Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Hà Tiên có cây Bao Báp đã hơn 100 năm nay

A-/ Hoàn cảnh trước khi phát hiện cây Bao Báp ở Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, chúng ta hãy tưởng tượng một tình huống như sau: Có một ngày nào đó, chúng ta rảnh rổi, lên cái gác nhỏ hay xuống cái nhà kho phía sau lục lạo kiếm vật dụng, tình cờ phát hiện được nơi đó có một bức tranh đã quá cũ kỷ, vẽ hình một cánh đồng hoa hướng dương, sau khi phủi bụi bậm bám vào và nhìn kỷ phía dưới góc phải thì thấy có đề chữ ký tên người vẽ tranh là Van Gogh…Như vậy sự ngạc nhiên lẫn với sự sung sướng của chúng ta sẽ như thế nào…,,?? Nhà mình từ lâu đã có một bức tranh hiếm và quý đáng giá cả triệu bạc mà mình không hay biết, đến hôm nay mới khám phá ra…!! Điều nầy thật ra thì không thể xãy ra ở bất cứ ngôi nhà cỗ nào ở Hà Tiên chúng ta, nhưng có một sự kiện làm cho chúng ta có cảm giác giống y như vậy khi được biết là ở Hà Tiên của chúng ta có một cây cổ thụ tên là cây Bao Báp, tuổi đời trên 100 năm…Vậy cây Bao Báp là cây như thế nào, và cây nầy ở đâu, tại sao sự kiện nầy làm cho chúng ta ngạc nhiên và sung sướng,…?

Trước khi đi vào chi tiết về cây Bao Báp, mình xin chia sẻ một vài ý nghĩ như sau: Là một người sinh ra và lớn lên ở ngay đất Hà Tiên, từ năm 1952 cho đến những năm 70, 71….rời Hà Tiên đi học ở Rạch Giá rồi lên Cần Thơ học Sư Phậm, rồi đi dạy học vài năm ở các trường Trung Học An Phú (Châu Đốc), Mỹ Luông, Long Xuyên (An Giang), cho đến năm 1986 rời Việt Nam đi định cư ở nước Pháp, và để nói cho chính xác luôn nữa là trước khi được dịp may đọc các quyển sách về đề tài « Nghiên Cứu Hà Tiên », « Họ Mạc với Hà Tiên » của học giả Trương Minh Đạt, mình có một hiểu biết rất thiếu sót và mơ hồ về lịch sử Hà Tiên…Chẳng hạn như mình chưa hề biết là có một ngôi chùa Phù Dung ở triền núi Đề Liêm ngoài ngôi chùa Phù Dung hiện tại, cũng không hề biết một cách rỏ ràng về các nhân vật trong gia đình họ Mạc, nhất là về Bà Cô Năm, cũng không hề biết thực hư về các bà thứ thiếp của ông Mạc Thiên Tích mà nỗi tiếng nhất là bà Xuân Tự…!! Điều đó cũng dễ hiểu vì một phần lớn là khi còn nhỏ, chỉ lo rong chơi, ngoài các giờ phải lo học bài, không có đầu óc yêu quê hương đến mức độ phải tìm tòi sách vở để hiểu biết về lịch sử của quê mình, vả lại hình như là hồi trước không có tài liệu sách vở nào nói về đề tài nầy ngoài cuốn tiểu thuyết dã sử « Nàng Ái Cơ trong chậu úp » của bà Mộng Tuyết (1958), mà khổ thay bây giờ mới biết cũng vì quyển sách nầy mà gieo vào đầu óc người đọc nhiều nỗi hoang mang, nếu không tìm hiểu một cách đúng đắn các chi tiết trong câu chuyện đâu là sự thật, đâu là tưởng tượng, hư cấu…Tình hình đã như vậy thì làm sao vào thời kỳ đó mà biết được  ở Hà Tiên có một cây Bao Báp quý hiếm và có tuổi vào hạng bách niên…!! Mình đã không biết thì đã đành, mà sao các bạn học cùng trường thời đó, quý anh chị người lớn, các bậc cha mẹ cũng không ai nói về cái cây cổ thụ Bao Báp nầy…Nghĩ cũng lạ thật, ngày ngày tụ năm tụ ba cùng các bạn đi đến ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, tọa lạc ngay ở dưới chân ngọn đồi Ngũ Hổ, ngọn đồi mà có một cái dinh thự rất quen thuộc kêu là « Lầu Ba », đó chính là dinh của quan Chánh Tham Biện Hà Tiên thời Pháp thuộc, bởi vậy còn có cái tên là « Lầu Ông Chánh »,…, những giờ ra chơi nô đùa ở sân trường thỉnh thoảng ngước mắt nhìn lên Lầu Ba ngắm cảnh vật, ai cũng thấy trên đỉnh ngọn đồi không cao lắm đó, ngoài cái lầu có ba tầng gọi là Lầu Ba, còn có dáng dấp một cái cây to lớn lá xanh bao phủ, ẩn nấp phía sau dinh thự, cảnh vật quen thuộc đến đổi không ai tìm hiểu hay thắc mắc cây đó là cây gì và đã có từ thời nào, ai đã trồng cây đó,…v…v…Thưa với thầy cô và các bạn, bây giờ xin phép vào đề nhé, cái cây to lớn bên cạnh cái Lầu Ba đó chính là cây Bao Báp mà hôm nay mình muốn nói tới…

Trần Quyết Tới (con của Chú Tư Thiên tiệm hớt tóc Tư Thiên Hà Tiên), hình chụp năm 1981 trên Đồi Ngũ Hổ, phía sau Lầu Ba, sau lưng là cây cổ thụ Bao Báp (BaoBab Africain). Nguồn hình: Trần Quyết Tới

B-/ Xác định có cây Bao Báp ở Hà Tiên:

Cây Bao Báp trên đồi Ngũ Hổ, Hà Tiên có chiều cao khoảng hơn 20 m, đường kính trên 3 m, không ai biết cây do ai trồng và trồng từ năm nào. Chánh quyền địa phương có tìm hiểu nơi dân chúng sống lâu năm gần đó thì cũng không ai biết vì sao có cây Bao Báp nầy, một cụ già trên 80 tuổi có nói khi tôi sinh ra thì đã thấy có cây đó rồi…Một lý do khác mà ít ai để ý đến cây Bao Báp nầy là vì cây được trồng ở trên đỉnh đồi Ngũ Hổ, nơi có dinh thự hành chánh và trụ sở quân đội địa phương nên qua nhiều thập niên, người dân dù có thấy nhưng cũng không ai bỏ công tìm hiểu vì không thể đến gần để quan sát. Rỏ ràng là một cách giải thích khá hợp lý về nguồn gốc của cây Bao Báp trên đồi Ngũ Hổ là cây được người Pháp đem từ bản xứ qua Hà Tiên để trồng tại đây, khi Pháp bắt đầu xây dựng các công sở dinh thự ở Hà Tiên sau khi chiếm được Hà Tiên (1867), hay có thể là trể hơn sau nầy…

Nước Pháp vốn có rất nhiều nhà khoa học về bộ môn Thực Vật Học, chính nhờ những nhà Thực Vật Học nầy (Antoine-Laurent de Jussieu, Jean-Baptiste Lamarck…v…v…và nhiều người khác nữa) đã có công sáng lập và phát triển ngành khoa học tự nhiên nầy và với bao nhiêu mẫu cây cối thu nhặt từ khắp nơi trên thế giới qua các cuộc chinh phục đất đai ở các nước khác mà nước Pháp có những viện nghiên cứu về Thực Vật Học rất phong phú. Như vậy cho rằng người Pháp đã đem nhiều mẫu cây xanh đến trồng trọt ở các thuộc địa thì cũng là một điều khá hợp lý. Tuy nhiên thông tin về việc ai là người đã phát hiện và nhận định một cách khoa học đúng là cây to trên đồi Ngũ Hổ ở Hà Tiên có tên Bao Báp thì chưa được phổ biến, người đó hay cơ quan nào phát hiện và nhận định điều nầy phải là một người trong giới khoa học hay một cơ quan nào của các trường Đại Học, rất tiếc là hiện nay mình còn thiếu hiểu biết hoàn toàn về điểm nầy…Quý bạn đọc có thông tin phong phú thêm về điểm nầy xin vui lòng chia sẻ nhé, thành thật cám ơn quý vị.

C-/ Bàn về cây Bao Báp:

Cây Bao Báp có tên được viết là Baobab. Theo các điều kiện địa lý, cây Bao Báp chỉ sinh trưởng trên hai lục địa Châu Phi và Châu Úc, được xếp loại vào họ « Gạo » ( (Bombacaceae), có nhiều tên khoa học khác nhau tùy theo thể loại, cây Bao báp ở Hà Tiên có tên khoa học là Adansonia digitata L. Cây Bao Báp có thân rất to, có sức sống rất mạnh, “bụng” cây có thể chứa tới hàng trăm ngàn lít nước nhằm đối chọi với thời tiết khô hạn kéo dài, chiều cao trung bình từ 10-20 mét, sống lâu tới 3.000 năm tuổi. Cây Bao Báp là một biểu tượng tự hào của người dân Châu Phi. Hạt Bao Báp chứa nhiều chất a-xít,  vitamin C, vỏ cây được dùng làm sợi, đan chiếu, rổ, mũ đi mưa, dây đàn và quần áo.  Nếu qua sự hiểu biết hiện nay, ta có thể nói cây Bao Báp trên đồi Ngũ Hổ ở Hà Tiên là cây Bao Báp lâu đời nhất nước Việt Nam thì ở nước Pháp cây Bao Báp lâu đời nhất được biết đến nằm trên đảo Mayotte, hơn 400 năm tuổi. Thông tin về cây Bao Báp còn rất nhiều, về đủ phương diện: sự tăng trưởng, sự trường thọ, cách tạo giống, ích lợi của trái, hạt, lá và vỏ cây, tính chất y học của các thành phần nầy, ngay cả có những huyền thoại liên quan đến cây Bao Báp và tên gọi của nó…v…v…Quý độc giả có thể tìm hiểu qua các bài viết khoa học trên mạng.

D-/ Hiện nay có bao nhiêu cây Bao Báp ở Việt Nam:

Ở cố đô Huế, tại đường Mai Thúc Loan (có một thời nơi nầy là trụ sở của Ty Thủy Lâm tỉnh Thừa Thiên), có một cây Bao Báp rất lâu đời, được một người kỹ sư Thủy Lâm mang từ Phấp về trồng (gốc cây nầy thì ở tại Madagascar) từ năm 1950, hiện tại thì cây nầy cao khoảng 17 m và có đường kính hơn 1 m. Cũng giống như trường hợp ở Hà Tiên, từ rất lâu người dân Huế cũng không biết cây nầy có tên là cây Bao Báp, mãi đến năm 1976 khi có bài báo nói về cây Bao Báp duy nhất ở Việt Nam do một nhà Thực Vật Học viết ra người ta mới biết là ở Việt Nam có cây Bao Báp, lúc đó mọi người đều cho đó là cây Bao Báp duy nhất ở Việt Nam (trong khi ở Hà Tiên thì đã có cây Bao Báp còn xưa hơn nữa nhưng không ai phát hiện ra).

Vào năm 1992, người ta phát hiện thêm 2 cây Bao Báp nữa ở phường Phước Vĩnh, gần Giáo Đường Phủ Cam. Hai cây nầy trồng gần nhau, cao khoảng 15 m và đường kính khoảng gần 2 m, tuổi thì đã hơn 80 năm, có nguồn gốc là do các linh mục phương Tây trồng trong vùng giáo xứ Phủ Cam.

Tại Sài Gòn thì hiện có 4 cây Bao Báp được du nhập từ Châu Phi về (3 cây ở Thảo Cầm Viên và 1 cây ở Trường Đại học Sư phạm TPHCM), tuy nhiên chỉ mới được 10 tuổi và cao khoảng hơn 7 m mà thôi.

E-/ Kết Luận:

Nếu tính tất cả các thông tin trên đây thì quả thật cây Bao Báp ở Hà Tiên mới được công nhận là cây Bao Báp lâu đời nhất của Việt Nam. Hy vọng là các nhà Thực Vật Học Việt Nam lưu ý đến nhiều hơn. Tại sao sự kiện có cây Bao Báp ở Hà Tiên chúng ta thì lại là sự kiện quan trọng? Cây Bao Báp ở Hà Tiên của chúng ta có một giá trị lịch sử, khoa học và nhất về văn hóa, du lịch. Sự hiện diện của cây Bao Báp là một minh chứng cho quan hệ giữa nước ta và nước Pháp dù cho là trong hoàn cảnh nào. Các trường Đại Học Khoa Học tự nhiên khắp nước có thể tổ chức các cuộc thăm viếng để sinh viên học sinh quan sát một giống cây hiếm, quý sống lâu năm như vậy và cũng là đề tài để nghiên cứu về ngành Thực Vật Học, tìm cách sinh sản ra giống cây con để phổ biến nhiều nơi trên các công viên khắp nước, đó cũng là một niềm tự hào của người dân Hà Tiên chúng ta mà có lẽ còn nhiều người chưa biết đến.

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên), du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain). Nguồn hình: Trương Thanh Hùng.

Cây Bao Báp hiện nay trên đồi Ngũ Hổ, Hà Tiên. Nguồn hình: Trương An Nhu.

Chú thích: Khi viết xong bài nầy, mình cũng có nghĩ tời hai cây cổ thụ xanh tươi thường thấy rất điển hình trong những hình chụp Pháo Đài (Kim Dự, Hà Tiên). Tim mình cũng rung động khi nghĩ rằng hai cây cổ thụ nầy cũng có thể là hai cây Bao Báp do người Pháp trồng từ xưa. Tuy nhiên sau khi dò hỏi thông tin thì hai cây nầy không phải là hai cây Bao Báp. Hai cây xanh cổ thụ nầy cũng là hai cây rất lâu đời, góp phần vào bản chất của phong cảnh Pháo Đài từ mọi lúc đến ngày nay.

Hình người Pháp chụp đồi Pháo Đài (Kim Dự, Hà Tiên) lúc còn trại lính Pháp đóng ở đó với hai cây cổ thụ xanh um rất điển hình mà thoạt đầu mình cứ nghĩ có thể cũng là hai cây Bao Báp, nhưng thật ra không phải là cây Bao Báp như trường hợp trên đồi Ngũ Hổ. Hình 1903, sưu tầm)

Tài liệu tham khảo:

*/ « Bao Báp: Cây độc nhất vô nhị tại Việt Nam », tác giả Phanxipăng (Chim Việt cành Nam, tạp chí Thế Giới Mới 500, 19/08/2002)

*/ Phát hiện cây Bao Báp lâu đời nhất Việt nam? Tác giả Hồng Lĩnh (Tiền Phong, 02/04/2007)

Paris, ngày 31/08/2021  Trần Văn Mãnh

 

Lễ Tống Ôn ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, một trong những phong tục được duy trì lâu đời ở Hà Tiên ngày xưa là « lễ tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở ngôi đình xã Mỹ Đức ngay khu chợ xưa ở Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều dài khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là «Đi Nghinh» hay «Tống Gió», tức là trong đoàn «đi nghinh», có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…Mời thầy cô và các bạn đọc bài viết sau đây, do bạn Trương Thanh Hùng đóng góp. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 25/08/2021)

LỄ TỐNG ÔN Ở HÀ TIÊN (Trương Thanh Hùng)  

Sau khi bài viết này được đưa lên facebook, có một số ý kiến đóng góp, nhất là ý kiến của anh Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh có nhà ở gần Đình Thành Hoàng, nơi diễn ra một phần của lễ tống ôn, đặc biệt là thời điểm hành lễ, các anh và một số người khác cho rằng lễ tống ôn được diễn ra vào tháng 4 âm lịch. Sau khi xem xét lại, tôi thấy các anh đã nhớ đúng vì vào tháng 3, tháng 4 âm lịch hàng năm, thời tiết chuyển mùa sinh ra nhiều dịch bệnh nên nhân dân mới làm lễ tống ôn để tống khứ thần ôn dịch, ma quỉ đi, giữ bình yên cho nhân dân. Nay tôi xin tiếp thu và chỉnh lại một số chi tiết cho gần với sự thật hơn, mong quí vị thông cảm.

Tống ôn hay tống gió là một nghi thức dân gian để cầu mong cho làng xóm thoát khỏi “ôn hoàng dịch lệ”, đưa những oan hồn uổng tử, các vị thần ôn dịch theo dòng nước đi nơi khác không còn tác quái ở địa phương mình. Trong những ngày tháng ôn dịch covid hoành hành trên toàn thế giới hiện nay, trong tháng Bảy âm lịch, xin kể lại việc tống ôn của nhân dân Miền Nam ta ngày xưa hay lễ tống ôn ở Hà Tiên mà tôi đã từng chứng kiến cách nay trên nửa thế kỷ.

Hà Tiên là một vùng đất mà đời sống tâm linh khá phong phú, chỉ tại thị trấn Hà Tiên xưa (nội ô thành phố Hà Tiên ngày nay) có rất nhiều chùa chiền, am miếu, vào tháng bảy âm lịch, tất cả các chùa, miếu ở Hà Tiên đều tổ chức cúng kiến rất long trọng. Bắt đầu ngày mùng 1 tháng bảy, chùa Tam Bảo cúng “mở cửa ngục” cho ngạ quỉ (quỉ đói), cô hồn, các đảng trở về dương thế nhận thức ăn của người trần bố thí, người ta làm bánh cúng, bánh cấp để cúng cô hồn, rất nhiều nhà bày mâm cúng ngoài sân, ngoài bánh cúng, bánh cấp (bánh cúng là một loại bánh gói bằng bột gạo không có nhân, dùng lá chuối gói thành hình ống lớn hơn ngón tay cái người lớn; bánh cấp gói bằng nếp trong lá chuối thành hình chữ nhật dẹp, hai cái bánh cột lại thành một cặp, bánh được luộc chín), người ta còn để thêm khoai lang, mía, ổi, giấy vàng bạc, muối gạo, khi cúng xong thì thảy ra ngoài sân cho con nít giành giật tượng trưng cho cô hồn giựt ăn, còn muối gạo thì một phần vãi ra sân, một số muối hột được bỏ trong lò than cho nổ lốp bốp. Đốt muối gạo là một hình thức xua đuổi tà ma, xui xẻo của dân gian ngày xưa. Hình thức cúng cô hồn này được diễn ra suốt tháng bảy, tùy theo gia đình mà chọn ngày cúng cho phù hợp. Sau chùa Tam Bảo, các chùa, miếu khác lần lượt cúng cho đến ngày 30 chùa

Địa Tạng cúng đóng cửa ngục, kết thúc những ngày cô hồn, ngạ quỉ được thả lên trần gian kiếm ăn. Các chùa cúng đều có “xí dàn”, thức cúng do nhân dân mang đến, người ta làm “cỗ” bằng một cây chuối gọt thành hình tháp, dán giấy và kết lên đó bánh cúng, bánh cấp hay bánh bò, bánh bông lan. Có người làm cỗ lớn dùng tre kết thành cỗ rồi kết bánh lên, có người làm cỗ tiền, có người cúng nguyên cả con heo quay. Tất cả các cỗ ấy chất trên một dàn cao, sau khi làm lễ (các nhà sư tụng kinh), người ta xô các cỗ ấy xuống cho trẻ em giành giật gọi là giựt dàn, có khi có cả người lớn cũng vào giật, nhất là ở chùa Năm Ông cúng rất lớn thường có heo quay, bánh bao nên các anh lính bên Trung tâm qua tham gia. Trong suốt tháng bảy, nếu rảnh rang, ta có thể ăn cơm chùa nguyên tháng, các chùa nấu đồ chay rất ngon, tôi ấn tượng nhất là món “kiểm” ăn ngon hơn bí kèn dừa.

Trở lại việc tống ôn. Việc tống ôn được diễn ra ở các miếu trong tháng 4 âm lịch, tôi không nhớ chính xác các miếu cúng vào ngày nào. Bắt đầu sau tiết Thanh Minh, thời tiết đã bắt đầu thay đổi, đã có những trận mưa đầu mùa báo hiệu kết thúc mùa nắng nóng, cũng là thời điểm dịch bệnh hay xảy ra đối với con người, kể cả gia súc, gia cầm nên nhân dân nhờ các vị thần ra oai tống khứ ôn dịch, giữ bình yên cho địa phương mình. Ngoài những chùa thờ Phật, Hà Tiên có khá nhiều miếu thờ thần. Trong mỗi miếu có một vị được xem là “xác” của vị thần, vị này có những thủ thuật làm cho người dân tin tưởng vào quyền năng của mình. Có vị cắt lưỡi vẽ bùa phát cho dân, có vị “xiên lình” đâm cây sắt nhọn qua má, ngồi trên dàn đao bén, đi trên lửa (miếu bà Hỏa tinh), thò tay vào trả nước sôi lấy đồ vật. . .

Vào ngày tổ chức tống ôn, có lần tôi chứng kiến một đoàn rước đi từ đình Thành hoàng lên miếu ông Huỳnh Kỳ ở cuối đường Mạc Cửu dưới chân Núi Lăng, giữa 2 ao sen (ngôi miếu này hiện nay không còn). Đoàn rước khiêng một cái kiệu, trên kiệu là ông Năm Ô, ông ngồi trên một dàn đao bén, miệng có một cây sắt nhọn xiên qua má, tay cầm kiếm múa may để trừ tà ma. Hai bên đường có nhiều nhà đốt muối gạo. Tôi không được gia đình cho phép đi theo nên không biết về đến miếu có thêm nghi thức nào không.

