Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Publicités

Học trò trường Tiểu Học Hà Tiên đi thăm cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Mai ngày xưa

Thầy cô và các bạn thân mến, nhân dịp khi mình viết bài « Ngôi Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh) » mình nhớ lại từng hình ảnh thầy cô đã giảng dạy trong ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên thân thương nầy….Ký ức mình chợt thoáng hiện lại hình ảnh một người cô giáo rất có ấn tượng khi còn dạy học ở Hà Tiên trong những năm 60…, đó là cô Nguyễn Thị Ngọc Mai. Vào khoảng đầu tháng 5 vừa rồi mình có nhắn tin trên mạng xả hội fb để nhắc nhở với thầy cô và các bạn ở Hà Tiên, có ai còn nhớ ngày xưa ở trường Tiều Học Hà Tiên có một giáo hình như tên là Cô Mai, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác….Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ , có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của , vậy các bạn và quý thầy các trường Tiểu Học, Trung Học Hà Tiên, có vị nào còn nhớ không, xin cho mình các thông tin, các kỷ niệm về cô Mai nhé, rất cám ơn tất cả. Kết quả việc nhắn tin nầy là có rất nhiều thầy cô và các bạn đã đóng góp thông tin về cô Mai, về đời sống hiện tại của cô sau khi đã rời khỏi ngôi trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên. Đặc biệt là có chị Dương Hồng Châu và các bạn Trần Quý Nương, Lâm Thị Lan,..v..v… đã cho tin chính xác về cô Mai. Theo như tin đã nhận được thì Cô Mai khi xưa dạy lớp nhất hay lớp tiếp liên. Ngày xưa trong thời gian đi dạy có lúc ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung, bạn Chung Lưỡng Tài học chung lớp với anh Trần Văn Dõng),  nhà trên đường đi Thạch Động. Bạn Tài Chung có một người mà Quý Nương cũng gọi bằng ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước của Tài Chung có dẩn bạn Quý Nương đến thăm cô Mai. Sau này vì của Tài Chung ở tận chùa ở Long Thành nên ít tới lui những chùa ở Thành phố.  NHờ những thông tin mới nầy, các bạn học trò xưa ở trường Tiểu Học Hà Tiên, vì muốn tỏ lòng nhớ ơn cô Mại nên đề nghị tổ chức một ngày đi thăm cô, vì các bạn cũng ở tại Thành Phố Sài Gòn nến đường đi cũng thuận tiện. Bàn qua tính lại, liên lạc thông tin lẫn nhau, sau cùng phái đoàn đi thăm cô có được 4 thành viên: Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Lý Thúy Hà và Trần Quý Nương, trong lúc đó cũng có một số các bạn khác cũng có ý định tháp tùng đi theo nhưng giờ chót vì mỗi người đều có việc riêng trở ngại, một vài bạn ở nước ngoài cũng góp công sức chút ít về phương diện vật chất, rốt cuộc việc đi thăm cô diễn ra vào ngày thứ năm 14/06/2018, công cuộc diễn biến rất tốt đẹp, có chụp hình với cô lưu niệm và trao quà, khi viếng chùa xong, phái đoàn cũng nhận được quà do Sư Bà trụ trì chùa biếu tặng, thật là rất may mắn và rất vui mừng khi thấy học trò Hà Tiên chúng ta tuy thời gian đã qua mấy chục năm nhưng lúc nào cũng tỏ lòng nhớ ơn quý thầy cô đã từng giảng dạy ở mái trường thân thương Hà Tiên …Sau đây là bài tường thuật chuyến đi thăm cô Mai do anh Trần Văn Dõng ký bút, mời thầy cô và các bạn xem nhé…(TVM 15/06/2018)

Ký sự đi thăm cô Nguyễn Thị Ngọc Mai (Trần Văn Dõng)

Hôm nay đoàn đi thăm cô Mai ở Long Thành (Đồng Nai) gồm bốn người : Quý Nương, Thúy Hà, Hùng và Dõng, đoàn lên đường lúc khoảng 8h sáng ngày 14/6/2018 trên một xe 4 chỗ. Khi qua khỏi Thiền Viện Thường Chiếu một chút thì tới chỗ hẹn với cô Mai. Được biết cô ở trọ gần thiền viện, khi gặp được cô thì cô đưa mọi người về chỗ một gia đình quen cô gần chỗ cô ở trọ để cùng nói chuyện xưa ở Hà Tiên lúc cô còn dạy ở đó. Cô nói cô dạy ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ 1961 đến 1968 (chủ yếu lớp nhất và lớp tiếp liên), sau đó thì về Sài Gòn. Mình và Hùng đã thay mặt đoàn trao cô « món quà nhỏ » của mọi người gởi cô (cả những người ở Hà Tiên lẫn ở nước ngoài và những người có lòng nhưng kẹt chuyện riêng chưa đi được chuyến này thăm cô). Một điều cảm động là hai vợ chồng anh chủ nhà cô mượn chỗ tiếp đãi có lòng chiêu đãi cả đoàn một bửa cơm cả chay lẫn mặn rất tươm tất và cùng ngồi ăn chung với mọi người rất thân mật, nhiệt tình. Bửa ăn cũng diễn ra khá lâu do vừa ăn vừa trò chuyện. Hôm nay cô Mai nói cô mặc áo mới để tiếp đoàn. Cô nói cô nuôi rất nhiều chó, mèo bị bỏ rơi, cô chủ yếu tu tại gia, thường đến các thiền viện, chùa làm công quả. Có tiền ai cho bao nhiêu cô cũng đem giúp người khác như một người vô sản đúng nghĩa. Cô nói tiếng Anh cũng rất dòn! Lúc ở Hà Tiên cô đi dạy xong về ở tịnh xá Ngọc Hồ. Sau bửa ăn đoàn từ giả cô Mai và hai vợ chồng hiếu khách để đến « Thiền Thất Liễu Nguyên » để thăm sư bà là cô của Trần Quý Nương và Chung Tài Chung.

Học trò xưa trường Tiểu Học Hà Tiên đến thăm cô giáo Mai từng dạy học tại Hà Tiên (1961 – 1968). Hàng đứng: Trần Quý Nương, Lý Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Người ngồi là cô Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Trái sang phải: Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Trần Quý Nương và cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Trái sang phải: Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Lý Thúy Hà và cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Trái sang phải: Trần Quý Nương, ngồi giữa là cô Nguyễn Thị Ngọc Mai, Lý Thúy Hà

Sau khi từ giả cô Mai và gia đình hai vợ chồng chủ nhà tốt bụng đoàn ghé qua thăm « Thiền Thất Liễu Nguyên » do sư bà Liễu Nguyên là cô của Quý Nương và Tài Chung dựng nên, nằm sát bên Thiền viện Thường Chiếu, tên của thiền thất cũng là pháp danh của sư bà. Thiền thất nhìn qua rất cao to, dài rộng nhưng chỉ có sư bà và một hai ni cô trẻ cư ngụ. Sư bà Liễu Nguyên là người gốc Hà Tiên, tu ở Hà Tiên từ lúc mười mấy tuổi sau đó sư bà lên Sài Gòn tu học tiếp (trước 1975). Sư bà đã có bằng lái xe hơi lúc đó, bây giờ lớn tuổi không lái nữa. Thiền thất rất rộng lớn, dành một phần không gian phía trước bán các sản phẩm chay (tương, chao, tàu hủ ky, bánh trái…) cho phật tử ghé qua. Sư bà tuy tu nhưng rất coi trọng việc tăng trình độ học thức. Bà nuôi một hai ni cô trẻ cùng ở chung, cho ăn học hiện đã lấy bằng cử nhân. Mọi người đàm đạo cùng sư bà hồi lâu và từ giả ra về. Sư bà còn biếu tặng mỗi người trong đoàn một keo chao, một keo tương hột và một quyển sách Phật giáo (ảnh). Đúng là chuyến đi « được ăn, được nói và được…gói đem về ».
Về đến Sài Gòn ông trời tặng cho một trận mưa to nhưng không sao vì đã « trở về tổ ấm ».

                                      Người tường thuật: Trần Văn Dõng Sài Gòn, 15/06/2018

Quang cảnh chùa « Thiền Thất Liễu Nguyên » thuộc xả Phước Thái, huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai, nơi người cô của Trần Quý Nương và Chung Lưỡng Tài là sư bà trụ trì.

Phái đoàn viếng chùa « Thiền Thất Liễu Nguyên » : trái qua phải: Trần Văn Dõng, Trần Quý Nương (ngồi), Lý Thúy Hà và Sư bà Liễu Nguyên trụ trì chùa.

Trương Thanh Hùng (bìa trái) thành viên trong phái đoàn viếng chùa.

 

 

 

Quà tặng do Sư Bà Liễu Nguyên tặng mỗi người trong phái đoàn: Chao, tương và một quyển sách kinh.

 

 

 

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Trần Quý Nương và Lý Thúy Hà.

TB: Xin mạn phép thay mặt thầy cô và các bạn trong nhóm « Trung Học Hà Tiên Xưa » xin tỏ lòng cám ơn chân thành các bạn Quý Nương, Thúy Hà, Thanh Hùng và anh Hai Dõng cùng tất cả các bạn trong ban tổ chức như Lâm Thị Lan, Trần Tuấn Kiệt, Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ, Tăng Thị Sáu, Nguyễn Thị Điệp,…v..v. . và còn nhiều bạn khác nữa không thể kể hết ra được xin các bạn thứ lỗi nhé,…đã bỏ công sức và thời gian quý báo, tổ chức và một số bạn đã lên đường đến thăm cô Mai, một người cô giáo đã từng dạy học ở Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa. Xin chúc tất cả luôn an lành vui khỏe. Nhất là bạn Lâm Thị Lan đã bỏ công sức rất nhiều trong việc tổ chức chuyến đi nhưng vì giờ chót không may bị trặc chân nên rất tiếc không đi chung với phái đoàn được…

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu là dân gốc Hà Tiên hay những người đã từng sống tại Hà Tiên vào những năm 1950 – 1970, ai cũng đều biết cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Không ai biết tại sao có cây dừa ba ngọn nầy, ai trồng ?!! Chỉ biết vào khoảng những năm 1940, cây dừa đã có tại góc ngả tư đường Hàng Dừa và đường Mạc Cửu (ngả tư đường Bạch Đằng và đường Mạc Cửu). Cây dừa ba ngọn nầy rất nổi tiếng ở Hà Tiên, ngày xưa tuy cây dừa không thuộc vào danh sách các kỳ quan thắng cảnh của Hà Tiên (như Đông Hồ, Bãi Mũi Nai, Thạch Động, Hòn Phụ Tử,…) nhưng lúc đó ở Hà Tiên các nhà chụp hình kỳ cựu như Ông Quách Ngọc Bá, Phương Dung, Đức Quang (và sau đó là Tô Châu) đều khai thác hình ảnh đẹp lạ về cây dừa ba ngọn nầy. Vì cây dừa ở ngay vị trí thuận lợi trong quận lỵ nên du khách đến viếng xem cây dừa rất dể dàng. Các tiệm chụp hình kể trên đều xếp hình cây dừa ba ngọn vào tập hình thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên. Ngày xưa các nhà chụp hình ở Hà Tiên thường gắn liền các hình phong cảnh đẹp lạ của Hà Tiên vào hình ảnh con đồi mồi, vì kỷ nghệ làm vật dụng trang sức bằng vảy đồi mồi rất phát triển tại Hà Tiên. Một trong những bức hình rất quen thuộc và có giá trị giới thiệu tổng quát các thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên là hình ảnh một con đồi mồi mà trên lưng có mỗi chiếc vảy là một hình ảnh thắng cảnh đẹp.

