Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Thầy Trần Phình Chu

Thầy cô và các bạn thân mến, từ từ với thời gian và với ký ức trở lại, thầy trò và bạn bè chúng ta đã có dịp nhắc nhở, viết bài để ghi nhớ và gợi lại những hình ảnh và kỷ niệm xa xưa của quý thầy cô từng dạy học tại Hà Tiên qua các ngôi trường Tiểu Học và Trung Học…Tuy nhiên cũng còn rất nhiều quý thầy cô trong ký ức của chúng ta mà chúng ta chưa có dịp hoặc thiếu thông tin, hình ảnh để giới thiệu trên mục « Thầy Cô » ở đây. Điều nầy chỉ có thể thực hiện được với sự góp ý và đóng góp bài của quý thầy cô và các bạn…Thời gian gần đây, bạn Lý Minh Thuận, một học sinh thời Trung Học Hà Tiên xưa có góp ý với mình là chúng ta chưa có bài viết về thầy Trần Phình Chu…Mình đón nhận góp ý nầy với một sự phấn khởi và nhanh chóng tìm thông tin về thầy Trần Phình Chu…Thú thật vì thời mình còn học ở trường Trung Học Hà Tiên thì thầy Chu làm việc bên chi khu Hà Tiên, thầy chỉ vào dạy ở trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm sau khi mình đã rời trường lớp và rời cả quê hương Hà Tiên nên mình không có hân hạnh tiếp xúc và quen biết với thầy Chu. Do đó mình phải nhìn qua lại năm châu bốn biển để « cầu cứu », làm sao cho có bài viết về thầy Trần Phình Chu. Được biết thầy cô Trương Minh Đạt có nhiều thông tin về thầy Trần Phình Chu nên mình làm « gan » tỏ ý với cô Nguyễn Phước Thị Liên về việc viết bài…May mắn làm sao, mặc dù còn đang rất bận rộn về sự nghiệp viết sách nhưng cô Liên đã vui vẻ chấp thuận sẽ viết cho Blog chúng ta một bài về thầy Chu…Thật là hay và may quá,… Một thời gian ngắn sau, cô Liên đã gởi cho mình bài viết về thầy Trần Phình Chu, cô cũng có kể lại việc không ít khó khăn trong công cuộc tìm hiểu thêm cho chính xác các thông tin về thầy Chu, vì tình hình sức khỏe hiện tại của thầy cũng không lắm khả quan,..Chúng ta đọc bài viết về thầy Chu để nhớ lại một người con của vùng đất Hà Tiên, một nhà giáo đã cống hiến cuộc đời cho ngành Giáo Dục địa phương, chỉ mong sao cho thầy Trần Phình Chu vẫn được mạnh khỏe, an vui trong tuổi an nhàn, dù ký ức của chúng ta nhắc lại thầy có chút muộn màng, nhưng mong rằng bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên vẫn đem lại cho chúng ta một suy nghĩ sâu xa và biết ơn về thầy Chu, điều đó sẽ làm giảm nhẹ đôi phần về « phần lỗi » – nếu có – mà cô đã kết luận ở cuối bài viết…Riêng mình xin thay mặt cho Blog Trung Học Hà Tiên Xua, xin trân trọng cám ơn gia đình thầy Chu đã giúp về thông tin, cảm ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên về bài viết dưới đây và cám ơn em Lý Minh Thuận đã nhắc nhở cho chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn trong việc tưởng nhớ thầy cô xưa. (Trần Văn Mãnh, Paris viết lời giói thiệu, 16/06/2021)

Thầy Trần Phình Chu  (tác giả: Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

       Hầu như giới học sinh Hà Tiên xưa , ai cũng biết trường trung học quê mình đã tạo nên nhiều tên tuổi sáng giá Kiên Giang. Trong số có những anh chị: Đường Minh Phương, một “Sư kiến trúc”, trụ trì Thiền viện Tây Thiên tỉnh Vĩnh Phúc; Lâm Hữu Quyền, một thầy giáo làm Hiệu Trưởng trường Trung học Hà Tiên gần 20 năm; Lý Mũi Liềm, một chuyên viên có một không hai, mang quân hàm thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa của thời đầu IBM (công ty đa quốc gia chuyên về máy điện toán tại Mỹ – “International Business Machines” mà hồi đó người ta gọi đùa là “In Bằng Máy”), người được chính quyền mới, năm 1975 mời dạy về tin học, khoa học máy tính  cho cán bộ miền Bắc bước đầu vào Sài Gòn; Lâm Ánh Tuyết, cựu trưởng Phòng Giáo Dục Hà Tiên; Hà Thị Hồng Loan, cựu giáo sư trường Nữ trung học Gia Long, Sài Gòn và còn nữa là Trần Phình Chu.

      Anh Trần Phình Chu sanh năm 1941 tại quê hương Hà Tiên. Sau khi thi đậu Tú tài toàn phần (Baccalauréat Locale ), anh ra Phú Quốc dạy học, phụ trách môn Toán- Lý- Hóa. Vài năm sau, thầy giáo Chu phải bỏ dạy, vào quân trường vì lệnh tổng động viên của chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đó thầy được bổ nhiệm về Chi khu Hà Tiên trong vai trò trưởng ngành Truyền tin.

        Tháng tư năm 1975, không như các sĩ quan chế độ cũ là phải  học tập cải tạo, thầy được chính quyền mới mời “truyền lửa”  phần hành chuyên môn do thầy phụ trách. Xong việc, thầy trở lại nghề dạy học cũng tại Hà Tiên. Vì bản tánh chăm chí, chu đáo, thầy giáo Trần Phình Chu ngoài việc đứng lớp còn đảm nhiệm cả việc coi sóc phòng Thí nghiệm của trường. Nhân lúc Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động cuộc thi Làm Đồ Dùng Dạy Học, sản phẩm “ Vật Nổi” đầy sáng tạo do thầy tự làm, được Bộ đánh giá cao và cấp huy chương khen thưởng. Ngoài ra thầy còn sáng tác thơ văn, chủ yếu là thể thơ thất ngôn bát cú. Thầy là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Kiên Giang, bút danh Chu Lang, (Lang là tên người bạn đời của thầy cũng là người bạn cùng lớp thời trung học Hà Tiên xưa). Ở Hội Văn nghệ tỉnh, thầy giữ chuyên trang diễn dịch thơ Hán văn trong hội Tao đàn Chiêu Anh Các cho tạp chí Chiêu Anh Các, Kiên Giang. Qua hoạt động Văn nghệ Dân gian, thầy nghiễm nhiên là thành viên của hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam. Chính Hội Trung Ương đã tạo điều kiện tốt nhất sau khi đọc bản thảo của thầy viết về “Nghề đồi mồi  Hà Tiên”. Rồi Hội tự lo kinh phí in sách này cho thầy. Sách do Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Hà Nội- 2000 (ảnh kèm)

      Trong tình yêu quê hương xứ sở, thầy Trần Phình Chu luôn hướng tới sự nghiệp giáo dục Hà Tiên cũng như việc bảo tồn nền văn chương văn học cổ bằng cách diễn dịch và còn thông dịch bằng thơ lục bát các áng văn Hán ngữ mô tả mười cảnh đẹp Hà Tiên qua ngòi bút lỗi lạc Mạc Thiên Tích và các thi nhân Chiêu Anh Các (1736).         

        Năm 2018, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tiên định làm lễ Vinh danh thầy Trần Phình Chu nhưng thật cảm động, thầy và gia đình đã từ chối vì sức khỏe thầy không cho phép.

       Bài viết về thầy hôm nay quả là quá muộn khi giờ đây, thầy thật sự tàn yếu qua cơn bạo bệnh. Thầy không thể nói, không thể đọc những lời tâm huyết của đồng môn đồng nghiệp, của bạn bè gần xa!

        Sự quá muộn, phải chăng đó là phần lỗi của tôi và của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tiên?

                                                       Nguyễn Phước Thị Liên    (16/06/2021)

Thầy Trần Phình Chu và thầy Trương Minh Đạt đều là hội viên của Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam. (Hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Bìa sách và trang trong có dòng chữ tặng sách cho thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên với chữ ký của tác giả: « Nghề Đồi Mồi Hà Tiên », tác giả Chu Lang Trần Phình Chu. (Hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên).

 

                

Quán Ti La (Hà Tiên) – Phần A: Hơn năm mươi năm trước (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên không ai trong chúng ta lại không biết đến quán cà phê nghe nhạc với cái tên là Ti La…Thật vậy, từ những năm giữa thập niên 60, từ giới học sinh, thanh niên nam nữ, các chàng lính Hải Quân lãng tử ghé bến Hà Tiên, các anh lính Biệt Kích trại Tô Châu, …v…v…tất cả đều đã từng thả hồn lâng lâng theo tiếng nhạc của dàn nhạc Akai với những chiếc loa gắn ở các góc khu vườn quán Ti La, trong khi chờ từng giọt cà phê rơi chầm chậm xuống tách……Tuy ai cũng biết quán cà phê Ti La, nhưng được sống qua những năm tháng đầu tiên từ khi thành lập quán thì chỉ có thế hệ được mệnh danh là « Sixties and Seventies » mới từng trải qua…Mình cũng là một thành viên trong giai đoạn đời sống nầy…Cứ mỗi buổi tối thì cùng các bạn học chung trường và đôi khi cùng với một vài người bạn trong hàng ngũ lính thường đến quán cà phê Ti La để uống cà phê và nhất là để nghe nhạc…Có thể nói khi thành lập quán Ti La gia đình thầy Trương Minh Đạt đã vô tình đóng góp rất nhiều đến sự thành hình quan niệm và triết lý chọn và nghe nhạc của giới học trò Trung Học Hà Tiên thời đó…Thật vậy, vào thời đó, khi được nghe một bản nhạc mới trên các đài phát thanh, giới học sinh rất ít được có dịp nghe đi nghe lại nhiều lần vì không có phương tiện máy móc để nghe và cũng không có nhiều các buổi trình diễn âm nhạc như ngày nay, do đó một cách hay nhất để thỏa tính nghe nhạc là lên quán cà phê Ti La thường xuyên để nghe các bản nhạc mình yêu thích, vả lại cũng để được biết thêm những bản nhạc hay, có giá trị do chủ nhân quán chọn lọc và giới thiệu. Phần lớn sự hiểu biết về các bản nhạc và các nhạc sĩ thời đó của mình cũng là do tích lũy nhiều năm tháng được nghe nhạc ở quán Ti La… Tác giả Quang Nguyên một lần nữa đến với thầy cô và các bạn qua một loạt bài về sự thành hình và phát triễn của quán nhà Ti La, mặc dù vào thời điểm nầy Quang Nguyên vốn còn là một cậu bé hay tò mò và nhất là cũng hay hỏi nầy hỏi nọ lung tung với mọi người chung quanh, nhưng có lẽ nhờ có tính chất hiếu kỳ đó mà ngày nay chúng ta có được loạt bài kể lại về quá khứ mà theo thiển ý mình là các bài viết nầy sẽ gây thích thú và lợi ích cho giới trẻ Hà Tiên hôm nay, để các em sẽ thấy và hiểu được thêm về quá khứ của quán cà phê Ti La với một thời đã từng đạt đến mức vàng son của nghệ thuật quán nhạc và cũng là một thời của những tình yêu đã được nung đúc qua những buổi tối ăn kem, uống cà phê, trò chuyện của những người trẻ thời 60-70 đang yêu nhau và đang ngồi bên một chiếc bàn nhỏ cạnh một góc nào đó trong khu vườn của quán Ti La…(riêng mình thì không nhớ rỏ là mình cũng đã có từng ngồi bên cạnh ai đó không vì thời gian đã lâu quá rồi…..!!!).  Paris, ngày 03/06/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giói thiệu.

QUÁN TI LA (Quang Nguyên)

A – HƠN NĂM MƯƠI NĂM TRƯỚC.

Tuổi thơ tươi đẹp – phải nói rõ ra là “tuổi nhi đồng tươi đẹp” của chúng tôi chỉ vỏn vẹn có mấy năm cho đến một ngày cuộc đời thay đổi tất cả. Chúng tôi đột nhiên vươn vai thành người lớn và cái tuổi tươi đẹp đó bỗng dưng bốc hơi lúc nào chẳng ai trong chúng tôi kịp nhận ra. Ồ! Ngộ thật. Nhưng đó là cuộc đời mà? Người ta còn mất đi những thứ to tát hơn nhiều … Phần tươi đẹp còn lại cho đến hôm nay trong chúng tôi vẫn là ký ức, mà đối với tôi nó đẹp như khóm hoa mùa xuân trước nhà đang chia sẻ sắc màu cùng lối xóm hay người qua kẻ lại…

 “Khóm hoa tươi đẹp” trong cái tuổi thơ tươi đẹp không kém đã nói trên của chúng tôi là quán cà phê rất lâu năm tạị Hà Tiên, nó mang một cái tên khá kỳ lạ: Quán Ti La. Có lẽ đây là cái quán nước duy nhất có cái tên và tuổi đời lâu đến hơn nửa thế kỷ ở cái xứ sở này cho đến hôm nay. Ngày ấy, tuổi thơ tôi là đầy ắp những đêm dài với hàng ngàn bài hát mà ba má tôi đã chọn riêng cho quán của mình. Các anh chị em tôi đã sớm biết hấp thụ cái âm thanh khi du dương trầm buồn, lúc rộn ràng tươi vui, khi não tình sướt mướt, lúc giậm giật “sập giàn”… mà xưa nay chúng ta vẫn hay quen gọi là âm nhạc.

Mà, tính tôi hay cù cưa cù nhằng nên chỗ này chưa đến cái vụ “âm nhạc”. Phải bắt đầu từ xưa hơn nữa kia – từ khi con tằm nó nhả tơ…

… Ký ức của tôi về quán Ti La bắt đầu là màu sắc, mùi xăng, và cái thứ dẻo quánh mà mỗi khi một chút nhỏ cái chất ấy đổ xuống nền xi măng thì ba tôi thật khó khăn để lau chùi nó. Ông gọi là “sơn”. Ừ thì sơn có gì lạ? Quả thật nó không lạ với tất cả chúng ta nhưng với thằng nhóc tò mò mới bốn năm tuổi thì rất lạ chớ? Ở cạnh ông xem ông làm việc, tôi mới khám phá các cách pha màu biến hóa khôn lường từ những màu sắc căn bản… Hàng ngày, khi đi làm về hoặc những ngày nghỉ phép là ông say mê với cái thứ gọi là sơn dầu đó, ông vẽ những bức tranh trên những mảng tường ngăn cách nhà chúng tôi và nhà cô Bảy, mà trước khi bác Sáu Bưu điện về ở thì đây là một vườn chuối thâm u rờn rợn có hàng xương rồng cao hơn đầu người làm rào ngăn cách với phần còn lại của thế giới…

Ba tôi đã vẽ gì trên những mảng tường ấy? Đó là những bức tranh mô tả bài thơ, bài ca hay đã trở thành bất tử, mô tả những câu ca dao mẹ đã hát ru con ngấm vào những tâm hồn trẻ thơ, có cả hình ảnh hoài niệm của ký ức tuổi thơ của ông.  Tất cả được biến thành những hình ảnh rất sống động, to lớn và “hoành tráng” trên suốt hai mảng tường có hơn ba mươi mét.

… Đó là một cặp nai, một con đang ung dung uống nước bên dòng suối, còn con kia đang ngơ ngác nhìn xa xăm trong một khu rừng trụi lá, một vài chiếc lá trôi theo dòng nước còn lá vàng ngập dưới chân “em”… Làm ta không thể không liên tưởng đến một bài thơ của Lưu Trọng Lư đã được Phạm Duy phổ nhạc với tựa đề cùng tên. Bài hát ấy đã rất nổi tiếng với tiếng hát danh ca Thái Thanh du dương cao vút được hòa âm bởi piano, violin và tiếng trống jazz nhè nhẹ rải rác trên nền của một điệu Boston thanh thoát được các nhạc công chơi hơi nhanh một chút, với lối hòa âm đơn giản thời 1969-1970…

“… Em không nghe rừng thu                                    
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô…”

… Đó là một bức tranh khác to lớn, có đôi hạc trắng đang sải cánh bay ngang một dải mây trắng mờ và kia là một mặt trăng to trên một nền sáng nhạt đủ để ta thấy rõ một đêm trăng sáng. Ngày xưa, nó luôn làm tôi liên tưởng đến câu hát ru của má tôi về những cánh cò cái vạc, những câu ca ru dành cho những đứa em tôi mà đứa này vừa leo được ra khỏi nôi là ngay lập tức có đứa khác “trám” vào! Việc leo ra và trám vào liên tục đó từ thuở có chị Hai tôi cho đến ngày này cũng đà năm sáu lần, và dường như  đã khiến cho câu hò Huế  “ạ…ạ..ời, ạ ..à.. ơi…” của má hụt hơi theo năm tháng.  Ba tôi vì trước đó đã “gặp cô gái Huế mà chân đi không đành”, nên đã rước nàng về làm dâu Hà Tiên. Rồi nhịp nhàng yêu thương nên mỗi năm một đứa, tiếp tục nhịp nhàng để cùng giữ lửa hạnh phúc bằng cách hà hơi tiếp sức “hò…ơ…” Nam bộ với nàng mà ru hời những đứa con “năm một” khóc la inh ỏi… Nhờ thế mà chúng tôi được thấm các làn điệu ca dao dân ca hai miền tự lúc nào không biết!  Và cũng vì “nhịp nhàng năm một” đó mà sinh chuyện khó khăn, nên nghe lời anh Trương Minh Hiển của mình mà ông bà phải “đẻ” thêm cái quán Ti La để tăng thêm thu nhập nuôi con…

Nhưng đôi “hạc trắng – đêm trăng” đó té ra không liên quan gì đến các làn điệu dân ca hai miền nên nó cũng chẳng liên quan gì đến bầy con mà ba má tôi đã lỡ tạo ra, chẳng qua là ngày xưa tôi tưởng tượng thế thôi, đó lại là một cảm hứng của “họa sĩ” nghiệp dư Trương Minh Đạt về một bài hát có cánh hạc chơi trăng …

« Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
   Nửa năm tiên cảnh,
   Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
   Đá mòn, rêu nhạt,
   Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
   Cửa động,
   Đầu non,
   Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi… »

Ai cũng biết đó là bài thơ “Tống Biệt” của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu với lối hành thơ mới lạ và độc đáo bỏ qua các khuông thức khô cứng khiến nhạc sĩ tiền chiến Võ Đức Thu mê mẩn rồi phổ nhạc. Bài hát sau đó được các ca sĩ Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu hát rất thành công.  Một bức tranh “Hạc Chơi Trăng” mang phong cách thủy mặc hiện diện trong một quán cà phê, rồi sẽ có lúc bài ca Tống Biệt được trỗi lên, khách sẽ thấy thú vị biết dường nào khi chợt nhận ra ý tứ rất thâm trầm của chủ quán, hẳn điều đó sẽ làm các vị khách ấy thích thú mà quay trở lại quán những lần kế tiếp…

Như đã nói ở trên, các bích họa không chỉ là ý tứ từ trong thơ trong nhạc mà có một bức tranh chứa đựng tâm tư hoài niệm của tác giả mà ông tự dành riêng cho mình. Đó là một bức vẽ to lớn có xóm chài bãi biển, có thuyền chài nho nhỏ và giàn lưới, có những con cá chim, cá “ông tiên” với những cánh vây dài yểu điệu, những con sao biển với các “cánh tay” sinh động đang bò dưới rạn san hô…

   – Có người cắc cớ phê bình ba tôi: “sao ông lại vẽ tấm lưới và cá tôm?”

   – Sao? Có vấn đề gì sao?

   – Ý rằng khách vào Ti La là như cá mắc lưới hay sao?

Ba tôi chỉ cười mà nói rằng:

   – Đó là câu chuyện của riêng tôi. Là tuổi thơ của tôi. Là để tưởng nhớ cha tôi, một ngư dân nghèo hành nghề “hạ bạc”….

Một cách rất riêng ông đã “sống cho mình” trong tĩnh lặng.

… Tôi còn nhớ rất rõ về ông Sáu mà chúng tôi quen gọi “bác Sáu Chùa Phật Đường” hàng ngày đã đến làm việc tại Ti La trong một thời gian khá dài. Ông là một trung niên tầm thước và rắn chắc, ông để râu dài và tóc “búi tó” giống như hình ảnh các người xưa mà tôi thường thấy trong các bộ truyện tranh cổ tích Việt Nam. Nhân dạng của ông cũng là một điều thu hút tôi la cà với ông hàng ngày khi đi học về…

   – Lớn lên con sẽ làm nghề thợ mộc như bác Sáu.

   – Thôi đừng cháu! Cái nghề này “trên tàn dưới mạt”…

Tôi ngày ấy sao hiểu được những lời đầy ẩn ý đó? Nhưng tôi cũng loay hoay loanh quanh ông dưới cái “tàn” (cây) và trên đống “mạt” (cưa) mà mấy cây cưa xả, cưa lọng của ông thải ra. Tôi còn sưu tầm các phôi bào mỏng dờn xoắn tít mà kéo dài ra có khi nó dài cả mét, và các cục gỗ vuông tròn tam giác nhỏ lớn đủ cỡ, đủ cho tôi xếp các hình khối mô tả các công trình kỳ dị của một thằng con nít giàu tưởng tượng vẽ ra. Cạnh ông, tôi còn được ông giới thiệu các loại công cụ nghề mộc như bào cóc đoạn ngắn và bào trường lấy đường thẳng dài và phẳng. Các loại công cụ lúc thì là đục khi lại là dũm mà khi thấy ông cầm làm việc thì cùng một động tác giống nhau nhưng lạ là cho ra các hình lỗ khác nhau? Ông còn “triết lý » cho thằng con nít này nghe về lý thuyết “âm dương” của cái mộng (gỗ) như là một sự sắp đặt bền vững ‘có đôi”! Ông nói thì ông cứ nói chứ chắc gì thằng nhóc này hiểu?

   – Nè Bé. Thợ mộc cắt dư, thợ hồ đắp thiếu!

   – Là sao con không hiểu?

   – Là cây gỗ mày phải cắt “trừ hao” dư chút để sau này mày “tề” lại, chứ lỡ như mày cắt hụt chút là quăng bỏ cả cây à?

   – Còn thợ hồ đắp thiếu là sao?

   – Ha ha ha… Là mày phải đắp xi măng thiếu một chút, để chút nữa lấy “hồ” đắp thêm chứ đắp dư chút nữa xi măng chết cứng mày đục bỏ mệt chết cha nhe con!

Cứ vậy mà cạnh ông tôi hiểu thêm về cái việc “trù bị” từ rất sớm, rồi các bài học đầy tính “ẩn dụ” đó nó luôn đi với tôi suốt chiều dài năm tháng…

Nhưng bác Sáu Chùa Phật Đường làm gì tại quán Ti La? Thì đó, tất cả những thứ gì liên quan đến “nghề mộc” là bác Sáu làm tất. Đó là các khung gỗ trang trí theo nghệ thuật sắp đặt mà ba tôi đã vẽ ra cho ông thực hiện, là các hàng rào kết hợp giữa gỗ và tre để tạo các khu vực riêng trong một không gian mở, là một cái “túp lều lý tưởng” có thể chứa chừng năm sáu bộ bàn ghế trong đó, là sửa chữa bàn ghế hư hỏng v..v.. Tôi hay nhớ về ông Sáu thợ mộc và việc làm mộc cho những ngày đầu của Quán Ti La như vậy đó.

Tất cả những việc kể trên là việc chú trọng vào “cái vỏ” của một quán cà phê mà ngày xa xưa ấy kể ra cũng là to ở xứ Hà Tiên chúng ta. Mà, để một cái quán bán thức uống có thể thu hút được mọi người từ cặp đôi tình tự, công chức với vài ba người gặp gỡ, gia đình tổ chức sinh nhật nhẹ nhàng, cho đến các nhóm học sinh đến để khao nhau hay để “chung độ” thua chuyện chi đó… thì cái chính phải là thức uống, xem như cái ‘’ruột’’ của quán.

Má tôi rất chú trọng và bà thật kỹ lưỡng đến việc mang đến thực khách những gì ngon nhất với cách thức trang trọng nhất, bà tuyệt đối không cho phép người “chạy bàn” cầm ly mang ra, tất cả phải trong một cái mâm và có dĩa hẵn hòi. Đó hẵn là lạ lẫm với người Hà Tiên ngày xưa đã quen cách xuề xòa “sao cũng được.”

Cứ mỗi chiều tầm khoảng ba đến bốn giờ là tôi nghe “Ken cô, ken cô!!”. Đó là tiếng của một chú xe lôi già người Hoa gầy gò có cái đầu hoi hói với nước da bánh mật, da chú ngâm đen từ ngón út trong đôi “dép Nhựt” (xưa ta gọi vậy) lên đến cái đỉnh đầu không còn tóc mà chẳng có nón của chú. Chú cười tít mắt trên gương mặt ruộng khô nứt nẻ. Đã không phát âm được âm “kem” cho rõ ràng mà chú còn khuyến mãi thêm tía lia câu chữ ngọng ngịu gì đó lai giữa tiếng Hoa và tiếng Việt mà chỉ có chú và má tôi hiểu!  Đơn giản là chú có nhiệm vụ lấy kem từ tàu đò Rạch Giá – Hà Tiên mà ba má tôi đã đặt bên ấy, rồi hàng ngày họ giao cho quán Ti La. Kem là một món chủ lực của Ti La ngày ấy.

Ở Hà Tiên ngày xưa có nhiều quán cà phê vợt, buổi sáng rất đông người thưởng thức với các ly xây chừng, tài chừng, xây nại, pạc xỉu… mà giờ đã thành những ký ức đầy hoài niệm. Nhưng buổi tối họ lại đến Ti La để thưởng thức một thứ cà phê khác. Đó là cà phê phin với “cái nồi ngồi trên cái cốc” mà người lạ từ miền ngoài vào sau này đã mô tả vậy! Cà phê đó được má tôi đặt từ đâu tôi không biết mà tôi còn nhớ rất rõ đó là cà phê hạt được đóng gói trong các bao giấy kraft kín bên ngoài có chữ Moka, hàng mỗi chiều các anh chị xây vừa đủ để bán một đêm, việc đó khiến nó rất thơm và nó sẽ ngon lành hơn nữa với cách pha đúng kỹ thuật.