Tôi lén gia đình đến miếu “Bà Thời” ở dưới chân Lầu Ba (trên con hẻm từ đường Mạc Thiên Tích xuyên qua đường Phương Thành, tôi không biết miếu này thờ vị thần nào), Bà Thời là người chủ ngôi miếu ấy. Tôi chứng kiến Bà Thời trong trang phục như một nữ tướng trong truyện Phong Thần, tay bà cầm một sợi dây, hai đầu dây có 2 trái chùy bằng vải, bà vừa đọc chú bùa gì đó, tay liên tục quất 2 trái chùy vào người cũng làm phép xua đuổi tà ma.

Sau đó, đoàn rước khiêng một chiếc thuyền giấy trang trí rất đẹp ra cửa biển Đông Hồ, có người nói là khiêng ra Cầu Đồn Tả trên đường ra Mũi Nai phía sau núi Kim Dự (Pháo Đài) theo sự hướng dẫn của ông Năm Ô dưới vai trò là ông Huỳnh Kỳ (Thái tử), trên có nhiều hình nhân bằng giấy và thức cúng gồm thịt heo quay, gà luộc, muối, gạo và giấy tiền vàng bạc. Sau một lúc thực hiện các nghi thức, theo lệnh của ông Huỳnh Kỳ, chiếc thuyền được đưa xuống nước, đáy thuyền có mấy thân cây chuối cây nên thuyền nổi trên nước khá thăng bằng, thuyền từ từ trôi ra biển rồi đi đâu không rõ.

Người dân Hà Tiên tin rằng sau nghi lễ “tống ôn” này, ôn dịch không còn tác quái được trên đất Hà Tiên.

Chuyện đã diễn ra trên nửa thế kỷ, có thể tôi diễn tả lại không thật chính xác, nếu có người nào ở Hà Tiên tiêp tục bổ sung cho thì hay quá để người dân Hà Tiên chúng ta nhớ lại một phong tục có ý nghĩa của Hà Tiên xưa.

Tháng bảy, âm lịch, Trương Thanh Hùng

Có lẽ đây là tấm hình xưa nhất về Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức ngày xưa ở Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp, năm 1890. Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, Hà Tiên là nơi phát xuất ra đoàn rước buổi lễ Tống Ôn hàng năm vào tháng 4 âm lịch.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Chú thích: Về chủ đề « Lễ Tống Ôn ở Hà Tiên », xin mời quý độc giả xem thêm bài viết về ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh thuộc xã Mỹ Đức, Hà Tiên, mời bấm vào link dưới đây:

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian.

 

Hà Tiên đoản khúc (Thiên Hương)

Thầy cô và các bạn thân mến, không phải chỉ có người gốc gác, quê quán ở Hà Tiên thì mới nhớ đến Hà Tiên khi đã rời xa Hà Tiên….Thật vậy qua bài viết « Tản mạn về quê hương Hà Tiên » của cây bút Trương Thanh Hùng, những người được « Hà Tiên hóa » cũng cảm thấy nhớ nhiều về Hà Tiên, cảm thấy quyến luyến, mơ và nhớ về Hà Tiên khi ở một nơi nào đó xa xôi được đọc bài viết về sông núi đất Hà…Có lẽ mình phải chuẩn bị những trang giấy hay những trang trống để đăng bài về Hà Tiên ở trên Blog nầy, vì không những bạn bè Hà Tiên của mình ở khắp nơi trên trái đất nầy khi đọc bài cũng sẽ tự phát nguồn cảm hứng nhớ về Hà Tiên để cầm bút gởi gấm nỗi niềm riêng, mà phải kể luôn cả những người bạn tuy không phải sinh ra và lớn lên ở Hà Tiên cũng đã thấy cái hồn thiêng của sông núi Hà Tiên nó ngấm vào mình đã từ lâu, có lẽ ngay từ những ngày đầu tiên khi đặt chân lên đất Hà Tiên…để rồi lại giao duyên kết nối và được cái quyền nói là « người Hà Tiên »…và sẽ luyến lưu nhớ mãi về Hà Tiên một khi đã rời xa vùng đất đó…Thân mời thầy cô và các bạn đọc bài viết về nỗi tâm tình đó, được diễn tả qua một đoản khúc, có thể cũng để « thay lời muốn nói » cho bao nhiêu người bạn khác đã từng một thời đặt chân ngao du trên những con đường xinh đẹp của Hà Tiên. Cô giáo Thiên Hương tuy không sinh ra và lớn lên ở Hà Tiên, nhưng từ bao nhiêu năm nay cô giáo có thể tự hào với cái danh hiệu cực kỳ trân trọng là « dâu Hà Tiên »….(Trần Văn Mãnh, viết lời giới thiệu, Paris 03/08/2021)

Hà Tiên đoản khúc

Mình phải khẳng định ngay từ đầu – Hà Tiên là quê chồng, không phải ‘’nơi chôn nhau cắt rún’’ để có thể có ngay nguồn cảm hứng mà thơ văn thi vị; thậm chí ngày đầu tiên quen anh mình còn không biết Hà Tiên ở cái xứ nào! Mình còn nhớ anh đã cười ngất khi mình ngây ngô hỏi anh ‘’Hà Tiên là đường ở quận nào của Sài Gòn vậy anh?’’.

Vậy mà giờ đây khi ở rất xa xôi với quê cha đất tổ, hầu như đêm nào Hà Tiên cũng len vào từng giấc ngủ, từng cơn mơ mà chẳng phải là Sài Gòn nơi mình được sinh ra, lớn lên và sinh sống hơn nửa quãng đời. Nghe như mình là một kẻ vong ân bội nghĩa không màng nguồn cội vậy. Nhưng đó là sự thật.

Những giấc mơ tràn ngập hình ảnh quây quần của đại gia đình, mỗi người một tính cách, những âm thanh rộn rã của tiếng cười đùa nghiêng ngã mà khi đó người nào cũng có thể khơi mào cười nhạo một ai khác trong nhà không chừa một ai, ngay cả ông bà, cha mẹ, chú dì, cô bác hay con cháu nhưng với cái cách hóm hỉnh mà đầy trân trọng và thấm đẫm yêu thương … Trong mơ vẫn còn ký ức của những chuyến đi chơi đây đó, vẫn cảm giác rộn ràng khi cả nhà lao xao bàn tán lên kế hoạch đi Nha Trang, Đà Lạt dù Hà Tiên đã sẵn núi đồi biển cả của Nha Trang và thỉnh thoảng trong năm cũng có không khí lành lạnh mát mẻ như Đà Lạt. Ai cũng biết vậy và ai cũng biết điều quan trọng không phải là nơi đại gia đình muốn đến chơi mà là những giây phút mọi người còn có thể gần gũi bên nhau. Vì luôn được nâng niu như thế nên cảm xúc thân ái như ngấm sâu trong máu, trong da thịt làm cho lòng bao dung, độ lượng của mỗi cá nhân trong gia đình dành cho nhau cứ rộng dần, loang ra chẳng có bến bờ.

… Tỉnh giấc chưa kịp rời những giấc mơ thì nỗi nhớ ầm ập tràn về. Mà kỳ lạ lắm, hễ nhớ Hà Tiên là nỗi nhớ cứ sâu thăm thẳm. Nhớ lần đầu tiên anh dắt về nhà, nhìn mảnh vườn với những lẵng lan đủ màu treo lủng lẳng cùng những gội cây ăn trái già có trẻ có làm cho cô gái thị thành cứ ồ lên đủ kiểu vì kinh ngạc. Nhớ lần cậu em nhỏ xíu tay cầm trái mãng cầu nhỏ nhẹ ‘’chị ơi, em tặng chị nè!’’ làm cho người lần đầu được làm chị cứ tuôn nước mắt lã chã vì niềm vui bất ngờ. Rồi lần anh dắt đi gặp bạn ở con đường có tên rất buồn cười (với mình lúc đó) ‘’Cầu Câu’’, con đường đầy đá lởm chởm, cục nào cũng to như cái nắm tay, ổ gà thì đọng nào là nước, nào là sình, cuối đường là con sông (lúc ấy mình không biết đó là cửa biển) ghe tàu tấp nập. Rồi lần anh dắt lên ngôi chùa nhỏ tận trên núi Tô Châu, đang đứng lớ ngớ thì ở đâu ‘’mọc’’ ra một cô bé xinh ơi là xinh, nắm tay mình lắc lắc ‘’thím ím ím ím…’’ giọng trong trẻo kéo dài nên chỉ có một từ mà như cả một câu vậy, nghe cưng không diễn tả nổi luôn. Một lần khác cũng leo núi khi con gái lớn còn trong bụng mẹ nên chưa ra đời con đã biết đến núi Đèn với ngọn hải đăng lịch sử. Nhiều, nhiều lắm những kỷ niệm với vùng đất rất xa (khoảng cách với Sài Gòn, và bây giờ là gần nửa vòng Trái Đất) và rất lạ (chỉ được biết khi quen một người) nhưng lại hóa thân thương ruột thịt hơn bao giờ hết tự khi nào không biết.

… Nên vẫn cứ muốn nằm im như thế, trên giường, mắt vẫn nhắm và ‘’mơ về nơi xa lắm’’*, về Hà Tiên, về vùng đất tuy là quê hương nhưng chẳng bao giờ dám nói ‘’của riêng mình’’, tận hưởng nỗi nhớ với một niềm đau nhè nhẹ (nỗi nhớ nào mà chẳng vậy) như một đứa trẻ nhớ mẹ mà không thể chạy đến sà vào lòng mẹ, nhưng lại thấy hồn lâng lâng dịu dàng với những kỷ niệm thật đẹp mà Hà Tiên đã từng trao tặng.

Hà Tiên với mình là vậy đó. Ngàn lần, vạn lần về Hà Tiên là mỗi lần có một kỷ niệm mà nếu kể ra chắc hẳn phải viết thành một quyển sách thật dày. Thế nhưng vẫn muốn về nơi ấy dù chỉ để thơ thẩn trên con đường nhỏ ven biển, ngắm nhìn sự bao la hùng vĩ của quang cảnh, hít một hơi thật sâu mùi nước biển mặn vị và cho làn gió nhẹ thoảng ngang qua mà mát vào tận đáy hồn mình.

Mong ơi là mong ngày về lại Hà Tiên …

Thiên Hương – Vancouver, August 2nd 2021.

* Tựa đề một bài hát của Phú Quang.

« Thiên Hương – Cô giáo Hà Tiên xưa.. »

Tản mạn về quê hương Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một thời gian vì công việc bận rộn, bạn Trương Thanh Hùng (cây bút quen thuộc với chúng ta qua bút hiệu Giá Khê) đã trở lại trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » với bài viết nhớ về quê hương Hà Tiên…Đọc bài viết của bạn Thanh Hùng, ta mới cảm nhận được một cảm xúc tuy là có trong tâm tư riêng của mỗi người, nhưng lại là cái cảm xúc chung của những người luôn lưu luyến với quê hương…Đó là cái cảm xúc bồi hồi, thương nhớ, quyến luyến và cũng nôn nao, háo hức khi đã bắt đầu cảm nhận được mùi nước biển qua cơn gió mùa đưa đến mũi dù đang ngồi tận trong chiếc xe đò đưa ta về Hà Tiên, hay mắt đã bắt đầu thưởng thức những ngọn núi xanh hùng vĩ hiện lên khi xe vừa qua khúc bờ biển trống trải hiến cho tầm mắt một quang cảnh « đẹp nhất » so với các tỉnh thành nơi khác…Sau năm 1975, có rất nhiều thay đổi, thầy cô, bạn học mỗi người đều có chuyển hướng riêng …Riêng ngay cả những người bạn gốc gác chánh cống ở Hà Tiên cũng có nhiều hoàn cảnh khác nhau…Có bạn thì đã dời đi nơi khác sinh sống, làm ăn, làm việc, có bạn thì cũng vẫn còn ở tại quê hương Hà Tiên, nhưng vì lý do nào đó , đã thay đổi nơi ở, căn nhà xưa mà chúng ta thường lui tới thăm viếng bạn ngày xưa đã đổi chủ khiến cho mỗi lần có dịp đi ngang căn nhà xưa đó ta không khỏi ngậm ngùi nhớ đến cái thuở học trò nhóm bạn vui chơi vô tư lự,…cũng có bạn vẫn còn bám chặt vào ngôi nhà xưa của ông bà cha mẹ từ bao thuở, cũng giống như một ngọn núi, một ngôi đền, vẫn còn đứng đó nhìn đời sống vận chuyển chung quanh, sung sướng thay cho những người bạn như vậy, muôn năm vẫn trung thành với Hà Tiên, với ngôi nhà yêu quý của mình..Riêng mình, mình vẫn thán phục và rất quý mộ các bạn, các bạn đã đứng vững, đương đầu với mọi khó khăn, có sung sướng được gần gủi quê hương Hà Tiên và cũng có buồn vui khi bạn bè chia tay mỗi người một ngả…Rốt cuộc rồi khi đọc bài xong chắc thầy cô và các bạn cũng đều đồng ý với tác giả Trương Thanh Hùng, đất nước Việt Nam ta có rất nhiều phong cảnh đẹp, núi non, sông, biển, chùa chiền, đền đài, dinh thự, đâu đâu cũng đặc sắc và vươn mình phô trương cái đẹp, cái đặc thù, khó mà nói rằng quê mình là đẹp nhất,…hơn tất cả,…Tuy nhiên ta có thể tự hào và tự thầm nhủ rằng: Nơi đẹp nhất trên mọi miền đất nước vẫn chính là nơi quê hương ta đang ở,..chắc chắn là đúng như vậy thầy cô và các bạn nhỉ…(Trần Văn Mãnh viết lời dẫn, Paris, ngày đầu tháng tám, 2021).

Tản mạn về quê hương Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Gia đình tôi về Hà Tiên sinh sống năm 1963, lúc đó tôi mới tròn 9 tuổi, đang học lớp nhì (lớp 4 bây giờ), cái tuổi mà một đứa con nít có thể nhận biết những gì xung quanh, từ cuộc sống đến cảnh vật. Trước đó, gia đình tôi ở Tri Tôn (thị trấn Hòn Đất bây giờ), phía sau nhà là con kinh Rạch Giá-Hà Tiên, phía trước là con lộ vừa được tráng nhựa, nhân dân ở dọc theo con lộ nhựa này. Về Hà Tiên có nhiều con đường nên tôi khá ngỡ ngàng, thậm chí còn bị lạc đường. Suốt từ năm 1963 đến 1971, tôi chỉ ở Hà Tiên, thỉnh thoảng có đi về quê nội ở Minh Lương và tạt qua Rạch Giá. Tầm nhìn về đất nước của tôi chỉ quanh quẩn Hà Tiên và tôi tự nhận thấy xứ sở Hà Tiên là tuyệt vời nhất, không đâu có thể sánh bằng, bởi Hà Tiên có tên gọi rất hay, có biển, có hồ, có núi non, có Đông Hồ, Thạch Động, Đá Dựng, Tô Châu, có bãi biển Mũi Nai, Bãi Nò mà tôi cho rằng đó là những kỳ quan không nơi nào có được. Lại có chùa chiền, lăng tẩm, có Tao đàn Chiêu Anh Các với Hà Tiên thập cảnh, Hà Tiên thập vịnh, có thêm bản nhạc Hà Tiên do nhạc sĩ Lê Dinh sáng tác. Mà cũng phải thôi, bởi tôi có đi đâu đâu mà biết đất nước ta nơi nào cũng có cái đẹp riêng.

Năm 1972, tôi đi Vĩnh Long học, cũng thường qua Cần Thơ học thêm. Gần tết năm 1973, tôi được nghỉ tết về Hà Tiên, xe chạy về tới Rạch Giá, nhìn thấy Cổng Tam quan lòng tôi đã thấy nôn nao. Từ Rạch Giá về Hà Tiên, xe vừa tới Ba Hòn, mùi nước biển dâng lên, xa xa là núi non lô nhô gợi cho tôi cảm xúc khó tả, đồng thời tôi nhận ra rằng ở Vĩnh Long, Cần Thơ mênh mông là vườn tược, lên lầu nội trú nhìn mút mắt chỉ thấy vườn cây, đồng ruộng, không có gì nổi lên chắn tầm nhìn, cái tôi thiếu khi ở Vĩnh Long chính là mùi nước biển và những ngọn núi quê hương.

Tôi lại còn khá hợm hĩnh giới thiệu quê hương Hà Tiên với bạn bè ở các tỉnh khác, bởi trong suy nghĩ của tôi, những cái tên như Sa Đéc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cầu Kè, Trà Cú. . . nghe sao nó quê mùa và tôi nghĩ có lẽ ở những nơi đó nó “quê mùa” thật, tôi đâu biết rằng những người bạn ở các nơi đó họ cũng yêu, cũng tự hào về quê hương của mình như tôi yêu Hà Tiên vậy. Mặc dù tôi có đọc sách của Đông Hồ, ông cho rằng cảnh trí ở Hà Tiên cái gì cũng có nhưng chỉ nho nhỏ, xinh xinh, nhưng tôi khá kiêu ngạo khi cho rằng hang động trên đất nước ta chỉ có Đá Dựng, Thạch Động là nhất, không nơi nào bằng, thật là ếch ngồi đáy giếng.

Sau này, được đi đây, đi đó, tôi mới biết rằng mình đã quá tự phụ về quê hương của mình. Hang động ở Đá Dựng (Châu Nham lạc lộ) không thấm một chút gì so với Ngườm Ngao (hang cọp) ở Cao Bằng; Hòn Phụ Tử, quần đảo Hải Tặc, quần đảo Bà Lụa làm sao so với Vịnh Hạ Long. Những nơi mà trước đây tôi cho là quê mùa lại là tỉnh lỵ của một tỉnh hết sức khang trang, chùa chiền của Hà Tiên làm sao so được với chùa ở Trà Vinh, Sóc Trăng, các ngôi chùa cổ kính ở Miền Bắc; bãi biển Mũi Nai, Bãi Nò, Thuận Yên, Hòn Heo, Hòn Trẹm, bãi Chùa Hang. . . dù có nét riêng nhưng cũng khó so với các bãi biển lớn ở Miền Trung.

Nhưng, dù có nói gì đi nữa, có biết đến danh lam, thắng cảnh gần khắp đất nước thì cho đến bây giờ tôi vẫn cho rằng Hà Tiên của tôi là đẹp nhất, hay nhất trong lòng tôi bởi tuổi thơ tôi gắn bó với Hà Tiên dù có hơi cơ cực, phải đi câu cá chốt, vớt cá linh ở Đông Hồ, phải đi đốn củi ở rừng sác, phải xe nước, bán cà rem. . . Và hơn nữa, Hà Tiên đã giúp tôi trưởng thành, cho tôi tình yêu văn học, nghệ thuật và “cái vốn Hà Tiên” để vào đời.

Trương Thanh Hùng

Chân dung bạn Trương Thanh Hùng lúc 8 tuổi chụp ở Tri Tôn (Hòn Đất, Kiên Giang) năm 1962. Nguồn hình: Trương Thanh Hùng

Một trong những cảnh đẹp của Hà Tiên: Pháo Đài, phía sau là nền núi non vùng Mũi Nai. Nguồn hình: TVM, 1994

Quang cảnh núi non vùng Thạch Động, Đá Dựng, Hà Tiên, nhìn từ núi Tô Châu, phía dưới là Đông Hồ. Nguồn hình: TVM, 1994

 

Con người rắc rối trong tôi (Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

 Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên của những năm xa xưa, ai cũng biết một công sở phục vụ cho ngành thú y, đó là Chi Thú Y. Công sở nầy tọa lạc trên đường Bạch Đằng, ở khoảng giữa hai con đường thẳng góc với đường Bạch Đằng, đó là đường Chi Lăng và đường Mạc Cửu, Hà Tiên. Rồi mọi người cũng đều biết Ông trưởng Chi Thú Y, chính mình cũng biết ông tuy không có dịp nào nói chuyện trực tiếp với ông, vì lúc đó mình chỉ là một đứa con nít, thuộc hàng con cháu của ông. Ngay cả tên họ của ông cho đến ngày nay, nhân có bài của cô Nguyễn Phước Thị Liên viết về khu vực Chi Thú Y nầy, mình mới được biết tên họ của ông. Mình chỉ biết là gia đình của ông Trưởng Chi có liên hệ bà con với gia đình bạn Trần Thị Thu Oanh, Trần Tuấn Kiệt, ở cùng đường Bạch Đằng với nhà của mình. Hằng ngày mình đều thấy quý anh chị con của ông Trưởng Chi thường lui tới thăm viếng gia đình bạn Thu Oanh, và mình cũng biết trong số đó có một số anh chị mà mình biết tên như: anh Đặng Văn Thơm (vừa mới qua đời thời gian gần đây), chị Tuyết, bạn Ánh, và hai người em trai là Lý và Sáng. Chị Tuyết thì mình không biết hiện nay ra sao, còn cô Ánh thì có lúc mình hỏi thăm thì được biết cô đang sống với gia đình ở Bến Tre. Ngày xưa mình có một người bạn chí thân, đó là bạn Nguyễn Ngọc Thanh, cũng có một lúc Thanh và cô Ánh là « bạn » với nhau đó. Riêng người em trai kế là Lý thì không may đã mất từ lâu vì tai nạn ở sông Hà Tiên, còn người em tên Sáng cũng đã qua đời trước đây một hai năm. Trong bài viết cô Nguyễn Phước Thị Liên có kể lại thủ tục đóng dấu vào những mảng thịt heo trước khi cho vào thị trường để bán ra. Cũng có lúc người ta đóng dấu trên con heo còn sống. Mình thì còn nhớ rất rỏ, ngày xưa, khi mình còn là con nít, thường đi lơ thơ trên con đường Bạch Đằng vào những buổi trưa rất êm ả, vì hai bên đường có rất nhiều dừa (vì thế con đường còn có tên là « đường hàng dừa »), mình thường hay thấy người ta đem nguyên con heo còn sống đến Chi Thú Y để được khám nghiệm, nếu hợp lệ thì người ta đem cái giỏ có con heo còn nằm trong đó ra ngoài lề đường, phía trước cổng của Chi Thú Y, rồi lấy lá dừa khô, nhóm lửa và đóng dấu heo. Con nít thường bu lại xem, trong đó có mình nữa, người ta nung một cái cây sắt, có cán để cầm bằng gỗ, đầu kia có một chữ A hơi lớn, rồi khi chữ A đã được nung đỏ lên, người ta cầm cây đó ấn vào phía sau lưng của con heo đang nằm trong giỏ, vì bị nung nóng quá, con heo la rống lên, cái dấu chữ A còn hằn lên trên lưng nó đổi màu thành cái sẹo..