Một tác phẩm ghép hình thời xưa: hình con đồi mồi tượng trưng cho kỷ nghệ chế tạo đồ trang sức bằng vảy đồi mồi, trên mỗi vảy có giới thiệu một thắng cảnh đẹp Hà Tiên: Núi Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Động, Múi Nai, Hòn Phụ Tử, Cây dừa ba ngọn, Lăng Mạc Cửu,…(nhà chụp hình Phương Dung, Hà Tiên)

Cây dừa cao khoảng hơn 5 m, nằm trong khuôn viên cư xá của các Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, nằm đối diện với cây dừa ba ngọn phía bên nầy đường Bạch Đằng. Thời đó trước những năm 1950, Bác Sĩ Quản Đốc Bệnh viện là người Pháp nên khu nầy rất trang nghiêm, không ai dám phá rối hay hái trộm dừa của cây dừa ba ngọn nầy. Theo lời kể của dân địa phương thì cây dừa ba ngọn vẫn có trái như cây dừa bình thường…Tuy nhiên tới đây mình xin nói rỏ là đặc biệt không biết nguyên nhân từ đâu, hay đã có xảy ra chuyện ma quỷ gì không mà người Hà Tiên đồn là cây dừa ba ngọn là nơi có ma quỷ rất thường xuyên, hầu như ai cũng sợ khi đi ngang cây dừa vào ban đêm, nhất là trẻ con như mình thời còn nhỏ đi học hay đi học giờ thể dục sớm ngang cây dừa nầy,…thêm một điều nữa là xéo xéo bên kia đường thì lại là một căn nhà xác của bệnh viện , nơi thường hay quàng lại những người chết qua đêm…Trên khúc đường Bạch Đằng nầy, một bên là dừa ba ngọn có ma, một bên là nhà xác có xác chết, vậy thì hỏi sao mà không sợ ma cho được. (Nhân viết đến đây mình xin nhắc lại một bài viết cũng có nói rỏ về việc nầy: https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/)

Vị trí cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên (Góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu)

Cây dừa ba ngọn Hà Tiên, hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại.

Vào khoảng năm 1953, vì sợ cây dừa bị gãy đổ, người ta đúc trụ xi măng hình chữ T để chống đở thân cây dừa. Đó là hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T mà mình thấy ngay từ nhỏ vì năm 1953 là năm mình mới có 2 tuổi (tính theo tuổi Việt).

Hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T. Căn nhà trong hình là cư xá của Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến bên kia đường. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn, 1965

Trần Văn Mãnh trong những năm 1960-1970, hình chụp ngay trước sân cư xá Bác Sĩ ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu. Bên trái hình là vị trí của cây dừa ba ngọn (không thấy trong hình), bên phải hình là trường Mẫu Giáo Hà Tiên ngày xưa, ngay trên đường Tô Châu, trước mặt trường Mẫu Giáo là sân trống dùng làm sân đánh bóng chuyền ngay xưa. Chiếc xe jeep trong hình là xe thuộc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên.

Theo lời kể của bạn Trần Huỳnh một học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa: « Dãy nhà cư xá cho Bác Sĩ và nhân viên bệnh viện Nguyễn Thần Hiến ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu gồm có 4 căn nhà, căn bìa là gia đình Thầy Tám Trọng ở. Có lần giông bảo lớn quá, cây dừa ba ngọn ngả nghiêng theo chiều gió, làng xả Hà Tiên sợ mất cây dừa rất uổng nên Bác Hai Năng (?) lúc đó là chủ tịch làng cùng với ông Quách Ngọc Bá và một người nữa làm việc ở Chi Công Chánh Hà Tiên cùng nhau góp sức xây cột trụ đở cây dừa ba ngọn như ta thấy trong hình.

Theo tài liệu do Thầy Trương Minh Đạt nghiên cứu thì vào ngày 01/01/1971 (nhằm ngày mùng 5 tháng chạp năm Canh Tuất) tuy không có hiện tượng thiên nhiên nào mạnh bạo gây hại nhưng cây dừa bị tét một nhánh đang có nhiều trái, sau đó không bao lâu hai nhánh còn lại cũng bị gãy luôn. Vào đầu năm 1971 là năm mình học lớp Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá, hình như là mình có nghe tin cây dừa ba ngọn bị gẫy nhưng mình cũng không nhớ rỏ chi tiết sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn như thế nào. (Có nhiều nguồn tin về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn Hà Tiên, có nguồn thì cho là cây dừa bị gãy vào năm 1970, có tin lại cho là vào năm 1972…Có tài liệu cho rằng Ông Quách Ngọc Bá đêm ba ngọn bị gãy rời ra của cây dừa ba ngọn về nhà lưu trử nhưng không bao lâu các ngọn nầy bị mục đi nên không bảo tồn được lâu).

Đây là hình cây dừa ba ngọn thân yêu của chúng ta tại mảnh đất Hà Tiên thơ mộng…Hình bản gốc chụp vào năm 1970 do người Mỹ H. Lawrence Serra trong thâp niên 1960 – 1970 đóng quân ở Pháo Đài chụp. (hình do Ông Lawrence gởi tặng cho mình vào tháng 10/2017)

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên, một trong những bức hình hiếm và đẹp. (Hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn, có tài liệu « HATIEN PHOTO » do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản có viết rỏ như sau:

« Cây dừa ba ngọn ở góc đường Mạc Cửu và Bạch Đằng, thuộc loại dừa lửa. Ba ngọn nàm theo chiều Nam Bắc. Khi dừa lên cao độ 4 thước, ngọn dừa bị chia xẻ thành 3 ngọn, cũng đâm lá trổ trái ở 3 ngọn như những cây dừa khác. Đó là cây dừa độc nhứt hoàn cầu, vì đã có nhiều người Bắc và Trung trong ngành canh nông, người Pháp từng phục vụ ở Tahiti, người Anh ở Colombo và Singapore, nhiều người Mỹ ở Hawai, thì không một ai được nghe nói hoặc thấy cây dừa nhiều ngọn như cây dừa ở Hatien. Trước khi gãy, cây dừa đã bị nghiêng về hướng Đông, thế nhưng trái vẫn sai, lá vẫn tốt. Chính quyền địa phương đã làm đủ mọi cách để bảo vệ cây dừa nầy, nào lấp gốc, làm cây chỏi bằng béton…dầu được bảo vệ kỷ lưởng như vậy, song đến ngày 1-1-1971 đúng vào lúc 5 giờ chiều, 2 ngọn dừa nằm về hướng Bắc đã bị gãy. Thế rồi khoảng vài tháng sau, một ngọn dừa còn lại ở hướng Nam cuối cùng cũng bị gãy. Nay chúng ta còn thấy cái gốc lấp thật cao, có cây chỏi béton nằm bên cạnh Bệnh Viện Hatien. Đó là di tích còn lại của cây dừa 3 ngọn. HATIEN PHOTO 25-11-1973 »

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Hình gốc trích trong tập HATIEN PHOTO do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản 1973

 

 

 

 

 

 

 

Hai trang 21 và 22 trong tập HATIEN PHOTO viết về cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản năm 1973

Về sau nầy ở Hà Tiên lại có cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn mọc lên nữa. Về cây dừa bảy ngọn, chuyện kể như sau: khoảng năm 1976 tại cổng bệnh viện Hà Tiên có một cây dừa trái đỏ gọi là dừa lửa mọc lên bảy ngọn (cây dừa bảy ngọn nầy chỉ cách cây dừa ba ngọn trước đó khoảng vài chục thước thôi…), cây dừa nầy sống được khoảng trên 10 năm về sau bị mưa giông có bốn ngọn bị gãy trước, còn lại ba ngọn cuối cùng cũng bị gãy vào giữa năm 1987, cây dừa bảy ngọn bị chết hoàn toàn.

Cây dừa bảy ngọn ở trước bệnh viện Hà Tiên đường Mạc Cửu. (hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa. (Hình: Bronson Ha)

Sau khi cây dừa bảy ngọn chết đi, Hà Tiên lại có cây dừa bốn ngọn mọc lên tại nhà bác Trương Thế Hữu phường Bình San, thị xả Hà Tiên. Cây dừa bốn ngọn nầy sống cũng được gần 40 năm và cũng bị chết đi. Mình chưa được thấy cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn, là dân Hà Tiên chính gốc, mình chỉ được may mắn nhìn thấy cây dừa ba ngọn hầu như là thấy mỗi ngày vì trong những năm1960 – 1970 hàng ngày mình đều có dịp đi ngang qua cây dừa ba ngọn nầy, lúc thì đi học lúc thì thả rong đi chơi…Ngược lại cũng có nhiều bạn ở Hà Tiên vì là thế hệ trẻ sau nầy nên không có dịp thấy được cây dừa ba ngọn nhưng lại được chiêm ngưởng hai cây dừa sau nầy là cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn.

