Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn Lê Phước Dương, một cây bút rất thường xuất hiện trên Blog Trung Học Hà Tiên xưa của chúng ta có một dự án là sẽ viết lại vài bài hồi ký về một vài người bạn thân ngày xưa, thời đi học đã cùng nhau chia sẻ cơ hàn, khổ cực…Sau bài viết về anh La Văn Cao, một người đàn anh mà Dương Lê rất mến mộ và cùng trải qua nhiều lúc gian nan, hôm nay Dương Lê viết về một đàn anh khác, đó là anh Trần Văn Dõng, cũng là một hồi ký nhớ lại quảng đời học sinh Hà Tiên đi học xa nhà với bao nhiêu là thiếu thốn về vật chất…Đời người học sinh xa nhà đi ở trọ học ở tỉnh xa có nhiều vui buồn, vì hoàn cảnh, phải lên tỉnh lớn để theo học cho xong chương trình học. Nhiều khi chỉ thiếu có mỗi một chai dầu lửa để nấu cơm thôi, trong khi đó đã có gạo, khô, nước mắm vừa mới về Hà Tiên thăm nhà và được nhà viện trợ đủ cả…Bởi người ta thường nói có khổ cực mới có lúc thành công, nhưng cuộc đời dành cho ta nhiều nỗi bất ngờ,…Không ai biết ngày sau sẽ ra sao,…Nếu hiện tại, mỗi thành viên của nhóm ở trọ học ở Cần Thơ ngày xưa (Dương, Mãnh, Dõng,…), mỗi người cũng đã thành công ít nhiều trong cuộc sống, thì cái công khó thời đi học đó cũng được đền bù chút ít…Tất cả đều đã trôi qua, chỉ còn lại trong chúng ta nỗi nhớ và kỷ niệm xưa, viết lại hồi ký ngắn nầy giúp chúng ta giữ và nhớ mãi thời đi học xa nhà với bao buồn vui mà mãi mãi chúng ta không thể nào sống lại giây phút đó, có chăng là có được một vài cảm xúc, một vài xao xuyến khi đọc bài viết của tác giả Dương Lê, đó cũng là mục đích của bài viết hôm nay…(TVM, viết lời giới thiệu, Paris 30/05/2020)

Anh Trần Văn Dõng và cái ấm nhôm (Dương Lê)

Năm 1972, đậu Tú Tài 1 xong.
Ngày tựu trường, mình theo anh Dõng, Mãnh đi học ở Cần Thơ. Vì những trường công, thủ tục vào học rất nhiêu khê nên mình ghi tên học ở Trường tư thục Ngọc Phú, học phí mổi tháng 800 đồng.

trọ cùng với 2 chàng ở khu Đại Học Khoa học, phía trước nhà có ao lục bình rất lớn, đóng tiền ăn ngày 2 buổi với bà chủ nhà. Ba chàng ở trên căn gác gỗ, mái nhà lợp tôle nên buổi trưa rất nóng, tối thì mát, khi mưa rất ồn, ba chàng quấn ba cái mền như sâu làm tổ.

Không có giường ngủ chỉ có hai cái bàn học xiêu vẹo của hai chàng, trong góc bàn học của anh Dõng có cái ấm nhôm, mình hỏi:

 – Cái ấm nhôm đó để nấu nước pha trà hả anh Dõng?

– … ừa!

Hai cửa sổ hai bên hông nhà nằm trên mái ngói hai nhà hàng xóm nên ba chàng thường ngồi hóng gió, đôi khi mình cảm nhận mùi lạ nên cứ nghỉ là của chuột thôi.

Ban ngày thì không nói gì, còn ban đêm phải dò dẫm xuống từng nấc thang gỗ, tỉnh táo không nói gì, mê ngủ ngầy ngật mà xuống thang thì thật là vất vả lắm.
Vào một đêm, trời đứng gió, không gian oi bức, lúc đầu hôm đi cùng hai chàng ghé quán cafe nghe Miên Đức Thắng với « Bông hồng cài áo », Trịnh Công Sơn với « Ca khúc da vàng » và với « Gia tài của mẹ »… , một ly cafe đen, vài điếu thuốc Capstan, vài ly trà quạu…hệ thần kinh trong đầu nó căng như dây đàn nốt Mí…nên khi về, leo lên căn gác trọ, trằn trọc mãi, cố ngủ mà có ngủ được đâu!
Lúc này không biết đã là mấy giờ, chắc cũng đã khuya nên không gian nghe im lặng quá. Chợt nghe tiếng động nhẹ từ mùng anh Dõng … chàng ta vén mùng bước ra, trong bóng đêm chàng ta bò nhè nhẹ lại lấy cái ấm … mình nghĩ:

– Giờ này, khuya vầy, lấy cái ấm làm gì vậy ta …  không lẽ xuống nhà nấu nước sôi pha trà uống! Chiều tới giờ uống trà quá nhiều rồi…!!

Không nghe tiếng bật lò nấu, chàng ta nhẹ nhàng đi lại đứng bên cửa sổ, với một động tác … rồi âm thanh phát ra….

…t..r..ừng , t..r..ưng , t.r..ứng…

Như âm điệu dạo đầu thon thả của tiếng đàn guitar độc tấu bản sonate Ánh Trăng…dìu dặt, réo rắt khi khoan khi nhặt khi dầy khi thưa … lúc mạnh như mưa giông … lúc thoáng nhẹ như cơn mưa rào mùa hạ … làm cho kẻ khó ngủ đêm khuya nghe những âm thanh đó càng thêm ray rứt.

Rồi thì tiếng sắt tiếng nilon cũng nhỏ dần rồi tắt hẳn … chàng ta nhoài người ra cửa sổ rồi…rót…rót…rót nhẹ nhàng ri rỉ lên mái ngói nhà kế bên.

Sự bí ẩn của cái ấm đã được giải mã cho cái đầu óc của mình, những đầu óc quá thông tuệ, chắc là cũng phải mua một cái ấm nhỏ cho mình thôi.

Ở đó được một tháng thì dời về trọ nơi mà phía trước có phòng làm răng của nha sĩ Tịnh. Trong nhà nầy có một nàng làm osin cho chủ nhà mê anh Dõng như điếu đổ, cứ khi nàng rảnh tay và lúc có ba chàng thư sinh ở nhà thì nàng cứ vô phòng nằm lăn ra giường … rồi cười rồi nói, có lần còn đố ba chàng là lưng con rùa kêu bằng cái gì!! … Những lúc đó là chàng Mãnh nháy mắt với mình rồi cả hai lang thang để phó bỏ mặc cho chàng Dõng đối phó với tình huống cực kỳ nghiêm trọng…!!

Rồi có một hôm tới phiên chàng Dõng nấu cơm, mình và anh Mãnh đi học buổi sáng, vì là vào những ngày cuối tháng nên chỉ uống một ca nước rồi đi học … Tan học đi bộ về tới chổ trọ là cũng đã 12g trưa, bước vô phòng thấy chàng Dõng ta đang ngủ, bếp lò lạnh tanh, mình hỏi:

– Giờ này mà anh còn chưa nấu cơm, đói bụng muốn xỉu rồi nè!

Chàng Dõng nói:

– Gạo và khô thì còn mà dầu lửa nấu thì khô queo rồi.

Lúc đó anh Mãnh cũng vừa về tới liền lên tiếng:

– Vậy có ai còn tiền để mua dầu không?

Cả ba cùng im lặng.

Thế là cả ba chàng cùng uống nước lã cầm hơi rồi cùng lên giường tìm giấc ngủ cho qua cơn đói.

Mà rồi có quên được đâu, có ngủ được đâu khi cơn đói dày vò.

Sau một hồi suy nghĩ cuối cùng chàng Mãnh đưa ra ý kiến:

– Anh Dõng, năm thứ hai Kỷ sư Canh Nông, còn anh, năm thứ nhứt Đại Học Sư Phạm, chỉ có em học Đệ nhứt và nhỏ nhất … nên em chịu khó làm mặt dầy bước qua cây Xăng Dầu bên kia đường mua chịu 2 lit dầu về nấu cơm, hai thằng anh hứa cho em khỏi rửa chén 10 ngày.

Nghe vậy thì cũng đành thôi, đói quá phải liều … may là gặp chị bán dầu tốt bụng, đong cho thiếu chịu 2 lit dầu … Hai chàng thấy mua được dầu về mừng quýnh.
Ui, có ai từng bị đói từ sáng đến 3 giờ chiều mới thấy chén cơm nóng, tô nước canh, miếng xương khô cá bè nướng vội…nó ngon gì đâu, nó hạnh phúc gì đâu.
….

Đường đời bập bềnh xô đẩy, ở trọ đi học với hai chàng được hai tháng thì có lệnh tổng động viên phải lưu luyến chia tay với hai chàng để trình diện nhập ngũ vào học nơi Trường BB Thủ Đức.

30/4/1975 buông súng tan hàng về lại quê hương.

5/5/1975 trình diện ban quân quản để đươc đi ở tù.

Sáng ngày 30/5/1975 , sắp hàng ở cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên nghe đọc tên để đi Long Xuyên học cho trở thành người.

Đọc tên từng người :
 – La văn Tạnh! ….có.
 -Lê phước Dương!…có.
 – Trần văn Dõng!…có.
 – Nhan hồng Hà!…có.
……
Vị cán bộ hỏi:

– Có ai có ý kiến gì không?

Trần văn Dõng:

– Có , xin hỏi?

Cán bộ:

– Anh nói đi!

Trần văn Dõng:

 – Xin hỏi sao mấy anh mang cấp bậc Chuẩn úy thì được học ở Hà Tiên, còn tôi và anh Hà còn là SVSQ mà sao phải đi tỉnh học?

Viên quản giáo:

– Vì khi hai anh ra trường mang cấp bậc Đại Úy nên phải đi Long Xuyên học.

….huhuhu…huhuhu…

Anh Dõng là mẫu người sống nội tâm, như nhà hiền triết, ít nói, ít cười, ít tranh luận hơn thua. Anh học rất giỏi mà sao thời vận lúc đó chưa tới, nếu không thì anh cũng đã là Kỷ Sư Canh Nông, thời mà giáo sư Võ Tòng Xuân còn dạy học ở Đại Học Nông Nghiêp Cần Thơ.

Lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên, anh có trồng cây si một người em gái tên Lan … mà rồi anh chưa lần nào nói tiếng…yêu em. !!

Hà Tiên, 28/5/2020.
Lê Dương.

Chân dung ba chàng: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Lê Phước Dương ngay trong khoảng thời gian trọ học ở Cần Thơ, những năm đầu của thập niên 70

Trần Văn Mãnh đang làm bài ngay trong căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

Trần Văn Mãnh ngoài mái hiên lầu căn nhà trọ ở Cần Thơ, trong phần đầu bài nói trên. (1972)

 

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn La Văn Cao là một người bạn thân trong nhóm những người bạn thân cùng đi chơi trong suốt thời gian còn là học trò của Trung Học Hà Tiên…Mình không biết ở các trường Trung Học khác thì ra sao, nhưng ở Hà Tiên, tình bạn bè chơi với nhau không phân biệt « đẳng cấp » thứ hạng…Có nghĩa là ta có thể kết bạn chơi thân với nhau mà không nhất thiết phải học cùng lớp…Đó là trường hợp của đa số bạn bè thời học trò ở Trung Học Hà Tiên…Mình có nhiều bạn thân học trên mình một lớp (đó là trường hợp bạn La Văn Cao, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…v..v…), ngược lại mình cũng chơi thân vói nhiều bạn học sau mình vài lớp (Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….v..v….). Xin các bạn thân chưa có tên kể ra đây thứ lỗi vì mình vẫn nhớ nhưng chưa kể hết ra đây nhé…

Đi chơi nhiều với bạn Cao thì có rất nhiều chuyện vui buồn kỷ niệm, chuyện vui thì có cái khái niệm « ngồi đồng » mà Cao chính là « cha đẻ » của khái niệm nầy…Nói đến từ ngữ « ngồi đồng » thì dân Hà Tiên biết rành, vì ở Hà Tiên là nơi vốn có rất nhiều chùa chiền, cổ miếu, nơi mà hàng năm cứ đến ngày cúng vía thần thì sẽ có người « lên đồng » để cho bùa phép các con dân trong chợ, để phù hộ tránh các điều không may mắn…Tuy nhiên khái niệm « ngồi đồng » ở đây thì lại khác hẳn ý nghĩa đó, thầy cô và các bạn đọc bài của cây bút Dương Lê dưới đây sẽ rỏ thế nào là ngồi đồng,…Phải ngồi cho đến khi nào bạn Cao cho « thăng » thì hồn sẽ nhập trở lại xác và mọi xác đồng mới được ra về nhà thảnh thơi…Ngoài ra mình còn nhớ có một chuyện vui với Cao khi cả nhóm cùng ngồi uống cà phê tối ở quán Ti La, lúc đó có ai trong bàn nhắc một chuyện tình nào đó của « anh Mãnh », Dương nghe vậy nên lên tiếng:

– Chắc lúc nầy trái tim của anh Mãnh đập theo nhịp nhanh chóng đều…

Bạn Cao nghe vậy liền thốt lên :

– Ủa sao Dương lại biết từ ngữ nầy…(từ ngữ «nhanh chóng đều»…)

Sở dĩ bạn Cao nói như vậy là vì bạn hiện đang theo học ở Sài Gòn lớp Đệ Nhứt, mà ở lớp nầy thì có môn Vật Lý đang học về Cơ Học, nói về các chuyển động trong đó có chuyển động đều (tốc độ luôn bằng nhau và chuyển động nhanh chóng đều, tốc độ tăng đều đặn theo thời gian. Mình cũng không nhớ tại sao Lê Phước Dương biết được từ ngữ Cơ Học nầy…

Đặc biệt là trong chuyến đi Mỹ vừa qua để dự buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, mình có dịp gặp lại người bạn thân đi chơi chung ngày xưa, đó là Bạn La Văn Cao, bạn Cao đã đến sớm dự buổi họp mặt Đồng Hương Hà Tiên để gặp lại bạn bè Hà Tiên, bạn bè hơn 40 năm qua tuy chỉ có liên lạc qua tin nhắn nhưng chưa được dịp gặp lại, nay đã gặp lại tận mặt bạn Cao, mình rất vui. Tuy rằng cuộc gặp gở chỉ gò bó trong khuôn khổ họp nhóm đông đúc, thiếu phần riêng tư giữa hai người bạn lâu năm gặp nhau, vì điều kiện không gian và thời gian hạn hẹp nhưng cuối cùng cũng được vui lòng, thỏa mãn vì được hội ngộ với nhau.

Thân mời thầy cô đọc bài về câu chuyện « ngồi đồng » do cây bút Dương Lê viết rất hay và vui sau đây.  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 20/05/2020)

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Anh lớn hơn mình vài tuổi và vì có lần đổi tên là La Văn Tạnh nên mình không biết chính xác là sinh năm nào, anh có chiều cao từ 1,8 m trở lên, có lúc ảnh hưởng phong trào hippy của giới trẻ nên anh để tóc dài rất đẹp và lãng tử.

Đêm Noel năm 1970, sau khi lang thang viếng nhà Thờ rồi dạo chơi đường phố Hà Tiên, nhóm của mình gồm: Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hà Quốc Hưng, cùng ghé lại Quán Ti La thì lúc đó đã có bàn của bàn của anh Cao, anh Nguyên, Dõng, Mãnh…và vài người khác đã rất là rôm rả.

Lúc này anh Cao đang học ở Sài Gòn, nhân dịp Giáng Sinh nên về nhà chơi, nhà anh khá giả, ba anh có xe Lam chở hàng và khách lên xuống biên giới Kampuchia-Hà Tiên. mẹ anh mua bán lớn hàng Việt, Kam và Thái Lan. Tính tình anh rất hào sảng và rộng rãi nên khi thấy nhóm mình vào quán anh liền gọi cùng ngồi chung bàn cho vui. Thấy anh vui vẻ nên cả nhóm cùng kéo ghế ngồi chung, cùng hòa nhập chuyện trò tranh luận đấu lý… Chợt anh Cao lên tiếng đề nghị:

– Bây giờ Nguyên nói lên một câu ngắn rồi mình dịch ra tiếng Anh, Pháp, Miên, Tàu, các bạn thì phụ họa theo nghe!

Tất cả khoái chí và cùng đồng ý.

Anh Nguyên nói: Anh yêu em!

Cả bàn: Anh yêu em.

– Anh Dõng: I love you.

Cả bàn: I love you.

– Anh Mãnh: Je t’aime.

Cả bàn: Je t’aime.

– Anh Trung: Bon salanh ôl.

Cả bàn: Bon salanh ôl.

– Anh Cao: Úa ái lứ.

Cả bàn: Úa ái lứ.

…..

Càng về sau độ dịch càng khó và độ đồng hét càng lớn.

Khi đến 12g khuya thầy Hiển bước ra nói:

– Trò chơi này vui quá, mà thôi các em dừng lại cho Thầy dùm vì 12g khuya rồi.

Không ai bảo mà cả bàn cùng hô lớn:

– Dạ Thầy.

Anh Cao nói lớn với cả bàn:

– Đêm nay gặp được các bạn, các em…vui quá nên chầu nước này “Úa » trả khỏi phải hùn tiền…5g sáng sớm mai, Mãnh ra bến xe gặp anh để lấy tiền trả cho Thầy, nhớ tới sớm nghe.

Anh Mãnh nói:

– « Oui », mình sẽ vặn đồng hồ reo lúc 4g để được uống một ly xây nại nóng rồi tiễn bạn lên đường.

……

Cái câu chuyện uống nước và anh Cao sẽ trả tiền thì ở Hà Tiên nầy nó đã trở thành một huyền thoại, có một danh từ đặt tên cho huyền thoại đó, đó là từ “ngồi đồng”. Ở Hà Tiên lứa tuổi như mình hoặc nhỏ hơn vài tuổi đều từng được anh Cao cho ngồi đồng. Để mình giải thích cho các bạn biết ý nghĩa của từ “ngồi đồng” nầy.

Có lần, lúc anh La Văn Cao học lớp Đệ Tứ Trường Trung Học Hà Tiên, buổi sáng một hôm vào ngày nghỉ, anh chạy xe đạp chở mấy thùng đường đi giao cho người mua, khi gặp bạn, gặp đàn em là anh kêu:

– Lại quán chị Lệ cây me uống cà phê nghe, anh giao thùng đường này rồi anh lại ngay.

Không biết anh chở bao nhiêu thùng đường đi giao mà những khuôn mặt thân quen cứ lai rai lại quán ngồi đó, lớp nào theo lớp đó, điểm danh cũng được mười mấy em. Nhìn bộ dạng của mọi người thì chắc là ai cũng mong ngóng anh Cao thôi.

Ngày xưa, là học sinh, đa số chỉ có hai bộ đồ, túi rổng không, đi đâu cũng chỉ là « lô ca chân ». Có được chiếc xe đạp đã là may. Thế là cả đám, người đá bào đậu đỏ, kẻ cà phê đá, xịt xà thòn…rồi cùng ngồi đồng, ai đói bụng mà có tiền túi thì tự trả rồi về, ai không có tiền mà lở uống nước rồi thì ngồi đó…nhấp nha nhấp nhổm còn lại khoảng mười em, bụng đói meo cùng ngồi chịu trận tới 2g trưa thì anh Cao đạp xe tới và nói :

– “Úa” kẹt công chuyện, mấy “lứ” có uống gì nữa thì kêu đi!

Mọi người năn nỉ anh trả tiền để “giải đồng” rồi thì « thăng » và thất thểu đi về với cái bụng đói meo.
……..
Trở lại chuyện uống nước ở quán Ti La, buổi sáng hôm sau sự kiện đêm Noël ở quán Ti La, cả nhóm cùng gặp lại ở quán cà phê ngoài chợ và anh Mãnh đã kể lại như sau:

Tao về nhà vặn đồng hồ reo lúc 4g mà không biết sao khi giựt mình thức dậy là đã 5g hơn, tốc dậy không rửa mặt đánh răng chỉ mặc cái quần dài vào rồi bay ra bến xe, đến bến xe thì hởi ơi! Xe đã chạy rồi.

Có một bài hát tựa là: “Thúy đã đi rồi”, rất buồn mà nay thì: “Cao đã đi rồi” còn buồn hơn. Trở về nhà thì không có tiền trả cho Thầy Cô vì đã nhận nợ, biết ăn nói làm sao!

Bổng có anh xe ôm chờ khách lên tiếng hỏi:

– Tính đi đâu sớm vậy Mãnh?

– Chạy theo kịp xe Lộc Thành không?

– Chắc kịp mà!

– Vậy thì đi.

Lúc đó chạy xe ôm chỉ là chạy chiếc Honda SS67, chạy 40km/g đã là nhanh, ngoài ra còn bị đắp mô, còn mìn…..Bên Tô Châu có anh tên Dự, chạy xe ôm chở khách. đến chổ cây me gần Tà Săng, cán ngay trái mìn, mìn nổ và cả hai người đều bị nạn…..Thật là tâm trạng ngổn ngang, ruột rối như tơ vò, cái vụ uống nước thiếu chịu mấy trăm ngàn này mà tới tai bà ngoại , bà má thì không biết giải thích thế nào!

May mắn làm sao, xe ôm vừa qua cua quẹo Mũi Ông Cọp thì thấy xe Lộc Thành đang dừng lại bên ven đường, lơ xe đang thay vỏ, người đi xe thì không may mắn phải chờ khoảng 15, 20 phút, chỉ có Mãnh này là hên thôi.

Cao thì đang vươn tay xoạc chân làm động tác thể dục buổi sáng bên bờ biển gió lộng.

Mừng quá Mãnh ta gọi lớn:

– Cao ơi Mãnh nè!

Một nụ cười với hàm răng ám khói thuốc:

– Ngủ cho dữ, “Úa” tính Tết về trả luôn…Vừa nói Cao vừa móc túi lấy tiền đưa.

Mừng quá, Cao lên xe đò chạy đi, tao lên xe ôm về, không kịp chào nhau…trả tiền xe ôm, tiền quán còn dư được tô hủ tiếu và ly cà phê mà…hú hồn.

……

Anh La Văn Cao là như vậy, anh chơi với anh em là chơi bạc mạng, chơi hết tiền túi kiếm người quen mượn tiền chơi tiếp. Là con trai cả, anh em đông, có hiếu với cha mẹ, chơi là chơi mà học là học, anh học rất giỏi, Tú tài 1 đậu hạng Bình, Tú tài 2 hạng Binh thứ, thi vào Kỷ Sư Điện Phú Thọ, 2000 thí sinh lấy một khóa 50 người, anh đậu thứ 52 vì vậy bị động viên học khóa 4/72 TB Thủ Đức, anh chọn Pháo Binh học thêm 3 tháng về chuyên môn rồi ra trường về đơn vị đóng quân ở Huế, Vùng 1 Chiến Thuật.
……..

Hà Tiên, 14/5/2020, ghi lại để nhớ mãi về người anh: La Văn Cao.