Ngoài ra, ngay tại khu nầy, còn có nhiều nơi in dấu kỷ niệm thời con nít của mình…Trước mặt Chi Thú Y là một khoảng đất trống có nhiều cây xanh, từ Chi Thú Y nầy đâm thẳng ra Chi Bưu Điện, khoảng đất trống nầy được giới hạn giữa đường Bạch Đằng và đường Tô Châu, và hai con đường thẳng góc là đường Mạc Cửu và một con đường không có tên. Hồi đó con đường không tên nầy chỉ là đường rải đá. Một bên là bên hông khu vườn nhà ông Ký Cụi, còn bên kia là khu đất trống trải, không có nhà, chỉ có vài cây dừa, một cây sứ cổ thụ và một sân bóng chuyền dã chiến của các anh hùng, hảo hán cầu thủ thuở đó của đất Hà Tiên (đội bóng nầy do đó được đặt tên là đội cây Sứ hay bông Sứ). Theo trí nhớ của mình thì gồm các nhân vật sau (bây giờ chắc nhiều người đã vắng bóng): các Ông Năm Nghép, Sáu Lỹ, Tư Chuộn (cà phê Dũ Long), Ông Nhum (đồi mồi Lâm Văn Cao), Lê Minh (đồi mồi), hia Phón, anh Bún (con ông Tư Hiếm), Ông Bảy Kính, ông Đức Quang chụp hình, thỉnh thoảng có Ông Sáu Quang (ba của Trần Văn Hữu), Ông Âu Tư (bánh Kẹo), Vạn Ích Đường (thuốc bắc), anh Lô Sến, có lúc có Bác Điệp (ba Kim Hoàn cũng vào tham gia đánh bóng chuyền)…Còn vài ông nữa nhưng mình quên tên rồi. Xa hơn một chút, phía bên đường Tô Châu thì có Chi Bưu Điện và bên trái, cặp với đường Mạc Cửu là trường Mẫu Giáo…Xin mời thầy cô và các bạn, trở lại thời gian của những năm 50, 60, 70 ngày trước nhân dịp đọc bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên sau đây, và cảm nghiệm rằng, không có gì là vĩnh cữu, trường tồn, ngay cả dinh thự, đền đài…Tất cả đều là vô thường, đến rồi đi như con người nhỏ bé của chúng ta, đến quán trọ trường đời nầy rồi sau đó đến ngày giờ lại cũng phải ra đi, có chăng một chút gì đó, hình ảnh, bút tích, bài viết, có lẽ còn có thể được người ta giữ lại lâu dài hơn, để thế hệ tiếp nối còn biết được có một Hà Tiên xa xưa, cổ kính, đơn giản, mộc mạc nhưng rất đượm tình quê hương, nhân bản…(Paris, 15/07/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Trần Văn Mãnh trong những năm 60, phía sau bên phải là Trường Mẫu Giáo Hà Tiên nằm trên đường Tô Châu, tiếp theo trường Mẫu Giáo là Chi Bưu Điện. Bên trái của mình (tức là bên phải tấm hình) là khu đất trống có nhiều cây xanh, đối diện với Chi Thú Y, Hà Tiên, nằm giữa bốn con đường Bạch Đằng – Tô Châu và  Mạc Cửu- đường không tên. (Hình: TVM)

  Con người rắc rối trong tôi

                                                                          Nguyễn Phước Thị Liên

Ngôi nhà hướng Tây của tôi ở đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên, cách  nhà “Ông Thú Y” là bức tường rào kiên cố nhưng thấp, có từng khoảng trống đều đặn theo lối xây tường rào của Tây thời thuộc Pháp. Nhà này khá rộng, không lầu, có thềm cao, phải bước lên nhiều bậc cấp. Suốt dãy mặt tiền là bốn căn liền vách có hành lang dài và rộng chưa kể nhà bếp, nhà vệ sinh. Sân vườn bao quanh nhà, đặc biệt ở sân sau có cái “xi tẹt” là bồn chứa nước mưa, tròn như cái mâm quả khổng lồ cao ngang ngực. Nhà nhằm hướng Đông đường Bạch Đằng.

Theo tài liệu “Bản chuyên khảo về tỉnh Hà Tiên” của Nguyễn Văn Hải -1951 thì vào năm 1945, Việt Minh thực hiện chính sách “Tiêu thổ kháng chiến”, tất cả các công sở đều bị tiêu hủy, tất nhiên có Nhà Thú Y. Năm 1948 và năm sau, các công sở đều được xây dựng lại, theo nguyên trạng. Nhà Thú Y được xây với kinh phí 38.000 đồng vào năm 1949. Nhân sự là ông Hai Việt và một ông tên Của làm “ đầy tớ của nhân dân”. Thời trước nữa, Nhà Thú Y, người “đầy tớ” là mấy ông Tây. Đến sau năm 1954, ông Đặng Phi Long từ Rạch Giá được điều về làm trưởng Chi Thú Y cũng tại nhà này. Rồi cả gia đình ông cùng về. Mỗi người con của ông được ở một căn trong dãy nhà rất thoải mái. Từ đó, mỗi sáng tinh mơ, người từ lò mổ chở thịt heo thịt bò đến đây để “Ông Thú Y” khám thịt, đóng dấu. Những “dấu ấn” to đùng màu xanh pha tím là “thay lời muốn nói”, được đóng trên từng mảng da heo trắng nhởn trước khi đem ra chợ phục vụ người tiêu dùng. Nếu có heo gạo tức heo có bịnh gạo, ông nhất quyết cho đem chôn. Người Hà Tiên xưa hầu như ai cũng gọi ông bằng cái tên thân mật trìu mến là “Ông Thú Y”. Đôi khi vào lúc xế chiều, nhà ông có buổi rượu thịt, vang tiếng cười nói.

Sự đời cứ thế dần trôi cho đến ngày hòa bình, năm 1975. Công việc của Ông Thú Y không còn nữa mà Ông và gia đình thì còn đó, lấy tư cách gì Ông tiếp tục ở nhà này. Hơn nữa lúc bấy giờ nơi đây là cơ quan Nhà Nước thuộc Phòng Thông tin Văn hóa. Ông Thú Y được chính quyền mới cho cất tạm cái nhà nhỏ nằm sau vườn, đâu lưng cơ quan Thông Tin, ngang tầm nhà tôi, cùng nhìn ra đường Tham Tướng.

Cuộc đời biến đổi đến chóng mặt, biết đâu mà lần. Thoắt cái, Phòng Thông Tin được dời đi nơi khác, nhường chỗ cho Phòng Giáo Dục dùng làm Nhà Trẻ. Rồi thì nhà Giữ Trẻ cũng không yên, người ta đập phá nó để xây trường học. Ngôi nhà “tàn dư” thời thuộc Pháp khá kiên cố và xinh đẹp kia hoàn toàn bị xóa sạch. Xóa tận gốc cho tan vào hư vô. Toàn bộ khu đất này được sử dụng chính đáng. Hoàn thành ngôi trường Trung học Cơ sở một trệt hai lầu góp phần làm thay đổi diện mạo Hà Tiên. Phần tôi sau đó là một nỗi xao xuyến đến lạ kỳ, nhớ nét đẹp cũ xưa của ngôi nhà, kéo theo cái sự  nhớ về gia đình ông Thú Y có ông rất hiền từ, tận tụy và mẫn cảm.

Rồi bỗng nhiên mà thấy mình có phước, phước hơn Mạnh Mẫu rất nhiều. Mạnh Mẫu thuở xưa có cách dạy con nổi tiếng là phải dời nhà đến ở gần trường học, đặt con cái sống trong môi trường giáo dục không ngoài mục đích giúp chúng trở thành người tốt. Đằng này, dưng không người ta “tìm đến” tôi, tự động xây trường học sát vách nhà. Thử hỏi phước đức nào hơn?

Trường xây xong, năm sau nhà tôi được cất lại, chỉ một lầu, ngang lầu 1 của trường và thật gần gủi biết mấy khi khoảng cách giữa hai nơi chỉ bằng một sải tay, ngay chổ cửa sổ phòng tôi. Thế là hằng ngày tôi chứng kiến biết bao “ chuyện học trò”, nào là sự chơi đùa chạy nhảy dưới sân trường cả ở hành lang lầu khiến lòng tôi lao xao rộn ràng thấy lại mình thời còn đi học. Nào là có lúc thót tim cầu Phật, chợt thấy cậu nhỏ đứng ở lầu cao mà cứ chồm chồm chúc đầu xuống đất đùa giởn, tôi cũng chồm chồm phóng miệng gọi lớn: “Con ơi coi chừng hụt chân té, coi chừng hụt chân…” Và thích thú khi bên đó làm lễ chào cờ, học sinh hát quốc ca có đánh trống thổi kèn, thấy các cô giáo trong bộ cánh màu sắc bông hoa tuyệt đẹp, dáng đi “rất Huế.” Lại có lúc đang thiêm thiếp mộng mị liền bị đánh thức bởi cái giọng rao giảng bên đó vọng qua. Đến ngày tết, ngày Nhà Giáo 20-11, ngày thành lập Đoàn 26-3, bên trường tổ chức trình diễn Văn nghệ, phải tập dợt múa hát. Lui tới hát mãi “Khi Thầy viết bảng bụi phấn gơi gơi…” hoặc “Tuổi học chò…Học chò” làm bên này vợ chồng tôi…mất chánh niệm. Khi vui là thế nhưng cũng có lúc phải bực mình chứng kiến cảnh mấy nam nữ học sinh gây nhau, không tiếc lời tục tĩu mất văn hóa. Nguy nhất là bữa mấy trò nhỏ trốn tiết, leo rào phóng xuống sân nhà tôi, chạy ra lộ, bị chó nhà tôi rượt cắn. Tôi thì phải đích thân qua trường, yêu cầu nhà trường cho rào dây kẽm gai thật cao. Lại một sự cố khác, đang lúc tôi say sưa viết lách bên cửa sổ thoáng mát thì xẹt một cái, bọc đá lạnh nằm ngay giữa phòng, nước văng tung tóe. Bên kia cửa sổ bọn nhỏ cười vang, rụt cổ chạy. Tôi cầm nguyên vật chứng đến gặp cô Hiệu trưởng mà khen bọn chúng quá tài giỏi, xứng đáng được người đời xếp hạng “thứ 3”. Rõ ràng, chúng đã vô hiệu hóa cái khung cửa sổ có những thanh nhôm ngang dọc. Và không quên méc chuyện trước đó chúng đã làm cái trò này bằng cục gạch nhỏ, trúng ngay tủ kính lúc chồng tôi đang tìm mấy quyển sách trong đó. Tôi cần kể ra đây không nhỉ? Từ lúc ấy vợ chồng tôi đem lòng chán ghét cái cửa sổ, ghét luôn tấm kính nứt, đành chịu thay kính, lắp lưới cửa. Đời đời không mở cửa ra và không bao giờ phải: “ Vừng ơi! Mở cửa” có nghĩa chắn luôn luồng gió sảng khoái trời cho, mà chỉ có chuyện mong đến ngày thứ bảy, chủ nhật để được yên thân. Và tuyệt vời biết bao, những tháng ngày phượng hè đỏ thắm, sân trường im ắng không người vãng lai…

Rồi tự nhiên tôi thấy mình sai lầm trong Phần Phước khi nói về Mạnh Mẫu.

                                                                  ***

Lúc thế giới chưa xảy ra đại dịch CÔ Vi, một hôm tôi hỏi con gái:

  • Bữa nay thứ mấy mà trường nghỉ học?
  • Học trò đi hết rồi. Má ơi!
  • Trời đất! Đi đâu. Sao lạ vậy? Tôi la hoảng.
  • Tụi nó qua trường mới cất, ở…

Tôi chóng mặt ù tai không còn nghe tiếp để rồi, chu cha ơi, buồn quá, con mắt cứ nhìn qua bển mà nhớ mà thương đám học trò. Ngôi trường bề thế còn sừng sửng nhưng toàn bộ các phòng học cửa khóa chặt, cột cờ trơ cứng giữa thinh không lạnh lẽo, lòng thòng cái dây treo vô hồn buồn bã. Mái tôn nhà căn tin mất đi đâu. Những vật dụng trở thành đồ phế thải là mấy cái giỏ đựng rác, chổi quét và chậu hoa, thêm một số ván ép vuông vuông rời rã đang nằm thài lai giữa sân. Cô thầy và học trò đi cả rồi. Xác – hồn không nhập thể, bây giờ tìm đâu ra một tiếng động nhỏ ngoài tiếng chim khe khẻ. Thôi từ nay cho đến chết, mình không còn thấy, không còn nghe dù là tiếng chửi thề hay lời thô lỗ của bọn chúng. Mỗi sáng thức dậy, tại sao mình cứ đảo mắt qua bên trường chuốc lấy phiền não mà lệ ứa: “Đi hết trơn. Đi hết trơn! ” Rồi nghĩ “Phải chi hồi đó người ta để yên cái nhà Thú Y”. Nghĩ lan man, suy đoán lung tung, không thể không run sợ trước thảm cảnh ngôi nhà mình cùng chung số phận ngôi trường này, trong kế hoạch phát triển thành phố Hà Tiên giai đoạn 2, người Hà Tiên đang đồn ầm lên thế. Tất nhiên lúc đó nhà trường và nhà tôi đều thuộc về quá khứ…

 Chuyện đời. Phải chăng con người rắc rối trong tôi tự rước cái Nghiệp chướng vào Tâm. Tại sao không là Makeno khi nghĩ về Chánh Niệm – Chánh Tư Duy?!

     Nguyễn Phước Thị Liên

Học trò Trung Học Công Lập Hà Tiên họp ăn tiệc cuối năm (do thầy Trương Minh Hiển tổ chức)  tại sân vườn nhà quán Ti La của Thầy Cô Trương Minh Đạt-Nguyễn Phước Thị Liên, Hà Tiên. Phía bên kia hàng rào xây xi măng có cột trắng ngắn là khuôn viên của Chi Thú Y Hà Tiên. Hình: TVM, những năm 60-70

Vị trí Chi Thú Y, Hà Tiên trong những năm 70 trở về trước. Trong hình: số 1: Nhà Bảo Sanh, số 2 Chi Thú Y, số 3: Quán Ti La, số 4: Nhà Truyền Thống. Hiện nay các ngôi nhà, công sở: Thành 18, bệnh viên Nguyễn Thần Hiến, Nhà Bảo Sanh, Chi Thú Y, Nhà Truyền Thống và khu vườn Ông Ba Lón đã không còn nữa.

Trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 2, cất ngay tại khu có văn phòng và nhà ở của Chi Thú Y ngày xưa, đường Bạch Đằng Hà Tiên. Nguồn hình: Trần Thị Thúy Hằng.

Bàn về tên gọi, lịch sử chùa Thiên Trúc ở Hà Tiên (Thầy Trương Minh Đạt)

Bàn về tên gọi, lịch sử chùa Thiên Trúc ở Hà Tiên (tác giả: Thầy Trương Minh Đạt)

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Sư Thích Pháp Hảo, trụ trì chùa Thiên Trúc, đã nhiệt tình ủng hộ, cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu, hình ảnh thực tế về chùa Thiên Trúc.  Chúng tôi đặc biệt cảm ơn ông Trần Văn Mãnh, một Việt kiều Pháp người Hà Tiên, sống xa quê hương nhiều năm nhưng luôn nhớ về gốc gác cội nguồn xứ sở. Ông đã cất công tìm kiếm nhiều tư liệu về Hà Tiên trong các thư viện quốc tế, đặc biệt là tài liệu của bác sĩ Morice cùng một số hình ảnh xưa về chùa Thiên Trước, giúp chúng tôi hoàn thành tài liệu này.

Trương Minh Đạt

Ở Hà Tiên có ngôi chùa cổ Thiên Trúc, người địa phương quen gọi là chùa Phật Lớn. Chùa tọa lạc tại số 197/11 đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Trước đây, chùa Phật Lớn còn có tên Thiên Trước. Một ngôi chùa mà có đến 3 tên gọi. Bài viết này xin được góp thêm phần tư liệu và luận cứ khoa học nhằm làm sáng tỏ những uẩn khúc về tên gọi chính thức của chùa Phật Lớn – Thiên Trước – Thiên Trúc ở thành phố Hà Tiên.

          I/ Về tên gọi chùa Phật Lớn

Xưa nay ít người biết rõ gốc tích và lịch sử ngôi chùa này. Về tư liệu khoa học chỉ có đoạn ký sự của tác giả người Pháp, bác sĩ Morice (Claude – Jean – Albert) đã đến Hà Tiên lưu trú nhiều năm. Ông kể trong tác phẩm “Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74” (Du hành đến Nam Kỳ những năm 1872-73-74) [1] về bức tượng Phật (lớn) tại chùa qua đoạn văn ngắn, tạm dịch như sau: “…Bức tượng lớn của một vị Phật Chân Lạp với trái tai nở dài to bị thủng một lỗ lớn, với một chiếc mũ đội đầu, xếp tầng thấp dần từ chân đến đỉnh, với dây nịt màu đỏ đặt xiên qua ngực; ngài ngồi trên bồ đoàn, hai chân đặt dưới thân, dưới một mái lều bằng rơm để che mưa nắng, có nhiều mảng màu đen, đỏ và xanh nên hình Phật khổng lồ trở nên khá nhiều màu sắc”.

Theo tư liệu này, chùa Phật Lớn đã có ở Hà Tiên từ rất sớm. Cũng theo lời kể của bác sĩ Morice, giai đoạn 1872-1874 chùa chỉ là một mái lều rơm đơn sơ che mưa nắng cho tượng Phật, đó là hình ảnh xưa nhất về chùa Phật Lớn ở Hà Tiên. Cách tượng Phật vài trăm bước có cái miếu được gọi miếu Bà Cố mà bác sĩ Morice ghi là “Chùa Quỷ”. Miếu này có vách tường bằng gạch, bên trong tường vẽ đầy cảnh ngạ quỷ dưới địa ngục như bỏ tội phạm vào vạc dầu đang sôi hay cho thú dữ phân thây xé thịt… Thế mà tượng Phật lớn cạnh bên chỉ được che bằng “một mái rơm” sơ sài, ngoài ra không có các dụng cụ thờ cúng như chuông, khánh, mõ… thường thấy ở các chùa khác.

Như vậy có thể nói, chùa Phật Lớn là do người dân địa phương đặt tên để gọi và phân biệt với các chùa khác: chùa Phật Lớn vì có pho tượng Phật rõ lớn.

Hình 1: Tượng Phật ở chùa Phật Lớn (hình chụp ngày 16/5/2021, nguồn TMD)

           II/ Về tên gọi chùa Thiên Trước

Như đã nói, chùa Phật Lớn không phải tên gọi chính thức của chùa. Trước đây, tên chính thức của chùa là “Thiên Trước Cổ Tự” (chùa cổ Thiên Trước). Theo một số hình ảnh cũ thu thập được, tên gọi chính thức của chùa được đắp vòng trước mái, ngay lối vào chính điện (Hình 2a, 2b).

Hình 2a, 2b: Hình ảnh cũ về tên gọi “Thiên Trước Cổ Tự” của chùa Phật Lớn. (H2a: bên trái, hình chụp trước năm 1968, nguồn: Huỳnh Bá Tường. H2b: bên phải, hình chụp năm 1965, nguồn: Vương Bình Thành).

