: Herman Hermanson (2006)

Chợ cá Hà Tiên trở thành chợ tạp hóa vào những năm 2000. Photo: ThomasMaresca

Chợ tạp Hóa (chợ cá ngày xưa) Hà Tiên ban đêm. Photo: HoangNguyen 1998

Chợ tạp Hóa (chợ cá ngày xưa) Hà Tiên. Photo: HungCuongPC

Mặt nam chợ cũ Hà Tiên biến thành chợ Ẩm Thực Hà Tiên vào những năm 2009

Mặt nam chợ cũ Hà Tiên biến thành chợ Ẩm Thực Hà Tiên vào những năm 2009. Photo: HaiDang54

Quang cảnh bên trong chợ Ẩm Thực Hà Tiên vào năm 2010. Photo: Thanh HLP.

Một phần của mặt bắc của chợ Hà Tiên, có đường Lam Sơn trước mặt. Dảy nhà trong hình là trên đường Tuần Phủ Đạt. Cây me nhô ra bên phải hình là trước nhà ông Tàu Lái. Photo: HungCuongPC

Ba căn phố đối diện với mặt bắc của chợ Hà Tiên: Tiệm Ông Tàu Lái, Tiệm Sanh Hoạt và Tiệm cafe Dũ Long. Photo: Fred Abery

Đường Tuần Phủ Đạt bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên. Photo: HungCuongPC

Đường Tuần Phủ Đạt bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên. Photo: Hồ Anh Dũng

Đường Tham Tướng Sanh bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên. Photo: HuynhNT

Đường Tuần Phủ Đạt (góc Lam Sơn)  bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên. Photo: HuynhNT

Đường Tuần Phủ Đạt bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên. Photo: HuynhNT

Góc đường Lam Sơn – Tuần Phủ Đạt, nhà Ông Tàu Lái. Bên phải hình là mặt bắc của chợ Hà Tiên. Khoảng những năm 1960-1970. Photo: Truman Richey

Tiệm cơm Xuân Thạnh dưới đường Bến Trần Hầu. Hà Tiên. Photo: HungCuongPC

Chợ cũ Hà Tiên có một lúc trở thành Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (khoảng 2009, sau đó trở thành Siêu Thị Đông Hồ. Photo: Trần Văn Mãnh 2012

Chợ cũ Hà Tiên có một lúc trở thành Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (khoảng 2009, sau đó trở thành Siêu Thị Đông Hồ. Photo: Trần Văn Mãnh 2012

Chợ cũ Hà Tiên có một lúc trở thành Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (khoảng 2009, sau đó trở thành Siêu Thị Đông Hồ. Photo: Trần Văn Mãnh 2012

Chợ Hà Tiên đã biến mất, chỉ còn lại ngay chổ cũ là một công viên rộng lớn (2017). Bến phải là đường Tham Tướng Sanh, bên trái là đường Tuần Phủ Đạt.

Chợ cá Hà Tiên đã biến mất, thay vào đó là một công viên rộng lớn vào khoảng 2012. Photo: Trần Văn Mãnh

Ngày nay 2017, công viên ngay chợ cá xưa đã biến thành Công Viên 9 Nàng Tiên. Photo: PhuongDuyVu

 

Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn xưa đến nay, nói đến Hà Tiên thì ai cũng nhắc nhở đến những thắng cảnh xinh đẹp nên thơ như thắng cảnh Hòn Phụ Tử. Tuy Hòn Phụ Tử về mặt địa lý thuộc về xả Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, nhưng không hiểu vì sao mà tên tuổi Hòn Phụ Tử luôn gắn liền với địa danh Hà Tiên. Từ bao nhiêu năm xưa, Hòn Phụ Tử đã là đề tài gây cảm hứng cho biết bao nhà văn, nhà thơ, họa sĩ…  để được các nghệ sĩ nầy cho ra đời biết bao tác phẩm ca tụng vẻ đẹp của Hòn Phụ Tử. Mình còn nhớ ngày xưa mỗi lần Tết đến các báo Xuân đua nhau ra đời và thường là có cho thêm phụ bản một bức tranh khổ lớn vẻ hình Hòn Phụ Tử do họa sĩ Lê Trung vẻ.