Dương Lê

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, cây bút của phong trào « hiện thực » của nền văn học hiện đại Hà Tiên một lần nữa đã trở lại với chúng ta qua một câu chuyện vừa hấp dẫn vừa mang đầy tính chất « khoa học thường thức »…Thật vậy, mọi đọc giả khi đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, sẽ học hỏi được một vài kiến thức rất thực tiễn trong đời sống… Câu chuyện cũng cho ta thấy sức mạnh của khoa học nhất là nền khoa học Y Khoa, người ta có đủ khả năng tìm ra mọi nguyên nhân của mọi chứng bệnh dù cho bệnh trạng có cực kỳ phức tạp như trong trường hợp được mô tả ở đây…Thời xưa không cần phải lặn lội ngoài đồng ruộng với tình trạng đất đai nhiểm đầy các ấu trùng giun lãi để phải bị bệnh « có sán lãi » trong ruột…, Mình còn nhớ thời con nít, trẻ nít nào có có ít nhiều thời kỳ có sán lãi,…lâu lâu cha mẹ ở nhà cho uống thuốc để « trục xuất » các vị « cư trú không có giấy tờ hợp lệ » nầy ra khỏi cơ thể…Mình còn nhớ rỏ như vậy,…mà cái mùi thuốc xổ lãi đó nó rất khó chịu, có dạng chất lỏng hơi kẹo màu trắng đục…Đâu có ai ngờ một thiếu niên có sán lãi mà tình hình lại đưa đến một kết luận khi thì là đau tim, khi lại có thể bị bệnh về máu…Câu chuyện thật là ly kỳ để đi đến một kết luận rất là lý thú và rất tốt đẹp, bệnh đã được chẩn đoán đúng ngay nguyên nhân và việc chữa trị lại rất đơn giản..Không phải tác giả là người duy nhất có cái may mắn là vừa được trị khỏi bệnh lại có cơ duyên gặp người bạn đời của mình trong lúc nằm nhà thương…Hồi mấy năm về trước mình có đứa con trai đầu lòng, vì đam mê văn hóa nước Nhật nên cũng muốn đi phiêu lưu mạo hiểm qua xứ lạ đế học hỏi và phát triển chí tang bồng, ở nhà thì cha mẹ thường hay lo lắng cho con đi xa…Cuối cùng cũng có câu chuyện đứa con mình đang chạy xe đạp xuống dốc pho pho, vì muốn tránh không cán phải một con mèo đang ngồi giữa đường mà thắng gấp và bị té phóng nhào ra phía trước đúng theo quy luật quán tính của vật lý về chuyển động, kết quả là bị bể càm phải vô nhà thương xứ người để làm radio và may vá lại vết thương…Vì được săn sóc tốt quá nên cuối cùng chàng ta cảm nhận được cái tình cảm của cô cán sự làm việc trong nhà thương để rồi đi đến sự kết hợp ngàn đời, vết thương ở càm lành lặn và lúc vào nhà thương thì có một thân một mình mà lúc ra khỏi nhà thương thì lại có cặp có đôi…

Tác gải bài viết nhắc đến người bác sĩ nhân hậu và rất tốt bụng là bác sĩ Phạm Như Bách, ở Hà Tiên chúng ta không ai vào thời đó mà không biết bác sĩ Bách, ông là người hiền hậu, vui vẻ và rất có lương tâm nghề nghiệp…Mình cũng có nhiều dịp tiếp xúc với bác sĩ Bách tuy là lúc mình còn thời học sinh nhưng cũng đã cảm nhận được cái thanh tao, cao cả thoát ra từ con người của ông. Mong rằng có những dịp được nhắc nhở về ông qua các bài viết ở đây để người Hà Tiên chúng ta còn có dịp tưởng nhớ lại ông, để đáp lại phần nào sự phục vụ tận tụy của ông đã cống hiến cho dân Hà Tiên thời xưa..Bây giờ mời thầy cô và các bạn trở lại câu chuyện của cây bút tả chân rất linh hoạt Quang Nguyên qua bài viết « Món nợ ân tình » sau đây. (viết lời giới thiệu TVM, Paris 15/05/2020)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Tháng mười âm lịch của năm 1983, khi lúa đã chín vàng các thẻo ruộng, anh em nhà tôi tạm gác chuyện “đất nước” (xe đất và đổi nước) để lo chuyện đồng áng, làm nông cũng rất cần sức mạnh của cơ bắp và cả sự dẻo dai, mà cái này thì tôi có thừa, thuở ấy sức của tôi mạnh lắm có thể vác bao lúa hai giạ rưỡi chạy băng băng hàng mấy trăm mét nhưng không thấy mệt, lên bờ xuống ruộng lội bùn ì oạp vẫn không ăn thua…Vậy mà dạo này tôi hay thấy mệt, cứ tưởng rằng sau một năm rời xa trường cũ bạn quê đi học ở Sài Gòn hoa lệ đã làm “biến chất” tôi rồi cũng nên? Cho đến một hôm trên đường làm ruộng về, sau khi dầm mưa lội bộ bốn cây số, về đến bến phà Hà Tiên chờ đò qua sông thì anh Khanh (gia đình bác Sáu “cò” Lương) nói với tôi rằng:

– Ê  Bé! Mày có muốn người ta tới coi mày không?       

– Chi vây? Bộ em có cái gì ngộ hả? – Tôi hỏi.

– Có gì đâu? Mày mà nằm xuống đây, tao lấy tấm chiếu đắp lại, thò hai cái chưn mày ra bảo đảm người ta bu lại coi. Ha ha ha…

– …???

– …Cái xác chết! – Anh ấy buông thêm mấy lời chòng ghẹo và cười ha hả…

Nhìn xuống đôi chân đất của mình, quả thật chân tôi chuyển màu trắng xanh đến bạch tạng, các đầu ngón thì móp méo, không một tí sắc hồng nào dù chỉ một đốm nhỏ xuyên qua những cái móng chân từ nhỏ đến to rồi từ to đến nhỏ của mình, chân tôi giờ y như chân người chết, tôi tự lý giải rằng “chắc tại mình ngâm nước suốt ngày”.  Dạo này sao da tôi trắng hỗn, không phải “bì bạch” mà vượt qua hẵn cái nền da trắng của cha mẹ đã cho từ trong ADN? Tôi lại quay về ý nghĩ rằng do lâu ngày đi học ở thành phố không được hưởng cái nắng ngọt gió mặn của Hà Tiên quê mình nên mình bớt đen chăng? Tôi cũng thấy có những sự thay đổi lạ trong người ví dụ như hay giật mình nửa đêm, làm việc mau mệt, hay vã mồ hôi bất thường, ăn không tiêu và hay choáng váng, bị chuột rút (vọp bẻ) thường xuyên… những triệu chứng này thường không làm cho tôi lo lắng vì nó chỉ thoáng qua, và thỉnh thoảng thôi.

Một hôm, khi đang vác bao lúa vừa leo lên bờ ruộng, tự dưng tôi nghe thấy tiếng u u ong ong trong tai, cảnh vật “nhảy lâm thôn” uốn éo, những nàng mây trắng bềnh bồng thi thoảng điệu đàng chầm chậm, dìu dịu nhè nhẹ vuốt từ từ cái bóng của mình, làm cho mình tan biến vô hình trước ông mặt trời già cỗi có gương mặt cau có bốc hỏa với tóc râu dựng đứng, sao hôm nay các nàng bỗng dưng giận dỗi đổi màu nửa trắng nửa đen, nhạt nhòa ảnh sắc…? Không biết các đám mây Tầng tích hay trôi bềnh bồng khiến cái thằng tôi hay mơ mộng đôi khi ngưng việc để ngước tìm, trưa nay đã có hay không vì quả thật tôi không thể nhìn xa được nữa, ánh sáng ban ngày bị tách quang phổ xanh đỏ tím vàng trộn lẫn ma quái, âm thanh bùm bụp của tiếng đập lúa, tiếng nói cười rổn rảng của bà con nông dân đang làm “dần công” với ba tôi chợt xa xa văng vẳng như vọng về từ cõi ta bà nào đó, hình ảnh nhạt nhòa của họ như bị kéo dài ra rồi lùn lại cứ giãn nở rất bất thường theo động tác cắt lúa của họ…. Rồi tất cả tối sầm lại rất nhanh cũng như khi ảo giác đến… (làm “dần công” là ngày này người ta làm phụ cho mình, ngày khác mình sẽ đi làm phụ trả lại với người ta).

Mở mắt, tôi thấy mình nằm vắt trên bờ ruộng, bao lúa văng xuống ruộng đầy nước còn đằng xa mọi người vẫn đang cắt lúa, gom lúa, và đập lúa…  Họ đang làm công việc của mình, không ai thấy tôi té xỉu, còn bản thân tôi cũng không biết mình vừa bị chuyện gì, lật đật ngồi dậy tôi thấy lạnh cả hai bên mang tai, tay chân thì bủn rủn, đầu óc rỗng tuếch, nhẹ tênh, không suy nghĩ gì được cả… Một lát sau tôi mới khoẻ lại và tiếp tục công việc, ngày ấy tôi nghĩ rằng chắc mình bị say nắng.

Hôm sau nữa khi đang cắt lúa cùng ba, vô tình tôi để lưỡi hái (liềm) cắt ngọt vào lóng tay của ngón út, tai nạn kiểu này là bình thường của những người gặt lúa bằng lưỡi hái, bất bình thường ở chỗ là máu chảy ra có màu đỏ hồng tươi (chứ không đỏ đậm), nhưng sao hắn chảy hoài không đông? Ba tôi phải rất vất vả dùng thuốc rê và nhai mấy cây cỏ gì đó, xé một miếng vải đâu đó để buộc chặt vết thương cầm máu lại cho tôi.

Đêm hôm đó ba nói chuyện cùng má sự việc này và rồi sau đó mọi người trong nhà lúc này mới nhìn kỹ lại cái cục ốm nhách cao nhồng là thằng tôi, rồi cùng nhận thấy có một sự thay đổi rõ ràng về mặt thể chất của tôi, cả nhà lập tức họp “chi bộ”, nhanh chóng ra nghị quyết là : “nó có bệnh”!

Ba bèn đưa tôi lên bệnh viện Hà Tiên khám, bác sĩ ghi nhận cái sự xanh xao vàng vọt, “lấy lời khai”, kẹp ống nghe vào tai, vị bác sĩ nghe ngóng gì đó ông ta nói “… nghe tiếng thổi tâm thu…” rồi phán rằng tôi … đau tim (?). Không thể! Vì tôi đang có trái tim khoẻ hơn tim bò mộng.

Em gái tôi quả quyết rằng tôi bị “bồ đá” nên lên cơn đau tim!

Về cái chuyện “bồ đá” thì em tôi có lý lẽ của nó.  Số là khi còn học tại trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, tôi có một cô bạn, mà việc “có bồ” trong trường trung học đâu dễ dấu được đám bạn bè ma quỷ?  Vả lại, chuyện có gì phải dấu cơ chứ bởi chúng tôi đều là học trò đang học chung một trường mà? Ngày ấy trái tim khỏe mạnh của tôi chợt một hôm loạn nhịp mỗi khi bắt gặp cặp mắt liếc bén ngót khi di chuyển bên phải tôi, rồi cũng cặp mắt ấy liệng theo hướng ngược lại khi đi ngang bên trái tôi, có hôm tôi nhận thấy chỉ có một con mắt len lén nhìn tôi qua khe cửa của phòng Ký Túc Xá nữ trên thềm cao khi tôi vào học buộc phải băng chéo lối vào dưới thấp, đôi mắt ấy khi đong đưa lúc “đứng hình” kiểu đó khiến tim tôi cứ lộn xộn dao động không biên độ như đồ thị động đất, tâm thần cứ bấn loạn nên nhanh chóng tôi “đổ sụp”, rồi không biết tự khi nào bạn bè và cả “đương sự” đều mặc nhiên công nhận như “chuyện đã rồi”… Tuy không khác những cặp đôi khác của học trò – hai đứa tôi cũng có bạn bè đưa đẩy bằng “lời ong tiếng ve” hoặc “tiếng mặn tiếng ngọt” hay “tiếng bấc tiếng chì” (học trò mà?) nhưng tình cảm nhẹ nhàng, mỏng manh ở lứa tuổi học trò mới lớn khiến tôi chưa bao giờ nói “I love you” (đương nhiên là bằng tiếng Việt!) với bạn ấy.  Dù vậy hai đứa tôi cũng như mấy « cặp » học trò khác, cũng có những cái trò thư đi tin lại với những câu chuyện thường ngày, những mâu thuẫn trong quan hệ bạn bè tự mình vẽ ra rồi thêm mắm dặm muối để không còn nhạt nhẽo như “mùi vị” ban đầu, lồng vào trong đó là các phương cách giải quyết rất ư là học trò, rất trẻ con nhưng hoàn toàn không kém phần thú vị, đó phải chăng là một “sắc thái” cơ bản thành hình, có thể nếu không có những biến cố trên ‘’con đường tình học trò’’ đó thì chúng sẽ nhiều dần tiến lên đến “50 sắc thái”? (tên của một bộ phim 2015).

Cứ thế mà trôi qua hết cả năm học lớp 11, rồi lớp 12 tôi đi học ở Sài Gòn, trước khi đi hai đứa tôi (cũng như tất cả các trường hợp đồng cảnh khác) cũng để lại bao lời hứa hẹn, đồng thời tôi bao bọc cẩn thận và mang theo hình ảnh đôi mắt bén ngót ấy vào hành trang… Cho đến một hôm tôi nhận được hung tin, rằng đôi mắt bén ngót đó đã được một chàng trai khác mà tôi rất quen biết tặng cho cục đá mài (!) Có thể nói anh ấy hơn tôi đủ điều kể cả chuyện biết cách “mài dao”.  Nghĩ đến bao nhiêu đó thôi thì máu tôi đã dồn lên tới đầu, và trong một não trạng bốc hỏa, tâm trạng đóng băng, tôi đã quyết định nhanh chóng, lạnh lùng tự tuyên bố “đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao”.  Rồi để vùi chôn chuyện tình học trò chẳng có gì đáng để buồn đó, tôi còn làm một chuyện điên khùng – không thể điên khùng hơn: vẽ “đôi mắt” ấy xuống dưới lòng bàn chân, để mỗi bước chân của tôi là một lần chôn vùi “niềm đau con nít”… (xin lỗi các bạn, đó là hành động sến súa, sai quấy và bộc phát của một thằng nhóc 17,5 tuổi!)

Tôi đã học cái kiểu “thắng lợi tinh thần” từ AQ của Lỗ Tấn.

Và em tôi cho rằng tim tôi “thổn thức tâm thu” vì câu chuyện đó, nhưng tôi biết rõ mình như thế nào, tôi đã cho chuyện của mình đi theo bụi của những con đường mà tôi đã đi qua, tinh thần của tôi rất tốt, và quả tim đó đã không đau theo cả hai nghĩa đen và bóng.

Vậy thì tại sao bác sĩ phán tôi “đau tim”?

Phải có lý do gì đó, ba tôi hồ nghi và tôi cũng không tin chuyện này, chỉ vài hôm sau ba đưa tôi qua Rạch Giá, thời ấy khi có bệnh mình sẽ không được quyền chọn bệnh viện, vì tất cả phải theo luồng tuyến, dĩ nhiên là bệnh viện Phó Cơ Điều – Rạch Giá không nhận tôi vì không có thuyên chuyển của bệnh viện Hà Tiên, ba phải dẫn ông “bác sĩ chiến khu” mà ba nhanh chóng làm quen ra trước rạp hát Châu Văn ngồi nhậu lai rai với ổng (mặc dù ba không hề biết nhậu), để được gửi gắm thằng tôi.

Ba thành công, cuối cùng tôi được nhận vào bênh viện, tôi nằm đây gần ba tuần lễ để họ tìm bệnh, thật sự họ tìm hoài, lấy máu hoài và nghe tim phổi hoài mà không có một kết quả gì rõ ràng, cuối cùng họ phán rằng tôi bị “suy đa tạng” (!) cái tên bệnh nghe thật lạ. Rằng tôi bị thiếu máu không rõ nguyên nhân, rằng suy tim, suy thận, đau bao tử, chức năng ruột suy giảm ..v.v. Ba càng lo lắng và càng rối thêm… Đêm hôm đó hai cha con đi bộ trên đường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) nói chuyện với nhau rất nhiều, ông thật sự lo lắng và trông ba rất tội, hai cha con đứng tâm sự trên cầu đúc Nguyễn Trung Trực hồi lâu đột nhiên ông hỏi thằng con trai mười tám tuổi của ông rằng nó có bị… bất lực?

Trời đất! Tôi phì cười. Thật sự ba có lý do của ba, vì tất tần tật cái gì trong người thằng lớn cũng suy, thì nghĩ làm sao mà thằng nhỏ còn đứng vững?

Rồi cũng đêm đó ba quyết định đưa tôi đi Sài Gòn tìm bệnh sau khi ba viết thư nhờ ai đó mang về Hà tiên để báo cáo tình hình với má, rồi ba mượn tiền của những người quen ở bên này để đưa tôi đi luôn…Chuyến đi này mọi vấn đề còn nằm phía trước, ba cũng không biết sẽ làm sao vào được các bệnh viện ở Sài Gòn, chỉ biết rằng cứ đi rồi tính vì tôi càng ngày càng xanh rớt, sụt cân dữ lắm rồi, lưng quần tôi phải dùng dây nylon mà buộc chứ hồi đó nghèo đến độ không có tiền mua dây nịt, nói ra thì không ai tin chứ ngày ấy quả thực tình trạng gia đình tôi là như vậy.

Phải nói rằng ba tôi có nhiều bạn quý, ba sực nhớ đến một ông bạn là một bác sĩ của VNCH thời chiến tranh, đó là bác sĩ Phạm Như Bách.  Ông này chuyên khoa mắt, được học hành bên Đức, bên Mỹ chi đó rồi theo về Hà Tiên làm giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trước năm 1975, rồi sau đó ông chuyển đi, ba đã bặt tin nhiều năm nay, chỉ biết rằng ông có phòng mạch riêng ở khu vực chợ Tân Định, và ba đã đi hỏi thăm… Những người Sài Gòn hào sảng, vui vẻ, tử tế đã dẫn ba tới phòng mạch tại gia của ông ở đường Trần Khánh Dư. (Mr. Trần Văn Mãnh đã nhiều lần nhắc đến bác sĩ Phạm Như Bách trong các bài viết trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » này).

Người Hà Tiên xưa ai lại không biết bác sĩ Phạm Như Bách? Ba nói ông là một bác sĩ giỏi, tận tâm và đáng kính… Tôi còn thấy ông đẹp trai, phong độ và nho nhã…Ba dẫn tôi tới, ba nói chuyện với ông rất lâu vì đã lâu hai người không gặp, đương nhiên chuyện của tôi vẫn là chính. Hôm sau ba dẫn tôi đến bệnh viện Trưng Vương nơi ông đang công tác (một số ít người tài giỏi của VNCH như ông may mắn được chế độ mới sử dụng), tại đây ông giới thiệu với một bác sĩ khác người miền Bắc tôi còn nhớ tên là bác sĩ Luyến, bà Luyến đưa tôi vào nhập viện ngay mà không có “on-đơ” chi cả, đủ thấy bác sĩ Bách uy tín thế nào.

Một tuần lễ trôi qua các bác sĩ chưa tìm được bệnh cho tôi, cũng phải thông cảm, đó là vào năm 1983 đất nước đang rất khó khăn, đói nghèo và lạc hậu… Các phòng xét nghiệm không hiện đại như bây giờ. Sau vài ngày lấy máu xét tới nghiệm lui, họ thấy hồng cầu suy giảm đáng kể, phần còn lại to nhỏ không đều và dị dạng, nhược sắc tới bốn cộng  (++++), và dĩ nhiên các xét nghiệm khác nữa cho thấy tôi đang sở hữu một cơ thể rã rời và yếu đuối… Một hôm, tôi thấy bác sĩ Bách nói chuyện với ba hơi lâu, trông ba rõ ràng biến sắc và khuôn mặt căng thẳng lo âu, tôi hỏi ba chuyện gì thì ba không nói.  Thoáng nhìn thấy tờ giấy chỉ định phân tích máu ba đang cầm, tôi thấy có ba chữ “nghi K máu”!  Lúc ấy, tôi nào đã hiểu “K” là gì cho đến khi tôi hết bệnh, khi ấy ba mới nói cho tôi biết là người ta nghi tôi bị ung thư máu. Ba kể rằng cầm tờ giấy trong tay mà ba đi hết muốn nổi!  Ba không tin tôi bị K máu, chỉ vì ba không muốn tin, không một người cha nào muốn tin điều đó xảy ra với con mình. Nếu thật sự tôi mà bị K máu thì chỉ có Trời cứu chứ người thì bất khả!

Tuy nhiên sau đó thật may mắn cho tôi – vô cùng may mắn cho tôi, cái số của tôi không vắn đến vậy, người ta không tìm thấy tế bào ung thư máu mà thay vào đó người ta tìm thấy một dạng “vật lạ” rất nhiều trong bệnh phẩm thải ra là… trứng giun móc. À! Thì ra tôi bị nôm na là sán lãi, thật đáng xấu hổ cho đấng nam nhi đại trượng phu này.

Do tôi đi làm ruộng bằng chân đất trong những vùng đất ẩm và nhiều phân người thải ra, vì ruộng của gia đình nằm trong khu dân cư sơ tán, người ta phóng uế bừa bãi ngoài đó, cha con, anh em tôi thì vô tư cày cấy trên đất, ấu trùng con giun móc này chui vào da ở lòng bàn chân, bàn tay, qua máu qua phổi, lên họng rồi xuống ruột… Eo ôi! Có một dạo tôi “ngậm lãi phun người” mà tôi không hề biết? Kinh thật! Bọn chúng tồn tại bằng cách bám chặt vào thành ruột của vật chủ bằng cái mỏ có mấy cái răng hình móc và cái miệng như ống giác để hút máu.  Bằng kiến thức y khoa của mình, bác sĩ bảo rằng rất nhiều đến độ không biết bao nhiêu trăm (hay ngàn?) con trong chục mét ruột rà (non già) của tôi đang chứa đầy … giun móc!

Con này có tên khoa học là Ancylostoma…gì gì đó, cái tên bằng tiếng Latin dài hơn từ Biên Hòa đi Bình Chánh! Mặc dù thân hình nó chỉ dài độ 1,5 cm (con cái) và khoảng chừng 1,2 cm (con đực) mà thôi. Mỗi ngày một con hút chừng 0,1 – 0,3 ml máu nhưng hàng trăm con như vậy thì thử hỏi tôi đâu còn máu trong người? Mà cái bọn này độc địa và lười biếng, chúng không bò đi đâu mà cứ “tứ khoái” một chỗ, muốn được vậy chúng phải tiết ra chất độc làm máu không đông, để chúng cứ ngậm và máu của vật chủ cứ tự động tuôn vào họng chúng.

Để chống lại cái đám ăn cắp hồng cầu trong cơ thể nhưng chưa bị bắt này, cơ thể ngày đêm liên tục sản xuất thêm hồng cầu nhằm bù đắp vào số lượng bị hao hụt do mất trộm, lượng hồng cầu mới xuất xưởng vội vàng có chất lượng không cao, giống như một nhà máy sản xuất cứ mãi mê theo đuổi sản lượng mà không quan tâm đến chất lượng, hay vì nhu cầu quá lớn nên yếu tố chất lượng bị bỏ qua, hàng hoá sản xuất ra chỉ toàn là loại hàng thứ phẩm. Hồng cầu không khoẻ, to nhỏ không đều, thiếu sắc tố… nên việc vận chuyển ôxy về não không đủ làm tôi hay bị mệt và ngất, ô xy và dưỡng chất không đến được các cơ bắp đầy đủ nên tôi hay bị chuột rút và mệt mỏi, hơn nữa để tăng cường lượng ôxy cho quá trình làm việc liên tục của tôi – trong tình trạng thiếu máu – buộc tim (là cái bơm, bơm máu) phải làm việc nhiều hơn trong thời gian dài nên tim của tôi mau chóng có vấn đề suy yếu.  Cùng lúc, gan thận phải gồng mình giải độc tố mà mấy thằng “giặc móc” tiết vào trong máu nên gan thận của tôi cũng suy giảm chức năng, tôi trở nên xanh chành và vàng khè ai nhìn cũng thấy ớn. Ruột không còn đủ diện tích mặt bằng để hấp thu thức ăn vì bị bọn này chiếm đóng, mà thức ăn không được hấp thu cơ thể sẽ thiếu chất trầm trọng, hơn nữa sẽ bị lên men vi sinh khiến tôi hay bị tiêu chảy và sình bụng liên tục, bao tử thì đau và thỉnh thoảng quặn thắt từng cơn…

Đột nhiên mọi bệnh lý từ nội tạng của tôi được lý giải rõ ràng như tìm được nghiệm của một hệ phương trình nhiều ẩn số…

Hai tuần ở bệnh viện Trưng Vương các bác sĩ đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh cho tôi, sau khi tìm ra được trứng giun móc tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, ba tươi vui hớn hở đi cắt tóc cạo râu (bằng lưỡi lam chứ không như bây giờ – nhổ bằng răng!), buổi sáng ba vào bệnh viện với nét rạng rỡ phong độ, diện cái áo sơ mi tay ngắn bằng vải Pho màu kem, quần tây vải Canada màu rêu, chiếc kính mát vuông màu trà với gọng đồi mồi thương hiệu của xứ Hà Tiên yêu dấu của ba, trên tay ba là một cà mèn to là phở và đầy thịt bò tái, đó là bữa ăn ân huệ cuối cùng mà ba dành cho lũ yêu quái, thì cũng ngay trong ngày hôm nay thôi người ta sẽ cho chúng một liều thuốc độc (yên tâm! Vì có thuốc sẵn, chứ không phải chờ đợi mỏi mòn như tử tù trong hành lang chờ!).  Sáng hôm đó tôi nhận thuốc Vinacor với liều nhiều lần hơn bình thường cho một người, phải uống liên tục trong một tuần như vậy, đủ thấy tôi nhiễm giun móc nhiều như thế nào. Và sau hôm đó ba nói với tôi rằng tôi ở bệnh viện vài hôm, ba sẽ đi chơi Phan Thiết thăm bà con, ba giờ được thoải mái trong suy nghĩ, không lo âu nữa, không sợ hãi nữa, ba đã cứu thằng con trai của ba, đó là thành công ngoài mong đợi, ba “tự thưởng” cho mình.

… Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi chở ba tôi đến thăm bác sĩ Bách tại phòng mạch tư gia của ông, hay khi gia đình con cháu có ai bệnh mắt tôi đều đưa đến ông, ông có “độc chiêu” là tiêm vào mắt cho những trường hợp bệnh mắt nặng và hiệu quả điều trị tốt vô cùng… Mỗi khi ba tôi ghé là ông thường nói chuyện với ba rất lâu sau khi hẹn lại các bệnh nhân khác, và sau này khi mỗi khi tôi đến ông vì khám bệnh hay vì gì thì ông mừng lắm, ông hỏi han nhiều về những người quen biết của ông năm xưa tại Hà Tiên, hẵn là xứ sở này đã “đóng dấu” vào cuộc đời của ông những kỷ niệm đẹp.

Vào một ngày tháng 3/2018, nhờ facebook của cô Dương Hồng Châu, tôi biết được ông đã giã từ chúng ta ở cõi tạm này, tôi kịp đến thay mặt ba tôi để thắp cho ông nén hương cảm ơn ông đã giúp ba cứu thằng con trai của ba, tôi cũng đồng thời “ăn ké” lời tri ân dài dòng hơn đôi chút để nói lên cảm xúc của mình trước vị ân nhân của cuộc đời riêng của tôi, bởi ngày ấy nếu không có ông có lẽ bọn ăn cắp trong cơ thể tôi đã biến tôi thành “Mummy” (xác ướp Ai Cập) mất rồi.

Quan trọng hơn hết là chỉ vài tuần ở bệnh viện Trưng Vương mà ông đã dắt tôi vào, tôi đã kịp thời nhanh chóng “lụm” tại đây cho riêng tôi nửa mảnh đời còn lại, tôi đã kịp mang về cho cha mẹ tôi một nàng dâu thảo, cho xứ sở Hà Tiên một cô giáo Trung Học mà mấy mươi năm sau học trò xưa còn nhắc nhớ… (Sẽ là câu chuyện mà tôi có dịp sẽ kể sau này).

Và cũng phải nhắc thêm nơi đây, có một lần tôi dẫn mẹ của các con tôi tới chữa mắt ở phòng mạch của bác sĩ Bách, lần đó tôi có nói cho ông biết chuyện của chúng tôi đã gặp nhau như thế nào trong bệnh viện « của ông », ông chăm chú lắng nghe và đặt vài câu bông đùa… Đó cũng là dịp duy nhất giúp tôi được nói ra những lời tri ân với vị ân nhân của mình. « Em còn nhớ ánh mắt ngạc nhiên và thích thú của ông bác sĩ già, chắc lúc đó ông nghĩ : « ai nói là trên đời không có cái gọi là ‘số phần’? » – Vợ tôi đã nói với tôi như vậy.

Đúng! Sự xuất hiện của ông trong cõi tạm này là một phần số rất ý nghĩa của tôi, phần số đó đã và đang theo cuộc đời tôi gần bốn mươi năm qua…

Tạ ơn ông, bác sĩ Phạm Như Bách – một vị bác sĩ tài ba, đức độ, nghĩa tình của xứ sở Hà Tiên chúng ta nói chung, của đại gia đình cha mẹ tôi và của riêng gia đình tôi. Ngoài ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, tôi đã nợ ông, món nợ ân tình cả cuộc đời này.

Tháng năm/2020, Quang Nguyên.

Bao thư của chính bác sĩ Phạm Như Bách gởi cho người quen năm 2007

Mẫu giấy cho toa thuốc của bác sĩ Phạm Như Bách dùng làm giấy viết thư cho gởi cho người quen.

Chú thích: Thành thật cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn đã chia sẻ cho mình một vài tài liệu cá nhân về bác sĩ Phạm Như Bách.

Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, từ lâu mình có ý nghĩ là viết một bài về những người quen biết và những người bạn tuy không học chung cùng trường lớp Trung Học Hà Tiên xưa nhưng rất gần gũi nhau vì đó là những người quen biết và bạn bè thường hay tới lui giao thiệp vì cùng ở chung quanh khu chợ Hà Tiên (đây là nói về khu chợ rất xa xưa của Hà Tiên, khu có ngôi nhà lồng chợ ở giữa hai con đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt).

Mình sắp nói về những người quen biết và cũng là bạn bè hàng xóm, có người mình đã biết và có chơi qua lại từ rất lâu, ngay cả những ngày còn nhỏ thời trẻ nít, có người thì mình xem như đàn anh, nhưng cũng rất quen thuộc vì mỗi ngày đều có dịp gặp gở,..Trong số bạn bè người quen ở đây, một ít người thì đã ra người thiên cổ, ra đi đã lâu, có thể người Hà Tiên chúng ta đã quên rồi, vì thế mình muốn nhắc lại trong bài viết nầy, mong quý bà con, bạn bè còn ở Hà Tiên và những vị ở các nơi khác trên trái đất nầy, đọc bài và hãy suy tưởng nhớ lại, xem mình có quen biết người được nhắc đến ở đây hay không, tất cả đều là người quen biết và đều có thể được xem như là « những nhân vật quen thuộc » của đất Hà Tiên xa xưa.

Anh Tây Đen:

Từ nhỏ đến giờ, mình không biết tên thật của anh, chỉ nghe mọi người gọi anh là « Tây Đen »,…Cho đến tháng 8 năm 2018 khi mình đăng một thông tin trên trang fb để hỏi thăm về anh thì các bạn có góp ý nên mình mới biết được tên thật của anh. Anh tên thật là Phan Văn Sinh, đó là tên do cha mẹ nuôi của anh đặt cho. Cha nuôi của anh tên là Phan Văn Anh (tự Mạnh). Theo nội dung của phần thông tin của mình đăng lên để hỏi tin tức về anh Sinh, mình có viết như sau: « Các bạn ở Hà Tiên ngày xưa và nhất là các bạn ở Kiên Lương cho mình hỏi thăm về một người: Người nầy hồi xưa ở Hà Tiên, có tên thật là Mạnh nhưng mọi người đều gọi là « Tây Đen » vì anh là người lai có lẽ cha anh là người Phi Châu …Lúc xa xưa trong những năm 1960 ở sát bên nhà mình, do hai ông bà VN nhận làm con nuôi, (căn nhà chính là ngay nhà chế Gái Đen ngày xưa), lúc đó còn là một dãy nhà ngói đối diện với biệt thự ông Bầy đường Bạch Đằng, sau đó căn nhà đó do vợ chồng ông Huống ở, ông Huống làm nghệ giặt ủi quần áo và bà Huống thì bán rau hành ngoài chợ đường Tham Tướng Sanh. Sau nầy anh bạn Tây Đen về Kiên Lương ở, có một lúc có mâu thuẩn theo kiểu tuổi trẻ muốn đánh nhau với nhóm học trò Trung Học Hà Tiên của mình. Trong thời gian ở Kiên Lương anh bạn Tây Đen đăng vào lính và bị thương phải cưa hết một chân nên anh chỉ có một chân phải chống nạn đi, anh Tây Đen tuy rất đen nhưng nói chung vẫn đẹp trai, mũi cao, thân mình cân đối, hơi ốm..Sau nầy không biết anh ấy sống chết thế nào, các bạn có biết tin không, nhất là các bạn thường sống ở Kiên Lương sau nầy ».

Sau khi thông tin nầy được đăng lên ngày 20/08/2018 thì có nhiều bạn quen biết ở Hà Tiên và Kiên Lương góp ý và cho mình nhiều tin tức về anh Sinh. Như mình đã viết trong phần trên, từ xưa đến giờ mình cứ ngở tên anh là Mạnh, hóa ra đó chính là tên thân mật của cha nuôi của anh. Trong thời trẻ con của mình, khoảng 9, 10 tuổi, nhà cha mẹ nuôi của anh Sinh ở sát bên phải nhà mình, chổ  mà ngày xưa là một dãy nhiều căn ngói, kết sát bên nhà mình đó là nhà cha mẹ anh Sinh, kế đến là nhà ông Sừng làm nghề sửa chữa máy móc, kế nữa nhà của gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, ….v..v…lúc xưa chưa có căn nhà lầu của chế Gái Đen.  Thời đó lối xóm có nhiều trẻ con, mình cũng thuộc loại trẻ con của xóm đó, mình thường thấy anh Tây Đen nầy chơi với thằng bé con trai của ông Sừng nhà kế đó, nghĩ cũng vui vì thời xưa đó chỉ nội cái xóm khu nhà mình ở cũng có hai ba loại tây lai, tây trắng cũng có, tây đen cũng có,…(đó là anh em nhà mình, rồi bác Tây Đô ba của bạn Kiệt, rồi anh Sinh Tây Đen…).

Đây là những chi tiết mà người ta biết về anh Sinh: anh rất đam mê tốc độ, anh chạy xe honda rất tài tình về kỹ thuật lạng lách,…Sau khi anh và gia đình dời về Kiên Lương sinh sống, có thời gian anh vào lính, anh lái xe cho ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng BĐQ. Mỗi lần có dịp hành quân về Kiên Lương thì anh Sinh phô diễn tài chạy xe jeep, với kỹ thuật lái xe chỉ chạy trên hai bánh vòng vòng khu chợ tròn khiến cho người dân đứng xem hai bên đường vỗ tay khen rầm trời… Thời gian sau anh không may mắn vì bị thương và phải bị mất một chân, anh trở về cuộc sống dân sự ở Kiên Lương, mình cũng có nhiều dịp gặp gở anh khi đi Kiên Lương thăm bà con anh chị làm việc ở đó. Sự liên hệ giữa cá nhân mình và anh Sinh không có gì đặc biệt, ngày xưa là bạn con nít lối xóm chơi chung với nhau, khi lớn lên thì gặp nhau chào hỏi và thân thiện không có mâu thuẩn gì cả…Chỉ có một thời gian khi anh về Kiên Lương sống và chưa vào lính thì không biết tại sao có lúc nhóm học trò trung học Hà Tiên và anh Sinh ở Kiên Lương có hiềm khích gì đó, hai bên khích nhau gần như muốn đánh lộn với nhau, lúc đó học sinh Hà Tiên cũng không dám xuống Kiên Lương chơi vì sợ anh Sinh kiếm chuyện,…chỉ vậy thôi nhưng trên thực tế thì chưa hề có việc đánh nhau thật sự, đó chỉ là những xích mích theo kiểu thời học sinh, chắc cũng là vì lý do muốn dành chiếm con tim của một hai người đẹp Hà Tiên hay Kiên Lương nào đó…

Có nguồn tin bạn cho hay sau nầy khi anh rời khỏi đời lính vì bị thương tật, anh về sống cuộc đời bình dị làm ăn với gia đình. Mình không biết được tin tức của anh nữa. Nghe các bạn thông tin là anh có đi buôn bán thuốc lá tuyến đường Hà Tiên-Kiên Lương, có lúc thì anh bán vé số, về sau không buôn bán nữa thì anh về xã Hòa Điền sống với vợ con và mất ở đó. Mình cũng không biết chính xác anh Sinh mất năm nào, chỉ mới biết tin do bạn bè chia sẻ cho biết mà thôi, nghĩ lại thấy rất tội nghiệp cho cuộc đời của anh, vì rốt cuộc anh cũng là một nạn nhân của thời chiến tranh tang tóc…phải chịu cảnh thương tật đến khi rời xa cuộc sống. Ngày xưa khi chào đời anh được cha mẹ nuôi nhận đem về sau khi mới sanh ra có 3 tiếng đồng hồ ở Vĩnh Long. Thời gian đi học ở Hà Tiên bậc Tiểu Học anh học chung với anh Tòng con dì Tám Tiền cũng ở gần nhà mình đường Bạch Đằng. Khi anh Phan Văn Sinh mất, gia đình chôn cất anh ở Hà Tiên.

Về gia đinh cha mẹ nuôi của anh Sinh, mình cũng không biết nhiều, chỉ còn nhớ cha của anh ngày thật xa xưa mình có gặp mặt vì là người lối xóm, nhưng hoàn toàn không biết gì về những người thân khác trong gia đình của anh Sinh. Sau nầy mới được bạn bè thông tin thêm cho biết là anh có một người chị trong gia đình tên là Phan Thị Lang, chị Lang hay lên xuống Hà Tiên đi buôn bán và chị cũng là bạn thân với chị Huỳnh Thị Huệ người chị bạn dì với mình sống ở Kiên Lương. Chị Phan Thị Lang ngày xưa cũng là một cô giáo dạy ở trường Tiểu Học An Bình, Kiên Lương, nhà chị ở khu chợ dài ở Kiên Lương.

Anh Phan Văn Sinh với chiếc nạn gỗ lúc anh bị thương tật ở chân.

Chị Phan Thị Lang và bức chân dung của người cha là ông Phan Văn Anh, cũng là cha nuôi của anh Phan Văn Sinh

Bìa trái hàng đứng: chị Phan Thị Lang (chị của anh Phan Văn Sinh), bìa trái hàng ngồi: bạn Lý Mạnh Thường.

Tái bút: Sau khi viết phần về anh Phan văn Sinh xong, đến ngày hôm nay 25/06/2020, mình có nhận được mail thông tin của người con gái lớn của anh Sinh, người con gái nầy có cho mình biết vài thông tin về gia đình của anh hiện tại. Anh có tất cả 4 người con, người con út là con trai vẫn còn độc thân, ba người con lớn thì đã có gia đình. Cuộc sống tất cả đều ổn định. Người vợ của anh vẫn còn sinh sống ở xã Hòa Điền tuy sức khỏe có phần yếu kém. Theo hình ảnh của thẻ căn cước ngày xưa của anh Sinh thì tên chánh thức trên giấy tờ của anh là PHAN VĂN XIN. Theo thông tin gia đình thì anh Phan Văn Xin mất ngày 18/05/2001. Mình xin cám ơn người con gái lớn của anh Xin về những thông tin nầy và về những tấm hình mà cô đã chia sẻ qua email.

Chân dung anh Phan Văn Xin trong giấy căn cước ngày xưa. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Giấy căn cước ngày xưa của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Chân dung của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Bạn Phách:

Tiếp tục kể chuyện hàng xóm đường Bạch Đằng, ngày xưa lúc mình còn nhỏ, mình thường chơi thân với bạn Phách, bạn bè khu chợ thường gọi bạn là Phách, nhưng tên chữ của Phách chính là Chung Nghiệp Phát. Ngày xưa mình với Phát chơi nhau rất thân, mình thường hay qua nhà Phát chơi, má của Phát rất tử tế, rất vui vẻ nói chuyện với mình tuy nhiều khi thì cũng rất nghiêm. Ba của Phát làm việc ở khách sạn Đại Tân phía sau nhà mình ở đường bến Trần Hầu. Gia đình ba má Phát có hai người con trai, Phát là lớn và có một em trai tên là Tài. Nhà của Phát ở sát bên phải căn biệt thự nổi tiếng ngày xưa của ông Bầy, ở đường Bạch Đằng. Ở chợ Hà Tiên, có nhiều gia đình người Hoa có tiệm buôn bán chung quanh chợ, thường là những người có quan hệ bà con với nhau. Má của bạn Phát chính là người chị của ông Thái Dũ (tên của ông là Huỳnh Diệc Hỹ, ở Hà Tiên ai cũng biết ông, vì gia đình ông có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Hà Tiên, nhất là trong những năm xưa 60-70, người dân Hà Tiên tiêu thụ xăng dầu do trạm cây xăng của gia đình ông cung cấp). Má của bạn Phát còn có một người chị lớn nữa chính là bà Thái Sầm, một trong những người cố cựu ở Hà Tiên và cũng là chủ của nhiều dãy phố chung quanh khu chợ Hà Tiên, bà Thái Sầm cũng là chủ nhân của khách sạn Tô Châu xưa ở bến tàu sông, góc đường bến Trần Hầu – Tô Châu.

Ngày xưa trước mặt căn biệt thự của ông Bầy có một lề đường tráng xi măng sạch sẽ, nhóm con nít khu xóm thường tụ  tập tại đó để chơi các trò chơi trẻ con. Trò chơi thì có rất nhiều loại, thay đổi tùy theo « mùa màng », mình cũng không biết ai là người có ảnh hưởng quyết định khi nào là mùa phải chơi trò chơi nào, nhưng rỏ ràng là theo nhóm chơi của trẻ nít xóm mình thì có khi có mùa chơi dây thun, có mùa chơi bao thuốc lá, có mùa chơi hình cắt nhỏ từng miếng, có mùa chơi nút ve chai nước ngọt, đặc biệt có mùa chơi « chẻ mía » rất hấp dẫn. Tất cả các trò chơi nầy được diễn ra ở hai bên lề đường Bạch Đằng ngay khu mình ở. Tham gia các trò chơi nầy đều có các bạn lối xóm của mình, dĩ nhiên là bạn Phát cũng có mặt trong các trò chơi nầy, thực ra mình cũng ít chơi trực tiếp, chỉ thích đứng xem cả buổi các bạn chơi với nhau xem ai ăn ai thua mà thôi. Ngay cả lúc căn biệt thự của ông Bầy cho người Mỹ mướn ở trong đợt những cố vấn Mỹ đầu tiên đến Hà Tiên, thì mình cũng qua nhà của Phát để xem họ dọn đồ đạc đến trong căn biệt thự, vì lúc đó, trẻ con thường hay theo các người Mỹ nầy để xin kẹo Chewing Gum và các lon nước ngọt…Có khi thấy thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương tình cờ chạy xe đạp ngang thì phải trốn dấu mặt vì sợ bị thầy kêu lên văn phòng rầy la ngày hôm sau…

Chơi với nhau nhiều năm sau đó thì bạn Phát đi qua nước Campuchia một thời gian, lúc đó có lẽ để tránh tình trạng chiến tranh ở Việt Nam, mình và Phát mất liên lạc nhiều năm trong thời gian đó. sau đó Phát cũng trở về nhà ở Hà Tiên sinh sống, mình và Phát gặp lại và cũng thường xuyên qua lại với nhau. Thời gian sau 1975 mình và Phát mất liên lạc vì mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Hiện nay mình và Phát đã « gặp » lại nhau trên mạng, Phát sống với gia đình ở nước Canada.

Anh Thái và bạn Khuôn:

Kế căn biệt thự của ông Bầy về bên trái thì có căn nhà ngói do gia đình ông Trương Thái Phong mua cho ông ở riêng trong căn nhà nầy, sau đó có em Huỳnh là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Kim Ô ở căn nhà nầy. Kế căn nhà ông Trương Thái Phong về bên trái là nhà của một gia đình rất đông người ở. Đó là gia đình của anh Thái, anh Thái họ Tạ, tên đầy đủ là Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà nầy, đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Lúc xưa trong căn nhà đó có hai gia đình cùng ở chung, cũng đều là bà con ruột với nhau. Trong gia đình bạn Thái thì phía anh chị lớn có anh Hạo (là bạn với anh Lê Quang Chánh, anh bạn dì với mình), rồi chị Khiếm (chồng chị Khiếm là anh Ngoán, lúc xưa làm việc lái xe cho ông quận trưởng Hà Tiên, hai anh chị có con trai và gái, người con trai tên Tùng, cháu Tùng thường qua nhà mình ngồi ở hàng ba trước nhà mình xem mình đàn guitare vì Tùng rất thích chơi đàn nầy). Kế đến là anh Thái, sau anh Thái còn có nhiều em trai và gái nữa, trong số đó có ba người con gái, có cô tên Kim là phu nhân của anh Lý Cảnh Tiên (anh Tiên là anh của bạn học mình là Lý Mạnh Thường). Vì là lối xóm ngày ngày hai bên nhà nhìn qua nhìn lại, nhất là những buổi chiều gió mát nhà anh Thái thường hay trải chiếu ngoài hàng ba và cả nhà quây quần ngồi chơi nói chuyện rất vui. Thông thường thì hằng ngày ba anh Thái thường đan lưới trước nhà vì cả gia đình làm nghề đánh bắt cá, có tàu lớn ra vào ngoài cửa biển Pháo Đài. Vì anh Thái lớn tuổi hơn mình, là đàn anh nên mình không có học chung lớp với anh, chỉ có một người nữa trong nhà, hồi xưa mình chỉ biết tên bạn là Khôn (nhưng sau nầy xem tin tức của anh Thái mới biết tên đúng là Khuôn), bạn có tên đầy đủ là Lâm Mậu Khuôn, là anh em cô cậu với anh Thái, ngày xưa hồi học Tiểu Học, mình học chung lớp với bạn Khuôn, bạn Khuôn có một đặc điểm là bạn bị cận thị rất nặng, mà hồi rất xưa ở Hà Tiên, cũng không có việc phải đi khám mắt và mang kính cận nên bạn Khuôn không có đeo kính, trong lớp học mỗi lần muốn đọc một tờ giấy gì mình thấy bạn Khuôn đưa tờ giấy gần sát trên mắt để đọc… Một thời gian sau đó, cha mẹ bạn Khuôn, dọn nhà ở riêng ở phía dưới đường Trần Hầu, mình cũng biết căn nhà nầy vì có nhiều lần đi chơi ngang nhà. Ngày xưa lúc còn nhỏ chơi với nhau khá thân nên lúc Khuôn dọn nhà đi xuống xóm đường Trần Hầu thì mình cũng hơi buồn vì không gặp lại bạn thường xuyên. Từ lúc Khuôn dọn nhà đi thì mình và bạn ít có dịp tiếp xúc nhau, cho đến khi sau nầy có phong trào vượt biên đi ra nước ngoài, Khuôn cũng theo gia đình đi  nên không còn biết tin tức nhau. Cho đến lúc gần đây, nhìn hình ảnh anh Thái về Việt Nam đi thanh minh ở Hà Tiên, có chụp hình chung với bạn Khuôn, mình nhìn hình và nhận ra ngay Khuôn, mặc dù là đã xa nhau có hơn trên 50 năm…Hiện nay, anh Tạ Hữu Thái sinh sống ở nước Úc, còn bạn Lâm Mậu Khuôn thì ở nước Mỹ.

Từ trái sang phải: bạn Chung Nghiệp Phát, anh Tạ Hữu Thái và bạn Lâm Mậu Khuôn. Những người bạn ngày xưa nhà ở cùng đường Bạch Đằng, Hà Tiên.

 Anh Trần Bình:

Ngày xưa khi còn học bậc Tiểu Học, mình có học chung lớp với anh Trần Bình, anh Trần Bình người khá cao, nét mặt rất đẹp trai, nhà anh ở ngay góc đường Lam Sơn-Bach Đằng, gần như đối diện với nhà mình (ngày nay chính là quán bán mì của anh Cáo Di và chị Hoa). Gia đình anh Trần Bình rất quen thuộc với nhà mình, má của anh thì quen biết nhiều với má và ông bà của mình, còn ba của anh thì thường hay qua nhà mình hút thuốc phiện với ông ngoại mình…Ở Hà Tiên ngày xưa có rất nhiều bậc ông cha có tên là Tỹ, đó là một tên quen thuộc của người Việt gốc Hoa, ông ngoại mình tên là Trần Đệ, vì ông rất cao lớn, lưng lại hơi tôm nên người ta gọi ông là ông Tỹ Tôm, còn ba của anh Trần Bình người cũng cao lớn, người ta gọi tên là ông Tỹ « Cọn », đó là tên theo phát âm chữ Hoa ra tiếng Việt nên mình viết ra đây cũng không chính xác.

