Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Người Bưu Tá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, thời gian từ từ trôi qua, nhờ Trời thương, Blog của chúng ta vẫn được những cây bút tài ba luôn ủng hộ và thỉnh thoảng gởi bài cộng tác…Hôm nay nhận được bài từ một phương trời xa, nhìn thấy tác giả ký tên QN thì nhận ra đó là cây bút rất quen thuộc của chúng ta…QN đã từng viết rất nhiều bài trên Blog nhà, bài nào cũng hay và rất lý thú với một cung cách văn chương có thể dược xếp vào loại « hiện thực »…Văn chương hiện thực là loại văn người ta viết tả chân mà tiên phong trong những năm 30 phải kể đến các tiền bối Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô tất Tố…Ngày nay bắt đầu những năm 20 kể ra cũng gần một thế kỷ trải qua, hy vọng là cây bút QN sẽ được nhắc nhở nhiều và tiếp nối được phong trào hiện thực vốn rất được nhiều độc giả yêu chuộng…!! Từ đầu đến giờ mãi lo viết về tình hình Blog và tác giả QN mà chưa vào chủ đề chính của bài sẽ được giới thiệu dưới đây…Thôi thì xin vào đề nhé,…Từ xưa đến giờ, ai cũng biết là ngoài những việc tiếp xúc trực tiếp tay nắm tay, mắt nhìn mắt, ta còn có một phương tiện khác rất tiện lợi và nhất là rất tế nhị…, đó là viết thư gởi cho nhau đọc…Thời mình còn nhỏ đến trưởng thành, ăn học ở Hà Tiên, mình cũng có nhiều lần trao đổi thư từ với các bạn ở những nơi khác. Tuy nhiên mình cũng quên đi không thể nhớ được là trao đổi thư từ với ai cụ thể…Chỉ nhớ là mình biết rành ở Hà Tiên có một người làm nghề bưu tá, chuyên phát thư cho dân chúng Hà Tiên, và người đó làm việc rất cẩn thận, liêm chính, đó là chú Sáu « Viên » nhà ở gần chùa Tam Bảo…Mình biết chú và lúc nào cũng thấy chú trên chiếc xe đạp chạy vòng quanh hết cả những con đường ở Hà Tiên…Chú Sáu thì cũng biết mình, tuy mình thuộc hàng con cháu mà thôi…Hình như là chú Sáu có quen và biết rành về những người anh chị bà con của mình…Lại xin nói thêm về tên riêng của chú, ai cũng kêu chú là chú Sáu Viên, không ai thắc mắc hay đánh lưỡi rành rẽ để phát âm cho đúng từ « Viên »..Vì thế hơn sáu bảy chục năm nay, nếu không có các bạn góp ý cho mình biết trên trang face book của mình thì mình vẫn nghĩ chú tên là « Viên »…đến đổi khi đọc bản thảo bài viết của tác giả QN, có nhắc đến tên « Diên » mình rất ngạc nhiên và cho là không thể được vì trong đầu óc mình, chú vẫn là chú Sáu Viên…Rốt cuộc sai hoàn toàn, nhờ có bạn Tăng Thị Sáu, học trò xưa Trung Học Hà Tiên và nhất là một đồng nghiệp với chú Sáu, cho biết một cách chính xác, chú Sáu có tên họ đàng hoàng là « Trương Văn Diên »…Vậy là đã rỏ, không còn đặt câu hỏi gì nữa,…đến hôm nay mới biết tên họ chú rỏ ràng, rất là hay, cám ơn Tăng Thị Sáu rất nhiều nhé…

Mình nghĩ là khi mình rời Hà Tiên, rời quê hương đi định cư ở Pháp thì lúc đó ở Hà Tiên, má của mình mới có dịp được chú Sáu đến thăm thường xuyên, vì lúc đó mẹ con trao đổi thư từ rất nhiều, mẹ cũng có kể cho mình nghe là thường hay « trông ngóng » chú Sáu để được nhận thư của con trai….Có thể cho mình viết một câu cám ơn chú Sáu dù cho lời cám ơn quá muộn màng và người nhận cũng không có cảm giác chi,…tuy nhiên cũng như vài hàng kết thúc bài viết của QN, mong rằng ở nơi đó, chú cũng theo dõi tình hình quê nhà Hà Tiên, đọc bài trên mạng và có thể chú sẽ thấy bài viết nầy và sẽ mỉm cười nói « Tao biết má mầy, tao thường đem thư của mày đến nhà cho má mầy đó… »…!!

Trong thời niên thiếu còn theo học Trung Học Hà Tiên, mình đã có quen đến hai gia đình của hai ông Trưởng Chi (không biết là « Chi » hay « Ty ») Bưu Điện Hà Tiên, và hai gia đình nầy đều có con trai gái theo học Trung Học Hà Tiên, tất cả đều là bạn thân của mình thời đó…Đã có bao lần cả bọn cùng lớp kéo đến Chi Bưu Điện Hà Tiên, mặt trước quay ra đường Tô Châu, còn mặt sau nhìn ra Đông Hồ thơ mộng, trong khu viên của Chi Bưu Điện, có đất vườn rất rộng, đặc biệt là có rất nhiều cây xoài cao lớn…Thời đó, các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn,…cùng nhiều bạn gái đến đó, và các bạn đã « anh dũng » leo lên các cây xoài nầy để hái rất nhiều trái xoài và cắt ra thành nhiều lát mỏng, chấm nước mắm đường rất ngon…(Sở dĩ mình nói leo các cây xoài một cách « anh dũng » vì cho đến bây giờ mình vẫn là tuổi « con thỏ » mặc dù tính đúng 12 con giáp thì phải là con rồng…, con thỏ là vì mình rất « nhát » không dám leo cao…, chỉ nhìn các bạn leo trên các nhánh cây xoài cao vút mà lắc đầu, lòng thì ngưỡng mộ thôi…)…Nhờ có bạn thân thương như vậy, ngày nay mình mới còn được vài tấm hình của Chi Bưu Điện Hà Tiên minh họa cho bài viết nầy, thật là rất may mắn và rất hay…Thầy cô và các bạn sẽ thấy lại Chi Bưu Điện ngày xưa, nơi mà mình chắc chắn rằng không có ai trong quý thầy cô và các bạn mà không lần nào đến đó để gởi đi một phong thư hay một tờ điện tín… Còn hình chân dung của chú Sáu Diên thì tiếc thay mình không có, đã có nhắn tin xin được chia sẻ, hy vọng rằng bạn nào đó sẽ ủng hộ giúp mình nay mai…

Viết đã dài dòng rồi, không khéo thì đánh mất « vedette » của bài viết dưới đây của tác giả QN, mà làm sao như thế được, vì xin nói trước với thầy cô và các bạn, bài « Người Bưu Tá » dưới đây của tác giả QN, rất hay, rất lý thú và cũng không kém phần cảm xúc khi đọc bài thấy nhớ người, nhớ quê xưa…Mời tất cả vào bài nhé,…(Paris, 27/10/2020, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Người Bưu Tá (Quang Nguyên)

Nghĩ cũng thật lạ, ngay trong cuộc đời của mình thôi mà xã hội đã thay đổi một cách thần tốc, nó làm cho một số thói quen, một số công việc bình thường của chúng ta ở ngày xưa mà giờ có thực hiện cũng xem là không bình thường chút nào… 

Lấy ví dụ như ta lấy giấy và bút ra ngồi viết thư để gửi gắm tâm trạng lãng mạn và mang cái cảm xúc ấy bay bổng đến người sắp nhận, để ngòi bút lướt trên trang giấy tự do rồi thỉnh thoảng đọc lại câu chữ vừa viết chợt nhận ra mình không hài lòng với câu cú hay chỉ với nét chữ của mình, rồi gạch xóa một vài chữ sai, chữ thừa hay tô vẽ thêm khi câu cú chưa đủ hình tượng, rồi vào cuối thư phóng tay ký chữ ký mà bao nhiêu ngày tháng mình đã cố công múa máy, cốt sao để chữ ký hóa rồng bay phượng múa để làm cho người nhận ở phương xa có ấn tượng nhất…Sau khi mất vài tiếng, có khi vài hôm để hoàn thành một bức thư thì công việc còn lại là bỏ chúng vào bao thư, nắn nót tên người nhận bằng cách viết hoa với kỹ thuật đẹp nhất mà mình có, lấy miếng hồ dán quẹt vào mép phong bì, hay lười biếng hơn là thè cái lưỡi gửi một tí AND kém vệ sinh theo phong bì ấy đến người nhận, cho dù người ấy có là ai đi nữa. Sau đó, bạn phải mang cái phong bì có cái ruột đầy ắp các loại hỷ nộ ái ố và một chút cái mật mã di truyền sinh học mất vệ sinh của mình ra Bưu Điện gửi, để rồi sau đó là một chuỗi ngày dài chờ đợi với niềm tin rằng thư đi rồi tin sẽ lại…

Nhưng hôm nay tôi không có ý định viết một bài về việc “viết thư”, mà về người bưu tá giao thư!

… Bỗng nhiên một hôm tôi chợt nhớ ông, một người rất đổi bình thường làm một công việc bình thường nhưng là một người không thể thiếu ở xứ Hà Tiên của chúng ta. Tôi cũng không biết rằng cái mối quan hệ giữa một người lớn và một thằng nhóc đó có tự bao giờ, chỉ biết rằng « chúng tôi » gặp thường xuyên lâu dần rồi quen. Tôi từng chờ đợi ông hàng ngày, thấy ông từ xa là đã thầm mong ông ghé qua nhà mình, thấy ông nhìn mình với ánh mắt giễu cợt là tim mình rộn lên vì biết rằng sẽ có thư.

 – Ê Bé! « thơ » của bồ mày nè.

 – Sao bác biết « thơ » của bồ con?

 – Đâu có ai « hưởn » để viết « thơ » cho mày hoài mà dài dữ vậy?

Dĩ nhiên với kinh nghiệm mấy mươi năm làm nghề của ông, thời ông khắc biết với một phong thư dày được gửi đi với tên của một người con gái có nét chữ chân phương của học trò, đều đặn gửi cho tôi cứ mười ngày hay nửa tháng một lần thì không phải vậy là gì?

Một cái mối quan hệ cũng lạ kỳ, cho đến giờ tôi cũng không biết tên chính xác của ông là gì nữa, ông tên Diên, Viên, Riêng hay Giêng? Tôi chỉ nghe người ta gọi ông là “Sáu Diên” (người miền Nam thì tên nào như trên cũng đọc là Diên!), và để kính trọng tôi chỉ gọi đơn giản là “bác Sáu”, vì chừng như ông lớn hơn ba tôi.

… Xưa lắm, trước 1975, khi ông còn trẻ với mớ tóc chải và chiếc xe đạp có bộ thắng và vè bọng đầy đủ với cái giỏ đằng trước, và là khi tôi còn rất nhỏ chạy lúp xúp dưới chân má tôi, thì mỗi khi “Cô ơi, có thơ!” là tôi nhanh nhất nhà chạy ù ra lấy thư. Cũng tùy sở thích hay sự tiện lợi của ông mà hôm ấy ông thích cưỡi chiếc xe đạp nhảy tưng tưng trên con đường Tham Tướng Sanh đầy đá cục trước nhà tôi hay ông muốn chạy tàng tàng êm ái trên con đường Bạch Đằng trải nhựa sau nhà, nhiệm vụ của tôi là định hướng gọi của ông mà chạy ra để lấy các niềm vui nho nhỏ mang vào cho ba má tôi.

Và theo phong cách của người xưa, một cách lịch sự má tôi đi ra sau, tự tay đưa phong bì chút ít để “boa” cho ông, nhưng tuyệt đối không bao giờ ông nhận, về sau má tôi thỉnh thoảng biếu ông lúc thì quả mãng cầu xiêm, khi thì nải chuối, lúc là quả đu đủ từ vườn nhà cũng chỉ để cảm ơn ông một cách ý nhị, ông vui vẻ treo lủng lẳng trên ghi- đông xe và khoan thai đạp đi…

Rồi sau năm 1975, tôi cũng định hướng tiếng gọi của của ông mà chạy ù ra nhanh nhất, để mang vào cho má tôi những phong thư dày cộp mà ba tôi đã viết từ trong trại cải tạo gửi về, với đầy ắp những yêu thương dành cho “em thương yêu và sắp nhỏ…” (tính ba tôi cẩn thận, ông viết nhiều để dặn dò rất kỹ lưỡng đến từng đứa con, mà con ông chỉ có … tám đứa!). Cũng có khi bác Sáu giao những phong thư dày cộp ấy khi ông gặp tôi đang khệ nệ vác bao bánh mì rêu rao lang thang trên khắp hang cùng ngõ hẻm xứ Hà Tiên để giúp má tôi cải thiện cuộc sống quá đói nghèo những năm tháng ấy, ông không quên mua giúp tôi ổ bánh mì để ủng hộ và còn dặn dò:

 – Bán nhanh rồi về con! « Thơ » của thầy. (người miền Nam hay gọi thư là thơ)

Nhưng dạo ấy có khi bác Sáu không có bức thư nào mà chỉ là đưa mảnh giấy điện tín có vài chữ ngắn súc tích (mà người gửi đã phải trả tiền rất nhiều), được “ám hiệu” nội dung mà chỉ người nhận mới hiểu, ví dụ “A (hay B…) thi đậu”. Cái nội dung đơn giản dễ hiểu ấy hóa ra bao hàm cái niềm vui tột cùng của người gửi, sự chia sẻ niềm vui cho người nhận, hoặc một thông báo ngầm cho một « đường dẫn đến tương lai »… Bọn trẻ chúng tôi chỉ hiểu trong bữa cơm khi má cho hay anh (chị) hay bà con chi đó đã vượt biển trót lọt đến Thái đến Phi..v.v..

Sau này, khi anh em chúng tôi đi xe nước mướn ở Hà Tiên, thỉnh thoảng bác Sáu đuổi theo hoặc dừng chúng tôi lại để đưa các phong thư, có lần bác như vội vả điều gì, bác thao tác nhanh lắm chỉ một lần cái động tác rút trong cái túi thư thì phong thư dài dài khác với khổ thư thường thấy, thì phong thư ấy đã nằm gọn trong tay bác, bác đã không quên dặn dò thầm thì:

 – « Thơ » ở nước ngoài gửi cho thầy, cất kỷ nhe con, tụi mày kiếm cái túi nylon bỏ vào để khỏi ướt!

Hồi ấy có thư nước ngoài gửi về là một chuyện rất “tế nhị” nhất là hoàn cảnh nhà tôi, bác Sáu vì vậy mà rất khéo léo… Ngày hôm ấy ba tôi hẵn đã rất vui dù tôi thấy ông rất xúc động, con mắt còn lại của ông đỏ hoe khi đọc mấy trang thư từ Paris, người gửi là chú Hòn, ba nói rằng đó là một học trò cũ của ba, nhà chú rất nghèo và ở ngoài hòn, chú được ba giúp đỡ cho ăn học, chú ấy là học trò tại Trung Học Hà Tiên của chúng ta … Chú Hòn đã cố gắng gửi một bức thư thăm ba tôi với địa chỉ rất mơ hồ vì chú đã không còn nhớ địa chỉ chính xác, chỉ có cái tên là chú viết đúng “thầy Trương Minh Đạt”. Ở Hà Tiên chúng ta những người tên Đạt không hiếm, còn đã là thầy giáo thì cũng có thầy giáo tên Đạt khác không riêng gì ba tôi. Lại có việc Hà Tiên nhiều lần thay đổi địa chỉ nhà, như nhà tôi đã đến bốn năm lần đổi địa chỉ mà chưa lần nào bị thất lạc thư từ. Bác Sáu có thể không giao vì địa chỉ không rõ ràng, nhưng bác là người rất có tâm và trách nhiệm, mẫn cán với cái công việc dù rất đơn điệu của mình…

Khi chúng tôi lớn lên, đi học, và có bạn bè phương xa… Thì anh chị em chúng tôi hay viết thư để giao lưu với bạn bè tứ xứ, thư qua tin lại đó là niềm vui không nhỏ của đám học trò nhà này, thì có nghĩa là bác Sáu phải làm việc nhiều hơn, nhưng tôi vẫn thấy nụ cười hóm hỉnh giễu cợt của bác khi trêu chọc chúng tôi. Chỉ một lần tôi thấy bác « rầy » thằng em út nhà tôi, khi nó nhận thư của cô bạn gái mà nó để địa chỉ của một đứa bạn khác ở xóm Lầu Ba nhờ chuyển cho nó, vì nó cố tình dấu mấy anh chị quá ư nhiễu sự của nó, thấy cái tên họ Trương mà ở địa chỉ lạ hoắc, bác Sáu bèn kêu nó ra và nói:

 – Nè, mình có tên họ đàng hoàng, có nhà cửa đàng hoàng, thơ thì cứ gửi về nhà mình không gửi chuyển lung tung nhe mậy!

Với đám trẻ con nhà này thì bác Sáu luôn mày tao một cách xuề xòa dễ dãi, nhưng những chuyện như vậy là bác đang nghiêm túc dạy cho chúng biết cái điều lớn hơn để “làm người” sau này: “danh có chánh thì ngôn mới thuận”!

… Rồi thời gian qua rất nhanh, tôi không kịp nhận ra bác Sáu đã bỏ đi mái tóc đen chải một bên bằng mái đầu cua lún phún sợi bạc từ khi nào? Cũng không biết từ khi nào chiếc xe đạp của bác đã không còn vè và thắng? Có lẽ bác đã già đi và đạp chậm hơn nên không cần đến chúng nữa chăng? Nhưng những khi về thăm gia đình tôi vẫn thấy bác đi giao thư, cứ thong thả và chậm chậm tôi chờ bác đến để hỏi vài câu xả giao, thăm hỏi sức khỏe bác…

Cho đến một hôm về thăm nhà, tôi hỏi thăm má về bác Sáu, má tôi cho hay bác mất rồi, hôm đó tôi buồn và nhớ bác vì tuổi thơ của tôi luôn có hình bóng bác Sáu với cái dáng đạp xe khoan thai, với các cánh thư buồn vui qua các thời cuộc mà bác đã mang đến cho gia đình tôi nói riêng và các gia đình khác ở quê hương Hà Tiên chúng ta.

Giờ chuyện thư từ này được giải quyết một cách chóng vánh với bao nhiêu là ứng dụng của thời @, chỉ cần một cái smartphone là bạn có thể giải quyết “nhanh hơn một nốt nhạc”! Vì vậy mà có khi các cảm xúc thú vị về việc viết thư tay qua đường Bưu Điện của chúng ta đã biến mất tự bao giờ, cảm giác chờ nhận thư của người thân yêu, của bạn bè… từ người bưu tá đã không còn nữa. Tiếc thật! Và chắc chắn một điều rằng sẽ không có còn ai tạo được một hình ảnh về một người mấy mươi năm làm một bưu tá mẫn cán, liêm chánh và có tâm như ông.

Hà Tiên có nhiều người nổi tiếng đóng góp tài sức cho quê nhà, nhưng nếu chúng ta không nhắc đến những người bình thường, làm những công việc bình thường như ông bưu tá mà tôi kính trọng gọi bằng “bác Sáu” thì thật là có lỗi với tiền nhân.

Cho dù ông tên Diên, Viên, Riêng hay Giêng cũng không quan trọng, vì người Hà Tiên nhớ tới ông sẽ nhắc ngay – ông Sáu « Diên”.

Ở Suối Vàng, ông sẽ thật vui nếu ông biết có người nhắc đến ông với tất cả sự trân trọng, sẽ còn hay hơn nữa nếu nơi ấy có mạng Internet thì dứt khoát ông sẽ đọc được bài này, vì ông là một người yêu Hà Tiên hơn tất cả những người Hà Tiên chúng ta, bởi tất cả các con đường nơi đây đều in dấu chân ông.

QN.

10/2020.

Dãy nhà bên trong khu Chi Bưu Điện Hà Tiên, dùng làm văn phòng, tem thư, điện tín..v..v…trong những năm 60 – 70. (Hình: Bạn học chung trường lớp THHT ngày xưa)

Một trong những cổng lớn vào khu Chi Bưu Điện Hà Tiên, nhìn ra đường Tô Châu, Hà Tiên. Đây là cổng vào khu cư xá nhà ở của gia đình Trưởng Chi và nhân viên. Thời gain: những năm 60-70. (Hình: Bạn học chung trường lớp THHT ngày xưa)

Các bạn trong lớp mình đang tụ tập tại nhà Nguyễn Anh Tài (lúc đó là khu cư xá nhà ở của Chi Bưu Điện Hà Tiên vì Ba của Tài làm trưởng chi). Khu nầy có rất nhiều cây xoài nên tụ tập lại cả lớp để leo cây xoài hái ăn. Trong hình là chị Huỳnh Kim Cúc, Mai Thị Ngọc Minh và Lý Văn Tấn đang chấm xoài với nước mắm đường,… :-). (Hình: TVM)

Tái bút:

Bạn học cùng trường ở Hà Tiên có góp ý thông tin về chú Sáu Diên như sau: Chú Sáu là một người nhân viên rất tận tụy với nghề, khi về hưu chú ra đốn cây me ở gần nhà, rồi từ đó chú bịnh hoài luôn, không bao lâu là chú mất. Vào năm 1978 lúc có giặc biên giới tràn qua Kiên Lương, chú Sáu chạy xe đạp xuống Kiên Lương thăm bà con, sau đó chú đạp xe về Hà Tiên vì không có xe đò.  Chú rất có tình cảm với con cháu, chú mất năm nào lâu rồi mình không còn nhớ rỏ,.(Tăng Thị Sáu).

 
 

 

Nhớ Trung Thu năm xưa…(Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, tháng chín năm rồi (2019) cũng nhân dịp mùa Trung Thu về, bạn Trương Thanh Hùng có viết một bài tựa là « Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên… ». Qua bài viết nầy, mình có viết lời giới thiệu và anh Trần Văn Dõng cũng có bổ túc nhiều chi tiết nhắc lại sinh hoạt Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên. Hôm nay Trung Thu cũng lại về với những tia sáng của vầng trăng ngày càng sáng tỏ và tròn trịa, nỗi nhớ Trung Thu của những năm xưa ở Hà Tiên chợt dâng cao khiến mình không thể không viết lại một chút gì đó để bày tỏ tâm trạng nhớ đêm « cộ đèn » diễn vào ngay ngày rằm Trung Thu do hai trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên (cùng với sự tham dự của trường Hoa Hà Tiên nữa)  tổ chức và có rất nhiều thầy cô, học sinh tham gia đóng góp bằng cách trưng ra những tác phẩm lồng đèn đầy màu sắc, đầy sáng tạo…(Có thể là những buổi « cộ đèn » vào dịp Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên là do chánh quyền Quận tổ chức và có sự tham gia của các trường học ở trong Quận).

Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », « Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn ») …Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó các nhân vật là có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay «ronéo» thời đó), theo lời hai bạn Nguyễn Thúy Vân và Hồ Thị Kim Hoàn kể lại thì tờ báo nầy có tên là « Dân Ý »,các trang trong chỉ là những tờ giấy màu vàng không bóng láng, in từng tờ rồi dùng kim đóng sách bấm lại, đó là việc do Thúy Vân và Kim Hoèn thường làm để giúp cho cô Chín Triệu, còn việc quay « ronéo » thì do chú Bảy Kế đảm nhận. Thúy Vân và Kim Hoàn còn kể thêm là ngày xưa đó mặc dù « tuổi của em chỉ mới 13″…!! mà cũng thường làm thơ gởi đăng vào báo nầy vì tờ báo còn non trẻ cần rất nhiều bạn văn thơ đóng góp bài vở, nhất là trong giới học sinh Trung Học Hà Tiên…Còn riêng mình thì cũng có cộng tác với tờ báo nầy, mình có viết được hai bài đoản văn, bài nào cũng là để diễn tả tấm lòng về một người con gái cùng thời xưa đó, hai bài tức là nói về hai người con gái khác nhau, tuy trong bài mình chỉ dùng kỷ thuật « hư cấu » không nói rỏ tên họ hai người con gái ra nhưng cũng có bạn khi đọc bài cũng hiểu và biết hai người đó là ai,…nhất là bạn La Văn Cao thường hay trêu chọc mình, mỗi khi gặp mình Cao thường nói lẩm bẩm trong miệng: « Tôi rùng mình kéo cao cổ áo vì cơn gió lạnh thoáng qua… » (đó là Cao nhắc lại một câu viết trích trong một trong hai bài đăng báo đó…)

Trong bài báo của mình đươc chọn đăng nhân dịp Trung Thu ở Hà Tiên, nội dung câu chuyện là nhân vật nam chánh (tức là mình) đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Nhân Trung Thu lại về, lòng thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …
Theo góp ý của anh Trần Văn Dõng, ngày xưa, Trung Thu nào ở Hà Tiên cũng có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Trong nhà mình có mình, anh Dõng cùng tiếp em thứ tư là Trần Văn Phi làm một cái lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em Phi mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Có rất nhiều lồng đèn với nhiều kiểu lạ mắt và hình dáng rất sáng tạo…Ôi, ngày xưa!
Còn điều này nữa, theo trí nhớ, thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn. Từ đó mới có bối cảnh trong câu chuyện đăng báo do mình viết…
Năm nào cũng vậy, cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia, có điều đặc biệt là Trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (hình quả địa cầu có con chim bồ câu Hòa Bình đậu phía trên…), còn hầu hết tất cả các em học sinh của Trường thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt (trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa rất đẹp.

Nếu nói về các giai đoạn làm một chiếc lồng đèn thì cũng khá gian truân, hơi phức tạp. Hồi xưa mình rất ngưỡng mộ các bậc người lớn làm lồng đèn, mình rất mê xem người ta làm, vì mình không biết làm thật sự một chiếc lồng đèn xinh đẹp…Tuy nhiên mình nhớ là cũng có làm qua vài cái lồng đèn. Hồi đó kiểu thông dụng nhất của một chiếc lồng đèn là hình ngôi sao năm góc, rồi từ đó các « nghệ nhân » có thể chế biến thêm cho khác nhau chút ít. Trước ngày Trung Thu vài ngày là phải đi đốn tre hay đi xin vài khúc tre. Về nhà phân đoạn ra thành một khúc có chiều dài như ý muốn làm chiếc lồng đèn lớn hay nhỏ. Chiết ra 10 thanh tre vừa vặn hơi dẹp, không dầy lắm cũng không yếu quá…Sau đó cứ ghép 5 thanh tre nhập lại thành hình ngôi sao, làm hai hình ngôi sao như vậy rồi nhập các đầu tre lại và lấy dây nhợ hay dây thun cột chặc cho các thanh tre dính chặc lại nhau. Tiếp đến chẻ ra 5 thanh tre ngắn hơi tròn trịa để dương hai ngôi sao vừa nhập vào nhau xong để cho lồng đèn « phình » lớn ra ở giữa (chỗ có hình ngũ giác), đến giai đoạn dán giấy kiếng màu vào khung tre, giai đoạn nầy là phải rất khéo tay để dán giấy cho phẳng không bị nhăn nhíu…Muốn tạo lồng đèn ngôi sao có màu sắc ra sao thì do ở giai đoạn chọn màu của giấy kiếng ở đây. Giai đoạn nầy rất khó vì thường là phải cần hai người làm cùng nhau để căng giấy cho phẳng phiu…Khi dán giấy kiếng màu thì nhớ là phía trên bên hông phải chừa một chỗ trống không dán giấy để cho khói thoát ra khi đốt đèn cầy và phần dưới cũng chừa ra một bên để thò tay vào gắn và đốt đèn cầy. Sau đó lấy một cọng dây chì cứng không to lắm, dùng một cây viết chì làm khuôn rồi quấn cọng dây chi bao quanh cây viết chì nhiều lần, sau đó rút cây viết chì ra thì sẽ có được một hình thức dây chì có một phần như cái « lò xo », dùng một đầu dây chì có lò xo nầy quấn chặc vào thanh tre căng ngang ở giữa lồng đèn, đây là chỗ để gắn đèn cầy vào lúc thắp lồng đèn. Sau khi dán giấy xong xuôi, có bạn còn khuyên một kỷ thuật như sau: phải ngậm nước phun vào giấy kiếng vừa dán xong và đốt đèn cầy lên bên trong lồng đèn, để một lúc lâu để cho giấy kiếng được căng thẳng, không biết kỷ thuật nầy có hiệu quả hay không nhưng đó cũng là một giai đoạn phải thực hành qua. Đó là xong cái lồng đèn hình ngôi sao, đến đây là tùy theo mỹ thuật trang trí của các bạn, có bạn lấy giấy kiếng vụn còn dư, quấn lại thành một băng dài rồi cắt nữa chừng bề ngang của băng giấy nầy nhiều lần suốt chiều dài băng giấy, sau đó quấn vào mỗi 5 đầu ngôi sao lồng đèn và cho bung ra phần dư ra ngoài mỗi đầu ngôi sao, thành một bông giấy kiếng rất xinh đẹp. Có bạn còn tạo thêm một hình tròn bằng tre ngoại tiếp hình ngôi sao lồng đèn và cuốn giấy kiếng trang trí thêm cho hình tròn nầy. Có bạn còn dùng dây nhợ nối liền 5 đầu ngôi sao lại thành hình một ngũ giác lớn rồi dùng giấy kiếng còn dư cắt thành hình những chiếc cờ hình tam giác và dán dọc theo 5 cạnh nầy…Ngoài hình đạng thông thường là hình ngôi sao, có nhiều người khéo tay còn làm lồng đèn hình con gà, hình con cá rất linh động và rất đẹp, tuy nhiên vật liệu phải dùng thêm là các cọng dây chì cứng để dễ uốn nắn theo hình dạng cần tìm.

Cũng nói thêm về chiếc lồng đèn hình ngôi sao, ở Hà Tiên ngày xưa, không những chỉ vào dịp Tết Trung Thu người ta thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao, mà nhân dịp lễ Giáng Sinh, người ta cũng có thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao, nhất là những chiếc lồng đèn hình ngôi sao có màu vàng và trắng. Đó là sinh hoạt ở xóm Đạo ở Hà Tiên. Xóm Đạo ở Hà Tiên nói ở đây tức là xóm nhà ở cuối đường Mạc Thiên Tích đi về hướng Pháp Đài, chỗ nối liền với xóm Cầu Đá. Vì nơi đây là khu nhà dân thường có Đạo Công Giáo nên vào dịp lễ Giáng Sinh người ta tổ chức thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao nầy rất nhiều và rất vui mắt.

Đến đây cũng đã nhắc khá nhiều kỷ niệm Trung Thu ngày xưa, những kỷ niệm mà mình không bao giờ quên được,…Nhất là kỷ niệm đã được đưa vào một câu chuyện ngắn đăng lên báo « Dân Ý » của Chi Thông Tin Hà Tiên…Kỷ niệm nhắc lại một người em gái mà mình cũng thường chú ý nhà ở chung quanh chợ cũ Hà Tiên, được « lãng mạn hóa » đưa vào một đoản bút mà mình viết ra chỉ để bày tỏ một tình cảm thoáng qua nào đó do một thời tuổi trẻ hay nhạy cảm và dễ rung động trước một dáng vóc con gái…, có phải đó là điều đáng cười không? Mình cũng không biết, tuy nhiên biết bao nhiêu người cũng đã từng mơ ước là trong cuộc đời họ phải có được rất nhiều lần nếu không là cũng phải có ít nhất một lần « yêu » và « được yêu »…… »Được yêu » hay không thì mình không biết chắc nhưng có điều chắc chắn là con tim cũng đã, đang và vẫn rung động khi mà trong cuộc đời vẫn còn có những người con gái, thiếu nữ đáng yêu…!!! 

(Trần Văn Mãnh, Paris, mùa Trung Thu 03/10/2020, viết để nhớ những mùa Trung Thu êm đẹp ở Hà Tiên)

Hình minh họa chiếc lồng đèn hình ngôi sao trong dịp Trung Thu

Tái bút: Tác giả cám ơn các bạn Trương Thanh Hùng, Nguyễn Thúy Vân, Hồ Thị Kim Hoàn và anh Trần Văn Dõng đã góp ý cho bài viết.

Nhớ bậc thầy người Hà Tiên (Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong Blog của chúng ta có một mục để tôn vinh và gợi nhớ quý thầy cô đã từng giảng dạy ở hai trường Trung Học và Tiểu Học Hà Tiên. Hiện nay trong mục nầy đã có được 27 bài viết về quý thầy cô. Thực ra thầy cô giảng dạy ở hai trường nói trên còn rất nhiều và chưa được giới thiệu đầy đủ qua những bài viết ở đây, ví dụ bên trường Tiểu Học còn thiếu bài về quý thầy cô: Trần Văn Hương, Trần Hòa Hùng, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Nguyễn Văn Pho, Trương Tự Phát, Hà Phương Linh, Lâm Văn Núi, Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh, Trần Văn Tường, Nguyễn Hữu Thất, Lý Ánh Nguyệt, Lý Thị Nhan…v…v…Bên trường Trung Học còn thiếu bài về quý thầy cô: Trịnh Học Ký, Võ Thành Tường, Võ Thành Tài, Bùi Hữu Trí, Nguyễn Minh Nguyệt,…v…v… Nói tóm lại, còn thiếu rất nhiều, kể ra ở đây không hết được, chỉ một mình mình thôi, không thể có đủ tư liệu, hình ảnh để viết bài về quý thầy cô nói trên, mình xin kêu gọi quý thầy cô và tất cả các bạn, nếu có điều kiện nhớ về chuyện quý thầy cô ngày xưa, xin đóng góp bài vở và hình ảnh, để mục tôn vinh, tưởng nhớ quý thầy cô của chúng ta ngày càng được đầy đủ và phong phú thêm, để chúng ta khỏi phải phạm lầm lỗi là không nhớ đến thầy cô trọn vẹn, mong được như vậy nhé quý thầy cô và các bạn mến…

Cũng nhắc lại ở đây là tại trường Tiểu học Hà Tiên của chúng ta, có một bàn thờ “Tiền vãn” đặt ngay trong văn phòng Hiệu trưởng rất trang nghiêm. Có phải chăng truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của Việt Nam đã được những người làm việc trong lảnh vực giáo dục của Hà Tiên, của các thầy cô Hà Tiên chúng ta thể hiện bằng tấm lòng thành kính ít nơi nào có được. Trên tấm bia nầy, ta còn nhận thấy có tên họ của những bậc tiền bối, bậc thầy mà ở lứa tuổi của mình, vốn là hậu bối, sanh sau đẻ muộn, không có cái may mắn được học tập với quý thầy cô đó: xin kể tiêu biểu vài bậc thầy ra đây: Lâm Tấn Phác, Lê Quang Phấn, Hà Văn Điền, Lý Văn Nhơn,….

Hôm nay nhân duyên đã đến, xin được nhắc đến một bậc thầy, người đã từng làm vẻ vang cho tên gọi đất Hà Tiên, đó là thầy Lâm Tấn Phác, như cô Nguyễn Phước Thị Liên có viết:

« Tôi thấy trong khu vườn Hà Tiên xưa đề cập đến nhiều Thầy Cô mà chưa ai đả động đến cây đại thụ Thầy giáo Đông Hồ là một thiếu sót lớn. Nhờ người chăm sóc nuôi dưỡng khu vườn đọc bài thử và tùy nghi sử dụng nhé ».

Đúng như lời viết của cô, chúng ta chưa có bài nào viết về bậc thầy Đông Hồ trong mục thầy cô, nói Đông Hồ tức là nói về thầy Lâm Tấn Phác, vì thi sĩ Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác (thầy sinh ngày 10 tháng 3 năm 1906 và mất ngày 25 tháng 3 năm 1966). thầy còn có tự là Trác Chi, hiệu là Hòa Bích và còn nhiều bút hiệu khác như: Thủy Cỗ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu Tiên Sinh, thầy được xem là một nhà giáo, nhà thơ, chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt và là một người có nhiệt tình với văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong khoảng thời gian 1926-1934, thầy Lâm Tấn Phác có lập ra một ngôi trường tên là Trí Đức Học Xá, ngay bên bờ Đông Hồ ở Hà Tiên, chủ trương chuyên dạy toàn tiếng Việt, nhằm cổ động mọi người tin tưởng vào tương lai của tiếng Việt. Ta có thể xem đó là một ngôi trường đầu tiên ở Hà Tiên dạy về tiếng Việt. 

Ngoài cô Nguyễn Phước Thị Liên, tác giả của bài viết sẽ được giới thiệu đăng tiếp theo dưới đây (bài mang tên « Nhớ bậc thầy người Hà Tiên »), còn có một người bạn thân học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Hà Quốc Hưng, có viết cho mình qua những dòng chữ như sau:

« Tôi biết là chúng ta muốn viết về thời của chúng ta dưới mái trường Trung Học Hà Tiên là chính. Nhưng như bạn thấy chúng ta có rất nhiều thế hệ sau mình sẽ vào đọc cho nên tôi muốn nói một chút gì về thế hệ cha chú trước mình. Sở dĩ làm vậy là có ý muốn vực dậy niềm tự hào của các em học sinh Trung Học Hà Tiên bây giờ (để cho bậc đàn em thấy có một sự truyền thừa liên tục trên mảnh đất Hà Tiên chứ không phải là hiện tượng một lần rồi chết mất) và vực dậy tình yêu của các em đối với mảnh đất Hà Tiên tuy nghèo vật chất nhưng giàu tình yêu và huyền thoại.  Biết đâu sau này khi Mãnh nghỉ hưu có thể hai đứa mình sẽ quay lại Hà Tiên để làm cái gì đó cho các em Trung Học Hà Tiên, mà những điều mình viết xuống ngày hôm nay chính là hạt giống gieo xuống « tâm điền » của các em và sẽ nãy mầm ngày mai chứ không đơn thuần là những mẫu chuyện ngu ngơ, vu vơ, vô giá trị. Nói một cách khác là chúng ta đang gián tiếp tuyên dương tình tự dân tộc, tình yêu đối với thi ca, tình nghĩa thầy trò, tình bạn . . . giữa dòng đời xô bồ và vô cảm này đó Mãnh. Tôi đánh giá cao những giá trị nhân bản này. Đó là lý do vì sao mấy ngày hôm nay tôi dừng lại công việc nghiên cứu và để ra một chút thời gian viết cho Blog của mình đó Mãnh. Cũng cảm ơn bạn đã tạo Blog này để mình có dịp sống lại những « ngày xưa thân ái » đầy ấp kỷ niệm. Tình bạn của chúng ta quả thật ngọt ngào và mầu nhiệm. Vài dòng chia sẽ ý nghĩ với bạn thân. » (mail tháng giêng, 2016, Hà Quốc Hưng)

Cũng qua những dòng chữ trên, bạn Hà Quốc Hưng có gởi cho mình một bài viết về « thế hệ cha chú trước mình », đó là bài viết mang tên « Gương Hồ Núi Mộng » mà mình đã từng đăng trên Blog nầy trong tiết mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và là bài « Trăng Hà Tiên và U Hương » với tên ký là Hưng Hà (tháng 1, năm 2016). Hôm nay, tiếp theo bài của cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình sẽ đăng lại bài của bạn Hà Quốc Hưng, cả hai bài viết nầy đều là bài để nhắc lại, tưởng nhớ và tôn vinh bậc thầy người Hà Tiên, thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác. Tới đây xét cũng đã đủ lời giới thiệu về hai bài viết dưới đây, xin mời quý thầy cô và các bạn bước vào vườn văn nghệ, đọc hai bài viết về thầy Lâm Tấn Phác nhé. Xin cám ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên đã nhắc nhở cho phong phú khu vườn Hà Tiên xưa và bạn Hà Quốc Hưng đã có tâm niệm khuyến khích thế hệ đàn em sau tiếp tục truyền thống thi sĩ Đông Hồ…và cũng xin cám ơn quý thầy cô và các bạn chú ý đọc bài. (Paris cuối tháng 9 năm 2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Bài 1: NHỚ  BẬC THẦY NGƯỜI HÀ TIÊN (Nguyễn Phước Thị Liên)

Đôi lời giới thiệu

Chồng tôi, anh Trương Minh Đạt, người xóm Rạch Vược xã Thuận Yên – Hà Tiên. Khi anh chưa ra đời (1936), gia đình anh đã có mối thân tình với gia đình thầy Đông Hồ. (Người Hà Tiên gọi là “Thầy” vì lúc đó ở đây, năm 1926 – 1927, thầy có mở trường dạy học, tên là Trí Đức). Thời gian sau, duyên lành đưa đẩy, anh Hai Lư Khê của chồng tôi cùng thầy về Sài Gòn làm báo. Tờ ÁNH SÁNG của họ tỏa sáng khắp miền Nam lúc đó. Và tự nhiên, hai bà vợ của hai ông là Mộng Tuyết và Manh Manh trở thành đôi bạn tâm giao trong sáng tác thơ văn, đã một thời nổi tiếng trên văn đàn cả nước. Các nhà phê bình văn học đã viết trong phần văn học Hà Tiên thời cận đại hôm nay còn ghi truyền câu nói: “Hà Tiên tứ tuyệt”, nhắc ta nhớ đến Thầy Đông Hồ, nữ sĩ Mộng Tuyết, nhà văn Trúc Hà và nhà văn nhà báo Lư Khê.

                                                    ***

59 năm trước, khi tôi về làm dâu xứ Hà Tiên, chồng tôi đưa tôi đến thăm, ra mắt thầy cô Đông Hồ tại nhà của thầy ở đường Nguyễn Thái Học (cũ) – Sài Gòn và đây chính là nơi hiệu sách Yiễm Yiễm Thư Trang của thầy đang hoạt động.

Lúc còn đi học, tôi mến mộ tác giả Đông Hồ qua bài thơ “Bốn cái hôn”, mường tượng trong đầu một nhà thơ trẻ tuổi mộng mơ mà chân thực. Thế nhưng khi diện kiến tác giả, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi lại là cái phong cách nho nhã…lạ đời.

Hôm đó, tôi còn nhớ như in, thầy mời chúng tôi vào bàn khách, thầy vào trong. Khi bước ra, thầy đã chỉnh tề trong bộ áo dài trắng, tay cầm cái lư đồng nhỏ. Sau đó thầy thư thả đốt trầm. Lư trầm thầy đặt giữa bàn, đúng “tọa độ” giữa thầy và chúng tôi. Xong đâu đó thầy mới hỏi chuyện, chuyện Hà Tiên và chuyện sức khỏe của mẹ chồng tôi. Tiếng thầy khoan thai nhỏ nhẹ mà ấm áp chân tình nhất là khi biết gia đình tôi người Huế, thuộc “nòi văn chương”, ngoại tổ và thân phụ tôi có quan hệ mật thiết với Hương Bình thi xã Huế. Rồi thầy nói cho tôi nghe nhiều chuyện về Hà Tiên xưa, dạy tôi những lời vàng ngọc.  Khi chúng tôi sửa soạn ra về, thầy đề tặng nhiều sách còn bảo tôi đến tủ chọn thêm vài quyển “ưng ý” khác.

Sau đó vì cuộc sống, chúng tôi không thể đến thăm thầy cô được. Bẵng đi mấy năm, chúng tôi sững sờ hay tin thầy gục ngã trên bục giảng ở trường Đai học Văn khoa – Sài Gòn.

Nay thầy cô Đông Hồ – Mộng Tuyết không còn nữa, chúng tôi cũng đã trên 80, bạc đầu sương gió… Nhớ thầy như nhớ lời nói thơm ngát hương trầm năm xưa: “Con gái xứ Huế, con trai Hà Tiên, duyên tình cố đô kết với đất Hà, các em đừng quên quê mình, cả hai đều đẹp lắm…”

Chúng tôi chỉ ân hận một điều là chưa làm được gì theo lời thầy trong sự nghiêp làm đẹp quê mình./.

Cô Nguyễn Phước Thị Liên thời dạy học tại Trường Tiểu Học Hà Tiên, tác giả bài viết « Nhớ bậc thầy người Hà Tiên ».

Bài 2: GƯƠNG HỒ NÚI MỘNG (Hà Quốc Hưng)

Nói đến trăng Hà Tiên mà không nói đến nữ sĩ Mộng Tuyết và thi sĩ Đông Hồ là một thiếu sót lớn. Hai người là thái sơn bắc đẩu của thập niên 30-40 trong nền văn học Việt. Cùng với cặp tài danh khác là nhà văn Lư Khê và nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, người ta đã tôn xưng họ là Hà Tiên Tứ Tuyệt (Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà và Lư Khê). Cả bốn người họ đều sinh ra và lớn lên ở Hà Tiên, một xứ sở nghèo nàn nơi biên địa, nhưng mộng hồn thơ văn của họ cao muôn trượng chẳng nhường ai.

         Nhận xét về Mộng Tuyết , Đoàn Lê Giang đã viết: «Tôi nghĩ là sẽ không quá lời khi khẳng định: Mộng Tuyết là thi sĩ tài hoa nhất, có bản sắc nhất trong nhóm Hà Tiên, và là nữ thi sĩ xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới toàn quốc.» (Văn Học Nam Bộ, 32-45, Cái Nhìn Toàn Cảnh). Trong bài Hai Cuộc Tình Thơ Nơi Cõi Mộng Hà Tiên, Vương Tân đã viết: «Cái tên Mộng Tuyết được bay bổng với những vần thơ đầy lãng mạn và tạo nên một hiện tượng thơ ca vào những năm cuối của thập kỷ 30. Ngày đó tác giả thơ nữ hiếm lắm, tiếng thơ của Mộng Tuyết vang rộng đến nỗi tạo nên dư luận, người ta còn đồn thổi, đây là một trang nam nhi đóng giả gái, chứ nữ nhi thường tình sao làm thơ hay đến thế.»