Cây dừa bốn ngọn (một thế hệ cuối cùng của gia đình cây dừa nhiều ngọn ở Hà Tiên). Phường Bình San, Thị Xả Hà Tiên

Thầy Trương Minh Hiển chụp hình tại cây dừa bốn ngọn ở Hà Tiên. Hình: (Trương Mộng Uyên 1997)

Hiện nay ở Hà Tiên các kỳ quan về cây dừa ba ngọn, bảy ngọn và bốn ngọn đã biến mất, chúng ta có thể hy vọng nơi đâu đó trên mảnh đất Hà Tiên mầu mở nầy sẽ có một thế hệ mới dừa nhiều ngọn mọc lên, tiếp tục làm tỏa sáng danh tiếng đất Hà Tiên. Tuy nhiên đối với mình trong lòng mình chỉ có hình ảnh cây dừa ba ngọn với trụ xi măng hình chữ T chống đở là hình ảnh duy nhất của cây dừa kỳ quan ở Hà Tiên, hình ảnh sẽ và còn sống mãi trong lòng những người yêu mến Hà Tiên, nơi mình sinh ra và lớn lên…

    Paris   TVM 01/06/2018

 

 

Giới thiệu Lâm Xuân Mỹ

Thầy cô và các bạn thân mến, thỉnh thoảng nhìn lại trang « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy bài viết cũng rất phong phú, một phần do chính mình nhớ và viết ra, một phần nhờ sự đóng góp của các bạn nên mục nầy cũng đã giới thiệu được gần 30 bạn rồi…Tuy nhiên số bạn học cùng trường mà mình quen biết thì còn rất nhiều,…kể ra cũng phải hàng trăm bạn, nhưng vì mình vẫn theo một tiêu chuẩn là cố gắng có một vài tấm hình của người bạn được giới thiệu (hình xưa càng tốt) và có chuyện để kể lại hay có vài liên hệ ngày xưa đến người bạn được giới thiệu để mình có chất liệu viết bài đưa lên trên mục « Bạn Học Cùng Trường »,..Do đó mình mong mỏi quý Thầy Cô và các bạn đã học qua dưới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa cố gắng giúp và đóng góp bài vở giới thiệu về một vài người bạn cùng trường cùng lớp ngày xưa để mục nầy thêm phong phú và ngày càng đầy đủ.

Nhìn vào danh sách « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy quả không thiếu các người đẹp của trường Trung Học Hà Tiên thời xưa,…nay xin được giới thiệu một người bạn học cùng trường, một nữ sinh cũng thuộc vào dạng « người đẹp » Trung Học Hà Tiên, quý phái và rất dể mến,….Thầy cô và các bạn đã đoán ra ai rồi vì mình lở viết ra tên trong tựa bài rồi,….Xin giới thiệu đó là người bạn mang tên: Lâm Xuân Mỹ…

Lâm Xuân Mỹ là con gái trong một gia đình kỳ cựu và có tên tuổi ở Hà Tiên. Nhà Xuân Mỹ ở đường Lam Sơn, đối diện xéo xéo với nhà Cô Lý Ánh Nguyệt. Phía bên phải hiên nhà của Xuân Mỹ là một khoảng trống rất tiện lợi cho công việc nhà như chuẩn bị làm bếp, giặt giũ quần áo…… Mình cũng thỉnh thoảng có đến chơi nhà Xuân Mỹ vì chị của Xuân Mỹ là chị Lâm Xuân Cúc học chung lớp với mình suốt bậc Trung Học ở Hà Tiên. Anh của Xuân Mỹ là anh Lâm Hữu Dư cũng là cựu học sinh Trung Học Hà Tiên và mình cũng thường tiếp xúc vói anh khi anh qua nhà bạn Lý Cảnh Tiên chơi. Phu nhân của anh Lâm Hữu Dư là bạn Lê Mai Hoa cũng là bạn học cùng lớp với mình, tóm lại vì cùng là người Hà Tiên cả nên cuối cùng mối liên hệ bạn bè cũng được thắt chặc thêm qua các mối liên hệ gia đình…

Mình còn nhớ một chuyện rất vui nhưng vẫn còn bán tín bán nghi vì đã lâu rồi không biết mình có nghĩ đúng không…Lúc còn trẻ nhỏ, vì mình thường đến chơi nhà bạn là Lý Mạnh Thường nên khi gia đình của Xuân Mỹ có việc vui là: ngày làm đám nói cho người chị thứ Chín của Xuân Mỹ (chị Chín Hương), đám nói với một ông sĩ quan Hải Quân thời đó (Ông tên là Tú), vì ông không phải là người Hà Tiên nên ông thuê một phòng trong khách sạn ở Hà Tiên và gia đình Xuân Mỹ chọn một vài em trai (tiêu chuẩn là ăn mặt sạch sẽ, bảnh bao, dáng người dể xem…) để tiếp bên đàng trai bưng các mâm hoa quả trầu cao đến nhà chị Chín (nhà Xuân Mỹ) để xin hỏi cưới chị Chín. Lúc đó hình như là nhà Mạnh Thường giới thiệu hai anh em mình vào nhóm bưng mâm bên đàng trai nầy nên mình có bưng mâm theo đàn trai đến nhà Xuân Mỹ đó, mình nhớ ra như vậy vì thời gian là rất xa xưa rồi không biết có đúng không,…Có điều chắc chắn là mình nhớ có lần mình bưng mâm giúp cho bên đàn trai như vậy…

Bây giờ viết về Xuân Mỹ,…Lâm Xuân Mỹ ngày xưa là một trong những người nữ sinh đẹp của Hà Tiên,…Theo mình nhận xét (những nhận xét nầy là đã có từ xưa khi quen biết Xuân Mỹ với tư cách bạn học cùng trường) Xuân Mỹ có một vẻ đẹp rất cao sang, quý phái và lúc nào sự cao sang quý phái đó cũng được Xuân Mỹ thể hiện qua dáng đi, cách nói chuyện và cách giao tế với mọi người chung quanh…Đó là những nhận xét thật sự của mình chứ không phải ca tụng qua loa bề ngoài…Một trong những yếu tố chứng minh là ngày xưa Xuân Mỹ được rất nhiều bạn nam trong trường chú ý, không chỉ những bạn nam của trường Trung Học Hà Tiên mà còn các vị sí quan Hải Quân thời đó đóng quân ở An Thới, thường ghé tàu vào Hà Tiên chơi và cũng muốn được sự chú ý của Xuân Mỹ…Dí nhiên là trong thời đó mình không biết Xuân Mỹ nghĩ trong đầu óc như thế nào, vì mình không biết rỏ thời đó Xuân Mỹ có « bạn trai » là ai hay không, có lẻ vì là con gái trong một gia đình kỳ cựu nên Xuân Mỹ rất giữ gìn ý tứ và không biểu lộ ra ngoài cho người ta nhận xét các sự liên hệ của mình…Đó là một cá tính rất tốt đẹp và càng làm tăng thêm giá trị của một người con gái vốn đã đẹp về vóc dáng, gương mặt mà lại càng làm đẹp thêm cho cả bản thân…

Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ học chung lớp với các bạn Hà Mỹ Oanh, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hào, Trường Thanh Hùng. Xuân Mỹ thường kết bạn thân với các bạn: Nguyễn Ngọc Lê, Dương Thị Diễm Hà, Trang Lệ Thủy, Trần Thanh Tuyên,…Lâm Xuân Mỹ học sau mình một lớp (tức là vào niên khóa 1965-1966 mình học lớp Đệ Lục tức lớp 7  thì Xuân Mỹ học lớp Đệ Thất tức lớp 6). Theo như lời các bạn cùng lớp thì Lâm Xuân Mỹ học rất giỏi, trong lớp rất ngoan, hiền và nhất là rất dể thương…(nhưng cũng nói thêm cho các bạn trai thời đó là thương « không dể » đâu nhé,…vì là người đẹp nên có lẻ tiêu chuẩn lựa chọn rất cao…ngay cả mình thời đó nếu có nộp đơn thì chắc lọt sổ ngay rồi…!!)

Thắm thoát thời gian trôi qua, mình đi xa tiếp tục sự nghiệp học trò và sau đó ra trường cũng tiếp tục sự nghiệp thầy giáo, mình không biết tin nhiều về các bạn học nói chung còn ở lại Hà Tiên, và Xuân Mỹ nói riêng…Sau nầy hơn mấy chục năm trôi qua nhờ có đường dây bạn bè qua fb, mình biết được Xuân Mỹ lập gia đình với một người đồng nghiệp cũng trong ngành giáo chức, phu quân của Xuân Mỹ là người gốc Cần Thơ nên gia đình có lúc sống ở Cần Thơ và hai vợ chồng có được hai cô con gái rất xinh đẹp và rất có tài năng trong văn chương nghệ thuật, thật là một điều rất tốt đẹp…

Hiện nay Xuân Mỹ đã không còn ở trong căn nhà cố cựu ngày xưa ở đường Lam Sơn. Hiện Xuân Mỹ ở trong một căn nhà được xem như là một trong những căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên, đó là căn nhà ở đường Chi Lăng, trong nhà trang hoàng rất đẹp theo kiểu cổ kính có rất nhiều tác phẩm sơn mài xưa, phía ngoài thì có nhiều chậu hoa rất xinh đẹp. Xuân Mỹ sống với những kỷ niệm vì phu quân của Xuân Mỹ không may đã mất vì bệnh…Để kết thúc phần viết về một người bạn cùng trường năm xưa, mình mong và chúc cho Lâm Xuân Mỹ luôn được an lành, vui khỏe với hai cô con gái tuyệt vời, mong rằng đó chính là hạnh phúc thật sự cho Xuân Mỹ…(TVM 05/2018)

Nét đẹp học trò của Lâm Xuân Mỹ trong những năm nữ sinh Trung Học Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ (giữa) trong niên khóa 1970-1971 lớp 11A Trung Học Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ (giữa) với các bạn cùng lớp Trung Học Hà Tiên

Một màn múa trong đó có Lâm Xuân Mỹ tham dự (có lẻ ở giữa)..

Hà Mỹ Oanh và Lâm Xuân Mỹ lúc học lớp Đệ Nhứt 1971-1972 Rạch Giá (hai cô gái vừa giản dị trong chiếc áo trắng quần đen vừa duyên dáng và rất xinh tươi của lứa tuổi đôi mươi…)

Lâm Xuân Mỹ trong vóc dáng rất tự nhiên và thanh tao

FamilleLamXuanMy_HaTien_1985

Vợ chồng Lâm Xuân Mỹ và con gái đầu lòng (Hòn Phụ Tử Hà Tiên 1985)Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ (nét sang trọng trước Mũi Nai Hà Tiên)

Lâm Xuân Mỹ, bà mẹ trẻ và cô con gái xinh…

Lâm Xuân Mỹ ngày nay, vẫn giữ nét thanh lịch, quý pháiTrái qua phải: Nguyễn Thúy Vân, ? , Trần Yến Phượng, Lâm Xuân Mỹ và Phạm Thúy Phượng

Lâm Xuân Mỹ cùng cô con gái đầu lòng Minh Thư..

Căn nhà xinh đẹp của gia đình Lâm Xuân Mỹ hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ cùng các bạn học cùng lớp: Nguyễn Thúy Vân, Trịnh Xuân Tài, Hà Mỹ Oanh, Trần Thanh Tuyên, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu,..v..v.. (Hà Tiên)

Hình ảnh: Lâm Xuân Mỹ, Hà Mỹ Oanh. (Thành thật cám ơn Xuân Mỹ, Lâm Thị Lan và Mỹ Oanh đã vui vẻ đóng góp hình ảnh, góp ý cho bài viết nầy được phong phú.)

Ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên chúng ta đã có một bài do bạn Trương Thanh Hùng viết tựa bài là: »Về một câu đối », bài được xếp trong mục « Hình ảnh sinh hoạt nay » và do Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/02/20/ve-mot-cau-doi-truong-thanh-hung/

Hôm nay nhân dịp có một số hình về trường lớp do bạn Nguyễn Hữu Tâm cho lên trang fb nên mình sẽ gom góp các hình ảnh ngày xưa về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên nầy lại, để có được một bài giới thiệu về ngôi trường nầy, mình cũng giới thiệu lại bài viết mở đầu để thầy cô và các bạn đọc lại và nhớ các kỷ niệm mà chúng ta học sinh Tiểu Học Hà Tiên ai cũng đã từng sống qua…

Thực ra Trường Tiểu Học Hà Tiên được cất lên từ thời rất xa xưa (khoảng trước năm 1869). Sau đó khi người Pháp trở lại chiếm đóng Hà Tiên, vì chiến tranh các dinh thự công ốc đều bị tiêu hủy. Vào khoảng các năm 1947 – 1948 Trường Tiểu Học Hà Tiên được tái thiết lại, cổng chính quay ra đường Mạc Công Du (trong khi trước đó trường xưa thì cổng chính quay ra đường Đống Đa, theo tài liệu « Nghiên Cứu Hà Tiên do thầy Trương Minh Đạt viết). Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Đang làm lễ trong trường mà người dân tình cờ đi ngang trường là tự đứng lại, nếu có đội nón thì giở nón ra chào, khi hát hết Quốc ca thì mới tiếp tục đi , rất trang trọng. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(mời xem bài bạn Hùng viết…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu Học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào do anh Cù Mính con ông Tòng Sen bán, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối » vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là Mãnh, ai là Dõng, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Ngày xưa mình và anh Trần Văn Dõng vì là hai anh em sinh đôi, cùng ngày, tháng và năm sanh nên đều đi học chung một lớp suốt cả quá trình học Trường Tiểu học Hà Tiên. Ngay xưa hai anh em mình học rất sớm, ngay 6 tuổi đã vào lớp năm (còn gọi là lớp « chót » hay nghiêm trang hơn gọi là lớp vỡ lòng). Tuy nhiên lúc đó vì mới lần đầu tiên « bị bắt » đi học nên mình rất sợ đi học, việc nhập học của mình rất khó khăn (ngày xưa không có lớp mẫu giáo nên khi đi học là vào thẳng lớp vỡ lòng ngay). Những ngày đầu tiên bị nhà bắt phải đi học, mình thường hay trốn học, có lúc đã vào lớp rồi nhưng lại trốn, nhảy cữa sổ lớp ra ngoài chạy bộ về nhà, mình còn nhớ có hôm nhà nhờ anh Lê Quang Chánh (anh bà con bạn dì ruột với mình), anh Chánh chở mình bằng xe đạp để đưa đến trường, gần tới trường, đang ngồi phía sau yên xe đạp, mình bổng phóng khỏi xe và chạy ngược về không chịu vào trường học,…Bây giờ nghĩ lại cũng thấy lạ, vì hầu hết các trẻ em bây giờ hay là các con của mình đều chấp nhận đi học, đi đến trường lớp một cách dể đàng không có gì khó khăn hay có vẻ bị bắt buộc cả,..có lẻ trường học thời nay hấp dẫn và quyến rũ trẻ em hơn trường lớp ngày xưa…(Lúc đó mình còn nhớ học lớp vỡ lòng với Thầy La Từ Sự nhà thầy cũng ở đường Bạch Đằng gần nhà mình). Phải mấy tuần lễ sau mới êm cái vụ đi học lớp năm của hai anh em mình…

Rồi trong thời gian theo học các lớp Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm nào cũng có điểm tốt, được phát bảng Danh Dự và cuối năm đều được lên lớp trên. Trong những sinh hoạt của các lớp học Trường Tiểu Học, có thông lệ là trong lớp thầy cho lập một quyển vở gọi tên là « Sổ luân chuyển » hay « Tập luân chuyển », hồi đó mình cũng không hiểu gì lắm cái danh từ « luân chuyển », chỉ biết kêu tên quyển tập như vậy. Mà đúng như cái tên gọi của quyển tập nầy, vì mục đích của thầy dạy trong lớp là muốn lưu giữ các bài do học trò ghi chép trong các giờ học nên thầy đặt ra quyển tập nầy, quy định là mỗi ngày phải có một học trò trong lớp giữ quyển tập nầy và phải chép lại tất cả các bài giảng trong ngày đó vào quyển tập nầy. Mỗi lần mình nhớ tới ngày phải giữ « sổ luân chuyển » là hay bị lo, vì khi viết bài trong sổ thì phải cố gắng viết cho sạch sẽ và viết chữ phải đẹp nên mình rất lo và rất cẩn thận khi chép bài vào sổ. Mỗi khi tới ngày giữ sổ luân chuyển như vậy rất mất công vì chẳng những phải viết chữ đẹp, sạch sẽ trong sổ, mà sau đó cùng một lúc khi về nhà mình lại phải chép bài hôm đó trong quyển vở của mình để khi giao sổ luân chuyển cho học trò khác thì mình không bị thiếu bài hôm mình giữ sổ…

Còn một kỷ niệm khác trong thời học Trường Tiểu Học mình còn nhớ, khi học khoảng lớp tư thì thường là có môn « Toán », « Khoa Học Thường Thức », « Ngữ Vựng ». Môn « Ngữ Vựng » là môn học có mục đích giúp cho học sinh được làm giàu các từ ngữ dùng trong viết văn hay nói chuyện hằng ngày..Phương cách dạy môn nầy là như sau: Sau khi giảng dạy về chủ đề của môn « Ngữ Vựng » trong ngày, thầy cho học trò chép một bài tập gồm có bài một văn xuôi, trong bài nầy thỉnh thoảng có nhiều đoạn tương ứng với một từ ngữ và bị bỏ trống, có chấm chấm, học trò phải hiểu câu viết trong bài và phải điền đúng cái từ ngữ thiếu đó vào phần chấm chấm trong bài văn!. Mình còn nhớ có lúc đó học bài « Ngữ Vựng » về sự liên hệ bà con và cách xưng hô trong một gia đình, thí dụ như đối với người em của cha mình thì mình phải gọi là « chú », vợ của chú thì mình phải gọi là « thiếm »…Trong bài tập hôm đó, học trò phải điền các từ còn thiếu trong các phần có chấm chấm…(tức là phải tìm ra các từ thích hợp trong cách xưng hô như: chú, thiếm, cậu, mợ, ..v..v…). Mình còn nhớ là mình rất sợ cái bài tập nầy vì lúc đó còn nhỏ mình hoàn toàn không hiểu các cách xưng hô nầy, mình không hiểu gì cả, không biết phải điền vào các chổ chấm chấm trong bài bằng từ ngữ nào cả…

Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…

Đến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu « chuyển động », « động tử », « vòi nước chảy »,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Thầy Hà Phương Linh chuyên dạy lớp Tiếp Liên, (tên gọi Tiếp Liên là vì lớp nầy dành cho các học sinh thi rớt của năm lớp nhứt phải ở lại và vào lớp nầy, túc là lớp chuyển tiếp giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, lớp luyện thi cho năm sau thi lại để lên Trung Học). Thầy Linh dạy lớp tiếp liên rất hay, rất nỗi tiếng, sau năm học nầy mình thi đậu lên lớp Đệ Thất vì vậy trong bậc Trung Học mình học sau anh Trần Văn Dõng một năm. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd, (ba của Hào Kiệt là Ông Lâm Tấn Bình chủ tiệm thuốc tây Thanh Bình ở dưới chợ cá ngày xưa của Hà Tiên).

Nhân đây xin nhắc lại tên họ một số quý Thầy dạy trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa:  Lê Quang Phấn (ba của Thầy Thuyên, thầy Khanh…), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình),…

Một vài học sinh bây giờ đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn còn nhớ tên họ quý Thầy Cô đã từng dạy cho mình thời còn ngồi ghế nhà Trường Tiểu Học, chẳng hạn như chị Nguyễn Thị Hoa cho biết danh sách quý thầy cô đã dạy chị thời còn học Tiểu Học như sau:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từng lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) .

Bạn Trương Minh Quang Nguyên (con trai của thầy cô Trương Minh Đạt) có góp ý thêm về danh sách thầy cô dạy học Nguyên lúc còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp 1: thầy Hà Văn Thành (tự ông giáo Ngọt), lớp 2:  cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ bạn Nguyễn Hữu Tâm, lớp 3:  thầy Phan Liên Trì được ít tháng thầy mất nên sau đó học với cô Vân sau này là vợ thầy Hiếu cũng dạy cùng trường, lớp 4:  thầy Lâm Văn Núi, lớp 5: cô Dương Hồng Châu. Trường truóc 1975 còn có cô Thu dạy lớp nhất (lớp 5) không nhớ cô gốc ở đâu?

Ngoài quý Thầy Cô cao tuổi và đã dạy Trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên đã kể trên, thời 60-70 cũng có nhiều cô giáo trẻ cũng quê Hà Tiên hay có liên hệ tới Hà Tiên cũng về trường nhà dạy học như cô Nguyễn Phước Thị Liên (phu nhân của thầy Trương Minh Đạt) về Hà Tiên dạy năm 1965. Cô Dương Hồng Châu (mẹ của cô là cô Nhan cũng là giáo viên kỳ cựu của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên) về trường năm 1967.

Cô giáo Nguyễn Phước Thị Liên dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1965

Cô giáo Dương Hồng Châu dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1967

Ngoài ra mình còn nhớ trong thời gian đó có một cô giáo tên Mai ở trường Tiều Học Hà Tiên, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học cô thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác,…Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cô cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ cô, có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của cô. Theo sự nhớ lại của một số bạn học ngày xưa, cô Mai thường dạy lớp nhứt tức lớp cuối cùng của bậc Tiểu Học. Bạn Lâm Thị Lan còn nhớ có một lần sinh hoạt đầu tuần cô Mai nói về vấn đề cờ bạc và cô có nói câu: « cờ bạc là bác thằng bần, không theo cờ bạc thì còn gia sản ». Còn bạn Nguyễn Thị Điệp thì còn nhớ có học lớp nhứt với cô Mai, cô chỉ mặc áo màu trắng và màu nâu may theo mẫu áo của người tu. Hôm nào cô kêu đau đầu mà học sinh nói chuyện là cô cho quỳ gối hết cả lớp!!. Còn mình còn nhớ cô Mai thường vẻ hình lên một tờ giấy cứng trắng rất lớn, như loại giấy mình làm bích báo ngày xưa, cô vẻ các hình phạt dưới âm phủ có quỷ sứ cắt lưởi,….để khuyên răn học trò tụi mình. Mình còn nhớ như in trong đầu và như còn nghe qua lổ tai, câu cô Mai nói với mình: « Ăn cá là ít tội nhứt »…..Chử « ít » cô phát âm theo kiểu người Bắc …chắc cô cũng có gốc người Bắc….Bạn Tăng Thị Sáu thì còn nhớ cô Mai mặc áo màu cao khô là cô Mai Nguyễn dạy lớp 5, cô cũng đánh học trò dữ lắm đánh xong cô kêu học trò úp mặt xuống bàn để cô xin lỗi…!! Bạn Trần Quý Nương có cho biết rất nhiều thông tin về cô Mai: Ngày xưa khi còn dạy học, cô có một thời gian ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung,) trên đường đi Thạch Động. Tài Chung có một người cô ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai và cô của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. Cô của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên cô đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước cô của Tài Chung có dẩn Quý Nương đến thăm cô Mai.