Có một kỷ niệm lúc ba của anh Trần Bình qua nhà mình, ông đi bằng cửa sau, từ phía mặt đình Thần Thành Hoàng về phía nhà mình, vì ông thường qua nhà mình chơi với ông ngoại mình nên cũng rất dè dặt, kin đáo nên thường đi theo cửa phía sau nhà. Lúc đó sân phía sau nhà mình còn đất rộng cây cỏ mọc nhiều, anh em mình đang chơi trò phóng một mũi tên nhọn qua lại, lúc anh mình phóng mũi tên nhọn về phía mình, nghĩ lúc đó sao mình cũng ngu dại thật, mình đưa ngay bàn chân phải ra đón mũi tên, ai dè mũi tên cấm phập ngay trên bàn chân, chắc cũng đau lắm, nhưng cũng không sao, không có chảy máu, ngay lúc đó thì ba anh Trần Bình vừa đến ngay cửa sau, khi thấy kiểu chơi như vậy, ông nói: « Mấy đứa tụi bây chơi gì mà nguy hiểm quá vậy… »

Ngày còn con nít, anh em nhà mình chơi rất thân với anh Trần Bình, lúc đó mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về các nội dung truyện Tàu, loại truyện hồi xưa tiệm thuốc Tây Thanh Bình ở dưới chợ cá cũ cho mướn sách để đọc. Mình đọc gần như hết tất cả các truyện Tàu có trong tiệm Thanh Bình nên chịu ảnh hưởng nặng nề về nội dung các câu chuyện nầy, nhất là truyện Tàu Tề Thiên Đại Thánh, Thái Tử Na Tra lóc thịt, các câu chuyện Thần Tiên về Đông Du bát tiên hay Phong Thần…Lúc anh Trần Bình qua nhà mình chơi, mình thường hay dừng màn trướng làm như trong gánh hát, rồi chơi trò theo các câu chuyện trong truyện Tàu, anh Trần Bình lấy cái thùng giấy sửa ông Thọ và phía mặt ngoài có vẽ hình các bông sen, rồi cầm thùng giấy đó đưa lên ngang ngực mình ngay chỗ mình đứng giống như là mình đang ngồi trên tòa bông sen theo kiểu các hình Bồ Tát, Đức Phật ngồi trên tòa sen…Hồi thời đó, anh Trần Bình có tài vẽ hình rất hay, anh thường vẽ hình các vị Phật, vẽ hình ông Lý Tịnh trên tay cầm bửu tháp, cha của Na Tra, theo kiểu nội dung thần tiên trong truyện Tàu. Vì ngôi nhà anh ngay trước mặt nhà mình, chỉ cách con đường Bạch Đằng, nhà lại có một tầng lầu và các cửa sổ lầu nhà anh cũng ngó sang nhà mình nên thường khi anh ở trên lầu, mình cũng thấy được anh Trần Bình ngồi vẽ trên đó và hai bên cũng liên lạc nói chuyện với nhau được mặc dù cách nhau một con dường và có độ cao khác nhau…

Lúc còn học chung ở Tiểu Học, mình và anh Trần Bình còn có một người bạn chung tên là Thành, Thành hơi nhỏ con, là con trai của một gia đình công chức sống trong cư xá của Ty Quan Thuế thời đó (tức là khu nhà ở sau Ty Quan Thuế nhìn ra đường Trần Hầu, khoảng có cầu đoan quan thuế ở bến sông Hà Tiên). Có lần anh Trần Bình có mua một số đồ chơi bằng nhựa mủ, các đồ chơi nầy là mô hình các người lính, các chiếc xe nho nhỏ rất xinh đẹp mà mình cũng rất thích nhưng thời đó không có tiền túi nhiều để mua chơi, một lúc thời gian sau, khi anh sắp lên Sài Gòn tiếp tục học thì anh Trần Bình cho bạn Thành đó tất cả các món đồ chơi đó.

Khi mình bắt đầu lên Trung Học thì mình và anh Trần Bình ít có dịp chơi với nhau, vì có lúc anh lên Sài Gòn ở, bạn bè ít liên lạc với nhau. Anh lập gia đình với người Hà Tiên và từ đó về sau mình không có tin tức gì về anh nữa. Sau nầy qua con gái của anh, mình biết được là anh đã qua đời vì bệnh từ lâu. Anh Trần Bình mất năm 2016, gia dình chôn cất ở trên cao, ngay đỉnh núi Đề Liêm Hà Tiên.

Anh Trần Bình, rất đẹp trai, vừa là bạn thân lúc còn nhỏ, vừa là bạn lối xóm.

Bạn Sện, hai anh em bạn Đệ và Úi:

Một trong những người bạn trong khu chợ tuy không có lúc nào học chung trường lớp nhưng có nhiều thời gian chơi khá thân với nhau là bạn Sện, người Hà Tiên gọi bạn bằng tên thân mật là Sện nhưng tên thật của bạn là Huỳnh Vạn Tường. Bạn Huỳnh Vạn Tường là con trai của một gia đình người Việt gốc Hoa có tiệm làm ăn ở đường Tham Tướng Sanh, bên hông ngôi chợ Hà Tiên xưa. Tiệm của gia đình bạn Tường có hiệu là Phục Hưng, ba của bạn Tường làm nghề trồng răng và má của bạn thì có nghề uốn tóc. Không biết từ lý do gì mà mình và bạn Tường chơi thân với nhau và từ lúc nào, chỉ biết là má của Tường rất mộ Đạo Phật nên thường hay lui tới nhà mình để tham gia việc cúng kiến quý thầy tu, và mỗi lần có người em của bà ngoại mình (bà ngoại mình thứ chín, có hai người em tu trong chùa ở Châu Đốc nên mấy đứa cháu như mình thường kêu là bà Mười lớn và bà Mười nhỏ), bà Mười nhỏ thỉnh thoảng vào Hà Tiên thăm bà ngoại mình, lần nào má của Tường nghe tin cũng đến nhà mình để tiếp xúc với bà Mười nhỏ về việc tu hành. Tường thường kể cho mình nghe về việc bạn học nghề võ, hình như là học với anh Hà Văn Long (anh Hà Văn Long là cháu ngoại của bà Cô Tư có thời gian trụ trì nhiều năm ở chùa Lò gạch ngày xưa, người Hà Tiên thường gọi anh Long bằng biệt danh « Long bảy búa », anh Hà Văn Long nay đã mất). Tường thường kể là học theo võ bùa, mỗi lần có bùa nhập vào là đánh võ rất hay và mạnh. Ở nhà của bạn Tường có một sân thượng phía sau nhà, đứng trên sân thượng nầy có thể nhìn thấy phía bên đường Bạch Đằng, và mặt tiền khu nhà đường Lam Sơn, Tường thường hay dẫn mình lên sân thượng sau nhà nầy và biểu diễn múa võ cho mình xem…

Hồi xưa lúc chơi với nhau, Tường cũng rất thích về môn đàn guitare và nghe nhạc hòa tấu đàn điện do nhóm The Shadows chơi. Bạn Tường thường dẫn mình đến nhà hai bạn Đệ và Úi, dó là hai anh em nhà ở đầu đường Lam Sơn – Tham Tướng Sanh, ngay phía trước nhà có một gốc cây me rất to lớn và phía trước đó cũng là chỗ thường xuyên của chiếc xe bánh mì « pa tê » rất nổi tiếng ở Hà Tiên, đó là chỗ bán của bà bán bánh mì « pa-tê », bà cũng có bán kèm theo vài trái mít rất to lớn.  Vì nhà của anh em Đệ và Úi có một cái máy hát dỉa loại xưa, hát bằng dỉa đá lớn màu đen, loại 78 vòng, có một dỉa đặc biệt về các bài hòa tấu của nhóm The Shadows, thường là nghe các bài Apache, FBI, Kon-Tiki,…Hồi xưa mình và các bạn đó rất mê nghe các bài hòa tấu guitare điện nầy nên nhóm bạn ở khu chợ nầy thường tụ họp ở nhà của hai bạn Đệ và Úi để nghe các bài nầy, nhiều khi cứ nghe đi nghe lại rất nhiều lần, lúc nào cũng thấy thật hay, mà vào thời đó ai cũng mê các bài hòa tấu đàn điện nầy của nhóm The Shadows, thường là các bài nầy được hát ở những rạp chiếu bóng ở Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ trong khi chờ vào giờ chiếu phim. Thời đó mình rất mê đàn guitare, nhất là mê tiếng đàn guitare điện, nhưng đâu có được đàn điện mà chơi, chỉ chơi bằng loại đàn kêu là đàn thùng (guitare acoustique) và thường là nghe bập bởm âm điệu của các bài của The Shadows rồi cứ đàn theo trí nhớ lại, chỉ biết được tên của hai bài chánh là Apache và FBI, còn nhiều bài khác thì biết nghe, ghiền nghe nhưng hoàn toàn không biết tựa bài là gì.

Bây giờ nói thêm về hai anh em bạn Đệ và Úi, bạn Đệ tên thật là Liêu Thọ Hoa, Đệ người cân đối, nhỏ con, cũng khá đẹp trai, rất hiền, còn Úi tên thật là Liêu Thọ Vĩ. Hai anh em Đệ và Úi còn có một người anh trai lớn nữa, lúc đến nhà chơi mình cũng có gặp người anh lớn nầy. Hàng ba trước nhà của hai anh em Đệ và Úi ngày xưa có cho ông thợ hàn thiếc mướn để hành nghề, hồi xưa mình cũng thường hay đến đây ngồi xem ông thợ nầy làm việc, mình rất mê xem ông cắt từng miếng thiếc, rồi đập, uốn, hàn thành những dụng cụ như bình tưới nước có cái búp sen ở đầu vòi hoặc máng xối hứng nước..v..v..Lúc ngồi xem ông làm việc thì cũng có vài người bạn của ông đến chơi và nói chuyện vui với nhau, thời đó có một ông làm thợ uốn tóc ở tiệm của nhà bạn Tường, mấy ông nầy thường có thú vui là cá độ với nhau số kiến thiết xổ ra là số mấy (loại số xổ trước hết gồm hai con số, người dân Hà Tiên thời đó dùng kết quả số nầy để chơi số đuôi, còn gọi là đánh số đề), mấy ông nầy chia 100 con số ra làm bốn phần (phần một từ số 01 đến số 25, phần hai từ số 26 đến số 50, phần ba từ số 51 đến số 75, phần bốn từ số 76 đến số 00 (tức số 100), mỗi ông cá vào một trong bốn phần nói trên nên khi số xổ ra đều có người trúng …Đó là cách chơi cá xổ số của mấy ông mà mình vẫn còn nhớ đến bây giờ. Về sau nầy, khi ông thợ hàn thiếc không còn mướn phía trước nhà của anh em bạn Đệ, Úi nữa thì có chị Lâm Thủ Điệp, phu nhân của bạn Lý Cui (bạn Lý Cui học chung lớp với mình trong thời Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ từ lớp đệ thất đến hết bậc Trung Học Hà Tiên) mướn để làm tiệm may y phục phụ nữ.

Nhắc lại thêm vài chi tiết vui ngày xưa với bạn Tường, ngày xưa ở Hà Tiên có thông lệ là nếu có một người bạn quen phải đi Rạch Giá vì có công việc riêng hay đi học hoặc đi trình diện đi lính thì sáng sớm hôm đó thường có bạn bè đi đưa người lên đường ra bến tàu, xe, và để thưởng công cho người đi đưa phải thức sớm, người sắp đi sẽ mời bạn ăn sáng một tô mì và một ly cà phê đá, thường là ngay tại quán Quảng Phát vì quán nầy ở gần bến tàu, xe nên rất tiện cho việc lên đường. Nhiều lần bạn Tường cũng rủ mình thức sớm ra đưa Tường đi Rạch Giá hay Sài Gòn như vậy, lần nào thì Tường cũng khao mình một tô mì và ly cà phê đá và dĩ nhiên là do bạn Tường trả tiền. Không những thế, ngay cả vào những ngày bình thường, bạn Tường thường hay có thói quen là thỉnh thoảng vào buổi trưa hay ăn một tô mì hay hủ tiếu ở quán ông Phan trong nhà lồng chợ, gần nhà của Tường, nếu trước đó bạn Tường đang ở nhà mình chơi đàn hay ngồi nói chuyện ở trước hàng ba mái hiên nhà mình thì Tường cũng rủ mình ra ăn luôn với Tường cho vui, lần nào bạn Tường cũng chiêu đãi trả tiền, vì thời xưa còn học sinh, mình cũng không có tiền túi dư để khao bạn bè ăn hủ tiếu thịnh soạn như vậy, tóm lại nếu nói nợ nần thì mình cũng đã nợ bạn Tường rất nhiều về những lần được khao ăn mì, hủ tiếu như vậy…

Sau nầy khi mình đi dạy học thì ít về Hà Tiên nên ít có dịp gặp lại các bạn cùng xóm chợ. Về sau khi có chiến tranh biên giới 1977-78, đa số người Hà Tiên đều tản cư đi các nơi khác, bạn Huỳnh Vạn Tường qua Rạch Giá và có mở tiệm hành nghề trồng răng tiếp nối nghề gia đình. Hiện nay Tường đã trở lại Hà Tiên sinh sống và thỉnh thoảng cũng có làm việc. Bạn Đệ (Liêu Thọ Hoa) thì định cư ở nước Mý, còn bạn Úi (Liêu Thọ Vĩ) thì vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hồ:

Mình quen biết với bạn Hồ qua sự trung gian của bạn Huỳnh Vạn Tường, nói chung Hồ, Sện và Phách đều là quen biết và bà con với nhau cả. Bạn Hồ tên chánh thức là Huỳnh Minh Hà, con trai của ông Thái Dũ mình đã có dịp nói ở trên, vì thế bạn Chung Nghiệp Phát và bạn Huỳnh Minh Hà là hai anh em cô cậu (má của Phát là chị của ba của Hồ). Trong thời gian mình và Tường chơi đàn guitare thì Tường có giới thiệu mình với Hồ để có dịp chơi đàn chung với nhau. Bạn Hồ người cao ráo, thanh nhả và cũng rất đẹp trai. Hồ nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng tôn trọng bạn bè. Tường và Hồ cũng thường đến nhà mình chơi buổi trưa và như đã kể ra ở trên, sau đó hai bạn thường rủ mình ra quán ông Phan ăn hủ tiếu, khi thì Tường khao, khi thì bạn Hồ khao…Vì không thể chấp nhận đi hoài nhiều lần phải để cho hai bạn trả tiền cho mình nên thỉnh thoảng mình cũng từ chối, viện cớ nầy nọ…Thời xa xưa đó cuộc sống học trò thì đâu có dư tiền túi, trong khi đó các bạn ở quanh chợ thì nhà khá giả nên có phương tiện chi tiêu rộng rải…

Vì bạn Hồ rất thích chơi đàn guitare nên có thời gian trước đó Hồ có chánh thức học đàn với anh Mẫn. Mình nói thêm về anh Mẫn, ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển. Mình còn nhớ có vài lần đầu gặp Hồ, mình và Tường, Hồ cùng nhau ngồi chơi trước hàng ba nhà mình, bạn Hồ có đàn cho mình nghe vài âm điệu, khi nghe Hồ đàn một lúc, tiếng đàn rất phong phú, lúc thì theo hợp âm đô trưởng (C), lúc thì theo hợp âm la thứ (Am), vừa có tiếng đàn trầm giử nhịp (basse), vửa có nhiều âm thanh cùng phát ra một lúc theo kiểu đàn nhạc cổ điển, mình giựt mình vì nhận thấy Hồ đàn rất hay và rất căn bản, hỏi ra mới biết đó là bài tập thứ nhất do anh Mẫn mới dạy cho Hồ tập đàn. Đó là bài N°1 Valze, nhịp 6/8 trong quyển sách học đàn « Méthode complète pour Guitare » của tác giả Ferdinando Carulli. Thời đó nghe tiếng ai mà học đàn theo quyển sách đó thì đó là tay chơi đàn gạo cội rồi đó…Nếu muốn chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển, ai cũng phải qua quyển sách đó, trong sách có 56 bài tập (exercices) và sau khi tập xong 56 bài tập đó thì phần cuối sách có 6 bài trình độ cao (études). Không biết anh Mẫn có chơi hết các bài trong quyển sách nầy hay không, vì thời đó rất khó mà có được quyển sách nầy. Sau nầy khi đi dạy học ở Mỹ Luông, mình gặp một người bạn đồng nghiệp tên Lê Việt Ánh, người Huế, dạy môn Anh văn, Ánh chơi đàn cổ điển rất hay, lúc đó mình mới bắt đầu đi vào phương pháp đàn guitare cổ điển, tập được hết 56 bài tập và 6 bài études của quyển sách Carulli nầy. Đến thời gian khi qua Pháp định cư, mình cũng tìm mua được quyển sách Carulli nầy, bản gốc theo tiếng Pháp để giữ đó làm kỷ niệm nhớ lại thời chơi đàn ở Việt Nam.

Sau năm 1975, đa số các gia đình người buôn bán chung quanh chợ Hà Tiên đều có phương tiện đỉ nước ngoài bằng tàu ghe, bạn Hồ cũng ra đi cùng với gia đình rất sớm, từ đó mình mất liên lạc với Hồ. Sau nhiều năm sau nầy, khi mình bắt đầu hay sưu tầm, tìm tòi các hình ảnh xưa về Hà Tiên, vào năm 2006, tình cờ mình thấy được một bức hình do một người lính hải quân Mỹ chụp tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp các em trẻ nít người Hà Tiên, có lẽ do người lính Mỹ kêu tập họp lại để anh chụp hình cho vui, đó là vào năm 1965, người lính Mỹ nầy tên là Cliff Rocheleau, khi thấy được bức hình nầy mình rất mừng và rất thú vị, vì trong hình thấy rỏ cảnh Đài Kỷ niệm với một phần chợ cá cũ của Hà Tiên, nhất là bên phải hình mình nhìn ra rỏ ràng có mặt bạn Hồ đang đứng trong đó. Hình được mang tên « vn0146 » trong một bộ tập hình về Việt Nam do anh Cliff Rocheleau đăng trên trang web của anh mang tên « Coast Guard Warriors » (Chiến binh bảo vệ bờ biển), dưới bức hình chụp trẻ em tại Đài Kỷ niệm Hà Tiên (1965) anh có chú thích « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien. » (Những đứa trẻ luôn bị thu hút bởi những chiếc tàu thuyền mỗi khi tàu thuyền dừng chân ở Hà Tiên).

Sau nầy trên mạng face book mình có « gặp » lại bạn Hồ, mới biết bạn tên là Huỳnh Minh Hà, mình rất vui tìm lại được bạn bè thời xưa ở Hà Tiên. Bạn Huỳnh Minh Hà hiện định cư ở nước Úc và thường xuyên đi du lịch với niềm đam mê là chụp hình phong cảnh đẹp khắp nơi.

 Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, bạn Hồ đứng bìa phải. « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien ». Cliff Rocheleau (1965)

Từ trái sang phải: Bạn Huỳnh Vạn Tường, bạn Huỳnh Minh Hà và bạn Liêu Thọ Hoa. Những người bạn ngày xưa cùng xóm chợ Hà Tiên.

Bạn Mạnh, bạn Sáu và bạn Hủi:

Bạn Mạnh, tên đầy đủ là Hồ Văn Mạnh, người hơi nhỏ con giống như mình, nhà bạn ở đường Đống Đa, Hà Tiên, phía khúc gần mặt sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Mạnh là con của bác Phụng Đài, (chắc tên là Hồ Phụng Đài, mình không nhớ rỏ), bác Phụng Đài (còn gọi là bác Tư Đài) là một họa sĩ tài danh của Hà Tiên, ở Hà Tiên ai cũng biết ông. Chính ông là tác giả của hai bức tường dựng ở hai bên cầu bắc Hà Tiên, nơi có ghi những địa chỉ buôn bán, quán ăn, khách sạn, tiệm bán vật kỷ niệm cho du khách đến Hà Tiên tham khảo, đó là khoảng những năm 60-65, sau nầy có hia của mình là hia Phón (tên thật là Thái Văn Bằng) tiếp tục vẽ thêm bổ túc cho hai bức tường nầy. Hồi lúc học bậc Tiểu Học, vì bạn Mạnh có vừa tên vừa họ cũng gần y như tên họ của mình, chỉ khác dấu thôi (một người dấu nặng, một người dấu ngã) nên mỗi lần có sắp xếp chỗ ngồi để thi (thi trong lớp hay thi lên lớp đệ thất) là Mạnh và mình thường ngồi kế nhau.  Có một lần mình còn nhớ là Mạnh chắc cũng muốn kiếm thêm chút tiền bỏ túi nên lãnh phần sơn mấy tấm sáo treo trước hai căn nhà lầu của chế Gái Đen sát nhà mình, bạn Mạnh đang đứng trên ghế cao sơn thì có ba của bạn chạy xe đạp ngang, ông không vừa lòng chút nào khi thấy bạn Mạnh đi sơn như vậy nên rầy la bạn Mạnh, mình còn nhớ lúc đó đang ở mái hiên nhà mình và nghe ông rầy như thế nầy:  » Ba muốn con học làm họa sĩ có danh tiếng chớ đâu có muốn con làm thợ sơn nhà như vậy!! ».

Về sau nầy, bạn Mạnh có dọn nhà về ở đường Bạch Đằng, lập gia đình, có vợ có con. Nhà ở sát căn nhà của anh em tên là Ba và Tư, con người thợ máy. Mạnh cùng bà xã làm ăn theo nghề mua bắt tôm, cá bán sỉ lại cho các người bạn hàng ngoài chợ cá Hà Tiên. hai vợ chồng làm ăn rất khá. Một thời gian sau, hai vợ chồng cất nhà lầu đúc rất tốt đẹp, cũng ở trên con đường Bạch Đằng. Hiện nay không biết bạn Mạnh có dọn đi đâu không, tuy nhiên vẫn sinh sống ở Hà Tiên.

Bạn Hồ Văn Mạnh, hình lúc còn học lớp nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963

Bạn Sáu, tên đầy đủ là Đỗ Văn Sáu, không biết tại sao bạn bè hay người Hà Tiên thường đặt cho bạn cái biệt danh không hay chút nào là « Sáu Bò » !! Vì là bạn học cùng chung ở thời Tiểu Học, mình và bạn Sáu rất hiểu biết nhau nên mình không bao giờ gọi bạn bằng cái biệt danh như vậy. Sáu rất đàng hoàng, nói chuyện lịch sự, lúc nào cũng gọi mình bằng tên rất thân mật. Nhà bạn Sáu ở trên con đường Tuần Phủ Đạt, gần như đối diện với rạp chiếu bóng Phát Minh sau nầy. Bạn Sáu là con trai trong một gia đình kỳ cựu Hà Tiên, rất đông anh em. Có người anh lớn là anh Đỗ Bảo Khén (hoặc Đỗ Bổ Khén) mình biết mặt nhưng không quen vì anh thuộc bậc đàn anh học chung lớp thời anh Tùng Phương, anh Huỳnh Hữu Điền,…(ba người anh kể tên đây cũng đã qua đời lâu rồi). Sáu có hai người em gái mà một trong hai người đó chính là phu nhân của bạn Trần Bình. Trong gia đình bạn Sáu, có một người anh nữa tên Đỗ Bảo Yến, hình như hồi xưa cũng có học bậc Tiểu Học cùng trường với mình. Ở Hà Tiên người ta thường gọi anh Yến là anh « Be Be »…không biết tại sao. Chỉ biết anh Yến có mang một căn bệnh rất nặng là bệnh kinh phong, mình cũng đã có nhiều lần thấy cơn giựt kinh phong nỗi lên, lúc đó cặp mắt như nhìn ngược lên phía trên, miệng thì có bọt trào ra, rất là tội nghiệp. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường anh Yến không khuấy phá ai cả. có một lần chính mình thấy tận mắt mà mình còn nhớ đến bây giờ, chuyện xảy ra rất lâu rồi, lúc đó mình còn nhỏ, mới ở nhà đi ra chợ trên con đường Lam Sơn, thì thấy anh Yến đang bồng trên tay một em bé gái, mình bị ướt sủng và có khói bốc lên, mặt anh Yến thì rất nghiêm trọng, không nói tiếng nào, sau đó mới biết đó là em Kim Hoàng, con gái của hai ông bà bác Ba Nhan ở sát nhà mình, và Kim Hoàng vửa bị phỏng nước sôi nên anh Yến đã kịp thời mang em đi thẳng về nhà bác Ba Nhan để thông báo cho hay tin…Đó là một việc làm rất tốt đẹp, anh đã cứu em bé gái kịp thời không bị phỏng cháy trong nước sôi như vậy…Anh Đỗ Bảo Yến đã mất khoảng năm 1985 hay 1986, hiện tro cốt còn thờ trong chùa Phật Lớn ở Hà Tiên.

Trở lại chuyện về bạn Sáu, có một lần vì công chuyện làm ăn, bạn Sáu có ra Long Xuyên mua vật liệu máy móc, bạn có đến nhà kiếm mình và hai người kéo nhau ra mấy cái quán ăn ở cạnh bờ sông Long Xuyên, dọc mé cầu Hoàng Diệu để vừa lai rai mồi vừa uống chút đỉnh vừa nói chuyện xưa. Sáu cứ nhắc mình : »Dùng đi Mãnh, dùng đi! » (tức là kêu mình ăn mồi đi!!). Đó là lần mình gặp lại bạn Sáu, vì sau đó tuy mình có về Hà Tiên vài lần nhưng cũng ít khi gặp lại mấy người bạn năm xưa. Hiện nay thì bạn Đỗ Văn Sáu cũng vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hủi tên đầy đủ là La Văn Hủi, là bạn học chung các lớp ở bậc Tiểu Học với mình. Nhà của bạn Hủi ở ngay đầu đường Phương Thành và Lam Sơn, hồi nhỏ mình cũng có vài lần tới nhà bạn Hủi chơi. Trong bức hình chụp nguyên lớp Nhứt do thầy Nguyễn Văn Pho dạy, có hình bạn Hủi trong đó. Bạn Hủi ăn mặc thanh lịch, nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng kêu mình bằng tên rất thân mật. Bạn Hủi có người em trai tên La Văn Gồi là bạn học cùng lớp ở bậc Trung Học với em Trần Văn Phi của mình. Mình không hiểu tại sao có nhiều bạn cùng thời ở chung quanh chợ Hà Tiên, cùng học với mình bậc Tiểu Học, nhưng sau đó khi qua bậc Trung Học thì không gặp lại ở trường lớp nữa, một phần các bạn đó không tiếp tục học, một phần thì lại qua bên trường Hoa học theo chương trình tiếng Hoa, một phần nữa chắc theo học trên Sài Gòn. Vì thế sau khi xong bậc Tiểu Học thì mình và Hủi không còn học chung nữa, hình như Hủi lên Sài Gòn tiếp tục học, thỉnh thoảng mỗi dịp Tết thì có về Hà Tiên ăn Tết thì lại gặp nhau. Sau đó Hủi lập gia đình, phu nhân của Hủi là em gái của bạn Trần Bình, ở ngay trước nhà mình. Hiện nay cũng nhờ qua mạng face book, mình cũng đã « gặp » lại bạn La Văn Hủi, hiên bạn định cư cùng với gia đình ở nước Mỹ.