Trăng chảy ngập đường đi thuở ấy
Để người soi bóng bước song song
Rồi trăng từ đó tương tư bóng
Chảy ngập đường đi khắp nẻo lòng
(Trăng Tương Tư – Mộng Tuyết)
Sực nhớ . . .  
Ta cùng ai thong dong dưới nguyệt
Khẽ dang tay người ngọc thẩn thơ
Hồ Đông một vũng nông sờ
Non Bình một dải tờ mờ ngọn cao
Em mới hỏi: “Trăng sao sáng tỏ?”
Anh bảo rằng: “Trăng có đôi ta”
Bây giờ em đã cách xa,
Vầng trăng xưa vẫn chưa nhoà bóng gương.
(Nhớ Rằm Tháng Hai – Đông Hồ)

          Trăng Hà Tiên là như vậy đó. Đâu phải chỉ có thế hệ của tôi hay những thế hệ sau này được trăng Hà Tiên thai nghén và nuôi dưỡng. Rõ ràng là những thế hệ trước của Hà Tiên cũng đã từng như vậy. Họ chính là vầng trăng lưu giữ một vầng trăng mà tỏa sáng trên văn đàn thuở ấy và có lẽ . . . sẽ tỏa sáng đến ngàn sau.

Bài viết 01/2016, tác giả Hà Quốc Hưng (tên hiện nay: Hà Hưng Quốc)

Ảnh Thi Sĩ Đông Hồ & Nữ Sĩ Mộng Tuyết

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ, Hà Tiên. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nơi ở của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940. Hiện nay là nơi dựng lên nhà Lưu niệm Đông Hồ.

Gia đình thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết (bên phải) với thi sĩ Nguyễn Bính (bên trái), hình chụp tại Hà Tiên năm 1944. Hình sưu tầm (TL)

Thầy Đông Hồ cùng với các sinh viên tại Sài Gòn. Hình Tuan Vo

 

Từ một học sinh xuất sắc của Hà Tiên (Thầy Trương Minh Đạt)

Thầy cô và các bạn thân mến, thầy Trương Minh Đạt có nói một câu rất lạ và thú vị: « Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, khắp nước ta có hàng trăm bài viết về người Thầy. Riêng ở Hà Tiên, cũng ngày này, có ông Thầy giáo kể về một học sinh của trường Trung Học Hà Tiên xưa. »….Học trò viết bài, làm thơ để ca tụng thầy cô trong ngày nhớ ơn nhà giáo thì đúng là rất hay và cũng rất hợp lý phải không thầy cô và các bạn, tuy nhiên lại cũng có một ông thầy viết bài nhắc nhở và kể lại chuyện về một người người học sinh thân mến của mình, đó mới là điều thú vị và đáng được chúng ta chú ý,…, vậy người học sinh đó là ai, có liên quan đến trường Trung, Tiểu Học Hà Tiên của chúng ta hay không, vì nơi đây chính là khu vườn của khung trời Hà Tiên chúng ta đi dạo để nhớ thầy, nhớ cô, nhớ bạn…

Xin thưa, đó là bài viết của thầy Trương Minh Đạt, viết về một người học sinh rất xa xưa của thầy, người học sinh đó các bạn Hà Tiên có lẽ đều biết, đó là một bậc đàn anh tên là Đường Minh Phương, học sinh nhiều năm của ngôi trường mới mở, trường Trung Học Hà Tiên, đó cũng là thầy giáo Đường Minh Phương dạy nhiều năm ở ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đó cũng là giáo sư Đường Minh Phương của trường Tống Phước Hiệp Vĩnh Long, và sau cùng, theo cơ duyên của dòng đời và cũng là nguyện ước của thầy Phương, nay chính là Đại Đức Thích Kiến Nguyệt.

Riêng về bản thân mình, thì trong ký ức của mình cũng còn nhớ rất nhiều chi tiết về những ngày xa xưa khi còn đi học ở Hà Tiên thân yêu, mình cũng nhớ thầy Đường Minh Phương, thầy có vóc dáng hơi ốm, cao ráo và cũng có tính chất rất nghệ sĩ….. Tuy là không có học lớp do thầy dạy ở bậc Tiểu Học, nhưng mình nhớ và hình dung rất rỏ thầy Đường Minh Phương, mình nhớ thầy thường dạy lớp Nhất (tức là lớp cuối của bậc Tiểu Học) và thầy cũng thường hay phụ trách, góp sức tổ chức văn nghệ cuối niên khóa ở trường…Cho đến ngày nay, tình cờ nhìn các hình ảnh do một trong những người học trò Trung Học của thầy Phương đăng lên trang face Book của người đó, mình chợt nhớ ra ngay thầy Đường Minh Phương, và thông qua các hình ảnh sinh hoạt trên con đường hoằng pháp của thầy, mình cũng chợt nhớ ra là đúng rồi, thầy Đường Minh Phương đã đi tu, vì từ lâu hình như là có tin như vậy nhưng thực hư ra sao thì mình chưa có dịp biết rỏ. Từ lúc đó, mình đã nảy ra ý định là viết một bài để giới thiệu thầy Đường Minh Phương, trong tiết mục « Thầy Cô » trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » nầy, nhưng mình hơi thiếu ý, thiếu thông tin, nên do dự mãi, rồi đăng tin hỏi nơi nầy nơi nọ để được biết thêm về cuộc sống từ lúc rời Hà Tiên của thầy Đường Minh Phương, để có chất liệu viết bài cho phong phú và đầy đủ,…Giống như người đang lúc hụp lặn thì may mắn thay lại có cái « phao » ai đẩy ra cho mình nắm…Thì ra khi trao đổi ý  với thầy cô Trương Minh Đạt, Nguyễn Phước Thị Liên thì quả là gõ ngay đúng cửa nhà…. Thầy cô có trả lời là thầy cô biết rất rỏ về người học trò năm xưa Đường Minh Phương vì chính gia đình thầy cô đã bao bọc, lo nơi ăn chốn ở cho thầy Phương từ lúc còn thư sinh của mái trường Trung Học Hà Tiên…Cô Nguyễn Phước Thị Liên còn nói là chính thầy Trương Minh Đạt có viết một bài kể lại quá trình ăn học thành người của thầy Đường Minh Phương và cô nói sẽ chuyển bài lại cho mình để đăng trên Blog THHTX nầy…Thật là quá may mắn, mình cám ơn thầy cô rát nhiều, như vậy là sẽ có bài viết để giới thiệu thầy Đường Minh Phương, một tấm gương sáng rực đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và kính phục con đường của thầy đã chọn…

Xin trân trọng cám ơn tác giả bài viết, thầy Trương Minh Đạt, đã cho chúng ta có dịp biết rỏ thêm về thầy Đường Minh Phương, và cũng trân trọng cám ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên đã nhẫn nại ngồi lại để đánh toàn bộ bài viết tay vào máy tính, để gởi bài đi tiện lợi cho mình qua con đường giao thông hiện đại ngày nay, đó là qua phương tiện E-mail,…Vậy mới thấy kỹ thuật số tinh tiến, môn thông tin vi tính ngày nay đã xâm nhập vào hầu hết mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong chúng ta, đó cũng là một điều đáng vui mừng… 

Trước khi dứt lời giới thiệu để thầy cô và các bạn đọc bài viết của thầy Trương Minh Đạt, mình cũng xin cám ơn anh Vương Bình Thành, anh đã góp ý cho mình nhiều thông tin về thầy Đường Minh Phương. Được biết thầy Đường Minh Phương học cùng lớp với anh Trần Phình Chu và anh Lâm Văn Rầm. Thầy còn có một em trai là Đường Minh Hồng học cùng lớp cô Tiền Ngọc Thanh. Một người em trai khác tên là Đường Minh Hoàng (ở Sài Gòn về Hà Tiên học một hai năm cùng lớp với anh Lâm Hữu Dư, sau trở về Sài Gòn học Đại Học Y khoa và ra Bác Sĩ). Cuối cùng xin cám ơn bạn Lê Hồng Kỳ, học trò của thầy Đường Minh Phương ở trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, mình có mạn phép trích một vài hình ảnh. (Paris, 07/09/2020, TVM viết vài hàng giới thiệu).

Từ một học sinh xuất sắc của Hà Tiên (Thầy Trương Minh Đạt)

Xin được nói lời chân tình của người viết: Con hơn cha là nhà có phúc, trò hơn thầy hạnh phúc vô biên.

Tôi là người ở Rạch Vượt xã Thuận Yên (Hà Tiên – Kiên Giang). Năm 1954 vừa tốt nghiệp trường Sư phạm Nam Việt. Tôi nhận quyết định của Nam Trung Tiểu học Sài Gòn về tỉnh Hà Tiên dạy học, thời đó Hà Tiên là tỉnh lỵ. Tôi mừng lắm, vì không gì bằng được dạy con em địa phương mình; vả lại, tôi có mẹ già ở đây. Tôi dạy lớp Tiếp Liên là lớp cao nhất ở Hà Tiên lúc đó. Từ lớp này ai muốn học lớp trên, phải thi vào trường Trung học ở Sài Gòn hay Cần Thơ, ngay như Rạch Giá cũng chưa có trường Trung học.

Phụ huynh học sinh thấy con em mình còn nhỏ mà phải đi học xa rất bất tiện nên viết đơn yêu cầu chính quyền và ông Thanh tra Tiểu học mở trường Trung học. Sau khi được duyệt, chính tôi là người cầm đơn lên thẳng Nha Trung Tiểu học Sài Gòn, xin gặp ông giám đốc Trần Văn Chức.

Năm sau, tức năm 1955 – 1956, Hà Tiên có lớp Trung học, xóa hẵn lớp Tiếp liên, ấy là lớp đệ thất (lớp 6). Có lớp nhưng chưa có trường, học sinh phải học nhờ một phòng ở dãy trường Nam tiểu học ( trường Tiểu học Đông Hồ ngày nay).

1/ Về cậu bé con nhà nghèo học giỏi.

Khi mới về Hà Tiên, lớp Tiếp Liên do tôi phụ trách có 40 em. Đặc biệt có một em trai con nhà nghèo nhưng học thật giỏi, giỏi đều các môn, trội nhất là môn toán. Với tư chất thông minh nhưng em rất điềm đạm, lễ phép và khiêm tốn, gần như an phận thủ thường, khác hẳn các học sinh trong lớp. Ấy là em Đường Minh Phương. Cả bốn năm sau (Thất – Lục – Ngũ – Tứ) tôi đều dạy em. Nhà em chỉ là một cái chòi lá nhỏ dột nát trên đỉnh núi Bình San. Mẹ em là một Phật tử thuần thành, khi chồng đi kháng chiến, bà như một người đàn bà góa, tảo tần nuôi sáu đứa con dại. Sau đó, bà xuống tóc, mặc áo già lam thoạt trông như cô vải ở am…

Anh Trần Văn Bân, quê ở Tiền Giang là đồng nghiệp, dạy trước tôi một năm, thấy hoàn cảnh nhà Phương nghèo, anh xin mẹ em cho anh nuôi em ăn học. Thế là em về ở với anh Bân. Phần tôi thời đó, đã nuôi em Mao Xuân Kia. Năm 1958, anh Bân đổi về quê, tôi tiếp tục nuôi em Phương tại nhà tôi, như vậy lúc đó tôi nuôi hai em học sinh. Thấy hai em đêm đêm ngồi bên ngọn đèn “trứng vịt” học tập, tôi rất thương. Em Phương luôn là học sinh xuất sắc của Trường Trung học Hà Tiên.

Đến những năm 1956, 1957, Giáo Hội Phật Giáo bắt đầu quan tâm đến các chùa chiền ở thôn quê, từ đó chùa chiền được gầy dụng lại. Chùa Vạn Hòa ở xã Dương Hòa (Hà Tiên) có hai thầy Thích Thiện Hoa và Thích Thiện Hòa; chùa Tam Bảo có hai thầy Thích Huyền Vi, và Thích Thanh Từ về mở đường khai lối.

Thời gian thọ giáo với hai thầy, tôi cùng một số các bạn được qui y ngũ giới . Thầy Huyền Vi thọ ký lễ qui y của chúng tôi, thầy đặt cho tôi pháp danh Minh Ân và ban cho những lời khuyên dạy ân cần. Khi hai thầy về Sài Gòn, chúng tôi tiếp tục vô chùa lo Phật sự và thành lập đội thiếu nhi Phật tử, qui tụ nhiều học sinh của mình. Trong đội thiếu nhi Phật tử, em Đường Minh Phương hoạt động rất chăm chỉ.

Qua năm 1956, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và trở thành một cấp quận, chánh quyền mới chủ trương áp chế các nhóm đối lập. Năm 1959 thầy giáo Trần Phát Đạt (bác Thiện Niệm), thầy Rép quê ở Mỏ Cày – Bến Tre, ông Quách Ngọc Bá (chủ tiệm chụp hình), Ông Lý Văn Hai (công chức) bị bắt đi tù. Ông Huỳnh Văn Thuần, thư ký hành chánh tòa bố Hà Tiên bị giết. Thầy giáo Nguyễn Văn Nhường bị tống khứ ra Quãng Ngãi. Riêng tôi bị đày ra Phan Rang vì bị khép vào tội có liên lạc với người anh ruột đi tập kết. Tôi đi rồi, em Phương và em Xuân Kia vẫn ở nhà mẹ tôi để đi học. Suốt mấy năm trời tôi vắng nhà, chính hai em là người kề cận chăm sóc mẹ tôi.

Phát triển là quy luật của xã hội, dần dà Trường Trung học Hà Tiên mở đủ các lớp, đến lớp đệ nhị, đệ nhất (lớp 11-12 bây giờ). Phương học đến lớp đệ tam (lớp 10) thì thi vào Trường Sư phạm Vĩnh Long, cấp Tiểu học. Ra trường, em về Hà Tiên dạy 2 – 3 năm thì chuyển về Vĩnh Long. Vì cuộc sống, em với tôi mất liên lạc một thời gian. Sau đó, tôi biết em lập gia đình ở Vĩnh Long và gặp duyên lành, người bạn đời của em cũng là một Phật tử thuần thành. Nhạc mẫu của em đang tu tại gia, ngày đêm kinh mõ không thôi.

2/ Một nhà giáo có chí hướng tự học và tự lập.

Khi gặp lại em, tôi không ngờ bây giờ em là một giáo sư có bằng cử nhân Văn khoa (thời ấy giáo viên Trung học được gọi là giáo sư). Tôi khen em, học Toán giỏi mà đi Văn khoa cũng giỏi luôn. Em cười đáp: “Chính thầy dạy em, thầy cũng tự học để có Tú tài toàn phần”. Em kể chuyện vừa dạy vừa học vừa làm kinh tế nuôi gia đình có hai con nhỏ, tôi phải cúi đầu tâm phục khẩu phục.

Với em, khi lên lớp là giáo án đầy đủ, giáo cụ trực quan đầy đủ, chấm bài, phê bài đầy đủ. Còn chuyện học là học hàm thụ, tự tìm sách học, mày mò qua tài liệu, không ai giảng, không ai hướng dẫn bài làm. Có chương trình thì cứ thế mà học, đến kỳ kiểm tra, phải nộp bài qua đường bưu điện hoặc đi xe về Sài Gòn. Chưa hết, có khi phải đương đầu với cảnh con khóc, heo kêu, vợ ốm… Rồi có lúc em vỡ đất làm rẫy, mở lớp luyện thi tú tài, thi đại học. Học trò của em thi đâu đậu đó, lớp luyện thi thường đạt từ 80-90%, tiếng vang khắp giới học sinh, sinh viên Vĩnh Long. Thời đó, đến Vĩnh Long, hỏi tên em, học trò ai cũng biết. Thằng con tôi ở Hà Tiên vừa học xong lớp 12, chạy về “thọ giáo” chú Phương, luyện  hai tháng, đậu ngay.

Trong một bức thư gửi cho các con tôi, em viết khi giải thích hai chữ “hạnh phúc”: “…Còn hạnh phúc thì chú xin nhắc hai cháu, nó không ở đâu xa mà phải tìm, mà nó luôn ở bên mình ta, nó do ở cách suy nghĩ, cách nói và cách sống biết tri túc là có hạnh phúc. Hiện tại nhờ chú sống trong chánh niệm mà thân tâm được an lạc.

Buổi sáng thức dậy thấy mình khỏe mạnh, mình nhớ đến những người đang chờ ca mổ, hay bệnh ở nhà thương, nghĩ vậy mà hạnh phúc.

Đến giờ đi dạy thì nghĩ mình đem sự hiểu biết về khoa học mà giúp cho các em thoát dốt, do đó mình sẽ vui vẻ, thoải mái suốt 2 giờ lên lớp, mình thấy hạnh phúc với đám trẻ dại khờ, nếu mình nghĩ đến đồng lương mình sẽ thấy bực bội và sẽ sống đau khổ suốt hai giờ lên lớp.

Về nhà khen vợ một câu: “Em nấu canh ngon quá”, thế là vợ hết mệt nhọc, mình vui vẻ suốt bữa ăn…

Thôi, chú chỉ nói sơ để các cháu có dịp suy nghĩ…”

3/ Được Bổn Sư ân cần dẫn dắt, hoàn thành sứ mệnh trong thiết lập các thiền viện ở Việt Nam.

Bản tánh hiền hòa, chịu thương chịu khó lại được sống trong môi trường Phật pháp, em Phương bắt đầu nghiên cứu đạo Phật. Lời Phật mở ra cho em con đường chân lý, đó là giải thoát khổ đau, tiêu trừ nghiệp chướng luân hồi. Em phải mất mười năm nghiên cứu, học tập và thử thách. Sau khi làm tròn bổn phận người cha, người chồng, người con, em dứt khoát thoát ly bể ái, chính thức xuất gia đầu Phật dưới sự cho phép của Bổn Sư Thích Thanh Từ. Từ đó mở ra trang sử mới đời em với pháp danh Thích Kiến Nguyệt.

Tỳ kheo Kiến Nguyệt được Hòa thượng hết lòng tin yêu, cho tu tập tại Đà Lạt đồng thời giúp Hòa thượng trong công việc xây cất Thiền viện Trúc Lâm nơi đây. Và những lần Hòa thượng đi hoằng hóa ở các nước châu Âu, Tỳ kheo cũng được Hòa thượng cho đi cùng, vừa để nhìn xa thấy rộng vừa giúp Hòa thượng hoàn thành những thước phim, những pô hình lưu dấu bước chân Ngài… Nhờ tri thức và trí thông minh sẵn có, khi được đi nhiều, được tiếp cận nền văn văn minh tiến bộ của nhân loại, Tỳ kheo Kiến Nguyệt có sự hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật kiến trúc, tự mình khai phá, kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông-Tây mà điển hình là mô hình kiến trúc chùa chiền, làm sao để không đánh mất hồn dân tộc ở thời hội nhập của Việt Nam, thế kỷ XXI…

Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt vừa hoàn thành, Hòa thượng Thanh Từ lại giao sứ mệnh xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh) cho Tỳ kheo Kiến Nguyệt. Không ngờ với công trình này, Tỳ kheo được Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như trong dân chúng khâm phục và công nhận tài năng. Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt đã oai nghi đẹp đẽ mà Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử còn đẹp hơn, mỗi nơi một vẻ, vừa mang nét dịu dàng cổ kính vừa uy nghi, hoành tráng, quy tụ toàn bộ tinh hoa tinh túy tâm hồn Phật giáo Việt Nam. Khách du lịch trong và ngoài nước đua nhau về đây chiêm bái chiêm ngưỡng, mỗi ngày một đông.

Công trình vừa mỹ mãn, Tỳ kheo Kiến Nguyệt liền được thụ phong Đại đức và rồi không lâu sau, Đại đức nhận nhiệm vụ mới, chịu trách nhiệm thiết kế, hoàn thành Thiền viện Tây Thiên nơi vùng núi Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Muốn có nước dùng trong xây dựng cũng như trong sinh hoạt hằng ngày cả cho khách tham quan, Đại Đức nghiên cứu, thực hiện hệ thống dẫn nước từ trên đỉnh núi xuống. Và từ con đường ngoằn ngoèo từ chân núi lên thiền viện đến viện gạch lát nền; từ những bậc cấp bước lên cho đến  đường dây điện âm tường, đâu đâu cũng in dấu trí óc, bàn tay thầy Kiến Nguyệt. Thiền viện này có quy mô lớn hơn, công trình vĩ đại hơn Thiền viện Yên Tử và đẹp nhất Việt Nam lúc đó. Nhìn bãi đậu xe mênh mông, lúc nào cũng ngập xe nằm chờ, ta biết ngay lực hút khách tham quan nơi đây như thế nào.

Qua việc làm của mình, Đại đức Kiến Nguyệt được chánh quyền cấp trên khen ngợi, đặc biệt được chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để Đại đức lo Phật sự. Người ta nói vui rằng trong xây dựng nhà cửa thì có kiến trúc sư còn trong xây dựng chùa chiền thì thầy Kiến Nguyệt là Sư kiến trúc. Bởi vậy, thầy Kiến Nguyệt được đề cử làm cố vấn trong công trình xây dựng khu du lịch chùa Bái Đính (tỉnh Ninh Bình) rất to lớn, nơi thực hiện tổ chức đại lễ Vesak thế giới năm 2008.

Phải nói rằng những thành công to lớn trong công cuộc hoằng hóa thiền phái Trúc Lâm trên cả nước, đặc biệt ở các tỉnh đồng bằng miền bắc, có công sức rất lớn của thầy Kiến Nguyệt.

***

Hôm ấy từng bước một, em dìu tôi đi lên những bậc thang vời vợi đến chóng mặt để đến cổng Thiền viện Tây Thiên. Ở chánh điện, tôi ôm em vào lòng, gọi em bằng Thầy và chỉ có nước mắt mới nói lên hết nỗi bất ngờ của hạnh phúc. Em cũng ôm lấy tôi, gọi mãi: “Xin thầy bớt xúc động”.

Tôi lưu lại đây mấy ngày, Thầy trụ trì Kiến Nguyệt đưa tôi tham quan khắp khu thiền viện. Có những nơi quá cao, vì sức khỏe, tôi chỉ đứng bên dưới nhìn lên, nghe Thầy dẫn giải, thuyết minh. Rồi Thầy đưa tôi đi thăm các danh lam thắng cảnh, các chùa cổ ở đất Bắc, như chùa Tiêu, chùa Thầy, chùa Đậu, chùa Trăm Gian, chùa Bái Đính, v.v. những nơi mà trước đây, tôi chỉ biết qua truyền thuyết, qua sách vở hay qua các tác phẩm văn học nước nhà. Lần đi này tôi được mở mắt như đứa trẻ mới học vỡ lòng…

Đại đức Thích Kiến Nguyệt thật sự là người Phật tử, người học trò của quê hương Hà Tiên vốn nổi danh đất Phật người hiền.