Nói về phương diện địa chất, Hòn Phụ Tử là một hòn đảo gồm hai khối đá dính liền nhau đứng trên một bệ đá có chiều cao 5m so với mặt biển. Trong đó hòn Phụ có chiều cao khoảng 33,6m và hòn Tử cao khoảng 30m. Đó là hai trụ đá cao nghiêng nghiêng cùng một chiều tượng trưng cho hình hai cha con quấn quýt bên nhau trông ra biển cả. Hòn Phụ Tử nằm trên eo biển Khu du lịch Chùa Hang,  thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang, được xem là biểu tượng cho cảnh đẹp Kiên Giang và được công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia vào năm 1989.

Truyền thuyết về Hòn Phụ Tử

Theo truyền thuyết, xưa kia ở vùng biển này có con thuồng luồng rất hung dữ, hay đánh đắm vào thuyền bè để ăn thịt ngư dân. Bên chân ngọn An Hải Sơn, cạnh Chùa Hang, có hai cha con làm nghề chài lưới. Quá bất bình trước tình cảnh này, người cha quyết lòng tiêu diệt con ác thú trừ hại cho bà con. Sau khi tính hết kế, cuối cùng ông thấy chỉ còn cách hy sinh thân mình mới mong giết được con thuồng luồng này. Thế là ông liền tẩm thuốc độc vào mình, nằm sát mé biển để dụ con ác thú. Thấy mồi ngon, con thuồng luồng đến cắn đứt đầu ông, trúng độc rồi chết. Người con đi tìm cha, bắt gặp xác cha cụt đầu liền ôm lấy khóc thương thảm thiết. Không ngờ chất độc từ người cha thấm vào khiến người con trúng độc mà chết. Trời nổi giông bão, mưa suốt mấy ngày liền. Và nơi hai cha con nằm mọc lên hai hòn đá lớn và nhỏ. Hòn to là cha và hòn nhỏ là con, người ta gọi là hòn Phụ Tử.

Hai bên hòn Phụ Tử là hai hòn đảo có hình dáng giống như một con thỏ quỳ hai chân sau để giỡn với sóng biển và một con rùa. Thiên nhiên đã tạo nên một cảnh quan thật tuyệt. Chắc chắn rằng ai đã đến hòn Phụ Tử thì không thể quên được cảnh non nước hữu tình. (tài liệu Wikipedia mở)

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo:  Houllé Edgard fils 1948

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: Jaubert 1949

Một bức ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)

Bức ảnh điển hình về phong cảnh Hòn Phụ Tử do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá 1966

Cảnh xưa: đảo nhỏ chung quanh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)

Sau đây là một vài tác phẩm nhiếp ảnh đẹp về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên):

Photo: HauNguyen

Photo: AAFV

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Ngoài ra hình ảnh Hòn Phụ Tử còn xuất hiện trên một số tác phẩm như tem thư, tiền giấy, bích chương quảng cáo du lịch:

Tài liệu: Millesime Voyage Indochine VintageVivian

Tem thư Hòn Phụ Tử xuất bản năm 1964

Hình ảnh Hòn Phụ Tử trên tiền giấy 1 đồng (1985)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Hòn Phụ Tử bị gảy đổ:

Khoảng 3 giờ 45 phút ngày 9 tháng 8 năm 2006, phần Phụ của hòn Phụ Tử đã đột ngột ngã xuống biển. Phần gãy của hòn Phụ Tử là phần Phụ 20m, vị trí ngã ngang về hướng đông, phần còn lại chỉ còn khoảng trên 13m. Hòn Phụ Tử giờ chỉ còn lại phần hòn Tử.