Bên trái: bạn Đỗ Văn Sáu, bên phải: bạn La Văn Hủi

Những bạn quen biết chung quanh chợ Hà Tiên:

Ngoài các bạn mình đã kể trên, có nhiều quan hệ về tính chất bạn bè, mình còn quen biết một số bạn khác, cũng cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, gặp nhau thì quen biết, chào hỏi, thỉnh thoảng cũng có nhóm bạn đi chơi chung nhau thông qua những người bạn chung. Trong số người nầy có anh Nhiều, lúc xưa có tiệm chụp hình Tô Châu trên đường Chi lăng. Ba má anh Nhiều có tiệm bán cà phê ở ngay trong nhà lồng chợ Hà Tiên. Mình cũng có vài kỷ niệm với anh Nhiều, lúc đó, có một người bạn của anh Nhiều ở bên Campuchia  (hay ở Hong Kong mình không nhớ chính xác) qua chơi với anh Nhiều, hình như anh nầy ở bên nhà máy nước đá Triều Quang gần đó. Có nhiều lần anh Nhiều, cùng với anh bạn nầy và mình đi chơi chung, uống cà phê nói chuyện về phim ảnh Hong Kong, và anh đó có kể nhiều về chuyện đi nhảy đầm vì anh nói anh rất mê nhảy đầm. Một kỷ niệm khác với anh Nhiều, khi Hà Tiên làm lễ khánh thành chùa Bà Mã Châu ở phía trên bên trái núi Lăng, ngay ngả ba đường Lam Sơn, một bên phải thì về phía lăng ông Mạc Cửu, một bên trái thì đi ra Mũi Nai, chùa Bà cất ngay gần chùa Giải Thoát. Hai bên cánh của chùa Bà được hia Phón của mình (Thái Văn Bằng) vẽ hình hai vị thần canh gát cửa, đó là hai vị thần có tên là Thần Đồ, Uất Lũy, hia Phón vẽ rất đẹp, rất linh động. Vì lúc đó mình thường hay theo chơi với mấy người bạn gốc Hoa ở chợ nên mình cũng theo cả nhóm lên chùa để tham dự việc khánh thành. Lúc đó anh Nhiều lãnh phần chụp hình, chụp tất cả các hoạt động trong buổi lễ, gồm có đi rước kiệu Bà, bài vị, lư hường từ xóm bên Tô Châu về chùa bên Hà Tiên, rồi làm lễ cúng kiến ngay tại chùa mới nầy. Lúc đó mình tuy còn nhỏ nhưng cũng khoái muốn giựt le nên nói với anh Nhiều là khi nào anh mệt thì đưa máy cho mình « chụp tiếp » cho, tuy nhiên lúc đó mình chưa hề biết chụp hình nhà nghề như thế nào và dĩ nhiên là anh Nhiều đâu có phó thác việc chụp hình phóng sự quan trọng như vậy cho tay trơn như mình được…Hiện nay mình cũng có liên lạc lại được với anh Nhiều qua face book. Anh Nhiều hiện đinh cư ở nước Mỹ.

Anh Nhiều, tiệm chụp hình Tô Châu, đường Chi Lăng, Hà Tiên ngày xưa.

Một vài người quen biết khác cũng ở chung quanh chợ Hà Tiên là anh em của anh Huỳnh Lâm, cháu nội ông Thái Sơn, có tiệm hiệu Thái Sơn ở đường Tham Tướng Sanh cùng dãy với các tiệm Phục Hưng, Hòa Hiệp,…Anh Huỳnh Lâm thì mình chỉ biết nhưng không có chơi chung, có mấy người em của anh, tên Huỳnh Phát (người Hà Tiên kêu là « cá lốc », không biết tại sao), và một người em nữa tên là Huỳnh Lợi (tên thân mật là Sài), Huỳnh Lợi sau nầy đi không quân, có lần mình đi dám cưới anh Trần Văn Dõng (khoảng những năm đầu thập niên 80) cùng với cả nhà lên thành phố cao nguyên Bảo Lộc, khi ra chợ Bảo Lộc thì có gặp Sài tại đây. Sau đó Sài tức Huỳnh Lợi đã mất vì bệnh. Trong nhà còn có một người em trai nhỏ nữa tên là Huỳnh Xuân, thời còn ở Hà Tiên thì mình không biết Xuân vì Xuân lúc đó còn rất nhỏ. Sau nầy khi sang Pháp có một lúc đi làm về trên xe lửa, tình cờ gặp nhóm người Việt nam nói chuyện, mình bắt chuyện làm quen thì không ngờ toàn là nói chuyện ở Hà Tiên, hỏi ra ai cũng biết người nầy người nọ ở chợ Hà Tiên, hóa ra một người trong nhóm đó chính là Huỳnh Xuân, em sau cùng của các anh em cháu nội ông Thái Sơn. Từ đó về sau và ngay cả đến hiện tại, mình vẫn thường liên lạc vói Huỳnh Xuân, vì Xuân cũng ở gần nhà mình ở ngoại ô Paris, nhiều khi cùng đi chùa chung xe, cùng đi ăn nhà hàng và nghe nhạc ở ngoài quận 13 Paris. Lúc còn đi làm thỉnh thoảng tình cờ mình và Xuân gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa, lần nào cũng nói chuyện về Hà Tiên không bao giờ cạn nguồn, cho tới khi đến trạm cả hai đều cùng ra khỏi xe ai về nhà nấy, mình rất thích những lần gặp Xuân trên đường về nhà như vậy vì được nói chuyện về Hà Tiên rất vui.

Trần Văn Mãnh và Huỳnh Xuân (em của anh Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, cháu nội ông Thái Sơn ở Hà Tiên), đi chùa nhân lúc Lễ Phật Đản tháng 05/2011 tại ngoại ô Paris.

Có hai anh em người quen cũng trạc độ tuổi như mình, nhà ở trên đường Lam Sơn, gần nhà tiệm bánh mì Tân Thái, người anh tên là Quý, người em tên Chiêu, mình cũng quen biết và thường hay chào hỏi nói chuyện vui chơi. Nhớ ở Hà Tiên hay có tập tục là dù có đi đâu rời xa Hà Tiên nhưng khi gần Tết thì phải về Hà Tiên ăn Tết. Vì thế, có mấy lúc vào dịp gần Tết thì các bạn bè ở Hà Tiên thường hay trông ngóng các bạn năm xưa đã rời Hà Tiên lên Sài Gòn học, trở về nhà ăn Tết, mình cũng còn nhớ có lúc thì bạn bè phóng tin cho nhau hay, « Quý mới về hôm qua »,….Sau nầy nghe tin là hai anh em Quý và Chiêu cũng đã mất cả rồi… Nếu bạn nào còn nhớ và biết được tên họ đầy đủ của hai anh em Quý và Chiêu thì xin thông tin cho mình biết để bổ túc nhé.

Mình cũng nhắc lại ở đây ba anh em nhà ở phía bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá, đường Trần Hầu, kế bên khách sạn Tô Châu ngày xưa. Đó là ba anh em tên Toản, Túc và Tiêu. Mình không biết tên họ đầy đủ của mấy anh em nầy, chỉ biết hồi xưa lúc thường đi ra Đài Kỷ Niệm tụ họp ở các băng đá và nói chuyện chơi, thường có các bạn Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm), anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt, ..v..v..thì có hai bạn Toản và Túc đến chơi. Ngày xưa mình có người bạn ở ngoài Hòn vào Hà Tiên học, ở trọ nhà của các anh em Toản, Túc và Tiêu, đó là bạn Trần Văn Yến, khi mình đến nhà chơi với Yến thì thường gặp ba anh em nầy, em trai nhỏ là Tiêu rất lịch sự, thường chào hỏi các bạn của mấy anh lớn và nói chuyện rất đàng hoàng. Ba anh em nhà nầy là con của một gia đình mà người cha tên là Mã Chính Yên (tên mình chỉ nghe phát âm nên có thể viết không chính xác), còn người mẹ trong nhà thì có bệnh về tâm thần, tuy nhiên chỉ ngồi yên một chỗ và thường thì chỉ nhìn mọi người chung quanh và hơi mỉm cười mà thôi chứ bà không có khó khăn gì cả. Thường lúc mình đến nhà, ra tận nhà sau, có gặp bà thì mình cuối đầu chào bà, trong bụng mình cũng hơi sợ nhưng không có việc gì cả.  Toản là anh lớn, đeo kính cận, người có vẻ thông minh, trí thức và cũng cư xử rất đàng hoàng. Túc là em trai giữa, Túc hơi có da ngâm nhưng cũng rất đẹp trai, mặt thon, còn người em sau tên là Tiêu như đã nói, chỉ là em út không có giao thiệp với các bạn của anh trai mình, tuy nhiên Tiêu chào hỏi các bạn của anh mình rất lịch sự.

Theo tin tức của bạn bè cho hay thì lúc đi vượt biển với người vợ là Nguyễn Kim Tuyến (Kim Tuyến là người Việt kiều từ Campuchia về Hà Tiên định cư và theo học tại trường Trung Học Hà Tiên, và cũng là bạn học của nhóm bạn mình Lê Phước Dương), hai vợ chồng bạn Túc và Kim Tuyến đều bị tai nạn và đã mất tích. Toản còn ở Việt Nam sinh sống, Tiêu thì hồi xưa qua Mỹ định cư, nhưng sau nầy cũng thường về Việt Nam ở dài hạn.

Tác giả xin cám ơn tất cả các bạn học, các bạn quen biết và các em con cháu của những bạn đã được nhắc nhở tên trong bài viết nầy về sự đóng góp thông tin, chi tiết tên họ và các sự kiện. Ngoài ra cũng xin mạn phép trích đăng hình một số bạn trên đây, xin quý vị thứ lỗi và thông cảm nhé. Chắc chắn là mình còn quen biết với một số bạn nữa cũng ở ngay tại khu chợ Hà Tiên, nhưng tạm thời không thể nhớ ra hết, vậy nếu các bạn quen biết nào còn nhớ mình mà mình chưa kể tên và nhắc kỷ niệm xưa ra đây thì cho mình xin lỗi nhé, khi nào có thông tin thêm thì sẽ bổ túc vào bài.

Paris, viết xong ngày 13/05/2020, Patrice Tran (Trần Văn Mãnh)

 

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong những năm giữa thập niên 70, trường Trung Học Hà Tiên có đón tiếp nhiều thầy cô đến nhậm nhiệm sở, trong số quý thầy cô, có Thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa, Sinh Vật và cô Ngô Thị Tuyết Dung dạy môn Văn. Trong thời gian giảng dạy, lúc những năm đầu sau khi tình hình đổi mới, quý thầy cô thường có công tác phụ trách nạn xóa dốt ở những thôn ấp xa xôi…Trong những chuyến công tác như vậy, thường là quý thầy cô cùng với các em học sinh đi đến tận thôn ấp, thời gian chừng vài tuần lễ, để đem anh sáng của giáo dục đến với người dân vốn thật thà, chất phác và thường còn lâm vào cảnh mù chữ…Đó là một nhiệm vụ thật cao quý, thầy cô cùng các em học sinh đã đảm trách rất thành công dù cho phải có mặt trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn về mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần…Ở ấp Trần Thệ, một ấp thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, một địa phương tuy là láng giềng của Hà Tiên chúng ta, nhưng từ xưa đến nay, người Hà Tiên ít khi lui tới vì tình hình còn khó khăn, câu chuyện những ngày xóa dốt được cô Ngô Thị Tuyết Dung kể lại đây cho chúng ta hình dung được những ngày khó khăn đi công tác giáo dục như thế,..Cô Tuyết Dung cũng qua bài viết nầy, muốn trang trải với chúng ta, những con người của quê nhà Hà Tiên, một tình cảm quyến luyến, thương nhớ về mảnh đất mà cô thầy ngày xưa từng sinh sống và thực hành chức năng nhà giáo,…Có thể nói như cô đã tâm sự qua bài viết, cô trả xong món nợ với dân tình Hà Tiên, nhưng theo thiển ý mình thì Hà Tiên thân thương vẫn còn mãi trong tâm khảm của thầy cô, mỗi người trong chúng ta cứ giữ mãi trong lòng mình một chút tình cảm ngày xưa, một mảnh nhỏ ký ức về trường lớp Hà Tiên, một món nợ tinh thần về những kỷ niệm vui có buồn có, sung sướng trong tinh thần, khổ cực qua thân xác, nhưng tất cả sẽ sống mãi trong chúng ta, dù người còn ở lại Hà Tiên, người đã đi xa bên kia bờ Đại Dương, hay ngay cả với những người đã ra đi vì đã xong kiếp người,…Cũng như cô đã nói, bây giờ cô có thể « vổ tay reo » vì đã trang trải được tình cảm, ký ức với học trò ngày xưa…(Paris, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 08/05/2020)

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Hà Tiên ..Những ngày tháng ấy, tưởng rằng đã quên, nay sao bỗng nhớ …rời rạc một mảnh vụn ký ức một thời… 

Gần cuối năm đó, cô trò lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi xóa dốt ở ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành. Nơi đây là vùng kinh tế mới, đồng không mông quạnh, còn sót lại vài hố bom – vết tích chiến tranh – chứa nước phèn. Cư dân ít ỏi, ở lác đác trong những mái tranh đơn sơ. Trẻ con, người lớn đen đủi  ốm o, đứng ngồi tối ngày trước sân, lơ thơ mấy khóm rau, cuống hành!
Mấy ngày đầu đối với cô trò lớp 8A là cả một sự đối phó và thích nghi hãi hùng! Một cô giáo trẻ và 6 học sinh, 2 nam 4 nữ ở dồn trong một túp lều tranh cửa nẻo chông chênh, nền đất trống trải! Ngăn trước đủ kê một nan giường tre với một tấm bảng trên phên vách. Ngăn sau nhỏ, nền thấp hơn, trống hoác với vài ba cục gạch vương vãi tro tàn, làm nơi nổi lửa nấu nướng qua ngày (nhà này là nơi tạm trú của thầy giáo địa phương đặc trách xoá dốt cho cư dân vùng kinh tế mới, nay tạm bàn giao cho cô trò lớp 8A trong khoảng một tháng (?)). Đêm đầu tiên cô trò không sao ngủ được! Không điện, không nước, không một chút an toàn nào trong mầu tối đen với những bước chân, tiếng động rình rập quanh nhà! Đêm sau: cô giáo nằm tót trong cùng, kế đến là mấy cô bé nhút nhát: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên, Nghĩa. Ngoài là  cậu nhỏ Hà Dũng, Mình Nhựt to con giọng ồn ào can đảm nằm ngoài cùng, nối kết với một hệ thống chuông báo động tinh vi tự chế bao gồm dây nhợ và ống lon phục kích ngay cửa ra vào! May sao, đêm đó không nghe động tịnh gì! Chắc kẻ gian thấy mấy cô trò tội nghiệp quá nên tha cho làm phước!

Thế là quen dần, hết cả sợ. Mấy cô trò bắt đầu lên lịch công tác xoá dốt. Đầu tiên là chiêu mộ người học. Sau đó phân công nhiệm vụ: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên lên lớp ngay tại lều ở của mấy cô trò. Hà Dũng, Minh Nhựt hăng hái qua vùng phụ cận đảm nhiệm xoá dốt cho bà con Khmer. Riêng cô bé hạt tiêu Nghĩa dùng tài tháo vát đảm đang của mình phụ giúp cô giáo làm hậu cần! Mỗi ngày em xung phong đi kiếm nhặt củi khô vùng cỏ cháy đem về cho cô nấu cơm. Những buổi nổi lửa cay mắt phùng hơi mà gió thổi bạt tứ bề không sao chụm nổi ngọn lửa chín cơm! Nước không có, cô trò phải đi xách từng lon nước phèn ngoài mấy hố bom. Thức ăn toàn lương thực khô đem theo từ Hà tiên, thảng hoặc mấy cậu học trò hí hửng  đem về ít cá lóc con con rồi ra công làm cá thiệt là điệu nghệ. Bữa no bữa đói, ngày vui ngày lo ..Dân tình ban đầu có phần tò mò đến học cho biết cái chữ cái nghĩa, nhưng thưa thớt dần bởi cuộc sống khó khăn vùng kinh tế mới. Còn giữ lại là tình làng nghĩa xóm trước lạ sau quen, nhất là đồng bào thiểu số người Khmer, họ chân chất thật thà lưu chân người đi xoá dốt bằng các món đặc sản, đường thốt nốt, đệm giỏ đan lát rất tiện dụng!

Thời gian qua … rồi cũng đến ngày hành quân trở về đơn vị xuất phát. Từ giã bà con ấp Trần Thệ … Trở về lại trường lớp HÀ TIÊN, tiếp tục hoàn tất năm học… với giáo án, phấn trắng, bảng đen và những buổi học xen kẽ phần đọc phân vai tiếp cận tác phẩm, hoặc hoạt cảnh sinh động cuối tiết nếu dư giờ… Năm chủ nhiệm lớp 8A là mảnh tranh ký ức đậm màu nhất trong đời cô giáo, một thời tác nghiệp ở miền đất hoa gấm Hà tiên!

Tác giả, cô Ngô Thị Tuyết Dung, cô giáo dạy môn Văn, trong khoảng thời gian những năm 70 trường Trung Học Hà Tiên.

Vị trí Ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, nơi cô Ngô Thị Tuyết Dung và lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi công tác xóa dốt.

Hà Quốc Hưng và câu chuyện bùa tình yêu (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, thời học sinh, không gì đẹp bằng tình yêu học trò, không gì nên thơ hơn và cũng không có tình cảm nào mà khó quên hơn tình yêu học trò…Chàng học sinh mới lớn, vừa chớm tuổi trăng tròn, con tim rất dễ rung đọng, nhất là mỗi ngày được kề cận cùng lớp cùng trường với người đẹp mà mình đang mơ ước? Thế rồi chàng ta có thể làm bất cứ điều gì để chinh phục được con tim người đẹp…Nếu trong thế giới hiện thực ta chưa có được một phép mầu nào để khiến người đẹp đáp lại tình yêu thì phải nhờ đến một phép lạ nào đó trong thế giới huyền bí phù phép …Lại còn phải đi tìm một ông thầy có đủ quyền lực và bùa phép để thực hiện được ý nguyện đó. Chàng trai học sinh trường Trung Học Hà Tiên không cần phải bỏ ngày tháng để đi tìm bùa ngải tận núi Tà Lơn, hay phải dùng thuyền vượt năm châu bốn biển đi tìm bầu thuốc nhiệm mầu…may mắn thay cho chàng ta là có người quen ở gần nhà, chỉ cần ra chút tiền túi vốn cũng không có bao nhiêu của đời học sinh để mua một con gà, bình rượu, hoa quả cúng ra mắt ông thầy để được học chút quyền lực áp dụng vào hoàn cảnh của mình…Với một cây bút quen thuộc là bạn Lê Phước Dương (hiệu Lê Dương), chúng ta sẽ được nghe kể lại một câu chuyện vui thời học sinh, vui có mà buồn cũng có, vì trong đời học sinh có mấy ai đạt được diễm phúc là có được một tình yêu trọn vẹn đầu tiên mà không phải ngày đêm lo âu, tìm đủ cách để có được tình yêu đó,…Rốt cuộc ta phải hiểu và nghiệm ra cái triết lý đơn giản của cuộc sống dù là đời sống còn rất nên thơ của thời học sinh: « Tình yêu sẽ đến khi có cơ duyên, ta không cần phải đốt đuốc đi tìm, dù đau khổ tuyệt vọng đến mấy, nếu không có cơ duyên thì có đợi đến ngàn ngày sau cũng vẫn chỉ mình với ta… ». Tuy nhiên dẩu cho tình yêu của thời học sinh thường đem đến cho chúng ta đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, ta vẫn thấy cái hạnh phúc ở trong cái đau khổ đó vì ta đã biết yêu dù cho tình yêu đó là vụng dại của thời con nít… Chắc thầy cô và các bạn cũng đồng ý như vậy…(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…Paris, 04/05/2020)

Hà Quốc Hưng.
Chàng lãng tử đào hoa số hưởng.
………..
« Anh vẫn biết, anh vẫn biết yêu em là tuyệt vọng.
Mà vì sao, mà vì sao anh vẫn cứ yêu em. »
…………
Mình chơi với Hưng từ năm 1970, học lớp đệ tứ. Con nhà nghèo, anh em đông, Hưng thứ 2, Hằng em gái thứ 3, Long thứ 4, thứ 5…, thứ 6…Ba của Hưng mình gọi bằng chú Năm (nghe mẹ nói là có bà con), làm ở kho thuốc bệnh viện Hà Tiên, khó tính và nghiêm khắc, mình không dám nói chuyện, chỉ tìm Hưng rồi hai thằng vọt lẹ…

Mẹ Hưng có một gánh tầm bì se, nước cốt dừa và nồi bánh canh, bán ở đầu đường Cầu Câu-Trần Hầu. Có đôi lần sáng sớm đạp xe đến nhà Hưng rủ đi học, leo lên căn gác gỗ nắm chân gọi lớn:

– Hưng ơi! …đi học.

Lúc đó chàng ta mới thức dậy, xuống thang, rửa mặt, thay quần áo, rồi chở nhau ra chổ Mẹ của Hưng bán, xin tiền đi học.

Bà rất thương Hưng, không khi nào nghe rầy la hay nhắc nhở chuyên gì …, và rồi thì có lúc bà dọn cho hai tô bánh canh hoặc hai dĩa tầm bì…

– Ăn đi hai đứa con rồi đi hoc.

Có khi đi học về, Hưng về nhà mình, ăn cơm và ngủ lại luôn.

Hai thằng cùng chơi thân với Thánh và Kiệt, dắt dìu nhau lớn dần theo ngày tháng, học hành chỉ làng nhàng, chơi nhiều hơn là học.

Sau sự kiện:

Anh bước vào đời thơ ngây.
Dại dột yêu em nên chết cả đời.
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẩu nhớ dẩu thương dầu giận dầu hờn.

Vướng một cú yêu đầu đời đau điếng, chàng thiếu gia Trang Việt Thánh ra tiệm cạo đầu trọc lóc, không cùng đi lang thang vô định hàng đêm nữa mà chú tâm dùi mài kinh sử làm một sự kiện: «Cá chép vượt vũ môn» ngoạn mục, với sự học vượt trội như pháo thăng thiên đó, bạn bè cùng lớp ai cũng ngạc nhiên và thán phục.

Phải chăng là nhờ sự khước từ tình cảm của nàng! Chiêm nghiệm lại, được đau khổ trong tình yêu cũng…họa phúc khôn lường.

Gần nửa năm đệ tứ, dù chưa học giỏi nhưng nơi Hưng đã phát tiết tài năng văn chương thiên bẩm, thích làm thơ, lý luận bình phẩm thi văn, chọn cho mình một cái tên hiệu:

– Tô Hà Lam Uyên.
Thói quen đã chọn :
– Hơi thở là khói thuốc.
– Mạch máu là cafe đen.

Và rồi chàng ta đã biết yêu từ lúc nào đó!

Mà phải chi yêu ở chổ hoa cúc hay hoa mai…thường thường bậc trung cũng đở khổ, đằng này lại đi yêu một đóa hoa hồng rực rở duy nhất của lớp mới lận đận đời trai mới lớn.

Sau nhiều lần bằng mọi cách mà không được nàng đáp lại chút tình còm…Hưng tuyệt vọng và đã biết thế nào là vị đắng, ăn uống thất thường, học hành lơ láo, vô lớp thì xác ngồi cho có còn hồn thì thả theo những cánh hoa dầu bay bay theo gió bên ngoài cửa sổ.

Rồi không biết tình cờ do đâu mà Hưng tin tưởng vào Thần Quyền.

Ở xóm gần nhà Hưng, có anh tên Tiến, học theo phái võ Thần Quyền…không cần miệt mài học thế võ này nọ, xuống tấn, mã bộ, ngũ trảo…Chỉ cần cúng lễ vật nhập môn gồm con gà luộc, ngũ quả, nhang đèn, trà rượu…Khi đươc chấp nhận là đệ tử rồi thì chỉ cần đọc chú ba lần tức khắc thần có võ nhập vô người, lúc đó mặc tình đấm đá đối phương.