Nếu độc giả đã lão niên và đã từng đến quán Ti La sẽ nhớ về quán Ti La xưa với cách thức pha cà phê độc nhất vô nhị thời ấy ở Hà Tiên, nó hoàn toàn mang tính cá nhân cho mỗi thực khách. Nếu khách gọi cà phê đen thì sẽ nhận được không chỉ cà phê mà là: một “bình thủy” nước sôi nhỏ xinh vỏ bằng nhựa có in hình ca rô đen và đỏ, chứa chừng 500 ml nước sôi trong đó. Một phin cà phê đã định lượng sẵn “ngồi” trên cái tách (không phải cái ly) nhưng chưa có nước, khách sẽ tùy thích lượng nước mà chọn cho mình một độ đậm đặc ưng ý của cà phê. Một chén đầy đường trắng và cây muỗng nhỏ. Một bình trà nóng để khách dùng khi uống xong và khách có thể pha thêm với cái bình thủy nước sôi ngay đó.  Tương tự nếu khách gọi cà phê đá thì sẽ có thêm một cái ly cao chứa đầy đá, nếu gọi cà phê sữa thì cái chén thay vì đường sẽ là sữa đặc. Thực khách xưa đã rất thích thú vì điều này vì đơn giản là họ được chủ quán tôn trọng cái “tôi” của họ, có thể tùy thích sử dụng trà và đường kèm theo…

Có nhiều cách làm vui lòng khách đến, thì đây cũng là một trong những cách khiến khách còn muốn quay trở lại…

Quang Nguyên (còn tiếp)

Tấm danh thiếp ghi tên và địa chỉ quán Ti La với hai câu thơ có chữ Ti La do thầy Trương Minh Hiển tặng mình (Trần Văn Mãnh) ngày xưa.

Họp bạn cùng lớp của lớp học Trần Văn Mãnh do thầy Trương Minh Hiển tổ chức tại quán Ti La (Hà Tiên), hình: TVM, chụp khoảng năm 1966.

Họp bạn cùng lớp của lớp học Trần Văn Mãnh (ngồi bìa phải phía dưới)  do thầy Trương Minh Hiển tổ chức tại quán Ti La (Hà Tiên), hình: TVM,  chụp khoảng năm 1966. Danh sách các bạn có mặt trong buổi họp mặt nầy: Theo thứ tự từ hàng trên và từ bìa phải: Hà Mỹ Oanh, Nguyễn Thị Thanh Hà, Trần Thị Thu Oanh, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Mỹ Ngân, Quách Thị Chol, Lâm Ánh Nguyệt, Nguyễn Nguyệt Hồng, Phù Ngọc Anh, Lý Mạnh THường, thầy Trương Minh Hiển, Phan Thanh Liêm, Nguyễn Văn Tài, Lương Cường, Lâm Nhi Tôn và Trần Văn Mãnh (hàng dưới, bìa phải). 

Bà nội của tác giả Quang Nguyên ( thân mẫu của thầy Trương Minh Đạt), Bà Trần Thị Chín, trước một trong những phần trang trí gỗ của quán Ti La, Hà Tiên, hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1971.

Cô Nguyễn Phước Thị Liên (cùng với thầy Trương Minh Đạt, lập ra quán cà phê nhạc Ti La, Hà Tiên), trước một trong những phần trang trí gỗ của quán, hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1971.

 

Một người Mỹ viết sách về lịch sử Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

A/ Khái quát về sách viết về lịch sử vùng Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, trong vòng 20 năm trở lại đây, trên địa bàn sách báo về văn hóa lịch sử đất Hà Tiên có xuất hiện nhiều bài báo rất phong phú về tư liệu nghiên cứu và rất có giá trị về phương diện tìm hiểu chính xác các yếu tố lịch sử. Các bài báo đăng đàn thảo luận về lịch sử Hà Tiên nầy đã được tổng hợp lại và xuất bản thành sách, ta có thể lược qua như sau:

1/ « Nhận thức mới về đất Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2001

2/ « Nghiên cứu Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2008

3/ « Họ Mạc với Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2017

Ba quyển sách mới nhất trong lãnh vực nghiên cứu về Hà Tiên kể trên là ba quyển sách được nhiều độc giả đón nhận và hiện nay đã cạn trên thị trường sách vì chưa được tái bản. Riêng mình có may mắn đã tìm mua được quyển 2 và được tác giả tặng quyển 3. Những bài do mình viết trên Blog nầy phần lớn dựa trên các thông tin của hai quyển sách kể trên. Có thể nói thầy Trương Minh Đạt đã tạo ra một bước ngoặc rất lớn trong quá trình tìm hiểu đất Hà Tiên vì qua các bài viết trên các quyển sách, thầy đã đưa ra nhiều minh chứng để sửa sai nhiều yếu tố trong việc hiểu biết về lịch sử Hà Tiên, những điểm được chỉnh sửa nầy phần lớn xuất phát từ vài sự lầm lẫn, việc đồng hóa sự kiện lịch sử với các câu chuyện do dân gian kể lại hay từ các tác phẩm dã sử pha trộn nhân vật lịch sử có thật và các yếu tố hư cấu để tăng phần lôi cuốn cho câu chuyện…Từ những năm 60, vì không có sách vở tiếp tục nghiên cứu về thực tế, các điểm sai lầm nầy đã được chuyên chở, truyền tụng qua nhiều thập niên nên ngày nay nếu muốn tìm hiểu về vùng đất Hà Tiên ta nên cẩn thận và phải đối chiếu thông tin một cách phong phú hơn để có được cái nhìn đúng đắn.

Từ giữa thế kỷ thứ 20 trở lại đây, số học giả quan tâm nghiên cứu về Hà Tiên có rất ít. Trong nước ta có thể kể ra thầy giáo Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906 – 1966), ông Trần Thiêm Trung, nhà nghiên cứu Vũ Văn Kính (1919 – 2009)…Ở ngoài nước có các học giả Emile Gaspardone (1895-1982), Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa: 1918-1995),…

Ngoài ra cũng có một số bài viết rất xưa của các tác giả nước ngoài nhắc nhở nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến vùng Hà Tiên như: Pierre Poivre, Alexander Hamilton,…Nội dung các bài viết nầy tuy không đi sâu vào chủ đề lịch sử vùng Hà Tiên nhưng có nhiều yếu tố giúp các nhà nghiên cứu xác định hoặc bác bỏ các chi tiết bàn cải về niên đại và biến cố lịch sử Hà Tiên.

Hai tài liệu do người Tây phương viết có liên quan đến lịch sử Hà Tiên và đáng chú ý nhất đó là:

a/ « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn »).

b/ « Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Ha-Tien »: tác giả Emile Gaspardone, Paris 1952. (« Một người Trung Hoa ở vùng biển Nam Hải, người sáng lập xứ Hà Tiên »).

Tác giả người Pháp Emile Gaspardone đã nhận xét về quyển sách của tác giả Alexander Hamilton như là một tài liệu viết xưa nhất về vùng đất Hà Tiên.

Ngoài ra trong những năm đầu thập niên 80 gần đây cũng có xuất hiện một quyển sách viết về lịch sử Hà Tiên, do một người Tây phương đã từng có thời gian sống ở Hà Tiên viết ra sau khi ông nầy rời Việt Nam trở về nước. Để thu nhặt được đầy đủ tư liệu, hình ảnh cho quyển sách của mình, tác giả nầy đã tham khảo, trao đổi với rất nhiều vị thân hào, nhân sĩ đất Hà Tiên thời ông đến đây. Chính ông cũng đã nhiều lần đặt chân thăm viếng đền thờ, những ngôi mộ cổ, những mảnh tường dầy đổ vỡ, những vết tích tàn lụn ngày xưa ngay tại Hà Tiên và ông đã đặt ra rất nhiều câu hỏi với các người bạn gốc Hà Tiên về đủ mọi chi tiết về lịch sử Hà Tiên, về gia đình họ Mạc, qua đó ông rất có ấn tượng và rất thích thú được đặt chân đến tận nơi một vương quốc trong quá khứ mà vị trí chỉ là một góc nhỏ ở nơi nào đó xa xôi của miền Viễn Đông.

Tác giả của quyển sách cận đại về lịch sử Hà Tiên nầy tên là Nicholas Sellers và quyển sách có tên « The Princes Of Hà-Tiên (1682 – 1867) ». (Những Ông Hoàng của đất Hà Tiên).

Trên bìa chính của quyển sách còn có ghi một tiểu đề như sau: « The Last of the Philosopher-Princes and the Prelude to the French conquest of Indochina: A Study of the Independent rule of the Mac Dynasty in the Principality of Ha-Tien, anh the  establishment of the Empire of ViêtNam ». (Người cuối cùng trong các ông Hoàng triết gia và khúc dạo đầu cho cuộc chinh phục Đông Dương của Pháp: Nghiên cứu về quyền cai trị độc lập của nhà Mạc ở vương quốc Hà-Tiên và sự thành lập đế chế Việt Nam). Nhà xuất bản Thanh-Long, Bruxelles, nước Bỉ, năm 1983. Quyển sách nầy gồm 186 trang và là quyển thứ 11 trong tập nghiên cứu Đông Phương của nhà xuất bản nầy. (Etudes Orientales N°11).

B/ Hoàn cảnh ra đời của sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) »:

Trước khi đến Việt Nam trong đơn vị Lực lượng đặc biệt, ông Nicholas Sellers còn là một trợ lý luật sư ở Tòa án Philadelphia, thuộc tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ. Ông có mặt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, thuộc tỉnh Kiên Giang tổng cộng trong thời gian 2 năm, với cấp bậc Đại Úy. Có một lần khi đi qua vùng Cần Thơ, ông đã để ý đến một ngôi đền cổ xưa và với con mắt của người du lịch ông nghĩ rằng ngôi đền đó tượng trưng cho một tinh thần của nền cổ đại phương Đông. Tuy nhiên khi hỏi thăm người địa phương thì mới biết ngôi đền nầy chỉ mới được xây dựng vào năm 1930, không phải cổ đại cho lắm. Sau một thời gian ngắn phục vụ ở Phú Quốc, ông đến Hà Tiên năm 1967 và đóng quân tại trại Biệt Kích Tô Châu (nơi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi là « Trung Tâm », đây là ngôi trại nằm ở khúc qua khỏi ngọn núi Đại Tô Châu, khoảng ở cây số 2 tính từ chiều Hà Tiên-Kiên Lương, trại được thành lập vào tháng 2 năm 1963), tại đây ông giữ trách nhiệm chỉ huy trưởng của trại Biệt Kích Tô Châu.

Dưới con mắt và sự hiểu biết của Nicholas Sellers vào lúc đó, Hà Tiên là một nước nhỏ, độc lập và do một người thám hiểm Trung Hoa thành lập vào những năm cuối của thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Trong thời gian đóng quân ở trại Tô Châu, Hà Tiên, ông đã chú ý rất nhiều đến những di tích của vương quốc Hà Tiên nầy, ông đã thấy tận mắt những bức tường của tòa thành cổ, hai ba ngôi đền xưa còn đứng vững hoặc đã đổ nát, các ngôi mộ của các hoàng tử thời xa xưa… tất cả đối với ông như là những yếu tố nhắc nhở về những năm tháng vinh quang của một Hà Tiên cổ xưa…khiến cho Nicholas Sellers cảm thấy rất thích thú đến mức ông nghĩ mình là một du khách viếng thăm Hà Tiên hơn là một người lính đang làm nhiệm vụ ở đây…Được sự cảm thông và khuyến khích của vị Đại Úy cựu chỉ huy trưởng trại Tô Châu trước ông, Nicholas Sellers bắt đầu tìm hiểu một cách thực tế về lịch sử Hà Tiên. Ông tìm và hỏi rất nhiều chi tiết với nhiều người quen biết trong số dân chúng ở Hà Tiên và đặc biệt ông được hưởng một sự giúp đở rất quý giá và to lớn của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Hà Tiên, đó là ông Quách Ngọc Bá.

Dĩ nhiên là việc làm nầy không phải là dễ dàng vì nhiều lý do: Nicholas Sellers là một quân nhân nên thời gian rảnh không có nhiều vì còn phải thực hành nhiệm vụ tuần tra, hành quân, chiến đấu…, hơn nữa hàng rào ngôn ngữ cũng gây nhiều trở ngại…Tuy nhiên vài tháng sau khi đến Hà Tiên, ông đã bắt đầu các cuộc tiếp xúc với dân chúng địa phương ở đây, nhờ có vốn liếng tiếng Pháp của ông, ông có thể trò chuyện với nhiều người cao tuổi ở Hà Tiên, nhất là với ông Quách Ngọc Bá (và cũng nhờ đó Nicholas Sellers đã được ông Quách Ngọc Bá cung cấp cho quyển sách tương lai của ông về Hà Tiên những hình ảnh về chùa Tam Bảo, Lăng Mạc Cửu, Thạch Động, Đá Dựng,…v…v…). Nicholas Sellers tìm hiểu về đủ mọi đề tài khi nói chuyện với các người quen biết Hà Tiên: Ông hỏi về việc trồng tiêu, việc buôn bán gỗ, đốt than, về tôn giáo, về những con rắn hổ mang, những con đồi mồi, về địa lý và lịch sử Hà Tiên…Qua sự tiếp xúc phong phú nầy ông luôn được thỏa mãn với những câu trả lời của người dân địa phương, vì người dân Hà Tiên luôn tự hào về di sản cổ xưa và rất thích kể cho ông nghe những tư liệu truyền khẩu về lịch sử Hà Tiên. Chẵng những thế, Nicholas Sellers còn thu thập được rất nhiều thông tin về Hà Tiên dưới những hình thức khác như: bản đồ, hình ảnh, tài liệu quảng cáo du lịch của những năm 1930…Đó là những mầm mống tích lũy cho Nicholas Sellers về những khởi đầu trong sự hiểu biết về lịch sử Hà Tiên mà ông sẽ viết ra thành một luận văn trong khoảng thời gian rảnh rổi trong vòng 4 năm sau khi ông rời khỏi Việt Nam để về nước. Nicholas Sellers càng tìm hiểu về lịch sử vùng Hà Tiên ông càng ngạc nhiên vì theo kiến thức của ông, ông không thấy câu chuyện vè vương quốc nhỏ bé Hà Tiên này được ghi chép lại bằng bất cứ ngôn ngữ nào, cũng không thấy những ghi chú, thông tin tham khảo trong lịch sử nước Việt Nam hay kể cả những ghí chép ngắn gọn của những người đã từng thăm viếng Hà Tiên trong những năm xa xưa trong lịch sử. (Tuy nhiên đây chỉ là ý nghĩ của Nicholas Sellers vào thời điểm ông ở Hà Tiên 1967-1968, vì sau khi ông trở về nước Mỹ và trong vòng 4 năm sau đó ông đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu sách vở liên quan đến vùng đất Hà Tiên, khoảng 120 quyển sách viết bằng tiếng Anh, Pháp và Việt ngữ…)

Nguồn thông tin và tài liệu về lịch sử vùng Hà Tiên mà Nicholas Sellers thu thập được chủ yếu là do quan sát và tìm hiểu tại chỗ, ngoài ra ông còn được ông Quách Ngọc Bá cho xem những bản thảo ngắn viết về Hà Tiên và xem bộ sưu tập hình ảnh tuyệt đẹp về Hà Tiên do nhiếp ảnh gia nầy thực hiện…Từ đó Nicholas Sellers bắt đầu nghiên cứu rộng hơn về lịch sử Đông Nam Á, những sự kiện về Hà Tiên thông qua các giao tế và chiến tranh giữa các nước lân cận như Campuchia và Thái Lan. Tuy nhiên ông đã gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc viết về lịch sử vùng Hà Tiên. Điều hiển nhiên dễ thấy đó là những khoảng trống trong lịch sử Hà Tiên, điều kế tiếp là sự thiếu vắng những tài liệu gốc mà một nhà sử học thường đòi hỏi phải có trước mắt mình để viết, thí dụ như: nhật ký hải trình, thư từ giao tiếp, phán quyết tòa án hoặc của Triều Đình…v…v…Để khắc phục những khó khăn nầy, Nicholas Sellers tiếp tục mò mẫm, tìm kiếm cộng với sự lý luận thận trọng và tốt nhất để nối kết các sự kiện lịch sử lại với nhau một cách hợp lý và để giải thích sự kiện lịch sử.

Nicholas Sellers phục vụ ở trại Biệt Kích Tô Châu, Hà Tiên trong vòng hai năm từ 1967 đến 1968. Trong thời gian tại đây ông cũng bị thương nặng trong một cuộc chạm súng. Sau đó ông được đưa về nước Mỹ và ra khỏi quân đội. Trong thời gian về quê ở tiểu bang Pennsylvania, trong cuộc sống dân sự, ông đã tiếp tục sự nghiệp trong ngành luật, ông lấy được văn bằng Thạc sĩ về Luật (Master of Laws hay theo các nước anglo-saxons, người ta gọi là văn bằng LL.M = Latinh Legum Magister vào năm 1974 tại trường Đại Học Pennsylvania). Trong luận văn để đạt được văn bằng nói trên, chính Nicholas Sellers đã viết về lịch sử vùng đất Hà Tiên và sau khi lấy được bằng MA Laws, ông đã cho xuất bản luận văn nầy dưới hình thức một quyển sách, đó chính là quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » mà chúng ta đang nói ở đây.

Hiện nay Nicholas Sellers đã 85 tuổi và vẫn sinh sống tại một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Pennsylvania.

C/ Nội dung của quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » :

Như trên bìa của quyển sách xuất bản năm 1983 tại nước Bỉ (Belgique), có dòng tựa phụ tóm tắt nội dung quyển sách như sau: « The Last of the Philosopher-Princes and the Prelude to the French conquest of Indochina: A Study of the Independent rule of the Mac Dynasty in the Principality of Ha-Tien, anh the  establishment of the Empire of ViêtNam ». (Người cuối cùng trong các ông Hoàng triết gia và khúc dạo đầu cho cuộc chinh phục Đông Dương của Pháp: Nghiên cứu về quyền cai trị độc lập của nhà Mạc ở vương quốc Hà-Tiên và sự thành lập đế chế Việt Nam). Tác giả Nicholas Sellers đã lấy năm 1682 để bắt đầu cho lịch sử vùng Hà Tiên và năm 1867 để kết thúc cho giai đoạn lịch sử vùng Hà Tiên.

Năm 1682: Theo các tài liệu cận đại đã được giới nghiên cứu công nhận, Mạc Cửu đến Nam Vang (xứ Chân Lạp, Cao Miên) vào năm 1680.  Ông làm việc ở đây với chức vụ Ốc Nha. Đến năm 1689 thì nước Chân Lạp bị nội loạn, Mạc Cửu đi tị nạn sang bãi biển Vạn Tuế Sơn (Muang Galapuri) bên nước Xiêm. Vậy niên đại 1682 là lúc Mạc Cửu vừa đến nước Cao Miên và đang làm quan ở Nam Vang, có thể xem như là lúc Mạc Cửu bắt đầu sự nghiệp quan chức, nhưng ông chưa đến vùng Mang Khảm (tên xưa của vùng Hà Tiên).

Năm 1867: Đây là niên đại tương ứng với sự thất thủ Hà Tiên, trong một đợt thời gian mà nhà Nguyễn mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên). Sự kiện đó làm chấm dứt hệ thống hành chánh do người Việt Nam quản trị vùng Hà Tiên. Người Pháp bắt đầu đặt nền tảng cho bộ máy cai trị ở Hà Tiên. Chẳng những dòng họ Mạc đã không còn người đứng đầu cai quản đất Hà Tiên mà các viên quan chức người Việt Nam cũng không còn người nào làm chủ ở Hà Tiên nữa. Các ông Hoàng của vùng Hà Tiên theo Nicholas Sellers, thứ tự là:

           1/ Mạc Cửu (1655 – 1735)

           2/ Mạc Thiên Tứ (1718 – 1780)

           3/ Mạc Tử Sanh (1769 – 1788)

           4/ Mạc Công Bính (? – 1798)

           5/ Mạc Tử Thiêm (? – 1809)

           6/ Mạc Công Du (? – 1833)

           7/ Mạc Hầu Hy (? – ?)

           8/ Mạc Bá Bình (? – ?)

           9/ Mạc Tử Khâm (? – ?)

Một cách tổng quát, Nicholas Sellers nói qua về tính chất địa lý vùng Hà Tiên, sự thành lập các thôn xã từ khi Mạc Cửu chú ý đến vùng đất Mang Khảm, các cuộc xâm lăng tuy không liên tục nhưng thường xảy ra suốt chiều dài lịch sử của đất Hà Tiên. Ông cũng viết về Chiêu Anh Các của thời Mạc Thiên Tích và xem như một Hàn Lâm Viện của vùng đất Hà Tiên. Ngoài ra tác giả cũng viết về những giai đoạn khủng hoảng của vương quốc Hà Tiên trong bối cảnh chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn, và kết thúc trong giai đoạn người Pháp chiếm Hà Tiên.

D/ Tìm sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » ở đâu?:

Ngay từ lúc xuất bản quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » do nhà xuất bản Thanh-Long, thủ đô Bruxelles nước Bỉ (Belgique) vào năm 1983, không biết là sách đã có mặt trên thị trường sách trong thời gian bao lâu, nhưng một thời gian sau thì quyển sách đã cạn và đã không được tái bản. Hiện nay chỉ có các thư viện của các trường Đại Học và các viện nghiên cứu trên các thành phố lớn ở nhiều nước còn lưu trữ mỗi nơi vài bản, độc giả chỉ có thể đến tại chỗ hoặc mượn về nhà để tham khảo. Ở Paris, nước Pháp, trường Đại Học Paris 7, ngành Văn Chương và Khoa học Nhân Văn (Université Paris-Diderot,  Lettres et Sciences humaines) có một bản của quyển sách nầy. Tác giả Nicholas Sellers xem tác phẩm của mình như là một sự đóng góp khiêm tốn cho những người du khách hoặc những sinh viên có lưu tâm đến lịch sử vùng Đông Nam Á, đặc biệt là vùng đất của Vương quốc Hà Tiên thuở xưa, để kỷ niệm những năm tháng ngắn ngủi vinh quang và độc lập của Hà Tiên…Tuy vậy, tên của quyển sách của Nicholas Sellers thường xuyên xuất hiện trong các sách nghiên cứu về họ Mạc và đất Hà Tiên với tư cách là thư mục nghiên cứu, điều nầy chứng tỏ quyển sách của ông có một giá trị nhất định, giúp cho các nhà nghiên cứu so sánh, minh chứng tạo ra cho việc tìm đến sự thật trong các sự kiện lịch sử nhanh chóng và chính xác hơn. Với cương vị một người con sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên, mình trân trọng cám ơn tác giả Nicholas Sellers đã từng yêu mến đất Hà Tiên, từng đến đây và tìm hiểu về lịch sử của quê hương mình và đã lưu lại cho thế hệ đi sau một tư liệu quý giá.

Trần Văn Mãnh, Paris, thứ năm, ngày lễ Thăng Thiên, 13/05/2021

                                                                    Trang bìa của quyển sách « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn », trong quyển sách nầy nhà hàng hải Alexander Hamilton có viết ông có ghé bến Mang Khảm tức Hà Tiên vào năm 1720 và có mô tả vùng Hà Tiên bị điêu tàn sau trận giặc Xiêm đánh). 

Trang 198 chương 48 của quyển sách « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn », trong quyển sách nầy nhà hàng hải Alexander Hamilton có viết ông có ghé bến Mang Khảm tức Hà Tiên vào năm 1720 và có mô tả vùng Hà Tiên bị điêu tàn sau trận giặc Xiêm đánh). « In Anno 1720, I saw several ò the Wracks, and the Ruins of the Town of Ponteamass » (Trong năm 1720, tôi nhìn thấy ngổn ngang những xác tàu chìm, và sự đổ nát của phố thị Hà Tiên). Người ngoại quốc thời xưa gọi Hà Tiên là tên Ponteamass.