Hà Tiên đã sản sinh ra những đứa con như thế ■ 

***

Đại đức Thích Kiến Nguyệt cùng nhiều kỹ sư, kiến trúc sư danh tiếng trong cả nước thực hiện dự án “QUỐC THÁI DÂN AN ĐẠI PHẬT ĐÀI” ở miền bắc với lời nguyện cầu cho đất nước hòa bình, nhân dân an lạc.

Tác giả: Trương Minh Đạt  (Hà Tiên 09/2020)

Thầy Đường Minh Phương, thời gian là giáo sư Trường Trung Học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long. Hình nguồn: fb Lê Hồng Kỳ

Thầy Đường Minh Phương, chụp hình với một học sinh Trung Học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long. Hình nguồn: fb Lê Hồng Kỳ

Thầy Đường Minh Phương, nay là Đại Đức Thích Kiến Nguyệt, trụ trì Thiền viện Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam

Thầy Đường Minh Phương, nay là Đại Đức Thích Kiến Nguyệt

Thiền viện Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam

Hình trái: Thầy Trương Minh Đạt, tác giả bài viết « Từ một học sinh xuất sắc của Hà Tiên « ; hình phải: thầy Trần Văn Bân (nhà giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên vào những năm 1952…)

 

Hà Tiên và sự yên bình của một vùng đất cổ kính, nên thơ (Thầy Huỳnh Văn Hòa)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một điều chắc chắn là quý thầy cô của chúng ta cả hai bậc Trung và Tiểu học thời 60-70 ở Hà Tiên, ngoài một khả năng sư phạm được đào luyện rất cao cấp, vị nào cũng có một thiên tài về viết văn, làm thơ…Không kể tên ra, thầy cô và các bạn cũng đều biết vì đã có dịp đọc một số bài tuyệt tác đăng trên Blog nầy: thầy Nguyễn Lê Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy Nguyễn Phúc Hậu, cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô Dương Hồng Châu,.v…v… còn nhiều thầy cô nữa, xin phép tạm ngưng kể tên ở đây…Hôm nay mình được dịp nhận một bài viết của thầy Huỳnh Văn Hòa, bài viết rất hay, đặc sắc và có thể nói văn chương hòa trộn giữa hai khuynh hướng hiện thực và phóng khoáng…Hiện thực vì qua bài tự thuật, thầy Hòa đã đưa chúng ta về tận những năm 1960, với một xứ sở Hà Tiên thật là đẹp như thơ, hiện thực vì thầy viết ra không sót một chi tiết nhỏ nào đặc trưng cho cái khoảng không gian và thời gian ngày xưa đó, từng mỗi một giây phút thầy chạm trán với cuộc đời sau khi rời trường Sư Phạm để nhận nhiệm sở ở vùng Hà Tiên xa xôi…Từ nỗi nôn nao khi sắp được nhìn thấy núi xanh, thấy biển rộng, chan hòa cả người dưới làn ánh nắng rực rỡ và ngọn gió mát của vùng biển cho đến nỗi sợ hãi khi phải đương đầu với bóng đêm gần như vô tận mà chỉ có một thân một mình giũa đêm khuya, không một ai đồng bạn và không một ánh sáng, chỉ có tự tin vào mình để chiến thắng với một cái gì đó vô hình bên những bóng chim én bay chặp chờn ngoài lan can của căn phòng ngủ trọ…Phóng khoáng vì thầy đã tạo ra được một cái không khí nên thơ, cơn mộng hải hồ đi đó đây, tự do ngắm trời, mây nước và tận hưởng cái thú đi đường dù chỉ có một mình nhưng đầu óc rất là sảng khoái cho cuộc hành trình của mình…Phóng khoáng cũng vì đã tự nhận ra mình đã là hay đã thành một viên chức, thành một người thanh niên với cái phát triển tột độ của một cơ thể lành mạnh và một đầu óc sáng tỏ để đối mặt với một cuộc sống tự lập, tự làm chủ và tự mình lèo lái cho mình trong con đường mới để thi hành chức năng nhà giáo…

Nếu trong chúng ta, quý thầy cô và các bạn, muốn có một cái nhìn, một hình ảnh về Hà Tiên trong những năm 60, không phim ảnh hay bức hình nào toàn diện hơn là hãy đọc qua bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa, vì qua bài viết, thầy Hòa đã diễn tả và kể lại tất cả, từ cảnh con đường cát, đá với bụi vàng, đến những rừng cây nấm, cây đước, những ruộng muối miền ven biển,…Từ mùi vị tanh khó ăn của món cá kho nghệ đến mùi cá khô, cá chết báo hiệu xe chạy ngang qua chợ cá của Hà Tiên ngày xưa,…đến mùi ẩm mốc của căn phòng trọ trong khách sạn,…Buổi chiều dạo nhẹ nhàng vài bước trên vài con đường để đi thăm người quen, đến một đêm sợ ma quỷ không ngủ được vì chỉ có một mình trong căn phòng tối vắng…Nói tóm lại bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa là một di tích, một nhân chứng cho Hà Tiên ngày xưa, không thể không thán phục đầu tiên là tài viết văn rất có hồn và rất lôi cuốn của thầy, mà còn phải nể cái tài nhớ từng chi tiết nhỏ mà điển hình của thầy, chính lời văn thể hiện qua từng chi tiết nhỏ đó đã đưa chúng ta hay ít nhất là mình, khi đọc qua bài viết của thầy, đã thấm thía và nhớ rất nhiều Hà Tiên của những năm 60-70, khoảng thời gian mà ai trong chúng ta cũng đã sống thật sự một đời sống trai trẻ, nam thanh, nữ tú, vui và rất vô tư (tuy nhiên cũng biết rung động chút ít trước những hình bóng xinh đẹp của các bạn cùng trường lớp…). Xin thầy Huỳnh Văn Hòa nhận nơi đây lời cám ơn chân tình của mình, thầy đã giúp cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » tiếp tục đưa quý thầy cô và các bạn về trường xưa, lớp cũ để mơ mộng và tưởng nhớ …dù chỉ là để cuối cùng cũng phải trở về với hiện tại, nhưng sống có mộng mơ như thế có phải là đẹp không thầy cô và các bạn…(Paris 16/08/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Trước khi chánh thức vào bài của thầy Huỳnh Văn Hòa, mình cũng xin nói thêm là ngày xưa thầy Hòa cũng là người ở trọ cùng căn nhà đường Nhật Tảo, Hà Tiên với thầy Nguyễn Hồng Ẩn, hai thầy là bạn rất thân từ thưở đó và vẫn cho đến ngày hôm nay, thầy Ẩn đã có lời giới thiệu bài viết như sau: « Bạn tôi, Huỳnh Văn Hòa, đang thả hồn về ký ức xa xôi, xa khoảng 56 năm thôi, về một miền nhớ đã « đóng đinh » trong tiềm thức của anh một cách miên viễn. Anh chia sẻ với tôi vì tôi cũng là người bạn một thời đồng hành với anh nơi nầy. Tôi xin mạn phép anh, chuyển phần hoài niệm đầu tiên nầy cùng anh chị em xa gần, nhất là quý bạn đã, đang sống tại vùng đất thân thương nầy: Đất Phương Thành… »  (Nguyễn Hồng Ẩn)

HÀ TIÊN VÀ SỰ YÊN BÌNH CỦA MỘT VÙNG ĐẤT CỔ KÍNH, NÊN THƠ

A-HÀ TIÊN VÀ TÔI

Đến và đi, một thầy Hòa trong ký ức của bè bạn và học trò.
Cũng như ý nghĩ của thầy cô và các em, Hà Tiên xưa với địa danh, con đường góc phố cùng con người và sự kiện đều là dấu kỷ niệm của mỗi người. Nên chi đã cùng nhau làm sống lại một thời của quá khứ đúng là điều tuyệt vời như các “anh em” trong trang blog Hà Tiên Xưa đã làm. Hôm nay, tôi xin góp phần, mong các bạn đón nhận.

Cuộc sống của chúng ta vốn dĩ luôn biến động và đổi thay. Nhưng thật là may mắn, chúng ta còn đây như là chứng nhân và đang sống “người góc bể kẻ chân trời” nhưng nếu cùng hướng về, ta sẽ gặp lại nhau dù chỉ là trên trang giấy, phải không?
Thế nên để mở đầu tôi ghi lại đây đôi dòng về thuở tôi mới đến Hà Tiên, thời gian lưu lại và rời xa cho đến tận bây giờ như Mãnh, Patrice Trần, đã đề nghị để cho “mọi người” có được thông tin về tôi.
Một chút về tôi:
– Đến thị trấn Hà Tiên đúng 12 giờ 05 ngày 17/08/1964 bằng xe đò Rạch Giá-Hà Tiên. Lúc đó trời đang nắng bỗng đổ mưa mây. (Mưa phủ khắp thành phố bên kia bờ sông; đó là hình ảnh đẹp đầu tiên trước mắt tôi).
– Sau vài ngày phép, tôi đến nhận lớp tại trường Sơ cấp Lộc Trĩ Mũi Nai. Lúc đó thầy Thành, người Hà Tiên, làm Trưởng giáo. Đứng lớp hai năm, tôi được thuyên chuyển ra Tiểu Học Thị Trấn Hà Tiên. Lại đứng lớp gần hai năm cho tới cuối đông 1967 tôi rời Hà Tiên và nhập ngũ cùng lúc với thầy Nguyễn Hồng Ẩn.
Trong thời gian đứng lớp tại trường này, tôi có dạy một số giờ gọi là “phụ trội” môn Toán tại Trung Học Hà Tiên. Nhưng sau đó hơn hai tháng, tôi dành hết thời gian cho chương trình học tập mới. Nhân duyên với Trung học Hà Tiên ngắn ngủi thôi, nhưng thật ra tôi cũng có đôi chút kỷ niệm đẹp.

B- CHUYẾN XE KHÁCH VÀO ĐỜI.

Tôi còn nhớ lúc đó là ngày 17/08/1964…..
Xe đò nổ máy, thì ra tôi đã chờ hơn bốn mươi lăm phút chỉ vì muốn được ngồi trên băng ghế ngang bác tài. Hành trang của tôi, ngoài chiếc vali bằng gỗ thông còn có thêm hai bản nhạc mới mua đêm qua tại một hiệu sách. Đó là bản “EM ƠI ĐỪNG ĐẾN NỮA & HAI LỐI MỘNG “ của Khánh Băng.
Rạch Giá là thành phố biển nên hương vị muối mặn và cái lạnh của gió biển thật là ấn tượng.
Sau hơn hai mươi phút rời bến, xe băng qua cánh đồng rộng, hai bên đường thưa thớt những mái nhà lá , nhà tranh. Một con kinh nước không sâu, chạy dài theo lộ xe mà ít thấy ghe tàu qua lại.
Ngồi bên cạnh tài xế, nên tôi có dịp nhìn ngắm khoảng không gian mênh mông trước mặt. Buổi sáng hôm đó, trời rất đẹp, rực nắng vàng. Đường vắng và đôi khi có chỗ gập ghềnh đá, làm xe bị rung lắc kẻo kẹt như khi qua những cây cầu sắt lát ván có từ thời Pháp thuộc. Những cây cầu sắt này được canh giữ cẩn thận bởi lính canh trong đồn có kẽm gai được xây đắp ở hai phía đầu cầu.
Thỉnh thoảng có chiếc xe khách ngược chiều; lúc bấy giờ chưa có xe Honda.
Ngồi trên chiếc xe phon phon chạy, tôi thấy mình vui hẳn lên và bật ra lời ca với bản nhạc trên tay; tôi thì thầm hát , quên cả mọi người xung quanh khiến chú tài xế mỉm cười thông cảm.
Sau đó bác tài vui vẻ hỏi tôi: “Đây là lần đầu thầy đến Hà Tiên, phải không ?” Tôi vui vẻ đáp lời là “phải”, và từ đó tôi có được một hướng dẫn viên rất dễ thương. Chú ấy chắc hơn tôi chừng một con giáp.
Khi qua địa danh tên là Hòn Đất, tôi mới thấy được dáng núi thật xa về phía tây. Chẳng mấy chốc sau, tôi lại thấy dáng mờ sừng sững của ngọn núi Sập về phía phải của con đường. Điều gì tôi hỏi, chú tài xế đều chỉ dẫn hết. Đây là lần đầu tiên tôi thấy núi dù là từ phía xa. Còn biển! Chú tài xế bảo, chút nữa thầy sẽ thấy núi và biển kề bên khi ta qua khỏi Kiên Lương.
Xe vào thị trấn Kiên Lương. Vậy là ta đã vượt qua đoạn đường khoảng 60 km.
Xe dừng lại, có lẽ là ngang chợ. Tôi cũng xuống xe. Hàng cây sao bên lề đường được trồng từ thời Pháp thuộc, có vẻ cằn cỗi vì bám rễ vào lề đá. Đoạn này, mặt đường trải đá cũng từ thời Pháp nay vẫn còn nguyên; cho nên hàng cây sao và đoạn đường này là dấu tích còn lại của một quá khứ khi xứ ta là một thuộc địa.
Nghỉ xả hơi được chừng 10 phút, mọi người lên xe. Băng qua đoạn đường “bụi bậm” chẳng mấy chốc tôi thấy biển và ghe tàu đánh cá neo đậu trong kinh rạch. Mùi cá khô phảng phất trong gió. Đây là cụm dân cư đánh bắt cá biển. Nhà cửa hầu hết là “nhà tranh vách lá“.
Xe lại dừng giây lát rồi tiếp tục lăn bánh. Khi xe rẽ phải, băng qua cây cầu đá là ta trực chỉ Hà Tiên, bỏ lại phía sau là thị trấn Kiên Lương.
Đoạn đường này khá đẹp, bằng phẵng, có rừng cây nấm, cây đước ở phía tây, phía đông là những vuông ruộng muối. Vùng đất này bị ngập mặn và phèn chua nên cỏ trong đồng cũng không được tốt. Qua cánh đồng muối là cánh đồng lúa xanh rờn. Xa hơn nữa là những dãy núi. Cảnh ở đây đẹp như một bức tranh mùa thu.

C-SÓNG VỖ ÀO ÀO, MÕM NÚI GẬP GỀNH, HÀNG DỪA XANH LỘNG GIÓ

Đó là khoảng đường từ xã Dương Hoà đến xã Thuận Yên, một cảnh quan đẹp mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Bởi từ thuở bé tôi sống ở làng quê. Ruộng đồng là nơi ở, là nơi tôi cùng cha mẹ trốn giặc Pháp qua gần hết thời thơ ấu.
Khi được “ra chợ” học là tôi đã 12 tuổi rồi. Kể từ đó tôi đã trải qua 10 năm học để tốt nghiệp trung học và hai năm tiếp theo ở trường Sư Phạm; cho nên tôi nào có dịp đi đó đi đây. Thời của tôi là như thế đó. Chiến tranh và bom đạn, chạy giặc và học hành. Hôm nay chuyến xe này như là chuyến du lịch đầu tiên của tôi. Bởi vậy trong tôi có nhiều thay đổi trước khung trời bao la của núi rừng, của biển cả.
Qua khỏi xã Thuận Yên một đổi, chú tài xế thông báo “Thầy ơi! Sắp tới bến đò Tô Châu, thầy phải xuống xe qua phà, xe này không qua được vì ponton quay đã hư từ lâu rồi“. Qua khỏi xã Thuận Yên, con đường chạy dọc theo chân núi Tô Châu tiến thẳng đến bến phà và tôi thấy thị trấn Hà Tiên bên kia bờ sông mênh mông nước.
Xe dừng lại, tôi xem đồng hồ, vừa đúng 12 giờ 05. Mọi người đều xuống xe và nhận hành lý. Lúc đó tôi mới thấy được những người đồng hành với mình trong chuyến đi, phần đông là thương nhân xuôi ngược, đưa hàng qua lại giữa Hà Tiên – Rạch Giá. Cũng có người ăn mặc chỉnh tề, chừng như họ là cư dân Hà Tiên hay là những viên chức như tôi vậy!
Tôi vừa đở lấy chiếc vali từ mui xe và đưa vào lề đường thì trời bỗng đổ mưa mây, mưa giữa lúc bầu trời hãy còn nắng, thật đẹp nhất là nhìn qua thành phố bên kia mờ ảo trong mưa. Thiên nhiên là như thế đó. Rồi một ý nghĩ chợt đến: đợi một chuyến xe, mất không hơn một giờ mà hành trình thật là thi vị, tuyệt vời: bởi được đứng tại đây và vào giờ này thì mới thấy được hình ảnh đẹp của Hà Tiên trong mưa. Rồi lại thêm một ý nghĩ bất chợt : dòng đời ta đi, thong thả thôi có gì đâu mà vội!

D-BẾN ĐÒ TÔ CHÂU

– Một bữa ăn trưa tại vùng đất mới làm quen.

Tôi ngồi vào bàn một quán cơm bên đường. Tôi chọn món ăn theo lời giới thiệu của bác chủ quán. Khi đó trên đường đã thưa người, tốp xuống phà, tốp lên xe. Nhìn quanh tôi chỉ thấy dăm bảy quán đơn sơ, dọc theo con lộ đá, dẩn ra ponton phà. Một bên là rừng lá bạt ngàn (dọc bờ sông tiếp giáp với cửa biển) một bên là dãy nhà có quán nước và quán ăn mà phía sau là vách núi Tô Châu. Với hàng quán đơn sơ, sự buôn bán ở đây có lẽ chỉ phục vụ cho khách qua đường là chánh. Đang tìm hiểu thì thức ăn được mang ra: canh rong biển, cá biển kho nghệ và món thịt heo xào.
Chú tài xế xe khách giới thiệu quán cơm này và chú đã đi tìm chỗ nghỉ trưa rồi. Trong quán chỉ còn dăm ba thực khách.
Khi ăn xong chén canh rong biển, tôi bới cơm và dẻ cá tiếp tục. Cơm và cá kho nghệ đã vào miệng, thế mà tôi không thể nhai, không thể nuốt mà lại không thể nhả ra liền, thật là kinh khủng! Tôi chỉ biết bụm miệng với hai bàn tay. Cô gái dọn bàn tinh ý nhìn thấy: “Bộ thầy ăn cá không được hả?”
Tôi không còn nghe thấy gì nữa mà chạy qua bên kia đường. Kinh khủng quá! Khi trở lại bàn ăn, tôi thấy có nhiều cái nhìn và cười tội nghiệp. Bác chủ quán nhìn tôi và nói lời đề nghị đổi món cá kho nghệ cho tôi. Tôi cảm nhận sự ân cần của bác ấy và thấy hai món còn lại là đủ rồi nên nói lời cám ơn và tiếp tục bữa ăn. Cầm ly nước trà trên tay, tôi cảm nhận một điều, tất cả món ăn đều mang gia vị (hương vị) của địa phương (nầy) và người phương xa phải dần dần thích nghi mới được!

– Qua phà

Sau bữa cơm, tôi bách bộ trên đường, ngược về phía chân núi, ngắm nhìn, rồi trở lại; chưa thấy có tín hiệu gì của mùa thu ở đây.
Phà cập bến, tôi liền trở lại quán ăn, chú phụ khuân vác cùng chiếc rương đang đứng chờ, chú ấy sẽ mang hành lý qua bên kia bến phà và đưa tôi về khách sạn, như vậy rất thuận tiện cho tôi. Khoảng đường phút chốc đã đông người, kẻ đứng người đi. Đến lượt tôi theo dòng người xuống phà và tôi nhận ra cái ponton quay nhưng đã hư. Đây là phương tiện xe lên xuống phà. Khi mọi người đã tìm được cho mình một chỗ đứng, phà lui ra và vượt sông. Tôi hít thở gió biển và ngắm nhìn. Giờ này thành phố Hà Tiên đang trước mặt tôi và sẽ trong tim tôi, nếu mai này tôi không còn lưu lại nơi đây.
Phà cặp bến, tôi theo dòng người lần lượt lên bờ và kết thúc hành trình 90 km đường dài.
Chú khuân vác đã trở thành người phu xe lôi và chiếc vali của tôi cũng được chú ấy để lên xe rồi. Trên bến đò giờ này rất nhộn nhịp, hàng hóa, khuân vác, mang xách, xe lôi đạp và xe lam. Ai nấy cũng đều hối hả. Tôi cũng thấy thấm mệt, nên như mọi người tôi lên xe, tựa lưng vào nệm, chân gát lên vali. Xe lăn bánh. Tôi hít thở liên tiếp những hơi dài, người khoan khoái cảm nhận những thay đổi trong tâm: tôi đang là một viên chức, tôi được đổi mới và bỏ lại phía sau cái thời học trò của mình. Bất chợt mùi cá chết, mùi cá khô làm tôi nhận ra xe mình vừa tới chợ cá Hà Tiên, sân ngoài bề bộn rác. Dù vui ngắm nhìn bên ngoài, nhưng tôi cũng cảm thấy mình khoẻ hẳn ra; còn “bác tài”, người có dáng gầy nhưng rắn rỏi nên chiếc xe lăn bánh nhẹ nhàng trên đường .

Đường Trần Hầu chạy dọc theo bờ sông rộng, phía bờ bên kia là rừng lá bạt ngàn. Xe qua khách sạn Vân Tiên không xa, “bác tài” vừa cho xe chậm lại vừa nói: « Thầy ơi, tới khách sạn rồi” . Vậy là đi đoạn đường này chỉ mất khoảng 20 phút và bây giờ mới thực sự kết thúc hành trình.

E- ĐÊM TRỌ TẠI KHÁCH SẠN LÂM VĂN CAO

– Khách sạn và bữa cơm chiều đầu tiên tại thị trấn biên cương.