Đến đây, chúng tôi xin lạm bàn về tên gọi chính thức của chùa. “Thiên Trước”, theo cách gọi xưa của người miền Nam nước ta khi nói đến Ấn Độ, nghĩa là xứ Phật, đất Phật. Đó là cách phát âm của họ về chữ “Trúc” trong Hán tự có bộ Nhị mang hai gạch dưới:

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết có nhiều từ điển cổ sử dụng từ “Thiên Trước”, như là:

          1 – Tự Vị An Nam La Tinh (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine tức Bá Đa Lộc Bỉ Nhu, NXB Trẻ 1999:

– Trang 465 cột 1, mục từ Thiên: Trời; Thiên Trước: nước Ấn Độ, nơi sinh Đức Phật.

– Trang 520 cột 1, mục từ Trước: Thiên Trước, Thiên Trúc, Ấn Độ.

          2 – Dictionarium Annamitico – Latinum (Từ điển An Nam – La tinh) của J.L. Tabert (1838). NXB Văn Học. 2018:

– Trang 494 cột 1, mục từ Thiên: Thiên Trước: India ubì est natus Phật (nghĩa chữ La tinh: Ấn Độ, nơi đức Phật sinh ra).

– Trang 557 cột 1, mục từ Trước: Thiên Trước, India (Ấn Độ).

          3 – Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của. Nhà in Ray Curiol và Công ty, Sài Gòn (1895). Tập 2:

– Trang 393 cột 1, mục từ Thiên: Trời; Thiên Trúc: Tên nước, chính chỗ Phật sinh ra.

– Trang 502 cột 1, mục từ Trước (có ghi chữ Hán Việt là Trúc): Thiên Trước: Nước lớn ở về phương Đông, có sông Găng chia làm hai nhánh, cù lao lớn, người Trung Quốc, người An nam gọi là Tây phương Phật, cũng gọi là Ấn Độ.

          4 – Từ điển Việt-Hoa-Pháp Gustave Hue (1937), NXB Khai Trí, Sài Gòn 1971:

– Trang 998 cột 1, mục từ Thiên: Ciel, Dieu (Trời), Thiên Trúc: Inde (Ấn Độ)

– Trang 1080 cột 2, mục từ Trúc: (xem Trúc B, nghĩa 2): Nom propre: Tây Trúc, Thiên Trúc, Inde. (Nghĩa: Danh từ riêng: Tây Trúc, Thiên Trúc, Ấn Độ)

– Trang 1089 cột 1, mục từ Trước: (Xem Trúc).

          5 – Hán Việt Từ điển toàn tập của Đào Duy Anh (1932) và Lạc Thiện (2005). NXB Văn hóa Thông tin, TP. HCM (2005).

– Trang 852 cột 1, mục từ Thiên: Thiên Trúc (Sử) Ngày xưa người Tàu gọi nước Ấn Độ là Thiên Trúc.

– Trang 926 cột 2, mục từ Trúc: Nước Thiên Trúc (chữ Trúc viết thượng Trúc hạ Nhị )

          6 – Hán Việt Từ điển của Thiều Chữu. Nhà in Đuốc Tuệ – Hà Nội (1942):

– Sách cũ (xem bản tra mẫu tự a, b, c). Chữ Trúc trang  459 cột 2. Chữ Hán: Thượng Trúc, hạ Nhị () Trúc: Thiên Trúc, nước Thiên Trúc, tức nước Ấn Độ, chỗ sinh ra đức Phật Tổ nên gọi nước Phật là nước Trúc.

– Sách cũ trang 459 cột 1, bộ Trúc ( ). Nghĩa 1: Cây trúc, cây tre, có nhiều giống khác nhau, dùng làm được nhiều việc. Nghĩa 2: Sách vở, ngày xưa chưa biết làm giấy, cứ lấy sơn viết vào cái thẻ tre hay mảnh lụa, vì thế nên gọi sách vở là trúc bạch như: danh thùy trúc bạch là danh tiếng được ghi trong sách vở. Nghĩa 3: Tiếng trúc, một thứ tiếng trong bát âm, như cái tiêu, cái sáo v.v.

– Sách mới (NXB TP. HCM). Chữ Trúc, trang 454 cột 2, chữ và nghĩa chép như sách cũ.

          7 – Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4 (T-Z). NXB Từ điển Bách Khoa – Hà Nội, Hội đồng Quốc gia biên soạn (2005).

– Trang 225 cột 2, mục từ Thiên Trúc (Tianzhu). Nghĩa 1: Tên cổ của Ấn Độ (Tây vực ký). Nghĩa 2: Tên gọi của các chùa nổi tiếng ở Hàng Châu và Chiết Giang, Trung Quốc. Nghĩa 3: Tên sách do Pháp Hộ và Duy Tịnh dịch và đối chiếu từ chữ Phạn ra chữ Hán, gồm 7 quyển lấy tên là Thiên trúc tự nguyên.

Như vậy, chữ “Trước” đồng nghĩa với “Trúc” chữ Hán có hai gạch dưới. Những quyển từ điển thời thuộc Pháp được xuất bản ở miền Nam nên còn giữ nguyên cách phát âm địa phương. Kể từ quyển từ điển số 5 trở về sau là các sách ra đời ở Hà Nội, không có những từ theo khẩu âm miền Nam. Tất cả những chữ Trước hay Trúc vừa kể đều viết thượng Trúc hạ Nhị ( ) có nghĩa Thiên Trước hay Thiên Trúc là xứ Phật, đất Phật (xứ Ấn Độ). Thiên Trước Cổ Tự ở Hà Tiên là chùa xưa, gọi Thiên Trước cũng ví như chỗ này là đất Tây Phương, là xứ Phật. Vì vậy nên viết đúng chữ Trúc có bộ Nhị. Nếu viết chữ Trúc không có bộ Nhị sẽ mang nghĩa tre trúc, đặt cạnh chữ Thiên sẽ thành “Tre trời”.

           III/ Về tên gọi chùa Thiên Trúc

Theo tài liệu “Thiên Trúc tự, sự tôn nghiêm và lễ hội” của tác giả Thái Đông Thắng ở trang 30 có ghi: “Ngày 25-5-2002, Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang đã chuẩn y tên gọi “Thiên Trước Cổ tự” được đổi lại tên hiệu là “Thiên Trúc tự” cho đúng với tên hiệu được ghi ở đại hồng chung”. Kể từ đó, chùa Phật Lớn có tên gọi chính thức là “Thiên Trúc tự”, thay cho “Thiên Trước tự” như trước đây.

Trước tiên xin lạm bàn về chiếc chuông lớn hiện lưu giữ ở chùa Phật Lớn có 04 chữ Hán “Xuân Hạ Thu Đông ”được đúc nổi. Mỗi chữ cho lồng trong mỗi lá bồ đề,  nhà sản xuất đúc nổi trên thân chuông (Hình 3) và 6 chữ Hán “Kỷ Tỵ niên Thiên Trúc tự” được khắc chìm trên thân chuông (Hình 4 và 5). Để xác định tên gọi chính thức của chùa Phật Lớn là “Thiên Trúc” hay “Thiên Trước”, ta cần xác minh hai vấn đề: “Kỷ Tỵ niên” là năm nào và “Thiên Trúc tự” hay “Thiên Trước tự”?

Để biết “Kỷ Tỵ niên” là năm 1989, 1929 hay 1869, có thể áp dụng phương pháp loại trừ như sau:

+ Năm Kỷ Tỵ 1989 không thể là năm chuông được đưa về chùa. Vì theo những người lớn tuổi sống tại địa phương thì từ thuở nhỏ họ đã thấy chuông này ở chùa và cũng thường nghe tiếng chuông chùa.

+ Năm Kỷ Tỵ 1869 cũng không thể là năm nhà chùa có chuông. Vì theo tác phẩm Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74 của bác sĩ Morice, vào năm 1872 chùa Phật Lớn chỉ là một mái lều rơm đơn sơ che mưa nắng cho tượng Phật, không một chi tiết nào cho biết lúc ấy chùa có chuông đẹp và to với chiều cao 1,15m, đường kính 0,6m. Nếu có, chiếc chuông chắc chắn đã gây ấn tượng mạnh với bác sĩ Morice.

+ Theo phân tích trên, các năm 1989 và 1869 đều được loại trừ, nên chữ “Kỷ tỵ niên” khắc trên đại hồng chung chùa Phật Lớn chính là năm 1929, đầu thế kỷ XX, thời kỳ chữ Quốc ngữ được thịnh hành, chữ Hán trong giai đoạn thoái trào.

Quan sát 6 chữ Hán “Kỷ Tỵ niên Thiên Trúc tự” trên chuông, chúng tôi nhận thấy các chữ này được khắc thủ công vào thân chuông bằng công cụ cứng, nét khắc nhạt nhòa, thô sơ, mộc mạc. Về mặt cảm quan, 6 chữ Hán “Kỷ Tỵ niên Thiên Trúc tự” không đủ sắc sảo, độ tin cậy không cao, nhìn chung không tương xứng với các họa tiết hoa văn tinh xảo cùng 4 chữ Hán: Xuân Hạ Thu Đông. Có khả năng chuông được sản xuất đại trà. Sau khi có chuông, người ta mới khắc thêm 6 chữ “Kỷ Tỵ niên Thiên Trúc tự” lên thân chuông. Do đầu thế kỷ XX chữ Hán không còn thịnh hành, số người am hiểu Hán tự bị hạn chế nên rất có thể chữ “Trúc” đã được khắc sai bởi một người thợ không chuyên, không biết nhiều về Hán tự.

Hình 3: Các chữ “Xuân – Hạ – Thu – Đông” được nhà sản xuất đúc nổi tinh xảo. (Nguồn: TMD)

Hình 4 và 5: Chiếc chuông ở chùa Phật Lớn có khắc 6 chữ Hán. Các chữ “Kỷ Tỵ niên Thiên Trúc tự” được thợ khắc chìm thô ráp. (Nguồn: TMD)

Tiếp theo, để xác định tên chùa là “Thiên Trước” hay “Thiên Trúc”, chỉ cần xem cách viết chữ “Trúc” trên chuông như thế nào, có sai ý nghĩa tên chùa hay không.

+ Ở đây ta thấy rõ, chữ “Trúc” được khắc trơn, không có bộ Nhị bên dưới nghĩa là tre, trúc, thuộc danh từ chung. Còn chữ “Trúc” trong Thiên Trúc có bộ Nhị là tên gọi, thuộc danh từ riêng như đã nói trên.

+ Chữ “Trúc” trên chuông đã viết sai, ai là người chịu trách nhiệm về việc viết và khắc sai tên chùa lên thân chuông? Để trả lời câu hỏi, ta có hai hướng lý giải: Một là, việc khắc tên chùa lên chuông có sự chỉ đạo, quản lý của sư trụ trì. Hai là, chuông được Phật tử cúng dường, việc khắc tên là do tự phát, không có sự chỉ đạo, quản lý của sư trụ trì.

Theo tài liệu trên, lịch sử quản lý chùa Phật Lớn chỉ gồm các vị sư trụ trì từ năm 1960:

        1/* Sư Pháp Kiên: Chùa Phật Lớn bắt đầu được trùng tu và có tên chính thức vào thập niên 1960 do nhà sư Pháp Kiên thế danh Huỳnh Văn Liêm chủ trì. Sư Pháp Kiên sanh năm 1938, quê quán huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Sư được hai vợ chồng ông bà Huỳnh Văn Mót và Nguyễn Thị Sãnh làm giấy giao lại chùa do hai ông bà làm chủ quản trước đó. Giấy giao nhận chủ quyền, bà Nguyễn Thị Sãnh đứng tên. Chính quyền địa phương thị thực là các ông Phan Văn Thân, Chủ tịch xã Mỹ Đức; Huỳnh Văn Vương, Hội viên Cảnh sát xã và Trần Văn Em, Trưởng ấp Bình San, đồng ký ngày 15/02/1963. Trước lần trùng tu năm 1963, tên chùa chỉ được vẽ tạm trên tấm ván gỗ dựng lên bởi 2 cây tre. Khi hoàn công (khoảng năm 1965), chùa chính thức mang tên Thiên Trước Cổ tự (Hình 2a, 2b). Sư Pháp Kiên trụ trì chùa Phật Lớn từ năm 1960 đến năm 1968.

        2/* Sư Pháp Chơn: Sau Đại đức Pháp Kiên là Đại đức Pháp Chơn, thế danh Lê Văn Bốn, sinh năm 1905 tại Hà Tiên, trụ trì Thiên Trước Cổ tự từ năm 1969 đến năm 1989. Sư tịch ngày 21 tháng 02 năm Kỷ Tỵ 1989.

        3/* Sư Pháp Nhẫn: thế danh Diệp Bình Lợi, sinh năm 1950, quê quán huyện Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, trụ trì Thiên Trước Cổ tự từ năm 1990 đến năm 1997.

        4/* Sư Pháp Hảo: thế danh Đàm Hồng Phúc, sinh năm 1975, quê quán huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Sư được bổ nhiệm trụ trì chùa Thiên Trúc từ năm 2000.

Như vậy, vào năm 1929 chùa chưa có sư trụ trì, nên việc khắc tên chùa trên thân chuông là do Phật tử tự làm. Vì không có sự quản lý của sư trụ trì và vì người khắc chuông thiếu kiến thức Hán ngữ nên chữ “Trúc” trên chuông đã được viết sai.

           IV/ Bàn về lịch sử chùa Thiên Trúc

Căn cứ tài liệu nội bộ Dibbaveḷu – Ārāma của Chùa Thiên Trúc (Chùa Phật Lớn) “Sự tôn nghiêm và lễ hội ” đang được sử dụng tại chùa, bên cạnh những vấn đề liên quan đến 6 chữ Hán khắc sai tên chùa như đã nói, chúng tôi nhận thấy phần giới thiệu lịch sử chùa có 4 điểm bất hợp lý, suy đoán thiếu khoa học nên xin được góp ý, phân giải từng vấn đề với mong muốn tìm hiểu lịch sử chùa chính xác hơn. Bốn điểm đó là:

  • Một: Có phải Lão Hòa thượng Ấn Đàm tu tại chùa Thiên Trước?

Hiện nay trên bia đá ở Tháp Bảy Tầng còn khắc rõ: “Lâm Tế tam lập lục thế, Ấn Đàm lão hòa thượng chi tháp”. Nghĩa là “Lâm Tế đời thứ ba mươi sáu, tháp của cố lão hòa thượng Ấn Đàm”. Câu văn này khác với tài liệu giới thiệu lịch sử chùa Thiên Trúc: “Cố đại lão hòa thượng Ấn Đàm thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35 Trung Hoa” (trang 2, dòng 10 tài liệu đã dẫn). Bia đá của hòa thượng Ấn Đàm nói trên không có ghi con số 1662. Nhưng không rõ vì sao mà con số này được viết trên một tấm bia chữ Việt sơn màu xanh, được gắn bên ngoài mộ tháp (Hình 6).

Theo chính sử, lão Hòa thượng Ấn Đàm mất vào thời kỳ Mạc Thiên Tích phát triển Chiêu Anh Các, tức sau năm 1736. Ngài sống cùng thế kỷ với 2 nhà sư Tổ Hòa Quang và Tổ Đạt Chánh Giác, cũng thuộc dòng Lâm Tế thứ 36. Mộ của hai vị tổ này ở phía sau chùa Tam Bảo Hà Tiên, nằm bên phải và bên trái tháp Thái Bà Bà, mẹ Mạc Cửu. Nghĩa là hòa thượng Ấn Đàm qua đời vào thế kỷ thứ XVIII. Con số 1662 nói trên là thuộc thế kỷ 17, cách nhau cả trăm năm.

Hình 6: Bia đá của Lão hòa thượng Ấn Đàm cùng tấm bia màu xanh bên trái. (Nguồn: TMD)

Hình 7: Bia đá của lão Hòa thượng Ấn Đàm. (Nguồn: TMD)

Hơn nữa, cạnh Tháp Bảy tầng hiện còn nền chùa Phù Dung cổ, ngôi chùa mà sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) và Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí của Duy Minh Thị (1872) đều có mô tả. Lịch sử chùa Phù Dung cổ còn đầy đủ di chỉ và di tích. Di chỉ là cái nền chùa Phù Dung cổ và cái Tháp Bảy tầng của sư ông Ấn Đàm; còn các di tích liên hệ là chiếc đỉnh hương bằng đồng ghi 4 chữ Hán “Tuyên Đức Niên Chế” [2] hiện được thờ tại chùa Ông Hai Trần Kim Sáu ở Núi Nhọn, xã Thuận Yên, Hà Tiên. Ngoài ra còn nhiều hủ lọ bằng sành sứ được sư Thích Nhật Quang cất giữ khi sư còn sống.

Chùa của sư ông Ấn Đàm bị nạn giặc Xiêm vào đầu năm 1834. Chúng bắt sống hầu hết dân Hà Tiên (xem Nghiên cứu Hà Tiên tập II – Họ Mạc với Hà Tiên. NXB Tổng Hợp TP.HCM. 2017, trang 301- 304). Chùa sau đó tự sập vì mối núi, mọt rừng. Khoảng năm 1977, chúng tôi được chứng kiến cuộc phát lộ nền chùa của Sư ông Ấn Đàm do cụ Trần Kim Sáu phát hiện khi đào đất trồng cây. Tóm lại, nếu nói lão hòa thượng Ấn Đàm đời Lâm Tế thứ 35 tu ở chùa Thiên Trước là thiếu chứng cứ.

  • Hai: Chuyện hai vị hoàng tử Thái Lan đến Hà Tiên

Theo Lịch sử vương quốc Thái Lan (Lê Văn Quang, NXB TP.HCM – 1995, trang 109): “… từ tháng 2 -1766 đến tháng 4 -1767, quân Miến Điện vây hãm rồi tàn phá kinh đô Ayuthya. Vua Xiêm (còn gọi vua Hủi – vua Cùi hay Phung vương, tên Boromoraja) cùng thái tử Chiêu Đốc Đa bị mất tích. Quân Miến Điện tàn sát hơn mười ngàn trẻ em”.

Sách Đại Nam Thực Lục tiền biên, bản dịch NXB Sử học Hà Nội – 1962 cho biết: “Con thứ vua Phung là Chiêu Xí Xoang chạy sang Chân Lạp, Chiêu Thúy chạy sang Hà Tiên…”. Về sự kiện này, sách Hà Tiên Trấn Hiệp Trấn Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thế Dinh bản A.39 tờ 7a đến 8b cho biết: đầu tiên cả hai vị hoàng tử Thái Lan đều chạy tới Hà Tiên, xin Mạc Thiên Tích cho tá túc ở Hòn Chong. Mạc Thiên Tích cho ở tại Chùa Hang. Nhưng chỉ vài tuần sau, Chiêu Xí Xoang bỏ trốn qua Cao Miên. Mạc Thiên Tích cho người theo tìm mời về nhưng không gặp. Sau đó người này chết trên đất Miên. Chiêu Thúy vẫn ở lại Chùa Hang. Nhưng vào năm 1771,  Trịnh Tân (Phya Tacksin) đích thân tấn công chiếm cứ Hà Tiên, Chiêu Thúy bị vua Xiêm bắt đem về Bangkok giết đi.

Như vậy, không ai trong hai vị hoàng tử này còn sống sót để trở về phục vị, càng không thể nói họ trở lại Hà Tiên để tạc tượng.

  • Ba: Về con số 1616 (១៦១៦) bằng chữ Khmer trên viên gạch

Cũng theo tài liệu giới thiệu lịch sử chùa Phật Lớn, con số 1616 là năm kiến tạo tượng Phật (trang 1, dòng 6 từ dưới lên): “Trước thời nhà Mạc đến vùng đất này, tức là cách đây trên 300 năm (1616 – 2008). Phần II của tài liệu cũng nói rõ: “Trong dịp trùng tu lại ngôi chùa mới, tìm thấy một số viên gạch dưới bồ đoàn nơi pho tượng Phật lớn ngồi. Có một viên gạch trên mặt gạch có ghi những chữ số (theo mẫu chữ Khmer ១៦១៦): 1616”.

Theo đó, chỉ có một viên gạch ghi số 1616 bằng chữ Khmer. Rất tiếc không ai tìm đọc và dịch các chữ Khmer ấy để biết chữ nói gì? Chỉ mới thấy con số mà quả quyết đó là năm dương lịch 1616, thì quá vội vàng. Rất có thể đó là số thứ tự của lô hàng khi sản xuất, hay là số hiệu thương vụ gạch của thời đó? Hơn nữa, người Khmer luôn sử dụng Phật lịch hoặc âm lịch, nhất là khi để lót dưới bồ đoàn của Đức Phật. Không lý gì họ lại dùng niên đại dương lịch vào chỗ này. Vì thế, có thể khẳng định con số 1616 không phải để chỉ năm 1616.

Để biết lai lịch tượng Phật Lớn ở Hà Tiên, xin lướt qua lịch sử Chân Lạp vào thời kỳ lệ thuộc Thái Lan, nghĩa là trước thời vua Chey Chettha II (1618 – 1628). Tượng này có thể được hoàn thành trễ nhất vào triều đại vua Chey Chettha I (1603 – 1618), cha của Chey Chettha II. Chỉ vào thời kỳ còn làm chủ đất Chân Lạp, người Thái Lan mới tạo tượng Phật trên đất này, còn sau năm 1618 họ hết cơ hội. Chúng tôi nghĩ rằng người Thái Lan chưa kịp làm tốt hơn cảnh chùa Phật Lớn thì bị trào lưu tự chủ của vua Chey Chettha II dấy lên vào năm 1618, cho nên không có ai đủ tâm trí sửa sang, tạo dựng những gì của người Thái Lan.