                                                          Hình trái: Bìa quyển sách: « Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Ha-Tien »: tác giả Emile Gaspardone, Paris 1952. (« Một người Trung Hoa ở vùng biển Nam Hải, người sáng lập xứ Hà Tiên »). Hình phải: Minh họa bìa của quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » của NIcholas Sellers trên site Amazon nhưng đây không phải là bìa gốc của quyển sách xuất bản tại Bruxelles, nước Bỉ vào năm 1983 vì các quyển sách của lần xuất bản đầu tiên nầy đã cạn trên thị trường sách.                                                                                                                                             

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần H-Người phụ nữ rất đặc biệt (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong mối quan hệ gia đình, dĩ nhiên là giữa cha mẹ và con cái có một mối quan hệ thiêng liêng, mật thiết, không một liên hệ nào chặt chẽ hơn…Tuy nhiên song song với sinh hoạt trong gia đình giữa cha mẹ và con cái, còn có một quan hệ không kém phần mật thiết hơn, đó là sự liên hệ giữa ông bà và cháu…Trong gia đình người Việt Nam của chúng ta, thường có nhiều hình ảnh nói lên niềm gắn bó, sự yêu thương giữa ông và cháu, giữa bà và cháu…Có rất nhiều dịp một người cháu trong gia đình nhận được sự nâng niu, trìu mến, yêu thương và dạy dỗ của ông bà…, và niềm lưu luyến « ông bà-cháu » đó đã in sâu vào ký ức của những con cháu trẻ, ngay từ tuổi thơ, để một khi ông bà theo tuổi đời đã quy tiên, người cháu vẫn còn mãi thương nhớ và tiếc nuối những ngày mình còn thơ ấu, được ông bà thương yêu và chìu chuộng…Ngay bản thân những anh em của mình trong nhà cũng đã được hưởng sự giáo dục đúng đắn và sự thương yêu chú ý của bà ngoại mình trong nhiều năm còn nhỏ sống trong gia đình…Trên Blog nầy mình cũng đã viết nhiều bài về ký ức thời tuổi nhỏ, với những sinh hoạt giữa bà cháu trong rất nhiều dịp, đó là những bài như « Ký ức về con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên », hoặc bài « Ăn Tết thời thơ ấu »…v…v… Tiếp theo đây, sau khi viết đoạn III – phần G về « Họ Trương ở Rạch Vược », tác giả Quang Nguyên viết nốt phần cuối của tập ký ức về những ngày thơ ấu ở quê ông bà Rạch Vược, Thuận Yên, Hà Tiên, nhân một dịp được xem ba tấm hình xưa người Pháp chụp về khu xóm Rạch Vược với cây cầu sắt mà ngày nay không còn nữa, ngay cả đoạn rạch mở ra bờ biển Thuận Yên cũng đã biến mất với thời gian…Từ những năm 60-70, cho đến ngày nay, bao sự thay đổi đã diễn ra, nhất là trước và sau cái mốc thời gian « đổi đời » của năm 1975…Gia đình của tác giả cũng không nằm trong sự ngoại lệ, mà ngược lại còn là một trong những chứng cớ lịch sử để cho thấy cuộc đời là một trường đấu tranh khốc liệt mà nếu ta nản chí, buông tay, thì ta sẽ bị cơn gió thời cuộc cuốn trôi đi đến mức độ tự hủy diệt…May mắn thay, trong đời sống, không nói đến những tấm gương soi sáng về lòng tự chủ, sự quyết tâm và ý chí mãnh liệt của những bậc anh hùng, chí sĩ, mà chỉ là những người nông dân, ngư dân bình thường, những bậc thầy cô giáo với những người con thông minh hiếu học, người ta vẫn chiến thắng được ít nhiều hoàn cảnh và từ đó làm thay đổi được vận mạng và sinh hoạt của chính mình, để mở ra một con đường mới cho nhiều thế hệ đi sau…Sách đã có chữ « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…(« bĩ » và « thái » là hai quẻ của kinh Dịch: Bĩ tượng trưng cho khốn cùng, thái tượng trưng cho sự hanh thông, mọi việc đã qua…). Rất cám ơn tác giả Quang Nguyên đã từ một ý nghĩ nhớ về quê nhà xa xưa, nơi ông bà lập nghiệp và sinh sống, đã có hứng thú viết một hồi ký rất hay, có giá trị về nhiều phương diện: địa lý, văn hóa, nhân văn và giáo dục…Không có ý dùng chữ to lớn và cường điệu hóa cho lắm, nhưng rỏ ràng là qua tập hồi ký gồm 3 đoạn chính và 8 phần khai triễn chi tiết, chúng ta đã được học hỏi rất nhiều về phương diện địa lý vùng Rạch Vược-Thuận Yên, về phương diện văn học để biết thêm chính xác thế nào là « Lư Khê Ngư Bạc » hay « Châu Nham Lạc Lộ » hay « Nam Phố Trừng Ba »…, về phương diện nhân văn, chúng ta thấy được bài học tình người, tình cha con, mẹ con, sự phấn đấu và quyết chí khi đối đầu với những khó khăn cực nhọc, rồi một bài học vầ giáo dục để cho thấy trên đời nầy nếu ta có quyết tâm học hỏi thì có thể ta sẽ cải thiện rất nhiều chẳng những cho ta mà còn cho thế hệ đi sau một cuộc sống khá hơn…Vậy xin mời thầy cô và các bạn đọc ngay phần H, cũng là phần cuối cùng kết thúc thiên hồi ký của Quang Nguyên. (Paris, TVM viết lời giới thiệu ngày 04/05/2021)

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông:

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

 F – Thiên nhiên đùm bọc:

III/ Trăm năm trong cõi người ta*:

 G – Họ Trương ở Rạch Vược:

H – Người phụ nữ rất đặc biệt:

Ngày còn nhỏ tôi hay quanh quẩn nơi cái giường của bà, giúp bà têm trầu và giã trầu cho bà trong cái cối nho nhỏ bằng đồng thau, với cái cây ngoáy chừng 10 cm cũng nho nhỏ, cây ngoáy ấy có cái đầu chĩa ba mà ngoáy riết nên nó bằng chang như cây tua vít dẹp, còn đầu kia là cục nắm nhỏ hơn quả trứng cút một chút… Tôi không biết ngày xưa ấy tôi có giúp cho bà được nhiều không, nhưng tôi ở cạnh bà nhiều đến nỗi ký ức về tuổi thơ của tôi luôn có bà trong đó.

Bà tôi có đôi mắt sáng, phải nói là rất sáng. Nó mạnh mẽ tương phản với tất cả những thứ còn lại trong cơ thể ốm yếu, đôi chân lặc lè và đôi tay yếu nhớt. Hai cánh tay của bà bình thường chỉ còn có thể làm những việc rất nhẹ nhàng là nhịp cái mõ “cốc .. cốc.. cốc..” một cách đều đều (khi bà giận lên thì có thể khác chút!), cùng lúc ấy miệng bà hát “bà ra tố rô…”, cánh tay thứ hai thỉnh thoảng gõ cái chuông phát ra tiếng “boong…” ngân xa rồi bà lại hát tiếp “tố ra bà rô…”. Tôi ngày xưa đã rất lạ vì cái ngôn ngữ của kinh kệ chỉ toàn là “ra vô” đó của bà. Nhưng nếu chỉ là thế thì có gì hấp dẫn thằng nhóc bốn năm tuổi như tôi chứ? Vậy mà tôi bị bà hút hồn, bà hấp dẫn tôi như trẻ con thời nay mê ti vi hay cái smartphone vậy. Bởi bà hay kể chuyện ma, những câu chuyện mà lớn lên tôi hiểu rằng 100 phần là bà “bịa” ra để giữ chân tôi nơi đó giúp bà giã trầu và lấy cho bà cái ống nhổ dưới gầm giường…

Bà của tôi là một người có cá tính rất mạnh và hình như bà không biết sợ bất cứ gì. Bà bán cá ở chợ Hà Tiên, mỗi ngày bà phải gánh hai sọt cá đầy, lội bộ 4-5 ki lô mét từ quê Rạch Vược đem ra chợ Hà Tiên bán. Bà hay kể cho tôi nghe chuyện bà phải dậy sớm từ gà gáy canh ba, đường quốc lộ đá lởm chởm mà bà đi chân trần thoăn thoắt. Lộ trình là phải băng qua hai ba mõm núi và những cánh đồng không một bóng người qua lại, chỉ có tiếng kẽo kẹt của đôi gióng nặng đè lên hai đầu đòn gánh vang vọng giữa đêm khuya làm bạn đồng hành cùng bà… Đột nhiên, đến giữa dốc “Eo Bà Má” (một mõm núi cách Hà Tiên gần 2 ki lô mét – là theo con lộ 80 cũ, qua bến cầu nổi) thì có ai đó kéo cái gióng cá phía sau khiến bà gần ngã ngửa, quay lại thì bà nào có thấy ai đâu? Chung quanh chỉ có một vùng tối đen âm u tĩnh mịch, một không gian lạnh lẽo với vài gợn gió rờn rợn và “khuyến mãi” vài cái cổ mộ to tổ bố ngay bên vệ đường …

          – Ai kéo đòn gánh của nội vậy?

          – Thằng khờ. thì ma chứ ai ở đó ba bốn giờ sáng?

          – Í í í… Ma!

          – Xê ra! Đổ ống nhổ của nội bây giờ!

Bà lấy cây gậy kế bên giường để đẩy tôi ra và ra lệnh với một giọng đầy “uy lực” khi tôi toan nhảy lên giường bà.

          – Rồi nội làm sao?

          – Làm sao là làm gì?

Bà đang đùa giỡn để kéo dài cái sự tò mò trong sợ hãi của thằng nhỏ.

          – Thì nội làm gì cái con ma đó?

         – Thì tao chửi nó. “@#$%^& ! Mày ngon thì ra đây “chơi tay đôi” với tao, còn không thì để tao đi chợ bán…”. Chửi vậy mà nó sợ mậy?

Bà nội cười hả hê, cái miệng móm mém của bà chợt giãn ra, đôi mắt thì đóng lại với bao nhiêu đường rãnh hằn sâu…

Cứ thế, ở cạnh bà thằng nhóc là tôi nghe được nhiều câu chuyện kể hay ho ly kỳ, những câu chuyện của quá khứ lẫy lừng của bà được nó quan tâm chu đáo, tai nó dõng lên để nghe mà tay thì không ngừng ngoáy, có khi một giọt nước miếng thoát ra khỏi cái miệng cố khép lại một cách vội vàng nhưng không còn kịp, rồi thì cái giọt đó đã rớt nhanh xuống nền nhà mà miệng nó còn phát ra một tiếng rít dài cố níu kéo, trong khi tay nó không ngừng ngoáy một cách vô thức… Bởi thế cái hỗn hợp trong cái cối nhỏ và chiếc dùi bằng đồng thau được “đặc tả” trên, đã được nhuần nhuyễn một cách không thể tốt hơn. Cứ thế, vì muốn nghe chuyện của bà nên nó liên tục ngoáy còn cái miệng móm mém của bà liên tục làm việc vừa nhai vừa nói.

Còn ở phía bà? Bởi có một thằng nhỏ để sai vặt và đỡ vắng lặng với tuổi già nên bà phải “chấp nhận” nó, dù bà biết nó là một thằng cu rất nghịch ngợm của gia đình này. Thằng nhỏ đó rất thích chạy xẹt ngang, dùng hai tay vò cái đầu trọc lún phún mà má nó mới cạo cho bà độ dăm ba hôm. “Bà nội cha mày!” bà dừng giữa hồi kinh để chửi thằng nhỏ đó, rồi bằng một hoặc cả hai tay chi đó bà dùng hết thể lực phóng vèo cây gậy về phía nó đang chạy… Cũng có thể nhờ vậy mà nó vô tình giúp bà vận động thể lực chăng?

Vậy mà bà chẳng giận tôi bao giờ, tôi lại phải lượm gậy cho nội, rồi kêu nội kể chuyện, những câu chuyện cứ như vậy mà vài hôm tôi cứ bắt bà kể một lần, lần nào bà cũng rất vui vẻ để kể cho tôi nghe… Mà hay lắm cơ! Bà chung thủy với nội dung câu chuyện của mình, chẳng hề thêm thắt hay lược bớt, chính vì vậy mà tôi dễ thuộc lòng…

Má tôi nói rằng bà rất tự hào với đôi gánh cá đó, vì nhờ đó mà bà đã nuôi và dạy thành tài năm đứa con, dù bà dốt cái chữ đến độ không biết viết cả cái tên của mình, khi phải thỏa thuận gì với ai bà chỉ cam kết bằng lời hứa mà bằng mọi giá bà phải giữ uy tín, còn khi phải đến cửa công quyền bà chỉ dùng các ngón tay điểm chỉ và đánh một chữ thập (dấu cộng) vào nơi ký xác nhận… Cũng từ gánh cá đó bà đã trở thành người đàn bà nổi tiếng nhất Hà tiên thời ấy vì đã « ngồi sui » với một ông tri huyện ở xứ Gò Công, một ông đốc học trí thức của tỉnh Hà Tiên (tương đương giám đốc sở giáo dục bây giờ), một ông địa chủ « ruộng vườn cò bay gãy cánh » ở bên An Giang, một ông hoàng tộc ở xứ Huế mộng mơ, và một bà giáo ở xứ Mỹ Tho phù sa giàu có…

Bà đã làm điều đó như thế nào?

Nhận thức từ rất sớm là cái dốt nó sẽ gắn liền với đói nghèo như một đôi tri kỷ keo sơn vững bền. Mà nói thật, không ai trên đời này thích cặp đôi đó, họ luôn muốn xa lánh nó nhưng nó cứ như “ma ám” mà tàn hại gia đình họ từ đời này sang đời khác… Bà hiểu rõ để xóa đói nghèo chỉ có việc học, nên bà cương quyết cho các con học hành đàng hoàng dù đời vợ chồng bà có lao khổ cách mấy đi nữa.  Khi trường Rạch Núi năm xưa không còn lớp để cho con bà học, không nỡ nhìn các con thất học bà đã đánh liều. Hàng ngày khi bà bán cá xong bà bèn đem đôi quang gánh đến ngồi trước nhà ông Đốc Học Tỉnh Hà Tiên ngày ấy để “rình” ông Đốc. Ông đi làm về bà xin gặp, ông không tiếp. Ngày hôm sau cũng vậy. Ngày hôm sau nữa cũng thế… Cho đến một hôm ông ấy chịu hết nổi nên đồng ý gặp bà. Bà trình bày câu chuyện muốn cho đứa con trai cả được đi học tiếp vì trường làng hết lớp. Ông Đốc thấy cái quyết tâm của bà mẹ và bản thân ông là nhà giáo thì làm sao có thể để cho con nít dốt chữ? Vì vậy nên ông chấp thuận cho đứa trẻ nhỏ được qua học bên Hà Tiên. Đến đây tưởng bà “thỏa mãn”? Nhưng không! Bà “dấn thêm bước nữa” (!).

          – Xin ông cho cháu được ăn ở trong nhà ông. Cho nó làm công việc gì cũng được…

          – Ớ!! Cái bà này?

Ông Đốc “ớ” người ra… Nhưng không hiểu bà nói cách gì thì cuối cùng ông Đốc chấp thuận. Đó là cách mà bà “ươm mầm” cho một tài năng “tuyệt đỉnh”, một trong “tứ tuyệt” của Hà Tiên – nhà báo Lư Khê Trương Văn Em sau này. Hơn nữa, sau này vợ ông Lư Khê là nữ sĩ Manh Manh Nguyễn Thị Kiêm, một nữ sĩ nổi tiếng khắp tam kỳ, bà là con ông tri huyện Nguyễn Đình Trị mà người đời thường gọi ông Huyện Trị. Còn bà bán cá chợ Hà Tiên luôn đi chân đất với đôi quang gánh, có cái miệng móm mém quần đảo liên tục để nhai trầu và đôi mắt sáng long lanh nổi bật trên gương mặt nhăn nheo khắc khổ, bà được quyền hãnh diện vì nghiễm nhiên được ngồi sui đồng vai với một ông tri huyện “Tây học” trong veston complet, mà ngay từ ngày xưa ấy ông đã tự lái xe hơi đưa con gái “rượu” Manh Manh ra đến tận Hà Nôi để đăng đàn diễn thuyết về nữ quyền. Huyện Trị nổi tiếng khắp các vùng Gò Công-Sài Gòn-Bình Dương dạo ấy đã gả con gái về miền cực Tây Nam bộ. Để rồi sau ngày ấy, xứ thơ Hà Tiên có thêm một nàng dâu tài cán lẫy lừng…

Còn ông Đốc? Ngày ông nhận đứa trẻ con cả của bà vào nhà, ông cũng không ngờ rằng thời gian sau ông “ngồi sui” cùng bà bán cá đã “ngồi đồng” trước cửa nhà ông!

Số là, vào ngay năm sau đó không biết bà bán cá đã thuyết phục thế nào mà ông Đốc với một tấm lòng cao cả, quảng đại, đã chứa chấp trong nhà và nuôi ăn học luôn đứa con kế của bà là Trương Văn Vinh. Về sau ông Vinh trở thành một thầy giáo thế hệ rất xưa của xứ Hà Tiên, rồi tiến lên làm con rể của ông Đốc! Cô Nguyễn Kim Đính con ông Đốc cũng là cô giáo. Hai người đi kháng chiến chống Pháp và tập kết ra Bắc năm 1954, sau đó cả hai dạy Đại Học Tổng Hợp Hà Nội cho đến ngày nghỉ hưu…

Chuyện hai ông sui trên ít nhiều gì thì cũng mang tính “liên đới” và mở rộng bởi các ông con trai bà… Nhưng chuyện sau đây thì khác:

Người Hà Tiên xưa chắc chắn sẽ luôn nhớ về quả dưa hấu Hà Tiên đã trở thành hoài niệm. Không như bây giờ dưa hấu có bốn mùa và “vuông, tròn, tam giác” lai tạp “rối khái niệm” theo kiểu Hồ Ngọc Đại! Chứ xưa cha ông ta chỉ có dưa hấu tròn An Tiêm được trồng ở xứ Hà Tiên này. Phải nói rằng dưa Hà Tiên là một thương hiệu đặc biệt từ rất xưa đó, nó được trồng ở vùng đất pha cát của Thuận Yên, Núi Nhọn, Xoa Ảo, hay vùng Mũi Nai, Thạch Động… Quả dưa Hà Tiên nó không ngon mà là: rất, rất ngon! Bởi nó được nhà nông bón phân bẳng giáp xác của con tôm khô đập nhuyễn, sau khi người Hà Tiên đã sàn sảy lấy cái phần giá trị nhất là thân con tôm khô trứ danh của Hà Tiên, mà khi còn sống nó đã bị mắc đáy tại cửa biển Hà Tiên này. Nói ngắn gọn: phải là con tôm của xứ Hà Tiên này. Rồi, cái phần vứt bỏ đi của một thứ trứ danh là tôm khô Hà Tiên đã tiếp tục làm rạng danh cho một sản vật khác của xứ này như đã nói trên là quả dưa hấu: Ruột dưa chắc dày, vỏ mỏng, ngọt lịm… Khi ăn, thoạt đầu cắn vào ta có cảm giác “có cát” nhưng nó sẽ tan dần và mát rượi, nuốt tới đâu mát tới đó. Ngày Tết ở Hà Tiên đến thăm nhau người ta “làm đầu câu chuyện” không bằng miếng trầu quả cau mà bằng quả dưa bổ miếng…

Tôm khô và dưa hấu Hà Tiên, cái cặp đôi hoàn hảo này, nó nổi tiếng đến độ những năm trước tại Sài Gòn, tôi đã nhiều lần thấy vào mùa Tết, các vựa dưa đổ đống bên đường treo bảng “dưa Hà Tiên” còn siêu thị thì bán “tôm khô Hà Tiên”! Trong khi dưa Hà Tiên thì không còn ai canh tác còn tôm khô thì người Hà Tiên còn không đủ ăn thì lấy cái gì đưa về siêu thị Sài Gòn?

Nhưng quả dưa thì liên quan gì đến bà bán cá? Phải có nên nên tôi mới nhắc nơi đây chứ?

Ngày xưa đó bà không chỉ bán cá, có những lúc “ngư nhàn” bà chèo xuồng mua bán nông sản qua lại kênh Vĩnh Tế tới Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc … Mùa Tết thì bà bán dưa Hà Tiên. Dù bà bán cá hay bán dưa thì cái sản vật mà bà bán bao giờ cũng là loại ngon nhất vì bà biết chọn lọc riêng khách hàng biết giá trị của nó. Nhiều năm bán dưa qua xứ này bà quen được gia đình ông Bộ Truyện là một điền chủ mà ruộng của ông “chó chạy thẳng đuôi, cò bay gãy cánh”!

          – Nhà ông Bộ Truyện to lắm. Có mấy lớp rào, có cổng sắt, nào dãy nhà chính nhà phụ, nhà ngang nhà dọc, nhà trên nhà dưới…

Ba tôi đã nói với tôi như vậy vì ngày xưa ba tôi đã đến đó.

Ngày xưa ấy, khi hai anh em Trương Văn Em và Trương Văn Vinh còn đang học tại Hà Tiên thì cuối tuần hay về Rạch Vược, hai anh hay đưa về một anh bạn học chung về chơi trong gia đình. Anh này họ Trịnh, gia đình bên Vĩnh Gia, Lạc Quới gần Tri Tôn, An Giang. Ngày xưa con cái được đi học hẳn phải gia đình khá giả giàu có chứ không như gia đình bà. Quả thật, anh học trò họ Trịnh này là con của ông Bộ Truyện.

Và, bà có một cô con gái xinh đẹp thuộc hàng hoa khôi của xứ Rạch Vược ngày ấy, cô ấy đẹp như tên của mình – Trương Mỹ Huê (Huê là Hoa). Bà quyết tâm làm sao cho con gái bà phải “đổi đời”. Có con cá ngon, hay quả dưa ngọt của Hà Tiên thì bà cứ “nhân dịp” A, B, C, D gì đó mà cùng cô con gái chèo xuồng từ Rạch Vược sang biếu gia đình họ Trịnh kia, cứ qua lại vậy riết mà thành sui gia!

          – Trời ơi! Ngày đám cưới cô Tư mày thuyền ghe bên An Giang đậu chật nức bến Rạch Vược…

Một bà cụ người kỳ cựu ở Rạch Vược là bạn của cô Tư tôi đã nói với tôi như vậy. Quả thật cô tôi sau này sống sung túc, và dượng tôi là ông Trịnh Trí Viễn làm viên chức nhà băng bên Phnompenh. Tiếc là năm 1974 cô mất sớm vì đột quỵ.

Phải nói rằng bà tôi đã sớm biết mình phải làm những gì sau khi về nhà chồng. Như đã nói trên gia đình ông nội tôi làm nghề hạ bạc, và bà giúp chồng bán những con cá mà gia đình chồng bắt được. Nhưng bà không hề muốn thế hệ sau bà, thế hệ con cháu bà cứ phải bán mặt cho đất (hay nước), bán lưng cho trời. Bà có một ý chí mãnh liệt để làm thay đổi số phận của mình. Bà gửi gắm một kỳ vọng về tương lai cho con cháu mình trong cách đặt tên cho con của ông bà, ngoài con đầu lòng là Trương Văn Em, thì những người sau lần lượt là Vinh – Huê – Hiển – Đạt.

Vào trước những năm 1945 khi Pháp lấp cửa Rạch Vược thì cá Vược không còn nữa nhưng ông tôi vẫn hành nghề hạ bạc, ông bắt tất cả các loại cá nào có thể đổi gạo được chứ hà cớ gì phải là con cá Vược? Nhưng đến năm 1945 khi Việt Minh chiếm đóng vùng Thuận Yên (như đã nói trong mấy phần trước) thì bà cương quyết bỏ xứ ra đi, bà qua Hà Tiên thuê nhà ở như đã nói. Các người con của ông bà thì đi tứ xứ, còn ba tôi và bác song sinh thì được bác Lư Khê đưa lên Sài Gòn ăn học.

Còn ông tôi? Ông tôi là ngư dân, nghe nói rằng ông rất hiền, mọi sự đều theo bà sắp đặt. Cuộc sống của ông đơn giản. Sóng nước giang hồ và con thuyền chao đảo làm ông khỏe, con cá con tôm con cua con ghẹ làm ông vui, nhà lá sàn lưới làm ông tươi trẻ… Rồi ông theo bà về Hà Tiên phố thị chắc không có việc gì làm, ra vô rảnh rỗi khiến mỡ máu ông tăng, nên vào một ngày ảm đạm của mùa mưa Hà Tiên năm 1954 ông bị một cơn tai biến mạch máo não rồi đi vào hôn mê sâu, sâu đến tận lòng đất…

Vậy đó, mà ông nào có được yên với bà? Mười tám năm sau (năm 1972) bà qua đời, ba và bác tôi an táng bà cạnh mộ ông, khi hạ huyệt thì bỗng dưng phần hông mộ ông tôi tiếp giáp với hông quan tài bà bị sạt để lộ ra một khoảng trống thật to, đó là “cái phòng” của ông hồi mười tám năm trước! Kiểu như bà vừa mở cửa nhà ông mà báo rằng “tui về với ông đây!”. Sau đó ba và bác tôi làm cho ông bà thành một ngôi mộ “song hồn” luôn cho ông bà ấm áp …

Giờ thì một năm tôi gặp ông bà được một hai lần chi đó. Ở trên bàn thờ? Đương nhiên! Tôi hay nhìn hai di ảnh mà không khỏi bật cười. Ông nghiêm nghị, khuôn mặt chảy dài với ánh mắt buồn bã, còn bà với khuôn mặt tròn, miêng cười rất duyên với đôi mắt sáng “biết nói”… Có một cái gì thật tương phản nơi hai người, vậy mà ông bà đã sống với nhau suốt cả đời mình và có một gia đình hoàn hảo.

Đôi khi mình cũng phải công nhận một điều hoàn toàn không có cơ sở khoa học rằng: chuyện vợ chồng là một sự định đoạt của số phận mà mình không thể hiểu thấu được. Trăm năm trước ông bà đã gặp nhau và đến với nhau thế nào? Ông đã “thấy” điều gì từ bà? Bà đã “thấy” điều gì từ ông”? Những câu hỏi mà tôi đã “quên” hỏi bà từ hơn năm mươi năm trước, dù đến hôm nay tôi mới nghĩ ra!

Nhưng cái điều tôi thấy rất lớn lao từ bà từ khi tôi có gia đình rồi có con tôi mới nghiệm ra. Một đức tính rất đáng trân trọng và đáng quý của người phụ nữ Việt Nam, đáng để nam nhi đại trượng phu phải nép mình mà quy phục họ, đó là chuyện học hành của con cái. Tôi nhìn thấy từ bà, từ má tôi, từ những người phụ nữ Việt Nam chung quanh mình và ngay ở người phụ nữ của tôi trong gia đình riêng nhỏ bé của mình, càng cảm phục cái nhận thức rất đúng đắn của họ về việc học để hoàn thiện tương lai, đó là một cuộc đầu tư sinh lời mãi mà không có điểm dừng…

Trở lại nội dung rất rõ của loạt bài này “TỪ NHỮNG BỨC ẢNH TRĂM NĂM” mà tôi đã nói về lý do mà tình cờ chúng tôi có nó. Nó cho chúng tôi thấy lại căn nhà của tổ phụ, nơi có dòng họ Trương từ hơn hai trăm năm làm nghề hạ bạc từ miền Trung đã di cư vào Nam rồi chôn chân tại Rạch Vược. Rồi xuất hiện người con dâu họ Trần đã thay đổi tất cả, bà làm cho họ Trương rạng danh đến hàng trăm năm sau chỉ bởi một điều đơn giản mà rất đúng đắn là: CÁI SỰ HỌC.

Người ta có thể tự hào về của cải, tiền tài của gia tộc, tự hào về gia thế hay địa vị xã hội của một con người v.v… Nhưng chúng tôi tự hào về một người đàn bà “chợ búa” theo đúng nghĩa đen, một người phụ nữ không biết chữ, không tiền bạc…nhưng bà đã có một nhãn quan sáng quắc xuyên nhiều thế hệ. Bà tên là Trần Thị Chín – bà nội của tôi.

Cảm ơn những bức ảnh trăm năm.

Quang Nguyên 4/2021

Chân dung ông bà nội của tác giả Quang Nguyên: Ông Trương Văn Huynh (1889-1954), Bà Trần Thị Chín (1893-1972), chính là song thân của quý thầy Trương Minh Hiển và Trương Minh Đạt, (Hà Tiên). Hình: Trương Minh Quang Nguyên.