Sau đây là một số hình ảnh do mình còn lưu giữ và góp nhặt do các học trò Hà Tiên xưa cung cấp, xin thành thật cám ơn tất cả.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: 1/Đựng, 2/Chúa, 3/Mạnh, 4/Tiếp, 5/Lâm Tấn Hào, 6/Thầy Pho, 7/?,8/?,9/? (không biết tên ba người bạn), 10/Lâm Tấn Kiệt, 11/?,12/? (không biết tên hai người bạn), 13/Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Trần Văn Dõng, 3/Trần Tấn Công, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/La Văn Hủi, 7/Trần Văn Mãnh, 8/Quân, 9/? (không biết tên một người bạn), 10/Pha.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: 1/? (không biết tên một người bạn), 2/Đựng, 3/Mạnh, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/Hòa, 7/Quân, 8/Thầy Pho, 9/Trần Văn Dõng, 10/?, 11/? (không biết tên hai người bạn), 12/Tiếp, 13/?, 14/? (không biết tên hai người bạn), 15/Chúa, 16/?,17/? (không biết tên hai người bạn). Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Lâm Tấn Hào,3/Trần Văn Mãnh, 4/Lâm Tấn Kiệt, 5/Trần Tấn Công, 6/? (không biết tên một người bạn).

Một lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

Một lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Trần Tố Chinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

Hình Lâm Ngọc Bích (con gái anh Nhum, tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Nhan (thân mẩu của cô Dương Hồng Châu), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Nhan.

Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa). Hàng Cô giáo từ trái qua: Cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Nguyễn Hữu Tâm), cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Đình Lôc, Vương Đình Phước).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ ba là thầy Hà Văn Thành tự Giáo Ngọt, người thứ 4 là thầy Núi, cô Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

Một lớp học trò nữ trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên, cô giáo trong hình là cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ của Nguyễn Hữu Tâm (hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1980)

Lớp học sinh nữ do cô giáo Tăng Ngọc Mỹ dạy của trường Tiểu Học Hà Tiên. Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1970)

Hai em học trò Trường Tiểu Học Hà Tiên nhận phần thưởng cuối năm. Em trai trong hình là Nguyễn Hữu Tâm. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm trước 1975)

Hai em học trò trường Tiểu Học Hà Tiên, em trai tên Nguyễn Hữu Tâm, em gái tên Vân. Phái sau lưng là dảy lớp học nam sinh. (Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Hai em học trò vừa nhận phần thưởng trước sân Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Quý cô giáo dạy Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời 60-70. Cô đứng bìa trái không biết tên. Ba cô kế là cô Cưởng, cô Ngọc Điệp (hiện ở Rạch Giá) và cô Mỹ Ngọc (dạy học ở Lộc Trỉ Mũi Nai Hà Tiên, hiện ở Texas, nước Mỹ). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Hình ảnh một vài cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: từ trái sang phải: thứ ba là cô Nhan (mẹ của cô Dương Hồng Châu), thứ năm là Bà Giáo Lộc (nhạc mẫu của Thầy Nguyễn Văn Nén), thứ bảy là cô Tăng Ngọc Dung, giáo viên Mẫu Giáo sau đó bị mất vì trúng đạn pháo kích), thứ chín là cô Lý Ánh Nguyệt (vừa mới mất)

Cô Lý Ánh Nguyệt giáo viên Trường Tiểu Học Hà Tiên (bìa phải) chụp trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên.

Ngôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Chú thích: 1/ Hồi xưa thời 1960-1970 tên gọi các lớp của Trường Tiểu Học là như sau: Lớp năm (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp tư, lớp ba, lớp nhì và cao nhất là lớp nhứt (lớp để thi lên bậc Trung Học vào lớp Đệ Thất). Trong khi đó sau 1975 thứ tự tên các lớp lại như sau: lớp 1 (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp 2, lớp 3, lớp 4, và lớp 5 (lớp để lên bậc Trung Học vào lớp 6)

2/ Theo tài liệu của bạn Trương Thanh Hùng, có một bảng danh sách quý Thầy Cô từng giảng dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên và hiện đã qua đời còn được niêm yết trong trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay, mình xin chép vào đây để thầy cô và các bạn tham khảo.

Nguyễn Văn Truyện, Trần Văn Sang, Nguyễn Văn Phẩm, Hứa Văn Bình, Nguyễn Văn Phi, Trần Minh Đạo, Huỳnh Thoại Bang, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Vàng, Diệp Chí Trung, Trương Hòa Thành, Nguyễn Văn Đặng, Lư Sanh Nho, Lục Phan, Phan Văn Viên, Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Thành, Hứa Văn Tài, Nguyễn Văn Mẩn, Nguyễn Văn Sữu, Lưu Kim Hầu, Nguyễn Tấn Phát, Hồ Thị Tân, Nguyễn Thị Nu, Phạm Văn Lai, Nguyễn Thị Liễu, Hồ Văn Nhi, Lý Văn Cải, Vương Giáp Thình, Nguyễn Văn Giỏi, Lê Đức Nguyên, Lê Quang Phấn, Huỳnh Quốc Minh, Lâm Quốc Hải, Lý Văn Nhơn, Lâm Tấn Phác, Trần Văn Canh, Võ Văn Hổ, Nguyễn Văn Tượng, Nguyễn Văn Vân, Đỗ Quý Tý, Nguyễn Văn Kiêm, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Trình Kim Chung, Lê Quang Thuyên, Nguyễn Văn Tửng, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Tửng, Trần Hòa Hùng, Phan Thị Tuyết Mai, Trương Tự Phát, Trần Văn Tường, Phạm Văn Nhan, Hà Văn Điền, Trần Văn Lọt, Trương Văn Vinh, Hà Văn Hoa, Lý Thị Nhan, Trần Thị Thứ, Hứa văn Vàng, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Ngà, Trần Phát Đạt, Trương Tường Oanh, Huỳnh Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ngọc Ty, Hà Ngọc Kiều, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Lầu, Hà Văn Thanh, Hà Mỹ Khôi, Trương Hà, Nguyễn Văn Hùng.

3/ Sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm như sau: Hồi mới vào học lớp năm (lớp đầu tiên) Trần Văn Mãnh rất sợ đi học. Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhờ đi đường trước quán Ty La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ « ai sao tôi vậy » nhưng có cái dở  là « ai làm bậy tui cũng làm theo », cũng đáng đời!!!).

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga, Lâm Ngọc Bích, Trần Tố Chinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phước Thị Liên, Trương Thị Uyên My, Dương Hồng Châu. Khiết Nha Huỳnh. Xin thành thật cám ơn sự đóng góp quý báo của quý vị.

 

Cầu Bắc Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, qua phong trào thành lập các trang đặc biệt trên mạng xả hội face book về Hà Tiên (ngay cả có các trang về Kiên Lương, Kiên Giang), càng ngày chúng ta càng thấy các hình ảnh xa xưa về các thành phố nầy (đặc biệt là Hà Tiên) xuất hiện trên các trang đó. Gần đây có một vài hình ảnh về chiếc Cầu Bắc (Cầu Phà hay Bến Bắc,…) xuất hiện trên fb, mình xin mạn phép góp nhặt các hình ảnh đó để lập ra một bài đặc biệt về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên, mục đích để giới thiệu hình ảnh Cầu Bắc qua các giai đoạn thời gian, từ những năm 1950 xa xưa đến thời 1960, 1970 và hiện nay để ghi lại một nơi chốn đầy kỷ niệm của tuổi trẻ Hà Tiên. Trước hết xin xác định vị trí của chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên: Cầu Bắc Hà Tiên nằm ở đầu đường Bạch Đằng, phía giao nhau với đường Bến Trần Hầu như trong hình dưới đây rất rỏ ràng:

Cầu Bắc Hà Tiên (hướng nhìn từ dưới Cầu Bắc nhìn lên phố chợ Hà Tiên, con đường chạy ngang trước mặt phố là đường Bến Trần Hầu. Hình ảnh: Hồ Anh Dũng, thời gian trong hình có lẻ là trong khoảng thập niên 1960-1970.

A/ Những hình ảnh về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên trong những năm 1950 dưới thời Pháp đóng quân ở Hà Tiên.

Đây là hình chiếc Cầu Bắc rất xưa ở Hà Tiên, vị trí cũng ở ngay bờ sông đường Bến Trần Hầu nhưng có lẻ không phải vị trí của chiếc Cầu Bắc trong những năm 60-70. Bên kia sông ta thấy núi Tô Châu., ngay ở đầu cầu có một chiếc tàu Hải Quân treo cờ Pháp. Hình nầy do một trong những người lính Hải Quân Pháp cung cấp, ông tên là Rolland Drosson, ông nầy đã từng đóng quân ở Hà Tiên trong những năm 1950 và trong đơn vị Hải Quân.

Hình ảnh có trên forum: http://www.anciens-cols-bleus.net/t23368p850-operations-de-guerre-indochine-tome-7

Hình Cầu Bắc Hà Tiên do ông Rolland Drosson cung cấp ( trước năm 1952). Vị trí của chiếc Cầu Bắc nầy không phải là chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên trong những năm 1960 vì phía sau chiếc Cầu Bắc ta thấy khách sạn Tô Châu bên phải và một phần khách sạn Đại Tân bên trái. (Trong khi đó thì chiếc Cầu Bắc mà chúng ta biết trong những năm 1960 thì lại ở ngay đầu đường Bạch Đằng Hà Tiên).

Hình chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên do ông Rolland Drosson cung cấp. Hình chụp khoảng trong những năm trước 1952. Chiếc Cầu Bắc trong ba tấm hình nầy có thể là một và có vào những năm 1950, chắc chắn là không phải chiếc Cầu Bắc Hà Tiên có trong hình Hồ Anh Dũng phía trên.