Người quản lý tiếp tôi tại phòng khách bên hông khách sạn. Sau khi làm thủ tục, tôi được hướng dẫn đến một phòng trên dãy lầu phía sau. Đó là một căn phòng khá rộng, một giường đôi và một cái bàn mà trên đó có một cái đèn bão. Quan sát khắp phòng, tôi nói với người quản lý: ”Sao phòng nầy hôi mốc quá vậy, chú?”. Để trả lời tôi, chú ấy diễn giải rằng: ”Vài năm trở lại đây không có khách trọ, thầy ạ. Mấy khách sạn khác cũng vậy. Tối nay thầy dùng cái đèn bão này bởi khách sạn không có điện. Thầy cần hỏi thêm điều gì không?”. Tôi chưa kịp trả lời thì chú ấy nó tiếp: ”Nếu không có gì thì tôi xin kiếu. Chúc thầy có giấc ngủ trưa an lành”. Chú ấy nói một mạch như thế rồi lui ra. Tôi vẫn để cửa mở cho gió thoảng làm bớt mùi mốc và ẩm ướt trong phòng, rồi ngả lưng trên giường đánh một giấc.
Khi chợt tỉnh sau một giấc ngủ thật say, người cảm thấy hưng phấn tôi liền bật dậy với ý nghĩ đi tìm người bạn theo lời chỉ dẫn của chú xe lôi đạp. Thế là sau khi làm vệ sinh thân thể, tôi mặc một bộ đồ mới và xuống đường Nguyễn Thần Hiến cặp bên khách sạn.
Buổi chiều hôm đó có nắng hanh vàng thật đẹp, bầu trời trong xanh cao thẳm và có gió ào ào thổi nhưng chừng như không phải là gió thu.
Vì là khách lạ mới đến nên tôi để mắt quan sát; phía trước khách sạn có hai cây dừa trồng trên mé sông và phía bên kia bên kia bờ sông rộng mênh mông là rừng lá trải dài từ bến đò Tô Châu đến biển. Nhìn về phía tây dọc theo đường Trần Hầu là bến cá Cầu Câu, là nơi ghe thuyền đánh bắt cá neo đậu. Ngược về hướng chợ là khách sạn Vân Tiên kề bên khách sạn Lâm Văn Cao. Đây là cảnh quan tôi nhận ra chiều hôm đó, ngày mai cũng có thể sẽ khác đi.
Tôi nghe trong gió thoảng có mùi cá khô, một mùi hết sức là đặc trưng. Thế rồi tôi rảo bước tìm nhà thầy Châu trên đường Nguyễn Thần Hiến. Dãy nhà hai bên đường đều có hàng rào bằng cây kiểng và mỗi nhà đều có sân phơi trống thoáng. Đây cũng là biễu hiện ý nghĩa cuộc sống ngăn nắp và bình yên của cư dân ở đây.
Đi một khoảng đường không xa, tôi tìm được nhà thầy Châu nhờ có hai cây dừa cặp hàng rào cọ hoa dâm bụt. Cuộc hội ngộ thật là vui dù chủ nhà và khách chưa có lần gặp nhau.
Tôi được anh chị Châu tiếp đón qua sự giới thiệu của anh Dư, bạn đồng khóa với tôi. Câu chuyện hội ngộ được mở đầu bằng sự ngạc nhiên, sau đó chúng tôi nói về trường sở, chỗ ăn ở cho những ngày sắp tới. Tôi cũng được anh chị Châu mời ở lại dùng bữa cơm chiều với gia đình và đề nghị tôi trả lại phòng khách sạn, đến trọ nhà anh chị đêm nay cùng với anh Dư. Tôi có lời cám ơn lòng hiếu khách của anh chị Châu và xin kiếu từ vì giờ này cũng gần sáu giờ chiều rồi.
Trở lại đường Trần Hầu, tôi đi thẳng ra chợ và đến quán cơm có một số thực khách đang ăn. Bửa cơm này rất ngon miệng dù cũng chỉ với các món canh, thịt kho và cá chiên. Có lẽ do tài nấu nướng của đầu bếp và vừa lúc tôi bị đói. Nhìn quanh trong khu chợ, chỉ có vài hàng quán bán cơm và rượu bia; bàn ghế cũng được bày hẳn ra lề đường. Người đi lại, thực khách, đèn đuốc và hàng quán làm cho bến chợ về đêm bớt vắng vẻ. Khi màn đêm xuống, đèn điện cũng không được sáng lắm. Tôi không thấy có người quen nên vừa ăn xong là tôi rời quán, lang thang một chút để biết Hà Tiên về đêm.
Tôi rảo bước mà chưa định hướng được mình đi đâu, cứ đi như là một khách lạ lang thang vậy thôi, bởi tôi chưa biết được đường nào khác ngoài bến đò, sân chợ và đường Trần Hầu. Dưới ánh trăng mờ và gió lạnh, bổng dưng tôi thấy nhớ nhà, nhớ mẹ và anh chị tôi, rồi một niềm bâng khuâng làm thẩn thờ cả bước đi. Nhưng mọi sự rồi cũng trôi qua. Tôi tự nhủ mình phải sống một cuộc đời như thế nào đây? Đã đến lúc mình phải tự lập rồi.
Nhớ lại quá khứ, nhất là giai đoạn học tập ở trường Sư Phạm. Thời gian này tôi có được cơ hội học tập, nghiên cứu âm nhạc, hội họa và cả thi ca từ đó mà phát sinh ra những đam mê và giờ đây trong tôi có đủ mọi thứ hành trang kể cả một tấm thân đạt đ̣ến mức hoàn chỉnh của một thanh niên, trạng thái tâm lý cũng thế nhất là những cảm xúc. Vậy là: “Ta đến một khung trời mới với một con người chừng như mạnh mẽ hơn và dấn thân hơn”!.
Những dòng suy tư này đã chiếm một nửa thời gian của một buổi tối đầu tiên dạo phố. Tôi về đến khách sạn khoảng hai mươi giờ. Sau khi uống một tách trà nóng và trò chuyện xã giao với chú quản lý, tôi trở về phòng nghỉ ngơi.

– Đêm chập chờn với “hình ma bóng quỷ” *

Tôi đóng cửa phòng, nằm hít thở mùi ẩm mốc thoang thoảng. Bởi còn có những ý nghĩ nên giấc ngủ chưa đến. Bây giờ và ở đây tôi đang đối diện với một thực tế cô đơn và âu lo. Hơn một giờ trôi qua, nằm trăn trở trên nệm giường lạnh lẽo mà vẩn chưa ngủ được. Tôi tung chăn, ra khỏi phòng và bước ra hành lang phía trước. Tựa trên thành lan can, tôi nhìn bóng đêm lờ mờ trong ánh trăng lu, nghe gió thổi và tiếng sóng gào. Đặc biệt là tiếng chim én. Chúng bay lượn thành đàn, bay lượn sát cả mái hiên trước mặt tôi, chừng như đưa tay ra là đụng vào chúng. Đêm trở nên bao la hơn cùng với mặt nước mênh mông loang loáng ánh trăng. Đây là một bức tranh về đêm của Hà Tiên, xứ thơ vốn nổi tiếng với Tao Đàn Chiêu Anh Các, với Dì Tự, với Đông Hồ, Tương Phố! Rất đáng tiếc khi tôi đứng ̣đây chỉ có một mình. Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, trời càng về khuya gió càng lạnh nên tôi trở về phòng. Đã gần một giờ khuya rồi.
Nhìn lối đi dẫn đến phòng tôi cảm thấy ớn lạnh. Tất cả chìm trong bóng tối và không có khách trọ thứ hai nào trên cái tầng lầu xa lạ nầy kể cả trong khách sạn. Nhưng dù sao tôi cũng phải trở về phòng ngủ và đóng cửa lại thì ổn hơn là đứng ở đây. Thế là tôi lấy hết can đảm vượt qua vùng bóng tối, mở cửa phòng, vào và đóng sập lại, cài then, móc khoá cẩn thận.
Nằm trên giường, kéo chăn trùm kín người, tôi lắng nghe cái gì đó trong đêm. Tất cả vẫn vắng lặng im lìm. Đắp chăn nhưng tôi thấy lạnh lẽo khác thường; chăn nệm lạnh tanh, tay chân tôi cũng quá lạnh. Bất chợt một nỗi lo sợ làm tôi phát run trước một ảo ảnh chập chờn lấp ló trong phòng. Tôi tung chăn và xách đèn bão xuống cầu thang tìm anh quản lý. Nhưng hởi ơi! Chú ấy không có ở trong phòng, chú đã khóa cửa và rời khách sạn từ lúc nào rồi. Vậy là bây giờ chỉ có mỗi một mình tôi trong cái khách sạn xa lạ này, khiếp thật. Tôi tức tốc vọt lên cầu thang với cái đèn bão trong tay và nhanh chóng chui vào phòng, đóng cửa cài then lại. Nhìn cái đèn bão, tôi thấy dầu chỉ còn một nửa. Nếu tôi vặn đèn sáng lên thì dầu sẽ hết sớm, đèn tắt, còn để mập mờ thì tôi sợ bóng chập chờn cuối phòng. Cho nên tôi quyết định kiểm tra góc phòng, gầm giường, cả dưới cái bàn nữa; tất cả đều trống không.
Tạm yên đôi chút, tôi trở lại giường và kéo chăn đắp kín người. Cả giờ trôi qua mà tôi không ngủ được. Tôi bị một ám ảnh ghê rợn về hình ảnh của một con quỷ cụt đầu, con ma đói với đôi mắt trừng trừng, rồi con quỷ cái xỏa tóc. Tôi cố xua tan tất cả để tìm giấc ngủ nhưng không thể. Tôi tự hỏi bây giờ phải làm sao đây? Chạy ra hành lan kêu cứu chăng? Không thể làm như thế được bởi tôi là khách lạ xuất hiện trong đêm khuya này. Bị dồn vào thế bí, chỉ còn cách tự tin vào mình thôi để có thể đối diện với một sự thật: có quỷ có ma thật không hay chỉ là hình ma bóng quế có từ tâm mình!
Tôi ngồi phắt dậy trên mép giường, một chân chống sàn, hai tay chống trên mép giường trong tư thế sẵn sàng và tôi dõng dạc khiêu khích: Tao đây, tao đã sẵn sàng. Con ma quái nào? Chúng mầy hiện hình trước mặt tao đi để “ta” xem mặt mũi chúng mầy ra sao? Thế nào? Có nghe thấy lời tao không? Chúng mầy có gan thì hiện hình ra đi. Tao thách chúng mầy đấy, có nghe thấy tao nói không?
Mạnh giọng như thế tôi thấy bừng dậy trong lòng một sức mạnh và sẵn sàng đối diện với mọi tình huống. Nhưng tim tôi lại đập thình thịch và nhanh quá. Ánh sáng của cái đèn bão trên bàn có thể giúp tôi quan sát và chờ đợi mọi động tịnh. Thời gian nặng nề trôi qua, mọi sự vẫn im lìm, “lạnh ngắt như tờ”. Tôi tiếp tục thách thức một cách dõng dạc :”Ta chờ ba phút nữa nếu chúng mầy không xuất hiện thì coi như chúng mầy sợ tao hay chúng mầy là hư ảo, chúng mầy không có thật trong khách sạn này”. Tôi lẩm bẩm như thế và đợi chờ: một phút, rồi hai phút, ba phút trôi qua … không có gì cả. Tôi thấy nhẹ nhõm. Thế là tôi quả quyết thực sự không có con ma con quỷ nào cả, chính niềm tin này làm dịu lại sự căng thẳng quá mức trong tôi. Sau một lúc yên lặng là sự bình tỉnh trở lại. Đây là vấn đề liên hệ đến ấn tượng tâm linh. Giờ đây nghĩ lại nếu rơi vào trường hợp tương tự, tôi không thể không sợ hãi.
Tôi ngả lưng xuống giường và thiếp đi trong mệt mỏi.
Sáng dậy rất trễ và hãy còn mệt mỏi, tôi vội xuống chất vấn ông quản lý:
– Hồi hôm sao ông bỏ tôi một mình trong khách sạn này vậy?
– Xin lỗi thầy. Bởi chiều qua vợ tôi bị bịnh, hay tin lúc đưa thầy lên nhận phòng và tôi phải tức tốc trở về nhà. Khi trở lại thì thấy thầy đã ngủ nên tôi lại về nhà.
Nói về “hình ma bóng quế”: đó là ấn tượng mà tôi đã có từ thời thơ ấu qua những lần đi coi « lên đồng”, “múa bóng” để chữa bịnh tà, ma quỷ xuất hiện lúc đó và đó là quyền lực của cõi âm mà gia chủ phải cầu xin.

Huỳnh Văn Hòa
August 1st, 2020
*Phần này được viết sau một chuyến về thăm lại Hà Tiên và đi ngang khách sạn Lâm Văn Cao. Lúc đó sông Hà Tiên được san lấp hai bên bờ và nhà phố cũng đã có xây dựng. Sự đổi thay làm bồi hồi trong dạ nên “khơi lại đóng tro tàn” ghi dấu kỷ niệm xưa của một đêm không ngủ.

Thầy Huỳnh Văn Hòa: hình trái và giữa: chân dung trong những năm dạy học tại Hà Tiên (1964-1967); hình phải: chân dung hiện nay (Cần Thơ)

Quang cảnh thành phố Hà Tiên trong những năm 50-60 nhìn từ cầu bắc bên xóm Tô Châu, có lẽ đây là cảnh chợ Hà Tiên mà thầy Huỳnh Văn Hòa nhìn thấy lần đầu tiên khi sắp sửa qua phà để tới chợ Hà Tiên. Hình: Hieu_Nguyen

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Bên góc phải là khách sạn Vân Tiên. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) trong những năm 70. Quang cảnh đúng như trong câu chuyện tự kể do thầy Huỳnh Văn Hòa viết. Hình: H.L Serra

Bên trái: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, bên phải: Thầy Huỳnh Văn Hòa (những năm 60). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Bên trái là Thầy Châu (người được nhắc đến trong câu chuyện), bên phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, chiếc mini Vespa là của thầy Huỳnh Văn Hòa, phía xa là Thạch Động. (1966). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Học sinh thời Trung Học Hà Tiên (những năm 60) đi chơi cùng với quý thầy ở bãi biển Mũi Nai Hà Tiên. Thầy Huỳnh Văn Hòa đứng bìa trái mang kính đen, thầy Trương Minh Hiển phía trên, đội nón trắng, áo xám đen, trên cùng thầy Nguyễn Hồng Ẩn, áo đen. Hình: TVM

Tái bút: Khi đăng bài viết nầy, ngày mai sẽ là ngày 17/08/2020, nếu tính như trong bài viết thầy Huỳnh Văn Hòa đặt chân đến vùng Hà Tiên ngày 17/08/1964, như vậy là đúng tròn 56 năm…..Có phải là một sự ngẫu nhiên rất đẹp…

Đây là một trong hai bản nhạc mà thầy Huỳnh Văn Hòa đã mua ở một hiệu sách bên Rạch Giá trước khi đi xe đến Hà Tiên. « Em ơi đừng đến nữa », Khánh Băng.

Nhớ chuyện hàng nội hóa (Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nhớ lại quá trình học bậc Tiểu Học, dến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào bậc Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu «chuyển động», «động tử», «vòi nước chảy»,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd.

Ngày nay cô Nguyễn Phước Thị Liên, sau khi đọc bài về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian, thấy có đoạn mình kể lại chuyện thi lên lớp Đệ Thất niên khóa 1962-1963, với đề tài bài luận văn « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », cô mới nhớ lại các mặt hàng nội hóa ngày xưa mà bậc anh chị, cha mẹ chúng ta thường dùng, các mặt hàng nào là dầu khuynh diệp Bác Sĩ Tín, dầu cảm mạo Nhị Thiên Đường, xà bông thơm Cô Ba..v..v.. Cô Liên có nhã ý viết một bài vừa nhắc chuyện xưa thời học sinh có « cậu bé » làm bài luận văn « xuất sắc » về đề tài hàng nội hóa, vừa viết tiếp nối phần bình luận dở dang ngày xưa mà mình chưa đạt hết mức độ để được chấm đâu lên lớp, và cô đã ghi tiểu đề là « Tặng Trần Văn Mãnh, Paris, thí sinh Tiểu Học Hà Tiên 57 năm trước đã làm bài luận văn « Dùng hàng nội hóa… » xuất sắc…

Thành thật cám ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên đã bỏ thời giờ quý báu vốn thường dành để viết truyện dài, truyện ngắn trong công cuộc nhà văn của cô, để viết ra một bài rất thú vị, giúp vui và gợi ý cho tất cả chúng ta suy nghĩ về một đề tài mà 57 năm về trước ngành giáo dục nước nhà đã đề ra cho con em học sinh bình luận. Hy vọng là bài viết của cô sẽ cho chúng ta một điểm son, một hướng trong công cuộc tiêu thụ mua sắm vật dụng hằng ngày, và nếu có một ít thời giờ rảnh rổi, mời thầy cô và các bạn cứ tiếp tục xem như vẫn còn ngồi ở bàn học để làm bài thi phần luận văn với cái đề tài « Dùng hàng nội hóa là yêu nước », vì đúng như cô đã kết luận « cái đề tài luận văn, tôi nói hoài với tôi, với mọi người mà không biết chán ».  (TVM, Paris 04/08/2020, viết lời giới thiệu)

Nhớ chuyện hàng nội hóa (Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Tặng Trần Văn Mãnh, Paris *

“Hà Tiên thập cảnh”,“Hà Tiên đất Phật người hiền” là câu nói được  người đời khen tặng cho xứ sở này nhưng Hà Tiên lại là nơi nổi tiếng…buôn lậu. (Có từ thời Mạc Cửu đến khai hoang mở đất).

Hàng hóa bất kỳ nước nào sản xuất mà từ Thái Lan chuyển lậu đến Hà Tiên, đều được nói gọn là hàng Thái, như: dép Thái, chiếu Thái, xà bông Thái, nhang Thái, dầu gội, sữa, nước ngọt Thái và nhiều thứ “Thái” khác. Có người nói: “Sống ở Hà Tiên mà không dùng hàng Thái thì không phải người Hà Tiên.” Thói quen không dùng hàng Thái thấy khó chịu, xem như mình “quê”, liền viện cớ hàng nước mình không tốt lại mắc, tội gì không dùng hàng Thái. Câu nói đầy thách thức cả khiêu khích làm đau đầu giới doanh nhân doanh nghiệp nước nhà.

Bỗng nhiên như một phép lạ, ngày 10 tháng 12 năm 2017, Hà Tiên ra mắt Siêu thị Coop Mart, nằm ngay con đường huyết mạch Mạc Công Du.

Ôi! Làm sao nói hết nỗi vui mừng của dân Hà Tiên hôm ấy. Ngày ngày và cả tối, thiên hạ đua nhau vào siêu thị cứ là nườm nượp, mua sắm đã thèm các mặt hàng nội hóa lớn nhỏ trên đời.

Thưa bạn, “Ôn cố tri tân” là bài học xưa nay. Tôi  nhớ, cách đây 57 năm,( năm học 1962-1963), trong kỳ thi chuyển cấp Tiểu học lên Trung học, tức lớp Năm lên lớp Sáu bây giờ, thí sinh nhóc con Hà Tiên phải làm bài luận văn: Bình luận câu: “Dùng hàng nội hóa là yêu nước”. Và sau đó cố nhạc sĩ Phạm Duy cổ xúy lời kêu gọi toàn dân dùng hàng nội hóa, ông sáng tác ca khúc thật thà dễ thương:

Ta tuy khen của người/ mà ta không chê của ta/ Nhưng dầu sao đi nữa/ Ta về/ ta tắm ao ta/ dù trong dù đục/ Ao nhà vẫn hơn.

Bài hát nhằm trúng tim đen người tiêu dùng. Thế là người người đua nhau mua sắm hàng nội hóa, từ  sa-tanh Tuyết Nhung, tơ tằm Phan Rang, lảnh mỹ a Tân Châu  đến kem thoa mặt Thorakao, cù là Mát Xu, khuynh diệp Bác sĩ Tín, dầu cảm mạo Nhị Thiên Đường đến cục xà bông thơm Cô Ba.v.v…

Và có ai còn nhớ không ta? Cái mặt ông Chà Và đen thui nơi ống kem đánh răng HYNOS. Ổng cười, đưa hết hai hàm răng tuyệt trắng, làm mình tự nhiên mà cười lại. Tinh mơ thức dậy đánh răng  là được cười như thế. An lạc như thế. Rồi thương. Thương kem hay thương hình thương bóng. Ai biết. Chỉ biết hiện có thằng Hy-Nốt bằng xương bằng thịt đã vào Tiểu học. Bà ngoại đặt tên thằng cháu đen thui của mình theo tình cảm và hình bóng ông Chà Và trong ký ức .

Lại được biết khi Pháp thua trận ở Việt Nam, toàn bộ hàng hóa của họ trên đất nước này  phải lui về bổn xứ thì Việt Nam ta làm ra nhiều mặt hàng tiêu dùng, nổi tiếng là hai hiệu sữa đặt có đường, hình thức giống lon sữa Con Chim, sữa Mont Blanc của Pháp. Một hiệu được dán hình ông già đầu hói, râu tóc bạc phơ mà khỏe mạnh vui tươi. Hiệu kia là hình viên kim cương to đùng phóng chiếu nhiều tia sáng. Người đời “thấy sao nói vậy”, gọi đó là Sữa Ông Thọ, Sữa Kim Cương.

Riêng tôi, mấy chục năm dùng hàng nội hóa mà nhớ nhất là mặt hàng Sữa Ông Thọ vì giữa tôi và “Ông” có nhiều kỷ niệm: Nhà nghèo, thỉnh thoảng chị em tôi mới được mẹ cho uống sữa, phải là sữa Ông Thọ. Có lần tôi bị tiêu chảy vì tham, đã pha nhiều sữa lại là sữa cũ, nước thì chưa đủ sôi! Mẹ không tìm hiểu, đổ thừa “Ông Thọ không tốt”. Bây giờ nghĩ lại thấy tội nghiệp “ổng” rồi tự nhiên mà thương cả con đường lịch sử ông đi đến người tiêu dùng sau năm 1975 đầy chông gai trắc trở.

“Ông Thọ. Vị ngon cùng năm tháng”. Đúng thế. Ông theo gia đình tôi  từ khi “Ổng ra đời”. Đến nay tôi đã có đàn cháu nội-ngoại, lúc nhỏ đứa nào cũng bú Sữa Ông Thọ, mập tròn dễ thương chẳng khác hình ảnh hai chú bé quấn quýt bên Ông in ở nhản hiệu. Bởi thế mà có thằng cháu nội tên là Thọ, tôi thường khoe, cũng đúng thôi.

Thật không ngờ, trải qua bao năm tháng ê chề đắng cay mà nay tôi còn giữ cái khui sữa Ông Thọ (nói chung là khui đồ hộp). Các bạn biết không? Nó đen bóng mà còn bén, lắc lẻo trong chùm chìa khóa của tôi mặc dù bây giờ lon sữa đã có cái nắp bật rất tiện lợi. Và cũng chừng ấy thời gian, lon sữa Ông Thọ nằm trong khạp gạo gia đình tôi, có lúc te tua vì nạo vét (để ra cơm!) Có khi “Ổng” là lon cắm nhang dịp cúng thổ thần, là lon muối gạo, cúng cô hồn…

Nhân đây nói chuyện “Sản phẩm và Người tiêu dùng”. Theo tôi, vấn đề Chất lượng – Giá thành – Uy tín là then chốt. Tiền nào của nấy. Đừng để Tiền – Của không tương xứng. Và để tăng thẩm mỹ, giảm chi phí, ta không nên tô phẩm màu hóa học lòe lọet, chữ nghĩa to nhỏ chằng chịt nghiêng ngửa, ý tưởng lao xao trên mỗi bao bì sản phẩm như các nhản hiệu mì ăn liền và các nhản hiệu khác hiện nay. Ai cũng biết phẩm màu hóa hoc nếu lẫn vào thức ăn, sẽ không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng. Hơn nữa giản dị là nét đẹp văn minh sang trọng của con người trong cuộc sống. “ Xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ” là câu nói của người xưa ./..