Năm 2006, phần « Phụ » (người Cha) của Hòn Phụ Tử đã bị gảy đổ xuống biển, Hòn Phụ Tử chỉ còn lại phần « Tử » (người Con)

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Ngày nay, phong cảnh Hòn Phụ Tử hình như đã bị bỏ rơi, người ta không còn chăm sóc nơi nầy như là một cảnh đẹp cần thăm viếng như xưa nữa, quang cảnh tiêu điều, vắng khách tới lui rất là buồn. Hòn Phụ Tử từ ngàn xưa được xem như là một báo vật của thiên nhiên tặng cho chúng ta, ngày nay báo vật đã mất đi, người ta không còn lưu ý đến nữa, một truyền thuyết đã được khép lại như số phận của « người cha » đã bỏ ra đi, để lại « người con » vẫn còn cô đơn sừng sửng đứng cùng trời đất như thách thức với định mệnh, như muốn nói rằng đối với ta ngàn năm vẫn vậy, ta vẫn còn đứng đây làm nhân chứng cho Hà Tiên qua bao nhiêu tang biến đau thương hay vinh quang, phồn thịnh…Ngẩm lại chúng ta người Hà Tiên vẫn xem Hòn Phụ Tử như một biểu tượng, rất buồn cho số phận của một kỳ quan….một kỳ quan đã cho chúng ta biết bao niềm vui, bao kỷ niệm để rồi ngày nay lặng lẻ cô đơn nhìn ra biển cả….Hòn Phụ Tử vẫn còn mãi trong ký ức của chúng ta….

Một cô giáo dạy trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa, đã cảm tác về Hòn Phụ Tử như sau:

Thấp thoáng ngoài khơi « cha với con »
Nhấp nhô trên sóng nước cùng non
Cảnh đẹp Chùa Hang phô sắc thắm
Tiếng sáo chiều quê nghe véo von

Thiên nhiên hùng vĩ thật đẹp xinh
Sóng biếc lao xao thắm nghĩa tình
Hòn Trẹm – Bãi Dầu du khách viếng,
Ráng chiều trên biển nước lung linh.

Cô Dương Hồng Châu cảm tác về Hòn Phụ Tử 26/08/1986

Đài Kỷ Niệm hay Đài Chiến Sĩ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên nếu nói hẹn nhau tại Đài Kỷ Niệm thì ai cũng không thể không tìm ra được nơi hẹn, vì là người Hà Tiên thì ai cũng biết Đài Kỷ Niệm nằm ở đâu. Đài Kỷ Niệm là một thành phần quan trọng của quận Hà Tiên ngày xưa…Tất cả trẻ con Hà Tiên chúng ta đều có quảng đời thơ ấu vui chơi tại Đài Kỷ Niệm. Lớn hơn một chút khi trở thành thanh niên học sinh chúng ta cũng thường hay tụ tập tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào buổi chiều tối, bạn bè họp mặt nhau, nói chuyện đủ các đề tài, kẻ ngồi trên băng đá người lại leo lên băng để ngồi trên thành dựa của băng đá, nhìn ra mé sông, biển để hứng gió mát…

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên là nơi diển ra rất nhiều sinh hoạt sống động của người Hà Tiên chúng ta. Các trẻ con hay lớn hơn một chút cũng thường nhảy xuống sông , phía cầu tàu đoan (quan thuế)  để chơi trò bơi lội, người lớn thì cũng lấy cầu tàu đoan làm điểm bắt đầu để bơi lội về phía cầu phà bắc, ngay mé sông chợ Hà Tiên. Ngày xưa khi còn dạy môn thể dục tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, thầy Trịnh Học Ký cũng thường bơi lội mỗi buổi chiều từ phía cầu tàu đoan ở Đài Kỷ Niệm, thầy bơi về cầu phà bắc, thầy thường dùng kỷ thuật bơi rất độc đáo, ở trên bờ chỉ thấy Thầy hụp lên hụp xuống nước và mỗi lúc mỗi di động…

Thời mình còn trẻ, còn học sinh, chiều nào mình cũng xuống Đài Kỷ Niệm ngồi chơi với các bạn. các bạn thường tụ tập với mình dưới Đài Kỷ Niệm là; Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Lâm Tấn Kiệt, Lâm Tấn Hào, Khoa (con tiệm cơm Xuân Thạnh)….v.;v..