Trước khi có Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng năm 1957 – 1960), đây là nhà vệ sinh công cộng ở mé sông, sau đó đổi thành nhà bán vé phà qua sông. Hình ảnh: Trần Phương Nhu

B/ Những hình ảnh về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên trong những năm 1960-1970 dưới thời Mỹ đóng quân ở Hà Tiên.

Hình ảnh chiếc Cầu Bắc Hà Tiên mà chúng ta đều biết trong thời gian còn hoạt động chạy Phà qua sông Hà Tiên. Hình nầy nhìn qua núi Tô Châu. (Hình ảnh: NguyenThanhThan 1961)

Hình ảnh chiếc Cầu Bắc Hà Tiên mà chúng ta đều biết trong thời gian còn hoạt động chạy Phà qua sông Hà Tiên. Hình nầy nhìn lên phố Hà Tiên. (Hình ảnh: Hồ Anh Dũng, thập niên 1960-1970)

Ponton của chiếc Cầu bắc ở Hà Tiên, dành cho sự đổi hướng của xe hơi một khi chạy xuống đậu trên ponton nầy, các nhân viên Cầu Bắc xuống các vị trí lổ trống (gồm có 3 phần theo chu vi của phần hình tròn ở giữa ngay chổ xe đậu) để đẩy xoay tròn cho  hướng xe đổi đúng theo phần cửa chạy vào chiếc phà. Hình do một người lính Mỹ tên Truman Richey chụp vào những năm 1960.

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình do Nguyễn Bích Thủy cung cấp.

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên trên đầu một chiếc phao nổi của chiếc cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) vào năm 1972. Phía xa trong hình là chiếc Cầu Bắc quen thuộc của chúng ta. Hình ảnh: Trần Hoàng Trang

Ngày nay chiếc Cầu Bắc không còn nữa, khu nầy đã được lấp bằng thêm và biến thành một công viên rộng lớn theo bờ sông dọc đường Trần Hầu, phần đất liền ngày xưa đã được nới rộng ra thêm chiếm một phần lòng sông Hà Tiên, phần công viên trên đất liền thì nới rộng ra còn lòng con sông thì nhỏ hẹp lại.

                                                                         Trần Văn Mãnh  (05/2018)

Trường Trung Học Hà Tiên và các khung cửa sổ (Lâm Thị Lan)

Thầy cô và các bạn thân mến, lúc trước có bạn Lệ Thủy viết bài nhắc lại kỷ niệm xưa xuất phát từ hai khung cửa sổ của trường Trung Học Hà Tiên…Từ hai khung cửa sổ đó các bạn thay phiên nhau kêu tên trêu ghẹo thầy Minh đang giảng dạy trong lớp bên kia đường ở trường Tiểu Học Hà Tiên…Bây giờ Lâm Thị Lan (cũng là một thành viên của lớp « Đệ Tứ Quốc Tế » rất nổi tiếng trong trường, khi xưa Lan là thành viên của Đệ Tứ Quốc Tế ngày nay Lan lại cũng là một thành viên của hội viết bài cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta…Lan viết rất nhiều bài cho Blog của chúng ta, nhất là những bài về « Chuyện một thời áo trắng »….Hôm nay Lan cũng nhắc lại một chuyện vui của thời áo trắng đó,…cái thời mà người học trò nào cũng thường hay mơ mộng, suy nghĩ vu vơ, hay ngắm nhìn mông lung qua một khung cửa sổ,…Giờ vào lớp chưa reo, học trò người thì đang chạy giởn nô đùa ngoài sân dù là đang mặc chiếc áo dài trắng xinh đẹp, tuổi học trò tuy chưa vượt quá 18 nhưng cũng là đang vào tuổi suy tư…người thì không rời khỏi lớp, đang tựa mình vào khung cửa sổ của lớp, nhìn ra phía xa xa, thả đầu óc và tâm hồn ra khỏi trường lớp để mơ mộng, và ngắm hoa rơi …Sao lại không chuẩn bị dò lại bài học nhỉ, chút nữa thì Thầy « đẹp trai » sẽ vào lớp và có thể sẽ kêu lên trả bài,..ôi nhất là bài về môn Vật Lý khó ghê gớm…!! Chúng ta sẽ tự hỏi rồi phản ứng của Lan sẽ ra sao khi Thầy gọi lên lớp trả bài,…có mơ mộng thì cũng phải trở về thực tế,…mời Thầy cô và các bạn vào bài để vừa thả hồn đi khỏi con đường Mạc Tử Hoàng như Lan khi đứng bên cạnh cửa sổ lớp, vừa hoàn hồn trở lại khi nghe tiếng chuông trống vang lên báo hiệu Thầy sắp vào lớp kêu tên học sinh lên trả bài,…  (TVM viết vài hàng giới thiệu bài)

Trường Trung Học Hà Tiên và các khung cửa sổ (Lâm Thị Lan)

Như mọi hôm các bạn ạ, lớp học còn đang đón nhận học sinh đến như nhỏ giọt,..người thì đi thẳng vào chổ ngồi quen thuộc của mình, dọn sách vở ra và bắt đầu dò bài Vật Lý thầy sắp hỏi,…người thì sau khi ném nhẹ chiếc cặp vào học bàn thì chạy ngay ra ngoài sân, chắc để thưởng thức thêm vài phút quý báo cái không khí của đầu mùa hè, hoa phượng và ve đã bắt đầu xuất hiện và làm việc trong không gian của sân trường,…riêng tôi, cô học trò với chiếc áo dài trắng như mọi hôm, không hiểu sao tôi lại muốn nhìn ra ngoài khung cửa sổ của lớp, bên kia đường Mạc Tử Hoàng, trong cái sân hẹp chạy dọc theo dãy lớp của trường Tiều Học bên cạnh, hoa phượng và hoa trúc đào đã bắt đầu nhô mình ra chào chúng tôi,…Các chùm phượng đỏ rực hòa lẫn với màu hồng thắm của trúc đào rất quyến rũ làm cho mấy chàng ông đập cánh bay lượn chung quanh không dứt…Rồi không biết từ đâu, phía bên trên khung cửa sổ, vài cánh hoa phượng đỏ rơi nhẹ điểm tô thêm cho cái khung hình chữ nhật của cánh cửa một chút gì đó thật đẹp, thật mơ mộng, các bạn ơi khung cảnh và thời điểm đó đối với tôi như dừng lại, bất động, tôi không còn biết là mình đang chờ vào giờ học, mà nhất là giờ Vật Lý với bao lý thuyết phức tạp mà có thể mình sẽ phải diễn giả khi thầy hỏi đến,….Mắt cứ vừa châm chú, vừa mơ hồ như nhìn mà không cố ý nhìn vào đối tượng nào,..tai thì nghe văng vẳng tiếng đàn vĩ cầm eo éo của chàng nhạc sĩ ve báo hiệu mùa hè…Phải viết ra thành câu thơ thôi:

Ngồi ngắm hoa rơi bên khung cửa sổ.
Lũ ve sầu râm ran kêu í ới.
Đang vui đùa cùng các bạn hái hoa.

Các bạn ơi rồi cái gì tới nó phải tới,…chen vào âm điệu ò e của vĩ cầm « con ve » có một tiếng reo giống như tiếng chuông của điện thoại cầm tay thời bây giờ của mình (hồi đó đâu có điện thoại cầm tay cầm chân đâu các bạn, vậy mà tiếng chuông reo sao mạnh và vang vang như là điện thoại kêu mình vậy đó…), tuy là nói chuông reo như tiếng điện thoại reo nhưng lại mạnh và vang to hơn nhiều,…tôi biết rồi, giờ vào học đã đến, hãy lo tỉnh hồn lại và chuẩn bị đối phó với mấy cái lý thuyết Vật Lý rắc rối đây…Lại phải diễn tả ra thành thơ thôi:

ÔI!
Bỗng đâu Thầy tôi đi qua cửa lớp.
Mắt nhìn vào đàn cò trắng tung tăng.
Tiếng chuông reo báo giờ vào lớp học.
Thầy vào lớp tiết học lại bắt đầu.

Người ta thường nói « cái gì tới thì cho tới luôn »,…vậy mà rất đúng trong trường họp nầy các bạn tôi ơi,…Đang mơ mộng bên khung cửa sổ thì chuông reo vào giờ học đã tới, bây giờ cái mà tôi đang lo ngại là sẽ bị thầy kêu lên lớp trả bài, điều nầy cũng đang tới đây …biết vậy đừng lo mộng mơ bên cửa sổ mà phải lo dò lại bài thì đâu có gì lo sợ…Thầy « đẹp trai » vào lớp, sau khi chào nhau xong, thầy nhanh nhẹ mở sổ tên và kêu ngay « Lâm Thị Lan » !!! Ôi chao ôi,…phải chi hôm nay Lâm Thị Lan vắng mặt thì đở biết mấy …Thầy ra câu hỏi trong khi đó thì cô học trò hay mơ mộng đang đứng khép nép bên bàn thầy:

– « Cho thầy biết thế nào là hiện tượng khúc xạ ánh sáng »…

Lại phải diễn tả ra thơ thôi:

Sổ mở ra và người được mở hàng.
Thầy bụt giảng, cô học trò khép nếp.
Đứng bên thầy, hồn bay ra cửa lớp.
Thầy hỏi:
-Cho Thầy biết hiện tượng khúc xạ ánh sáng
– …,,,

Đối với người đang mơ mộng thì dầu ánh sáng có « khúc xạ » hay « nhiễu xạ » thì cũng không có gì khó hiểu vì đâu có gì trong đầu óc đâu mà hiểu các bạn ơi…!! Phải chi thầy hỏi màu của hoa phượng là màu gì thì hay quá chắc mình sẽ được 10 điểm….Hi…hi….thôi từ nay xin chừa cái thú mơ mộng ngồi ngắm hoa rơi tai thì nghe nhạc ve bên khung cửa sổ rồi…Xin chừa xin chừa, từ nay có đi đến trường thì chỉ để cố gắng học hành thôi,…các bạn tôi chắc phải thắc mắc lắm vì câu chuyện không có phần kết thúc… »Rồi sao Lan, Lan không cắt nghĩa được hiện tượng khúc xạ ánh sáng thì thầy cho Lan mấy điểm, có bị phạt gì không, thầy có rầy la Lan không ??!! Các bạn ơi thôi cho mình xin khỏi kể ra phần cuối câu chuyện đi nhé,…Có một điều là tôi vẫn nhớ và tôn kính người thầy có tên chữ lót như màu hoa phượng đỏ rực, mỗi khi hè lại về phượng nở đầy sân trường, ve kêu vang vang ngoài cửa sổ thì học trò áo trắng vẫn luôn nhớ về người thầy với cái hiện tượng khó hiểu là « hiện tượng khúc xạ ánh sáng »….