Căn nhà xưa của gia đình họ Trương, mặt trước nhìn ra đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên, trong thập niên 1970 là mặt tiền của quán café nhạc Ti La. Trong hình là mặt sau của căn nhà, nhìn ra đường Bạch Đằng, Hà Tiên. Hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1998.

Trong hình là mặt sau của căn nhà họ Trương, nhìn ra đường Bạch Đằng, Hà Tiên. Bước vào cửa hông nhà, bên trái là chiếc divan của bà nội tác giả. Hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1998

Mặt sau căn nhà họ Trương, nhìn ra đường Bạch Đằng, Hà Tiên. Trong hình là thầy Trương Minh Đạt đang làm vườn… Hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1998

 

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần G-Họ Trương ở Rạch Vược (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi bàn luận về các vị trí, địa danh mang những tên rất quen thuộc như Rạch Vược, Cái Tắt, Ngả Tư Đèn Đỏ, Cản Cờ Trắng, Hòn Chông…v…v…, và bây giờ để đi vào phần kết thúc của tập hồi ký tự thuật « Từ Những Bức Ảnh Trăm Năm », tát giả Quang Nguyên một lần nữa đến với chúng ta qua giai đoạn III, phần G nầy để nói về nội dung của một trong những bức ảnh đã có tuổi đời một trăm hai mươi năm qua, bức ảnh do một người Pháp khi làm việc ở vùng Hà Tiên, đã đi du ngoạn và chụp lại vùng Rạch Vược nầy…Vậy thì theo bức ảnh, ông người Pháp nầy đứng ở đâu để chụp bức hình? Điều này ít ai biết được vì một lẽ tự nhiên là trong chúng ta không ai rành rẽ về địa lý vùng xã Thuận Yên nầy. May mắn thay, tác giả đã đưa đến cho chúng ta một giải đáp mà không ai có khả năng giải thích trọn vẹn hơn, đó là lời kể lại một cách rành mạch, tự nhiên của một người dân gốc gác Rạch Vược, người đã được sinh ra và lớn lên ở ngay tại một trong những vị trí nằm ngay trong bức ảnh trăm năm…Chính thân phụ của tác giả, thầy Trương Minh Đạt đã góp ý cho chúng ta bằng những câu trả lời chính xác, rỏ ràng về các câu hỏi về những vị trí trong bức ảnh. Rồi qua cuộc đối thoại nầy, chúng ta lại được « tặng » thêm một vài câu chuyện kể về kỷ niệm thời xa xưa khi gia đình tác giả còn sinh sống ở vùng Rạch Vược đó…Chuyện hai anh em sinh đôi muốn để dành con cá Vược to lớn , không chịu cho ông cha đem ra chợ bán, tiếp đến câu chuyện về cách thức bắt cá bằng kỹ thuật cắm « chà », chuyện về nguồn gốc của gia đình họ Trương, họ Trương mà khi còn thời đi học ở Trung Học Hà Tiên, chính mình cũng có rất nhiều bạn cũng mang cái họ Trương nầy: Trương Thái Minh, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trương Kim Ô, Trương Trung Cang, Trương Minh Huệ, Trương Công Bạch…v..v…Tất cả đều sinh sống ở vùng Hà Tiên, Kiên Lương, nhưng không biết có quan hệ bà con với nhau không?? Vậy sẳn qua bài viết nầy mình xin mời tất cả các bạn Hà Tiên nào cũng mang họ Trương, vào đây đọc bài và góp ý thêm nhé, xem các bạn có cùng một nguồn gốc hay không nhé,…Xin mời thầy cô và các bạn đọc bài dưới đây của tác giả Quang Nguyên. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu, Paris 20/04/2021) 

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông:

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

 F – Thiên nhiên đùm bọc:

III/ Trăm năm trong cõi người ta*:

 G– Họ Trương ở Rạch Vược:

Trở lại đầu câu chuyện để tôi có loạt bài này. Đó là từ những tấm ảnh từ chín mươi đến một trăm hai mươi năm chụp một góc của cửa biển Rạch Vược mà Mr Trần Văn Mãnh sưu tầm được. Tôi đã thấy một vùng địa lý rất quen thuộc với mình. Tuy nhiên, tôi không thể xác định được cái góc chụp của người thợ bởi cái đoạn trước khi ra biển của Rạch Vược nó cong gần như hình chữ S, nên khi bạn thấy có một cánh cung trong khung hình thì chúng ta phải xác định được cái hướng chụp ngày xưa để định vị các vị trí ngày nay…

Ngày cuối năm chuẩn bị đón Tết, tôi gọi điện về hỏi thăm sức khỏe của ba tôi và sẵn tôi hỏi ông về các bức ảnh dù ông chưa nhận được các bức ảnh của Mr. Trần Văn Mãnh gửi. Rồi, như tôi đã nói trong phần đầu tiên, ba tôi đã rất minh mẫn trả lời ngay:

     – Ba biết tấm ảnh Carte Postale đó. Đó là tấm ảnh chụp cửa biển Rạch vược.

     – Nhưng nó chụp từ hướng nào? Từ Doi ra?

    – Không phải, từ hướng biển vào, máy đặt ngay đầu núi đường vào trường Rạch Núi bây giờ.

Vậy thôi đó nhưng đã có hai nội dung thú vị. Thứ nhất, tôi đã đạt yêu cầu về việc xác định một cái mốc quan trọng, thứ hai là tôi giật mình vì trí nhớ của ông về Hà Tiên thật là “siêu”. Tất cả các tài liệu mà ông đã nghiên cứu ông nhớ rõ như ngày nào trong tháng ông sẽ hết thuốc! Vậy mà, cũng phải mất cả tiếng đồng hồ vì tôi phải mô tả qua điện thoại với một cụ ông U90 đã lãng tai nặng, một câu tôi phải nói hai ba lần, lúc to rồi lại nhỏ, khi hát giọng cao khi bè giọng thấp… sao cho nó đúng cái tần số và cường độ mà ông quen nhất thì cuộc đàm thoại mới trơn tru.

Tôi phải để ông nghỉ ngơi rồi hôm sau tôi lại gọi về để hỏi tiếp những câu hỏi để “gợi nhớ” cho ba tôi:

     – Ba có nhớ cây cầu sắt bị dỡ năm nào không?

     – Khoảng năm 1943-1944 người Pháp lấp cửa Rạch Vược, khánh thành con lộ 8 (“đường Hòn Chông” là tên cổ – quốc lộ 80 bây giờ) sau đó họ dỡ cây cầu…

Và sau đó ông kể thêm cho tôi nghe về thời “9 năm” khi mà vùng Thuận Yên do Việt Minh kiểm soát, Tây hay bố ráp và Việt Minh chống lại chuyện đó bằng cách đào con lộ đoạn qua cửa biển “đứt từng khúc” (nguyên văn). Như vậy thêm một thông tin về con lộ Lộ Đứt là “đứt” nhiều hơn một khúc!

Ông nói thêm về thời gian đó, Rạch Vược không an toàn vì chiến tranh nên ông bà nội tôi đã qua Hà Tiên thuê nhà ở đường “Hàng Dương”… Kết hợp với câu chuyện anh Hai Lý (cũng đã 82 tuổi) đã nói với tôi cách đây cũng gần hai mươi năm:

     – Anh nhớ đám tang ông Chín (anh gọi theo tên bà tôi vì anh là bà con bên bà) phải “quàn” rất lâu vì phải xin Việt Minh đem về an táng trong đất nhà tại chân núi Đồn, và phải đi bằng xuồng từ Hà Tiên qua Cái Tắt vào rạch Rạch Vược, trời mưa gió, đường đi sình lầy, công việc khó khăn lắm…

     – Sao không đi đường bộ vậy anh?

    – Vì “mấy ổng” (chỉ VM) đào lộ đứt khúc ngay ngoài kia… (Lộ Đứt) – anh nhỏ giọng thầm thì.

Và tôi đem chuyện này nói với ba, ba tôi nói:

    – Đúng. Đó là năm 1954. Ba còn nhớ như in, như mới hôm qua…

Ông bồi hồi… Chốc sau ông nói tiếp:

    – Ba về Hà Tiên dạy học, tháng lương đầu tiên ba đưa nội… Nội chưa kịp xài…

Tôi hình dung là ông đang rất xúc động vì giọng ông “có hột” và ngắt quãng… Tôi đã không hỏi gì thêm vì tránh để ông xúc động bởi các mạch máu não của ông giờ mong manh hơn quả tim của Hàn Ni.

Hôm sau nữa, tôi nhờ Mr Trần Văn Mãnh “ra tay” làm rõ nét tối đa về tấm ảnh có cây cầu sắt bắt qua Rạch Vược, rồi nhờ em tôi in ra đưa cho ba tôi cầm xem, tôi hỏi:

    – Ba thấy thế nào?

    – Ờ! Tấm ảnh trăm năm rồi mà rõ quá.

Đôi khi người già hay lãng đãng, mai mốt rồi chúng ta cũng sẽ vậy thôi. Tôi phải gợi ý:

    – Con nghĩ mình sẽ tìm thấy nhà ông bà nội.

    – Ờ thì nhà nội con bên kia sông chỗ chòm dừa cao cao đó.

    – Nhưng con muốn ba chỉ ra căn nhà của nội, nơi mà ngày xưa ba sống trong đó.

    – Nhỏ quá, không biết được, ba chỉ thấy một dãy lờ mờ …

Rồi tôi phải nhờ đến “tư lệnh” của ông – là cụ bà đã chứa chấp tôi trong bụng hồi năm mươi lăm năm cộng chín tháng mười ngày trước đây ra tay. Bà dùng cái smartphone nhận cái hình đó rồi chọn tiêu điểm là đám nhà lá trong tấm ảnh rõ nhất mà Mr. Trần Văn Mãnh đã gửi, sau đó bà bung to ra để ông nhìn từng căn nhà nhập nhòe đó. Với chất giọng rè rè vì xúc động ông cũng đã cố reo lên dù rất khó khăn:

    – Đây rồi, cái căn thứ hai bên trái qua, có cái “sấp nóc” cao hơn nhà khác, có cái sàn cây phơi lưới …

Rồi – trong một cảm xúc dâng trào – ông nói nhà cạnh bên trái của cậu “A” nhà bên phải của dì “B”, từ “nhà của tui” đi tới chân cầu là mấy căn, căn nào của ai ..v..v.. Toàn những người xưa đã sang kiếp khác mà chỉ mình ông biết. Rồi – trong niềm xúc cảm mãnh liệt – ông tưởng rằng ông đang nói chuyện với anh em hay bạn bè của ông mà xưng hô lung tung hết. Nhắc những câu chuyện cũ với thằng con của ông mà ông xưng “tui” và “ba má” chứ không phải “ba” và “ông bà nội của con”!

    – Sao mấy chuyện này xưa giờ ba không kể cho tụi con?

    – Đâu có đứa nào hỏi đâu mà ba nói?

Ông cụ thiệt là “dễ thương” hết sức! Vậy mới hay rằng cứ hỏi thì ta sẽ nhận được câu trả lời.

Việc xác định được căn nhà của nội tôi trong tấm ảnh từ một trăm hai mươi năm trước thật sự là một sự kiện làm choáng ngợp cảm xúc cho cha tôi và cả tôi. Thật cám ơn Mr. Trần Văn Mãnh về các tấm ảnh quý giá mà ông đã cất công tìm tòi từ một chợ online rao bán những bức ảnh cổ xưa, trong đó có các tấm ảnh của Rạch Vược này. Rất tình cờ. Một sự tình cờ rất ý nghĩa với gia đình chúng tôi trong những ngày cuối năm cận Tết.

Và, Mr. Trần Văn Mãnh đã có một đề nghị rất đúng đắn nữa là “hãy rọi và sửa ảnh cho rõ hơn rồi treo trong nhà…”. Đúng, đó là một việc làm rất ý nghĩa vì đó là nơi mà tổ phụ chúng tôi sinh sống, là cội nguồn của gia đình, nó không hề khác gì với hàng vạn căn nhà lá nghèo nàn xập xệ khác của người dân quê ngày xưa ấy, có khác chăng là khác về các cổ tích hàng trăm năm đã trôi qua đó trong từng mỗi gia đình…

Lư Khê Ngư Bạc năm 1920 -1930, hướng cửa biển nhìn vào, có cây cầu sắt bắt ngang đoạn hẹp, đầu cầu hướng bên phải trỗ ra cạnh Đình Thuận Yên kế bên quả núi Đồn – góc chụp đầu doi núi bên trái từ Hà Tiên qua. Bên trái hình: phía Hà Tiên, bên phải hình: phía Kiên Lương. Hình do nhà NADAL xuất bản với hàng chữ: HATIEN: Pont de Rach-Vuoc (Thuan Yen), 3km500 du chef-lieu. 1920-1930 » (Cầu Rạch Vược, Thuận Yên, cách Hà Tiên 3,5 km)

Bức ảnh “Route de Hon Chong” được một người Pháp chụp đầu thế kỷ 20 (1901), một đoạn đường từ Hà Tiên đi Hòn Chông trước khi qua cầu Rạch Vược, là chiếc cầu sắt trong ảnh. Địa điểm ngay “Lư Khê Ngư Bạc” – ảnh sưu tầm.

Trong nhóm nhà ở giữa hình, căn nhà đầu tiên bên trái (hơi cao hơn vài căn nhà bên phải kế đó) đó là căn nhà của ông bà nội tác giả. (Cầu sắt Rạch Vược, Thuận Yên, Hà Tiên, năm 1901)

Ông tôi – Trương Văn Huynh làm nghề “hạ bạc”. Ngày xưa tôi nghe ba giải thích thì biết đó là nghề đánh bắt cá ven biển, nôm na là ngư dân, và ông tôi chuyên bắt cá Vược tại vùng Rạch Vược này. Nói là “chuyên” nhưng sự thật con cá nào xấu số dính lưới của ông mà đổi gạo được thì cũng tốt thôi, và bà Chín vợ ông thì “chuyên” làm việc “đổi gạo” đó – có nghĩa: ông tôi thì đánh cá và bà tôi bán cá.

Còn hai chữ “hạ bạc”?

Tìm hiểu trong kho tàng phong phú của từ ngữ tiếng Việt thì tất cả đều giải thích đó là nghề “đánh bắt cá sông hồ”, người hành nghề là “ngư dân”… Tra trong từ điển Hán Nôm cũng không có hai từ này, tôi nghĩ nó có thể là từ ghép từ hai chữ “hạ” và “bạc” từ chữ Hán được Nôm âm. Mời các bạn cùng tôi tìm hiểu.

Chữ là một chữ Hán có âm Nôm là “hạ” – nghĩa Nôm là: phần dưới, vùng thấp, nơi trũng, đặt xuống… Người có địa vị thấp hơn hầu chuyện với người có địa vị cao hơn, họ khiêm nhường xưng là “hạ nhân”. Tây Độc Âu Dương Phong là cao thủ “hạ độc”. Quan Vũ “hạ đao” chịu thúc thủ trước Mã Trung. Mưu kế thấp gọi là “hạ sách”. Đâm sau lưng chiến sĩ bị người đời cho là “hèn hạ”. Làm sai điều gì bị sếp chế tài bớt tiền (của vợ mình) gọi là bị “hạ lương”. Hai thằng nhóc oánh nhau mà “bộ chỉ huy” bị ăn đòn gọi là bị đánh vào “hạ bộ”!… Nói chung chữ ‘’hạ’’ này chúng ta sử dụng rất là nhiều, nó đối nghĩa với chữ “thượng” là trên cao, vùng cao. Có câu “thượng vàng, hạ cám”…

Chữ thì có nghĩa là “bạc” – là đậu thuyền tạm. Thuyền tạm nghỉ. Thuyền trôi giạt rày đây mai đó. Lênh đênh phiêu bạc. “Đạm bạc” sống khiêm nhường không ham danh lợi v.v… Ý nghĩa của nó là bấp bênh, tạm bợ, và trôi nổi giống như chiếc thuyền trên sông nước không định bến dừng. Chính chữ “bạc” này được ông Mạc Thiên Tích dùng trong “Lư Khê Ngư Bạc”. Lưu ý! Chữ “bạc” này đồng âm nhưng khác nghĩa với một chữ “bạc” khác trong nghĩa “bội bạc” (背薄) và “bạc đãi” (薄待). Sau này tôi thấy có những người viết báo dùng từ « hạ bạc » với ý nghĩa ám chỉ một cái nghề bạc bẽo, hèn kém…Đó là sai, sai hoàn toàn. Chữ « bạc » trong « bạc bẽo » là chữ « bạc » trong « bội bạc » và « bạc đãi »…

Trong Hán tự không có cụm từ chữ Hán nào ghép thành “hạ bạc” mà cụm từ này đã được người Việt ta Nôm hóa từ xưa để chỉ một cái nghề rất đặc trưng của năm mươi người con của bà Âu Cơ hạ xuôi về biển, họ trồng lúa nước và khai thác nguồn lợi thủy hải sản ven bờ. Những người hành nghề đánh bắt cá thủ công ngày xưa đó họ đã men theo các vùng đầm phá được tạo thành từ sông đổ ra, hoặc các đầm – hồ – phá nước mặn bị giam lại trong đất liền suốt cả chiều dài bờ biển nước ta, mà trước khi nhà Nguyễn mở rộng bờ cõi về tới Cà Mau thì nhà Hậu Lê chỉ tới đèo Cù Mông nay thuộc Quy nhơn. Dân gian miền Nam ít ai sử dụng hai từ “hạ bạc” này để chỉ nghề đánh bắt cá, có chăng chỉ là trong sách vở mà cũng ít người dùng. Nhưng, người miền Trung từ Quy Nhơn trở ra đến Thừa Thiên- Huế người dân ta vẫn dùng và thường dùng đến hiện nay. Đó là yếu tố « phương ngữ » miền Trung mà tôi sẽ nói tới đây.

Hồi nhỏ, tôi đã bao nhiêu lần bị đòn vì tò mò hay “hóng” chuyện người lớn, thế nhưng có cái chuyện lớn hơn chuyện của người lớn như thế này mà tôi không bị rầy la chi cả, đó là khi tôi hỏi ba về họ Trương đã ở Rạch Vược này từ khi nào? Ông đã ngập ngừng không trả lời cụ thể được mà chỉ có thể chỉ cho tôi cái mộ ông cố và ông cố bác trong khu mộ tổ phụ, ba tôi còn ngờ rằng có một cái mộ đất của ông sơ quá lâu năm nên đã thất lạc… Nếu tính tương đối thì họ Trương này đã sống chết với nghề cá ở Rạch Vược đến lúc Tây lấp cửa biển và cá Vược không còn (tạm cho nó có một “danh từ riêng” để dễ nhận thấy nó trong bài), thì tệ gì cũng trên trăm năm, còn tính đến nay thì chắc chắn hơn hai trăm năm…

Nhưng cánh họ Trương này từ đâu đến?

Trước tiên phải nói là ba tôi còn không biết thì tôi làm sao “có cửa”? Nhưng đời tôi có cái may mắn là sinh ra vào lúc đất nước quá khó khăn, để kiếm sống tôi phải lưu linh lưu địa nhiều nơi suốt chiều dài đất nước, có điều kiện để tôi “khám phá thế giới” theo cách riêng của mình. Tôi không biết suy đoán của mình đúng hay không nhưng có những yếu tố về phương ngữ, tập quán, lịch sử… để chỉ ra cho tôi thấy rằng rất có khả năng họ Trương này từ miền Trung vào:

Trong Nam dân gian gọi con cá Chẽm chứ không gọi cá Vược. Dân miền Trung thì gọi cá Vược chứ không gọi cá Chẽm. Khoảng ba nươi năm trước khi tôi có thời gian công tác tại miền Trung (Quy Nhơn, Quảng Nam, Đà Nẵng…) tôi đã xác minh điều này, nói con cá Chẽm thì không ai biết, nhưng gọi con cá Vược thì không ai lại không biết. Cũng vậy, chỉ dân Rạch Vược thường gọi con cá Chẽm to là con cá Vược chứ các tỉnh khác thuộc đồng bằng hay vùng biển của miền Nam thì con cá đó to nhỏ kiểu gì cũng cá Chẽm tuốt luốt chứ không gọi « cá Vược » bao giờ… Bây giờ thì sự khác biệt này hầu như không còn vì xã hội phát triển, thông tin lan tỏa, tính phương ngữ vùng miền giờ hầu như bị xóa mờ ranh giới.

Ba tôi có lần kể rằng nhà nội tôi có một cái sàn cây sau nhà để nội phơi lưới, có một hôm cách đây non một thế kỷ, nội tôi bắt được một con cá Vược rất to, bà nội tôi chuẩn bị gánh qua chợ Hà Tiên bán, thì hai đứa trẻ sinh đôi mang đôi tên đầy kỳ vọng của ông bà là Hiển – Đạt, (độ ấy « cụ » lớn Hiển chừng năm hay sáu tuổi chi đó, còn « cụ » nhỏ thì nhỏ hơn « cụ » lớn đến 15 phút!) họ cùng song ca rồi cùng mè nheo khóc lóc cái điệp khúc “để cho Hiển Đạt! để cho Hiển Đạt…!”. Hai cụ con nhất định không cho hai cụ ông bà đổi cá lấy cơm. Giận quá, ông nắm đuôi con cá, lôi ra sau sàn phơi lưới mà quăng tuốt luốt xuống dòng Lư Khê Ngư Bạc “để cho Hà Bá!”…

    – Rồi con cá đó có ai lụm không ba?

Tôi của ngày xưa vì tiếc con cá nên đã hỏi.

    – Hồi đó còn nhỏ quá ba đâu biết?

Ba tôi phì cười trả lời vậy, nhưng tôi ngờ rằng nội tôi đã bí mật lặn xuống vớt con cá đó lên để bà tôi bán mà nuôi sống gia đình. Cuối cùng ba và bác tôi cũng được ăn con cá nhưng nội tôi với “tay ấn” cao hơn nên đã “chuyển hóa” con cá thành cơm gạo, rau hành, mắm muối…

Vậy là ông nội tôi đánh cá Vược bằng lưới, ba tôi kể rằng nội cắm chà ở những nơi có thể có nhiều tôm cá trú ngụ, « chà » phải là một loại cây gì đó mà tôi không nhớ cái tên vì có được thấy bao giờ đâu? Với kinh nghiệm của nghề hạ bạc nên nhãn quan của ông có thể thấu suốt mọi điều mà con Vược nó muốn. Cá tôm nhỏ rồi sẽ vào bầy đàn, cá Vược cứ thế mà vào “đánh chén” thôi. Ông sẽ dùng lưới bao đám chà lại và khua khoắng bên trong để đuổi cá ra, con cá Vược hung dữ giương mang dựng vây, há mỏ vươn hàm ra để đối phó với màng lưới mỏng mảnh của ngư ông và Vược tự tin chắc mẫm nó sẽ thắng. Lưới của ngư ông dù không được “lồng lộng” vẫn thỏa một điều “tuy thưa nhưng khó thoát”, bởi ông dụng “dĩ nhu trị cương” nên cái mành lưới mỏng mà nhùng nhằng dai dẻo đó hóa ra lại trở thành một vũ khí lợi hại, con cá càng vẫy vùng hung tợn thì vây ngạnh nó càng làm rối lưới, có nghĩa nó tự trói cứng cái thân Vược to đùng và hung dữ của nó trong đó, rồi sau đó ông nội tôi chỉ việc gom lưới lên thuyền mang về để giúp nó gỡ cái rắc rối mà nó tự tạo ra đó, sẵn đó giúp nó “hóa kiếp” luôn!

Đánh lưới bằng cách bao bãi chà cắm rồi dỡ chà kéo lưới thì vùng sông nước nào cũng có nhưng đó là kiểu bắt cá trên sông rạch và bắt cá nhỏ mà thôi, còn bắt cá Vược ở vùng cửa biển là một kỹ thuật được “nâng tầm” hơn rất nhiều. Đó là kinh nghiệm theo dõi con nước, theo dõi thói quen, sở thích ăn uống rồi “mùa” cá Vược đi sinh sản… để rồi tìm cách đặt chà tạo một nơi có nhiều thức ăn để “dụ” nó vào rồi đánh bắt nó (mà không dỡ chà). Không nhiều ngư dân chỉ chuyên bắt cá Vược như ngư dân miền Trung, các ngư dân ở đầm Thị Nại, đầm Ô Loan Phú Yên, Phá Tam Giang, hay cửa Đại của dòng Thu Bồn, Hội An… ngày nay vẫn còn sử dụng lối đánh bắt thủ công này cùng những phương pháp cải tiến khác sau này để đánh cá Vược. Phải nói thêm rằng các đầm phá miền Trung là các “ổ” cá Vược lâu đời từ xưa đến nay nên tập quán đánh bắt, kỹ thuật và kinh nghiệm của ngư dân miền Trung trong nghề này đã đạt đến bậc thượng thừa công phu..

Còn yếu tố lịch sử? Đó là những cuộc di dân của nhà Nguyễn sau khi mở rộng bờ cõi về phía Nam vào những năm 1710 đến khoảng 1760 gần như là hoàn tất, trước đó đất Hà Tiên đã được các chúa Nguyễn “giao lại” cho Mạc Cửu và con ông là Mạc Thiên Tích cai quản. Dưới sự quản lý của họ Mạc thì đời sống xã hội nơi đây rất “mở” nên đã là nơi quần cư của nhiều sắc dân không chỉ có người Hoa, Khmer, Việt mà còn có cả các sắc dân khác mà ta gọi người “Chà Và”… Rất có thể là một nhóm người Việt làm nghề đánh cá ven bờ mà phương ngữ của họ gọi là “hạ bạc” như đã nói trên, từ miền Trung họ dong buồm vào Nam đến vùng đất tận cùng này, thấy có một vùng cửa biển có rất nhiều loại cá họ gọi là cá Vược, nên họ “cắm chà” tại đây luôn, trong đó có họ Trương của gia đình tôi? Mà như tôi đã nói trên – dựa theo mồ mả ông bà tồn tại đến nay thì họ Trương này đã định cư hơn hai trăm năm tại Rạch Vược này. Họ Trương cùng các ngư dân Việt đến đây rồi họ đã không “phiêu bạc” nữa… Chính họ, những người hạ bạc từ miền Trung đã định danh một vùng địa lý đẹp đẽ bởi những phương ngữ mang vào: « Rạch Vược ». Để rồi ngày nọ, ông Mạc Thiên Tích với chữ nghĩa đầy mình, trong một ngày đẹp trời may mắn câu dính một con Vược to đùng đang chuẩn bị vào đám chà của sơ tổ tôi (?). Cao hứng, ông đã “mỹ miều hóa” con rạch thành một thắng cảnh trứ danh có cái tên: “Lư Khê Ngư Bạc”? (Chuyện hư cấu cho vui mà. Ai cấm?)