Ngoài ra Đài Kỷ Niệm cũng là nơi diễn ra các cuộc tranh đua trò chơi trong một ngày lễ. Mình còn nhớ mỗi khi có lễ Hai Bà Trưng, ở Đài Kỷ Niệm, ngưới ta có tổ chức cuộc thi « nấu cơm » dành cho các cô học sinh nữ, trò chơi « bịt mắt đánh chậu sành treo có chứa nước », khi thí sinh tham dự cầm một cây gậy dài, hai mắt bị bịt kín và quơ cây đập vào mục tiêu là các chậu sành treo lên và có chứa nước, hể chậu bị đập trúng thì bể nước và miểng sành văng tung tóe…

Ngay cả khi còn trẻ nhỏ, con nít cũng thường đến chơi ở Đài Kỷ Niệm, mình còn nhớ, ở Đài Kỷ Niệm có trang bị một cái cầu tuột, tuy bây giờ nghĩ lại nó không cao lắm, nhưng khi còn nhỏ đến chơi, đứng trên cầu tuột thấy rất cao và mình cũng rất sợ không dám nhảy xuống đất như các trẻ con khác,..

Có một năm đó mình còn nhớ rỏ, có chiếc tàu Hãi Quân (có thể là tàu HQ-607), tổ chức ăn lễ Giáng Sinh với học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (vì các học sinh đến để phục vụ văn nghệ chung vui với các anh em trên tàu Hãi Quân). Có bò quay tại chổ ngay tại vỉa hè kế mé sông..

Nói tóm lại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên tuy là nơi để ghi nhớ công ơn của các người lính thời xưa, (bởi vậy nên cũng được gọi là Đài Chiến Sĩ) nhưng theo mình nghĩ Đài Kỷ Niệm đúng là nơi ghi lại những kỷ niệm êm đềm của thời con nít, thời học sinh mới lớn và tất cả người Hà Tiên chúng ta ai ai cũng có một mảnh quá khứ liên hệ đến Đài Kỷ Niệm Hà Tiên. Ngày nay qua các giai đoạn thời gian, Đài Kỷ Niệm không còn lý do để tồn tại được nữa, người ta đã phá hủy nó đi, thay vào đó là một công trình bằng đá, tượng hình cho Hòn Phụ Tữ, xem cũng được được vì ít ra đó cũng là một hình ảnh quen thuộc mến yêu đối với người Hà Tiên chúng ta, nhưng sau đó vì nhu cầu cải tiến mới, Hòn Phụ Tữ bằng đá nầy cũng đã bị dời đi nới khác, thế vào đó là một công viên rộng lớn cho người Hà Tiên tha hồ tới lui, đi dạo hóng gió mát vào những buổi chiều nhạt nắng…Tuy nhiên, vật chất có dời đổi nhưng trong lòng người Hà Tiên , nhất là người Hà Tiên xa quê hương đều luôn giữ lại một hình ảnh Đài Kỷ Niệm xa xưa, nơi đã cho chúng ta một quảng đời niên thiếu với biết bao kỷ niệm cùng với bạn bè sống qua một quảng đầu đời….

Có một điều hơi lạ là đa số các hình ảnh về Đài Kỷ Niệm Hà Tiên mà mình giới thiệu nơi đây phần lớn là do các người lính Mỹ Hãi Quân đã từng có một thời gian đóng quân tại Hà Tiên chụp. Cũng nhờ có các hình nầy mà chúng ta còn thấy lại một Đài Kỷ Niệm ngày xưa mà các thế hệ đàn em đi sau có thể đã hoàn toàn quên mất…Chính chúng ta là người Hà Tiên mà chúng ta lại có rất ít hình về Đài Kỷ Niệm ngày xưa, cũng dể hiểu thôi vì chúng ta lúc đó là những học sinh, không có phương tiện máy móc để chụp hình vui chơi thời đó. Chỉ có các nhà chụp hình chuyên nghiệp ở Hà Tiên như Ông Quách Ngọc Bá, Phương Dung, Đức Quang…đã có chụp rất nhiều kiểu hình về Đài Kỷ Niệm, nhưng tiếc là những hình ảnh đó đã ít nhiều mai một đi, nếu bạn nào còn giữ được các hình ảnh nầy xin vui lòng đóng góp để Blog của chúng ta thêm phong phú hình ảnh hầu phục vụ các thế hệ đi sau tìm hiểu về quê hương đất nước Hà Tiên.