Phải kết luận bằng thơ thôi các bạn ơi:

Thầy ơi! 😍😍😍😍
Lúc đó trong đầu đâu còn nhớ nữa.
Hihihiiiiiii!
Nữ áo dài ngồi cửa sổ hái hoa.
Tôi “lí lắc” xin chừa từ ngày đó.
Đi đến trường cố gắng học hành thôi.
Nhớ về người Thầy có tên chữ lót: CHÙM HOA PHƯỢNG ĐỎ
Hoa lại về cho tàn cây cháy đỏ.
Cánh phượng hồng trên lối nhỏ rơi rơi.
Ngày xưa ơi năm tháng đã xa rồi.
Bao ký ức của một thời áo trắng.
Học trò Trung Học Hà Tiên Xưa nhớ về Thầy😍😍
TEACHER NHA

Tác giả: Lâm Thị Lan ‘thành viên lớp Đệ Tứ Quốc Tế » trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa…(04/2018)

Thầy Vật Lý N.H.A đứng trước cổng chính trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968

Thầy Vật Lý N.H.A ở cổng sau trường Trung Học Hà Tiên xưa phía dãy cửa sổ các lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng (1968)

Hình ảnh: Lâm Thị Lan, Nguyễn Hồng Ẩn, clip: Trần Văn Mãnh

Luống rau của lớp 9A (Uyên My)

Thầy cô và các bạn thân mến, nhớ những năm cuối của thập niên 70, sau khi ổn định trường lớp qua giai đoạn chuyển tiếp từ hệ thống giáo dục cũ qua hệ thống mới, lúc đó tình hình còn rất khó khăn đủ cả mọi phương diện đặc biệt là về mặt kinh tế…Thời gian đó mình còn đang đi dạy ở các trường cấp ba An Phú (Châu Đốc và Mỹ Luông (An Giang), nhà trường thường hay khuyến khích các giáo viên trồng thêm rau cải để « cải thiện » đời sống…!! Mình cũng không ngờ trong khoảng thời gian đó tại Hà Tiên quê hương, học trò và giáo viên của trường Trung Học Hà Tiên cũng đi vào hoạt động nầy…Khoảng đất phía sau dãy các lớp học của trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa mình biết rất rỏ. ngày xưa nơi đó toàn là cỏ xanh, đất có vẻ phì nhiêu, nhưng ngày xưa không ai chú ý đến việc canh tân trồng trọt….Thường là khoảng đất cỏ bỏ trống làm ranh giới cho dãy lớp học và con đường Mạc Tử Hoàng phía ngoài…trừ khi các học sinh vốn nghịch ngợm muốn trốn các giờ học lấy mảnh vườn cỏ xanh nầy làm nơi đáp xuống khi nhảy cửa sổ ra ngoài (xin mời xem lại bài « Ngảy cửa sổ » của bạn Trương Thanh Hùng viết trước đây:

 https://trunghochatienxua.wordpress.com/2016/09/14/nhay-cua-so-truong-thanh-hung

Trương Thị Uyên My đóng góp bài viết dưới đây, kể lại cũng việc trồng rau « cải thiện » đời sống học đường,…Ngoài giờ học, các bạn học sinh chúng ta cũng xắn tay áo, xông vào mảnh vườn phía sau trường để áp dụng các bài học về « nông nghiệp » hầu đạt được năng suất cao cho đội ngũ của mình…Trong các cuộc tranh đua thi thố tài năng, điều không tránh khỏi là thường hay « cạnh tranh » nhiều khi đi quá giới hạn, tuy nhiên ở đây các bạn chúng ta chỉ phát triển « cạnh tranh’ trong ý tưởng, chưa đi đến hành động thật sự…Rồi khi « tay bắt mặt chào » hằng ngày khi vào học, các bạn cũng trở lại quý mến nhau, thương yêu nhau và nhiều khi cũng có đôi chút hối tiếc vì mình đã muốn điều xấu cho đội bạn…Âu đó cũng là kỷ niệm đẹp cho một thời học sinh áo trắng (mặc dù là mặc « áo trắng » nhưng các bạn chúng ta đă không ngại ra tay làm vườn cuốc đất…!!). Kỷ niệm mà giờ đây nhờ có cây bút của Uyên My, chúng ta được biết một câu chuyện rất vui và thú vị, mong tất cả các bạn lớp 9A và 9P của tác giả tìm lại gần nhau khi tình cờ đọc được bài nầy nhé,…(TVM viết giới thiệu)

 LUỐNG RAU CỦA LỚP 9A

Trương Thị Uyên My, một trong những « nhà trồng trọt » của lớp 9P thời những năm cuối thập niên 70. (hình: Trương Thị Uyên My 2016)

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta ngày đó (khoảng năm 1976) không nhiều lớp như bây giờ, khối lớp 9 chỉ có hai lớp là 9A (Anh văn) và 9P (Pháp Văn).  Chẳng hiểu sao hồi đó nhiều học sinh chọn sinh ngữ Pháp văn vậy, lớp 9A chỉ có khoảng 13 bạn mà lớp 9P của tôi trên 30 người. Mỗi lớp có giáo viên chủ nhiệm riêng, 9A được cô Ngô Tuyết Dung dạy Văn làm chủ nhiệm, cô đồng thời cũng dạy môn Văn cho lớp tôi, 9P có thầy chủ nhiệm Trương Tự Cường dạy môn Lý. Trường nhỏ, lớp học ít, sĩ số học sinh không nhiều nên chúng tôi đều quen biết nhau cả.

Toàn trường có giờ lao động hàng tuần vào sáng thứ năm, khoảnh đất trống sau dãy lớp học phía đường Mạc Tử Hoàng được nhà trường phân lô giao về cho mỗi lớp sử dụng, 9A và 9P được phân hai luống đất cạnh nhau, sát bờ rào của con đường đất bên hông trường. Lớp 9P chúng tôi xới đất lên liếp, dự định trồng các loại rau ngắn ngày. Mảnh đất bé xíu được đám học trò cuốc lên, đào xới, vừa làm vừa chơi, la hét chọc phá nhau thì nhiều chứ thật sự làm chẳng được bao nhiêu.  Vậy mà cuối cùng cái vồng đất cũng thành hình. Chúng tôi dùng quĩ lớp mua hạt giống cải sà lách về trồng, phân công nhau lấy nước từ ao lục bình ở cuối trường để tưới. Mỗi sáng, trước khi chuông reo vào lớp chúng tôi ra đám đất ngắm nghía xem hạt giống đã lên mầm chưa. Phát hiện những chiếc mầm bé xíu vươn lên, đám học trò mừng rỡ ríu rít gọi nhau. Vậy là ngoài việc vần vũ đánh nhau với bài vở mỗi ngày, giờ đây chúng tôi lại thêm bận rộn với luống rau đang lên.

Lúc đó thầy Hồ dạy môn Hóa đang làm thân với cô Dung – việc này cả trường ai cũng biết – nên thầy cũng thân luôn với lớp 9A, chiều nào chúng tôi ra thăm vồng cải của lớp mình cũng gặp thầy Hồ đang săm soi luống rau cùng cô Dung và các bạn lớp 9A.

Ngày qua ngày, đám rau của hai lớp cũng lớn dần lên, hóa ra không hẹn mà gặp cả hai luống rau đều trồng cùng một loại sà lách, nhưng dù cả lớp tôi ra sức tưới tắm cho nó mỗi ngày thì nhìn sang luống rau của 9A chúng tôi vẫn thầm ganh tị, đám rau của 9A lớn nhanh và mướt mát thấy rõ. Những tiếng xì xào lan ra trong lớp 9P, rằng thầy Hồ dạy Hóa nên thầy hướng dẫn lớp 9A cách bón phân hóa học cho rau mau lớn, xanh mọng, tươi tốt. Rằng thầy chủ nhiệm của lớp mình dạy Lý nên chắc thầy không biết về phân bón, nên thầy không chỉ cho chúng mình bón phân… Học trò mà, chuyện gì đồn đãi chẳng được. Không biết thực hư thế nào nhưng một thực tế không thể phủ nhận là đám rau của 9A trông ngon lành quá, luống cải của 9P nằm cạnh thấy buồn tủi gì đâu.

Gần đến ngày thu hoạch, buổi sáng như mọi khi tôi cùng các bạn ra thăm vồng cải, tôi chợt sững người, chiều qua vẫn còn tươi mướt mơn mởn vậy mà sau một đêm đám cải của 9A bỗng héo úa rũ rượi, lớp 9A đứng quanh luống rau, vẻ mặt âu lo, thì thào chỉ trỏ.

Lớp 9P nháy nhó với nhau: “Cho mày chết nha!”

Giờ ra chơi tôi chạy đi tìm Hồng Hảo (nhà ở đầu đường Phương Thành, có thời gian làm tiệm chụp hình Khải Hoàn, sau này Hảo theo gia đình về học ở Rạch Giá, đã mất sớm vì bệnh). Hồng Hảo hay lắm, nó là “thông tấn xã” của lớp tôi, tai mắt nơi nơi nên chuyện gì nó cũng biết, không chỉ rành rọt mọi việc của các bạn trong lớp mà nó còn “quản lý” luôn các lớp khác. Trong trường có ai để ý ai, ai quen ai, nhà ai có chuyện gì… nó đều biết hết. Tôi hỏi nó:

  • Mày biết vì sao đám rau của 9A “đột tử” hông?

Đi một vòng thám thính, nó trở về phán như đinh đóng cột:

  • 9A pha phân bón rau vượt quá nồng độ và hàm lượng cho phép nên cây không chịu nổi.

Chẳng biết độ chính xác trong nguồn tin nghe ngóng của Hồng Hảo đạt bao nhiêu phần trăm mà những ngày sau đó tôi thấy lớp 9A tích cực tưới rau sáng chiều, nỗ lực cứu vãn đám cải đang ủ rũ gục đầu.

Sáng thứ năm, lớp 9P nhổ sà lách đi bán, trong lúc chúng tôi í ới gọi nhau, đám con gái lăng xăng tính làm thế nào để cân được nặng ký, bán làm sao để được giá, đám con trai khều móc nhau chọc ghẹo đứa này, nắm tóc đứa kia, kéo áo đứa nọ, nói cười ỏm tỏi … thật vui vẻ náo nhiệt thì lớp 9A lặng lẽ nhổ bỏ đám cải đã chết rũ. Chợt nhìn sang các bạn 9A thấy ai cũng buồn thiu tôi ân hận quá chừng, sao mình lại mong cho rau của 9A chết, sao mình xấu tính vậy chứ!

May quá, chuyện không nói ra thì không ai biết, nên đến nay lớp 9P vẫn giữ được tình bạn tốt đẹp với 9A. Chúng tôi mỗi khi gặp lại nhau đều nhắc đến thầy cô cũ và chuyện đi học ngày xưa, để thấy mình còn bé xíu xiu như những ngày còn ngồi dưới mái trường Trung học Hà Tiên.