Một hôm gặp Hưng, anh Tiến bảo:

– Mầy cắt đúng đủ mười móng tay, mười móng chân, mua một chai dầu thơm nhỏ, có nút bấc trên đầu, để đủ móng đã cắt vô hết chai dầu thơm rồi đưa cho tao, tao sẽ làm bùa đúng 30 ngày rồi đưa lại cho mày và chỉ cách dùng luôn.

Mừng quá, Hưng làm đủ và đúng những gì anh Tiến dặn dò…

…30 ngày sau…

Buổi sáng 2 giờ môn Toán êm ả trôi qua, khi ra chơi Hưng nói với mình:

– Dung đi uống nước rồi, mầy lấy dùm cuốn tập của nàng dùm tao!

– Để làm gì?

– Không được nói, hết linh.

Mình vói lấy cuốn tập của Dung rồi về chỗ đưa cho Hưng.

Hưng đưa cuốn tập vào học bàn, lật tới tờ đôi trang giữa, tay hơi run…dở nắp chai dầu thơm trút hết móng tay móng chân vào cuốn tập, xếp lại đưa cho mình rồi nói:

– Mầy trả về chỗ cũ dùm tao.

Mặt Hưng xanh, thở gấp.

Lúc sau, tới giờ học, mọi người vào ngồi lại chỗ cũ của mình.

Giờ Sử Địa, thầy Chiếu bước vào lớp:

– Chào các em, các em ngồi xuống. A! hôm nay có em nào làm bể chai dầu thơm vậy?
Lúc này ai cũng cảm nhận đươc mùi dầu thơm dù có ngồi ở cuối lớp.

Hưng cố giữ bộ mặt tỉnh queo, lơ đãng nhìn ra cửa sổ, mình nhìn qua Dung xem động tỉnh thế nào.

Dung nhìn cuốn tập của mình, lật từ tờ tới trang giữa, nhìn một thoáng hơi giật mình rồi giật phắt hai tờ giữa, vo tròn lại bỏ vào học bàn, rồi trở về tư thế bình thường, như không có gì xảy ra.

Giờ ra chơi, Dung cầm cục giấy vo tròn đứng ở cửa, mình đi ra, Dung chặn lại đưa cho cục giấy và nói:

– Cho Dương cục bùa yêu nè!

Mình cầm cục giấy đi ra đứng ở hành lang đầu trường, Hưng đi theo hỏi:

– Dung nói gì với mày!

– Cho tao cục bùa yêu.

Vừa nói mình vừa nhét lại vào tay Hưng.

Hưng bậm môi quăng cục giấy ra xa rồi cay đắng nói :

– Ông Tiến này xạo, linh con mẹ họ, làm quê với cả đám trong lớp.

Dù thời gian có trôi qua nhưng vết thương trong lòng Hưng vẫn còn mở miệng.

Chỉ còn chừng một tháng nữa thôi là tới hè rồi. Một hôm thầy Nén nói chuyện và kêu gọi lớp tổ chức văn nghệ bán vé lấy tiền ủng hộ đồng bào Việt kiều Kampuchia hồi hương.

Thế là Hưng được cả lớp tính nhiệm và giao cho trọng trách này.

Phải nói là Hưng có tài tổ chức và thuyết phục, làm bầu sô, đạo diễn, soạn giả viết kịch bản « Thương hận » và mời Dung vào vai nữ chính, còn bản thân Hưng thì vai nam chính…Ba thằng bạn thân giao cho ba vai du đảng …vài tiết mục đơn ca nam, đơn ca nữ, nhờ anh Mạnh Thường giúp cho một tiết mục múa…Cuối cùng chương trình văn nghệ cũng ổn với thời lượng 1g30 phút.

Thầy Nén giới thiệu chương trình.

Anh Mãnh guitar.

Thầy Trí đánh trống…
……..
Rồi cũng tới ngày trình diễn, Hưng lo lắng, ốm o thấy rõ.

Đúng 8g sáng ngày chủ nhật, tháng 4 năm 1970.

Chương trình văn nghệ bán vé giúp đồng bào hồi hương do tổng đạo diễn Hà Quốc Hưng…..bắt đầu.

Mục hát Quốc ca mở màn: Này công dân ơi!……..

Các tiết mục đơn ca, song ca, múa….được diễn ra trơn tru, không hay không dở. Tới được phân nửa chương trình, Hưng đến cạnh thầy Nén nói:

– Hết tiết mục này thầy giới thiệu kịch dài « Thương hận » nghe Thầy.

Thoáng ngạc nhiên vì lúc đầu chương trình đã sắp xếp màn kịch diễn vào lúc cuối mà…

Nhưng là Thầy, nên cũng đoán ra được ý đồ của thằng đạo diễn học trò mình… khi vừa dứt tiết mục đơn ca Thầy liền giới thiệu:

Tiếp theo đây là vở Kịch « Thương hận » do chính trò Hà Quốc Hưng sáng tác và đạo diễn…với sự góp mặt của:

– Vai nữ chính: Tiền Ngọc Dung.
– Vai nam chính: Hà Quốc Hưng.

Cùng các vai phụ do các em sau đây đóng :

– Trang việt Thánh.
– Trần Tuấn Kiệt.
– Lê Phước Dương.
………..
Vở kich bắt đầu bằng một tiếng hát nhân vật chánh từ trong hậu trường: « Có ai biết được có mình tôi….buồn…. »…..

Hà tiên 04/05/2020
Viết lại để nhớ về những người bạn rất thân một thời.
Lê Dương.

Bốn người bạn cùng lớp cùng trường….thời Trung Học Hà Tiên nhũng năm 70. Từ trái qua: Hà Quốc Hùng, Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt

Người đẹp Trung Học Hà Tiên vẫn giữ diện mạo xinh đẹp như thời còn đi học ngày xưa….

 

Thach Động Hà Tiên và những câu chuyện thực hư

A/ Vị trí và hình thể Thạch Đông Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến địa danh, thắng cảnh Thạch Động thì không còn gì xa lạ đối với người Hà Tiên chúng ta, chẳng những thế mà đa số du khách các nơi khác cũng đều nghe tiếng về Thạch Động nên mỗi lần có các đoàn du khách đến tham quan Hà Tiên, đều có mục thăm viếng Thạch Động.

Ngày xưa trước khi Pháp chiếm Hà Tiên (1867) vùng Thạch Động và Đá Dựng thuộc hai thôn Sa Kỳ và Nhượng Lộ, sau đó Pháp nhập hai thôn lại lập thành làng tên là Làng Kỳ Lộ. Trong những năm 60-70, Thạch Động thuộc xã Lộc Kỳ. Đến sau 1975, Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, ngày nay Thạch Động là một địa điểm du lịch thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên. Từ trung tâm chợ Hà Tiên, theo quốc lộ 80 đi thẳng về phía cửa khẩu Xà Xía về hướng bắc hoặc từ con đường Phương Thành đi tiếp tục ra biên giới Hà Tiên – Campuchia, khoảng được 3 hoặc gần 4 cây số, trên đường nhìn về bên tay phải ta sẽ thấy Thạch Động sừng sửng hiện ra, cứ trơ gan cùng tuế nguyệt có hơn bao nhiêu triệu năm về trước.

Về mặt hình thể, Thạch Động là một khối đá vôi rất to lớn dựng đứng như một ngọn tháp, chiều cao so với mực nước biển là khoảng 93 m và có đường kính ở phần dưới chân khoảng 45 m. Từ xa Thạch Động được bao phủ bởi một phần đá vôi màu trắng bạc, và một phần có rất nhiều cây xanh tô điểm nên nhìn giống như một chiếc mũ lông của những kỵ binh người Anh, do đó người Pháp, trên các bưu ảnh chụp về Thạch Động, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ 20 đã đặt tên Thạch Động trong bưu ảnh là « Bonnet à poils ». Cửa chánh để vào Thạch Động ở hướng đông, nhìn về phía thành phố Hà Tiên và có độ cao khoảng 50 m.

Về phương diện địa chất học, các nhà địa chất học xác định khối đá vôi Thạch Động được thành hình trong kỷ Permi (tức thời kỳ tầng địa chất kéo dài từ khoảng 298 đến 252 triệu năm về trước). Đá vôi của Thạch Động có nguồn gốc trầm tích hóa học  chứ không phải do trầm tích sinh vật học. Người ta còn tìm thấy cùng loại đá vôi của Thạch Động ở vùng ven biển Kiên Lương, ở phía tây nam Campuchia và ở phía nam Thái Lan. Nếu ta phân biệt ý nghĩa của các từ tiếng Pháp: Tunnel: loại hầm, kéo dài theo một con đường (đường hầm); Cave: hang, động (hang sâu như một căn phòng) thì Thạch Động thuộc dạng hang động (Cave).

Thạch Động có hai cửa chánh: cửa vào chánh ở phía đông, nhìn về thành phố Hà Tiên, tai đây có xây bậc thang bằng gạch đá từ dưới đất liền lên đến cửa hang, ngay cửa vào ngôi chùa tọa lạc bên trong Thạch Động. Một cửa khác ở phía tây, tại đây người ta có thể nhìn ra được quang cảnh đồng lúa và núi non của phường Mỹ Đức. Ngoài ra còn có hai cửa theo hướng đông bắc và tây nam, ra đứng tại các cửa nầy, người ta được tận hưởng những cơn gió mát thổi lồng lộng, được nhìn ra một không gian trống khoáng, cả vùng trời biên giới có biển xanh, núi non, đảo nhỏ xa xa và một bầu không khí tỉnh lặng tạo cho ta một cảm giác rất thú vị…

Vị trí Thạch Động : Thạch Động ở về phía bắc thành phố Hà Tiên, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 3 hoặc 4 cây số.

Hình thể bên ngoài và các cửa ra vào Thạch Động (Nguồn: Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo)

B/ Hình thể bên trong Thạch Động:

Vào bên trong Thạch Động theo cửa chánh hướng đông, trước hết ta sẽ thấy ngôi chùa tọa lạc bên trong phần có thể tích rộng lớn, đó là chùa Tiên Sơn (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp). Nếu du khách tiếp tục đi vào các ngỏ ngách theo các hướng khác nhau, lần lượt sẽ thấy có một lối trống rất cao và thông lên đến trên đỉnh Thạch Động, từ dưới ta có thể nhìn thấy như là một lối thoát lên trời vì nhìn thấy cả những đám mây xanh, người ta đặt tên là « đường lên trời ». Rồi đến xem một hang nhỏ khác ăn sâu vào lòng núi, nhìn vào chỉ thấy màu đen thẩm như hang không đáy, đó là « đường xuống địa ngục ». Ngày xưa tục truyền hang đó ăn thông ra đến tận biển ở Mũi Nai, vì người ta có thả một trái dừa khắc làm dấu và sau nầy tìm vớt lại được trái dừa nầy ở ngoải bờ biển…Từ những năm 1960 vì sự nguy hiểm của cái hang nầy, người ta đã lấp kín hang lại, chỉ còn xây bờ chung quanh để làm dấu cho khách tò mò đến xem. Ngoài ra trong vách đá bên trong Thạch Động còn có rất nhiều thạch nhũ, đặc biệt là có một khối thạch nhũ nhìn thấy từ bên ngoài có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái. Chung quanh đó còn có nhiều dây leo rừng to lớn thòng xuống, tuy nhiên vì tính hiếu kỳ và thiếu kỷ lưởng của du khách các sợi dây to lớn nầy đã bị lôi kéo và bị đứt mất dần dần. Bên trong vách đá còn có các vết xâm mòn do nước đọng chảy quanh năm tạo ra các hình dáng giống như một người con gái, hay hình Phật…

Tất cả những hình thù do các khối đá thiên nhiên và do tác động của nước mưa bào mòn vách đá tạo nên như vậy đã cung cấp nguồn cảm hứng cho dân gian bao nhiều đời đã qua, kết tạo lại nhiều truyền tích, huyền thoại. Mỗi hình thù vách đá, mỗi cọng dây leo, …được gắn liền với một hành động và một giai đoạn của một câu chuyện huyền thoại có tên « Thạch Sanh và Lý Thông ». Đây là một câu chuyện được truyền đi trong dân gian và có tác giả cho là có nguồn gốc ở quận Cao Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi đông bắc Việt Nam (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp).

C/ Ngôi chùa « Tiên Sơn Tự » trong Thạch Động:

Hiện nay muốn tim hiểu về nguồn gốc ngôi chùa có tên « Tiên Sơn Tự » bên trong Thạch Động cũng rất khó khăn vì còn thiếu thông tin chính xác.

            C1/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ nhất:

Theo sách Đại Nam nhất thống chí đoạn nói về tỉnh Hà Tiên, mục Tự quán có chép rằng:  Chùa Bạch Vân (Bạch Vân Tự hay Bạch Vân Am) ở núi Thạch Động (tức núi Vân Sơn) ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Châu, nguyên do phú hộ Minh Hương là Đoàn Tân lập ra.  Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Tuần phủ Phan Tông trùng tu…”.

Có nguồn cho rằng từ năm 1790, có vị hoà thượng tên Minh Đường (người Trung Quốc) đã tìm đến hang Thạch Động và ở lại đây để tu hành, hòa thượng đặt tên cho cái am nơi tu là Bạch Vân Am, sau đó vị nầy giao am tu lại cho đồ đệ là Bạch Vân cư sĩ và dời ra lập chùa Địa Tạng ở một ngọn núi cách đó khoảng 800m về phía đông nam, từ đó núi lấy theo tên chùa trở thành núi Địa Tạng.

Cuối thế kỷ thứ 19, có một nhóm người Minh Hương đến trùng tu am xưa và thỉnh hai nhà sư tới trụ trì ngôi chùa. Vị thứ nhất là hòa thượng Thích Chánh Quả (chưa biết tên đúng hay sai) ) tục danh là Lê Thế Diên (có sách viết Duyên), quê ở Phú Yên, thuộc dòng tu Lâm Tế đời thứ 39. Hòa thượng cho đúc tượng Phật và Bồ Tát và đổi tên chùa là Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi.  Vị thứ hai là hòa thượng Thích Thiện Sĩ thế danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40. Ngài tổ chức trùng tu và mở rộng ngôi chùa và đặt tên mới là Tiên Sơn Tự, tên còn giữ cho đến ngày nay. Ngài từ trần ngày 02 tháng 09  năm Ất Dậu (1945), thọ 75 tuổi.  Sau đó có người đệ tử của sư tên là Cam Thị Nam (thường gọi là cô Hai Nàm) kế thừa trụ trì ngôi chùa. Về câu chuyện của cô Hai Nàm có nhiều nguồn do người dân kể lại:

     C1a/- Nguồn thứ nhất kể lại rằng vào ngày 29 tháng 04 năm 1948 quân lính Pháp bắt gặp trong chùa ở Thạch Động có lương thực và cán bộ Việt Minh đến hội họp nên bắt giải giam tất cả bốn người đang hiện diện trong đó có cô Hai Nàm về đồn ở Hà Tiên. sau đó lính Pháp hành hình giết bà và các cán bộ tại cầu tàu chợ Hà Tiên vì kết tội bà là người nằm vùng nuôi dấu cán bộ.

     C1b/- Cũng có nguồn tin thứ hai kể lại rằng ngày hôm đó trong chùa ở Thạch Động có lễ cúng kiến nên có dự trữ thức ăn và có nhiều người tham dự, lính Pháp đi lùng bố càn quét cán bộ Việt Minh vì trước đó có xảy ra vụ vị sĩ quan Pháp bị phục kích giết chết trong vùng Thạch Động, nên cả nhóm người hôm đó đều bị bắt và bắt oan luôn cả cô Hai Nàm. Rốt cuộc cô Hai Nàm bị giết oan ức.

Đó là hai nguồn thông tin về chuyện cô Hai Nàm ở Thạch Động, hiện nay chưa có độ chính xác về câu chuyện nầy,  cần được kiểm chứng và đưa ra tư liệu chính xác.

Từ biến cố đó, ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động bị bỏ hoang gần 4 năm liền không ai tới lui chăm sóc.

Đến năm 1952 có vị Phật Tử Hồng Phúc, người Hà Tiên, thế danh Trình Kim Huê (theo thiển ý, đây có thể là ba của thầy giáo Trình Kim Chung dạy tại trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa), đệ tử của hòa thượng Thiện Sĩ, ngài Hồng Phúc đến trông coi chùa và tu ở đó. Được 7 năm trời, hình dáng ông lúc đó có để bộ râu bạc trắng trông rất đẹp, giống như một vị tiên ông, sau thời gian đó ông trở về cuộc sống bình thường tại nhà riêng ở Hà Tiên và qua đời vào năm 1968. Người Hà Tiên ai ai cũng biết và nhớ đến hình ảnh của ông được đăng trong tờ tạp chí « Thế Giới Tự Do » do Chi Thông Tin Hà Tiên thường phát cho dân chúng đọc, Trong tờ tạp chí nầy do có bài giới thiệu vè thắng cảnh Thạch Động Hà Tiên nên có đăng hình Thạch Động và vị trụ trì là phật tử Hồng Phúc.

Trong những năm 70, Thạch Động nói riêng cũng như với ngọn núi Đá Dựng nói chung về tình hình các thắng cảnh vùng biên giới, hai địa điểm nầy đã trở thành căn cứ quân sự trọng yếu nên đều có quân đội Địa Phương Quân VNCH trấn đóng. Trong thời gian nầy, người dân không được lui tới thăm viếng thắng cảnh như thời trước được. Ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động có lẽ bị bỏ hoang không sư trụ trì và nhang khói trong thời gian nầy.

Sau năm 1975, tình hình còn biến động vì chiến tranh biên giới cho đến năm 1979, có người Phật Tử Thiện Thành, thế danh Tiết Văn Lương, người gốc Mỹ Đức, Hà Tiên, tình nguyện đến trông coi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động.  Đến năm 1989, phật tử Thiện Thành cùng với phật tử địa phương cung thỉnh đại đức Thích Minh Luận, thế danh Giang Văn Khép, về trụ trì chùa Tiên Sơn trong Thạch Động. Đại đức Minh Luận bắt đầu cho trùng tu ngôi chùa, xây dựng lan can và các bậc tam cấp, an vị tượng đức Bổn Sư trong chánh điện. Đến ngày 09 tháng 06 năm 1990 phật tử Thiện Thành lâm bệnh và qua đời. Năm 1991 đại đức Minh Luận tiếp tục trùng tu ngôi chùa, thiết lập tượng đài Quan Âm trước của chùa, năm 1995 lát gạch toàn bộ khu chánh điện, trồng thêm cây xanh chung quanh khuôn viên chùa. Năm 1997 ngài cho khởi công xây dựng tăng xá để chư tăng các nơi xa đến có chỗ an nghỉ. Trong tương lai sẽ cho trùng tu thêm giảng đường, tổ đường và nhà từ thiện. Toàn bộ khu Thạch Động với ngôi chùa xưa Tiên Sơn Tự trở thành một nơi du ngoạn cho khách du lịch đến thăm, người người ra vào đông đúc, tuy quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp nhưng đã mất phần uy nghiêm, thơ mộng và cổ kính trầm mặc của một không gian yên tỉnh ngày xưa.

            C2/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ hai:

Có một nguồn thông tin khác về gốc gác của ngôi chùa Tiên Sơn Tự như sau: Thời ông Mạc Thiên Tích trấn nhậm vùng Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp hiệu Huỳnh Phong chân nhân từ Thanh Hóa vào Hà Tiên tìm nơi tu luyện và ông cũng là một thành viên trong thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Đạo sĩ thấy hang động ở Thạch Động thích hợp nên ẩn tu tại đó. Sau một thời gian, ngài đổi pháp hiệu thành Huỳnh Phong (hay Hoàng Long ?) hòa thượng, đến năm 1785 ngài viên tịch, thọ 108 tuổi, nhục thân ngài được nhập tháp do đề đốc trấn nhậm Bác Giác Sơn tên là Đỗ Như Liêm cùng các tín đồ xây dựng. (Bác Giác Sơn tức núi Phù Dung thời ông Mạc Thiên Tich, sau nầy tại ngọn núi nầy cũng có ngôi mộ của ông đề lại Đỗ Như Liêm nói trên nên núi được mang tên là Đề Liêm). Tuy nhiên nguồn thông tin nầy có thể sai trái vì ông đề lại Đỗ Như Liêm mất khoảng 1860 – 1870 tức là lúc năm 1785 khi Hoàng Long hòa thượng viên tịch thì ông đề lại Đỗ Như Liêm còn rất nhỏ, thậm chí chưa sanh ra.   Một điểm khác làm sai lệch nguồn thông tin trên là theo như các điều ghi chép trong hai quyển Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên thì thời ông Mạc Thiên Tích có vị sư tên Hoàng Long (hay Huỳnh Phong) hòa thượng người gốc Qui Nhơn Bình Định, vào tu ở Bạch Tháp Sơn (tức là núi Đá Dựng) và khi ông viên tịch đồ đệ lập tháp bảy cấp để giữ xá lợi, tuy nhiên tài liệu nầy không nói rỏ ngọn tháp của Hoàng Long hòa thượng nằm chính xác ở đâu và nếu ở trong vùng núi Đá Dựng thì ngày nay ngọn tháp đó có còn được bảo tồn hay không? Như vậy theo hai quyển sách xưa thì Hoàng Long hòa thượng không có lập chùa trong Thạch Động mà tu ở bên núi Đá Dựng.

Nói tóm lại về nguồn gốc ngôi chùa Tiên Sơn Tự trong Thạch Động, thông tin còn rất mơ hồ chưa có những điểm chính xác về năm thành lập và người tạo ra ngôi chùa. Tuy nhiên ta có thể xem như ngôi chùa đã có dưới dạng một cái am nhỏ bằng gỗ từ trước năm 1790, sau đó có nhóm người dân Minh Hương đến trùng tu và thỉnh thầy về trụ trì, quá trình trụ trì chùa có thể xem vào nguồn thông tin thứ nhất nói trên.

D/ Truyền thuyết « Thạch Sanh – Lý Thông » có liên quan đến Thạch Động:

Theo sách « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, ấn bản 1957, có kể câu chuyện như sau:

“Thời rất xưa, ở quận Cao Bình. Hai vợ chồng già, nghèo, lòng tốt, nhưng không con. Ngọc Hoàng sai thái tử đầu thai làm con nhà họ Thạch. Bà cụ có thai, lâu cả mấy năm đến khi ông cụ Thạch bệnh, chết. Thạch Bà sinh con trai. Cụ bà chết. Cậu bé dựng lều sống dưới gốc đa, được dân gọi là Thạch Sanh. Cậu chỉ có một lưỡi búa. Ngọc Hoàng sai tướng trời xuống dạy cậu võ, và phép thần.

Có người bán rượu, tên Lý Thông, thấy Thạch Sanh có sức khỏe, nên kết thân. Trong vùng có con chằn tinh, thường ăn thịt người. Quan quân trừ không nổi, nên dựng miếu, mỗi năm cúng một mạng người. Năm ấy, tới phiên Lý Thông nạp mạng. Lý lừa gạt Thạch, nhờ thay Lý đi canh miếu thay một đêm rồi sáng hôm sau về. Nửa đêm, chằn tinh hiện ra, Thạch Sanh rút búa xả đôi chằn tinh, mới thấy là con trăn. Thạch Sanh cắt đầu trăn và cầm cung tên vàng của chằn về.

Khi Thạch Sanh về, kể lại, Lý Thông nói, rằng trăn đó là của vua nuôi, rằng Thạch Sanh hãy trốn đi. Lý Thông đem đầu chằn nạp cho vua. Vua khen, phong chức tước cho Lý Thông. Trong triều có công chúa, chưa ưng ai. Vua tổ chức hội tuyển phu, cho hoàng tử các nước và trai tráng trong dân tới chờ quả cầu do công chúa ném từ lầu cao xuống. Khi cô sắp ném cầu, Đại bàng bay ngang, sà xuống cắp công chúa bay về núi. Thạch Sanh đang ở gốc đa, ngó lên mây, thấy, mới rút cung tên, bắn trúng cánh Đại bàng. Thạch Sanh dò theo vết máu, biết cửa hang Đại bàng.

Vua sai đô đốc Lý Thông đi tìm, hứa gả công chúa và truyền ngôi. Lý Thông nghĩ chỉ có Thạch Sanh mới cứu được công chúa. Khi gặp Thạch Sanh, Lý Thông nhờ dẫn đường tới cửa hang Đại bàng. Hang sâu không ai dám xuống. Thạch Sanh tự nguyện buộc dây ở lưng rồi xuống hang. Đại bàng đang dưỡng thương. Thạch Sanh đưa thuốc mê để cho Đại bàng uống. Khi Đại bàng ngủ say, Thạch lấy dây buộc công chúa, hiệu cho quân Lý Thông kéo lên. Cứu công chúa xong, Lý Thông lấy đá lấp hang. Dưới hang, Thạch Sanh giết chết Đại bàng, cứu một thanh niên ra khõi cũi sắt, mới biết đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị Đại bàng bắt về hơn cả năm. Thái tử mời Thạch Sanh xuống Thủy phủ chơi. Vua Thủy phủ gặp con, vui mừng, xin đền ơn. Thạch Sanh từ chối, chỉ xin một cây đàn, rồi về lại gốc đa.