Họ Trương là một cái họ rất đông trên thế giới, người ta thống kê cho thấy ở Trung Quốc có đến trăm triệu người mang họ này. Đa số người ta cứ cho rằng hễ họ Trương là có gốc gác Trung Hoa? Nhưng tôi hãnh diện mà nói rằng họ Trương của chúng tôi là Việt Nam 100 %! Bởi đơn giản, ngoài ông Mạc Thiên Tích thỉnh thoảng vác cần câu qua đây, chưa một người Trung Hoa nào cắm chà bao lưới bắt cá Vược nơi đây. Họ không thích hành nghề hạ bạc đâu. Họ thích kinh bang tế thế…

Nhưng họ Trương hơn trăm năm đã gia truyền nghề hạ bạc lao khổ này, họ đã chưa bao giờ nghĩ đến việc cái nghề của họ một ngày kia sẽ  » bị thất truyền » bởi một người phụ nữ? Đúng, một “người dưng khác họ” đúng nghĩa, bà họ Trần. Bà “lọt” vào gia đình này vào khoảng những năm 1910, rồi sau đó “qua tay » bà mọi chuyện đã đổi thay tất cả. Phải! Đã thay đổi “một trăm tám mươi độ”. Sự thay đổi đó ảnh hưởng sâu sắc đến hơn trăm năm sau…

 Quang Nguyên

(Còn tiếp, mời các bạn đón đọc III . Phần H)

Trái: Thầy cô Trương Minh Đạt, phải: thầy cô Trương Minh Hiển và ở giữa là bà Trần Thị Chín, thân mẫu của quý thầy. Hình trích trong video « Người Phương Nam: Trương Minh Đạt » do đài truyền hình VTV9 sản xuất.

Chú thích: * Trăm năm trong cõi người ta: trích trong tác phẩm « Truyện Kiều » của Nguyễn Du.

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần F-Thiên nhiên đùm bọc (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi đọc bài về việc đi khẩn hoang làm ruộng với các giai đoạn cắt cỏ, đốt cỏ, bừa đất, rồi lại đốt các cụm rễ cỏ ăn sâu trong đất, và sau cùng là cấy mạ và bắt đầu chăm sóc miếng ruộng vừa mới khai thác, thật là một bài học đầy kinh nghiệm về thực tế và trạng thái tinh thần cho chúng ta suy ngẫm, tác giả Quang Nguyên cùng gia đình tiếp tục cho chúng ta biết thêm một cách thực hành việc mưu sinh khác, đó là kỹ thuật bắt cá trong những hố bom của thời chiến tranh ngày trước, vì có rất nhiều hố bom mà qua mùa mưa các hố bom nầy trở thành những cái ao đầy cá và người dân địa phương chung quanh đã phát hiện và tụ họp về đó để bắt cá…Đọc qua bài viết phần nầy với cái đề phụ là « Thiên nhiên đùm bọc », thầy cô và các bạn cũng sẽ đoán ra được là tác giả Quang Nguyên sẽ cho chúng ta thấy « thiên nhiên đùm bọc » con người ra sao…!! Sống trong một vùng hoang vu, đồng cỏ và nước nổi, con người chỉ còn biết nương tựa vào thiên nhiên và quả thật thiên nhiên không phụ lòng người,…Ở đây có tất cả các chất liệu cho một cuộc sống khá « đầy đủ » nếu con người biết được ý muốn của thiên nhiên để hài hòa khai thác với mức độ đúng đắn và có trách nhiệm…Khai thác lá dừa, cây tràm một cách vừa phải để cất nhà, bắt cá lớn và chừa lại những con cá nhỏ để duy trì và điều hòa nguồn sinh thái,…Như vậy đúng như tác giả đã nhận xét một cách lạc quan: tuy có « cực » nhưng không « khổ », mà nếu có « khổ » thì lại không « đói »…Kết quả đó là do thiên nhiên đưa đến cho những con người sống trong vùng hoang vu đó và đã biết hài hòa với thiên nhiên để được « hưởng » cái tính chất lạc quan đó…Ngoài ra khi đọc bài, cộng với sắc thái của một câu chuyện đồng quê, nếu chúng ta còn giữ lại trong đầu óc một vài khái niệm khoa học khi còn học ở nhà trường, chúng ta sẽ thấy thích thú ngầm khi thấy tác giả đã khôn khéo pha trộn vào câu văn của mình một vài yếu tố hóa học và vật lý để giải thích các hiện tượng trong hoàn cảnh thực tế đang đối phó: nước phèn tuy có cảm giác « ngọt » nhưng vẫn là phèn vì có tính chất là một dung dịch a-xít (chúng ta đã còn nhớ một dung dịch có độ pH dưới 7 thì là dung dịch có tính chất a-xít = acide…, còn trên 7 thì là dung dịch có tính chất kiềm = basique.), còn những con cá nếu muốn vượt lên trên mặt nước thì cứ cựa quậy đuôi, thân, vây để tạo một lực đẩy lên trên mặt nước tìm o-xy mới…, đó là khái niệm lực đẩy của môi trường chất lỏng…Còn gì thú vị hơn khi một đọc giả tìm lại được một vài khái niệm khoa học còn ẩn náo đâu đó trong đầu óc khi đọc được những đoạn văn khôn khéo nầy…(Paris, 10/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông:

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

 F – Thiên nhiên đùm bọc:

Con kênh xáng Hà Tiên – Rạch giá đoạn từ Đèn Đỏ đến Cờ Trắng năm xưa đã có nhiều người ở, nhất là từ Đèn Đỏ đến một phần ba đoạn kênh xáng này khi qua khỏi vàm kênh Rạch Vược trổ ra. Đến đây thì nhà cửa thưa hơn, xa xa có một căn và đặc biệt người ta chỉ ở bên phải theo hướng về Cản Cờ Trắng, còn bên trái là những cánh rừng dừa nước, hoặc rừng tràm, hoặc vùng trống nhìn thấy cỏ cháy đồng khô… Từ Đèn Đỏ đến Cản Cờ Trắng chúng tôi còn thấy có những cái ngã ba kênh mà nếu rẽ vào cũng sẽ đi vào vùng Trà Phô, Phú Mỹ như con kênh “Bà Sáu bồi” mà tôi đã nói trên.

Sơ đồ đoạn kênh Hà Tiên-Rạch Giá, điểm A: nơi rạch Cái Tắt thông với kênh HT-RG (đó là Ngả Tư Đèn Đỏ), điểm B: nơi Rạch Vược thông với kênh HT-RG.

Ảnh vệ tinh chi tiết vùng Ngả Tư Đèn Đỏ (Rạch Vược, Thuận Yên, Hà Tiên). A: Ngả Tư Đèn Đỏ. B: Rach Cái Tắt. C: Xã Thuận Yên. D: Kênh Hà Giang. E: Núi Tiểu Tô Châu. F: Núi Đại Tô Châu. G: Đông Hồ (Hà Tiên). H: Kênh Hà Tiên-Rạch Giá.

Dòng kênh này ghe xuồng luôn tấp nập, những năm sau chiến tranh biên giới càng tấp nập hơn nữa vì đường bộ lúc ấy còn rất xấu, và Rạch Giá Hà Tiên thì hàng hóa và hành khách đều đi bằng đường này, họ di chuyển bằng những chiếc tàu khách với máy dầu (diesel) đặt trong hầm máy gọi là “tàu máy trong”. Tàu loại này to bự có thể giăng võng ở lối giữa mà đòng đưa suốt tuyến, hàng hóa có thể sắp xếp dưới hàng võng đó, còn người ta đi lại hai bên hành lang nho nhỏ trước hai dãy ghế gỗ được thiết kế cố định vào be tàu. Ngoài ra rất nhiều vỏ vọt chở khách loại to chạy tuyến Rạch Giá- Hà Tiên, Kiên Lương – Hà Tiên, cũng chạy bằng máy dầu lớn nhưng đặt ngoài sau đuôi vỏ vọt có cái “láp” dài có cánh quạt to bự gọi là máy đuôi tôm, có khi có cả hai máy do hai người điều khiển. Loại vỏ hai đuôi máy ngoài này chạy nhanh hơn tàu khách máy trong, nhưng tính an toàn thì kém hơn và sức chở ít hơn, đã có nhiều tai nạn giao thông đường thủy gây ra thiệt hại lớn về nhân mạng liên quan đến vỏ vọt chở khách loại này, vì hồi đó làm gì có phao cứu sinh? Lỡ như bị chìm thì ai vớ được cái gì trôi nổi thì cứ ôm mà lội vào bờ mà thôi.

Ai thường sống trên vùng sông nước đều biết chuyện này: rằng những chiếc tàu to hay những chiếc vỏ vọt khi chạy trên sông đều tạo ra những con sóng cao, cũng tùy vào tốc độ và độ lớn của con tàu mà con sóng sẽ cao như thế nào, và con kênh đâu phải dành cho riêng nó? Vì vậy bằng một cách rất tử tế, các tài công khi lái các phương tiên này khi đi gần đến các chiếc xuồng ba lá lé đé mặt nước đang chở người hay chở tràm thì họ tự động giảm ga đến tối thiểu, để an toàn nhất cho những phương tiện thô sơ nhỏ bé kia. Đó cũng là những hình ảnh đẹp của người miền tây này.… Nhưng, nói gì thì nói đã có một thời gian dài khi giao thông đường bộ từ Rạch Giá, Vàm Rầy, Kiên Lương hay từ Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc ..v.v.. còn trở ngại, vì đất nước còn nghèo hay vì chiến tranh mà chưa phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, thì các phương tiện kém an toàn về đường thủy này đã phát triển vượt bậc, giúp cho bà con tới lui thuận tiện trên vùng sông nước. Kênh xáng Hà Tiên – Rạch Giá (hay Rạch Giá – Hà Tiên cũng được, thích sao cứ gọi vậy) đã trở thành một tuyến giao thông tối quan trọng cho vùng miền này từ khi nó được khai sinh…

Nước dưới kênh thì cũng tùy mùa, nhưng tôi ấn tượng nhất là vào mùa lũ, ở đầu Đèn Đỏ đôi khi nó có màu phù sa là lúc nước của dòng Giang Thành nhận được từ rất xa ở một nơi gọi là dòng Bassac (tức Hậu Giang), từ Tịnh Biên Châu Đốc mượn đường Vĩnh Tế mà tràn về, rồi hợp với màu nâu như nước trà của nước đồng tràm Trà Phô đổ ra, chúng song hành với nhau theo kiểu “nước sông không đụng nước giếng” nên tại đầu Đèn Đỏ nó có hai màu rõ rệt “bên trong bên đục, bên tục bên thanh”.

Mùa lũ thì cánh đồng bất tận của Tứ Giác Long Xuyên* luôn ngâm giữ nước lại, ở đây cũng không ngoại lệ, chỗ nào đất thuần đã chuyên canh lúa được thì nước phù sa màu vàng đỏ, còn những khu vực đất phèn hoang chưa thuần thì nước rất trong bởi phèn nhiều, múc uống vẫn thấy ngọt, nhưng cái ngọt đó chỉ là “cảm giác” vì nước ngọt đang nhiều quá, còn nếu đem phân tích định tính định lượng thì chắc chắn rằng vi lượng các hợp chất làm nồng độ pH thấp vẫn hiện diện (là nồng độ a-xít làm tăng tính chua của đất mà không thể canh tác được). Ngồi trên xuồng ta có thể thấy rõ đáy kênh hơn hai ba mét nước, các loại hẹ nước tận đáy nhận được ánh sáng mặt trời mà phát triển mạnh mẽ, bông súng nở hai bên bờ kênh, trong đồng các loại cỏ năng cỏ bàng mọc từng vùng xanh mướt…

Vì không có nhiều “đất” để mô tả trong bài này nên tôi sẽ không nói về các loại cỏ đồng nơi đây (năng, đưng, bàng, lác, súng, rau mác…) mà loại nào cũng có những công dụng riêng của nó, đến nỗi đã có cụ ông xưa người Rạch Vược đã dùng nó đặt tên cho bốn người con của mình: “Năng, Đưng, Hiệu, Nghiệm…”. Đương nhiên các loại cỏ này có hiệu nghiệm riêng khi làm việc gì đó thì các cụ mới nói chứ?  Các vị trong “bộ tứ” này có người vẫn đang còn khỏe trong độ U90, đang sống tại Hà Tiên, và chúng ta đang biết họ… Tôi cũng như số đông độc giả đã biết các công hiệu của các loại cỏ đồng này, các bạn đồng ý với chúng tôi là nếu kể ra sẽ rất dài dòng chứ? Vậy thôi khoan hẵn nói.

Năm xưa người dân bên bờ kênh xáng này họ sống bằng khai thác lá dừa nước, cây tràm và củi tràm lục. Cây tràm là một loại cây đa dụng, lá của nó có thể chưng cất tách dầu để hỗ trợ trị “bá bệnh” phổ thông là: đau bụng vì thực phẩm bẩn, nhức đầu vì nhiều lý do, cảm gió, cảm nắng, cảm mưa nhưng không thể trị “cảm nàng, cảm chàng” và “cảm tình, cảm tính” (!). Cây tràm thì các bạn dư biết công dụng của nó nhất là trong xây dựng, cừ tràm là loại cừ tốt nhất, nhất là khi vùng đất có sình lầy thì cây tràm ngâm dưới đó hàng trăm năm không bị mục.

Cây tràm muốn bền tốt để làm cột, kèo, đòn tay, giăng, rui nẹp… bạn phải lột vỏ và bạn phải ngâm nước (ngâm sình càng tốt), bảo đảm không có loại mối mọt nào có thể ăn vì nó hôi kinh lắm và khi đã no sình thì nó trở nên vô cùng cứng chắc. Những đoạn tràm không thẳng thì người ta đoạn khúc ra chừng 40 cm sau đó xếp cao 1 mét ngang 1 mét mà bán “củi thước”. Củi tràm là nguồn sống của nhiều gia đình ở Đèn Đỏ và Cừ Đứt những năm tháng xưa đó. Tràm rừng Trà Phô năm xưa rất nhiều, tôi và ba tôi đã mấy lần chèo xuồng đi đốn tràm về để sử dụng cho rất nhiều việc, nhất là cất nhà. Đã nói là ba tôi “giàu” lắm, một năm cất hai căn nhà, hai năm cất ba căn: cất nhà sau Đình, cất nhà gần Mũi Giông, cất nhà Hà Tiên sau khi chạy giặc về (những năm chạy giặc, nhà Hà Tiên bị người ta “dỡ hộ” họ lấy tôn, gỗ… Sau khi hết giặc năm 1979-1980 chúng tôi cất lại căn nhà này, cũng bằng cây tràm và lá dừa nước). Tràm còn giúp cho mọi người làm hàng rào, làm phên dậu, làm giàn leo cho bầu bí, làm củi đun … v.v. và… v.v…

Vùng Trà Phô – Trà Ten còn là “nghĩa địa” của tràm “lục”. Các bạn đã biết thế nào là “tràm lục”? Tôi không chắc nhiều bạn đã biết, nên tôi sẽ viết ra đây để cùng chia sẻ những gì tôi đã biết về nó.

Cây tràm được bao bọc nhiều lớp vỏ như giấy, sau hàng chục lớp “giấy” đó sẽ tới phần gỗ, nhưng cái bạn gọi là gỗ đó nó chưa thật sự là gỗ chắc, cái bền vững của cây tràm nó nằm ở phần lõi, mà cái lõi đó nếu được ngậm nước đến no đủ nó có thể tồn tại hàng mấy trăm năm… Có một thời gian rất dài người dân Đèn Đỏ, kênh xáng, Giang Thành, Cừ Đứt… sống bằng nghề khai thác tràm lục để làm củi. Củi tràm lục ngợi than và nhiệt lượng cao nên đương nhiên giá nó cao hơn củi tràm tươi.

Sở dĩ tôi dùng “nghĩa địa” tràm lục là có lý do của nó, bởi đây là những cây tràm cổ, vì lý do gì đó nó bị gãy đổ bị vùi lấp dưới các lớp trầm tích dày, được ẩm ướt hoặc ngập nước trong môi trường yếm khí và môi trường phèn chua nhiều trăm năm… Ở điều kiện đó các phần tử “gỗ mềm” bên ngoài như “giấy” và lớp gỗ ngoài của nó bị tan mất vào đất, phần còn lại là cái lõi đen thui mà cái phần ngoài cùng là phần giáp với “thịt mềm” hồi thanh xuân của nó giờ cũng nhăn nheo kỳ lạ và nhiều hào rãnh ăn sâu vào trong lõi, nếu cắt ngang tiết diện thì bạn sẽ có một hình ngôi sao vô số cánh – nói vậy sẽ dễ hình dung. Tóm lại , tràm lục là lỏi của cây tràm bị vùi dưới trầm tích, còn lõi của tràm lục là “lõi của lõi” cây tràm nên nó cứng lắm, chẻ dọc không có vấn đề nhưng chặt ngang mẻ dao như chơi.

Ở đâu có nhiều để người ta sống nhờ vào việc khai thác nó?

Vì tràm lục có giá trị “kinh tế củi” cao nên người ta phải đi kiếm nó, bình thường bạn sẽ không thấy vì nó không lộ thiên, nhưng nếu rắp tâm tìm kiếm sẽ thấy bằng cách vào những khu rừng tràm già tự nhiên thưa thớt vì già cỗi (không phải rừng trồng), bạn dùng những cây xà beng cứ đi và xom xuống đất, xà beng nặng mà đất rừng tràm xốp ngậm nước (hay ngập nước) thì công việc đó cũng không quá khó khăn, cứ như thế nếu đụng “cụp cụp” thì bạn cứ moi lên sẽ có cây tràm lục. Người ta sẽ lấy tất cả rễ thân và gốc của nó mà không một chút áy náy vì dù sao đi nữa nó đã chết từ hàng mấy trăm năm trước. Nó cũng thường xuyên xuất hiện ở những vùng không còn một cây tràm nào, mà hiện tại là đồng năng hay đồng bàng hoặc đồng lác chi đó bởi đơn giản trước đó ở đây đã từng có rừng tràm…Một khi bạn đã thấy nơi nào có tràm lục thì cả vùng rộng lớn luôn có tràm lục nằm yên đâu đó trong đất, việc của bạn là tìm nó, moi lên và mang về đổi gạo…

Năm xưa, tại sân vườn nhà tại Hà Tiên bà tôi có vườn trầu, thì cọc trầu là những cây lõi đen thui, suông và rất chắc, tôi khi ấy còn rất nhỏ không biết là cây gì, hỏi nội thì bà nói “tràm lục”, nghe thì nghe vậy chứ chẳng biết là cây gì cho đến những năm 1977-1980 khi tôi đi cùng ba tôi vào những vùng đất này để canh tác thì mới biết. Chúng tôi cũng đi kiếm củi tràm lục về sử dụng để đỡ tiền mua chất đốt, vì vậy mà tôi có thể “kể lể” với các bạn đôi điều về nó…

Vùng rừng tràm và đồng phèn này không chỉ có tràm, nó còn có rất nhiều cá… Khi mùa lũ về thì nó mang theo các loại cá nước ngọt của sông Cửu Long về tận đây, cá linh đặc sản của mùa lũ như các bạn đã biết, cá he hay cá mè dinh vảy mềm thịt ngọt và xương nhiều, đương nhiên là người dân nơi đây sẽ “không tha” cho nguồn lợi từ tự nhiên đó. Xuồng ba lá, lưới trắng 2,5 cm, chài, lưới kéo, lưới bao… ăn theo mùa cá mà ăn nên làm ra.

Khi nước rút thì các loài cá nước ngọt hình như chúng nó phân chia “lãnh thổ” mà sinh sống hay sao ấy? Loại cá vảy trắng và da trơn trắng (tra, mè, he…) thì theo con nước ra sông, còn các con da trơn đen hoặc vảy đen (trê, lóc, sặc…) thì rút vào đồng cố thủ trong các vũng còn nước, trong các đìa sâu mà người ta đào đất đắp nền nhà rồi chúng cư ngụ trong đó. Nước rút hết là tới mùa tát đìa. Cá nhiều ơi là nhiều trong các cái đìa trong đồng dạo ấy…

… Còn nhớ, sau con lũ lịch sử năm 1978, ba tôi dắt hai anh em đi “đánh cá” trên ruộng khô! Đồ nghề gồm một cái lu (?), chài, các bao đựng lúa, cơm gạo mang theo…

Như mọi khi từ ba bốn giờ sáng sau khi quấy quá cơm sớm chúng tôi đã chèo chiếc xuồng lườn “huyền thoại” của nhà tôi mà đi ra kênh xáng. Sau khi vào kênh bà Sáu Bồi đi thêm đoạn nữa, rồi neo xuồng ngoài bờ kênh, ba cha con tiếp tục lội băng đồng… Ba nói rằng mình đi hướng Trà Phô..

Khoảng 7 hay 8 giờ sáng chúng tôi tới nơi, neo con thuyền ngoài bờ kênh, ba cha con chúng tôi lội sâu vào trong đồng hướng Giang Thành, đi một hồi mà chẳng thấy nhà cửa gì mà chỉ thấy lố nhố người trên một vùng rộng lớn có đến hàng chục hecta trên đồng khô, người ta đang làm gì đó nhộn nhịp lắm… Đến nơi tôi mới hiểu rằng người ta đang bắt cá dưới các ao. Mà trời ạ! Bao nhiêu là cái ao, hằng hà sa số ao không đếm xuể, ao lớn ao nhỏ, đa số tròn vành vạnh, khoảng cách các ao cũng không đều nhau, dứt khoát không phải là các loại “đìa” mà người dân đào, vậy sao có cái vùng này bất đồ xuất hiện giữa đồng? Sao có nhiều ao vậy?

Mục kích sở thị mới thấy sự “hoành tráng” của khung cảnh bắt cá này. Đời tôi chỉ một lần và tới già không quên…

Người Việt và người Khmer bắt cá khác nhau lắm, họ cùng quần tụ nơi đây trong mùa bắt cá này, bởi đó là câu chuyện “chim trời cá nước” ai cũng có quyền bắt. Có những người Việt có điều kiện khá giả, họ đem hẳn cái máy bơm đổ xăng chạy ầm ầm, nhanh chóng hút hết nước trong ao, và sau đó là họ vét bùn bắt cá, nhanh gọn và triệt để, lớn nhỏ gì cũng bắt, sau đó họ đi kiếm cái ao khác, và cái ao đó sẽ trơ đáy chờ đến năm sau.

Người Khmer thì bắt cá rất “phong lưu” và bình tĩnh, chậm rãi, “có hậu”, và rất thông minh. Trước tiên họ chọn những cái ao nhỏ chừng 5-6 mét đường kính, rồi cắt cỏ năng lấp kín hết một lớp dày cỡ 10 cm, sau đó chừng năm sáu người ngồi chung quanh cái miệng ao nhỏ đó, người nào cũng có một cái giỏ tre đựng cá và một điếu thuốc rê tổ bố hình cái loa kèn lòng thòng với cái cuống dính hờ trên bờ môi dưới mà không thể rớt, thỉnh thoảng họ khép miệng lại và cái điếu loa kèn đó nhảy dựng dựng hai ba cái rồi tỏa ra một vùng khói trắng… Bởi đôi tay họ không hề rảnh rang, hai tay là hai cây gậy dài trên hai mét, kế bên có những cây ngắn hơn, mà cây nào ở đầu cũng có cái cù nèo cong cong nho nhỏ, tôi đang thắc mắc không biết họ đang làm gì thì … Ô kìa! Mọi chuyện diễn ra khiến tôi hiểu tất tần tật. Con cá nào cũng vậy, dù nó sống trong nước thì lâu lâu nó cũng phải ngước mặt nhìn ông trời và lấy của ông ta tí ô- xy, mà mấy người này đã dùng cỏ năng bịt kín hết bề mặt nước thì làm sao để cá thở? Nó buộc phải ngoi lên khỏi lớp cỏ, mà đã lên được rồi thì không cách nào mà nó xuống được, bởi nó đã ra khỏi vùng sống của nó. Ở dưới nước nó có thể dùng đuôi, dùng thân, dùng vây mà tạo một lực nhất định trong môi trường chất lỏng đó để đẩy nó vượt lên khỏi đám cỏ, nhưng sau khi nó đã hít thở thỏa thích thì nó bất lực trong việc “chun” xuống nhà mình, lúc ấy các cây “cù nèo” nhỏ sẽ kéo nó vào tầm tay của các anh Khmer đang hút thuốc kia. Mà hay lắm, hai tay hai cù nèo mà họ kéo cá vào lia lịa chứng tỏ cá dưới ao nhiều lắm, cá lóc, rô, trê, sặc rằn … con nào cũng cần phải thở nên chúng đều bị bắt. Nhưng những người Khmer luôn thả lại những con nhỏ xuống dưới ao chứ không bỏ vào giỏ, và khi đã ít cá ngoi lên cỏ thở thì họ đánh giá rằng đã hết cá, họ bèn vớt cỏ lên rồi kiếm ao khác …

Việc họ dùng cỏ năng thả trên mặt ao tôi xem như là một việc làm đầy tính khoa học, bởi cỏ năng xốp và có những khoang rỗng như thân tre vậy nên nó không thể chìm, hơn nữa thân của nó trơn bóng nên con cá dễ dàng “lách” lên, rồi khi đã ở trên mặt cỏ rồi con cá bị kéo vào trên bề dày các ống cỏ trơn này nên nó không xuống được, còn gai ngạnh gì của nó đều trở thành vô dụng. Thật là hay hết chỗ nói!