Dùng hàng nôi hóa là yêu nước, cái đề tài luận văn, tôi nói hoài với tôi với mọi người mà không biết chán./.

* Thí sinh tiểu học Hà Tiên 57 năm trước đã làm bài luân văn “Dùng hàng nôi hóa…” xuất sắc

Tác giả bài viết, cô Nguyễn Phước Thị Liên. Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên.

Vài mặt hàng nội hóa ngày xưa.

 

Thú điền viên (Nguyễn Thị Thu)

Thầy cô và các bạn thân mến, thêm một lần nữa chúng ta đã thấy cái kết quả bất ngờ và kỳ diệu của nhịp cầu « face book »….Thật vậy thầy cô ạ, cách đây vài tuần, nhân dịp cô Nguyễn Phước Thị Liên đọc một bài viết về những kỷ niệm vui buồn thời học sinh mà mình giới thiệu cho cô đọc, sau khi đọc bài xong cô cũng tỏ ý bất ngờ vì biết là mình cũng có quen với một người em gái ngày xưa ở trường Trung Học Hà Tiên, đó là em Nguyễn Thị Thủy (nhân vật trong bài « Thư Tình Toán Học »), vì cô nói là cô cũng có nhiều liên hệ với gia đình của em Thủy, nhất là đã có nhiều lần dạo chơi chung với chị Nguyễn Thị Thu, chị của em Thủy…Sau đó cô Liên có chia sẻ cho mình vài tấm hình rất xa xưa trong những sinh hoạt với chị Thu…Mình cũng đã có ý định tìm lại tin tức của gia đình chị Thu, ý cũng chỉ muốn có tin những người đã từng học dưới mái trường « Trung Học Hà Tiên Xưa » để giới thiệu nhịp cầu Blog của mình để thầy cô và bạn học xưa có dịp gặp lại dù chỉ trên mạng ảo…Gia đình của chị Thu có rất nhiều người là học sinh của trường Trung Học Hà Tiên và có liên hệ đến gia đình mình: chị Nguyễn Thị Thu là bạn học chung lớp với chị bạn dì Huỳnh Thị Kim của mình (và cũng chung lớp học với chị Nguyễn Thị Hoa, một trong những hoa hậu của trường Hà Tiên xưa…), em của chị Thu là Nguyễn Quốc Tân, là bạn học cùng lớp với anh Trần Văn Dõng của mình…Do đó từ lâu mình đã hỏi thăm những bạn bè quen định cư ở nước Mỹ, ai cũng biết gia đình chị Thu nhưng không có tin tức cụ thể…Khi có được một tấm hình trong đó có mặt chị Thu do cô Liên chia sẻ, mình mạo muội trích đăng hình chị Thu trên trang fb của mình với một bài viết ngắn, mục đích để hỏi thăm thầy cô và các bạn khắp nơi, nếu ai có thông tin thì cho biết…

Nội dung của bài viết như sau: « Thông tin « Trung Học Hà Tiên Xưa », thầy cô và các bạn còn nhớ chị Nguyễn Thị Thu, con của Bác Ngữ nhà hồi xưa ở Hà Tiên, trên đường đi Mũi Nai, khúc quẹo qua tay phải về phía ao sen, gần nhà chị Thái Cẩm Hà, chị Thu là học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, bạn học với chị Huỳnh Thị Kim và Nguyễn Thị Hoa. Chị Thu là chị của Nguyễn Quốc Tân (Tân học chung lớp với bạn Lâm Hữu Quyền, anh Trần Văn Dõng,..v..v..và chị của Nguyễn Thị Thủy) Ngày xưa chị Nguyễn Thị Thu học rất giỏi, nổi tiếng ở Hà Tiên, sau khi rời trường Hà Tiên và thi xong tú tài, chị là người Hà Tiên đầu tiên vào trường Cao Đẳng Nông Nghiệp Cần Thơ ».

Vài tuần lễ sau, điều kỳ diệu đã đến, một buổi sáng khi mình mở máy tính để « làm việc » hằng ngày, thì thấy có tin fb gởi đến nói là có tin trả lời về bức hình của chị Thu do mình đăng lên vài tuần trước,…thật là bất ngờ và rất vui, khi mình nhìn vào trang fb của chị Nguyễn Thị Thu, mình nhận ra ngay dung nhan của chị Thu,…Thế lại mình chụp ngay cơ hội quý báu nầy để mời chị Thu kết bạn và trao đổi với chị tất cả những gì thiết yếu về thầy cô, bạn bè hiện đang có mặt trên Blog THHTX….Đối với chị Thu, sự « gặp gở » bất ngờ nầy như là một điều có tác dụng khá lớn vì đây chính là một trong những mắc xich còn thiếu mà ngày nay tình cờ chị đã có được để tạo lại sợi dây liên lạc từ quá khứ cho đến hiện tại (nói theo người Pháp thường nói: « La boucle est bouclée »…)

Sáng hôm nay đọc được một bài viết của chị Thu trên trang fb của chị, bài nói về cái thú an nhàn của một người vốn yêu thích làm việc, nhưng đến lúc về nghỉ hưu, suy nghĩ về cuộc sống điền viên sắp tới, những gì mình sẽ thực hiện, những gì mà mình muốn làm mà trước đó không có thời giờ,…, cả cái lo sợ vì không biết nếu có nhiều thời giờ « ở không » quá không biết có buồn chán không…Rồi chị Thu cũng có nói đến một móc thời gian quan trọng là nhân dịp sinh nhật thứ 72 của chị (con số nầy là do chị viết ra trong bài viết nhé, chứ mình không dám tự nhiên « công bố » ra con số nầy…!!), nhân dịp sinh nhật của chị, chị lại gặp một điều khá thú vị là được tiếp xúc lại với khung trời Trung Học Hà Tiên xưa, với những hình ảnh thầy cô, bạn bè ngày xưa của mảnh đất Hà Tiên thân thương,..thật là thích thú, và càng thích thú hơn nữa là chị Thu cũng đã vui vẻ đồng ý với đề nghị của mình là cho phép mình đăng lại bài viết « Thú điền viên » của chị trên Blog của chúng ta, chị nói « rất hoan hỉ nhận lời đề nghị của Mãnh. Cứ xem như đây là Mãnh đã cho tôi cơ hội ra mắt thầy cô và đồng môn nhé. Cho gửi lời kính chào tất cả ».

Như vậy chúng ta hãy nhận lời chào của chị Nguyễn Thị Thu, một trong những người học sinh rất xuất sắc của ngôi trường Trung Học Hà tiên ngày xưa, xin mọi người hãy nhín thời giờ đọc bài viết của chị dưới đây, cùng chia sẻ với chị nỗi vui khi về hưu trí, chăm sóc vườn tược, viết lách, làm thơ, viết văn hay dành thời giờ nhiều hơn cho những hoạt động trao đổi thông tin với bạn bè, người quen trên fb, riêng mình, xin qua bài giới thiệu nầy gởi đến chị Nguyễn Thị Thu lời cám ơn chân thành, nỗi vui của một trong những học sinh ngày xưa thấy rằng ngày qua ngày, thế giới « Hà Tiên xưa » của chúng ta đã trở nên đông đủ hơn, hy vọng là những cuộc gặp lại như thế sẽ còn diễn ra trong tương lai …Bây giờ mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết của chị Nguyễn Thị Thu nhé..  (Paris, 26/07/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Thú Điền Viên (Nguyễn Thị Thu)

Cho đến hôm nay tôi mới chính thức nghỉ hưu được 3 tuần lễ. Hy vọng lần này không bị hụt như những lần trước, vì mấy xếp thương lão già gân tôi nên cứ gọi làm trở lại 3, 4 lần sau khi tôi đã tuyên bố về hưu. Bảy mươi hai tuổi tôi mới thực hiện được lời khuyên 6 năm về trước của anh bạn MT – lúc đó mới sơ giao – rằng nghỉ làm để hưởng tuổi già cho khỏe thân khi sắp cỡi hạc quy tiên, rằng cuộc đời không còn bao năm nữa, hãy buông bỏ để tâm hồn thảnh thơi. Anh bạn có lý lẽ lắm. Nhưng dường như cái nghề nó biến thành cái nghiệp nên nó vận vào thân rồi. Đến bây giờ mà nhiều đêm tôi vẫn còn nằm chiêm bao thấy mình ngồi trước computer rị mọ, loay hoay làm programs. Sáng dậy nghĩ có lẽ mình nên đi làm trở lại sau vụ nghỉ vì đại dịch Covid 19 này. Chắc đó chỉ là triệu chứng chung của mọi người lúc mới về hưu thôi.
Lúc còn đang đi làm tôi vẫn bị ám ảnh bởi ý nghĩ sợ hãi cho quãng đường dài còn lại phía trước là nghỉ để ngồi chờ chết. Thôi thà cứ đi làm để tiêu giao ngày tháng hữu dụng hơn khi mà mình vẫn còn cơ hội. Thế là năm này kéo sang năm khác từ khi tôi 65 tuổi và trôi dài đến hôm nay.

Bây giờ tôi bắt đầu sắp xếp lại cho cuộc sống mới của mình. Có nhiều thì giờ hơn để dạo đông tây nam bắc trên FB, Có dịp móc nối lại với bạn bè lâu năm không tin tức, liên lạc. Có dư giả cơ hội để bắt lại nhịp sống thuở học trò. Và có được một sự xa hoa phung phí mà không bị than phiền, gián đoạn là ngồi lắng đọng tâm tư mà nghe bạn bè, đồng môn nhắc chuyện ngày xửa ngày xưa. Mà nghe xúc động bồi hồi như chuyện mới ngày hôm qua. Mà ngỡ ngàng sao thời gian trôi qua nhanh thế. Mới thoáng đây thôi. Và cám ơn trời đất, trái tim mình vẫn còn đập.
Tôi cũng bỏ nhiều thời giờ vào việc chăm sóc mảnh vườn trước và sau nhà cho tươm tất hơn. Trồng thêm hoa bốn mùa, cắt tỉa cây ăn trái cho tàng thấp nhỏ xuống để dễ thu hoạch. Quan trọng nhất là trồng nhiều rau, củ để tự túc, giảm bớt phải mua bên ngoài vào mùa đại dịch đang hoành hành này. Ngoài việc trồng cây ăn trái, rau củ để ăn tôi còn trồng những thực vật để nhớ để thương nữa dù rất khó thích hợp với khí hậu vùng tôi đang sống như rau đay đỏ (hột giống do anh bạn học Nam – ĐHNN CT K1 – gửi cho gần 10 năm trước), rau bồ ngót, rau đắng bờ ao, càng cua, hoa thiên lý, hoa ti-gôn (hạt giống từ nhà anh Hà thế Tạo K1 ở Brisban, Úc mà tôi lén mang về U S).v..v…Tựu trung thì đây cũng chỉ là một cái thú lúc nhàn nhã thôi.
Cộng thêm biến cố quan trọng nghỉ hưu vào tháng sinh nhật 72 của tôi còn một việc như sét đánh mạnh bất ngờ vào cuộc sống bềnh bồng, hoang vắng như mất một mấu xích quan trọng thuở thiếu thời, là tôi vừa liên lạc được với thầy cô, bạn hữu, đồng môn ở ngôi trường Tiểu và Trung Học Hà-Tiên thân yêu mà tôi đã trải dài 11 năm tuổi hoa niên ở đó. Sau bao nhiêu khúc ngoặt của giòng đời, cuối cùng, một chặng đường đứt quãng nay được ráp nối lại. Cuối năm 1966 tôi rời trường Trung Học Hà Tiên lên Cần Thơ học lớp Đệ Nhất (12 bây giờ) trường nữ trung học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ để thi tiếp tú tài phần II. Vào Đại học Nông Ngiệp Cần Thơ khóa I. Ra trường thì lên Sài gòn làm việc luôn. Từ đó tôi chỉ thỉnh thoảng mới về Hà Tiên thoáng chốc để thăm gia đình. Không có cơ hội gặp lại người quen biết. Sau đó là những cuộc bể dâu, tan tác…
Sau mấy mươi năm, những thiếu vắng được khỏa lấp, đong đầy từ từ. Cám ơn người, cám ơn đời. Vẫn còn những nét mỹ miều, nhân ái. Cám ơn những tấm lòng của thầy cô, bạn hữu, đồng môn đã có thịnh tình, ưu ái mà nhớ, nhắc nhở và tìm kiếm tôi, đã cho tôi một sự nồng ấm quý báu. Tôi vẫn còn một mái trường xưa để trở về, bằng thương yêu, nhớ nhung, bằng tâm tư hướng về, bằng một tình cảm nồng nàn dù xa nửa vòng trái đất.
Vô vàn cám ơn “chiếc cầu ông Mãnh” ở Paris (gọi đùa cho vui thôi. M. đừng buồn nhé). Đây là chiếc cầu của bạn Trần Văn Mãnh đã bắc nối từ Paris sang khắp năm châu bốn bể để mọi người có lối trở về trường xưa. Đa tạ ban Mãnh thật nhiều, đã có lòng tốt và công khó với bạn bè, trường xưa.

Nghiệm lại thì cái thú điền viên của người ngày nay có ít nhiều khác biệt với người xưa. Các cụ xưa cứ là thảnh thơi, hưởng thú tiêu giao nhàn nhã, giản dị. Các cụ câu cá, đánh cờ, uống trà ngắm trăng, làm thơ…Tuy ít có dịp được liên lạc với bạn bè, người quen nhưng các cụ thật sự là thư giãn, mang phong thái tiên phong đạo cốt. Chẳng mấy bận tâm thứ này thứ nọ. Bạn đến nhà không đãi đằng linh đình được thì chỉ đổ lỗi “vườn rộng rào thưa khó đuổi gà” là xong. Ngày nay chúng ta có quá nhiều phương tiện hơn người xưa nên trở thành bận rộn, nhiều nhu cầu, ước muốn hơn. Có đủ vật chất thì quay sang đòi hỏi món ăn tinh thần. Phim ảnh, sách báo, TV, điện thoại, network đủ loại, facebook, youtube.v.v… Từ đó gia đình, bạn bè ở xa cũng thành gần. Phương tiện giao thông dễ dàng hơn nên dù đã ới được nhau rồi mà vẫn muốn gặp mặt. Rồi từ đó đẻ ra ước muốn đi thăm nhau, họp mặt với nhau, đi du lịch. Thôi thì đủ thứ bận rộn cho tuổi già muốn rượt bắt, giành lại thời gian sắp qua hết. Trong đó có tôi nữa nha. NẾU… Với chữ nếu to tướng, là nếu có ai rủ rê, nếu được mời mọc, nếu không có đại dịch và nếu…sức khỏe cho phép.

NTT

Hình ảnh sinh hoạt ngày xưa, bên trái: cô Nguyễn Phước Thị Liên (đang cắn hột dưa), bên phải: chị Nguyễn Thị Thu. Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên.

Hình ảnh sinh hoạt ngày xưa, bên trái: cô Nguyễn Phước Thị Liên, giữa: cô Phấn (ngày xưa nhà bên xóm Tô Châu, Hà Tiên),  bên phải: chị Nguyễn Thị Thu. Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên.

Hình ảnh sinh hoạt ngày xưa, bên trái: cô Phấn (ngày xưa nhà bên xóm Tô Châu, Hà Tiên), giữa: cô Nguyễn Phước Thị Liên (đang cắn hột dưa), bên phải: chị Nguyễn Thị Thu. Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên.

Từ phải qua trái: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, chị Nguyễn Thị Thu (áo dài trắng). Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên.

Hình trái: Chị Nguyễn Thị Thu (chân dung thời học sinh Trung Học Hà Tiên), hình phải: chân dung hiện nay, chị Nguyễn Thị Thu hiện định cư cùng gia đình ở nước Mỹ. Nguồn hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên và chị Nguyễn Thị Thu.

 

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn Lê Phước Dương, một cây bút rất thường xuất hiện trên Blog Trung Học Hà Tiên xưa của chúng ta có một dự án là sẽ viết lại vài bài hồi ký về một vài người bạn thân ngày xưa, thời đi học đã cùng nhau chia sẻ cơ hàn, khổ cực…Sau bài viết về anh La Văn Cao, một người đàn anh mà Dương Lê rất mến mộ và cùng trải qua nhiều lúc gian nan, hôm nay Dương Lê viết về một đàn anh khác, đó là anh Trần Văn Dõng, cũng là một hồi ký nhớ lại quảng đời học sinh Hà Tiên đi học xa nhà với bao nhiêu là thiếu thốn về vật chất…Đời người học sinh xa nhà đi ở trọ học ở tỉnh xa có nhiều vui buồn, vì hoàn cảnh, phải lên tỉnh lớn để theo học cho xong chương trình học. Nhiều khi chỉ thiếu có mỗi một chai dầu lửa để nấu cơm thôi, trong khi đó đã có gạo, khô, nước mắm vừa mới về Hà Tiên thăm nhà và được nhà viện trợ đủ cả…Bởi người ta thường nói có khổ cực mới có lúc thành công, nhưng cuộc đời dành cho ta nhiều nỗi bất ngờ,…Không ai biết ngày sau sẽ ra sao,…Nếu hiện tại, mỗi thành viên của nhóm ở trọ học ở Cần Thơ ngày xưa (Dương, Mãnh, Dõng,…), mỗi người cũng đã thành công ít nhiều trong cuộc sống, thì cái công khó thời đi học đó cũng được đền bù chút ít…Tất cả đều đã trôi qua, chỉ còn lại trong chúng ta nỗi nhớ và kỷ niệm xưa, viết lại hồi ký ngắn nầy giúp chúng ta giữ và nhớ mãi thời đi học xa nhà với bao buồn vui mà mãi mãi chúng ta không thể nào sống lại giây phút đó, có chăng là có được một vài cảm xúc, một vài xao xuyến khi đọc bài viết của tác giả Dương Lê, đó cũng là mục đích của bài viết hôm nay…(TVM, viết lời giới thiệu, Paris 30/05/2020)

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Năm 1972, đậu Tú Tài 1 xong.
Ngày tựu trường, mình theo anh Dõng, Mãnh đi học ở Cần Thơ. Vì những trường công, thủ tục vào học rất nhiêu khê nên mình ghi tên học ở Trường tư thục Ngọc Phú, học phí mổi tháng 800 đồng.

trọ cùng với 2 chàng ở khu Đại Học Khoa học, phía trước nhà có ao lục bình rất lớn, đóng tiền ăn ngày 2 buổi với bà chủ nhà. Ba chàng ở trên căn gác gỗ, mái nhà lợp tôle nên buổi trưa rất nóng, tối thì mát, khi mưa rất ồn, ba chàng quấn ba cái mền như sâu làm tổ.

Không có giường ngủ chỉ có hai cái bàn học xiêu vẹo của hai chàng, trong góc bàn học của anh Dõng có cái ấm nhôm, mình hỏi:

 – Cái ấm nhôm đó để nấu nước pha trà hả anh Dõng?

– … ừa!

Hai cửa sổ hai bên hông nhà nằm trên mái ngói hai nhà hàng xóm nên ba chàng thường ngồi hóng gió, đôi khi mình cảm nhận mùi lạ nên cứ nghỉ là của chuột thôi.

Ban ngày thì không nói gì, còn ban đêm phải dò dẫm xuống từng nấc thang gỗ, tỉnh táo không nói gì, mê ngủ ngầy ngật mà xuống thang thì thật là vất vả lắm.
Vào một đêm, trời đứng gió, không gian oi bức, lúc đầu hôm đi cùng hai chàng ghé quán cafe nghe Miên Đức Thắng với « Bông hồng cài áo », Trịnh Công Sơn với « Ca khúc da vàng » và với « Gia tài của mẹ »… , một ly cafe đen, vài điếu thuốc Capstan, vài ly trà quạu…hệ thần kinh trong đầu nó căng như dây đàn nốt Mí…nên khi về, leo lên căn gác trọ, trằn trọc mãi, cố ngủ mà có ngủ được đâu!
Lúc này không biết đã là mấy giờ, chắc cũng đã khuya nên không gian nghe im lặng quá. Chợt nghe tiếng động nhẹ từ mùng anh Dõng … chàng ta vén mùng bước ra, trong bóng đêm chàng ta bò nhè nhẹ lại lấy cái ấm … mình nghĩ:

– Giờ này, khuya vầy, lấy cái ấm làm gì vậy ta …  không lẽ xuống nhà nấu nước sôi pha trà uống! Chiều tới giờ uống trà quá nhiều rồi…!!

Không nghe tiếng bật lò nấu, chàng ta nhẹ nhàng đi lại đứng bên cửa sổ, với một động tác … rồi âm thanh phát ra….

…t..r..ừng , t..r..ưng , t.r..ứng…

Như âm điệu dạo đầu thon thả của tiếng đàn guitar độc tấu bản sonate Ánh Trăng…dìu dặt, réo rắt khi khoan khi nhặt khi dầy khi thưa … lúc mạnh như mưa giông … lúc thoáng nhẹ như cơn mưa rào mùa hạ … làm cho kẻ khó ngủ đêm khuya nghe những âm thanh đó càng thêm ray rứt.

Rồi thì tiếng sắt tiếng nilon cũng nhỏ dần rồi tắt hẳn … chàng ta nhoài người ra cửa sổ rồi…rót…rót…rót nhẹ nhàng ri rỉ lên mái ngói nhà kế bên.

Sự bí ẩn của cái ấm đã được giải mã cho cái đầu óc của mình, những đầu óc quá thông tuệ, chắc là cũng phải mua một cái ấm nhỏ cho mình thôi.

Ở đó được một tháng thì dời về trọ nơi mà phía trước có phòng làm răng của nha sĩ Tịnh. Trong nhà nầy có một nàng làm osin cho chủ nhà mê anh Dõng như điếu đổ, cứ khi nàng rảnh tay và lúc có ba chàng thư sinh ở nhà thì nàng cứ vô phòng nằm lăn ra giường … rồi cười rồi nói, có lần còn đố ba chàng là lưng con rùa kêu bằng cái gì!! … Những lúc đó là chàng Mãnh nháy mắt với mình rồi cả hai lang thang để phó bỏ mặc cho chàng Dõng đối phó với tình huống cực kỳ nghiêm trọng…!!

Rồi có một hôm tới phiên chàng Dõng nấu cơm, mình và anh Mãnh đi học buổi sáng, vì là vào những ngày cuối tháng nên chỉ uống một ca nước rồi đi học … Tan học đi bộ về tới chổ trọ là cũng đã 12g trưa, bước vô phòng thấy chàng Dõng ta đang ngủ, bếp lò lạnh tanh, mình hỏi:

– Giờ này mà anh còn chưa nấu cơm, đói bụng muốn xỉu rồi nè!

Chàng Dõng nói:

– Gạo và khô thì còn mà dầu lửa nấu thì khô queo rồi.

Lúc đó anh Mãnh cũng vừa về tới liền lên tiếng:

– Vậy có ai còn tiền để mua dầu không?

Cả ba cùng im lặng.