Hồn của chằn tinh và Đại bàng sau khi chết, đói vì không được ai cúng tế, tình cờ gặp nhau, bèn lẻn vào kho vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ. Lính theo dấu tìm, đến gốc đa thì gặp tang vật, bắt Thạch Sanh về giam. Công chúa về triều, tự nhiên bị câm, buồn hoài, nên vua hoãn hôn lễ với Lý Thông. Thấy quân bắt Thạch Sanh về, Lý Thông mới tính xử tử Thạch Sanh. Trong tù, Thạch Sanh buồn, lấy đàn của vua Thủy ra chơi, không ngờ đàn thần vẳng tiếng như than, như oán, vạch tội Lý Thông. Công chúa nghe tiếng đàn, vui mừng, cười nói, xin vua mời người đàn vào cung. Thạch Sanh kể cho vua nghe mọi chuyện. Vua sai bắt hai mẹ con Lý Thông, giao Thạch Sanh xét xử. Thạch Sanh tha, cho hai mẹ con Lý Thông về quê. Nửa đường, hai mẹ con bị sét đánh chết. Vua làm lễ cưới công chúa cho Thạch Sanh. Hoàng tử các nước bị từ hôn nổi giận, tụ họp lính 18 quốc gia tới hỏi tội vua. Thạch Sanh lấy đàn thần ra khảy, lính 18 nước buông vũ khí. Thạch Sanh sai dọn cơm cho lính các nước ăn no để về. Niêu cơm nhỏ, nhưng ăn hoài lại có cơm  ra hoài. Vua không con trai, nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.” (Hết tóm lược)

Liên quan giữa câu chuyện « Thạch Sanh-Lý Thông » và Thạch Động: Vì phía đông của bên trong Thạch Động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là « đường lên trời ». Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Còn về cái hang thông sâu thẩm không thấy đáy hang thì truyền thuyết cũng cho rằng đó là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được lắp kín lại để đảm bảo an toàn cho du khách như đã nói ở phần trên. Ngoài ra từ bên ngoài Thạch Đông, người ta còn thấy một khối thạch nhũ có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái, truyền thuyết cho rằng đó là hình con đại bàng đang quặp công chúa Quỳnh Nga về Thạch Động.

Nói tóm lại, tuy rằng câu chuyện thuộc về truyện cổ tích dân gian và theo giáo sư Nguyễn Đổng Chi, chuyện xảy ra ở Cao Bình là xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện ở nơi đó còn có một cái hang được cho là nơi Thạch Sanh đã chém chằng tinh và còn có nhiều đền thờ Thạch Sanh trong thôn làng cùng với một số phong tục văn hoá gắn liền với tích chuyện Thạch Sanh không có liên quan gì với cái hang Thạch Động ở Hà Tiên, tuy nhiên vì trong hang Thạch Động có nhiều hình thù và dạng hang đá phù hợp với câu chuyện được kể ra trong dân gian, thêm nữa tên họ Thạch Sanh trùng với họ Thạch là họ thông thường của người Việt Nam gốc Campuchia nên người ta vẫn tiếp tục gắn liền huyền thoại Thạch Sanh-Lý Thông với thắng cảnh Thạch Động, ta nên xem đó là chút thi vị được thêu dệt cho cái hay và cái đẹp của một thắng cảnh có tên tuổi như Thạch Động, tuy không phải là sự thật nhưng cũng không gây ra điều tai hại hoặc hiểu lầm làm méo mó lịch sử, mọi nơi, mọi dân tộc đều có những câu chuyện huyền thoại như vậy để được truyền tụng lâu đời trong dân gian.

E/ Câu chuyện lên núi Thạch Động cầu tiên của ông Ngô Văn Chiêu:

Theo quyển sách  » Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926″ (Nxb Thuận hóa, 1996) do Huệ Khải (Dũ Lan Lê Anh Dũng) viết, có đoạn nói về cuộc đời của ông Ngô Văn Chiêu đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu (1878-1932), ông là người sáng tạo và là môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài. Ông Ngô Văn Chiêu tuy xuất thân từ một gia đình thanh bạch, không giàu có nhưng ông là người có học cao, đỗ đạt thời Pháp và được bổ nhiệm làm công chức tại nhiều nơi ở miền nam. Khi thân mẫu ông mất, xong tuần bá nhật (100 ngày), vào ngày thứ hai 01/03/1920 (nhầm ngày 11 tháng giêng năm Canh Thân), ông đổi ra tỉnh Hà Tiên làm việc. Tại đây ông kết giao với nhiều bậc thân sĩ địa phương và thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vế thơ, ngụ ý khuyên ông đi tu:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Đêm Trung thu năm Canh Thân (chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:

Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.

Theo tác giả  Lê Anh Dũng, thì bài thơ trên có kể ra các tên của những vị thân hữu với ông Ngô Văn Chiêu, trong câu thứ hai có tên Quan, không biết là ai. Còn hai ông Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Đức tức là ông Lâm Tấn Đức (1866-1934), tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của ông Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).

Sau đó đến ngày 26-10-1920 (nhằm ngày rằm tháng chín năm Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 m.

Về câu chuyện ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Thạch Động Hà Tiên cầu cơ tiên trong năm 1920 với quý ông Lâm Tấn Đức, Diêu, Sự,…thì đó là một sự kiện trong tiểu sử cuộc đời ngài do tác giả Lê Anh Dũng kể lại, tuy nhiên là người Hà Tiên, chúng ta lại ít nghe nói về sự kiện nầy, mong các bậc cao niên và học giả góp ý thông tin thêm để làm sáng tỏ các chi tiết nầy, vì có liên quan đến thắng cảnh Thạch Động của chúng ta.

F/ Câu chuyện về cái đầu lâu trong hốc đá trên Thạch Động:

Trong sách « Truyện tích Việt Nam » do Lê Hương sưu tầm xuất bản năm 1970 có kể lại một câu chuyện liên quan đến Thạch Động như sau:

« Vào cuối năm 1945 khi Pháp tái chiếm miền nam, trong khi lục soát hang Thạch Động ở Hà Tiên thì tìm thấy được một đầu lâu gói trong một mảnh vải trắng nhét trong một hốc đá phía dưới hình tượng bà Quan Âm nổi trên vách. Người Pháp cho rằng đó là cái đầu sọ của một người lính Nhật tạm dấu trong đó chờ ngày đem về nước vì đầu được gói trong miếng vải sang trọng không phải của dân thường thời đó.

Truy tìm ra nguyên nhân thì có nguồn gốc như sau: Khi Nhật chiếm Đông Dương, có một chàng trung sĩ quân đội Thiên Hoàng yêu một cô thôn nữ người Việt nhà ở cạnh quốc lộ 17 (tên đường xưa đi đến Thạch Động). Cô gái tuy quê mùa nhưng cũng rất xinh đẹp nên chàng trai xứ Phù Tang say mê và nhờ viên thông ngôn người Việt đưa chàng đến nhà cô gái để bày tỏ lòng mong muốn của mình với cha mẹ cô gái. Hai bên cũng đã đồng lòng và chuẩn bị ngày cưới hỏi. Tuy nhiên tai họa lại xảy đến khi viên đại úy cấp trên của chàng trung sĩ thấy cô gái liền sanh tâm quyết cướp đoạt cho bằng được. Nghe hung tin như vậy, chàng trung sĩ nổi máu anh hùng võ sĩ đạo, quyết bảo vệ người yêu của mình nên chàng vào ngay văn phòng viên đại úy để thách thức đấu kiếm, phân định hơn thua để người đẹp sẽ thuộc về bên chiến thắng. Viên đại úy nhận lời và hai bên hẹn gặp nhau trên mảnh sân sát bên chân núi Thạch Động vào một đêm trăng sáng. Mỗi bên có một người bạn làm nhân chứng đi theo, theo thủ tục dân Phù Tang. Ngoài ra còn có một khán giả duy nhất đó chính là cô gái trong câu chuyện, vì nghe tin người yêu báo nên cô gái cũng đi đến, lén núp vào kẹt đá để theo dỏi trận đấu. Nàng thầm van vái các vị thần linh xui khiến cho viên đại úy đổi ý bỏ trận đấu để tránh thảm họa cho đôi bên và nàng cũng sợ rằng người yêu không đủ tài năng để chiến thắng. Nàng thầm nguyện nếu có gì thì thà chết chớ không thất ước với người yêu. 

Thế rôi sự thật phải đến, hai lưởi gươm dài sáng chói đã chạm vào nhau dưới ánh trăng bật thành những tiếng động rợn người kèm theo tiếng quát tháo làm cho nàng khiếp sợ run lên. Sau hơn nửa giờ thi thố tài nghệ, chàng trung sĩ bị viên đại úy đánh văng kiếm, kẻ thắng trận cười ngạo nghễ, tra kiếm vào vỏ và gọi người nhân chứng ra xe về chợ Hà Tiên, thình lình thấy bóng cô gái trong kẹt đá đứng nhô ra xem người yêu mình có bị giết không…Viên đại úy cười to và tiến tới dang tay như đón mời người đẹp, cô gái hoảng sợ vụt ù té chạy xuống chân núi và biến mất trong bóng tối. Viên sĩ quan không đuổi theo, lái xe về chợ Hà Tiên.

Chàng trung sĩ thua trận không thể sống chịu nhục và nhìn người yêu qua tay người khác, anh nhờ người bạn giúp mình để anh tự xử sự theo lối anh hùng võ sĩ đạo (harakiri). Trước đó chàng thảo hai bức thư, một gởi về cho cha mẹ và một gởi cho người yêu rồi dùng dao ngắn tự rạch bụng. Người bạn đứng sau lưng đưa gươm chém chàng đứt đầu, dùng vải trắng gói đầu lại và đem vào hang trong hốc đá trên Thạch Động dấu rồi chở thân mình về đơn vị làm lễ mai táng.

Cô gái không hề biết thảm trạng nầy vì trong đêm đó cô cùng bà mẹ vượt biên giới qua đất Miên lánh nạn vì cô không muốn làm vợ viên đại úy. Khi ông đại úy hay liên tiếp hai tin buồn: viên trung sĩ tự tử và cô gái đã bỏ xứ đi vì ý muốn không tốt đẹp của mình, ông rất hối hận nên cho tổ chức lễ hỏa thiêu xác của viên trung sĩ trước đội quân và hứa sẽ tự tay mang đầu người quá cố về nước Nhật sau nầy khi thắng trận. Sau đó vì đau buồn ông xin thuyên chuyển đi tỉnh khác để cố quên câu chuyện đó.

Vài thắng sau, Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc, quân Pháp trở lại chiếm đóng miền nam nước Việt. Bên địa phận Cao Miên, Việt kiều gặp phải nạn « cáp duồn » và cướp bóc vì người Miên kỳ thị, cô thôn nữ theo một số kiều bào trở về hồi cư ở Hà Tiên. Nghe tin bà con trong xóm kể lại cái chết của chàng trung sĩ Nhật, cô gái rất đau đớn. Nàng đem vàng hương, hoa quả đến mảnh sân cạnh Thạch Động cúng kiến và khóc than cho người xấu số vì không biết chàng Nhật có được ngôi mộ ở đâu không, từ đó nàng thường đến nơi đấu kiếm ngày trước để trút nỗi nhớ niềm thương ».

Câu chuyện đầu lâu trong hang đá ở Thạch Động nầy ngày xưa khi còn đi học mình cũng có nghe người ta kể lại, người ta còn chỉ cho mình thấy cái hốc đá bên trong vách của Thạch Động, nơi có để cái đầu trong đó. Không biết câu chuyện tình đẩm lệ nầy có thật hay không, tuy nhiên câu chuyện không thuộc loại huyền thoại như kiểu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông. Câu chuyện nầy có phần thực tế theo hoàn cảnh lịch sử thời Nhật và Pháp chiếm miền nam Việt Nam, nhưng các tình tiết trong câu chuyện thì không ai xác định được độ chính xác.

G/ Thạch Động trong thơ văn và điện ảnh:

Nói đến thắng cảnh Thạch Động ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nhớ đến cái tựa bài thơ vịnh 10 thắng cảnh đẹp của Hà Tiên, đó là tựa « Thạch Động thôn vân », bài thơ lúc ra đời viết bàng chữ Hán trong tập thơ « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích được khắc bản in vào năm 1737 sau khi thành lập tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, sau đó có tập thơ chữ nôm cũng của Mạc Thiên Tích viết ra là tập « Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh » và tập thơ này chưa được khắc in. Bản hiện nay do thi sĩ Đông Hồ sưu tập được.

« Thạch Động thôn vân » là động đá nuốt mây, từ xa ta thấy những áng mây trôi nhẹ nhàng trên miệng hang Thạch Động rồi từ từ có đám mây khuất vào trong miệng hang, người ngoạn cảnh có cảm tưởng như chính hang động đã nuốt mây. Xin chép lại bài thơ ở đây để mọi người thưởng thức:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại;
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giới;
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ỷ, la.

Khi viết tập « Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên », tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, phần bàn về Thạch Động, nhà thơ Đông Hồ đã có viết cảm nghĩ riêng về việc thắng cảnh Thạch Động. Đai khái là ông rất chống đối việc xây cất ngôi chùa kiên cố bên trong hang Thạch Động, ông viết: « Không như ở đây, chỉ riêng có một ngọn núi, cũng là loại đá xanh mà trong bụng núi thì rộng thênh thang, lại có hai cửa thông, đủ cho bóng trời soi sáng, y như một cảnh cung thẩt. Ở đây, như chúng ta thấy hiện nay, phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên. Ngôi chùa ngay giữa động, chùa gỗ lợp ngói, đã làm cho cảnh Thạch Động mất đẹp đi nhiều. Nếu không có ngôi chùa đó, thì chúng ta sẽ được nhìn thấy một cảnh động đá thênh thang, rộng rãi, chung quanh vách đá uốn nét, giữa có khoảng thông thiên, nhật quang tỏa khắp lên các thạch nhũ, đẹp biết mấy ».

Nhà thơ Đông Hồ còn nói rỏ thêm về việc sơn màu vôi trắng tô đắp vẽ vời tượng nọ hình kia trên vách đá là dại dột…Ông khuyến cáo nên dời chùa ra ngoài có nhiều chỗ rộng rải để khỏi làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên.

Trong những năm 50-60, có hảng phim tại Sài Gòn xuống Hà Tiên thực hiện cuốn phim về sự tích Thạch Sanh-Lý Thông, người đạo diễn đã nhờ ông cụ ba của thầy giáo Trình Kim Chung, ông cụ lúc đó tu ở trên Thạch Động, vì tướng mạo ông phương phi, râu bạc trắng, tay cầm phất trần rất giống tiên ông nên ông đóng vai Tiên Ông trong bộ phim nầy.

Ngoài ra Thạch Động cũng còn là nơi được chọn là bối cảnh cho các bộ phim như « Cuộc chiến với chằn tinh » (hay còn có tên là « Thạch Sanh ») với các nhân vật thằng An, thằng Cò của cố đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu năm 1997 và bộ phim « Đất Phương Nam »  của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

H/ Ký ức riêng về Thạch Động:

Vốn là dân gốc gác Hà Tiên, mình biết rất nhiều về Thạch Động, mỗi lần theo bạn bè đi xe Honda chạy ra đường biên giới về phía chùa Xà Xía, mình có dịp ngắm nhìn Thạch Động và rất có ấn tượng về thắng cảnh nầy. Trong những năm 50, người dân Hà Tiên có thể lên Thạch Động viếng cảnh, ngắm thiên nhiên và thả hồn với không gian  trầm mặc của vùng núi non bao quanh Thạch Động. Tuy nhiên khi mình trưởng thành và trong thời gian đi học tại Trung Học Hà Tiên, khu vực Thạch Động trở thành một nơi chiến lược do có quân đội địa phương đóng điểm trên đó nên không ai còn được lên Thạch Động ngoạn cảnh. Hằng ngày chỉ chạy xe Honda qua lại bên phía dưới con lộ chánh dẫn ra biên giới và nhân lúc đó nhìn ngắm Thạch Động mà thôi. Có một điều may mắn là trong lúc đi học, mình có tham gia vào ban nhạc do bạn Lê Công Hưởng là trưởng ban, thời đó các đơn vị nhà binh đóng quân tại Hà Tiên như trên đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba Ông Chánh), Thạch Động, trại biệt kích Tô Châu,..v..v..thường hay tổ chức chơi văn nghệ giúp vui nên có một lúc đại đội đóng quân trên Thạch Động có mời ban nhạc học sinh trường Trung Học Hà Tiên lên chơi nhạc trên Thạch Động. Nhờ dịp như thế, mình và các bạn, cùng các bạn gái ca sĩ học sinh được vào hang Thạch Động để ca hát giúp vui trên đó.

Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người đàn anh gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Mũi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ… Kỷ niệm nầy mình có kể với nhiều chi tiết trong bài « Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh) » các bạn có thể bấm vào đường link nầy để đọc bài thêm.

Lần về thăm nhà Hà Tiên vào tháng sáu năm 2012, mình có gặp lại người bạn thân Nguyễn Đình Nguyên thời xưa đi chơi chung với nhau, hai dứa đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…). Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín, ngôi chùa gỗ Tiên Sơn Tự cũng dần dần được phủ lên nền gạch đá rắn chắc và cổng vào chùa cũng được sơn phết điểm tô màu sắc,…còn đâu nét đẹp thiên nhiên ngàn năm cổ kính của một thời mà hồn đất Hà Tiên hòa nhập với cây xanh, bóng mát và không gian trầm lặng một Thạch Động yên nghỉ nhìn về hướng chợ Hà Tiên…

Paris, Trần Văn Mãnh, viết xong ngày 02/05/2020

Một bức hình có thể xem như là xưa nhất về Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1900, hình rửa theo giấy Citrate

Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1901. Hình rửa theo giấy Citrate

Quang cảnh Thạch Động in trên bưu ảnh do người Pháp phát hành. ta thấy cửa vào Thạch Động và có hai vị hòa thượng đứng trước cửa. Dưới bưu ảnh có ghi hàng chữ: « COCHINCHINE – Hatien- Le bonnet à poils. Entrée de la Bonzerie à l’intérieur du rocher » (Lối vào chùa bên trong hòn đá)

Quang cảnh Thạch Động trong bưu ảnh do người Pháp phát hành năm 1926 (Nadal). Dưới bưu ảnh có ghi: « HATIEN – Bonnet à poils. Chemin dans les grottes, 3 km 500 du chef-lieu » (Mũ lông – Lối đi trong hang động, cách thị trấn 3 cây số rưởi)

Hình cửa vào Thạch Động do hảng chocolats SUCHARD của người Pháp in trong tập hình sưu tầm.

Hình Thạch Động do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Hình Thạch Động (mặt tây) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Quang cảnh Thạch Động hình chụp năm 1956. (TuanVo)

Thạch nhũ trước Thạch Động có hình như mỏ đại bàng. Hình chụp năm 1959. (TuanVo)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BronsonHa)Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 1994. (TVM)Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BuiVanTam, năm 2004)

Quang cảnh Thạch Động (mặt đông nam). (Herman Hermanson, năm 2006)

Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 2008. (TuấnMinh)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (2017)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (PhamKhang, năm 2018)

Quang cảnh Thạch Động mặt đông nam. (PhamKhang, năm 2018)

 

 

Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Những bưu thiếp đươc lưu chuyển qua Hà Tiên

A/ Bối cảnh lịch sử:

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi gợi nhớ Hà Tiên qua các phong bì ngày xưa, hôm nay chúng ta sẽ đến với Hà Tiên xa xưa qua các tấm bưu thiếp (hay bưu ảnh = cartes postales) đã từng trên đường lưu chuyển có liên quan đến văn phòng bưu điện ở Hà Tiên. Mục đích chính không phải sưu tầm những bưu thiếp có in hình phong cảnh đẹp ở Hà Tiên mà là xem qua các chi tiết trên những bưu thiếp được gởi đi từ văn phòng bưu điện Hà Tiên hay từ các nơi khác gởi đến Hà Tiên hay chỉ thông qua giai đoạn trung gian Hà Tiên để đi nơi khác.

Vào thời kỳ người Pháp chiếm toàn phần miền nam nước Việt Nam (1859: Pháp chiếm Saigon, 1862: Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, 1867: Pháp chiếm ba tỉnh miền Tâu Nam Kỳ, 1874: Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp) , người dân bản xứ chúng ta ít có phương tiện đi lại, thiếu dụng cụ và cũng không có điều kiện in ấn, phát hành các sản phẩm hình chụp của mình. Đa số các nhà nhiếp ảnh, các nhà phát hành bưu thiếp thời kỳ nầy đều là người Pháp. 

Việc lưu chuyển các bưu phẩm đã phát xuất từ thời 1870, chủ yếu  là nhu cầu liên lạc giữa những người Pháp đến Việt Nam và gia đình của họ ở bên Pháp: các viên chức, binh lính, giáo sĩ đi truyền đạo và ngay cả dân sự người Pháp…Gia đình của những người nầy bên Pháp tò mò muốn biết sinh hoạt ở cái xứ sở xa xôi, sự kỳ lạ, phong cảnh không quen thuộc và ngay cả lịch sử của xứ sở nầy…Vì có nhu cầu như vậy nên đội ngũ thợ chụp hình người Pháp tỏa ra khắp nơi ở vùng Nam Kỳ (Cochinchine) để chụp phong cảnh, sự sinh hoạt hằng ngày, chùa chiền, nhà cửa….Đa số là người ở trong nhà binh, sau đó khi họ rời khỏi quân đội, một số người tiếp tục hành nghề chụp ảnh, mở các tiệm chụp hình, hợp tác với các nhà sản xuất bưu thiếp từ nước Pháp sang miền Nam hoặc có khi chính họ trở thành nhà xuất bản bưu thiếp…

B/ Nhà xuất bản bưu thiếp:

Sau đây là một số nhà xuất bản bưu thiếp người Pháp, nỗi tiếng trong thời kỳ nầy (1859 – 1945), hoạt động ở Saigon.

Claude et Cie: Trong số các nhà xuất bản bưu thiếp lâu đời nhất làm việc tại Saigon trước tiên phải nói đến nhà in mới Claude et Compagnie. Nhà in được thành lập năm 1881 tại số 125-127 đường Catinat Saigon. Đây là nơi phát hành các bưu thiếp trên toàn liên minh Đông Dương với nhiều chủ đề: chủ đề về Saigon, chủ đề về Nam Kỳ…Ngoài ra nơi đây cũng là nhà in, nhà sách, nhà văn phòng phẩm…

Fernand Nadal: Sinh vào cuối thập niên 1890, ông tới Saigon trong những năm 1920 và lập cơ sở tại số 150 đường Catinat Saigon. Ông cho đăng hình ảnh trong nguyệt san « Le Monde colonial illustré » (Thế giới thuộc địa có hình minh họa) giữa 1920 – 1931. Ông làm vừa việc cho phủ thống đốc, vừa làm việc cho các địa chủ xây cất dinh thự tại các nơi du lịch và các thương gia tại Saigon. ông phát hành rất nhiều bưu phiếu và một số vẫn còn tái bản lại cho đến năm 1950.

Poujade De Ladevèze: Trên một số bưu thiếp thường ký tên « Collection Poujade de Ladevèze » (Bộ sưu tập Poujade de Ladevèze), xuất hiện khoảng năm 1922. Có tài liệu cho rằng ông không phải là nhà chụp hình, ông cho xuất bản những bưu thiếp có màu mà hình ảnh đăng trên đó không đề tên tác giả.

Mme Terray: Bà là nhà chụp hình chuyên nghiệp, có cơ sở tại số 134-136 đường Catinat Saigon. Bà xuất bản các danh thiếp có vẽ hình chân dung. Đầu tiên là nhà xuất bản « Collection G. Wirth » và vợ ông chính là bà Terray, bà kế nhiệm ông từ năm 1903. Đây là một nhà xuất bản bưu thiếp hiếm hoi thường có để tên tác giả của các bức hình mà nhà nầy phát hành khi không phải là hình của nhà xuất bản tự chụp.

Francis Alexandre Decoly: Ông đặt cơ sở tại số 10 đại lộ Charner, nơi ông cùng hoạt động với nhà chụp hình Planté, tuy nhiên Decoly không phải là nhà chụp hình mà là nhà xuất bản bưu thiếp. Các bưu thiếp do ông xuất bản có dấu hiệu nhỏ ở góc dưới hình một ngôi chùa, sau nầy thành chữ ký « Editions La Pagode Saigon » (Phiên bản ngôi chùa Saigon). Ông xuất bản các bưu thiếp trắng đen và cả màu.