Ba cha con chúng tôi lại chọn cách đánh bắt khác, chúng tôi chọn những cái ao nhỏ nhất cỡ đường kính cái chài chừng 6 mét, sau khi chúng tôi dọn sạch cỏ bờ để dễ bung tròn cái miệng chài ra bao trùm cái ao, mấy cha con mới từ từ “lần” cái mép chài sao cho sát đất xuống tận đáy ao, ao không sâu lắm chỉ chừng hơn 2 mét nước, và ba người cứ hit sâu rồi lặn xuống mà “tém” từ từ, khi đến đáy thì ba tôi mạnh tay hơn mới làm một công việc cuối cùng là túm lấy cái đáy chài cột cái đáy lại và hai anh em sẽ hợp sức cố gắng mà lôi cái chài đầy cá vào vùng nước cạn ven bờ, sau đó mấy cha con hợp sức đưa nó lên đất bằng rồi tháo đáy chài ra… Trời ạ! Lớn nhỏ gì chúng chun vào đây hết, chúng tôi tha hồ bắt, chỉ bắt lấy những con trọng trọng, còn nhỏ thả về ao hết, vậy mà mỗi một ao chắc cũng cỡ 20 – 30 kg cá.

Trời đã về chiều, còn một ao cuối cùng chúng tôi làm nốt sẽ nghỉ, đến công đoạn cuối cùng khi kéo cái chài vào vùng cạn thì “ùm!” một phát rõ to, một con cá lóc bông khổng lồ tung rách chài một lỗ bự, rồi nó đập vào ngực ba một phát mạnh, mặt ông xanh xám và ông chới với dưới ao sâu, hai anh em nhào xuống giẫm đạp cả lên chài để dìu ba lên bờ… Ông mất thở một lúc, sau khi định thần lại ba cha con “quyết tâm” bắt cho bằng được cái con cá dám làm ông mất thở!  Chúng tôi làm lại từ đầu với cái ao này sau khi dùng một đoạn dây để “nhíp” cái lỗ hồi nãy lại, rồi cuối cùng chúng tôi cũng bắt được nó, đó là con cá lóc bông nặng chừng 3 kg. Thắng lợi “vẻ vang”, ba cha con vác đồ nghề và thành quả lao động về, phải đi làm hai lượt mới hết. Bốn bao cá hơn trăm ký và lỉnh kỉnh các thứ. Ra tới bờ kênh chúng tôi bắt cá còn sống cho vào cái lu sành mang theo để rọng, còn cá chết chúng tôi cứ cho nó nằm trong xuồng dùng cỏ đậy lại, trời chiều trong đồng lạnh dần nên cũng không sợ ươn, mà nếu ươn thì ba nói “để làm mắm”.

Vì phải lựa cá nên mất nhiều thời gian, và ba tôi bị mệt nên ba tôi quyết định ngủ lại giữa đồng; hơn nữa, đi đồng xa thường xuyên nên trong xuồng luôn có đồ mang theo ngủ lại.  Sau khi tắm rửa sạch sẽ dưới kênh, chống con thuyền ở đó, chọn một vùng đất bằng trên bờ kênh rồi mấy cha con đốt lửa nấu ăn ngoài trời, ăn một bữa đã đời với cơ man là cá tươi kia rồi cắm mấy cây cọc giăng mùng ngủ.

Nửa đêm, lại “ÙM!” một phát rất to. Chúng tôi bị dựng dậy bởi tiếng động đó. Đốt đuốc xuống bờ kênh nơi phát ra tiếng động thì hỡi ôi… Cái lu to cỡ 5 đôi nước mà chúng tôi rọng cá có cái nắp bằng sành, được một cục đá to dằn lên, mà cái con cá làm ba tôi mất thở đó nó đã quẫy mạnh cỡ nào mà có thể bể cả cái lu? Bể luôn cái nắp!  Một số các con cá lóc bự khác đã đi theo cái thằng đàn anh của nó mà vượt ngục… Thôi đành! Chúng tôi không thể truy nã chúng nó để “quy án”.  Buồn bã, mấy cha con thu hồi phần chiến lợi phẩm còn lại mà chèo xuồng về luôn.

Nhắc lại việc này em gái tôi nói rằng “Trời ơi! Cả đời không quên chuyện làm cá hôm đó. Cá đâu mà ngập sân!”

Ba tôi làm mắm, cũng muối, cũng thính, cũng lèn chặt; chúng tôi cho hàng xóm, cho bà con… vậy mà cái lu mắm ăn hơn cả năm cũng không hết. Phải ngay thẳng mà nói rằng những năm tháng khó khăn đó gia đình tôi chỉ ăn bo bo và khoai độn trong thời gian ba tôi đi “học tập” mà thôi, sau khi ông về thì chúng tôi đã tự làm ra lúa, tự đi kiếm cá tôm, rau củ…

Cụm từ “cực khổ” chỉ đúng 50 %: cực chứ không khổ, chúng tôi còn sướng hơn bao gia đình. Cụm từ “đói khổ” cũng chỉ đúng 50 %, vì chúng tôi chỉ khổ chứ không đói, vì ngoài kia còn bao nhiêu gia đình bị đói. Nghe thì có vẻ như mâu thuẫn? Nhưng không! Khổ thân và khổ tâm khác nhau chứ?

Còn cái vùng “bắt cá trên đồng cạn” đó ba nói là “vùng trắng” thời chiến tranh. Đó là vùng rộng lớn không có người ở nên dùng cho các máy bay ném bom tự do. Tại sao họ lại mang bom thả tự do vào đây mà không có mục đích gì? Bởi, khi máy bay đi ném bom mà vì lý do gì đó họ không thể thả bom được, có thể không tìm được địa điểm thả bom vì thời tiết xấu, hay có lệnh hủy thả bom… Mà máy bay đã mang bom đi rồi, họ không thể thả lung tung rủi như nhằm người dân vô tội thì không được, nên phải có một vùng để họ trút bỏ các quả bom đó vì không thể mang bom trên càng để đáp xuống các sân bay được, việc đó vô cùng nguy hiểm cho phi công và các đồng sự cũng như các khí tài quân sự tại các sân bay… Vùng này được chính quyền xưa chọn làm nơi “xả bỏ” các quả bom đó, nó có thể còn là nơi các máy bay diễn tập ném bom với các mục tiêu quân đội tự tạo nên, và đây là một bãi bom đúng nghĩa. Mùa nước nổi thì nước ngập trắng đồng, cá mú bơi lung tung, khi nước rút thì chúng tụ về đây vì trong các ao hố bom còn nước, hàng năm bà con đều về đây bắt cá như đã kể.

Tuy nhiên, tôi không hiểu sao ngày xưa họ biết mà cùng tụ lại để bắt cá chỉ trong một vài ngày…

Vị trí nơi gia đình tác giả bắt cá, vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nay được xem như là vùng « bảo tồn » về sinh thái của xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành.

Ảnh vệ tinh chụp vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nay được xem như là vùng « bảo tồn » về sinh thái thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành.

Ảnh vệ tinh chụp cận cảnh các hố bom của vùng « xả bom » thời chiến tranh ngày trước, nơi tác giả và gia đình bắt cá trong những hố bom thành ao nước có cá. (Phú Mỹ, Giang Thành).

Vậy là, từ các bức ảnh cổ của Mr. Trần Văn Mãnh sưu tầm được, đã gợi lại cho tôi cả một vùng kỷ niệm đã trôi qua hơn 40 năm… Mọi cái nó trở về rõ ràng như mới vừa trải qua vậy. Tuy nhiên, đó là hình ảnh của quá khứ mà bây giờ chắc chắn không còn lại được. Tôi chắc rằng ngoài phương hướng và các khoảng cách mà tôi mô tả một cách khái quát chung chung, thì các bạn cũng có thể định vị lại vị trí ngày nay của các vùng đất đó. Nếu các bạn biết nơi đó hôm nay thì hãy tin rằng nó của ngày xưa ấy đã giống như tôi mô tả, bởi tôi đã sống và làm việc nơi đây trong một đoạn đời rất thú vị với vùng đất và những con người giàu lòng nhân ái, giàu tính tương trợ, tràn đầy tình nghĩa bà con xóm giềng…

Đoạn đời đó nó đã rất có ích cho tôi sau này, để tôi luôn nhìn lại mà vượt khó trong cuộc tha phương cầu thực, rồi sống chan hòa với những con người đồng cảnh ngộ giữa cuộc mưu sinh vốn không dễ dàng này… Thật khó để diễn tả cảm xúc của mình chỉ bằng giấy mực. Vậy thôi.

Trong các bài trên là câu chuyện của gia đình tôi và của tôi tại Rạch Vược thời “cận xưa” như đã kể. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các tấm ảnh, tình cờ tôi phát hiện ra một câu chuyện trăm năm, câu chuyện của ông bà tôi, một gia đình trong những gia đình kỳ cựu tại Rạch Vược này.

Quang Nguyên

(Còn tiếp, mời các bạn đón đọc III . Phần G)

Chú thích:

Sơ đồ vùng gọi tên là « Tứ Giác Long Xuyên », vùng màu xanh lá cây có diện tích gần bằng năm ngàn kilo-mét vuông

* Tứ Giác Long Xuyên: Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa phận ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ. Bốn cạnh của tứ giác Long Xuyên là: biên giới Việt Nam-Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Bassac (sông Hậu). Bốn đỉnh góc của tứ giác này ứng với bốn thành phố: Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên.
Vùng Tứ giác Long Xuyên có diện tích tự nhiên khoảng 489.000 hecta. Địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,4 đến 2 mét.
Mùa lũ (từ tháng bảy đến tháng mười hai), vùng này thường ngập trong nước với độ sâu từ 0,5 đến 2,5 mét. Mùa khô, vùng này thường khô hạn và bị nước mặn xâm nhập.
Nhiều người nông dân đã quyết dấn thân với mảnh đất « muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh ». Nhiều người khác đã cùng làm theo, góp phần xây dựng nên diện mạo mới của vùng tứ giác Long Xuyên ngày nay. 

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần E-Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu thầy cô và các bạn nhín chút thời giờ đọc bài dưới đây, sẽ có cảm tưởng là đang đọc một đoạn trong một quyển tiểu thuyết của các tác giả rất nổi tiếng ở miền nam ngày xưa, đó là các nhà văn Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam…Tuy nhiên, nếu các nhà văn bậc cha ông nầy có một phong thái viết văn mô tả những câu chuyện đồng quê rất thú vị nhưng còn pha lẫn một chút vẻ nghiêm nghị cổ điển của văn chương thì bài viết dưới đây của tác giả Quang Nguyên lại có một sắc thái mới, ngoài phong cách tả chân với các sinh hoạt đồng ruộng, tác giả Quang Nguyên còn pha vào câu văn của mình một vẻ hoạt bát, đầy tính chất trẻ trung và rất thân mật với người đọc, giống như Quang Nguyên đang kể lại câu chuyện hằng ngày của mình bằng cách đang nói chuyện với bạn bè chung quanh… Qua câu chuyện kể nầy, Quang Nguyên đã đưa chúng ta đến những vùng tuy tên tuổi cũng rất quen thuộc với người Hà Tiên chúng ta (Trà Phô, Trà Ten, Phú Mỹ, Hòa Điền…), nhưng mình nghĩ rằng rất ít người trong chúng ta đã từng đặt chân đến các vùng nầy…Đây là một vùng đất vẫn còn rất hoang sơ khi tác giả cùng gia đình đến đây theo phong trào khai khẩn đất hoang để trồng trọt …Đứng ở gữa vùng đất hoang vu đầy lau sậy, cỏ ống cao ngất…con người cảm thấy bơ vơ, lạc lõng đến độ như bị bỏ rơi giữa cái xã hội đang đổi mới….Tuy nhiên điều đó cũng lại gần như là một yếu tố giúp tác giả cùng gia đình có một ý chí quyết liệt muốn chiến thắng với cái khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn và vượt mọi khó khăn…Cuối cùng thì cỏ ống và lau sậy đã được sức người biến thành những cọng lúa vàng tươi cao ngất, sự cô đơn của con người nhỏ bé được an ủi bằng những ưu đãi, khuyến khích, tương trợ của những người dân đồng cảnh ngộ và với một cách nhìn tích cực hơn, thiên nhiên đã đem đến cho con người vùng đất đó nhiều sản phẩm tự nhiên như cây tràm, lá dừa nước, cá cua đủ loại, hẹ, súng, mật ong….v…v….Rỏ ràng đây là một bài học quý giá cho chúng ta, một kinh nghiệm mà tác giả cùng gia đình đã trải nghiệm thay cho chúng ta để mọi người học được bài học để đời cho mọi tầng lớp, trước mọi khó khăn, gian khổ, chỉ có ý chí mạnh bạo của con người mới có thể giúp chúng ta vượt qua tất cả và làm thay đổi được vận mệnh của mình, trong cái « thời », cái « vận » còn có cái « ta » trong đó, nếu chúng ta biết vận dụng cái « ta » một cách hữu hiệu trong đời sống, chúng ta sẽ làm chủ được cuộc sống của mình …Xin mời thầy cô và các bạn bước vào bài học kinh nghiệm đồng quê dưới đây …(Paris, 06/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

 E – Chim trời, cá nước, ong rừng tràm… trong Phú Mỹ:

Nhà nước khuyến khích nông dân Thuận Yên đi khai khẩn vùng đất hoang ở Lò Bôm. Do đã không đi KTM rồi nên chúng tôi phải tham gia vào công việc này cùng bà con ở xã Thuận Yên.  Đó là một vùng rộng lớn hoang vu, nếu đứng giữa đồng nhìn về hướng Hà Tiên thì trước mặt là Trà Phô, bên phải là kênh Trà Ten (Tà Ten), bên trái là hướng Cờ Trắng, sau lưng là cái cột ống khói đang bay tỏa của nhà máy xi măng Hà Tiên đặt tại Kiên Lương, mà vị trí nào so với địa điểm của chúng tôi đứng cũng ngót chục ki lô mét… Xa xa có một vài khóm rừng tràm nho nhỏ và mênh mông là cỏ ống bụi to cao hơn đầu người, và các loại cỏ nước phèn: năng, đưng, bàng, lác, thủy trúc (lác dù) ..v..v… Chúng tôi cứ lựa chỗ đất nào có cỏ ống là tốt nhất rồi cắm cọc chọn.

Việc chọn đất được làm trước vào mùa nước nổi vừa rút bớt, khi còn nước cỡ 20-30 cm thì chúng tôi phát cỏ bằng cây phảng và cây cù nèo, một tay cầm phảng tay kia cầm cù nèo, vung cao lưỡi phảng chém xuống nước rồi dùng cù nèo quơ cho đám cỏ lùi về sau, cứ một nhát chém thì một cú lùa nhịp nhàng, cứ vậy mà đi tới… Ba tôi chọn 5000 mét vuông đất toàn cỏ ống đó, cứ mỗi chiều sau khi phát cỏ xong ông chống xuồng vào ở trong rừng tràm gần đó cùng bà con Thuận Yên, ông làm cái chõng bằng cây tràm và che bằng Poncho trên ngọn các cây tràm để ở. Nước uống, gạo, và khô cá được mang theo vì nước đồng chua không uống được, cá tươi thì có cá rô, cá sặc, cá lóc… được bà con giăng lưới bắt cũng “ổn” lắm, cà chua và các loại rau củ thì chịu khó lội ra bờ kênh Bà Sáu Bồi sẽ có các xuồng nhỏ dọc kênh bán cho bà con. Tại chỗ thì có hẹ nước, bông súng và cây rau mác ăn tạm cũng qua ngày… Hàng ngày cần nấu ăn uống thì mọi người cùng tụm lại một cái gò cao giữa đồng có một cây trâm già gọi là “gò Cây Trâm”, vì chung quanh chỉ toàn nước và nước. Củi thì đầy trong rừng tràm và củi tràm lục thì đầy dưới đất, chỉ moi lên và chẻ ra phơi thôi rồi sử dụng mà thôi.

Khi đã phát quang xong thửa ruộng (mà của ai người nấy biết, cùng tôn trọng lẫn nhau mà không ai xâm phạm của ai, vì phát cỏ vào cuối mùa lũ hàng năm nên phát xong là nước vừa rút đi) thì sau đó chúng tôi chờ thêm một hai tuần để phơi khô cỏ, cho đến khi lớp thực bì lâu năm trên bề mặt khô hẵn thì chúng tôi đốt đồng. Ngày đốt đồng cũng vui lắm, cả xóm cùng vào làm, dùng tàu dừa khô đánh thành con cúi (thắt bính) rồi đốt nó và kéo chạy vòng vòng khắp thẻo ruộng, kéo tới đâu lửa bén tới đó, hết con cúi này mình mồi con khác, khói lửa lan tỏa khắp nơi trên một vùng rộng lớn, và để tránh cháy lan chúng tôi thường phát trống độ một tầm cỡ ba mét rộng bao lấy chu vi đất của mình, rồi dọn sạch cỏ để không cho lửa bén sang những vùng khác… Đốt đồng xong chúng tôi đã thấy nhiều chuột đồng, rắn, và có cả rùa chết cháy trong đó, nhưng biết làm sao?

Mùa này cỡ tháng 1 hay tháng 2 âm lịch, trước Tết thì chúng tôi gặt vụ lúa sớm mà gia đình tôi làm tại Thuận Yên, còn sau khi ăn Tết xong chúng tôi vào đồng làm lúa mùa có tuổi đời từ 5 tháng, đặc tính của vùng này chỉ làm được lúa mùa để khi con nước về tràn đồng (vào tháng 7 đến tháng 9 âm lịch hàng năm) là đến mùa thu hoạch lúa mùa ở đây. Chúng tôi dùng giống lúa Som Ka (loại lúa địa phương) năng suất không cao như các loại thần nông, nhưng sức chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, chịu phèn và có một đặc tính tối quan trọng cho vùng này là nó bất chấp con nước, nước cao tới đâu nó luôn vươn cao hơn nước, thật là mãnh liệt, tôi đã từng đo một gốc lúa sau khi thu hoạch nó cao lên đến hơn hai mét.

Sau khi đốt cỏ đã phát và đất đã nguội hẳn thì bắt đầu bừa, ở Thuận Yên có bác Ba Đúng, ông có hai con trâu to mập, một con to và một con rất là to! Hàng ngày ông đi bừa cho mọi người trong đó, bừa đến ba hay bốn tát (lượt). Đó là dàn bừa muỗng giống cái bàn cào khổng lồ với cái bàn bừa rộng hơn hai mét, có hàng răng bừa bằng thép cỡ 2,5 cm đường kính, cao độ gang tay và đầu nó dẹp to bè ra như muỗng ăn canh. Mắc cái ách vào cổ hai con trâu, rồi ông đứng trên cái dàn bừa đó mà la bằng những “tiếng lạ” chi đó để nó lôi ông đi, ông điều khiển nó bằng các cọng dây, ông liên tục phát ra những khẩu lệnh bằng cái thứ “tiếng lạ” đó mà chỉ “bộ ba” là ông và hai con trâu hiểu nhau! Vậy mà “họ” ăn ý nhau đến tuyệt vời, không thể “chuyên nghiệp” hơn.

Đất ở đây tuyệt đối không dùng cày mà chỉ dùng bừa, vì cày sẽ “ăn đất” sâu hơn rồi sẽ làm dậy phèn lên, còn bừa tác dụng chỉ để bật rễ của cỏ bụi ở bề mặt chừng 5 – 7 cm, rồi chúng tôi sẽ đốt các gốc rễ cỏ đó mà lấy tro hạ phèn. Sau khi bừa bật các gốc rễ lên chúng tôi phải phơi thêm mươi hôm cho rễ thiệt khô rồi đốt đồng lần nữa, lần này lửa sẽ ngún cháy dưới rễ cỏ mà tạo một lớp tro dày cỡ 3 đến 5 cm. Sau đó chúng tôi bắt đầu tỉa lúa trên lớp tro đó bằng một cái cây gậy đường kính 5 cm, một người đứng thọt lỗ độ sâu chừng 5 cm, cách đều 30 đến 35 cm một lỗ, một người bỏ hạt với mỗi lỗ chừng mươi hột lúa đã được ngâm nảy mầm, sau khi tỉa xong để tránh chim ăn mất chúng tôi phải lấp lại. Việc tỉa lúa mấy anh em chúng tôi làm cũng “chuyên nghiệp” lắm, một tay ôm thúng lúa giống, còn tay kia dùng để tỉa lúa vào lỗ. Cầm một nắm lúa giống trong tay chúng tôi dùng giữa ngón trỏ và ngón cái định lượng số hạt vào lỗ, hai ngón kế để giữ lúa đừng rớt ra, còn ngón út còn lại chúng tôi quẹt nhanh cái lỗ đó để tro đất lấp lại.

Phải mất mươi ngày chúng tôi mới làm xong và khi đó đầu kia của thửa rộng lúa đã lên lún phún, vì có những ngày ba tôi vì mệt quá mà sinh bệnh, căn bệnh đường ruột mạn tính mắc phải trong những năm “đi học” mới đây, ba tôi phải nghỉ ngơi và mấy anh em thiếu người chỉ huy nên chơi giỡn nhiều hơn làm… Nhưng cuối cùng cũng xong, mấy cha con ra kênh Bà Sáu Bồi cách đó hơn 1 ki-lô-mét để lấy xuồng gửi nhà bà để chèo về Hà Tiên, còn ruộng lúa để đó cho Trời trông chừng.

Rồi khoảng năm hôm sau chúng tôi lại vào thăm đồng, khi ấy lúa đã lên xanh, chúng tôi xem có những chỗ bị chim chuột ăn mất giống thì chúng tôi tỉa dặm lại để sau này có năng suất cao. Rồi sau đó hai ba tuần chúng tôi lại vào thăm để nhổ bớt cỏ dại. Trước đó ba tôi còn vào hãng nước mắm Bỉnh Ky (lúc này hình như đã quốc hữu) xin lấy xác mắm trong các thùng ủ, việc lấy xác mắm vô cùng kinh khủng vì nó hôi nồng nặc chúng tôi phải thay phiên nín thở xúc rồi nhảy ra chứ không khéo chết ngộp. Kéo chiếc xe cây đầy xác mắm từ Tô Châu về Thuận Yên tới đâu người ta “la làng” tới đó, rồi chúng tôi mang về đất nhà ở Đình Thần Hoàng ủ một hầm to chung với phân bò và tro trấu, lá đậu phọng (chúng tôi có xen canh trồng đậu phọng dưới núi Đồn). Cái hầm phân này sau đó được ba “khai quật” lên và chở vào đồng bón cho đám ruộng đồng hoang. Việc này mấy người bà con cứ chọc ghẹo ba tôi kiểu “tưới nước cho dừa Tam Quan”, nhưng ba tôi tin ở việc mình làm, và rõ ràng đám ruộng của ông xanh tốt hơn hết. Năm đó chúng tôi trúng lúa nhất xóm Thuận Yên, 5000 mét vuông đất thu được 70 giạ lúa (so với năng suất bây giờ thì bấy nhiêu có bõ bèn gì? Nhưng ngày xưa với lúa mùa thế là “trúng” rồi đó). Mọi người lại chọc ba tôi tiếp. Họ gọi ông là “ông Thần Nông!”.

… Ngày cắt lúa cả xóm rủ nhau đi chung vì khi xuống giống cùng đợt, sớm thì mạnh ai nấy đi nhưng chiều về thì một lượt, lúc này biên giới căng lắm rồi, đánh nhau liên tục nên chúng tôi không dám ngủ lại trong đồng. Nhưng vì việc “chèo chống mỏi mê” mất nhiều thời gian nên có một số người ở lại nên chúng tôi cũng ngủ lại theo cho có bạn, mà lúc này nước đã ngập lớn rồi, cắt lúa mà phải ở trên xuồng hoặc phải lội nước đến thắt lưng, cắt đầy xuồng thì phải chở ra bờ kênh, hoặc để trên Gò Cây Trâm rồi quay đệm lại làm bồ đập lúa… Công việc vì vậy mà trễ nãi kéo dài, lúa gặt không kịp gãy ngọn xuống nước lớp thì cá ăn lớp thì mọc mọng, nhìn xót lắm.

Lúa chín thì chim về, chim nhiều lắm bay như những đám mây biến đổi hình thù kỳ dị theo những con đầu đàn, chim áo già thì mây màu nâu, chim sẻ mây xám, còn két xanh – là cái thứ đông nhất, đám mây xanh lè bự nhất, ồn ào nhất, và đáng ghét nhất vì nó không ăn mà nó phá, nó phá tàn phá hại, cái bông lúa nó cắn làm hai rồi nhả xuống nước rủ rê bầy cá rô bu đến ăn phụ, rõ ràng chúng đang “trả thù” loài người đây mà?

Khắp cánh đồng ồn ào tiếng đuổi chim bằng tất cả thứ gì họ có, thùng thiếc, kẻng vỏ đạn hay bất cứ thứ gì phát ra tiếng to ồn ào át tiếng chim. Bù nhìn không có ý nghĩa nơi đây, người ta nhảy dựng dựng trên xuồng vung chân tay xuồng chao lắc vỗ nước ồ oạp nó còn không sợ. Áp lưc về an ninh, áp lực tự nhiên của mùa vụ, nước lớn quá nên cắt lúa chậm, chim chóc phá hoại… làm cho công việc vốn đã chậm như càng chậm hơn.

Đêm hôm đó chúng tôi đang ngủ trên các nền nhà hoang ngoài bờ kênh thì phía Trà Phô có đánh nhau dữ dội, tiếng súng to súng nhỏ nổ liên hồi, nhìn về hướng đó thấy rõ các đường đạn hai bên giao chiến đan qua lại như một cái lưới chụp khổng lồ, lửa lóe sáng hai bên rồi những tiếng nổ to dội lại… Đụng nhau ác liệt lắm, chúng tôi tất cả đều thức giấc và lo lắng, đến gần sáng thì tiếng súng giao tranh thưa dần, chúng tôi bèn ra đồng sớm để làm việc. Tầm 8 giờ sáng, chúng tôi nhìn thấy một đoàn quân mặc bà ba đen vác súng ống đang di chuyển từ chiến trường đêm hôm về phía chúng tôi, ở bên kia kênh, nhưng con kênh bà Sáu Bồi thì nhỏ xíu, vượt qua là dễ dàng, chúng tôi nghĩ là Miên Đỏ, phen này chết chắc!