Như đã biết, năm 1620 vua Chey Chettha II của Chân Lạp xin cưới công chúa Ngọc Vạn, con của Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên nước ta. Kế tiếp vào các năm 1623 và 1624 đã diễn ra 2 trận chiến lớn chống quân Thái Lan tại vùng đất Sài Mạt (Bantey Méas) trước thuộc Hà Tiên. Cả hai trận quân Thái đều bị thua. Vua Chey Chettha II đánh thắng vì có người Việt Nam giúp sức. Từ đó, Công chúa Ngọc Vạn đã trở thành hoàng hậu của vua Chey Chettha II. Nhờ công chúa, ngày nay ta có chủ quyền đất Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa…

  • Bốn: Chùa Tam Bảo và chùa Phù Dung do ai lập, từ khi nào?

Cũng tài liệu trên:“Chùa Sắc tứ Tam Bảo tự và chùa Phù Dung tự được thành lập sau này; là do Mạc Thiên Tích thực hiện thể theo nhu cầu của Mẹ (là vợ của Mạc Cửu) và vợ (là bà Phù Cừ); ông một lòng hướng Phật muốn có nơi chốn để tu niệm sớm chiều kệ kinh”. Cần nói, toàn bộ ý kiến này đều sai. Xin giải bày sau đây:

                    a/ Ai lập chùa Sắc tứ Tam Bảo Hà Tiên, vào lúc nào?

Sách Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức (Nha Văn Hóa – Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, Sài Gòn 1972 – Tập III – trang 130) viết: Chùa Tam Bảo ở sau trấn thự. Phạm cung mở rộng, Phật pháp phô trương, nguyên xưa do Thống binh Mạc Cửu làm ra. Kế có thân mẫu Mạc Cửu là Thái Phu nhân tuổi ngoài 80, nhớ con tha thiết, từ Lôi Châu theo đường biển đến. Mạc Cửu phụng dưỡng ở chùa này. Phu nhân vốn tính mộ Phật, hết lòng thành kính, vừa ngày tắm Phật, Phu nhân vào chùa cúng dường chiêm bái trong khoảnh khắc thốt nhiên hóa (chết) trước bàn thờ. Mạc Cửu theo lễ chôn cất, xây mộ…”.

Như vậy, chùa Tam Bảo là do Mạc Cửu lập nên chứ không phải do Mạc Thiên Tích xây dựng.

                    b/ Ai là người lập chùa Phù Dung ở Hà Tiên, vào thời kỳ nào?

Sách Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức, tập Thượng, quyển 2, Sơn xuyên chí, Trấn Hà Tiên, trang 103 có đoạn: “Núi Phù Dung, cách phía Tây bắc trấn hơn 1 dặm, có nham hố xanh rậm lâu đời, chùa Phù Dung ở phía tây nam chơn núi, chuông mõ lao xao, tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào giữa chợ, rõ ra quang cảnh nửa tục nửa tăng”.

Vậy là trước năm 1820 đã có chùa Phù Dung ở trên núi Phù Dung. Chùa này do Lão Hòa thượng Ấn Đàm đời Lâm Tế thứ 36 xây dựng. Năm 1834, chùa bị giặc Xiêm tàn phá.

           V/ Kết luận, kiến nghị

Qua hệ thống các luận cứ thu thập từ các tư liệu cổ, đối chiếu thông tin thực tế địa phương về chùa Phật Lớn – Thiên Trước Cổ tự tại Hà Tiên, chúng tôi xin tóm tắt một số ý kiến mang tính xây dựng đóng góp như sau:

  • Về tên gọi chính thức của chùa Phật Lớn, theo các từ điển Hán Việt đã dẫn, “Thiên Trước Cổ tự” hay “Thiên Trúc Cổ tự” đều có cùng ý nghĩa là “Chùa cổ đất Phật”. Riêng chữ “Trúc” được thợ không chuyên chạm khắc thủ công trên chuông vào đầu thế kỷ XX lúc chữ Hán trong giai đoạn suy thoái, nên độ tin cậy không cao. Lý do ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang năm 2002 chuẩn y tên gọi “Thiên Trước Cổ tự” được đổi lại là “Thiên Trúc tự” cho khớp với tên hiệu được ghi ở đại hồng chung là không thuyết phục. Nếu vẫn bảo lưu lý do này, vô hình trung công nhận tên gọi chùa Thiên Trúc là chùa “Tre Trời”.
  • Trong buổi hội kiến giữa chúng tôi với sư Pháp Hảo tại chùa Phật Lớn ngày 16-5-2021, sư Pháp Hảo xác nhận tên chùa theo chữ Pali: Jambudīpa – Ārāma ( Ghép từ ngữ theo Pali JAMBUDĪPĀrāma) có nghĩa là Đất Phật, cùng nghĩa với chữ Trúc có bộ Nhị của Hán tự. Chúng tôi rất phấn khởi khi nghe sư nói, nhìn lên ngôi chùa đang trùng tu mà thưa với sư rằng: “Sau này sư cho viết thêm ba chữ Hán:     Thiên Trúc Tự trên bảng hiệu chùa để có đầy đủ ba ngôn ngữ  Pali – Việt – Hán, như một cách minh định”.
  • Về lịch sử chùa Phật Lớn nói riêng, vùng đất Hà Tiên nói chung, khi phổ biến thông tin sử liệu cần sử dụng các nguồn tin chính thống được các nhà nghiên cứu, các nhà sử học xưa và nay dày công nghiên cứu, công bố chính thức trên các tạp chí, ấn phẩm tin cậy. Đối với các giả thuyết lịch sử còn nhiều ý kiến tranh luận, cần cân nhắc bóc tách các lớp bụi thời gian một cách cẩn thận, so sánh đối chiếu nhiều nguồn tư liệu, đảm bảo cung cấp thông tin có đủ luận cứ khoa học nhằm tránh để lại nhiều hệ lụy sai lầm cho các thế hệ đời sau.

Hà Tiên, lập hạ 2021  Trương Minh Đạt

Chú thích:

[1]: Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, Morice Albert, Lyon, 1876, H. Georg, Libraire – Editeur – 65, rue de Lyon. Même maison à Genève et à Bale, page 24-25.

[2]: Tuyên Đức là niên hiệu vua Tuyên Tông nhà Minh, từ năm 1425 đến năm 1439.

Phụ chú:

1. – Núi Đề Liêm ở Hà Tiên, xưa gọi là núi Phù Dung, trên núi có ngôi chùa của Lão sư Hòa Thượng Ấn Đàm đời Lâm Tế thứ 36, chùa theo tên núi mà gọi chùa Phù Dung. Vì trận giặc Xiêm năm 1834, chùa bị hoại. Mười ba năm sau, vua Thiệu Trị cho xây lại chùa ở núi Bình San. Lúc đó núi Bình San và chùa cùng mang tên mới là Phù Anh. Lý do vấn đề kỵ húy vì chữ Dung là tên của vua Thiệu Trị được ông nội là vua Gia Long đặt cho.

2. – Vì sao ngày nay có tên “Phù Dung cổ tự” ở núi Bình San? Tên Phù Anh do vua Thiệu Trị đặt cho núi và chùa, lúc đó chỉ được thông báo trên văn bản hành chánh, chưa được phổ biến rộng rãi trong dân chúng nên không ai biết để gọi cho đúng, người ta mãi gọi theo thói quen “Phù Dung” bất kể chùa tọa lạc ở đâu.

3. – Tại sao lại có tên Phù Cừ? Sách Hoàn Vũ Ký của Tĩnh Sơn Nguyễn Thu đời Thiệu Trị thứ 07 cho biết do chấp hành lệnh vua phải đổi tên Phù Dung thành Phù Cừ. Thời đó ở ngoài Bắc, tỉnh Hải Dương có huyện Phù Dung cũng đổi tên là huyện Phù Cừ. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí – Lục Tỉnh Nam Việt chiếu theo sách Hoàn Vũ Ký để gọi chùa mới là Phù Cừ, thực sự chùa mới đã và đang có tên Phù Anh. Đây là cái sai lầm lớn của sách Đại Nam nhất thống chí – Lục Tỉnh Nam Việt đã không xem xét kỹ, trong khi sách Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức không hề có tên Phù Cừ.

Thông tin và hình ảnh của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » bổ túc thêm về bài viết của thầy Trương Minh Đạt.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên, dù tuổi cao nhưng vẫn không ngại khó khăn trong công việc khảo cứu, tìm tòi, đã ra công khó nhọc viết bài trên giúp chúng ta thông hiểu rỏ nguồn gốc và tên gọi của chùa Phật Lớn ở Hà Tiên, xin cám ơn thầy Pháp Hảo đã vui vẻ chia sẻ cho mình vài tấm ảnh về chùa Phật Lớn xưa, anh Vương Bình Thành và bạn Huỳnh Bá Tường (Bẻ), hai người đều là người gốc Hà Tiên, đã vui lòng chia sẻ các thông tin về chùa Phật Lớn ngày xưa và hình ảnh hiếm để xác nhận rỏ ràng tên xưa của chùa Phật Lớn, thấy rỏ trong hình xưa là tên Thiên Trước Cổ Tự »., và xin cám ơn các bạn Khang Phạm, bạn Huu Tho về thông tin trong hình sinh hoạt ở chùa Phật Lớn, Hà Tiên. (Trần Văn Mãnh).

Sau đây là một số hình xưa có liên quan đến chùa Phật Lớn xưa ở Hà Tiên:

Hoạt động gia đình Phật Tử ở chùa Phật Lớn, Hà Tiên khoảng năm 1965. Hình do Phật Tử Hà Tiên chia sẻ với thầy Pháp Hảo.

Phật Tử chụp hình trước chùa Phật Lớn, Hà Tiên khoảng thập niên 60. Hình do Phật Tử Hà Tiên chia sẻ với thầy Pháp Hảo.

Phật Tử chụp hình trước chùa Phật Lớn, Hà Tiên khoảng thập niên 60. Hình do Phật Tử Hà Tiên chia sẻ với thầy Pháp Hảo.

Gia đình Phật Tử mới thành lập ở chùa Phật Lớn, Hà Tiên. Bìa phải là Ông Huỳnh Thuật Sanh vai Bác Trưởng gia đình Phật Tử và phụ trách dạy tiếng Hoa, thân phụ của hai bạn: Huỳnh Vạn Tường tên thân mật là Sện (có chữ A) và Huỳnh Bá Tường tên thân mật là Bẻ (có chữ B). Khoảng năm 1965. Hình do Phật Tử Hà Tiên chia sẻ với thầy Pháp Hảo.

Sinh hoạt bên trong chùa Phật Lớn, Hà Tiên trong khoảng thập niên 90. Người ngồi bìa trái phía dưới, mặc áo dài trắng là thầy Trần Văn Hương, hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa (nguồn thông tin: Huu Tho). Hình nguồn: Thầy Pháp Hảo.

Sinh hoạt trước chùa Phật Lớn, Hà Tiên trong khoảng thập niên 90. Hình nguồn: Thầy Pháp Hảo.

 

 

 

 

 

Quán Ti La (Hà Tiên) – Phần A: Hơn năm mươi năm trước (tiếp theo) (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nhắc đến quán Ti La, Hà Tiên chúng ta không thể không nhắc đến một người anh và cũng là một người bạn tuy tuổi tác có chênh lệch nhau, nhưng anh từng là một người bạn văn nghệ luôn chung bàn cafe hàn huyên chuyện âm nhạc và cùng nghe nhạc, đó là anh Lý Minh Mẫn. Nhân bài viết hôm nay, tác giả Quang Nguyên tiếp tục viết về « Quán Ti La » có nhắc đến ông anh Lý Minh Mẫn, mình xin nói thêm về anh Mẫn (phần viết về anh Mẫn, mình đã có viết trong bài « Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên » khi nói về người bạn ở khu chợ tên là Huỳnh Minh Hà -tên ở nhà là Hồ- có một thời gian học đàn guitare cổ điển với anh Mẫn). Ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển.

Qua bài viết dưới đây, Quang Nguyên nhắc lại cho chúng ta rất nhiều chi tiết và thông tin về quán Ti La, từ việc biến chế một món yaourt tuy ngở là đơn giản, nhưng phải trải qua bao nhiêu giai đoạn biến chế, để cuối cùng trở thành một trong những món rất được khách yêu chuộng và ngay cả ngày hôm nay món yaourt Ti La nầy vẫn còn giữ được hương vị ban đầu. Tiếp đến Quang Nguyên đã kể lại cho chúng ta một cách rất đầy đủ và phong phú nền âm nhạc Ti La, tức là cái khuynh hướng về chọn nhạc, sự sắp xếp phục vụ cho khách nghe các loại nhạc, tùy theo tính chất của khách  và tùy theo diễn biến của thời gian từ buổi chiều mở quán cho đến khi đêm khuya về gần đóng cửa quán… Phải nói là chúng ta rất cám ơn tác giả Quang Nguyên dã nhắc nhở lại dùm chúng ta tất cả những chi tiết, những yếu tố ngày xưa mà chúng ta một phần lớn ai cũng đã có sống qua những giây phút như vậy, mà nếu không có bài viết cụ thể nầy chúng ta khó mà có đầy đủ ý để kể lại…

Trong những năm đầu thập niên 70, khi mình còn là học sinh, sinh viên, mỗi lần về thăm nhà Hà Tiên, thường cùng với bạn bè đến quán TI LA (Hà Tiên) của thầy cô Trương Minh Đạt và Nguyễn Phước Thị Liên, để uống cafe và nghe nhạc. Đó là lần đầu được thầy cô giới thiệu cuốn băng « Mười Bài Đạo Ca » do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác theo ý thơ của nhà thơ Phạm Thiên Thư. Sau nầy đã hơn 50 năm trôi qua, không ngờ có một ngày được dịp nghe lại một trong những bài Đạo ca nầy dưới hình thức sống động tại phòng nghe nhạc, thật là rất cảm xúc và rất mang ơn thầy cô Đạt-Liên đã nhập môn cho mình vào nhạc Đạo của Phạm Duy…

Xin mời thầy cô và các bạn đọc tiếp bàì dưới đây nhé, đó là phần tiếp theo của phân đoạn A có tên « HƠN NĂM MƯƠI NĂM TRƯỚC ». (Paris, 22/06/2021 TVM viết phần giới thiệu).

QUÁN TI LA (Quang Nguyên)

A – HƠN NĂM MƯƠI NĂM TRƯỚC (tiếp theo).

… Nhưng khách đến Ti La không chỉ để thưởng thức cái món kem “Ken cô” và món cà phê Moka đầy chất “tôi” trong đó, bởi rất nhiều nam thanh nữ tú đã đến Ti La vì cái món yaourt đặc biêt của má tôi.

Kỳ thật là cho đến hôm nay tôi vẫn không biết được cái cách bà đã pha chế thế nào (ngoài em gái tôi đang làm chủ quán Ti La hiện tại), vì con người phàm tục của tôi chỉ biết ăn, ăn và ăn mà thôi!

Tôi chỉ nhớ rằng để nó đạt được độ ngon huyền thoại kéo dài hơn nửa thế kỷ thì nó phải đủ từng trải như một đời người. Nghĩa là từ cái nguyên liệu cơ bản sơ sinh ai cũng phải dùng đó là sữa. Nếu ta tạm xem sữa là “nhân chi sơ tính bổn thiện”, thì cái thằng “sữa” đó nó sẽ bắt đầu ‘’học’’ các quy tắc của cuộc đời một cách nghiêm ngặt nhất mà nếu làm trái lại sẽ bị “đào thải” ngay tức khắc, có nghĩa nếu không làm đúng các bước kỹ thuật thì dứt khoát cái thằng sữa đó nó trở thành “cái đồ bỏ đi!”. Trước tiên, nó phải được pha với nước ấm bao nhiêu sôi bao nhiêu lạnh, rồi nó phải bị đảo xoáy vòng vòng, bị “cấy” vào các kinh nghiệm trải đời chua lè của “người đi trước” là hũ men, rồi lược tới lọc lui… Sau khi “tơi tả” với các giai đoạn hành hạ đủ kiểu của “cuộc đời” thì cái thằng Yaourt-sắp-thành đó nó còn được đưa ra ngoài sân để Trời Đất kiểm tra cái độ “chín” của nó, kèm theo một khối nước sôi được chứa trong một cái xửng ủ lên trên. Tại đó nó thật sự cô độc trong nóng ngoài nắng để chiêm nghiệm lại mình. Trong cái môi trường khắc nghiệt đó thằng Yaourt non sẽ trưởng thành và bắt đầu cô đặc lại với tất cả các thành tố cơ bản của một tên Yaourt tử tế nhất.

Nhưng như vậy cũng chưa đủ độ “đàng hoàng”, nó còn phải qua một lần hành hạ của cuộc đời nữa là bị ướp lạnh! Sau khi ướp với một độ lạnh vừa phải để không bị đông cứng như đá để rồi sẽ đơ vữa lợn cợn ‘’nửa yaourt nửa ngợm’’, mà nó sẽ phải mát lạnh dẻo quánh đủ hương vị chua ngọt của sự trải đời… Chỉ khi đó nó mới đủ bản lĩnh để chinh phục các ý thích khác lạ của “miệng lưỡi thế gian” là: yaourt có đá với đường, yaourt có vắt thêm chanh, hay chỉ đơn giản là hũ yaourt lạnh đọng “mồ hôi” trên cái dĩa và chiếc muỗng nhỏ kèm theo một cốc nước bạc hà cũng mát lạnh.

Cuối cùng, Yaourt Ti La ngoài việc đã sẵn sàng chia sẻ các tố chất đặc biệt của mình cho thực khách thì nó còn có thể làm “chất men” truyền lại cho thế hệ sau những gì tốt đẹp nhất của nó. Cứ vậy mà nó “di truyền” đã hơn mười tám vạn ngày qua…

Ngày nay ở khắp nơi công nghệ làm yaourt đã đạt mức thượng thừa với quá nhiều sản phẩm đa dạng, nhưng Ti La của hơn năm mươi năm sau vẫn y nguyên thuở ban đầu, bởi sản phẩm “hand made” (thủ công) bao giờ cũng có giá trị “hồn vía” riêng của nó.

Ngoài ra, ở ngày xưa ấy, để khách có nhiều sự lựa chọn hơn, Ti La còn có các món là “trend” thời thượng mà ngày nay ít ai còn nhớ: soda sữa hột gà, bia sữa hột gà, bạc hà sữa, món trái vải (là đồ hộp, chứ xưa không có trái vải tươi).

Nhắc bia tôi mới nhớ ra, không biết độc giả ai còn nhớ chai bia “33”? Có cái gì đặc biệt?

Đó là chai bia “đít tròn”, là đít tròn bầu thật sự, nó khác với những chai đit bằng, không phải két nào hai mươi bốn chai cũng có nó, và nếu có thì chỉ duy nhất một chai. Tôi của ngày xưa chuyên đi “rờ đít” các cái chai trong các két 33 mới nhập về để chọn ra để riêng cho ba má tôi dùng vì nghe đồn rằng chai đít tròn là chai ngon đặc biệt… Má tôi rất thích uống bia với cam đường hay chanh đường, nhất là những khi bà có bầu (khi bụng to thì thế nào bà cũng thường thích nhai cà phê hạt), mà tôi thì chưa hề có cái ấn tượng về cái bụng xẹp của má!

Nhưng ngoài thức uống thì cái điều mà người xưa còn nhớ đến Ti La dứt khoát đó phải là âm nhạc.

Tôi chưa bao giờ nghe ba tôi hát, nhưng tôi thường nghe ông huýt sáo khi làm việc, nhất là khi ông vẽ tranh ảnh. Còn má tôi? Bà hát hay và hay hát, bà có thể hát giọng Nam bộ và giọng Huế “rặt”, hoặc nửa Nam nửa Huế tùy tình hình! Vì bình thường trong nhà bà nói giọng Huế nhưng bất chợt có một người Nam Bộ nào xuất hiện là bà đổi giọng ngay lập tức giống như xe đang đi bị sụp ổ gà vậy. Bà hiểu ngôn từ của âm nhạc và bà cảm nhận nó một cách sâu sắc, bà hiểu về tác giả và tác phẩm, và bà còn biết sử dụng đàn mandoline. Chính bà thường giải thích cho chúng tôi ý nghĩa của ca từ, điển tich sử dụng trong ca từ, các ẩn ý, các so sánh về sự khác nhau trong thơ phổ thành nhạc v.v… chứ không phải từ ba của chúng tôi. Tuy ba tôi không hát bao giờ nhưng cái cảm thụ âm nhạc và sự hiểu biết của ba thì thật tuyệt vời, vì toàn bộ nhạc của Ti La có cả ngàn bài trong hàng trăm cuốn băng từ magneto to như cái đĩa trung được sử dụng cho máy Akai – là thứ máy hiện đại khi đó, là chỉ có ba tôi đi mua từ Sài Gòn mang về sau khi ông đã rất chắt lọc từ thị trường băng đĩa đa dạng ở Sài Gòn tự do trong những ngày đã rất xa xưa ấy…

Phải nói rằng ba và má tôi là một “cặp đôi hoàn hảo” về việc chọn một “gu” âm nhạc cho quán Ti La, bởi từ khi tôi được ăn bát cháo lú của Mạnh bà ở đầu cầu Nại Hà, rồi sau đó được chun vào cái bụng thường xuyên to năm một của má tôi cho đến nay khi tôi đã quá ngũ tuần, thì chưa bao giờ tôi thấy ông bà cãi nhau về đề tài âm nhạc và thơ văn, trong khi các đề tài khác thì chuyện to chuyện nhỏ gì ông bà cũng thường xuyên “to’’ hơn là ‘’nhỏ”!