Thế là cả ba chàng cùng uống nước lã cầm hơi rồi cùng lên giường tìm giấc ngủ cho qua cơn đói.

Mà rồi có quên được đâu, có ngủ được đâu khi cơn đói dày vò.

Sau một hồi suy nghĩ cuối cùng chàng Mãnh đưa ra ý kiến:

– Anh Dõng, năm thứ hai Kỷ sư Canh Nông, còn anh, năm thứ nhứt Đại Học Sư Phạm, chỉ có em học Đệ nhứt và nhỏ nhất … nên em chịu khó làm mặt dầy bước qua cây Xăng Dầu bên kia đường mua chịu 2 lit dầu về nấu cơm, hai thằng anh hứa cho em khỏi rửa chén 10 ngày.

Nghe vậy thì cũng đành thôi, đói quá phải liều … may là gặp chị bán dầu tốt bụng, đong cho thiếu chịu 2 lit dầu … Hai chàng thấy mua được dầu về mừng quýnh.
Ui, có ai từng bị đói từ sáng đến 3 giờ chiều mới thấy chén cơm nóng, tô nước canh, miếng xương khô cá bè nướng vội…nó ngon gì đâu, nó hạnh phúc gì đâu.
….

Đường đời bập bềnh xô đẩy, ở trọ đi học với hai chàng được hai tháng thì có lệnh tổng động viên phải lưu luyến chia tay với hai chàng để trình diện nhập ngũ vào học nơi Trường BB Thủ Đức.

30/4/1975 buông súng tan hàng về lại quê hương.

5/5/1975 trình diện ban quân quản để đươc đi ở tù.

Sáng ngày 30/5/1975 , sắp hàng ở cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên nghe đọc tên để đi Long Xuyên học cho trở thành người.

Đọc tên từng người :
 – La văn Tạnh! ….có.
 -Lê phước Dương!…có.
 – Trần văn Dõng!…có.
 – Nhan hồng Hà!…có.
……
Vị cán bộ hỏi:

– Có ai có ý kiến gì không?

Trần văn Dõng:

– Có , xin hỏi?

Cán bộ:

– Anh nói đi!

Trần văn Dõng:

 – Xin hỏi sao mấy anh mang cấp bậc Chuẩn úy thì được học ở Hà Tiên, còn tôi và anh Hà còn là SVSQ mà sao phải đi tỉnh học?

Viên quản giáo:

– Vì khi hai anh ra trường mang cấp bậc Đại Úy nên phải đi Long Xuyên học.

….huhuhu…huhuhu…

Anh Dõng là mẫu người sống nội tâm, như nhà hiền triết, ít nói, ít cười, ít tranh luận hơn thua. Anh học rất giỏi mà sao thời vận lúc đó chưa tới, nếu không thì anh cũng đã là Kỷ Sư Canh Nông, thời mà giáo sư Võ Tòng Xuân còn dạy học ở Đại Học Nông Nghiêp Cần Thơ.

Lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên, anh có trồng cây si một người em gái tên Lan … mà rồi anh chưa lần nào nói tiếng…yêu em. !!

Hà Tiên, 28/5/2020.
Lê Dương.

Chân dung ba chàng: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Lê Phước Dương ngay trong khoảng thời gian trọ học ở Cần Thơ, những năm đầu của thập niên 70

Trần Văn Mãnh đang làm bài ngay trong căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

Trần Văn Mãnh ngoài mái hiên lầu căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

 

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn La Văn Cao là một người bạn thân trong nhóm những người bạn thân cùng đi chơi trong suốt thời gian còn là học trò của Trung Học Hà Tiên…Mình không biết ở các trường Trung Học khác thì ra sao, nhưng ở Hà Tiên, tình bạn bè chơi với nhau không phân biệt « đẳng cấp » thứ hạng…Có nghĩa là ta có thể kết bạn chơi thân với nhau mà không nhất thiết phải học cùng lớp…Đó là trường hợp của đa số bạn bè thời học trò ở Trung Học Hà Tiên…Mình có nhiều bạn thân học trên mình một lớp (đó là trường hợp bạn La Văn Cao, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…v..v…), ngược lại mình cũng chơi thân vói nhiều bạn học sau mình vài lớp (Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….v..v….). Xin các bạn thân chưa có tên kể ra đây thứ lỗi vì mình vẫn nhớ nhưng chưa kể hết ra đây nhé…

Đi chơi nhiều với bạn Cao thì có rất nhiều chuyện vui buồn kỷ niệm, chuyện vui thì có cái khái niệm « ngồi đồng » mà Cao chính là « cha đẻ » của khái niệm nầy…Nói đến từ ngữ « ngồi đồng » thì dân Hà Tiên biết rành, vì ở Hà Tiên là nơi vốn có rất nhiều chùa chiền, cổ miếu, nơi mà hàng năm cứ đến ngày cúng vía thần thì sẽ có người « lên đồng » để cho bùa phép các con dân trong chợ, để phù hộ tránh các điều không may mắn…Tuy nhiên khái niệm « ngồi đồng » ở đây thì lại khác hẳn ý nghĩa đó, thầy cô và các bạn đọc bài của cây bút Dương Lê dưới đây sẽ rỏ thế nào là ngồi đồng,…Phải ngồi cho đến khi nào bạn Cao cho « thăng » thì hồn sẽ nhập trở lại xác và mọi xác đồng mới được ra về nhà thảnh thơi…Ngoài ra mình còn nhớ có một chuyện vui với Cao khi cả nhóm cùng ngồi uống cà phê tối ở quán Ti La, lúc đó có ai trong bàn nhắc một chuyện tình nào đó của « anh Mãnh », Dương nghe vậy nên lên tiếng:

– Chắc lúc nầy trái tim của anh Mãnh đập theo nhịp nhanh chóng đều…

Bạn Cao nghe vậy liền thốt lên :

– Ủa sao Dương lại biết từ ngữ nầy…(từ ngữ «nhanh chóng đều»…)

Sở dĩ bạn Cao nói như vậy là vì bạn hiện đang theo học ở Sài Gòn lớp Đệ Nhứt, mà ở lớp nầy thì có môn Vật Lý đang học về Cơ Học, nói về các chuyển động trong đó có chuyển động đều (tốc độ luôn bằng nhau và chuyển động nhanh chóng đều, tốc độ tăng đều đặn theo thời gian. Mình cũng không nhớ tại sao Lê Phước Dương biết được từ ngữ Cơ Học nầy…

Đặc biệt là trong chuyến đi Mỹ vừa qua để dự buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, mình có dịp gặp lại người bạn thân đi chơi chung ngày xưa, đó là Bạn La Văn Cao, bạn Cao đã đến sớm dự buổi họp mặt Đồng Hương Hà Tiên để gặp lại bạn bè Hà Tiên, bạn bè hơn 40 năm qua tuy chỉ có liên lạc qua tin nhắn nhưng chưa được dịp gặp lại, nay đã gặp lại tận mặt bạn Cao, mình rất vui. Tuy rằng cuộc gặp gở chỉ gò bó trong khuôn khổ họp nhóm đông đúc, thiếu phần riêng tư giữa hai người bạn lâu năm gặp nhau, vì điều kiện không gian và thời gian hạn hẹp nhưng cuối cùng cũng được vui lòng, thỏa mãn vì được hội ngộ với nhau.

Thân mời thầy cô đọc bài về câu chuyện « ngồi đồng » do cây bút Dương Lê viết rất hay và vui sau đây.  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 20/05/2020)

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Anh lớn hơn mình vài tuổi và vì có lần đổi tên là La Văn Tạnh nên mình không biết chính xác là sinh năm nào, anh có chiều cao từ 1,8 m trở lên, có lúc ảnh hưởng phong trào hippy của giới trẻ nên anh để tóc dài rất đẹp và lãng tử.

Đêm Noel năm 1970, sau khi lang thang viếng nhà Thờ rồi dạo chơi đường phố Hà Tiên, nhóm của mình gồm: Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hà Quốc Hưng, cùng ghé lại Quán Ti La thì lúc đó đã có bàn của bàn của anh Cao, anh Nguyên, Dõng, Mãnh…và vài người khác đã rất là rôm rả.

Lúc này anh Cao đang học ở Sài Gòn, nhân dịp Giáng Sinh nên về nhà chơi, nhà anh khá giả, ba anh có xe Lam chở hàng và khách lên xuống biên giới Kampuchia-Hà Tiên. mẹ anh mua bán lớn hàng Việt, Kam và Thái Lan. Tính tình anh rất hào sảng và rộng rãi nên khi thấy nhóm mình vào quán anh liền gọi cùng ngồi chung bàn cho vui. Thấy anh vui vẻ nên cả nhóm cùng kéo ghế ngồi chung, cùng hòa nhập chuyện trò tranh luận đấu lý… Chợt anh Cao lên tiếng đề nghị:

– Bây giờ Nguyên nói lên một câu ngắn rồi mình dịch ra tiếng Anh, Pháp, Miên, Tàu, các bạn thì phụ họa theo nghe!

Tất cả khoái chí và cùng đồng ý.

Anh Nguyên nói: Anh yêu em!

Cả bàn: Anh yêu em.

– Anh Dõng: I love you.

Cả bàn: I love you.

– Anh Mãnh: Je t’aime.

Cả bàn: Je t’aime.

– Anh Trung: Bon salanh ôl.

Cả bàn: Bon salanh ôl.

– Anh Cao: Úa ái lứ.

Cả bàn: Úa ái lứ.

…..

Càng về sau độ dịch càng khó và độ đồng hét càng lớn.

Khi đến 12g khuya thầy Hiển bước ra nói:

– Trò chơi này vui quá, mà thôi các em dừng lại cho Thầy dùm vì 12g khuya rồi.

Không ai bảo mà cả bàn cùng hô lớn:

– Dạ Thầy.

Anh Cao nói lớn với cả bàn:

– Đêm nay gặp được các bạn, các em…vui quá nên chầu nước này “Úa » trả khỏi phải hùn tiền…5g sáng sớm mai, Mãnh ra bến xe gặp anh để lấy tiền trả cho Thầy, nhớ tới sớm nghe.

Anh Mãnh nói:

– « Oui », mình sẽ vặn đồng hồ reo lúc 4g để được uống một ly xây nại nóng rồi tiễn bạn lên đường.

……

Cái câu chuyện uống nước và anh Cao sẽ trả tiền thì ở Hà Tiên nầy nó đã trở thành một huyền thoại, có một danh từ đặt tên cho huyền thoại đó, đó là từ “ngồi đồng”. Ở Hà Tiên lứa tuổi như mình hoặc nhỏ hơn vài tuổi đều từng được anh Cao cho ngồi đồng. Để mình giải thích cho các bạn biết ý nghĩa của từ “ngồi đồng” nầy.

Có lần, lúc anh La Văn Cao học lớp Đệ Tứ Trường Trung Học Hà Tiên, buổi sáng một hôm vào ngày nghỉ, anh chạy xe đạp chở mấy thùng đường đi giao cho người mua, khi gặp bạn, gặp đàn em là anh kêu:

– Lại quán chị Lệ cây me uống cà phê nghe, anh giao thùng đường này rồi anh lại ngay.

Không biết anh chở bao nhiêu thùng đường đi giao mà những khuôn mặt thân quen cứ lai rai lại quán ngồi đó, lớp nào theo lớp đó, điểm danh cũng được mười mấy em. Nhìn bộ dạng của mọi người thì chắc là ai cũng mong ngóng anh Cao thôi.

Ngày xưa, là học sinh, đa số chỉ có hai bộ đồ, túi rổng không, đi đâu cũng chỉ là « lô ca chân ». Có được chiếc xe đạp đã là may. Thế là cả đám, người đá bào đậu đỏ, kẻ cà phê đá, xịt xà thòn…rồi cùng ngồi đồng, ai đói bụng mà có tiền túi thì tự trả rồi về, ai không có tiền mà lở uống nước rồi thì ngồi đó…nhấp nha nhấp nhổm còn lại khoảng mười em, bụng đói meo cùng ngồi chịu trận tới 2g trưa thì anh Cao đạp xe tới và nói :

– “Úa” kẹt công chuyện, mấy “lứ” có uống gì nữa thì kêu đi!

Mọi người năn nỉ anh trả tiền để “giải đồng” rồi thì « thăng » và thất thểu đi về với cái bụng đói meo.
……..
Trở lại chuyện uống nước ở quán Ti La, buổi sáng hôm sau sự kiện đêm Noël ở quán Ti La, cả nhóm cùng gặp lại ở quán cà phê ngoài chợ và anh Mãnh đã kể lại như sau:

Tao về nhà vặn đồng hồ reo lúc 4g mà không biết sao khi giựt mình thức dậy là đã 5g hơn, tốc dậy không rửa mặt đánh răng chỉ mặc cái quần dài vào rồi bay ra bến xe, đến bến xe thì hởi ơi! Xe đã chạy rồi.

Có một bài hát tựa là: “Thúy đã đi rồi”, rất buồn mà nay thì: “Cao đã đi rồi” còn buồn hơn. Trở về nhà thì không có tiền trả cho Thầy Cô vì đã nhận nợ, biết ăn nói làm sao!

Bổng có anh xe ôm chờ khách lên tiếng hỏi:

– Tính đi đâu sớm vậy Mãnh?

– Chạy theo kịp xe Lộc Thành không?

– Chắc kịp mà!

– Vậy thì đi.

Lúc đó chạy xe ôm chỉ là chạy chiếc Honda SS67, chạy 40km/g đã là nhanh, ngoài ra còn bị đắp mô, còn mìn…..Bên Tô Châu có anh tên Dự, chạy xe ôm chở khách. đến chổ cây me gần Tà Săng, cán ngay trái mìn, mìn nổ và cả hai người đều bị nạn…..Thật là tâm trạng ngổn ngang, ruột rối như tơ vò, cái vụ uống nước thiếu chịu mấy trăm ngàn này mà tới tai bà ngoại , bà má thì không biết giải thích thế nào!

May mắn làm sao, xe ôm vừa qua cua quẹo Mũi Ông Cọp thì thấy xe Lộc Thành đang dừng lại bên ven đường, lơ xe đang thay vỏ, người đi xe thì không may mắn phải chờ khoảng 15, 20 phút, chỉ có Mãnh này là hên thôi.

Cao thì đang vươn tay xoạc chân làm động tác thể dục buổi sáng bên bờ biển gió lộng.

Mừng quá Mãnh ta gọi lớn:

– Cao ơi Mãnh nè!

Một nụ cười với hàm răng ám khói thuốc:

– Ngủ cho dữ, “Úa” tính Tết về trả luôn…Vừa nói Cao vừa móc túi lấy tiền đưa.

Mừng quá, Cao lên xe đò chạy đi, tao lên xe ôm về, không kịp chào nhau…trả tiền xe ôm, tiền quán còn dư được tô hủ tiếu và ly cà phê mà…hú hồn.

……

Anh La Văn Cao là như vậy, anh chơi với anh em là chơi bạc mạng, chơi hết tiền túi kiếm người quen mượn tiền chơi tiếp. Là con trai cả, anh em đông, có hiếu với cha mẹ, chơi là chơi mà học là học, anh học rất giỏi, Tú tài 1 đậu hạng Bình, Tú tài 2 hạng Binh thứ, thi vào Kỷ Sư Điện Phú Thọ, 2000 thí sinh lấy một khóa 50 người, anh đậu thứ 52 vì vậy bị động viên học khóa 4/72 TB Thủ Đức, anh chọn Pháo Binh học thêm 3 tháng về chuyên môn rồi ra trường về đơn vị đóng quân ở Huế, Vùng 1 Chiến Thuật.
……..

Hà Tiên, 14/5/2020, ghi lại để nhớ mãi về người anh: La Văn Cao.

Dương Lê

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, cây bút của phong trào « hiện thực » của nền văn học hiện đại Hà Tiên một lần nữa đã trở lại với chúng ta qua một câu chuyện vừa hấp dẫn vừa mang đầy tính chất « khoa học thường thức »…Thật vậy, mọi đọc giả khi đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, sẽ học hỏi được một vài kiến thức rất thực tiễn trong đời sống… Câu chuyện cũng cho ta thấy sức mạnh của khoa học nhất là nền khoa học Y Khoa, người ta có đủ khả năng tìm ra mọi nguyên nhân của mọi chứng bệnh dù cho bệnh trạng có cực kỳ phức tạp như trong trường hợp được mô tả ở đây…Thời xưa không cần phải lặn lội ngoài đồng ruộng với tình trạng đất đai nhiểm đầy các ấu trùng giun lãi để phải bị bệnh « có sán lãi » trong ruột…, Mình còn nhớ thời con nít, trẻ nít nào có có ít nhiều thời kỳ có sán lãi,…lâu lâu cha mẹ ở nhà cho uống thuốc để « trục xuất » các vị « cư trú không có giấy tờ hợp lệ » nầy ra khỏi cơ thể…Mình còn nhớ rỏ như vậy,…mà cái mùi thuốc xổ lãi đó nó rất khó chịu, có dạng chất lỏng hơi kẹo màu trắng đục…Đâu có ai ngờ một thiếu niên có sán lãi mà tình hình lại đưa đến một kết luận khi thì là đau tim, khi lại có thể bị bệnh về máu…Câu chuyện thật là ly kỳ để đi đến một kết luận rất là lý thú và rất tốt đẹp, bệnh đã được chẩn đoán đúng ngay nguyên nhân và việc chữa trị lại rất đơn giản..Không phải tác giả là người duy nhất có cái may mắn là vừa được trị khỏi bệnh lại có cơ duyên gặp người bạn đời của mình trong lúc nằm nhà thương…Hồi mấy năm về trước mình có đứa con trai đầu lòng, vì đam mê văn hóa nước Nhật nên cũng muốn đi phiêu lưu mạo hiểm qua xứ lạ đế học hỏi và phát triển chí tang bồng, ở nhà thì cha mẹ thường hay lo lắng cho con đi xa…Cuối cùng cũng có câu chuyện đứa con mình đang chạy xe đạp xuống dốc pho pho, vì muốn tránh không cán phải một con mèo đang ngồi giữa đường mà thắng gấp và bị té phóng nhào ra phía trước đúng theo quy luật quán tính của vật lý về chuyển động, kết quả là bị bể càm phải vô nhà thương xứ người để làm radio và may vá lại vết thương…Vì được săn sóc tốt quá nên cuối cùng chàng ta cảm nhận được cái tình cảm của cô cán sự làm việc trong nhà thương để rồi đi đến sự kết hợp ngàn đời, vết thương ở càm lành lặn và lúc vào nhà thương thì có một thân một mình mà lúc ra khỏi nhà thương thì lại có cặp có đôi…

Tác gải bài viết nhắc đến người bác sĩ nhân hậu và rất tốt bụng là bác sĩ Phạm Như Bách, ở Hà Tiên chúng ta không ai vào thời đó mà không biết bác sĩ Bách, ông là người hiền hậu, vui vẻ và rất có lương tâm nghề nghiệp…Mình cũng có nhiều dịp tiếp xúc với bác sĩ Bách tuy là lúc mình còn thời học sinh nhưng cũng đã cảm nhận được cái thanh tao, cao cả thoát ra từ con người của ông. Mong rằng có những dịp được nhắc nhở về ông qua các bài viết ở đây để người Hà Tiên chúng ta còn có dịp tưởng nhớ lại ông, để đáp lại phần nào sự phục vụ tận tụy của ông đã cống hiến cho dân Hà Tiên thời xưa..Bây giờ mời thầy cô và các bạn trở lại câu chuyện của cây bút tả chân rất linh hoạt Quang Nguyên qua bài viết « Món nợ ân tình » sau đây. (viết lời giới thiệu TVM, Paris 15/05/2020)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Tháng mười âm lịch của năm 1983, khi lúa đã chín vàng các thẻo ruộng, anh em nhà tôi tạm gác chuyện “đất nước” (xe đất và đổi nước) để lo chuyện đồng áng, làm nông cũng rất cần sức mạnh của cơ bắp và cả sự dẻo dai, mà cái này thì tôi có thừa, thuở ấy sức của tôi mạnh lắm có thể vác bao lúa hai giạ rưỡi chạy băng băng hàng mấy trăm mét nhưng không thấy mệt, lên bờ xuống ruộng lội bùn ì oạp vẫn không ăn thua…Vậy mà dạo này tôi hay thấy mệt, cứ tưởng rằng sau một năm rời xa trường cũ bạn quê đi học ở Sài Gòn hoa lệ đã làm “biến chất” tôi rồi cũng nên? Cho đến một hôm trên đường làm ruộng về, sau khi dầm mưa lội bộ bốn cây số, về đến bến phà Hà Tiên chờ đò qua sông thì anh Khanh (gia đình bác Sáu “cò” Lương) nói với tôi rằng:

– Ê  Bé! Mày có muốn người ta tới coi mày không?       

– Chi vây? Bộ em có cái gì ngộ hả? – Tôi hỏi.

– Có gì đâu? Mày mà nằm xuống đây, tao lấy tấm chiếu đắp lại, thò hai cái chưn mày ra bảo đảm người ta bu lại coi. Ha ha ha…

– …???

– …Cái xác chết! – Anh ấy buông thêm mấy lời chòng ghẹo và cười ha hả…

Nhìn xuống đôi chân đất của mình, quả thật chân tôi chuyển màu trắng xanh đến bạch tạng, các đầu ngón thì móp méo, không một tí sắc hồng nào dù chỉ một đốm nhỏ xuyên qua những cái móng chân từ nhỏ đến to rồi từ to đến nhỏ của mình, chân tôi giờ y như chân người chết, tôi tự lý giải rằng “chắc tại mình ngâm nước suốt ngày”.  Dạo này sao da tôi trắng hỗn, không phải “bì bạch” mà vượt qua hẵn cái nền da trắng của cha mẹ đã cho từ trong ADN? Tôi lại quay về ý nghĩ rằng do lâu ngày đi học ở thành phố không được hưởng cái nắng ngọt gió mặn của Hà Tiên quê mình nên mình bớt đen chăng? Tôi cũng thấy có những sự thay đổi lạ trong người ví dụ như hay giật mình nửa đêm, làm việc mau mệt, hay vã mồ hôi bất thường, ăn không tiêu và hay choáng váng, bị chuột rút (vọp bẻ) thường xuyên… những triệu chứng này thường không làm cho tôi lo lắng vì nó chỉ thoáng qua, và thỉnh thoảng thôi.