Ai đó la lên “chạy! Chạy…”. Thế là cả xóm ù chạy, mà chạy gì được với nước mênh mông? Chạy đi đâu? Dứt khoát chạy không kịp với súng đạn! Thế nhưng phải chạy, và chúng tôi chạy về hướng Kiên Lương, cứ nhắm cái ống khói của nhà máy mà chạy về đó, ai chống xuồng thì chống, ai đẩy xuồng thì đẩy, ai lội nước được thì cứ lội… Chạy được vài trăm mét thì có ai hô lên “là quân mình!”. Mọi người dừng lại thì thấy đoàn quân rẽ về hướng Trà Ten thấp thoáng mấy cái mũ cối và nón tai bèo. Hú hồn!

Sau hôm đó không còn ai dám ngủ lại trong đồng, và người ta vận động hết sức để làm nhanh. Riêng gia đình tôi dù sao cũng không thể nhanh bằng các tay nhà nông cự phách kia, thế nên thật cảm động với nghĩa cử của họ. Cả xóm dành một ngày sau cùng để xúm vào gặt cho kỳ hết cái đám ruộng của gia đình tôi, đem hết cả lúa nguyên rơm chở về Thuận Yên mà không chờ đập, ai có xuồng chở giúp bằng xuồng, ai có vỏ vọt chở giúp bằng vỏ vọt… Chỉ một ngày cuối cùng đó cả xóm làm nốt phần công việc mà ba cha con tôi làm chắc phải trong mười ngày!

Ba tôi xót nhặt những bông lúa rơi rớt, vì đó là công sức hơn nửa năm của ông mà? Thấy vậy thì mấy chú đồng hương la lên:

–          Ông Sáu! Tụi tui về! Ông ở đó mà ‘lụm’ lúa với Miên Đỏ nhe!

Người Rạch Vược đã sống với gia đình tôi nghĩa tình như thế đó.

“Kênh Bà Sáu Bồi”, “nhà bà Sáu Bồi”… Là những cái “mốc” để định vị trong cái cánh đồng chó chạy thẳng đuôi này.  Bà Sáu Bồi là một người to con với cái khăn rằn vắt chéo đội trên đầu, bà là trưởng ấp hay chi đó, là người có “uy tín” trong vùng, và bà là người của chính quyền mới. Tuy vậy với chúng tôi bà không hề có đối xử khác biệt, nói chung là bà rất tốt. Có những lúc cha con chúng tôi chống xuồng đến nhà bà thì đã quá tối không vào sâu trong đồng được thì bà cho ngủ nhờ. Khuya chừng ba bốn giờ khi sương mù còn bít lối (sương mù nơi đây dày lắm, nói không tin chứ cách nhau ba bốn mét đã là không thấy nhau) thì ông chồng bà Sáu Bồi cùng mấy đứa con trai của bà (trạc tuổi chúng tôi) đã dắt bầy chó cả chục con vào sâu trong đồng để bắt chuột, sáng chúng tôi ngủ dậy nấu cơm ăn sáng thì bầy chó sủa inh ỏi cùng chủ của chúng đã về. Ba bốn cái lồng chuột lúc nhúc, con nào cũng to mập ú, không biết chúng ăn thứ gì trong đồng mà béo vậy, lông chúng màu vàng vàng chứ không đen như chuột nhà. Rồi bà mang cái lồng ra sân thì cái đám chó săn hung tợn đó nó ùa ra, tôi rất ấn tượng với đàn chó của bà, bà dạy nó không bao giờ ăn chuột săn được, tụi nó chỉ được ăn đầu và da chuột khi bà làm thịt chuột gọn gàng chỉ bằng một nhát chém ngang cổ và kéo xoạt một phát hết da, trong tay bà chỉ còn là một con thịt trắng bóc. Bà quăng một chùm các thứ bỏ đi đó ra sân, bầy chó nhào tới dọn sạch nhách như chưa hề có một hiện trường tanh tưởi của lũ chuột bị bà Sáu “xử trảm”, nhanh đến độ có khi con chuột chưa hiểu chuyện gì xảy ra… Sau khi bầy chó đã ăn xong thì thằng con bà mang một nồi cơm bự chảng ra chắt nước cơm đang sôi vào cái máng heo kế cạnh, khói còn đang bốc lên nghi ngút thì bầy chó đã nhào tới xồng xộc tranh ăn, chúng hầu như không biết nóng là gì ngoài chuyện nóng ruột muốn ăn! Thì cũng có con sặc nóng phì phì nhưng nếu chúng không chịu được thì sẽ mất phần.

–          Bác Sáu có cho tụi nó ăn cơm không? – Tôi hỏi.

–          Cơm người ta còn không có mà ăn. Tụi nó chỉ ăn vậy thôi đó con. Đói thì tự đi ra đồng kiếm ăn…

Bà cười trả lời tôi, lát sau bà múc ra một chén thịt chuột mà bà làm sao nó thơm ngậy.

–          Anh Sáu! Làm một miếng hén! (ba tôi cũng thứ Sáu).

Bà mời mấy cha con chúng tôi đang ngồi ăn cơm trên cái tợ (sàn) bằng cây tràm ngoài sân. Đó là lần đầu tiên trong đời ba cha con tôi rón rén ăn thịt chuột. Cũng ngon và chắc lắm.

Tôi không biết con kênh này tên gì, từ Hà Tiên qua nó nằm bên trái như đã nói, vị trí đầu vàm của nó ngay kế cạnh cái Cản Cờ Trắng, đến đây chúng tôi phải chèo xuồng rẽ vào. Vùng này có người gọi tên là Thuận Án, có người gọi là Trần Thệ, đó là Xã hay Ấp hay một đơn vị hành chánh nào đó tôi cũng không biết vì lúc đó tôi không quan tâm lắm, chỉ biết mọi người lấy nhà bà Sáu Bồi làm mốc, lấy Gò Cây Trâm sâu trong đồng phía sau lưng nhà bà làm mốc, và con kênh trước nhà bà – cũng gọi là kênh bà Sáu Bồi để làm đường đi bằng xuồng… Con kênh vào mùa dọn đất và tỉa lúa này nó kiệt nước lắm, người ta đi bằng xuồng ba lá đáy bằng và nhỏ nhẹ thì có thể chống lướt nhẹ nhàng trên đó, nhưng chiếc xuồng lườn đáy sâu mũi nhọn của cha con chúng tôi là loại to đi ngoài cửa biển không phù hợp cho vùng này tí nào, thế nên chúng tôi luôn khó khăn khi ra vào vì suốt cả năm sáu cây số vào từ ngã ba kênh Rạch Giá – Hà Tiên vào tới đây, có những đoạn ba tôi phải xuống lội bùn để đẩy chiếc xuồng đi tới, một trong hai chúng tôi phải đi trên bờ kênh mà dùng dây kéo phụ, còn đứa còn lại ngồi ở mũi xuồng để điều hướng, rồi khi nào ai mệt thì thay phiên… Cứ vậy mà từ từ chúng tôi cũng lôi được chiếc xuồng lườn với đủ thứ trên đó để vào đến nơi nhà bà Sáu Bồi.

… Cứ ba bốn giờ sáng là chúng tôi bắt đầu chèo xuồng đi khỏi bến sông sau Đình Thần Hoàng, và cứ chèo theo con rạch Rạch Núi (Rạch Vược), vòng vèo ôm sát chân Núi Nhọn rồi trổ ra kênh xáng như đã nói. Có khi chúng tôi đi cùng ba, nhưng cũng có khi chỉ có hai anh em vì ba đã “cắm dùi” trong đồng và chúng tôi về nhà lấy đồ ăn thức uống tiếp tế. Đường khuya vắng vẻ lạnh lẽo nhưng đi hoài riết quen, trời tối đen như mực thì chúng tôi vẫn có thể đi được dù chẳng có đèn vì dòng nước rạch ban đêm nó “trắng” hơn hai bên bờ, đó là kinh nghiệm của chúng tôi theo kiểu “mưa tránh trắng, nắng tránh đen” khi đạp xe hay đi bộ trên đường nhiều ổ gà mà tránh sình tránh sụp… Những chuyến đi này thường xuyên nên anh em chúng tôi dù còn nhỏ nhưng hết sợ bóng đêm.

Một hôm sau khi xuồng đã đến nơi, neo ngoài bờ kênh bà Sáu Bồi, tôi gánh hai thùng nước ngọt được chắt ra từ cái phuy của chiếc xe nước mà chúng tôi hành nghề từ hồi năm trước ở Hà Tiên, giờ được anh em chúng tôi tiếp tế nước ngọt được chở từ Thuận Yên vào đồng. Trời trưa nắng gắt mà từ ngoài bờ kênh vào khóm tràm nơi ba tôi cùng bà con tá túc có hơn cây số băng đồng theo lối mòn trâu bò và người đi, đặt quang gánh xuống để uống nước từ trong thùng ấy tôi thấy có hai ba con ong mật bay đến uống chung, “thì thôi, tao uống được mày cũng uống được..” nên tôi chẳng thèm để ý. Một chút sau thôi khi tôi tiếp tục đi, thì tôi nghe như có tiếng như máy bay đầm già bay dạo trước, tôi chợt nghĩ “Ủa! Sao hôm nay lại có tiếng máy bay?”, ngó lên tôi thấy một đám đen thui không rõ hình thù vì nó liên tục biến dạng. Đám mây phát tiếng kêu u u đó vần ngay trên đầu tôi, rồi chưa kịp biết là gì thì nó đã sà ngay vào hai thùng nước tôi đang gánh, một vài con đậu trên mặt tôi thì tôi biết là ong, nhưng tôi dại dột dùng tay đập nó và dùng cái nón bàng để xua đuổi bầy ong đó, thế là chúng “bề hội đồng” oánh tôi tới tấp, cả một đám đen thui bu vào người tôi, chỗ nào có da thịt là chúng cắm đít vào, sợ quá tôi ù chạy mà quăng cả hai thùng nước quý giá đổ tràn ra đồng khô cỏ cháy, tôi tối tăm mày mặt cứ cắm đầu thục mạng cho tới khi không còn nghe bầy ong u u nữa thì lúc đó tôi cũng đà hết hơi, ngã vật ra đám cỏ lút đầu mà không nghĩ mình còn sống…

Khi tỉnh táo hoàn hồn thì thấy toàn thân sưng múp và đau nhức, đôi con mắt nhỏ của tôi chỉ còn ti hí hai cọng chỉ, lổ mũi cũng sưng to như quả cà chua mà ba hay mua ngoài bờ kênh Bà Sáu Bồi, môi miệng sưng mọng như mới vừa bơm silicon ở viện thẩm mỹ về, hai bắp tay và cánh tay chỗ nào cũng có đầy đít ong hình chữ V cắm vào. Lần đầu tiên trong đời tôi “khám phá” là ong chích xong sẽ bỏ kim – giống như y tá vậy, nhưng y tá sẽ rút kim ra quăng vào thùng rác y tế, còn con ong do không có tay nên nó không thể làm chuyện đó, đơn giản chích xong nó chỉ “phủi đít” bay đi thôi…

Tôi lò dò để tìm đến đôi thùng nước khi nãy, chỉ còn đôi thùng không vì tôi quăng ngang nó đổ hết, về đến rừng tràm gặp ba, tôi khóc hu hu, mấy chú mấy bác xúm lại hỏi thăm và an ủi bằng cách chọc ghẹo tôi đủ kiểu, ba nạt biểu tôi nín. Xong, ông biểu tôi ngồi trong cái lán nhỏ của ông dưới tán cây tràm, và “cái giường” là một đống vỏ tràm trải ra, trải thêm tấm nylon để ngăn hơi đất và trên cùng là chiếc chiếu. Ông cũng không làm cái điều mà thằng nhóc tôi đang chờ là an ủi hay dỗ dành, mà ông chỉ xoay qua lại cái mặt tôi săm soi cái gì đó?

Đoạn, ông hỏi tôi bầy ong bay hướng nào? Tôi đâu có biết nó bay hướng nào? Chỉ có thể chỉ cho ông hướng tôi chạy thoát thân trối chết lúc nãy. Ông bỏ đi và cầm theo cây dao câu liêm, khoảng tiếng đồng hồ sau ông về. Không nói tiếng nào, ông quăng xuống “giường” một cái bọc nylon nghe tiếng “bịch!” rõ to, trong bọc là nguyên một tổ ong mật vàng ươm, to cỡ cái dĩa trung 20 cm, trong tổ còn đầy những con ong non trong những cái ngăn hình lục giác… Và tôi ăn ngon lành cái tổ ong thơm ngọt đó, phun ra “phèo phèo” cái chất sáp ong lạt lẽo không nuốt được. Ba nhìn tôi ăn ông khẽ cười rồi ông lấy đâu ra cái nhíp mà nhổ mấy cái đít ong hình chữ V trên vai, trên cổ và trên mặt tôi… Đếm được đâu cả hàng mấy chục cái. Đêm đó tôi chỉ hơi sốt chút có lẽ vì sợ chứ ba nói rằng ong mật này không độc, và ăn mật của nó cũng có tác dụng tiêu độc…

Thiệt là một câu chuyện nhớ đời..

Vị trí nơi tác giả Quang Nguyên cùng gia đình làm ruộng (ô vuông màu xanh). Điểm A là nơi Rạch Cái Tắt  gặp kênh Hà Tiên-Rạch Giá, điểm B là nơi Rạch Vược gặp kênh Hà Tiên-Rạch Giá.

Lại có chiều hôm khi ba cha con đang tỉa lúa ngoài đồng thì má tôi chợt xuất hiện. Bà như từ đâu hiện ra với gương mặt đen nhẻm vì muội than của các con trốt đồng hay bất đồ xuất hiện giữa cánh đồng này, nó mang tro bụi và các gốc rễ cỏ đất lên tít cao rồi bất ngờ tung ra khắp nơi, thật khổ cho những ai gặp nó giữa đồng nóng với mồ hôi hễ nhại, các hạt tro bụi li ti đó như ngàn mũi kim châm ngứa xót chẳng khác bạn đụng nhằm lông “mắt mèo”… Má tôi đã đi bộ từ Cờ Trắng và băng đồng khoảng chục cây số để đến đây sau khi bà dò hỏi người dân để biết khu khẩn hoang của xóm Thuận Yên này mà tìm ba tôi. Hai người nói với nhau những vấn đề gì đó xem chừng rất quan trọng mà chúng tôi không được quyền biết. Đến mờ sáng khi sương mù còn lãng đãng trôi từng cụm trên đồng thì cả nhà tôi cùng ra bờ kênh, tại đây má tôi nói có người sĩ quan là đồng nghiệp của ba, và cũng là học trò Hà Tiên, vì thương ba má tôi và gia cảnh chúng tôi nên ông muốn giúp đỡ cho anh em chúng tôi đi vượt biên miễn phí, má tôi vì thế mà “xâm mình” dặm trường vào đây… Ba má tôi phân tich rất nhiều điều hay lẽ phải để chúng tôi hiểu vấn đề, nhưng cả hai anh em chúng tôi nhất định không chịu đi vì không muốn xa gia đình, và vì chúng tôi là lao động chính trong nhà, trong những lúc ba tôi bị gom vào “trong ấy” (mà chuyện này thì rất thường xảy ra) còn má tôi phải cố đi dạy học để “chạy điểm” cho ba tôi nên không thể “chạy chợ” được, thì hai anh em chúng tôi trở thành lúa gạo, cá mú, rau rác, củi lửa, tiền bạc… để lo cho cả gia đình.

Hai đứa “đàn ông nhí” 12 và 13 tuổi không chịu đi vượt biên đơn giản chỉ là vậy. Tuy nhiên với chuyện này, chúng tôi đã chịu ơn tấm thịnh tình cùa người sĩ quan ấy, mà cho đến ngày hôm nay chúng tôi chưa có dịp để thổ lộ cùng người…

Quang Nguyên    

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần F)

Tái bút: Con kênh mang tên « kênh Bà Sáu Bồi » mà tác giả đề cập trong bài có thể là kênh Nông Trường thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành trên bản đồ. Kênh Nông Trường là một trong những nhánh kênh ngang chính được đào ngay trong thời gian đào kênh Hà Tiên-Rạch Giá (1930), kênh Nông Trường xuất phát từ xã Thuận Yên, nối liền kênh Hà Tiên-Rạch Giá đến kênh Vĩnh Tế.

Giới thiệu anh Trần Thành Lập

Thầy cô và các bạn thân mến, mình rất cảm kích và hoan hô anh Trần Thành Lập đã bỏ thời giờ quý báu để viết ra bài viết tự thuật rất hay dưới đây. Mình hiểu rất rỏ hoàn cảnh của các bạn ở quê nhà, có nhiều bạn gặp may mắn hưởng tuổi già nhờ con cái đã lập nghiệp xong, cũng có bạn tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn còn bận rộn với đời sống vì còn phải lo cho các con, ngay cả các bạn đã có cuộc sống ở nước ngoài cũng vậy thôi….Đó là hoàn cảnh riêng mỗi người, mong rằng dù trong hoàn cảnh nào cũng vậy, mọi việc đều tốt đẹp, thành công như ý muốn. Việc góp mặt viết tự thuật theo như mình đề nghị với các bạn chỉ là việc bên lề cuộc sống, khi rảnh rổi và có thời giờ yên tỉnh để nhớ lại những ngày xưa êm đềm sống với gia đình và thầy cô bạn bè thì viết ra thôi, không phải gấp rút hay nhất định phải có. Nay nhận được bài viết nầy của anh Lập mình rất vui và cũng rất tự an ủi vì thấy mình cũng đã góp được một phần nhỏ vào việc đem các bạn thân ngày xưa dù cuộc sống mỗi người một nơi nhưng đã có dịp tiếp xúc với nhau nhắc lại chuyện xa xưa cho vơi bớt những nhọc nhằn của cuộc sống hằng ngày, đó cũng là một món bồi bổ cho tinh thần chúng ta, mình rất cảm kích và cám ơn anh Lập. Đọc bài anh viết mình thấy rất chân thành và đầy tình cảm, xin phép anh được đăng lên trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » trong mục « Bạn Học Cùng Trường » để thầy cô và bạn bè đọc và nhớ lại anh, cám ơn anh Lập rất nhiều, thân chúc anh cùng toàn gia quyến luôn an lành, vui khỏe và được mọi điều tốt đẹp nhé.

Nhớ lại những ngày xưa khi chập chửng bước vào ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên với lớp đầu tiên là lớp Đệ Thất, tuy mình và anh Lập không cùng lớp, vì anh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng trên mình một lớp, nhưng mình còn nhớ những giờ học về môn Thể Dục với thầy Trịnh Học Ký, buổi sáng sớm phải cùng nhau lên sân vận động Hà Tiên ở sát chân đồi Ngũ Hổ, khi lên đến nơi thì trời còn rất sớm, cũng may mà có đèn chiếu sáng tuy ánh sáng vàng vọt nhưng cũng đủ để cả nhóm yên tâm, không sợ « ma ».…Vì thầy chưa tới nên cả bọn xúm lại ngồi thành vòng tròn trên bãi cỏ nói chuyện với nhau cho vui, đề tài nói chuyện thì đủ cả, nhưng chắc cũng không thể  thiếu đề tài về các bạn gái cùng trường cùng lớp, lúc đó mình vẫn còn nhớ cũng có anh Lập ngồi nói chuyện,…Ngoài ra trong những giờ tập nhạc của ban nhạc « Sao Đêm » hay « Tiếng Hát Quê Hương » và những buổi tối lên Chi Thông Tin Hà Tiên trình diễn các tiết mục ca nhạc để phát thanh ra toàn quận Hà Tiên, thỉnh thoảng cũng có hai cậu cháu: anh Trần Thành Lập (vai cậu) và anh Lê Minh Cang (vai cháu) cùng có mặt trong nhóm rất vui, lúc đó có anh Tống Châu Thành và mình thường đệm đàn guitare cho các bạn hát…

Thân mời thầy cô và các bạn đọc bài tự thuật dưới đây để nhớ lại một thành viên xa xưa của ngôi trường Trung Học Hà Tiên của những năm đầu thập niên 60. (Paris, ngày 02/04/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Bài viết của anh Trần Thành Lập:

Trước hết, mong các bạn thông cảm cho, vì dù nay đã ngưỡng hơn thất thập rồi song tôi vẫn còn phải bận việc trong đời sống hằng ngày, chưa được như các bạn thảnh thơi, tự toại tuổi già nên ít khi tham gia viết bài vở trên trang Trung Học Hà Tiên Xưa nầy.

Tên tôi là Trần Thành Lập, sinh ngày năm 1950. Lúc nhỏ sống ở khu Chợ Quán, Quận 5 Sài Gòn xưa. Cha tôi mất khi tôi đựợc 6 tuổi, hoàn cảnh gia đình tôi được người chị thứ hai (mẹ của Lê Mai Hương, Lê Mai Hoa) đem về nuôi dưỡng ăn học và đến Hà Tiên vào khoảng năm 1959. Chính nơi đây tôi đã có một thời gian sống vô cùng cực đẹp ở tuổi học trò. Lúc đó tôi sống cùng gia đình chị ruột thứ hai (tôi thì thứ 11 út). Thòi đó ở hai nhà, nhà thứ nhất là nhà dinh phó quận hành chánh đường Mạc Tử Hoàng, nhà kế bên văn phòng quận lỵ cách con đường đi lên núi Ngũ Hổ hay còn được gọi là Lầu Ba, nhà thứ hai là ở cư xá Bảo Sanh Viện Hà Tiên, ngay ngã tư Bạch Đằng-Mạc Cửu, có cây dừa ba ngọn (vì mẹ của Mai Hương, Mai Hoa lúc này là nữ hộ sinh trưởng ở đây).

Anh Trần Thành Lập (hình 2021)

Ở Hà Tiên tôi theo học lớp nhì, lớp nhất và một năm tiếp liên (vì không trúng tuyển vào trường Trung Học Công Lập Hà Tiên lúc thi cuối năm lớp nhất). Năm sau (1963) trúng tuyển vào Trung Học, tôi học năm đệ thất và cuối năm đệ lục (1965) thì lại phải trở về Sài Gòn.

Bạn cùng lớp theo danh sách anh Lâm Hữu Quyền viết ra là đúng nhưng có lẽ quá lâu anh nhầm lẫn họ của tôi là Nguyễn thay vì đúng là Trần. Bạn cùng lớp tôi không nhớ được toàn bộ theo danh sách anh Quyền viết.Tôi chỉ nhớ rõ những bạn cùng nhóm hay chơi cùng nhau: Lý Cảnh Tiên, Tống Châu Thành, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Văn Tấm, Nhan Hồng Hà, Thái Cẩm Hà, Quách Ngọc Sơn ….Những bạn này ngoài những bạn đã mất, các bạn khác có thể nhớ hoặc quên tôi vì thời gian không quá lâu là bạn bè bên nhau thời thơ ấu.

Hiện tại và cũng gần đây thôi tôi cũng đã có liên lạc được với bạn Lý Cảnh Tiên và Thái Cẩm Hà qua Facebook. Về những kỷ niệm xưa, riêng đối với tôi toàn bộ thời gian sống ở Hà Tiên là khoảng đời đẹp nhất tôi có được trong cuộc đời kể đến nay. Tôi vẫn nhớ những buổi cúp cua tiết học trưa cùng nhau lên lăng Mạc Cửu nhổ trộm khoai mì rồi đem nướng hay đúng hơn là thui đen khét lẹt bằng lửa tàu dừa, rồi cùng nhau ăn và khen ngon, hoặc ra bãi biển dưới chân núi Pháo Đài mò ốc, sò huyết….. Chỉ còn là những kỷ niệm. Bài tự thuật đã hơi dài, xin hẹn lại các bạn sau nhé. Thân chào các bạn…

Thủ Dầu Một /Bình Dương, ngày 25/02/2021 Trần Thành Lập

Từ những bức ảnh trăm năm. Phần D-Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, qua các phần A, B, C, tác giả Quang Nguyên đã mô tả ra cho chúng ta thấy các địa danh tuy rất quen thuộc với chúng ta qua tên gọi thường nghe đến, nhưng nếu phải định vị trí của các địa danh có tên gọi nầy thì lại không dễ, một phần vì một nơi chốn có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau khiến dễ gây lầm lẫn, một phần vì ta lại không để ý đến các địa điểm thực tế nầy vì ít khi có dịp đến nơi tại chỗ…Nay khi đọc các bài viết về Rạch Vược, Hòn Chông, Cái Tắt,…v…v…., chúng ta đã có khái niệm phần nào về các vị trí tương đối của vùng nầy, xem như chúng ta đã học được một bài học địa lý cơ bản của vùng đất Thuận Yên…Tuy nhiên đây cũng không phải là một bài học Địa Lý đơn thuần và khô khan theo kiểu ta học ở trường lớp, mà đây còn là một bài học về tìm kế mưu sinh và tranh đấu trên đường đời một khi mà chúng ta bước vào một giai đoạn khó khăn nào đó trong cuộc sống, giai đoạn gian truân mà mình nghĩ rằng không ai là không phải trải qua với mức độ ít nhiều trong đời sống…Nếu trong phần A và B, ngoài các khái niệm về Địa Lý và kinh nghiệm sống, ta còn biết thêm nhiều ý kiến hay về mặt văn thơ (các địa điểm Lư Khê Ngư Bạc, Châu Nham Lạc Lộ, Nam Phố Trừng Ba,…) thì trong phần C và D ta lại được tác giả Quang Nguyên thổ lộ nhiều hơn về mặt tâm tình, hồi ký về một quảng thời gian khá dài tác giả và gia đình phải đương đầu, đấu tranh mỗi ngày với bao khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống hằng ngày….Hôm nay xin được giới thiệu đến phần giải thích về hai tên gọi: « Ngả Tư Đèn Đỏ » và « Cản Cờ Trắng » với những kỷ niệm vui buồn trong cuộc sống hằng ngày của một gia đình phải đối phó với nhiều khó khăn trong những ngày đầu của một cuộc sống mới. (Paris, 31/03/2021, Trần Văn Mãnh viết lời dẫn).

I/ Lư Khê Ngư Bạc và đường Hòn Chông

 A – Tàn tích Lư Khê Ngư Bạc:

 B – Đường Hòn Chông:

II/ Rạch Vược và các con rạch chung nước:

 C – Chị em Rạch Vược – Cái Tắt:

 D – Ngả Tư Đèn Đỏ và Cản Cờ Trắng:

Sẵn đây tôi xin nói thêm về hai cái địa danh “Ngã Tư Đèn Đỏ” và “Cản Cờ Trắng” với những gì tôi đã biết:

Ngã Tư Đèn Đỏ này là nơi giao nhau của các đầu giao lộ đường thủy: con rạch Cái Tắt đổ ra như đã nói và đầu bên kia là một con rạch khác đi vào vùng đất lưu vực của sông Giang Thành, nó cắt ngang con kênh xáng Rạch Giá – Hà Tiên nên tạo thành một ngã tư. Nhưng tại sao có tên “Đèn Đỏ”?