Lính Mỹ chụp hình trẻ em chơi ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên (1965) Em trai đứng bìa phải đúng là bạn Hồ (Huỳnh Minh Hà con trai Ông Thái Dũ chủ cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm). Photo: Cliff Rocheleau

Toàn cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên (bên trái), hình chụp dọc theo đường « Bến Trần Hầu ». Photo: BronsonHa (không xác định được năm nào nhưng chắc chắn là rất xưa)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, ta thấy rỏ có « cầu tuột » bằng gỗ cho trẻ em đến chơi. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Người dân Hà Tiên chụp hình trước Đaì Kỷ Niệm Hà Tiên. (trên đài ta thấy có ghi các chữ: Vong Linh Chiến Sĩ, Tổ Quốc Tri Ân). Photo: Nguyễn Hữu Tâm 1968

Người dân Hà Tiên chụp hình trước Đaì Kỷ Niệm Hà Tiên. (trên đài ta thấy có ghi các chữ: Vong Linh Chiến Sĩ, Tổ Quốc Tri Ân). Photo: Nguyễn Hữu Tâm 1968

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên nhìn từ phía chợ cá xưa. Hình do một sĩ quan người Mỹ tên Rich Krebs (Captain USNR Ret) chụp vào khoảng 1968-1970

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên nhìn tàu trên sông Hà Tiên. Hình do một sĩ quan người Mỹ tên Rich Krebs (Captain USNR Ret) chụp vào khoảng 1968-1970

Một phần vỉa hè phía mé sông của Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp từ phía chợ cá xưa. Photo: Kim Lý (không xác đinh được năm nào)

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên đã mất đi, thay vào đó là cảnh Hòn Phụ Tữ bằng đá (hình chụp năm 2012, Trần Văn Mãnh)

Hiện nay 2017, Hòn Phụ Tử bằng đá cũng đã bị dời đi, thay vào chổ ngày xưa là Đài Kỷ Niệm, hiên nay là một công viên rộng lớn. Photo: KhanhTuanTran

Lầu Ba (Quang Nguyên)

Lầu Ba (Quang Nguyên)

Cho dù bạn là ai, hiện làm gì, sống ở đâu, và vì lý do gì đó khiến các bạn phải lưu lạc phương xa sống rải rác trên khắp hành tinh màu xanh này; miễn bạn vẫn còn được giữ chặt trên mặt đất bởi trọng lực và là người Hà Tiên, hơn nữa là bạn đã từng bước vào Trung Học Hà Tiên, thì bạn không thể nói rằng bạn không biết “Lầu Ba”.

Xin mạn phép gọi quý độc giả của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa là bạn để gần gũi hơn, cho dù “bạn” có thể cao tuổi như… Cha tôi!

Nhân đọc một bài viết rất hay và mới mẻ (đối với tôi, cũng có thể với một số bạn…) của nhà nghiên cứu, nhà giáo, hiệu trưởng, một ít chất của “nhà chính trị” xứ Hà Tiên: Giá Khê – Trương Thanh Hùng, tôi đã không thể ngưng được hồi tưởng về tuổi thơ của mình về cái lầu ba tầng với hai tầng phòng và cái chóp không nhọn lắm, nằm sừng sững uy nghiêm trên một ngọn đồi không cao lắm ở hướng Đông Bắc của Hà Tiên. Cũng phải nhắc lại cho thật tròn trịa cái lý do có bài viết này vì trước đó Blogger “Trung Học Hà Tiên Xưa” – Mr. Trần Văn Mãnh đã sưu tầm được một bức không ảnh rất quý, rất cận cảnh về vị trí của Lầu Ba, khiến ta không thể không tò mò truy tìm những dấu vết quen thuộc của năm tháng cũ mà ngôi trường của chúng ta đã được đặt để vào quần thể đó…

Đồi Ngũ Hổ với Lầu Ba ở giữa hình, bên trái Lầu Ba là dảy Phòng Thí Nghiệm, phía dưới Lầu Ba là dảy nhà thiếc: căn cứ Duyên Đoàn 44 Hãi Quân thời 1970, bên phải dảy nhà thiếc là sân vận động cũ của Hà Tiên. Phía dưới hình là một phần của Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Tôi vào trường năm 1976, lớp của tôi là 6C (trước là 6P2), phòng học là dãy nhà tôn màu sáng cạnh kế ao xà lách mà nhìn vào ảnh trên thấy rất rõ… Cứ mỗi buổi ra chơi tôi thường nhìn về phía Lầu Ba để ngắm hoài cái cây cổ thụ kỳ lạ nằm bên trái trên đồi Ngũ Hổ. Dám chắc với các bạn rằng, các bạn cũng giống như tôi, bởi các bạn không phải là người bản địa của Châu Phi thì cái cảm giác ngạc nhiên và tò mò về cái cây gì thật lạ kỳ đó của chúng ta là “đồng điệu”…