Một hôm, khi đang vác bao lúa vừa leo lên bờ ruộng, tự dưng tôi nghe thấy tiếng u u ong ong trong tai, cảnh vật “nhảy lâm thôn” uốn éo, những nàng mây trắng bềnh bồng thi thoảng điệu đàng chầm chậm, dìu dịu nhè nhẹ vuốt từ từ cái bóng của mình, làm cho mình tan biến vô hình trước ông mặt trời già cỗi có gương mặt cau có bốc hỏa với tóc râu dựng đứng, sao hôm nay các nàng bỗng dưng giận dỗi đổi màu nửa trắng nửa đen, nhạt nhòa ảnh sắc…? Không biết các đám mây Tầng tích hay trôi bềnh bồng khiến cái thằng tôi hay mơ mộng đôi khi ngưng việc để ngước tìm, trưa nay đã có hay không vì quả thật tôi không thể nhìn xa được nữa, ánh sáng ban ngày bị tách quang phổ xanh đỏ tím vàng trộn lẫn ma quái, âm thanh bùm bụp của tiếng đập lúa, tiếng nói cười rổn rảng của bà con nông dân đang làm “dần công” với ba tôi chợt xa xa văng vẳng như vọng về từ cõi ta bà nào đó, hình ảnh nhạt nhòa của họ như bị kéo dài ra rồi lùn lại cứ giãn nở rất bất thường theo động tác cắt lúa của họ…. Rồi tất cả tối sầm lại rất nhanh cũng như khi ảo giác đến… (làm “dần công” là ngày này người ta làm phụ cho mình, ngày khác mình sẽ đi làm phụ trả lại với người ta).

Mở mắt, tôi thấy mình nằm vắt trên bờ ruộng, bao lúa văng xuống ruộng đầy nước còn đằng xa mọi người vẫn đang cắt lúa, gom lúa, và đập lúa…  Họ đang làm công việc của mình, không ai thấy tôi té xỉu, còn bản thân tôi cũng không biết mình vừa bị chuyện gì, lật đật ngồi dậy tôi thấy lạnh cả hai bên mang tai, tay chân thì bủn rủn, đầu óc rỗng tuếch, nhẹ tênh, không suy nghĩ gì được cả… Một lát sau tôi mới khoẻ lại và tiếp tục công việc, ngày ấy tôi nghĩ rằng chắc mình bị say nắng.

Hôm sau nữa khi đang cắt lúa cùng ba, vô tình tôi để lưỡi hái (liềm) cắt ngọt vào lóng tay của ngón út, tai nạn kiểu này là bình thường của những người gặt lúa bằng lưỡi hái, bất bình thường ở chỗ là máu chảy ra có màu đỏ hồng tươi (chứ không đỏ đậm), nhưng sao hắn chảy hoài không đông? Ba tôi phải rất vất vả dùng thuốc rê và nhai mấy cây cỏ gì đó, xé một miếng vải đâu đó để buộc chặt vết thương cầm máu lại cho tôi.

Đêm hôm đó ba nói chuyện cùng má sự việc này và rồi sau đó mọi người trong nhà lúc này mới nhìn kỹ lại cái cục ốm nhách cao nhồng là thằng tôi, rồi cùng nhận thấy có một sự thay đổi rõ ràng về mặt thể chất của tôi, cả nhà lập tức họp “chi bộ”, nhanh chóng ra nghị quyết là : “nó có bệnh”!

Ba bèn đưa tôi lên bệnh viện Hà Tiên khám, bác sĩ ghi nhận cái sự xanh xao vàng vọt, “lấy lời khai”, kẹp ống nghe vào tai, vị bác sĩ nghe ngóng gì đó ông ta nói “… nghe tiếng thổi tâm thu…” rồi phán rằng tôi … đau tim (?). Không thể! Vì tôi đang có trái tim khoẻ hơn tim bò mộng.

Em gái tôi quả quyết rằng tôi bị “bồ đá” nên lên cơn đau tim!

Về cái chuyện “bồ đá” thì em tôi có lý lẽ của nó.  Số là khi còn học tại trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, tôi có một cô bạn, mà việc “có bồ” trong trường trung học đâu dễ dấu được đám bạn bè ma quỷ?  Vả lại, chuyện có gì phải dấu cơ chứ bởi chúng tôi đều là học trò đang học chung một trường mà? Ngày ấy trái tim khỏe mạnh của tôi chợt một hôm loạn nhịp mỗi khi bắt gặp cặp mắt liếc bén ngót khi di chuyển bên phải tôi, rồi cũng cặp mắt ấy liệng theo hướng ngược lại khi đi ngang bên trái tôi, có hôm tôi nhận thấy chỉ có một con mắt len lén nhìn tôi qua khe cửa của phòng Ký Túc Xá nữ trên thềm cao khi tôi vào học buộc phải băng chéo lối vào dưới thấp, đôi mắt ấy khi đong đưa lúc “đứng hình” kiểu đó khiến tim tôi cứ lộn xộn dao động không biên độ như đồ thị động đất, tâm thần cứ bấn loạn nên nhanh chóng tôi “đổ sụp”, rồi không biết tự khi nào bạn bè và cả “đương sự” đều mặc nhiên công nhận như “chuyện đã rồi”… Tuy không khác những cặp đôi khác của học trò – hai đứa tôi cũng có bạn bè đưa đẩy bằng “lời ong tiếng ve” hoặc “tiếng mặn tiếng ngọt” hay “tiếng bấc tiếng chì” (học trò mà?) nhưng tình cảm nhẹ nhàng, mỏng manh ở lứa tuổi học trò mới lớn khiến tôi chưa bao giờ nói “I love you” (đương nhiên là bằng tiếng Việt!) với bạn ấy.  Dù vậy hai đứa tôi cũng như mấy « cặp » học trò khác, cũng có những cái trò thư đi tin lại với những câu chuyện thường ngày, những mâu thuẫn trong quan hệ bạn bè tự mình vẽ ra rồi thêm mắm dặm muối để không còn nhạt nhẽo như “mùi vị” ban đầu, lồng vào trong đó là các phương cách giải quyết rất ư là học trò, rất trẻ con nhưng hoàn toàn không kém phần thú vị, đó phải chăng là một “sắc thái” cơ bản thành hình, có thể nếu không có những biến cố trên ‘’con đường tình học trò’’ đó thì chúng sẽ nhiều dần tiến lên đến “50 sắc thái”? (tên của một bộ phim 2015).

Cứ thế mà trôi qua hết cả năm học lớp 11, rồi lớp 12 tôi đi học ở Sài Gòn, trước khi đi hai đứa tôi (cũng như tất cả các trường hợp đồng cảnh khác) cũng để lại bao lời hứa hẹn, đồng thời tôi bao bọc cẩn thận và mang theo hình ảnh đôi mắt bén ngót ấy vào hành trang… Cho đến một hôm tôi nhận được hung tin, rằng đôi mắt bén ngót đó đã được một chàng trai khác mà tôi rất quen biết tặng cho cục đá mài (!) Có thể nói anh ấy hơn tôi đủ điều kể cả chuyện biết cách “mài dao”.  Nghĩ đến bao nhiêu đó thôi thì máu tôi đã dồn lên tới đầu, và trong một não trạng bốc hỏa, tâm trạng đóng băng, tôi đã quyết định nhanh chóng, lạnh lùng tự tuyên bố “đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao”.  Rồi để vùi chôn chuyện tình học trò chẳng có gì đáng để buồn đó, tôi còn làm một chuyện điên khùng – không thể điên khùng hơn: vẽ “đôi mắt” ấy xuống dưới lòng bàn chân, để mỗi bước chân của tôi là một lần chôn vùi “niềm đau con nít”… (xin lỗi các bạn, đó là hành động sến súa, sai quấy và bộc phát của một thằng nhóc 17,5 tuổi!)

Tôi đã học cái kiểu “thắng lợi tinh thần” từ AQ của Lỗ Tấn.

Và em tôi cho rằng tim tôi “thổn thức tâm thu” vì câu chuyện đó, nhưng tôi biết rõ mình như thế nào, tôi đã cho chuyện của mình đi theo bụi của những con đường mà tôi đã đi qua, tinh thần của tôi rất tốt, và quả tim đó đã không đau theo cả hai nghĩa đen và bóng.

Vậy thì tại sao bác sĩ phán tôi “đau tim”?

Phải có lý do gì đó, ba tôi hồ nghi và tôi cũng không tin chuyện này, chỉ vài hôm sau ba đưa tôi qua Rạch Giá, thời ấy khi có bệnh mình sẽ không được quyền chọn bệnh viện, vì tất cả phải theo luồng tuyến, dĩ nhiên là bệnh viện Phó Cơ Điều – Rạch Giá không nhận tôi vì không có thuyên chuyển của bệnh viện Hà Tiên, ba phải dẫn ông “bác sĩ chiến khu” mà ba nhanh chóng làm quen ra trước rạp hát Châu Văn ngồi nhậu lai rai với ổng (mặc dù ba không hề biết nhậu), để được gửi gắm thằng tôi.

Ba thành công, cuối cùng tôi được nhận vào bênh viện, tôi nằm đây gần ba tuần lễ để họ tìm bệnh, thật sự họ tìm hoài, lấy máu hoài và nghe tim phổi hoài mà không có một kết quả gì rõ ràng, cuối cùng họ phán rằng tôi bị “suy đa tạng” (!) cái tên bệnh nghe thật lạ. Rằng tôi bị thiếu máu không rõ nguyên nhân, rằng suy tim, suy thận, đau bao tử, chức năng ruột suy giảm ..v.v. Ba càng lo lắng và càng rối thêm… Đêm hôm đó hai cha con đi bộ trên đường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) nói chuyện với nhau rất nhiều, ông thật sự lo lắng và trông ba rất tội, hai cha con đứng tâm sự trên cầu đúc Nguyễn Trung Trực hồi lâu đột nhiên ông hỏi thằng con trai mười tám tuổi của ông rằng nó có bị… bất lực?

Trời đất! Tôi phì cười. Thật sự ba có lý do của ba, vì tất tần tật cái gì trong người thằng lớn cũng suy, thì nghĩ làm sao mà thằng nhỏ còn đứng vững?

Rồi cũng đêm đó ba quyết định đưa tôi đi Sài Gòn tìm bệnh sau khi ba viết thư nhờ ai đó mang về Hà tiên để báo cáo tình hình với má, rồi ba mượn tiền của những người quen ở bên này để đưa tôi đi luôn…Chuyến đi này mọi vấn đề còn nằm phía trước, ba cũng không biết sẽ làm sao vào được các bệnh viện ở Sài Gòn, chỉ biết rằng cứ đi rồi tính vì tôi càng ngày càng xanh rớt, sụt cân dữ lắm rồi, lưng quần tôi phải dùng dây nylon mà buộc chứ hồi đó nghèo đến độ không có tiền mua dây nịt, nói ra thì không ai tin chứ ngày ấy quả thực tình trạng gia đình tôi là như vậy.

Phải nói rằng ba tôi có nhiều bạn quý, ba sực nhớ đến một ông bạn là một bác sĩ của VNCH thời chiến tranh, đó là bác sĩ Phạm Như Bách.  Ông này chuyên khoa mắt, được học hành bên Đức, bên Mỹ chi đó rồi theo về Hà Tiên làm giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trước năm 1975, rồi sau đó ông chuyển đi, ba đã bặt tin nhiều năm nay, chỉ biết rằng ông có phòng mạch riêng ở khu vực chợ Tân Định, và ba đã đi hỏi thăm… Những người Sài Gòn hào sảng, vui vẻ, tử tế đã dẫn ba tới phòng mạch tại gia của ông ở đường Trần Khánh Dư. (Mr. Trần Văn Mãnh đã nhiều lần nhắc đến bác sĩ Phạm Như Bách trong các bài viết trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » này).

Người Hà Tiên xưa ai lại không biết bác sĩ Phạm Như Bách? Ba nói ông là một bác sĩ giỏi, tận tâm và đáng kính… Tôi còn thấy ông đẹp trai, phong độ và nho nhã…Ba dẫn tôi tới, ba nói chuyện với ông rất lâu vì đã lâu hai người không gặp, đương nhiên chuyện của tôi vẫn là chính. Hôm sau ba dẫn tôi đến bệnh viện Trưng Vương nơi ông đang công tác (một số ít người tài giỏi của VNCH như ông may mắn được chế độ mới sử dụng), tại đây ông giới thiệu với một bác sĩ khác người miền Bắc tôi còn nhớ tên là bác sĩ Luyến, bà Luyến đưa tôi vào nhập viện ngay mà không có “on-đơ” chi cả, đủ thấy bác sĩ Bách uy tín thế nào.

Một tuần lễ trôi qua các bác sĩ chưa tìm được bệnh cho tôi, cũng phải thông cảm, đó là vào năm 1983 đất nước đang rất khó khăn, đói nghèo và lạc hậu… Các phòng xét nghiệm không hiện đại như bây giờ. Sau vài ngày lấy máu xét tới nghiệm lui, họ thấy hồng cầu suy giảm đáng kể, phần còn lại to nhỏ không đều và dị dạng, nhược sắc tới bốn cộng  (++++), và dĩ nhiên các xét nghiệm khác nữa cho thấy tôi đang sở hữu một cơ thể rã rời và yếu đuối… Một hôm, tôi thấy bác sĩ Bách nói chuyện với ba hơi lâu, trông ba rõ ràng biến sắc và khuôn mặt căng thẳng lo âu, tôi hỏi ba chuyện gì thì ba không nói.  Thoáng nhìn thấy tờ giấy chỉ định phân tích máu ba đang cầm, tôi thấy có ba chữ “nghi K máu”!  Lúc ấy, tôi nào đã hiểu “K” là gì cho đến khi tôi hết bệnh, khi ấy ba mới nói cho tôi biết là người ta nghi tôi bị ung thư máu. Ba kể rằng cầm tờ giấy trong tay mà ba đi hết muốn nổi!  Ba không tin tôi bị K máu, chỉ vì ba không muốn tin, không một người cha nào muốn tin điều đó xảy ra với con mình. Nếu thật sự tôi mà bị K máu thì chỉ có Trời cứu chứ người thì bất khả!

Tuy nhiên sau đó thật may mắn cho tôi – vô cùng may mắn cho tôi, cái số của tôi không vắn đến vậy, người ta không tìm thấy tế bào ung thư máu mà thay vào đó người ta tìm thấy một dạng “vật lạ” rất nhiều trong bệnh phẩm thải ra là… trứng giun móc. À! Thì ra tôi bị nôm na là sán lãi, thật đáng xấu hổ cho đấng nam nhi đại trượng phu này.

Do tôi đi làm ruộng bằng chân đất trong những vùng đất ẩm và nhiều phân người thải ra, vì ruộng của gia đình nằm trong khu dân cư sơ tán, người ta phóng uế bừa bãi ngoài đó, cha con, anh em tôi thì vô tư cày cấy trên đất, ấu trùng con giun móc này chui vào da ở lòng bàn chân, bàn tay, qua máu qua phổi, lên họng rồi xuống ruột… Eo ôi! Có một dạo tôi “ngậm lãi phun người” mà tôi không hề biết? Kinh thật! Bọn chúng tồn tại bằng cách bám chặt vào thành ruột của vật chủ bằng cái mỏ có mấy cái răng hình móc và cái miệng như ống giác để hút máu.  Bằng kiến thức y khoa của mình, bác sĩ bảo rằng rất nhiều đến độ không biết bao nhiêu trăm (hay ngàn?) con trong chục mét ruột rà (non già) của tôi đang chứa đầy … giun móc!

Con này có tên khoa học là Ancylostoma…gì gì đó, cái tên bằng tiếng Latin dài hơn từ Biên Hòa đi Bình Chánh! Mặc dù thân hình nó chỉ dài độ 1,5 cm (con cái) và khoảng chừng 1,2 cm (con đực) mà thôi. Mỗi ngày một con hút chừng 0,1 – 0,3 ml máu nhưng hàng trăm con như vậy thì thử hỏi tôi đâu còn máu trong người? Mà cái bọn này độc địa và lười biếng, chúng không bò đi đâu mà cứ “tứ khoái” một chỗ, muốn được vậy chúng phải tiết ra chất độc làm máu không đông, để chúng cứ ngậm và máu của vật chủ cứ tự động tuôn vào họng chúng.

Để chống lại cái đám ăn cắp hồng cầu trong cơ thể nhưng chưa bị bắt này, cơ thể ngày đêm liên tục sản xuất thêm hồng cầu nhằm bù đắp vào số lượng bị hao hụt do mất trộm, lượng hồng cầu mới xuất xưởng vội vàng có chất lượng không cao, giống như một nhà máy sản xuất cứ mãi mê theo đuổi sản lượng mà không quan tâm đến chất lượng, hay vì nhu cầu quá lớn nên yếu tố chất lượng bị bỏ qua, hàng hoá sản xuất ra chỉ toàn là loại hàng thứ phẩm. Hồng cầu không khoẻ, to nhỏ không đều, thiếu sắc tố… nên việc vận chuyển ôxy về não không đủ làm tôi hay bị mệt và ngất, ô xy và dưỡng chất không đến được các cơ bắp đầy đủ nên tôi hay bị chuột rút và mệt mỏi, hơn nữa để tăng cường lượng ôxy cho quá trình làm việc liên tục của tôi – trong tình trạng thiếu máu – buộc tim (là cái bơm, bơm máu) phải làm việc nhiều hơn trong thời gian dài nên tim của tôi mau chóng có vấn đề suy yếu.  Cùng lúc, gan thận phải gồng mình giải độc tố mà mấy thằng “giặc móc” tiết vào trong máu nên gan thận của tôi cũng suy giảm chức năng, tôi trở nên xanh chành và vàng khè ai nhìn cũng thấy ớn. Ruột không còn đủ diện tích mặt bằng để hấp thu thức ăn vì bị bọn này chiếm đóng, mà thức ăn không được hấp thu cơ thể sẽ thiếu chất trầm trọng, hơn nữa sẽ bị lên men vi sinh khiến tôi hay bị tiêu chảy và sình bụng liên tục, bao tử thì đau và thỉnh thoảng quặn thắt từng cơn…

Đột nhiên mọi bệnh lý từ nội tạng của tôi được lý giải rõ ràng như tìm được nghiệm của một hệ phương trình nhiều ẩn số…

Hai tuần ở bệnh viện Trưng Vương các bác sĩ đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh cho tôi, sau khi tìm ra được trứng giun móc tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, ba tươi vui hớn hở đi cắt tóc cạo râu (bằng lưỡi lam chứ không như bây giờ – nhổ bằng răng!), buổi sáng ba vào bệnh viện với nét rạng rỡ phong độ, diện cái áo sơ mi tay ngắn bằng vải Pho màu kem, quần tây vải Canada màu rêu, chiếc kính mát vuông màu trà với gọng đồi mồi thương hiệu của xứ Hà Tiên yêu dấu của ba, trên tay ba là một cà mèn to là phở và đầy thịt bò tái, đó là bữa ăn ân huệ cuối cùng mà ba dành cho lũ yêu quái, thì cũng ngay trong ngày hôm nay thôi người ta sẽ cho chúng một liều thuốc độc (yên tâm! Vì có thuốc sẵn, chứ không phải chờ đợi mỏi mòn như tử tù trong hành lang chờ!).  Sáng hôm đó tôi nhận thuốc Vinacor với liều nhiều lần hơn bình thường cho một người, phải uống liên tục trong một tuần như vậy, đủ thấy tôi nhiễm giun móc nhiều như thế nào. Và sau hôm đó ba nói với tôi rằng tôi ở bệnh viện vài hôm, ba sẽ đi chơi Phan Thiết thăm bà con, ba giờ được thoải mái trong suy nghĩ, không lo âu nữa, không sợ hãi nữa, ba đã cứu thằng con trai của ba, đó là thành công ngoài mong đợi, ba “tự thưởng” cho mình.

… Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi chở ba tôi đến thăm bác sĩ Bách tại phòng mạch tư gia của ông, hay khi gia đình con cháu có ai bệnh mắt tôi đều đưa đến ông, ông có “độc chiêu” là tiêm vào mắt cho những trường hợp bệnh mắt nặng và hiệu quả điều trị tốt vô cùng… Mỗi khi ba tôi ghé là ông thường nói chuyện với ba rất lâu sau khi hẹn lại các bệnh nhân khác, và sau này khi mỗi khi tôi đến ông vì khám bệnh hay vì gì thì ông mừng lắm, ông hỏi han nhiều về những người quen biết của ông năm xưa tại Hà Tiên, hẵn là xứ sở này đã “đóng dấu” vào cuộc đời của ông những kỷ niệm đẹp.

Vào một ngày tháng 3/2018, nhờ facebook của cô Dương Hồng Châu, tôi biết được ông đã giã từ chúng ta ở cõi tạm này, tôi kịp đến thay mặt ba tôi để thắp cho ông nén hương cảm ơn ông đã giúp ba cứu thằng con trai của ba, tôi cũng đồng thời “ăn ké” lời tri ân dài dòng hơn đôi chút để nói lên cảm xúc của mình trước vị ân nhân của cuộc đời riêng của tôi, bởi ngày ấy nếu không có ông có lẽ bọn ăn cắp trong cơ thể tôi đã biến tôi thành “Mummy” (xác ướp Ai Cập) mất rồi.

Quan trọng hơn hết là chỉ vài tuần ở bệnh viện Trưng Vương mà ông đã dắt tôi vào, tôi đã kịp thời nhanh chóng “lụm” tại đây cho riêng tôi nửa mảnh đời còn lại, tôi đã kịp mang về cho cha mẹ tôi một nàng dâu thảo, cho xứ sở Hà Tiên một cô giáo Trung Học mà mấy mươi năm sau học trò xưa còn nhắc nhớ… (Sẽ là câu chuyện mà tôi có dịp sẽ kể sau này).

Và cũng phải nhắc thêm nơi đây, có một lần tôi dẫn mẹ của các con tôi tới chữa mắt ở phòng mạch của bác sĩ Bách, lần đó tôi có nói cho ông biết chuyện của chúng tôi đã gặp nhau như thế nào trong bệnh viện « của ông », ông chăm chú lắng nghe và đặt vài câu bông đùa… Đó cũng là dịp duy nhất giúp tôi được nói ra những lời tri ân với vị ân nhân của mình. « Em còn nhớ ánh mắt ngạc nhiên và thích thú của ông bác sĩ già, chắc lúc đó ông nghĩ : « ai nói là trên đời không có cái gọi là ‘số phần’? » – Vợ tôi đã nói với tôi như vậy.

Đúng! Sự xuất hiện của ông trong cõi tạm này là một phần số rất ý nghĩa của tôi, phần số đó đã và đang theo cuộc đời tôi gần bốn mươi năm qua…

Tạ ơn ông, bác sĩ Phạm Như Bách – một vị bác sĩ tài ba, đức độ, nghĩa tình của xứ sở Hà Tiên chúng ta nói chung, của đại gia đình cha mẹ tôi và của riêng gia đình tôi. Ngoài ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, tôi đã nợ ông, món nợ ân tình cả cuộc đời này.

Tháng năm/2020, Quang Nguyên.

Bao thư của chính bác sĩ Phạm Như Bách gởi cho người quen năm 2007

Mẫu giấy cho toa thuốc của bác sĩ Phạm Như Bách dùng làm giấy viết thư cho gởi cho người quen.

Chú thích: Thành thật cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn đã chia sẻ cho mình một vài tài liệu cá nhân về bác sĩ Phạm Như Bách.