Âm nhạc của quán Ti La ngày ấy còn được “nâng tầm” hơn nữa khi có một người lính truyền tin VNCH là anh Lý Minh Mẫn, “lý” thì minh mẫn nhưng “tình” thì mê muội! Anh mê nhạc đến nỗi hàng ngày anh đến cắm dùi tại Ti La, để rồi anh bị nhạc của ba tôi đã chọn gây mê hoặc, nên anh tự giao việc cho mình là chuyên trách về âm thanh và chọn bài theo yêu cầu của khách luôn! Khách có thể yêu cầu bất cứ bài hát nào mình thích, anh sẽ ra tay, bảo đảm bài hát sẽ được nâng lên một vị trí xứng đáng với sự hài hòa của các dãi băng tần âm thanh bass – mid – treble hòa quyện hoàn hảo với tai nghe và sự hiểu biết kỹ thuật bài bản của một người lính truyền tin giỏi nghề.

Bác Tư Thiên hớt tóc có lần nói với tôi hồi nhỏ khi tôi đưa đầu cho ông “cạo”.

          – Bé, quán Ti La của ba mày có cặp loa thật “dữ”!

          – Con có thấy bác Tư tới Ti La đâu mà bác biết?

          – Tao đâu có cần tới?

          – Ủa?

        – Tao làm ly cà phê, xong ra trước nhà ngồi nghe nhạc từ Ti La nó oánh “phùm phum”, bài nào tao cũng nghe hết…

Một thời gian rất dài tôi cứ tưởng bác nói đùa vì tôi biết bác rất hay đùa, nhà tôi và nhà bác có đến ba trăm mét với bao nhiêu là nhà và cây cối cản trở thì làm sao mà bác có thể nghe được? Cho tới khi tôi lớn lên học tới trung học tôi mới hiểu là các loại âm thanh có tần số thấp, với bước sóng dài như tiếng bass nó có thể đi xa, có khi rất xa, ví dụ như tiếng trống công phu của chùa Tam Bảo vang khắp Hà Tiên hay tiếng trống đêm Giang Thành đầy hoài niệm vang dài hàng thế kỷ trong Giang Thành Dạ Cổ… thì tôi đã tin rằng bác Tư Thiên nói thật. Đó là kết quả của việc điều chỉnh âm thanh sao cho nó “sâu” và “xa” của anh Lý Minh Mẫn. (Xưa, trong một thời gian rất dài có đến mười lăm mười sáu năm tôi đã gọi anh bằng “chú”, cho đến một ngày anh “ẳm” chị Hai khó tính của tôi về làm vợ thì mặc nhiên anh trẻ lại! Và kể từ hôm đó chú lại là anh! Tôi với anh chị đã gắn bó với nhau trong một thời gian rất dài qua bao nhiêu truân chuyên hoạn nạn và khó khăn của cuộc đời… Anh đã bỏ chúng ta mà đi từ nhiều năm trước vì đời sống trần trụi khả ố chứ nó không hề đẹp khả ái như thơ và nhạc!)

Anh Lý Minh Mẫn, một quân nhân ngành Truyền Tin thời trước, phục vụ tại Chi Khu Hà Tiên, vì yêu âm nhạc nên thường xuyên đến phục vụ kỹ thuật âm thanh cho quán Ti La (Hà Tiên) trong những năm 70. Hình: Quang Nguyên

Tuổi thơ chúng tôi ăm ắp âm nhạc của quán Ti La. Từ đầu hôm quán đã mở nhạc và bán đến khoảng 9 giờ tối thì đã vắng khách, và 10 giờ rưỡi thì nhà đèn tắt phụp! Hà Tiên xưa là vậy. Một tiếng hơn trong khoảng vắng đó là “cõi riêng” của ba má tôi hưởng thụ âm nhạc, để thư giãn nghỉ ngơi sau một đêm khách khứa đông đúc, “điều binh khiển tướng” đầy mỏi mệt… Đó còn là lúc có những người khách tâm giao ngồi lại chờ đến tắt đèn, họ đã cùng yêu thích và chia sẻ với nhau những cảm nhận của riêng mình về các bài hát và các tác giả, nhất là những khi ba tôi mang về những cuồn băng mới, họ cùng chuyện trò văn thơ nhạc rất ấm cúng và lãng mạn… Một nét rất riêng của Ti La mà giờ không còn nữa.

Tôi ngày xưa khi còn rất nhỏ, nhỏ thì cần mẹ, mà đêm thì má tôi ngoài quán còn mấy anh em chúng tôi thì bị “nhốt” trong một căn phòng lưới ở nhà trên vì Hà Tiên rất nhiều muỗi, chúng tôi tự chơi với nhau rồi sẽ lăn ra ngủ, nhạc ngoài kia thì cứ rỉ rả hết bài này đến bài khác trôi qua, chúng tôi nghe nhạc rất nhiều trong một cách thụ động như vậy… Nhiều lần, khi tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì nên đã rất “lo” khi nghe ca sĩ Thái Thanh hát:

Tay Mẹ đang quờ quạng, như một cành khô khan
Nhớ con tìm khắp chốn, rời rã cả thời gian
Khi còn là thiếu phụ, thơm như nhành ngọc lan
Đến nay, già tóc trắng, tìm con đà mấy trăng.

Rồi nỗi lo biến thành nỗi sợ hãi đến phát khóc vì sợ … mất mẹ!

….

Thế rồi, một hôm Mẹ chết, hơi Mẹ trong trời chưa hết
Ôm cả trần gian đầy vơi, nhân loại đeo tang người
Tim Mẹ thành ra trùng dương, máu Mẹ thành sông thành nước
Ôi đời trầm luân, Mẹ thương, chiếu ánh sáng từ quang.
Bây giờ Mẹ đã thành mơ, hơi Mẹ hoá thành hơi gió
Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi, tiếng Mẹ ru bồi hồi

….

Tôi sớm biết “khóc” vì nhạc khi nghe Quán Thế Âm của Phạm Duy trong “Mười bài Đạo ca” của ông!

Rồi cũng từ “Ti La về khuya” ba má tôi thường trao đổi với nhau về cái tính thơ, tính thiền, tính tu, tính đời của Phạm Thiên Thư – một “nhà thơ đội lốt tu sĩ” như ai đó từng nói về ông, và Phạm Duy – một “phù thủy” âm nhạc Việt Nam. Hai ông đã để lại cho đời nhiều bài ca bất tử không chỉ là Đạo ca đã nói, “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Gọi em là đóa hoa sầu”, “Em đi lễ chùa này”… Và Phạm duy không chỉ có phổ thơ Phạm Thiên Thư, ông có cả một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ khó để ta hiểu hết. Ngày xưa tôi “sợ” nhạc của ông, lớn lên tôi “cảm” nhạc của ông theo từng độ dày của năm tháng trôi qua đời mình. Tôi chắc rằng sẽ không ai cảm thụ và hiểu biết hết các bài nhạc của ông, bởi nó phong phú, đa dạng, biến hóa. Người ta thường nói “văn sao người vậy”, thì nhạc của ông nó cũng “phức tạp” giống như một Phạm Duy loay hoay, thay đổi, lắm tài nhiều tật…

Và Ti La cũng đã cho chúng tôi sớm biết về nhạc của các ông Phạm Đình Chương, Lam Phương, Đynh Trầm Ca, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Đỗ Lễ, Ngô Thụy Miên, Hoàng Thi Thơ, Lê Uyên và Phương, Trịnh Công Sơn… Các ban nhạc Shotgun, Phạm Mạnh Cương, ban Hợp Ca Thăng Long, ban Phượng Hoàng, ban “Ba Con Mèo” v.v… Và chúng tôi đã sớm nhận ra giọng ca của rất nhiều ca sĩ. Phải nói rằng Ti La là cái nôi tình yêu âm nhạc của đại gia đình chúng tôi.  Nói ra thì khó tin nhưng kỳ thực âm nhạc đã giúp cho chúng tôi vượt qua mọi khó khăn sau này, bởi một bài hát ưa thích được chúng tôi hát tới hát lui nó sẽ làm cho đoạn đường đi xe nước ngắn lại, khom lưng trong thửa ruộng bùn nước mưa lạnh vừa cấy vừa hát mà cấy xong hồi nào không hay, hay quãng đường bốn ki lô mét đi bộ từ Thuận Yên về Hà Tiên hàng ngày xem như là không có…

Một điều cũng quan trọng trong việc vận hành cái quán trơn tru là người phục vụ. Đã từ rất xưa đến nay nếu ai để ý thì thấy rằng quán Ti La có một sự lạ là “chạy bàn” toàn là nam thanh niên. Nhưng thực ra ngày xưa ấy đã từng có nữ phục vụ trong một thời gian ngắn.

Người xưa sẽ nhớ rằng Hà Tiên có một trại huấn luyện quân đội của người Mỹ tại cây số 2 mà ta hay gọi gọn là Trung Tâm, một căn cứ Hải Quân và Pháo Đài là những nơi có quân Mỹ đóng đồn trú, họ cũng thường đến quán Ti La nghe nhạc vì tại đây có nhạc Anh – Mỹ và nhạc Pháp. Người Mỹ thì ồn ào, họ nghe nhạc không hề yên ổn, chỉ một chốc là họ nhún nhún rồi sau đó là dẹp bàn dẹp ghế rồi biến một cái góc quán thành một cái sàn nhảy luôn! Mà nhảy với ai? Đâu thể mấy anh “đực rựa” râu ria nhảy với nhau? Thế là mấy chị chạy bàn nhỏ thó bị mấy anh Mỹ to đùng lôi vào cái “sàn nhảy” tự phát đó. Thật tội các chị chân quê Hà Tiên xưa giờ chỉ biết nhảy lò cò, nhảy cao, nhảy dây chứ nào biết đến nhảy “đầm”? Cùng lắm là biết Lâm Thôn, mà cái điệu nhảy Lâm Thôn phải đi cùng với nhạc Khmer!

Ba má tôi đã khó nghĩ vô cùng và quyết định: các chị vào pha chế và tuyển các anh ra chạy bàn. Từ đó chấm dứt cái vụ nhảy nhót. Rồi cái phong cách phục vụ đó đã duy trì đến tận ngày nay…

Nhưng Ti La được sinh ra như thế nào? Vào năm nào? Tại sao nó có có cái tên lạ, cái tên nghe rất “Tây” như vậy? Và nó đã thăng trầm thế nào trong thời gian hơn năm mươi năm?

Mời các bạn đón đọc phần sau: B – “ Dây Tơ Hồng”.

Quang Nguyên

Chú thích: Bạn đọc nếu chưa xem bài « Quán Ti La, phần A- Hơn năm mươi năm trước (phần đầu) », xin bấm vào link dưới đây để đọc nhé.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2021/06/04/quan-ti-la-ha-tien-phan-a-hon-nam-muoi-nam-truoc-quang-nguyen/

Bài hát: « Đại Nguyện », bài thứ hai trong « Mười Bài Đạo Ca » (Phạm Duy-Phạm Thiên Thư, do Thiên Phượng, Thái Thảo và Thái Hiền trình bày).

…Xin mời thầy cô và các bạn nghe bài thứ hai trong Mười Bài Đạo Ca, đó là bài « Đại Nguyện » với lời giới thiệu : « Từ quan điểm toàn thể trên, dẫn đến một tâm linh bao la, diệu vời; đó là lòng từ bi, là ý lực cứu độ muôn loài như cứu chính mình ». Tam ca Thiên Phượng, Thái Hiền và Thái Thảo trình bày, Phương Nam và Thiên Tuyến đệm nhạc với nền hòa âm của nhạc sĩ Duy Cường.

Thầy Trần Phình Chu

Thầy cô và các bạn thân mến, từ từ với thời gian và với ký ức trở lại, thầy trò và bạn bè chúng ta đã có dịp nhắc nhở, viết bài để ghi nhớ và gợi lại những hình ảnh và kỷ niệm xa xưa của quý thầy cô từng dạy học tại Hà Tiên qua các ngôi trường Tiểu Học và Trung Học…Tuy nhiên cũng còn rất nhiều quý thầy cô trong ký ức của chúng ta mà chúng ta chưa có dịp hoặc thiếu thông tin, hình ảnh để giới thiệu trên mục « Thầy Cô » ở đây. Điều nầy chỉ có thể thực hiện được với sự góp ý và đóng góp bài của quý thầy cô và các bạn…Thời gian gần đây, bạn Lý Minh Thuận, một học sinh thời Trung Học Hà Tiên xưa có góp ý với mình là chúng ta chưa có bài viết về thầy Trần Phình Chu…Mình đón nhận góp ý nầy với một sự phấn khởi và nhanh chóng tìm thông tin về thầy Trần Phình Chu…Thú thật vì thời mình còn học ở trường Trung Học Hà Tiên thì thầy Chu làm việc bên chi khu Hà Tiên, thầy chỉ vào dạy ở trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm sau khi mình đã rời trường lớp và rời cả quê hương Hà Tiên nên mình không có hân hạnh tiếp xúc và quen biết với thầy Chu. Do đó mình phải nhìn qua lại năm châu bốn biển để « cầu cứu », làm sao cho có bài viết về thầy Trần Phình Chu. Được biết thầy cô Trương Minh Đạt có nhiều thông tin về thầy Trần Phình Chu nên mình làm « gan » tỏ ý với cô Nguyễn Phước Thị Liên về việc viết bài…May mắn làm sao, mặc dù còn đang rất bận rộn về sự nghiệp viết sách nhưng cô Liên đã vui vẻ chấp thuận sẽ viết cho Blog chúng ta một bài về thầy Chu…Thật là hay và may quá,… Một thời gian ngắn sau, cô Liên đã gởi cho mình bài viết về thầy Trần Phình Chu, cô cũng có kể lại việc không ít khó khăn trong công cuộc tìm hiểu thêm cho chính xác các thông tin về thầy Chu, vì tình hình sức khỏe hiện tại của thầy cũng không lắm khả quan,..Chúng ta đọc bài viết về thầy Chu để nhớ lại một người con của vùng đất Hà Tiên, một nhà giáo đã cống hiến cuộc đời cho ngành Giáo Dục địa phương, chỉ mong sao cho thầy Trần Phình Chu vẫn được mạnh khỏe, an vui trong tuổi an nhàn, dù ký ức của chúng ta nhắc lại thầy có chút muộn màng, nhưng mong rằng bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên vẫn đem lại cho chúng ta một suy nghĩ sâu xa và biết ơn về thầy Chu, điều đó sẽ làm giảm nhẹ đôi phần về « phần lỗi » – nếu có – mà cô đã kết luận ở cuối bài viết…Riêng mình xin thay mặt cho Blog Trung Học Hà Tiên Xua, xin trân trọng cám ơn gia đình thầy Chu đã giúp về thông tin, cảm ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên về bài viết dưới đây và cám ơn em Lý Minh Thuận đã nhắc nhở cho chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn trong việc tưởng nhớ thầy cô xưa. (Trần Văn Mãnh, Paris viết lời giói thiệu, 16/06/2021)

Thầy Trần Phình Chu  (tác giả: Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

       Hầu như giới học sinh Hà Tiên xưa , ai cũng biết trường trung học quê mình đã tạo nên nhiều tên tuổi sáng giá Kiên Giang. Trong số có những anh chị: Đường Minh Phương, một “Sư kiến trúc”, trụ trì Thiền viện Tây Thiên tỉnh Vĩnh Phúc; Lâm Hữu Quyền, một thầy giáo làm Hiệu Trưởng trường Trung học Hà Tiên gần 20 năm; Lý Mũi Liềm, một chuyên viên có một không hai, mang quân hàm thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa của thời đầu IBM (công ty đa quốc gia chuyên về máy điện toán tại Mỹ – “International Business Machines” mà hồi đó người ta gọi đùa là “In Bằng Máy”), người được chính quyền mới, năm 1975 mời dạy về tin học, khoa học máy tính  cho cán bộ miền Bắc bước đầu vào Sài Gòn; Lâm Ánh Tuyết, cựu trưởng Phòng Giáo Dục Hà Tiên; Hà Thị Hồng Loan, cựu giáo sư trường Nữ trung học Gia Long, Sài Gòn và còn nữa là Trần Phình Chu.

      Anh Trần Phình Chu sanh năm 1941 tại quê hương Hà Tiên. Sau khi thi đậu Tú tài toàn phần (Baccalauréat Locale ), anh ra Phú Quốc dạy học, phụ trách môn Toán- Lý- Hóa. Vài năm sau, thầy giáo Chu phải bỏ dạy, vào quân trường vì lệnh tổng động viên của chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đó thầy được bổ nhiệm về Chi khu Hà Tiên trong vai trò trưởng ngành Truyền tin.  Sau đó một thời gian thầy Chu giải ngũ và vào dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 1970.

        Tháng tư năm 1975, không như các sĩ quan chế độ cũ là phải  học tập cải tạo, thầy được chính quyền mới mời “truyền lửa”  phần hành chuyên môn do thầy phụ trách. Xong việc, thầy cũng trở lại nghề dạy học tại Hà Tiên. Vì bản tánh chăm chí, chu đáo, thầy giáo Trần Phình Chu ngoài việc đứng lớp còn đảm nhiệm cả việc coi sóc phòng Thí nghiệm của trường. Nhân lúc Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động cuộc thi Làm Đồ Dùng Dạy Học, sản phẩm “ Vật Nổi” đầy sáng tạo do thầy tự làm, được Bộ đánh giá cao và cấp huy chương khen thưởng. Ngoài ra thầy còn sáng tác thơ văn, chủ yếu là thể thơ thất ngôn bát cú. Thầy là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Kiên Giang, bút danh Chu Lang, (Lang là tên người bạn đời của thầy cũng là người bạn cùng lớp thời trung học Hà Tiên xưa). Ở Hội Văn nghệ tỉnh, thầy giữ chuyên trang diễn dịch thơ Hán văn trong hội Tao đàn Chiêu Anh Các cho tạp chí Chiêu Anh Các, Kiên Giang. Qua hoạt động Văn nghệ Dân gian, thầy nghiễm nhiên là thành viên của hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam. Chính Hội Trung Ương đã tạo điều kiện tốt nhất sau khi đọc bản thảo của thầy viết về “Nghề đồi mồi  Hà Tiên”. Rồi Hội tự lo kinh phí in sách này cho thầy. Sách do Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Hà Nội- 2000 (ảnh kèm)

      Trong tình yêu quê hương xứ sở, thầy Trần Phình Chu luôn hướng tới sự nghiệp giáo dục Hà Tiên cũng như việc bảo tồn nền văn chương văn học cổ bằng cách diễn dịch và còn thông dịch bằng thơ lục bát các áng văn Hán ngữ mô tả mười cảnh đẹp Hà Tiên qua ngòi bút lỗi lạc Mạc Thiên Tích và các thi nhân Chiêu Anh Các (1736).         

        Năm 2018, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tiên định làm lễ Vinh danh thầy Trần Phình Chu nhưng thật cảm động, thầy và gia đình đã từ chối vì sức khỏe thầy không cho phép.

       Bài viết về thầy hôm nay quả là quá muộn khi giờ đây, thầy thật sự tàn yếu qua cơn bạo bệnh. Thầy không thể nói, không thể đọc những lời tâm huyết của đồng môn đồng nghiệp, của bạn bè gần xa!

        Sự quá muộn, phải chăng đó là phần lỗi của tôi và của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tiên?

                                                       Nguyễn Phước Thị Liên    (16/06/2021)

Thầy Trần Phình Chu và thầy Trương Minh Đạt đều là hội viên của Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam. (Hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Bìa sách và trang trong có dòng chữ tặng sách cho thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên với chữ ký của tác giả: « Nghề Đồi Mồi Hà Tiên », tác giả Chu Lang Trần Phình Chu. (Hình: Cô Nguyễn Phước Thị Liên).