Đem cái thắc mắc đó về hỏi cha tôi, ông bảo rằng đó là cây “bao báp”, cây có dáng lạ lùng, gốc rất to mà tán thấp, vào mùa ra hoa rồi kết quả thì cây đầy những quả bao báp lủng lẳng đòng đưa theo gió, những quả lạ đó khiến trí tưởng tượng non nớt của tôi cứ mường tượng đó là những trái nhân sâm ngàn năm mà Trư Bát Giới “nuốt trọng” để tranh ăn với Tề Thiên… Cái ý nghĩ lạ lùng đó cứ nằm yên trong ký ức tôi đến mấy chục năm sau, như hôm nay khi nhớ về bao báp này thì “cái thằng tôi lại cứ ấu trĩ ấy” muốn dí vào trong tay Bát Giới ngàn quả lủng lẳng kia để lão Trư thỏa mãn thực dục của mình.

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên) , du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Một cây bao báp (BaoBab Africain) thật sự nguồn gốc ở Phi Châu

Phía sau ngọn đồi có cái Lầu Ba ấy là một cái sân vận động kiêm sân đáp trực thăng, đó là những khi nghe tiếng phạch phạch mồn một trên đầu, tưởng như có được làn gió từ cánh quạt của nó, thì mấy đứa học trò chúng tôi phóng qua cửa sổ cho dù đang tiết học, bỏ mặc ông thầy ngơ ngác, rồi đám con nít đó cố chạy thục mạng vòng qua xóm nhà dân để xem…trực thăng đáp.

Phía sau Lầu Ba đó còn là những buổi chiều bọn trẻ chúng tôi đi xem đội bóng Hà Tiên đá giao hữu, có hai anh Tiến và Tới là con bác Tư Thiên hớt tóc mà chúng tôi rất thích xem các anh đá bóng, nhất là anh Tới với mớ tóc dài nghệ sỹ, cặp “đùi ếch” căng phồng những múi, bước chạy chắc nịch mà sau này tôi thấy Roberto Carlos có hình bóng của anh (?), chỉ khác cái trên đầu!

… Vào một ngày (…) năm 1976 (?) vào mùa vú sữa lối khoảng tháng 2-3 âm lịch, tôi còn nhớ là buổi sáng gần trưa, thị trấn Hà Tiên bình yên của chúng ta đang êm ả, bỗng chốc có hàng ngàn tiếng đạn nổ ầm ầm, nhà cửa rung chuyển… Cũng như mọi khi còn chiến tranh, chúng tôi vội chạy xuống hầm tránh pháo, tiếng nổ lạ lắm không như đạn pháo kích, không nghe tiếng khởi đầu và không nghe tiếng đạn rít, chỉ nghe nổ và nổ… Tiếng nọ trùm tiếng kia, nhà cửa rung rinh, các cánh cửa kính vở loảng xoảng, liên tục có những tiếng nổ chồng lấn rất gần và chỉ về một hướng, tôi chưa bao giờ nghe đạn pháo nổ như thế từ trước đây (và cả đến giờ), bởi nếu pháo kích thì sẽ có âm thanh ghê rợn rít lên từ nhỏ dần đến rất to, rất đặc trưng của tiếng đầu đại bác xé gió rồi sau đó là tiếng nổ, và đạn pháo thì rớt khắp nơi chứ không gom về một chỗ… Thật lạ!

Tan trận phải đến vài giờ sau, tôi không thấy có gì lạ sau khi chui ra khỏi “tăng-xê” ngoài việc ông Phật trên bàn thờ nhảy xuống tan nát cùng ly tách và chân đèn lư hương chỏng gọng, toàn bộ cửa kính trong nhà cũng vỡ tan nát, ngoài sân vú sữa chín cây sợ tiếng nổ chấn động bèn rơi rải tím cả chiều hoang (!), ngoài đường sau nhà tôi mọi người nhớn nháo nhìn một cột khói đen bựng đang dựng lên từ hướng Đông Hồ.