C/ Hình thức mặt sau của một bưu thiếp:

Nếu ta chỉ việc chiếu theo dấu đóng trên bưu thiếp hoặc phần chữ viết của người gởi để biết ngày tháng của bưu thiếp thì việc nầy hiển nhiên, nhưng để biết năm xuất bản bưu thiếp hoặc ngày tháng hình được chụp trên bưu thiếp thì rất khó. Tuy nhiên có một nghị định ra ngày 18 tháng 11 năm 1903 cho phép ghi địa chỉ ở bên phải và phần viết thư bên trái ở mặt sau của tấm bưu thiếp. Vì thế nếu mặt sau của tấm bưu thiếp không chia thành hai phần theo chiều đứng thì bưu thiếp nầy xuất bản trước tháng 12 năm 1903, nếu mặt sau bưu thiếp được chia thành hai phần dọc, bưu thiếp nầy xuất bản sau tháng 12 năm 1903.

Hai hình thức mặt sau của một tấm bưu thiếp: bên trái: bưu thiếp xuất bản trước năm 1903; bên phải: bưu thiếp xuất bản sau năm 1903

D/ Một số bưu thiếp liên hệ đến Hà Tiên:

Năm 1901;

1/ Bưu thiếp từ thành phố Laon nước Pháp gởi đến Hà Tiên. Ngày gởi 7/3/1901, ngày đến Hà Tiên 11/4/1901.

1a/ Bưu thiếp gởi cho Monsieur Edouard Cudenet, percepteur à Hatien Cochinchine (Ông Edouard Cudenes, nhân viên thâu thuế ở Hà Tiên, Nam Kỳ) . Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Laon (ở vùng đông bắc nước Pháp), gởi ngày 7/3/1901. Bưu thiếp đến Sài Gòn ngày 6/4/1901 (Saigon Central – Cochinchine = Văn phòng trung tâm Sài Gòn, Nam Kỳ), và đến Hà Tiên ngày 11/4/1901 (Hatien – Cochinchine = Văn phòng Hà Tiên, Nam Kỳ). Đặc biệt có một dấu đóng hình chữ T trong một hình tam giác lật ngược: đó là dấu hiệu của văn phòng xuất phát cho biết bưu thiếp nầy chưa dán tem đủ số tiền và người nhận bưu thiếp nầy phải trả tiền thêm khi nhận bưu thiếp. Hình: Delcampe

1b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Bưu thiếp có in hình Porte d’Ardon (cổng vào thành lũy thành phố Laon, xây vào thế kỷ thứ 14). Bên trái phía dưới thiệp có ghi dấu hiệu nhà xuất bản: B.F., Paris = Berthaud Frères, hai anh em Jean và Michel Berthaud là nhà chụp hình hoạt động ở Paris trong những năm 1863 đến năm 1908. Trên bưu thiếp có lời viết như sau: « Laon, 7 Mars 1901 Monsieur, Ayant vu votre adresse sur la lecture pour tous, j’espère que vous me ferez le plaisir d’échanges des cartes postales. Monsieur René Maguier, Lycée de Laon Aisne France » (Laon ngày 7 tháng 3 năm 1901, thưa ông, nhân thấy được địa chỉ của ông trên phần cho mọi người đọc, tôi hy vọng rằng ông sẽ làm tôi vui thú về việc trao đổi các bưu thiếp. Ông René Maguier, trường Trung Học Laon, tỉnh Aisne, Pháp). Hình Delcampe.

2/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Mantes-La-Ville nước Pháp. Ngày gởi 7/5/1901, ngày đến Mantes-La-Ville nước Pháp 5/6/1901.

2a/ Bưu thiếp gởi cho ông Da…ry (không rỏ tên), địa chỉ Mantes-la-Ville, (Seine et Oise), France. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là văn phòng Hà Tiên (Hatien – Cochinchine), dấu đóng ngày 7/5/1901. Bưu thiếp đến thành phố Mantes Sur Seine, Seine et Oise nước Pháp ngày 5/6/1901 (trên dấu đóng ghi Mantes s/ Seine – Sne et Oise, 5 Juin 01). Phía trên có hàng chữ « imprimé » (Thiệp in) và hàng chữ Carte Postale bị gạch bỏ, điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền (ở đây là 5 centimes thay vì phải dán tem 10 centimes). Hình Delcampe.

2b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên.  Hình ảnh trên bưu thiếp là ngôi chùa ở thành phố Pnom Penh (Nam Vang, nước Cambodge), phía trên bên phải có ghi Souvenir de Pnom Penh (Kỷ niệm Nam Vang). Bên phải có hàng chữ viết tay đứng: E. Cudenet, Percepteur à Hatien Cochinchine. (E Cudenet, nhân viên thâu thuế ở Hà Tiên, Nam Kỳ). Không rỏ nhà xuất bản bưu thiếp nầy. Hình Delcampe.

Năm 1903;

3/ Bưu thiếp từ thành phố Kampot nước Cambodge gởi đến thành phố Tanger nước Maroc thông qua thành phố Hà Tiên. Ngày gởi 9/12/1903, qua Hà Tiên tháng 12/1903 và ngày đến Maroc không rỏ.

3/ Bưu thiếp gởi cho cô Luna Benasuli, Tanger, Maroc. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Kampot, nước Cambodge (Kampot ở về phía nam nước Cambodge, xưa kia là một thành phố quan trọng thời thuộc địa Pháp, cách Hà Tiên khoảng 41 km đường chim bay). Bưu thiếp khởi hành ở Kampot ngày 9/12/1903 (Kampot – Cambodge), chuyển qua Hà Tiên cùng tháng 12/1903, không thấy rỏ ngày đến Hà Tiên (Hatien – Cochinchine), chuyển lên Sài Gòn ngày 17/12/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Trên bưu thiếp không có dấu đóng ngày tháng đến Tanger, Maroc. Phía trên bưu thiếp có chữ viết tay Impreso (Thiệp in), điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền. Hình trên bưu thiếp Tonkin – Sontay, Mans du Mont Bavi (Bắc Kỳ – Sơn Tây, người miền núi Ba Vì). Nhà xuất bản bưu thiếp là Collection Dieulefils, Hanoi. Phía dưới hình có hàng chữ viết tay: Kampot (Cambodge) 9 décembre 1903. Hình Delcampe.

4/ Bưu thiếp từ thành phố Kampot nước Cambodge gởi đến thành phố Tanger nước Maroc thông qua thành phố Hà Tiên. Ngày gởi 11/12/1903, qua Hà Tiên ngày 14/12/1903 và ngày đến Maroc không rỏ.

4/Bưu thiếp gởi cho cô Luna Benasuli, Tanger, Maroc. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Kampot, nước Cambodge. Bưu thiếp khởi hành ở Kampot ngày 11/12/1903 (Kampot – Cambodge), chuyển qua Hà Tiên ngày 14/12/1903 (Hatien – Cochinchine), chuyển lên Sài Gòn ngày 17/12/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Trên bưu thiếp không có dấu đóng ngày tháng đến Tanger, Maroc. Phía trên bưu thiếp có chữ viết tay Impreso (Thiệp in), điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền. Hình trên bưu thiếp Tonkin – Tuyen Quang, Rivière et Village (Bắc Kỳ – Tuyên Quang, Sông và Làng). Nhà xuất bản bưu thiếp là Collection Dieulefils, Hanoi. Phía dưới hình có hàng chữ viết tay: Kampot (Cambodge) 11 décembre 1903. Hình Delcampe.

5/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Bouvesse nước Pháp. Ngày gởi 27/7/1903. Ngày đến Bouvesse nước Pháp 21/8/1903.

5a/ Bưu thiếp gởi cho Mademoiselle Jeanne Favel, Chez Mr Robin, à Bouvesse par Montalieu-Vercieu (Isère), France (Cô Jeanne Favel, ở nhà ông Robin, tại làng Bouvesse, hướng Montalieu-Vercieu, tỉnh Isère, Pháp). Bưu thiếp xuất phát từ Hà Tiên ngày 27/7/1903 (Hatien – Cochinchine), đến Sài Gòn ngày 30/7/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Bưu thiếp đến Montalieu-Vercieu, tỉnh Isère, Pháp ngày 21/8/1903 (Montalieu-Vercieu – Isere). Phía trên bưu thiếp có ghi « Carte Postale (ce côté est exclusivement réservé à l’adresse) »  (Bưu thiếp, phía nầy chỉ dành riêng cho địa chỉ). Hình PicClick

5b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Bưu thiếp in hình Rue de Bangkok à Saigon (Đường Bangkok ở Sài Gòn). Bên trái có in hàng chữ đứng Série de Cochinchine –  Claude et C°, Editeurs, Saigon. (Loạt hình Nam Kỳ – Nhà xuất bản Claude và C°, Sài Gòn). Phía dưới là phần chữ viết tay như sau:  » Mademoiselle, je profite que vous êtes en vacances à Bouvesse pour vous donner de nos nouvelles dont vous aurez le plaisir d’en faire part à mon père, à ma belle soeur et mon neveux ainsi qu’aux bons amis de Bouvesse et nous vous souhaitons une meilleure santé pendant vos vacances. Les deux fillettes ne vous au point oublier elle chantent souvent » (Thưa cô, tôi thừa lúc cô đang nghỉ hè ở Bouvesse để cho cô hay tin tức chúng tôi mà cô sẽ thích thú báo tin đó cho cha tôi, cho chị và cháu trai của tôi cũng như cho các bạn thân ở Bouvesse và chúng tôi xin chúc cô sức khỏe tốt đẹp trong lúc cô nghỉ hè. Hai cô bé gái không hề quên cô, các cô ấy ca hát thường xuyên). Bên trái có hàng chữ viết tay đứng: « Bonsoir Mme la lune. Toujours à vous amicalement » và có chữ ký tên. (Chào buổi tối bà mặt trăng, lúc nào cũng thân hữu với bà). Hình PicClick

Năm 1907:

6/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Tunis nước Tunisie. Ngày gởi 26/4/1907, ngày đến Tunis nước Tunisie 31/6/1907.

6a/ Bưu thiếp gởi cho Mademoiselle Marie Bertin, 13 rue d’Espagne, Tunis, Tunisie (Cô Marie Bertin, số 13 đường Espagne, Tunis, Tunisie). Nơi phát xuất bưu thiếp nầy là văn phòng Hà Tiên, gởi đi ngày 26/4/1907 (Hatien – Cochinchine). Bưu thiếp đến nước Tunisie (ở Bắc Phi Châu) ngày 31/6/1907. Trên bưu thiếp có dấu đóng chữ T tức là bưu thiếp chưa dán tem đủ số tiền nên khi đến Tunisie người nhận phải đóng thêm tiền tem 10 Centimes (tem và dấu đóng bên trái bưu thiếp). Hình Delcampe.

6b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Hình trên bưu thiếp là « Vue d’ensemble de MYTHO (Cochinchine) » (Quang cảnh chung Mỹ Tho, Nam Kỳ). Nhà xuất bản bưu thiếp là Mme Terry, Photographe, Saigon (Bà Terry, nhiếp ảnh gia, Sài Gòn). Chữ ký tên người gởi bưu thiếp là Guénéval. Tem dán trên bưu thiếp giá 5 Centimes. Hình Delcampe.

Năm 1908:

7/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đi, không rỏ nơi đến. Ngày gởi 21/10/1908.

7/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, ngày 21/10/1908. Dấu đóng Hatien – Cochinchine 21 Oct 08. Trên bưu thiếp có in hình: Cochinchine – Un groupe d’Indigènes (Nam Kỳ – Một nhóm người bản xứ). Không có mặt sau nên không có tên và địa chỉ người nhận. Không biết nhà xuất bản. Hình Delcampe.

Năm 1909:

8/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Toulouse nước Pháp. Ngày gởi không rỏ nhưng theo chữ viết ngày 6/3/1909.

8a/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, không rỏ ngày tháng trên dấu đóng. Trên bưu thiếp có in hình một người Pháp đứng trước Mạc Công Miếu Hà Tiên. Bên phải có hàng chữ viết theo chiều đứng « Pagode de Ma-Keu-Ou à Hatien, Hatien 6 Mars 1909 » và có chữ ký tên (Miếu Mạc Kính Cửu ở Hà Tiên, Hà Tiên 6 tháng 3 năm 1909). Không biết nhà xuất bản. Hình Delcampe.

8b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Phía trên có hàng chữ viết Hatien 6 Mars 1909 (Hà Tiên ngày 6 tháng ba 1909). Hàng chữ in « Carte Postale, Tous les pays étrangers n’acceptent pas la correspondance au recto (se renseigner à la poste). (Bưu thiếp, Tất cả các nước ngoài không chấp nhận thư viết ở mặt trước (hỏi thông tin tại bưu điện). Địa chỉ người nhận bưu thiếp viết bên phải (cột Adresse): Madame Pujat, 13 R. d’ Auriol, Busca, Toulouse (Bà Pujat, 13 đường Auriol, Khu Busca, Toulouse). Bên trái là phần viết thư (cột Correspondance): « Ma chère Mère, Je suis en pourparlers pour changer la Cochinchine contre Le Cambodge. Le poste qu’on me propose est sur le bord du G’ Fleur à 5 km de Pnom-Penh ». (Mẹ thân yêu, con đang thảo luận để xin đổi từ Nam Kỳ qua Cambodge. Chỗ làm mà người ta đề nghị cho con ở kế bên G’Fleur, cách Pnom – Penh 5 km.). Không rỏ ngày đến Toulouse, nước Pháp. Hình Delcampe.

9/ Bưu thiếp có lẽ từ Hà Tiên gởi đi theo như chữ viết. Không có địa chỉ nơi đến. Ngày gởi có thể 17/01/1909. Ngày đến cũng không rỏ.

9/ Bưu thiếp có lẽ xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, nhưng không có dấu đóng, không biết ngày tháng gởi, cũng không biết người gởi và người nhận. Hình trên bưu thiếp là hình sinh hoạt của người dân « Marchands de Paddy se rendant au Marché » (Người buôn lúa thóc đi ra chợ). Có hàng chữ viết của người gởi cho biết là bưu thiếp gởi từ Hà Tiên  » Hatien, Cochinchine 19 – Janvier 09″ (Hà Tiên, Nam Kỳ 19 tháng giêng 1909). Nhà xuất bản bưu thiếp có ghi bên trái, phía dưới Planté, Editeur, Saigon (Nhiếp ảnh gia Planté, nhà xuất bản, Sài Gòn).

Năm 1919:

10/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đi, không rỏ nơi đến. Ngày gởi 19/11/1919.

10/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên; trên tem có dấu đóng Hatien – Cochinchine 19/11/19 (Văn phòng bưu điện Hà Tiên – Nam Kỳ 19/11/1919). Không biết tên người gởi và người nhận vì thiếu mặt sau. Trên bưu thiếp có in hình « Cambodge – Pnom – Penh – Pagode Royale face Nord-Est » (Ngôi chùa hoàng gia theo hướng đông bắc). Có dấu hiệu nhà xuất bản phía dưới góc trái (Bình đốt dầu thơm màu đỏ): P. Dieulefils – Hanoi.

Paris, viết xong ngày 03/03/2020, Trần Văn Mãnh

Hà Tiên qua các phong bì bưu chính

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi người Pháp chiếm toàn bộ các tỉnh miền đông và miền tây của phía nam nước ta, bộ máy hành chánh Pháp bắt đầu phát triển về phương diện giao dịch thư từ. các văn phòng bưu điện lần lượt được mở ra tại nhiều địa phương, lúc đầu chủ yếu phục vụ sự chuyển thư từ trong giới nhà binh của Pháp.  Sau đây là một vài chi tiết về ngày tháng ra đời của các văn phòng bưu điện ở các tỉnh thành miền đông, tây Cochinchine (lúc đó gọi la Nam Ký):

Sài Gòn: văn phòng bưu điện được mở ra ngày 01/01/1863
Bà Rịa, Trảng Bàng, Tây Ninh, Biên Hòa, Gò Công, Mỹ Tho: 15/07/1863
Chợ Lớn: 1864
Tân An: 01/03/1866
Sa Đéc: 05/07/1867
Thủ Dầu Một: 15/07/1867
Châu Đốc: 1867
Trà Vinh: 21/02/1868
Vĩnh Long: 01/01/1869
Mỏ Cày: 1869, đến tháng 09/1871 thì đóng cửa nhập vào bưu điện Bến Tre, đến năm 1878 thì mở cửa lại ở Mỏ Cày.
Bến Tre: 09/1871
Vũng Tàu: giữa 1868 và 1871
Rạch Giá: 1873
Long Xuyên: 1874
Sóc Trăng: 21/05/1875
Trà Ôn: 1875, đến năm 1877 thì đóng cửa và nhập vào bưu điện Cần Thơ (văn phòng ở Cần Thơ được mở ra năm 1877).
Poulo-Condore (Đảo Côn Sơn): 23/02/1882 lúc đầu chỉ là văn phòng điện tín.

Hà Tiên: Trước hết có một văn phòng điện tín mở ra ở Hà Tiên khoảng năm 1870, sau đó ngày 25/03/1873 văn phòng bưu điện được mở ra.

Đến năm 1882 các văn phòng bưu điện nầy được nhập vào với các văn phòng máy đánh điện tín và làm việc hành chánh chung về lảnh vực thư từ và điện tín. Trước đó các văn phòng bưu điện nầy phục vụ việc lưu chuyển thư từ trong giới nhà binh, để giúp cho những viên lính Pháp xa nhà gửi thư từ về nước với giá rẻ, có khi miển phí, dấu đóng trên các phong bì thư nầy thay thế cho việc dán con tem thư, ngay cả khi có dán tem thư thì người ta cũng dùng các con dấu trong nhà binh nầy để đóng dấu thư. Việc đóng dấu trên phong thư là để xác đinh ngày tháng năm gởi thư, vì thế các con dấu dùng trong giới nhà binh nầy được gọi là các « tem thư ngày nhà binh » (Les cachets à date de correspondances d’armée).

Một con « tem thư ngày » dùng trong nhà binh của Pháp của văn phòng bưu điện Hà Tiên, trên tem thư nầy có ghi: CORR. D. ARMEES (Correspondance d’Armées = Thư tín Quân Đội), tháng hai năm 1876, phía dưới là hai chữ HATIEN. (Hình: Florent Tricot)

Một « tem thư ngày » khác của văn phòng bưu điện Sài Gòn, xưa hơn, dấu ghi ngày 27 tháng 5 năm 1863. (Hình: Florent Tricot)

Sau đây là một số phong bì do người Pháp và người Việt Nam liên lạc với nhau qua hệ thống văn phòng bưu điện Hà Tiên:

A/ Năm 1900:

1a/ Phong bì một lá thư gởi ông Hộ Hoạch, ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Ngày tháng đóng dấu trên phong bì là: 17/06/1900. Dấu đóng trên con tem màu xanh phía trên là văn phòng khởi hành của phong thư, tại Sài Gòn (Saigon Port Cochinchine = Cảng Sài Gòn Nam Kỳ). dấu đóng trên hai con tem phía dưới là văn phòng đến, Hà Tiên (Hatien Cochichine = Hà Tiên Nam Kỳ), không thấy rỏ ngày đến. Trên phong bì còn có ghi câu « Art. 9 de la loi du 29 juin 1856 » bằng màu đỏ, tức là « Điều 9 của luật ngày 29 tháng 6 năm 1856« . (Hình: La Gazette Drouot)

Chú ý: Vào thời nầy tên Mỹ Đức chỉ làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành, là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên, ngày nay đổi tên là phường Đông Hồ, không phải phường Mỹ Đức ngoài Thach Động hiện nay.

1b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Hà Tiên Cochinchine (Nam Kỳ) ngày 21/06/1900 (21/juin/1900). (Hình: La Gazette Drouot)

B/ Năm 1903:

2a/ Phong bì để tang có viền đen (có lẽ để báo tin người mất) từ Hà Tiên gởi cho ông Folly, địa chỉ số 24, đường Daniel, Asnières, Seine, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 24 tháng chín năm 1903. (Hình: La Gazette Drouot)

2b/ Bìa sau của phong bì để tang trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Seine, nước Pháp ngày 30/10/1903. (Hình: La Gazette Drouot)

C/ Năm 1911:

3a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông Max Mautelin, sinh viên Nghệ thuật thương mại (étudiant ès-arts Commerciaux), địa chỉ số 5, đường Sala, Lyon, Rhône, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 28 tháng 2 năm 1911. Trên góc trái của phong bì còn có chữ in: Indochine Française, Province de Hatien (Đông Dương Pháp, tỉnh Hà Tiên).

3b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Rhône, nước Pháp ngày 01/04/1911.

D/ Năm 1932:

4a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho nhà L’Illustration, địa chỉ số 13 đường Saint Georges, Paris, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 1 tháng 2 năm 1932. Phía trên góc trái có đề hàng chữ Par Avion Saigon Marseille = Bằng đường máy bay Sài Gòn Marseille. (Hình: Delcampe)

4b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư đến Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam kỳ ngày 2/2/1932 (Saigon Central Cochinchine) và đến văn phòng Paris, quận 9 đường Hyppolyte Lebas ngày 16/2/1932 (Paris IX Rue Hyppolyte Lebas). (Hình: Delcampe)

E/ Năm 1946:

5a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm hình Block và Lux (Central Photo Block et Lux), địa chỉ số 5, đường Merrcière, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 9 tháng 7 năm 1946. Phía trên cao có đề tên người gởi: exp: Quach Ngoc Ba Hatien (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, Hà Tiên). Bên trái có dâu hiệu thư gởi theo đuòng máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). (Hình: Delcampe)

F/ Năm 1947:

6a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 15 tháng 3 năm 1947. Trên góc phải của phong bì có hai chữ -FM- = Franchise Militaire (có nghĩa là « nhượng quyền nhà binh » tức là thư nầy trong giới nhà binh, được miển cước phí). Bên dưới góc trái có dề tên người gởi thư: Garde Janton André, 1ère Légion de Garde Républicaine de Marche, Brigade d’Hatien par BPM 405 T-O-E Indochine (Quân đoàn 1 của Vệ binh Cộng hòa Marche, Lữ đoàn Hà Tiên của BPM 405 T-O-E Đông Dương). Ba chữ T.O.E = Théâtre des Opérations Extérieures (Nơi những chiến dịch bên ngoài). BPM 405 = Bureaux Postaux militaires (Bưu điện nhà binh), số 405 là số của văn phòng bưu điện nhà binh thuộc Saigon. Bên phải phía trên có dấu hiệu Par Avion tức là thư nầy được chuyển đi bằng đường máy bay. (Hình: Delcampe)

6b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy có sự kiểm tra của cơ quan SAX (CENSURE SAX 2 ). (Hình: Delcampe)

7a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 2 tháng 5 năm 1947. Các chi tiết người nhận và người gởi cũng y như trường hợp trên (4a). (Hình: Delcampe)

G/ Năm 1951:

8a/ Đây là một trường họp phong bì có tên hiệu riêng của người gởi: Hatien-Photo, Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm xuất cảng hình (Central Photo Export), địa chỉ số 6, đường Ch. Schmidt, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 26 tháng 5 năm 1951. Phía trên cao bên trái có đề tên người gởi: Quach Ngoc Ba, Place du Marrché, Hà Tiên (Sud-Viêtnam (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, công trường chợ, Hà Tiên, miền nam Việt Nam). Phía dưới phải có dấu hiệu thư gởi theo đường máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). Dấu đóng trên bìa thư không còn là Hatien Cochinchine mà ghi là Hatien Sud Vietnam. (Hình: Delcampe)

H/ Năm 1958:

9a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho bà Võ Thành Đức, nhũ danh Ong Thị bạch Vân, địa chỉ Nha Thanh Tra Trung Ương Dân Vệ, số 163 đại lộ Chi Lăng, Saigon. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên (Hatien Viet-Nam) ngày 29 tháng 3 năm 1958. PHía trên góc phải có đề chữ: Dán tem phía sau. Góc dưới bên trái là tên người gởi: Trung Úy Võ Thành Đức, bưu tín lưu trử Hà Tiên.

9b/ Bìa sau của phong bì trên, có dán tem giá 2 đ như đã viết ở mặt trước, dấu đóng trên con tem cho thấy thư đến Sài Gòn ngày 9 tháng 4 năm 1958. (Saigon Viet-Nam)

I/ Năm 1964:

Ngoài các phong bì mà nơi xuất phát thư đi hay thư đến có liên hệ đến người gởi hoặc người nhận là người Hà Tiên, Hà Tiên còn được nhắc đến qua lần xuất bản đầu tiên con tem về Hòn Phụ Tử, con tem được phát hành ngày đâu tiên 7 tháng 9 năm 1964.

10a/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 Premier Jour d’Emission First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi cho địa chỉ Alhambra Club, Apartado 109, Granada, Espana. (Câu lạc bộ Alhambra, căn số 109, Granada, Tây Ban Nha).

10b/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi về địa phương Stanford-le-Hope, hạt Essex, England (nước Anh)

Chú thích: Mời xem thêm bài có giới thiệu rất nhiều phong bì kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử ngày 7-9-1964.

« Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên) »

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 27/02/2020