 

                

Quán Ti La (Hà Tiên) – Phần A: Hơn năm mươi năm trước (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên không ai trong chúng ta lại không biết đến quán cà phê nghe nhạc với cái tên là Ti La…Thật vậy, từ những năm giữa thập niên 60, từ giới học sinh, thanh niên nam nữ, các chàng lính Hải Quân lãng tử ghé bến Hà Tiên, các anh lính Biệt Kích trại Tô Châu, …v…v…tất cả đều đã từng thả hồn lâng lâng theo tiếng nhạc của dàn nhạc Akai với những chiếc loa gắn ở các góc khu vườn quán Ti La, trong khi chờ từng giọt cà phê rơi chầm chậm xuống tách……Tuy ai cũng biết quán cà phê Ti La, nhưng được sống qua những năm tháng đầu tiên từ khi thành lập quán thì chỉ có thế hệ được mệnh danh là « Sixties and Seventies » mới từng trải qua…Mình cũng là một thành viên trong giai đoạn đời sống nầy…Cứ mỗi buổi tối thì cùng các bạn học chung trường và đôi khi cùng với một vài người bạn trong hàng ngũ lính thường đến quán cà phê Ti La để uống cà phê và nhất là để nghe nhạc…Có thể nói khi thành lập quán Ti La gia đình thầy Trương Minh Đạt đã vô tình đóng góp rất nhiều đến sự thành hình quan niệm và triết lý chọn và nghe nhạc của giới học trò Trung Học Hà Tiên thời đó…Thật vậy, vào thời đó, khi được nghe một bản nhạc mới trên các đài phát thanh, giới học sinh rất ít được có dịp nghe đi nghe lại nhiều lần vì không có phương tiện máy móc để nghe và cũng không có nhiều các buổi trình diễn âm nhạc như ngày nay, do đó một cách hay nhất để thỏa tính nghe nhạc là lên quán cà phê Ti La thường xuyên để nghe các bản nhạc mình yêu thích, vả lại cũng để được biết thêm những bản nhạc hay, có giá trị do chủ nhân quán chọn lọc và giới thiệu. Phần lớn sự hiểu biết về các bản nhạc và các nhạc sĩ thời đó của mình cũng là do tích lũy nhiều năm tháng được nghe nhạc ở quán Ti La… Tác giả Quang Nguyên một lần nữa đến với thầy cô và các bạn qua một loạt bài về sự thành hình và phát triễn của quán nhà Ti La, mặc dù vào thời điểm nầy Quang Nguyên vốn còn là một cậu bé hay tò mò và nhất là cũng hay hỏi nầy hỏi nọ lung tung với mọi người chung quanh, nhưng có lẽ nhờ có tính chất hiếu kỳ đó mà ngày nay chúng ta có được loạt bài kể lại về quá khứ mà theo thiển ý mình là các bài viết nầy sẽ gây thích thú và lợi ích cho giới trẻ Hà Tiên hôm nay, để các em sẽ thấy và hiểu được thêm về quá khứ của quán cà phê Ti La với một thời đã từng đạt đến mức vàng son của nghệ thuật quán nhạc và cũng là một thời của những tình yêu đã được nung đúc qua những buổi tối ăn kem, uống cà phê, trò chuyện của những người trẻ thời 60-70 đang yêu nhau và đang ngồi bên một chiếc bàn nhỏ cạnh một góc nào đó trong khu vườn của quán Ti La…(riêng mình thì không nhớ rỏ là mình cũng đã có từng ngồi bên cạnh ai đó không vì thời gian đã lâu quá rồi…..!!!).  Paris, ngày 03/06/2021, Trần Văn Mãnh viết lời giói thiệu.

QUÁN TI LA (Quang Nguyên)

A – HƠN NĂM MƯƠI NĂM TRƯỚC.

Tuổi thơ tươi đẹp – phải nói rõ ra là “tuổi nhi đồng tươi đẹp” của chúng tôi chỉ vỏn vẹn có mấy năm cho đến một ngày cuộc đời thay đổi tất cả. Chúng tôi đột nhiên vươn vai thành người lớn và cái tuổi tươi đẹp đó bỗng dưng bốc hơi lúc nào chẳng ai trong chúng tôi kịp nhận ra. Ồ! Ngộ thật. Nhưng đó là cuộc đời mà? Người ta còn mất đi những thứ to tát hơn nhiều … Phần tươi đẹp còn lại cho đến hôm nay trong chúng tôi vẫn là ký ức, mà đối với tôi nó đẹp như khóm hoa mùa xuân trước nhà đang chia sẻ sắc màu cùng lối xóm hay người qua kẻ lại…

 “Khóm hoa tươi đẹp” trong cái tuổi thơ tươi đẹp không kém đã nói trên của chúng tôi là quán cà phê rất lâu năm tạị Hà Tiên, nó mang một cái tên khá kỳ lạ: Quán Ti La. Có lẽ đây là cái quán nước duy nhất có cái tên và tuổi đời lâu đến hơn nửa thế kỷ ở cái xứ sở này cho đến hôm nay. Ngày ấy, tuổi thơ tôi là đầy ắp những đêm dài với hàng ngàn bài hát mà ba má tôi đã chọn riêng cho quán của mình. Các anh chị em tôi đã sớm biết hấp thụ cái âm thanh khi du dương trầm buồn, lúc rộn ràng tươi vui, khi não tình sướt mướt, lúc giậm giật “sập giàn”… mà xưa nay chúng ta vẫn hay quen gọi là âm nhạc.

Mà, tính tôi hay cù cưa cù nhằng nên chỗ này chưa đến cái vụ “âm nhạc”. Phải bắt đầu từ xưa hơn nữa kia – từ khi con tằm nó nhả tơ…

… Ký ức của tôi về quán Ti La bắt đầu là màu sắc, mùi xăng, và cái thứ dẻo quánh mà mỗi khi một chút nhỏ cái chất ấy đổ xuống nền xi măng thì ba tôi thật khó khăn để lau chùi nó. Ông gọi là “sơn”. Ừ thì sơn có gì lạ? Quả thật nó không lạ với tất cả chúng ta nhưng với thằng nhóc tò mò mới bốn năm tuổi thì rất lạ chớ? Ở cạnh ông xem ông làm việc, tôi mới khám phá các cách pha màu biến hóa khôn lường từ những màu sắc căn bản… Hàng ngày, khi đi làm về hoặc những ngày nghỉ phép là ông say mê với cái thứ gọi là sơn dầu đó, ông vẽ những bức tranh trên những mảng tường ngăn cách nhà chúng tôi và nhà cô Bảy, mà trước khi bác Sáu Bưu điện về ở thì đây là một vườn chuối thâm u rờn rợn có hàng xương rồng cao hơn đầu người làm rào ngăn cách với phần còn lại của thế giới…

Ba tôi đã vẽ gì trên những mảng tường ấy? Đó là những bức tranh mô tả bài thơ, bài ca hay đã trở thành bất tử, mô tả những câu ca dao mẹ đã hát ru con ngấm vào những tâm hồn trẻ thơ, có cả hình ảnh hoài niệm của ký ức tuổi thơ của ông.  Tất cả được biến thành những hình ảnh rất sống động, to lớn và “hoành tráng” trên suốt hai mảng tường có hơn ba mươi mét.

… Đó là một cặp nai, một con đang ung dung uống nước bên dòng suối, còn con kia đang ngơ ngác nhìn xa xăm trong một khu rừng trụi lá, một vài chiếc lá trôi theo dòng nước còn lá vàng ngập dưới chân “em”… Làm ta không thể không liên tưởng đến một bài thơ của Lưu Trọng Lư đã được Phạm Duy phổ nhạc với tựa đề cùng tên. Bài hát ấy đã rất nổi tiếng với tiếng hát danh ca Thái Thanh du dương cao vút được hòa âm bởi piano, violin và tiếng trống jazz nhè nhẹ rải rác trên nền của một điệu Boston thanh thoát được các nhạc công chơi hơi nhanh một chút, với lối hòa âm đơn giản thời 1969-1970…

“… Em không nghe rừng thu                                    
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô…”

… Đó là một bức tranh khác to lớn, có đôi hạc trắng đang sải cánh bay ngang một dải mây trắng mờ và kia là một mặt trăng to trên một nền sáng nhạt đủ để ta thấy rõ một đêm trăng sáng. Ngày xưa, nó luôn làm tôi liên tưởng đến câu hát ru của má tôi về những cánh cò cái vạc, những câu ca ru dành cho những đứa em tôi mà đứa này vừa leo được ra khỏi nôi là ngay lập tức có đứa khác “trám” vào! Việc leo ra và trám vào liên tục đó từ thuở có chị Hai tôi cho đến ngày này cũng đà năm sáu lần, và dường như  đã khiến cho câu hò Huế  “ạ…ạ..ời, ạ ..à.. ơi…” của má hụt hơi theo năm tháng.  Ba tôi vì trước đó đã “gặp cô gái Huế mà chân đi không đành”, nên đã rước nàng về làm dâu Hà Tiên. Rồi nhịp nhàng yêu thương nên mỗi năm một đứa, tiếp tục nhịp nhàng để cùng giữ lửa hạnh phúc bằng cách hà hơi tiếp sức “hò…ơ…” Nam bộ với nàng mà ru hời những đứa con “năm một” khóc la inh ỏi… Nhờ thế mà chúng tôi được thấm các làn điệu ca dao dân ca hai miền tự lúc nào không biết!  Và cũng vì “nhịp nhàng năm một” đó mà sinh chuyện khó khăn, nên nghe lời anh Trương Minh Hiển của mình mà ông bà phải “đẻ” thêm cái quán Ti La để tăng thêm thu nhập nuôi con…

Nhưng đôi “hạc trắng – đêm trăng” đó té ra không liên quan gì đến các làn điệu dân ca hai miền nên nó cũng chẳng liên quan gì đến bầy con mà ba má tôi đã lỡ tạo ra, chẳng qua là ngày xưa tôi tưởng tượng thế thôi, đó lại là một cảm hứng của “họa sĩ” nghiệp dư Trương Minh Đạt về một bài hát có cánh hạc chơi trăng …

« Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
   Nửa năm tiên cảnh,
   Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
   Đá mòn, rêu nhạt,
   Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
   Cửa động,
   Đầu non,
   Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi… »

Ai cũng biết đó là bài thơ “Tống Biệt” của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu với lối hành thơ mới lạ và độc đáo bỏ qua các khuông thức khô cứng khiến nhạc sĩ tiền chiến Võ Đức Thu mê mẩn rồi phổ nhạc. Bài hát sau đó được các ca sĩ Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu hát rất thành công.  Một bức tranh “Hạc Chơi Trăng” mang phong cách thủy mặc hiện diện trong một quán cà phê, rồi sẽ có lúc bài ca Tống Biệt được trỗi lên, khách sẽ thấy thú vị biết dường nào khi chợt nhận ra ý tứ rất thâm trầm của chủ quán, hẳn điều đó sẽ làm các vị khách ấy thích thú mà quay trở lại quán những lần kế tiếp…

Như đã nói ở trên, các bích họa không chỉ là ý tứ từ trong thơ trong nhạc mà có một bức tranh chứa đựng tâm tư hoài niệm của tác giả mà ông tự dành riêng cho mình. Đó là một bức vẽ to lớn có xóm chài bãi biển, có thuyền chài nho nhỏ và giàn lưới, có những con cá chim, cá “ông tiên” với những cánh vây dài yểu điệu, những con sao biển với các “cánh tay” sinh động đang bò dưới rạn san hô…

   – Có người cắc cớ phê bình ba tôi: “sao ông lại vẽ tấm lưới và cá tôm?”

   – Sao? Có vấn đề gì sao?

   – Ý rằng khách vào Ti La là như cá mắc lưới hay sao?

Ba tôi chỉ cười mà nói rằng:

   – Đó là câu chuyện của riêng tôi. Là tuổi thơ của tôi. Là để tưởng nhớ cha tôi, một ngư dân nghèo hành nghề “hạ bạc”….

Một cách rất riêng ông đã “sống cho mình” trong tĩnh lặng.

… Tôi còn nhớ rất rõ về ông Sáu mà chúng tôi quen gọi “bác Sáu Chùa Phật Đường” hàng ngày đã đến làm việc tại Ti La trong một thời gian khá dài. Ông là một trung niên tầm thước và rắn chắc, ông để râu dài và tóc “búi tó” giống như hình ảnh các người xưa mà tôi thường thấy trong các bộ truyện tranh cổ tích Việt Nam. Nhân dạng của ông cũng là một điều thu hút tôi la cà với ông hàng ngày khi đi học về…

   – Lớn lên con sẽ làm nghề thợ mộc như bác Sáu.

   – Thôi đừng cháu! Cái nghề này “trên tàn dưới mạt”…

Tôi ngày ấy sao hiểu được những lời đầy ẩn ý đó? Nhưng tôi cũng loay hoay loanh quanh ông dưới cái “tàn” (cây) và trên đống “mạt” (cưa) mà mấy cây cưa xả, cưa lọng của ông thải ra. Tôi còn sưu tầm các phôi bào mỏng dờn xoắn tít mà kéo dài ra có khi nó dài cả mét, và các cục gỗ vuông tròn tam giác nhỏ lớn đủ cỡ, đủ cho tôi xếp các hình khối mô tả các công trình kỳ dị của một thằng con nít giàu tưởng tượng vẽ ra. Cạnh ông, tôi còn được ông giới thiệu các loại công cụ nghề mộc như bào cóc đoạn ngắn và bào trường lấy đường thẳng dài và phẳng. Các loại công cụ lúc thì là đục khi lại là dũm mà khi thấy ông cầm làm việc thì cùng một động tác giống nhau nhưng lạ là cho ra các hình lỗ khác nhau? Ông còn “triết lý » cho thằng con nít này nghe về lý thuyết “âm dương” của cái mộng (gỗ) như là một sự sắp đặt bền vững ‘có đôi”! Ông nói thì ông cứ nói chứ chắc gì thằng nhóc này hiểu?

   – Nè Bé. Thợ mộc cắt dư, thợ hồ đắp thiếu!

   – Là sao con không hiểu?

   – Là cây gỗ mày phải cắt “trừ hao” dư chút để sau này mày “tề” lại, chứ lỡ như mày cắt hụt chút là quăng bỏ cả cây à?

   – Còn thợ hồ đắp thiếu là sao?

   – Ha ha ha… Là mày phải đắp xi măng thiếu một chút, để chút nữa lấy “hồ” đắp thêm chứ đắp dư chút nữa xi măng chết cứng mày đục bỏ mệt chết cha nhe con!

Cứ vậy mà cạnh ông tôi hiểu thêm về cái việc “trù bị” từ rất sớm, rồi các bài học đầy tính “ẩn dụ” đó nó luôn đi với tôi suốt chiều dài năm tháng…

Nhưng bác Sáu Chùa Phật Đường làm gì tại quán Ti La? Thì đó, tất cả những thứ gì liên quan đến “nghề mộc” là bác Sáu làm tất. Đó là các khung gỗ trang trí theo nghệ thuật sắp đặt mà ba tôi đã vẽ ra cho ông thực hiện, là các hàng rào kết hợp giữa gỗ và tre để tạo các khu vực riêng trong một không gian mở, là một cái “túp lều lý tưởng” có thể chứa chừng năm sáu bộ bàn ghế trong đó, là sửa chữa bàn ghế hư hỏng v..v.. Tôi hay nhớ về ông Sáu thợ mộc và việc làm mộc cho những ngày đầu của Quán Ti La như vậy đó.

Tất cả những việc kể trên là việc chú trọng vào “cái vỏ” của một quán cà phê mà ngày xa xưa ấy kể ra cũng là to ở xứ Hà Tiên chúng ta. Mà, để một cái quán bán thức uống có thể thu hút được mọi người từ cặp đôi tình tự, công chức với vài ba người gặp gỡ, gia đình tổ chức sinh nhật nhẹ nhàng, cho đến các nhóm học sinh đến để khao nhau hay để “chung độ” thua chuyện chi đó… thì cái chính phải là thức uống, xem như cái ‘’ruột’’ của quán.

Má tôi rất chú trọng và bà thật kỹ lưỡng đến việc mang đến thực khách những gì ngon nhất với cách thức trang trọng nhất, bà tuyệt đối không cho phép người “chạy bàn” cầm ly mang ra, tất cả phải trong một cái mâm và có dĩa hẵn hòi. Đó hẵn là lạ lẫm với người Hà Tiên ngày xưa đã quen cách xuề xòa “sao cũng được.”

Cứ mỗi chiều tầm khoảng ba đến bốn giờ là tôi nghe “Ken cô, ken cô!!”. Đó là tiếng của một chú xe lôi già người Hoa gầy gò có cái đầu hoi hói với nước da bánh mật, da chú ngâm đen từ ngón út trong đôi “dép Nhựt” (xưa ta gọi vậy) lên đến cái đỉnh đầu không còn tóc mà chẳng có nón của chú. Chú cười tít mắt trên gương mặt ruộng khô nứt nẻ. Đã không phát âm được âm “kem” cho rõ ràng mà chú còn khuyến mãi thêm tía lia câu chữ ngọng ngịu gì đó lai giữa tiếng Hoa và tiếng Việt mà chỉ có chú và má tôi hiểu!  Đơn giản là chú có nhiệm vụ lấy kem từ tàu đò Rạch Giá – Hà Tiên mà ba má tôi đã đặt bên ấy, rồi hàng ngày họ giao cho quán Ti La. Kem là một món chủ lực của Ti La ngày ấy.

Ở Hà Tiên ngày xưa có nhiều quán cà phê vợt, buổi sáng rất đông người thưởng thức với các ly xây chừng, tài chừng, xây nại, pạc xỉu… mà giờ đã thành những ký ức đầy hoài niệm. Nhưng buổi tối họ lại đến Ti La để thưởng thức một thứ cà phê khác. Đó là cà phê phin với “cái nồi ngồi trên cái cốc” mà người lạ từ miền ngoài vào sau này đã mô tả vậy! Cà phê đó được má tôi đặt từ đâu tôi không biết mà tôi còn nhớ rất rõ đó là cà phê hạt được đóng gói trong các bao giấy kraft kín bên ngoài có chữ Moka, hàng mỗi chiều các anh chị xây vừa đủ để bán một đêm, việc đó khiến nó rất thơm và nó sẽ ngon lành hơn nữa với cách pha đúng kỹ thuật.

Nếu độc giả đã lão niên và đã từng đến quán Ti La sẽ nhớ về quán Ti La xưa với cách thức pha cà phê độc nhất vô nhị thời ấy ở Hà Tiên, nó hoàn toàn mang tính cá nhân cho mỗi thực khách. Nếu khách gọi cà phê đen thì sẽ nhận được không chỉ cà phê mà là: một “bình thủy” nước sôi nhỏ xinh vỏ bằng nhựa có in hình ca rô đen và đỏ, chứa chừng 500 ml nước sôi trong đó. Một phin cà phê đã định lượng sẵn “ngồi” trên cái tách (không phải cái ly) nhưng chưa có nước, khách sẽ tùy thích lượng nước mà chọn cho mình một độ đậm đặc ưng ý của cà phê. Một chén đầy đường trắng và cây muỗng nhỏ. Một bình trà nóng để khách dùng khi uống xong và khách có thể pha thêm với cái bình thủy nước sôi ngay đó.  Tương tự nếu khách gọi cà phê đá thì sẽ có thêm một cái ly cao chứa đầy đá, nếu gọi cà phê sữa thì cái chén thay vì đường sẽ là sữa đặc. Thực khách xưa đã rất thích thú vì điều này vì đơn giản là họ được chủ quán tôn trọng cái “tôi” của họ, có thể tùy thích sử dụng trà và đường kèm theo…

Có nhiều cách làm vui lòng khách đến, thì đây cũng là một trong những cách khiến khách còn muốn quay trở lại…

Quang Nguyên (còn tiếp)

Tấm danh thiếp ghi tên và địa chỉ quán Ti La với hai câu thơ có chữ Ti La do thầy Trương Minh Hiển tặng mình (Trần Văn Mãnh) ngày xưa.

Họp bạn cùng lớp của lớp học Trần Văn Mãnh do thầy Trương Minh Hiển tổ chức tại quán Ti La (Hà Tiên), hình: TVM, chụp khoảng năm 1966.

Họp bạn cùng lớp của lớp học Trần Văn Mãnh (ngồi bìa phải phía dưới)  do thầy Trương Minh Hiển tổ chức tại quán Ti La (Hà Tiên), hình: TVM,  chụp khoảng năm 1966. Danh sách các bạn có mặt trong buổi họp mặt nầy: Theo thứ tự từ hàng trên và từ bìa phải: Hà Mỹ Oanh, Nguyễn Thị Thanh Hà, Trần Thị Thu Oanh, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Mỹ Ngân, Quách Thị Chol, Lâm Ánh Nguyệt, Nguyễn Nguyệt Hồng, Phù Ngọc Anh, Lý Mạnh THường, thầy Trương Minh Hiển, Phan Thanh Liêm, Nguyễn Văn Tài, Lương Cường, Lâm Nhi Tôn và Trần Văn Mãnh (hàng dưới, bìa phải). 

Bà nội của tác giả Quang Nguyên ( thân mẫu của thầy Trương Minh Đạt), Bà Trần Thị Chín, trước một trong những phần trang trí gỗ của quán Ti La, Hà Tiên, hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1971.

Cô Nguyễn Phước Thị Liên (cùng với thầy Trương Minh Đạt, lập ra quán cà phê nhạc Ti La, Hà Tiên), trước một trong những phần trang trí gỗ của quán, hình: Trương Minh Quang Nguyên, 1971.