Ai đó nói rằng nổ kho đạn trong căn cứ Hải Quân.

Ừ thì nổ kho đạn có chi liên quan đến cái Lầu Ba mà ta đang nói? Thế nhưng thật sự nó liên quan rất nhiều, cái kho đạn thổi bay cái chóp nhọn của Lầu Ba, khiến từ dưới chân đồi nhìn lên ta tưởng như nó vừa dính một trận bom, dãy phòng thì nghiệm của ngôi trường chúng ta toàn bộ cửa kính vỡ nát, mái được lợp bằng Fibro cement hay bằng ngói cement chi đó đã bị các cơn chấn động mà rơi vãi tan hoang, các dãy lớp học xa hơn về phía chợ Hà Tiên cũng bị hoang tàn không kém…

Thế là học sinh chúng tôi được nghỉ học để cùng các thầy cô sửa chữa lại lớp học của mình, và trong quá trình sửa chữa đó đã có tai nạn xảy ra cho một anh học lớp lớn chắc 11 hay 12 chi đó, đó là anh Minh Hỷ (mà hình như anh tên là Lạc, Minh Hỷ là pháp danh mà ngày xưa anh phụ trách thiếu nhi Gia Đình Phật Tử trong chùa Tam Bảo cùng với thầy Lâm Văn Núi – là thầy của tôi…). Anh bị trượt ngã từ mái nhà của phòng thí nghiệm, anh bị thương cũng khá nặng, ngoài việc làm anh chấn thương bầm dập thì cái kho đạn kia cũng lấy đi của anh mất “hàng tiền đạo”, nghe đâu anh bị gảy một lượt mấy cây răng… Vậy mà mấy hôm sau, trên gương mặt xanh xao đầy thương tích ấy nụ cười vẫn rạng ngời như chữ “Lạc” trong tên anh. Giờ có lẽ anh đang lạc nơi miền cực lạc, bởi người tốt như anh không có chỗ khác để đi ngoài chỗ đó, dù anh Lạc có lạc nơi đâu chốn đó, nơi đây lứa bạn bè chúng tôi quyết không lạc anh.

Rồi thì bộ đội cũng quyết định sửa chữa Lầu Ba trở thành «lầu hai», một thời gian rất dài tôi lạ lẫm vì hình ảnh đó, cái nóc không nhọn lắm kia nhờ nằm giữa ngọn đồi mà ngạo nghễ vươn thẳng lên trời nay đã không còn nữa, mà thay vào đó là một dinh thự hai tầng nóc bằng khiến nó đã khác lạ lắm, chỉ có cây bao báp vẫn y nguyên, vẫn đứng đó để đong đưa trong gió những quả nhân sâm ngàn năm của tôi chờ lão Trư tham ăn đến ngốn lấy!

Sau này nữa và thực sự là tôi không nhớ chính xác khi nào, bộ đội thêm một lần sửa chữa nữa thì Lầu Ba chỉ còn một, tôi không còn lạ lẫm nữa vì cho dù cái lầu đó nó không còn thì trong ký ức của tôi vẫn là một tòa dinh thự hai tầng phòng và một tầng nóc, hiện giờ cái mà tôi lạ lẫm là sau bao nhiêu năm tháng trôi đi, bao biến cố xảy ra mà cây bao báp vẫn không già hơn mấy, giờ nó vẫn như thế trong khi tôi và các bạn đã qua trung niên… Cũng có khi chúng ta luân hồi hai ba kiếp thì nó vẫn còn đứng đó trên một ngọn đồi đã không còn cái lầu nào mà vẫn được đời sau trìu mến gọi “Lầu Ba” cho dù chẳng mấy ai biết tên đó có tự bao giờ…

Miễn sao ngọn đồi Ngũ Hổ nho nhỏ xinh xắn kia không bị đời sau san bằng, để lấy đất san lắp mặt bằng và lấy mặt bằng cắt bán nền nhà, thì Lầu Ba vẫn còn mãi trong tâm trí của người Hà Tiên.

Quang Nguyên

12/2017

 

 

 

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên, Rich Krebs