Khoan! Xin các độc giả đừng quá “nhạy cảm” mà liên tưởng đến các khu “phố đèn đỏ” nổi danh trên thế giới, mà tội nghiệp cho người dân Hà Tiên ta chơn chất hiền lành… Chẳng qua là để đào một đoạn kênh cho thẳng, người Pháp đã làm hai cái mốc hiệu cao và rõ từ xa để nhắm mà đào. Đầu hướng Đông Hồ Hà Tiên là cây cột đèn đỏ đặt tại Ngã Tư này, còn đầu kia là cây cột Cờ Trắng đặt tại vùng đất của Dương Hòa Hòn Heo, nay gần nhà thờ Cờ Trắng. Con kênh này quả thật rất thẳng, thẳng tưng, như kẻ chỉ, như lập lòn… Đoạn này dài lối 10 km.

Kênh đào Hà Tiên – Rạch Giá, với đoạn màu đỏ nét đậm là khúc từ Ngả Tư Đèn Đỏ tới Cản Cờ Trắng.

Còn nhớ, vào những năm 1976-1977, ngay tại Đèn Đỏ này có một cái đập, cái đập bằng đất khá kiên cố ngăn hoàn toàn dòng kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Cái đập này hoàn toàn làm bằng tay do người Hà Tiên làm nên. Dân miền nầy được chính quyền mới trẻ với lửa nhiệt tình hừng hực, nôn nóng muốn cải tạo vùng đất hoang hóa phèn chua rộng lớn chung quanh Hà Tiên thành vùng canh tác được trong thời gian ngắn nhất, mà  áp dụng những mô hình và những kỹ thuật canh tác hay thủy lợi được sao chép lại từ việc canh nông của đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình… ngoài Bắc. Hàng ngày người dân được nghe các câu chuyện điển hình “chị Hai Năm Tấn quê ở Thái Bình…”, các điệp khúc đào kênh và đắp đập được hát phổ biến ra rả thường xuyên vào lúc 5 giờ sáng. Chẳng phải hòa bình rồi sao? Ai cũng mong muốn xứ mình giàu mạnh, mà Hà Tiên thì có cả một vùng rộng lớn đất đai bạt ngàn vùng Trà Phô, Trà Ten, Phú Mỹ, Lò Bôm rộng lớn đang bỏ hoang hoặc hoang hóa… Mục đích của các công trình loại này là để giữ nước ngọt lại để “rửa phèn” và cũng để ngăn nước mặn của cửa biển Hà Tiên chảy vào. Cái đập thành hình rất nhanh sau đó mà chưa để ý đến các yếu tố tự nhiên khác.

Nhưng, khoa học đã chứng minh cái điều ngược lại. Nếu bạn có dịp đi máy bay từ Sài Gòn ra Phú Quốc, bạn sẽ thấy bao nhiêu là ô bàn cờ kênh rạch mà từ thời nhà Nguyễn và sau đó thời Pháp thuộc rồi thời tiếp sau đó đã vẽ nên hệ thống thủy lợi cho đồng bằng miệt miền Tây thêm trù phú. Cả vùng miệt thứ Kiên Giang kéo về tận Cà Mau và vùng Tứ Giác Long Xuyên với bao nhiêu con kênh đổ ra phía biển, hoặc hợp nước với các con sông cái để nhờ sức mạnh của nó mà thoát nước khỏi những vùng ngập úng. Hệ thống kênh nước chằng chịt đó ngoài vai trò lưu thông, dẫn thủy nhập điền, rửa phèn… còn có vai trò tối quan trọng cho đồng bằng sông Cửu Long là nhiệm vụ thoát lũ.

Lũ miền tây là loại lũ hiền hòa và tốt bụng, nó về chơi với người nông dân đồng bằng hàng năm, vui thì nó kéo bạn bè về đông và ở chơi với gia chủ hơn hai tháng, buồn gì thì nó cũng về một mình rồi hơn tháng lại ra đi… Nhưng kiểu nào thì cũng vậy, nó rất “biết điều” vì khi ra về nó để lại cho chủ nhà bao nhiêu là sản vật cá tôm và phù sa dày cộp, đồng thời giúp chủ nhà vệ sinh sạch sẽ cái “căn nhà” của mình, rửa bớt nồng độ phèn chua lét, tiêu diệt cái đám thiên địch gây hại cho nông sản của mùa vụ sắp tới.

Thế nên người miền tây họ không buồn khi lũ về mà ngược lại họ chung sống vui vẻ cùng với nó.  « Nó » mà không về thì người dân buồn lo nhiều hơn vì họ phải chuẩn bị đối phó với những khó khăn của mùa vụ năm sau… Nhưng, gì cũng phải có chừng mực, khách đến ở chơi mà “lầy lội” quá cũng làm phiền gia chủ, nên vừa đủ để thắm tình cho tất cả là điều tốt đẹp nhất. Bởi vậy người xưa đã phát triển hệ thống kênh bàn cờ nói trên để lũ thoát biển vừa đủ mau để người dân sản xuất mùa vụ của năm mới. Lâu rồi thành quen họ đón “khách lũ” như người con đi làm ăn xa về thăm gia đình…

… Mùa lũ năm 1978, mùa lũ lớn nhất mà tôi biết cho đến hôm nay, nước ơi là nước, nước khắp nơi. Do Cờ Đỏ đã ngăn dòng chảy bằng con đập nên con rạch Cái Tắt nước chảy ào ào… Có hôm, hai anh em tôi đi đốn lá dừa nước về bán, xuồng khẳm mà nước ngược, nước tràn vào xuồng theo hai mép lá gie ra hai bên, chiếc xuồng chìm giữa dòng Cái Tắt mà ngày xưa ấy nó rộng hơn bây giờ (do bây giờ dòng bớt chảy nên dừa nước hai bên lấn ra). Hai anh em sãi bơi để vớt mấy chục bó dừa nước trôi băng băng để đưa vào bờ, vớt chiếc xuồng lườn đã chìm cùng sạp gỗ và tay chèo, và tất cả những thứ “ăn theo”, chúng tôi đã lôi nó sát mép bờ trải dài hàng hai ba trăm mét… Kiểm đếm lại tất cả các thứ chúng tôi mang theo thì mất cây dao “tầm bứt” là loại dao đổ lá rất bén, và cây búa Mỹ – là hai trong ba “bảo bối” của ba tôi gồm: Tầm Bứt – Câu Liêm – Búa Mỹ. Cây búa Mỹ là “chút tàn dư cũ” còn tầm bứt và câu liêm là ba tôi đặt rèn ở lò rèn trứ danh ngày ấy ở Hà Tiên là lò rèn ở cây số 1 dưới chân Tiểu Tô Châu, họ làm từ thép nhíp xe GMC của Mỹ.

Việc làm mất hai bảo bối làm chúng tôi hết cả hồn, chuyến này chắc về ăn đòn tét đít, thế nên hai anh em bàn nhau … lặn mò. Sau hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi lặn dưới lòng kênh hơn ba mét, nước chảy, nước lạnh, trời mưa và trời …đãi. Cuối cùng hai báu vật đã tìm thấy, hai anh em đã thề với nhau là tuyệt đối không cho ba chúng tôi biết chuyện này.

Lời thề đó hai chúng tôi đã giữ đến hôm nay, và ba tôi thì đã 87 tuổi rồi, rõ ràng là ông không còn cầm nổi hai vật đó nữa nên chẳng cần giấu ông nữa…

Năm 1978 ở Hà Tiên là năm của nước, nước nhiều lắm các bạn ạ! Nước tràn và ngập sâu vào trong nhà, và năm đó cá nhiều vô kể, nghe đồn rằng Ăng Ka không cho người dân đánh bắt nên cá Biển Hồ tràn về Việt Nam. Cũng nghe đồn nước ngọt Giang Thành đổ ra tới gần Phú Quốc! (Phải chăng câu chuyện Nguyễn Ánh năm xưa bôn tẩu ra Phú Quốc được Trời giúp biến nước biển thành uống được là tại ông đi nhằm mùa lũ?) Nước ngập sâu và ngập lâu nên chân cẳng chúng tôi đứa nào cũng bị nước ăn chân ngứa ngáy, ban đêm ngủ đứa này co chân thò tay xuống ngoáy mấy ngón chân cho đã ngứa thì nghe đứa kia cũng chà mấy ngón châm xuống chiếu xoạt xoạt, chỉ vài hôm mấy cái chiếu trơ lác chỉ còn các cọng dây xơ đan…Được cái nước về và cá nhiều nên vui lắm, chúng tôi thỏa sức tắm lội trên dòng Rạch Vược, đi lượm những đoạn lưới rách người ta bỏ rồi nối lại, xong giăng bao các khóm dừa nước, cá sặc cá rô nhiều vô kể, rồi hai anh em ngồi trên sàn nước mà câu cá rô, rồi leo lên cây sau nhà để “ị” xuống và xem lũ cá chốt dọn dẹp!

Ôi…! Cái thời nhiều kỷ niệm dù không đẹp nhưng vui.

Cái đập Cờ Đỏ góp phần làm nước Rạch Vược nó tràn vào tận chỏng tre trong nhà chúng tôi, cả vùng Thuận Yên hai bên con Rạch Vược là nạn nhân trực tiếp của nước, mà mùa nước thường ngâm đến hai tháng, mùa này hình như nhiều hơn… Chịu hết xiết nên ngoài kia Ủy Ban Xã kêu đi phá đập Đèn Đỏ, có người dân hô đỏng lên:

–          “*..%..$..#..@…!! Hồi đó mấy ông nằng nặc bắt dân đi đắp, mới có một năm, giờ kêu phá? Mấy ông tự đi làm đi!”

Chú đó cương quyết không đi, nhưng gia đình tôi thì ba tôi phải đi, phải đi phá cái mà mình đã làm mới gần đây thôi. Nản chứ? Nhưng “Đời” mà! 

Sau này người ta còn làm cái chuyện ngược lại với chuyện “đắp đập”, là phải đào thêm nhiều con kênh thoát lũ ra biển tây, đồng thời trao ruộng đất cho dân để “khoan sức dân làm kế vững bền…” (lời vua Trần Anh Tông), rồi người dân tự bao bờ làm cống đóng mở, điều tiết nước bảo vệ cây lúa của mình.  Nhờ vậy mà vùng Tứ Giác Long Xuyên đến giờ hầu như canh tác nuôi trồng đã phủ kín, và Việt Nam lên hàng Top III của thế giới về xuất khẩu gạo. Tứ giác Long Xuyên đã đóng một vai trò không hề nhỏ…

Đã có một thời như thế đó…

Như đã nói trên Đèn Đỏ và Cờ Trắng là hai điểm của đoạn thẳng phục vụ cho việc đào kênh. Vậy tại sao có địa danh “Cản Cờ Trắng”?

Lại là một câu chuyện lịch sử khác mà tôi nghe người xưa nói lại. Đó là vào “thời 9 năm” kháng chiến chống Pháp, như đã nói ở phần trưóc của câu chuyện “Lộ Đứt”. Cả vùng Thuận Yên, Dương Hòa, Núi Trầu… Việt Minh kiểm soát và triệt để chống Pháp, người ta dùng một chiếc xà lan cũ cùng các vật thể to khác nhấn chìm xuống chặn ngang dòng kênh Rạch Giá – Hà Tiên, để không cho tàu Pháp đi càn từ Hà Tiên qua… Sau năm 1954 thì cái “cản” này vẫn tồn tại, nhưng để lưu thông được người ta phải đào con kênh đi vòng qua. Hồi tôi còn nhỏ khi đi đường thủy từ Hà Tiên qua Kiên Lương hay ngược lại, đến đây tàu ghe phải bẻ hai cái “ngoặt” rồi mới đi thẳng tiếp vì con kênh đã “né” cái vật cản to đùng này, không biết bây giờ người ta đã phá cái “cản” này chưa?

Bên kia “cản” là bạn thấy núi Trầu xanh xám sừng sững về bên phải. Ngọn núi này hôm nay đã cùng số phận với núi Còm ở Kiên Lương, nó đã bị người ta khai thác đá hầu như không còn một chút gì hình thù quả núi đá vôi năm xưa, cùng với đó là sự biến mất cùng bao hang động luồn lách thú vị mà những năm 1980 tôi cùng các bạn về đây chơi, tôi còn nhớ mình đã đi thu hoạch khoai môn ăn tới óc ách cái bụng và tước mía thì tới tróc cả môi miệng vì vùng này bạt ngàn khoai môn và mía, nhất là loại mía vỏ cứng mà hàm lượng đường cao dùng để nấu đường, nó khác với các loại mía ăn thông thường là loại mía vỏ đỏ hay mía vỏ vàng mọng nước mà các bạn trẻ thời ấy – vì không có cái smartphone – đã chơi trò “chẻ mía” rất vui (Đây là trò chơi cổ truyền đã không còn nữa, có một thời Hà Tiên mình, nhóm đàn anh của tôi – cở thời Mr Trần Văn Mãnh –  thường chơi trò chẻ mía nầy rất nhộn nhịp trên lề đường Bạch Đằng…., Hà Tiên).

Nhưng chưa, trước khi đến Núi Trầu bạn phải vượt Cản, sau khi qua Cản bạn sẽ đến ấp Cản, rồi ấp (hay xã?) Cờ Trắng, nơi đây ngày xưa đã có một khu dân cư khá đông nằm bên bờ hữu ngạn hướng về Núi Trầu.

Đường bộ từ Hà Tiên đến đây cũng có, nhưng bạn phải xuống ngay ngã tư Hòn Heo (tuyến thẳng là lộ 80, bên phải là đường vào chùa Vạn Hòa) bạn phải chọn bên trái là đường đi Cờ Trắng, hồi xưa thời đó bạn phải đi xe lôi thùng do xe Honda kéo (một phương tiện cải tiến từ “xe vua” do xe đạp kéo), đi một đoạn ngắn bạn sẽ gặp con kênh Tam Bản đi kèm bên phải con đường suốt cho tới con kênh Rạch Giá – Hà Tiên là bạn đã đến ngã ba Cờ Trắng….

Hiện nay tôi thấy người ta gọi là Cảng, ấp Cảng là sai. “Cản” là ngăn chặn chứ không phải “cảng” là bến tàu ăn hàng.

Sơ đồ vị trí tương đối của các đơn vị hành chánh: Thành Phố Hà Tiên, huyện Giang Thành (với 5 xă: Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú), Huyên Kiên Lương (với thị xã Kiên Lương và các xã: Dương Hòa, Hòa Điền, Kiên Bình, Bình Trị, Bình An, Hòn Nghệ, Sơn Hải).

Sơ đồ vị trí Ấp Cờ Trắng, Xã Hòa Điền, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang. Bên trái hình có điểm A đó là « Ngả Tư Đèn Đỏ ».

Vị trí Ấp Cờ Trắng với nhà thờ Cờ Trắng (Xã Hòa Điền, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang)

Nhà thờ Cờ Trắng, thuộc Ấp Cờ Trắng, Xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương. Hình: Ân Nguyễn, 2018.

Nhắc đến Cản Cờ Trắng gợi nhớ cho tôi nhiều ký ức. Chuyện thời này rất nhiều điều để kể…

Đùng một cái, nhà tôi chuyển đi Kinh Tế Mới (KTM), nghe đâu Vĩnh Thuận Gò Quao… Ba tôi nhẫn nại chuẩn bị tất cả cho việc phải đi xa mà bỏ lại tất cả. Ông vá lại chiếc chài, lấp rò chiếc xuồng lườn, chuẩn bị các nông cụ cầm tay như cuốc cào, leng xuỗng, dao mác..v.v.. Công việc cuối cùng là ông triệt hạ vườn chuối đang thu hoạch để lấy các thân cây chuối lót đường đá, để đẩy chiếc xuồng lườn đã lấp rò cẩn thận trượt trên đó mà đẩy ra tỉnh lộ 80 trước Đình Thần Hoàng vì nó nặng quá không thể khiêng nổi.

Ngày lên đường cũng đã đến, sáng sớm thì có chiếc xe GMC loại 10 bánh đã đậu trước sân Đình, chúng tôi lục tục đưa đồ đạc lên xe, ba cha con chúng tôi cùng cả xóm buồn bã đẩy chiếc xuồng trượt trên đám thân chuối để đưa chiếc xuồng lên xe tải… Tất cả đã xong và đã quá buổi trưa, xe nổ máy và chúng tôi chuẩn bị lên đường thì mọi người chợt phát hiện chỉ có bầy con nít 8 đứa cùng đống đồ trên xe và chiếc xuồng to bự mà không thấy cha mẹ chúng đâu? Tài xế cáu gắt, nhưng không thể bắt chúng đi mà không có cha mẹ nên ông đã phải tắt máy đợi chờ…

Chiều xế má tôi hớn hở cầm trên tay cái tờ quyết định đồng ý cho gia đình tôi ở lại (mà má tôi cẩn thận chờ cấp cho được tờ giấy nầy rồi mới về nhà…), theo sau là ba tôi. Má tôi đã đi từ sớm và không cơm nước gì cả để có được cái “quyết định” này, còn ba tôi lánh mặt để chờ kết quả từ má tôi. Lại cả xóm phụ đưa đồ xuống, lại đẩy chiếc xuồng trượt trên đống thân cây chuối giờ đã nát nhừ để đưa nó trở về với bến sông của nó, chỉ tội cái vườn chuối Xiêm giờ tan nát…

Má tôi luôn mạnh mẽ để bảo vệ hiệu quả gia đình của mình. Lần này bà đã  tính được việc cho cả gia đình chúng tôi, các anh em chúng tôi không lỡ dở chuyện học hành và  ba tôi thì giữ được cuộc đất của tổ phụ. Trong mắt chúng tôi bà thật sự là một “bà mẹ anh hùng ».

Nhưng, cái gì cũng có giá của nó. Chúng tôi phải dời căn nhà khỏi miếng đất của mình vì có «quy hoạch» của làng xã… Đến lúc ba tôi “ra tay”, bằng những mối liên hệ quen biết trước đó mấy mươi năm với bà con chòm xóm khi ông còn là con dân vùng Rạch Vược này, ông đã xin mượn được một chỗ để dựng tiếp một căn nhà lá cách Đình Thuận Yên về hướng Mũi Giông chừng 700 mét, xa căn nhà cũ hơn một kí lô mét…

Nơi ở đó cũng tiện, má tôi dạy học và chúng tôi đều học ở trường Rạch Núi, và đi về đất Đình để săn sóc ruộng vườn cũng gần. Ngày cất nhà cả xóm Rạch Vược quay quần giúp ba tôi rất vui, căn nhà này rộng rãi hơn, khang trang hơn căn ở Đình vì giờ chúng tôi có xuồng để đi đốn tràm, đốn lá về cất nhà mà không tốn tiền mua gì ngoài đinh và dây kẽm… Các chú các bác đùa rằng ba tôi là người “giàu” và “chơi đẹp” nhất xã Thuận Yên vì đất nhà thì cho người khác ở còn mình đi nơi khác ở và một năm cất hai căn nhà!

…. Bắt đầu từ giai đoạn này chúng tôi có điều kiện “khám phá” một vùng đất mới, đó là vùng đất bên trái con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên hướng về Núi Trầu. Vùng đất Trà Phô – Trần Thệ – Phú Mỹ – Trà Ten – Lò Bôm… Một thời gian dài chúng tôi chèo xuồng đi và về suốt trên độ dài của đoạn kênh gần 10 km này từ ngã ba kênh Rạch Vược đến sát Cản Cờ Trắng, nên tôi rất rõ về các dòng kênh này vào dạo ấy…

Quang Nguyên    

 (Còn tiếp. Mời các bạn đón đọc II. Phần E)

 

 

Trương Thanh Hào (Hồ Thị Kim Hoàn)

Trương Thanh Hào

Anh là người bạn thân thiết của tôi suốt 55 năm dài. Chúng tôi học chung từ lớp đệ thất dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. 

Em trai anh là Trương Thanh Hùng cùng học chung lớp, nên chúng tôi quen gọi anh là “Hia Hào” theo như cách gọi của Hùng. Không nhớ tôi thân với anh từ lúc nào, chỉ nhớ mỗi khi anh có tiền, anh hay ghé nhà tôi và rủ:

– Kim Hoàn, đi quán Ti La ăn kem, hia mời! 

Thường thì có thêm vài người bạn nữa, chúng tôi tụ họp nhau tán gẫu, nghe nhạc ngoài sân quán Ti La êm đềm dịu mát về đêm.

Tôi nghĩ tôi… đặc biệt đối với anh lắm, vì khi làm bích báo của lớp, anh lấy bút hiệu là “Hồ thị Mường Kha” khiến bạn bè tưởng người viết là tôi. Chuyện tôi nhớ nhiều trong thời ấy là có vài lần đi chơi với các bạn, để tránh không đi chung xe với một người bạn đang “theo đuổi” mình, tôi cứ leo lên xe đạp của hia Hào, để hia chở tôi là xong.

Năm năm học chung, gặp gỡ nhau hàng ngày có biết bao kỷ niệm để nhớ. Rồi cuộc hội ngộ nào cũng đến lúc chia tay. Tôi lên Sài Gòn học, anh cũng rời xa quê, chỉ còn gặp nhau mỗi năm 2 lần, vào dịp nghỉ hè và Tết. 

Sau 1975, cuộc sống đổi thay, chúng tôi mất liên lạc với nhau. Rồi “Áo tím ngày xưa đi lấy chồng”. Tôi bước xuống cuộc đời lúc 20 tuổi, không tiền bạc, không nghề nghiệp. Tôi và anh Xuân, đôi vợ chồng trẻ làm đủ thứ việc vẫn nghèo xác xơ. Công việc ổn định và tạm đủ sống của chúng tôi là cái xe đẩy bán nước rau má và sữa đậu nành. Địa điểm tôi và chàng chọn là trước cổng trường “Đại Học Khoa Học” gần nhà, ngôi trường xưa nơi chúng tôi gặp gỡ, quen nhau và yêu nhau. 

Một ngày năm 1976, có người khách dừng xe ghé lại, “cô hàng nước” nhìn lên, sững sờ bắt gặp một khuôn mặt thân quen. Là hia Hào đó ư?

– Kim Hoàn, em làm gì ở đây?

– Thì em… bán nước. 

Anh đứng lặng câm nhìn tôi. Ánh mắt ấy mới ngậm ngùi chua xót chi đâu! Tôi hiểu được anh đang nghĩ gì.

– Đừng đau lòng cho em, có việc làm này là tốt lắm rồi. Em bán 1 tuần, bằng lương đi dạy học 1 tháng của bạn Lệ Thủy đó sư huynh ạ!

Chúng tôi hẹn gặp nhau ở nhà người cô của anh. Tôi vẫn còn thói quen mặc áo dài mỗi khi ra đường, nhưng tôi không đi một mình nữa, tôi đã có chồng luôn cùng đi chung lối với tôi. Hình như anh Hào ngạc nhiên hơn lúc gặp tôi “bán nước”. Anh đã nở nụ cười vui tươi:

– Tưởng đâu “Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây”, nhưng hia đã thấy lại được cô tiểu thư của ngày nào! Đúng là em gái đây rồi!

Chúng tôi kể nhau nghe chuyện bây giờ, nhắc chuyện ngày xưa, kể hoài không hết chuyện!

Rồi anh rời Sài Gòn, rồi chúng tôi không gặp nhau nữa. Tôi cứ ngỡ đó là lần cuối cùng tôi gặp anh. Vì tôi theo gia đình vượt biên đến Mỹ năm 1978. Xa nhau nửa vòng trái đất. Tôi tất bật lo cuộc sống mới, lo gia đình, con cái… Lúc ấy cũng chưa có phương tiện để liên lạc với bạn bè, bao kỷ niệm tuổi hoa niên nằm yên trong ký ức.

Mãi đến 30 năm sau chúng tôi mới có tin nhau. Anh nói anh không ngừng hỏi thăm tin tức của tôi, nhưng vẫn… bóng chim tăm cá. Cuối cùng anh gặp được Lệ Thủy, và 3 đứa đã gặp nhau trên đất Mỹ này, lúc 3 mái đầu xanh đã đổi thay màu.

Nhớ lần đầu gặp lại, tôi theo thói quen của người Mỹ chạy a đến ôm chầm lấy anh, anh giật mình lẫn bất ngờ nên đứng chết trân tại chỗ. Xúc động bồi hồi, chúng tôi muốn khóc. 

Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH

Năm sau tới Mỹ, anh đã tự nhiên hơn, và tự nhiên tột cùng khi chia tay về lại quê nhà, anh còn ôm tôi và hôn lên trán. Chỉ vì lần nào gặp gỡ, chúng tôi cũng xem là lần cuối cùng. Đứa nào cũng tới tuổi ra đi, có gì mà không dám tỏ bày. Còn với anh Xuân thì sao? Chao ơi, Hia còn ôm anh ấy nồng nàn thắm thiết, ôm lâu còn hơn ôm đứa em gái này!.. hihi…

Bạn bè có thể có cả ngàn người, nhưng chưa chắc tìm được 1 bạn thân. Còn tôi bạn không nhiều, nhưng có mấy người bạn thân thiết, mang tới cho tôi biết bao niềm vui, có thể chia sẻ bất cứ chuyện gì, có thể lắng nghe, hiểu và cảm thông nhau. Tôi xem đó là một đặc ân của Thượng Đế mà tôi diễm phúc nhận được. Ôi tình tri kỷ quả tuyệt vời!

Cảm ơn hia Hào đã luôn chiều chuộng và thương yêu em, hia chưa từng từ chối em điều gì, từ lúc bé cho đến khi em già thế này, hia vẫn luôn xem em là đứa em gái nhỏ!

Hồ Thị Kim Hoàn, Mars – 2021

Trương Thanh Hào, Hồ Thị KIm Hoàn và anh Xuân (phu quân của Kim Hoàn). Hình: HTKH

Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH

Trang Lệ Thủy, Trương Thanh Hào và Hồ Thị Kim Hoàn. Hình: HTKH