 

Một người Mỹ viết sách về lịch sử Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

A/ Khái quát về sách viết về lịch sử vùng Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, trong vòng 20 năm trở lại đây, trên địa bàn sách báo về văn hóa lịch sử đất Hà Tiên có xuất hiện nhiều bài báo rất phong phú về tư liệu nghiên cứu và rất có giá trị về phương diện tìm hiểu chính xác các yếu tố lịch sử. Các bài báo đăng đàn thảo luận về lịch sử Hà Tiên nầy đã được tổng hợp lại và xuất bản thành sách, ta có thể lược qua như sau:

1/ « Nhận thức mới về đất Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2001

2/ « Nghiên cứu Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2008

3/ « Họ Mạc với Hà Tiên », tác giả Trương Minh Đạt, 2017

Ba quyển sách mới nhất trong lãnh vực nghiên cứu về Hà Tiên kể trên là ba quyển sách được nhiều độc giả đón nhận và hiện nay đã cạn trên thị trường sách vì chưa được tái bản. Riêng mình có may mắn đã tìm mua được quyển 2 và được tác giả tặng quyển 3. Những bài do mình viết trên Blog nầy phần lớn dựa trên các thông tin của hai quyển sách kể trên. Có thể nói thầy Trương Minh Đạt đã tạo ra một bước ngoặc rất lớn trong quá trình tìm hiểu đất Hà Tiên vì qua các bài viết trên các quyển sách, thầy đã đưa ra nhiều minh chứng để sửa sai nhiều yếu tố trong việc hiểu biết về lịch sử Hà Tiên, những điểm được chỉnh sửa nầy phần lớn xuất phát từ vài sự lầm lẫn, việc đồng hóa sự kiện lịch sử với các câu chuyện do dân gian kể lại hay từ các tác phẩm dã sử pha trộn nhân vật lịch sử có thật và các yếu tố hư cấu để tăng phần lôi cuốn cho câu chuyện…Từ những năm 60, vì không có sách vở tiếp tục nghiên cứu về thực tế, các điểm sai lầm nầy đã được chuyên chở, truyền tụng qua nhiều thập niên nên ngày nay nếu muốn tìm hiểu về vùng đất Hà Tiên ta nên cẩn thận và phải đối chiếu thông tin một cách phong phú hơn để có được cái nhìn đúng đắn.

Từ giữa thế kỷ thứ 20 trở lại đây, số học giả quan tâm nghiên cứu về Hà Tiên có rất ít. Trong nước ta có thể kể ra thầy giáo Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906 – 1966), ông Trần Thiêm Trung, nhà nghiên cứu Vũ Văn Kính (1919 – 2009)…Ở ngoài nước có các học giả Emile Gaspardone (1895-1982), Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa: 1918-1995),…

Ngoài ra cũng có một số bài viết rất xưa của các tác giả nước ngoài nhắc nhở nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến vùng Hà Tiên như: Pierre Poivre, Alexander Hamilton,…Nội dung các bài viết nầy tuy không đi sâu vào chủ đề lịch sử vùng Hà Tiên nhưng có nhiều yếu tố giúp các nhà nghiên cứu xác định hoặc bác bỏ các chi tiết bàn cải về niên đại và biến cố lịch sử Hà Tiên.

Hai tài liệu do người Tây phương viết có liên quan đến lịch sử Hà Tiên và đáng chú ý nhất đó là:

a/ « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn »).

b/ « Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Ha-Tien »: tác giả Emile Gaspardone, Paris 1952. (« Một người Trung Hoa ở vùng biển Nam Hải, người sáng lập xứ Hà Tiên »).

Tác giả người Pháp Emile Gaspardone đã nhận xét về quyển sách của tác giả Alexander Hamilton như là một tài liệu viết xưa nhất về vùng đất Hà Tiên.

Ngoài ra trong những năm đầu thập niên 80 gần đây cũng có xuất hiện một quyển sách viết về lịch sử Hà Tiên, do một người Tây phương đã từng có thời gian sống ở Hà Tiên viết ra sau khi ông nầy rời Việt Nam trở về nước. Để thu nhặt được đầy đủ tư liệu, hình ảnh cho quyển sách của mình, tác giả nầy đã tham khảo, trao đổi với rất nhiều vị thân hào, nhân sĩ đất Hà Tiên thời ông đến đây. Chính ông cũng đã nhiều lần đặt chân thăm viếng đền thờ, những ngôi mộ cổ, những mảnh tường dầy đổ vỡ, những vết tích tàn lụn ngày xưa ngay tại Hà Tiên và ông đã đặt ra rất nhiều câu hỏi với các người bạn gốc Hà Tiên về đủ mọi chi tiết về lịch sử Hà Tiên, về gia đình họ Mạc, qua đó ông rất có ấn tượng và rất thích thú được đặt chân đến tận nơi một vương quốc trong quá khứ mà vị trí chỉ là một góc nhỏ ở nơi nào đó xa xôi của miền Viễn Đông.

Tác giả của quyển sách cận đại về lịch sử Hà Tiên nầy tên là Nicholas Sellers và quyển sách có tên « The Princes Of Hà-Tiên (1682 – 1867) ». (Những Ông Hoàng của đất Hà Tiên).

Trên bìa chính của quyển sách còn có ghi một tiểu đề như sau: « The Last of the Philosopher-Princes and the Prelude to the French conquest of Indochina: A Study of the Independent rule of the Mac Dynasty in the Principality of Ha-Tien, anh the  establishment of the Empire of ViêtNam ». (Người cuối cùng trong các ông Hoàng triết gia và khúc dạo đầu cho cuộc chinh phục Đông Dương của Pháp: Nghiên cứu về quyền cai trị độc lập của nhà Mạc ở vương quốc Hà-Tiên và sự thành lập đế chế Việt Nam). Nhà xuất bản Thanh-Long, Bruxelles, nước Bỉ, năm 1983. Quyển sách nầy gồm 186 trang và là quyển thứ 11 trong tập nghiên cứu Đông Phương của nhà xuất bản nầy. (Etudes Orientales N°11).

B/ Hoàn cảnh ra đời của sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) »:

Trước khi đến Việt Nam trong đơn vị Lực lượng đặc biệt, ông Nicholas Sellers còn là một trợ lý luật sư ở Tòa án Philadelphia, thuộc tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ. Ông có mặt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, thuộc tỉnh Kiên Giang tổng cộng trong thời gian 2 năm, với cấp bậc Đại Úy. Có một lần khi đi qua vùng Cần Thơ, ông đã để ý đến một ngôi đền cổ xưa và với con mắt của người du lịch ông nghĩ rằng ngôi đền đó tượng trưng cho một tinh thần của nền cổ đại phương Đông. Tuy nhiên khi hỏi thăm người địa phương thì mới biết ngôi đền nầy chỉ mới được xây dựng vào năm 1930, không phải cổ đại cho lắm. Sau một thời gian ngắn phục vụ ở Phú Quốc, ông đến Hà Tiên năm 1967 và đóng quân tại trại Biệt Kích Tô Châu (nơi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi là « Trung Tâm », đây là ngôi trại nằm ở khúc qua khỏi ngọn núi Đại Tô Châu, khoảng ở cây số 2 tính từ chiều Hà Tiên-Kiên Lương, trại được thành lập vào tháng 2 năm 1963), tại đây ông giữ trách nhiệm chỉ huy trưởng của trại Biệt Kích Tô Châu.

Dưới con mắt và sự hiểu biết của Nicholas Sellers vào lúc đó, Hà Tiên là một nước nhỏ, độc lập và do một người thám hiểm Trung Hoa thành lập vào những năm cuối của thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Trong thời gian đóng quân ở trại Tô Châu, Hà Tiên, ông đã chú ý rất nhiều đến những di tích của vương quốc Hà Tiên nầy, ông đã thấy tận mắt những bức tường của tòa thành cổ, hai ba ngôi đền xưa còn đứng vững hoặc đã đổ nát, các ngôi mộ của các hoàng tử thời xa xưa… tất cả đối với ông như là những yếu tố nhắc nhở về những năm tháng vinh quang của một Hà Tiên cổ xưa…khiến cho Nicholas Sellers cảm thấy rất thích thú đến mức ông nghĩ mình là một du khách viếng thăm Hà Tiên hơn là một người lính đang làm nhiệm vụ ở đây…Được sự cảm thông và khuyến khích của vị Đại Úy cựu chỉ huy trưởng trại Tô Châu trước ông, Nicholas Sellers bắt đầu tìm hiểu một cách thực tế về lịch sử Hà Tiên. Ông tìm và hỏi rất nhiều chi tiết với nhiều người quen biết trong số dân chúng ở Hà Tiên và đặc biệt ông được hưởng một sự giúp đở rất quý giá và to lớn của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Hà Tiên, đó là ông Quách Ngọc Bá.

Dĩ nhiên là việc làm nầy không phải là dễ dàng vì nhiều lý do: Nicholas Sellers là một quân nhân nên thời gian rảnh không có nhiều vì còn phải thực hành nhiệm vụ tuần tra, hành quân, chiến đấu…, hơn nữa hàng rào ngôn ngữ cũng gây nhiều trở ngại…Tuy nhiên vài tháng sau khi đến Hà Tiên, ông đã bắt đầu các cuộc tiếp xúc với dân chúng địa phương ở đây, nhờ có vốn liếng tiếng Pháp của ông, ông có thể trò chuyện với nhiều người cao tuổi ở Hà Tiên, nhất là với ông Quách Ngọc Bá (và cũng nhờ đó Nicholas Sellers đã được ông Quách Ngọc Bá cung cấp cho quyển sách tương lai của ông về Hà Tiên những hình ảnh về chùa Tam Bảo, Lăng Mạc Cửu, Thạch Động, Đá Dựng,…v…v…). Nicholas Sellers tìm hiểu về đủ mọi đề tài khi nói chuyện với các người quen biết Hà Tiên: Ông hỏi về việc trồng tiêu, việc buôn bán gỗ, đốt than, về tôn giáo, về những con rắn hổ mang, những con đồi mồi, về địa lý và lịch sử Hà Tiên…Qua sự tiếp xúc phong phú nầy ông luôn được thỏa mãn với những câu trả lời của người dân địa phương, vì người dân Hà Tiên luôn tự hào về di sản cổ xưa và rất thích kể cho ông nghe những tư liệu truyền khẩu về lịch sử Hà Tiên. Chẵng những thế, Nicholas Sellers còn thu thập được rất nhiều thông tin về Hà Tiên dưới những hình thức khác như: bản đồ, hình ảnh, tài liệu quảng cáo du lịch của những năm 1930…Đó là những mầm mống tích lũy cho Nicholas Sellers về những khởi đầu trong sự hiểu biết về lịch sử Hà Tiên mà ông sẽ viết ra thành một luận văn trong khoảng thời gian rảnh rổi trong vòng 4 năm sau khi ông rời khỏi Việt Nam để về nước. Nicholas Sellers càng tìm hiểu về lịch sử vùng Hà Tiên ông càng ngạc nhiên vì theo kiến thức của ông, ông không thấy câu chuyện vè vương quốc nhỏ bé Hà Tiên này được ghi chép lại bằng bất cứ ngôn ngữ nào, cũng không thấy những ghi chú, thông tin tham khảo trong lịch sử nước Việt Nam hay kể cả những ghí chép ngắn gọn của những người đã từng thăm viếng Hà Tiên trong những năm xa xưa trong lịch sử. (Tuy nhiên đây chỉ là ý nghĩ của Nicholas Sellers vào thời điểm ông ở Hà Tiên 1967-1968, vì sau khi ông trở về nước Mỹ và trong vòng 4 năm sau đó ông đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu sách vở liên quan đến vùng đất Hà Tiên, khoảng 120 quyển sách viết bằng tiếng Anh, Pháp và Việt ngữ…)

Nguồn thông tin và tài liệu về lịch sử vùng Hà Tiên mà Nicholas Sellers thu thập được chủ yếu là do quan sát và tìm hiểu tại chỗ, ngoài ra ông còn được ông Quách Ngọc Bá cho xem những bản thảo ngắn viết về Hà Tiên và xem bộ sưu tập hình ảnh tuyệt đẹp về Hà Tiên do nhiếp ảnh gia nầy thực hiện…Từ đó Nicholas Sellers bắt đầu nghiên cứu rộng hơn về lịch sử Đông Nam Á, những sự kiện về Hà Tiên thông qua các giao tế và chiến tranh giữa các nước lân cận như Campuchia và Thái Lan. Tuy nhiên ông đã gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc viết về lịch sử vùng Hà Tiên. Điều hiển nhiên dễ thấy đó là những khoảng trống trong lịch sử Hà Tiên, điều kế tiếp là sự thiếu vắng những tài liệu gốc mà một nhà sử học thường đòi hỏi phải có trước mắt mình để viết, thí dụ như: nhật ký hải trình, thư từ giao tiếp, phán quyết tòa án hoặc của Triều Đình…v…v…Để khắc phục những khó khăn nầy, Nicholas Sellers tiếp tục mò mẫm, tìm kiếm cộng với sự lý luận thận trọng và tốt nhất để nối kết các sự kiện lịch sử lại với nhau một cách hợp lý và để giải thích sự kiện lịch sử.

Nicholas Sellers phục vụ ở trại Biệt Kích Tô Châu, Hà Tiên trong vòng hai năm từ 1967 đến 1968. Trong thời gian tại đây ông cũng bị thương nặng trong một cuộc chạm súng. Sau đó ông được đưa về nước Mỹ và ra khỏi quân đội. Trong thời gian về quê ở tiểu bang Pennsylvania, trong cuộc sống dân sự, ông đã tiếp tục sự nghiệp trong ngành luật, ông lấy được văn bằng Thạc sĩ về Luật (Master of Laws hay theo các nước anglo-saxons, người ta gọi là văn bằng LL.M = Latinh Legum Magister vào năm 1974 tại trường Đại Học Pennsylvania). Trong luận văn để đạt được văn bằng nói trên, chính Nicholas Sellers đã viết về lịch sử vùng đất Hà Tiên và sau khi lấy được bằng MA Laws, ông đã cho xuất bản luận văn nầy dưới hình thức một quyển sách, đó chính là quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » mà chúng ta đang nói ở đây.

Hiện nay Nicholas Sellers đã 85 tuổi và vẫn sinh sống tại một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Pennsylvania.

C/ Nội dung của quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » :

Như trên bìa của quyển sách xuất bản năm 1983 tại nước Bỉ (Belgique), có dòng tựa phụ tóm tắt nội dung quyển sách như sau: « The Last of the Philosopher-Princes and the Prelude to the French conquest of Indochina: A Study of the Independent rule of the Mac Dynasty in the Principality of Ha-Tien, anh the  establishment of the Empire of ViêtNam ». (Người cuối cùng trong các ông Hoàng triết gia và khúc dạo đầu cho cuộc chinh phục Đông Dương của Pháp: Nghiên cứu về quyền cai trị độc lập của nhà Mạc ở vương quốc Hà-Tiên và sự thành lập đế chế Việt Nam). Tác giả Nicholas Sellers đã lấy năm 1682 để bắt đầu cho lịch sử vùng Hà Tiên và năm 1867 để kết thúc cho giai đoạn lịch sử vùng Hà Tiên.

Năm 1682: Theo các tài liệu cận đại đã được giới nghiên cứu công nhận, Mạc Cửu đến Nam Vang (xứ Chân Lạp, Cao Miên) vào năm 1680.  Ông làm việc ở đây với chức vụ Ốc Nha. Đến năm 1689 thì nước Chân Lạp bị nội loạn, Mạc Cửu đi tị nạn sang bãi biển Vạn Tuế Sơn (Muang Galapuri) bên nước Xiêm. Vậy niên đại 1682 là lúc Mạc Cửu vừa đến nước Cao Miên và đang làm quan ở Nam Vang, có thể xem như là lúc Mạc Cửu bắt đầu sự nghiệp quan chức, nhưng ông chưa đến vùng Mang Khảm (tên xưa của vùng Hà Tiên).

Năm 1867: Đây là niên đại tương ứng với sự thất thủ Hà Tiên, trong một đợt thời gian mà nhà Nguyễn mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên). Sự kiện đó làm chấm dứt hệ thống hành chánh do người Việt Nam quản trị vùng Hà Tiên. Người Pháp bắt đầu đặt nền tảng cho bộ máy cai trị ở Hà Tiên. Chẳng những dòng họ Mạc đã không còn người đứng đầu cai quản đất Hà Tiên mà các viên quan chức người Việt Nam cũng không còn người nào làm chủ ở Hà Tiên nữa. Các ông Hoàng của vùng Hà Tiên theo Nicholas Sellers, thứ tự là:

           1/ Mạc Cửu (1655 – 1735)

           2/ Mạc Thiên Tứ (1718 – 1780)

           3/ Mạc Tử Sanh (1769 – 1788)

           4/ Mạc Công Bính (? – 1798)

           5/ Mạc Tử Thiêm (? – 1809)

           6/ Mạc Công Du (? – 1833)

           7/ Mạc Hầu Hy (? – ?)

           8/ Mạc Bá Bình (? – ?)

           9/ Mạc Tử Khâm (? – ?)

Một cách tổng quát, Nicholas Sellers nói qua về tính chất địa lý vùng Hà Tiên, sự thành lập các thôn xã từ khi Mạc Cửu chú ý đến vùng đất Mang Khảm, các cuộc xâm lăng tuy không liên tục nhưng thường xảy ra suốt chiều dài lịch sử của đất Hà Tiên. Ông cũng viết về Chiêu Anh Các của thời Mạc Thiên Tích và xem như một Hàn Lâm Viện của vùng đất Hà Tiên. Ngoài ra tác giả cũng viết về những giai đoạn khủng hoảng của vương quốc Hà Tiên trong bối cảnh chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn, và kết thúc trong giai đoạn người Pháp chiếm Hà Tiên.

D/ Tìm sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » ở đâu?:

Ngay từ lúc xuất bản quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » do nhà xuất bản Thanh-Long, thủ đô Bruxelles nước Bỉ (Belgique) vào năm 1983, không biết là sách đã có mặt trên thị trường sách trong thời gian bao lâu, nhưng một thời gian sau thì quyển sách đã cạn và đã không được tái bản. Hiện nay chỉ có các thư viện của các trường Đại Học và các viện nghiên cứu trên các thành phố lớn ở nhiều nước còn lưu trữ mỗi nơi vài bản, độc giả chỉ có thể đến tại chỗ hoặc mượn về nhà để tham khảo. Ở Paris, nước Pháp, trường Đại Học Paris 7, ngành Văn Chương và Khoa học Nhân Văn (Université Paris-Diderot,  Lettres et Sciences humaines) có một bản của quyển sách nầy. Tác giả Nicholas Sellers xem tác phẩm của mình như là một sự đóng góp khiêm tốn cho những người du khách hoặc những sinh viên có lưu tâm đến lịch sử vùng Đông Nam Á, đặc biệt là vùng đất của Vương quốc Hà Tiên thuở xưa, để kỷ niệm những năm tháng ngắn ngủi vinh quang và độc lập của Hà Tiên…Tuy vậy, tên của quyển sách của Nicholas Sellers thường xuyên xuất hiện trong các sách nghiên cứu về họ Mạc và đất Hà Tiên với tư cách là thư mục nghiên cứu, điều nầy chứng tỏ quyển sách của ông có một giá trị nhất định, giúp cho các nhà nghiên cứu so sánh, minh chứng tạo ra cho việc tìm đến sự thật trong các sự kiện lịch sử nhanh chóng và chính xác hơn. Với cương vị một người con sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên, mình trân trọng cám ơn tác giả Nicholas Sellers đã từng yêu mến đất Hà Tiên, từng đến đây và tìm hiểu về lịch sử của quê hương mình và đã lưu lại cho thế hệ đi sau một tư liệu quý giá.

Trần Văn Mãnh, Paris, thứ năm, ngày lễ Thăng Thiên, 13/05/2021

                                                                    Trang bìa của quyển sách « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn », trong quyển sách nầy nhà hàng hải Alexander Hamilton có viết ông có ghé bến Mang Khảm tức Hà Tiên vào năm 1720 và có mô tả vùng Hà Tiên bị điêu tàn sau trận giặc Xiêm đánh). 

Trang 198 chương 48 của quyển sách « A new account of the East Indies »: tác giả Alexander Hamilton, Edinburgh, 1727. (« Một câu chuyện mới về vùng Đông Ấn », trong quyển sách nầy nhà hàng hải Alexander Hamilton có viết ông có ghé bến Mang Khảm tức Hà Tiên vào năm 1720 và có mô tả vùng Hà Tiên bị điêu tàn sau trận giặc Xiêm đánh). « In Anno 1720, I saw several ò the Wracks, and the Ruins of the Town of Ponteamass » (Trong năm 1720, tôi nhìn thấy ngổn ngang những xác tàu chìm, và sự đổ nát của phố thị Hà Tiên). Người ngoại quốc thời xưa gọi Hà Tiên là tên Ponteamass.

                                                          Hình trái: Bìa quyển sách: « Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Ha-Tien »: tác giả Emile Gaspardone, Paris 1952. (« Một người Trung Hoa ở vùng biển Nam Hải, người sáng lập xứ Hà Tiên »). Hình phải: Minh họa bìa của quyển sách « The Princes Of Hà-Tiên (1682-1867) » của NIcholas Sellers trên site Amazon nhưng đây không phải là bìa gốc của quyển sách xuất bản tại Bruxelles, nước Bỉ vào năm 1983 vì các quyển sách của lần xuất bản đầu tiên nầy đã cạn trên thị trường sách.