Các bạn 9A & 9P của tôi ơi, có ai còn nhớ đến chuyện trồng rau năm lớp 9 này không nhỉ?

Lớp 9A ơi, đừng giận 9P tụi mình nha, chỉ là những non dại của một thời “Khi xưa ta bé” mà thôi.

Uyên My (10.3.2018)

*Bài viết này thân tặng các bạn lớp 9A:

Thái Huệ Anh, Lê Thị Nghĩa, Lâm Vĩnh Tiên, Đặng Hùng Thành.

Từ hai khung cửa sổ…(Trang Lệ Thủy)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong một bài viết trước, trưởng lớp « Đệ Tứ Quốc Tế » của chúng ta đã kể một câu chuyện về « quậy » trong giờ thầy Nguyễn Văn Út…, tiếp tục truyền thống của giới học trò, giới mà giải đồng đội đã lãnh được « huy chương đồng » (vì các giải « huy chương vàng » và « huy chương bạc » thì Quỷ và Ma đã chiếm rồi…!!), hôm nay bạn Trang Lệ Thủy sẽ kể cho chúng ta một câu chuyện vui và cũng có tính chất « quậy » trong đó….Qua bài kể trước chúng ta đã phải đưa ta giở nón chào thành tích của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế, hôm nay thầy cô và các bạn cũng sẽ tiếp tục giở nón chào thêm một thành tích mới nữa,…và có lẻ sẽ còn tiếp tục cho chúng ta giở nón chào đến mỏi cả tay…Tuy nhiên, cũng như Lệ Thủy và cả lớp thường kết luận, mọi việc « quậy » đều có một kết thúc vui, có tính chất xây dựng, vì sau cùng thì cả lớp đều biết cái sai trái trong sự vui quậy của mình và đã được quý thầy cô thông cảm và vui vẻ tha thứ cho tất cả…Đó là một điều rất tốt và rất đáng ngưởng mộ cho các bạn chúng ta, mong rằng tuổi trẻ của thời đi học, áo trắng học trò vẫn còn sống mãi trong tâm hồn các bạn chúng ta qua những mẫu chuyện vui nho nhỏ, lúc nào cũng hấp dẩn, gay cấn khi lúc vào đầu chuyện và phần kết thúc thì luôn luôn tốt đẹp, đưa đến sự đồng cảm và hài hòa giữa mọi nhân vật trong câu chuyện. Cuối cùng thì như bạn Lệ Thủy đã viết, đến bao giờ thì sự phá phách, chọc quậy quý thầy cô đó mới ngừng nghỉ ?? Mình nghĩ rằng chừng nào các bạn mình còn mang chiếc áo trắng học trò thì sự hoạt náo đó vẫn còn tiếp tục vì đó là một tinh chất đã pha trong giòng máu và chạy trong huyết quản của các bạn chúng ta…Quậy phá, trêu chọc để cười vui, rồi để nhận lỗi và để được tỉnh ngộ và để được tha thứ, bao dung và hòa nhã, có phải đáng được dể thương không quý thầy cô và các bạn. (Trần Văn Mãnh viết lời dẫn).

Từ hai khung cửa sổ…

Trang Lệ Thũy, cô trưởng lớp đáng nhớ của lớp Đệ Tứ Quốc Tế trường Trung Học Hà Tiên

Vâng, câu chuyện được bắt đầu từ hai khung cửa sổ của lớp Đệ Tứ Quốc Tế, trường Trung Học Hà Tiên, năm 1968-1969. Mời các bạn vào thăm lớp chúng tôi và theo dõi xem chuyện gì đã xảy ra nhé!
Lớp học của chúng tôi có vị trí rất tiện lợi là nằm sát bên đường (đường Mạc Tử Hoàng), có thể từ hai khung cửa sổ, nhìn ra những sinh họat bên ngoài: xe cộ, người qua lại…và đặc biệt nhất là lớp của chúng tôi lại đối diện với một lớp học của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp học đó cũng có hai khung cửa sổ.
Một ngày …như mọi ngày, chẳng có chuyện gì vui. Trưởng lớp quậy buâng khuâng nhìn qua cửa sổ và thấy một vị thầy nào đó, đang chăm chú viết bài trên bảng đen. Hiếu kỳ cô hỏi một người bạn cùng lớp: “Không biết thầy ấy tên gì nhỉ?” Thầy tên Minh, người bạn ấy trả lời. Có một người bạn khác chen vào và nói tiếp, ở nhà thầy còn có tên gọi là Mầm.

Thế là cô nghĩ ngay ra một câu ‎chuyện để chọc phá Thầy Minh và kêu gọi các bạn bè nữ cùng tham dự.
Từ khung cửa số thứ nhất cô và một số bạn bè gọi lớn : MINH
Và từ khung cửa sổ thứ hai, các bạn khác gọi lớn : MẦM
Gọi xong, tất cả đều núp xuống dưới cửa sổ để thầy Minh đừng trông thấy mặt.
Thầy Minh chỉ nghe tiếng gọi tên mình và tên ở nhà của mình, inh ỏi… trong lúc mình đang viết bài trên bảng, mà chẳng nhìn thấy ai. Chỉ biết tiếng gọi ấy, phát ra từ một nhóm nữ sinh và từ hai khung cửa sổ đối diện với lớp dạy của mình.
Còn bọn chúng tôi, sau khi gọi xong tên thầy, Minh và Mầm thì cười lăn ra như chưa bao giờ được cười…

Thầy Minh cũng rất nhẫn nại, thầy lại tiếp tục dạy học và viết bài trên bảng, còn bọn chúng tôi “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” vẫn tiếp tục quấy phá, gọi tên thầy.

Cuối giờ, thầy Giám Thị đến lớp chúng tôi và ra lệnh cho những ai “Gọi tên thầy Minh” trong giờ dạy của thầy đến gặp ông ở văn phòng gấp!

“Thôi rồi, tai họa lại đến nữa rồi” Trưởng lớp quậy thở dài não nuột.

Cái ngày “buồn thiu” lại đến rất nhanh, chúng tôi đứng xếp hàng trước lớp học của thầy Minh, đứng đầu cũng là Trưởng lớp quậy: Lệ Thủy rồi Dương Hà , Mai thị Hạt, Thanh Tuyên, Ngọc Lê…dưới sự hướng dẫn của thầy Giám Thị.
Tôi đứng ra đại diện cho các bạn để nói lời xin lỗi với thầy Minh về sự phá phách quá đáng của chúng tôi và kính xin thầy tha lỗi.

Thầy Minh vui vẽ nhận lời và hy vọng từ nay các cô để cho tôi được bình yên.

Tấm lòng vị tha của thầy đã để lại trong lòng tôi sự yêu kính bao la, cũng như niềm hối hận vô bờ.
Từ hôm đó, hai khung cửa sổ đã khép lại, cũng như tiếng gọi tên thầy Minh cũng vĩnh viễn không còn.

Chúng tôi đã trở lại lớp học với một tinh thần mới: “bao dung và hòa nhã”.

Nhưng cho đến bao giờ “học trò mới ngừng phá phách..” để có thể mang lại sự bình thản và thoải mái cho các thầy, cô đây? Vì phá phách đã hòa trong máu của những ai là học trò rồi, chỉ là sự phá phách đó …đôi lúc cũng dễ thương và đáng được tha thứ! Thưa với các thầy, cô.

Trang Lệ Thủy

Tháng hai, 2018

Cô Tiền Ngọc Thanh và Trang Lệ Thủy trong một buổi họp mặt ở Trung Tâm Việt Ngữ nam Californie (2018)

Hình ảnh: Trang Lệ Thủy, Cô Tiền Ngọc Thanh

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Đệ Tứ Quốc Tế (Trang Lệ Thủy)

Thầy cô và các bạn thân mến,…nói đến mấy từ « Đệ Tứ Quốc Tế » ta thường nghĩ đến các hình thức đấu tranh, đảng phái, lãnh đạo, đấu tranh bạo động, đấu tranh không bạo động,….đình công,..v…v…Thật đúng vậy khi đọc xong qua bài viết về chủ đề nầy chúng ta thấy trong đó có áp dụng hai từ: « đấu tranh không bạo động » và « đình công ». Phải công nhận là chúng ta phải ngả nón chào tính lãnh đạo của tác giả bài viết,…chỉ là thời học lớp Đệ Tứ mà bạn Trang Lệ Thủy đã tỏ ra có đủ khả năng của một nhà lãnh đạo , có tổ chức và có đường lối hoạt động…Trong « thời bình » thì nhà lãnh đạo của chúng ta hàng ngày lên văn phòng lấy sổ sách, phấn trắng cho thầy cô, đến khi « thời chiến » thì lại giữ đúng vai trò lãnh đạo cuộc chiến, tuy là không bạo động nhưng cũng không kém phần quyết tâm và chủ lực…Nói vậy cho vui chứ nhà lãnh đạo của chúng ta cũng biết suy luận và hướng dẩn cả nhóm đi đúng con đường phải làm của mọi người học sinh: đó là trở lại lớp học, cố gắng làm bài vở, nghe lời thầy cô giảng dạy, tôn trọng và yêu kính quý thầy cô. Đọc đến đoạn cuối của bài viết mình cảm thấy rất vui và rất cảm phục các thành viên của tổ chức « Đệ Tứ Quốc Tế » thời đó,…biết đâu là con đường đúng, đâu là lẻ phải…

Quả thật Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » là một diễn đàn, một khung trời xa xưa để thầy cô và các bạn trở lại khung trời thân yêu ngày xưa, người thì để nhớ và nuối tiếc, người thì để tự thú một chút lỗi lầm nào đó rất đáng tha thứ của thời học sinh còn non dại,..và cũng trong diễn đàn nầy kính gởi đến quý thầy cô một lời xin lỗi dù cho đó là « lời xin lỗi muộn màng » nhiều khi đã quá trể, nhưng cũng như người ta thường nói, trong đời sống ai là người không phạm lỗi lầm và chỉ có những người thông minh cao tài mới không tái phạm lại những lỗi lầm đó một lần thứ hai…Mình chắc chắn rằng nhà lãnh đạo « Đệ Tứ Quốc Tế » Trang Lệ Thủy và tất cả các thành viên của lớp Đệ Tứ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên nầy đều là những người đầy thông minh, học rộng tài cao nên sẽ không bao giờ có một lỗi lầm thứ hai trong quảng đời học sinh nầy….(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Trang Lệ Thủy (Trưởng lớp « quậy »)

« Đệ Tứ Quốc Tế

Vì sao lớp của chúng ta có cái tên thật ‘lừng lẩy”như vậy: Đệ Tứ Quốc Tế.
Xin mời các bạn và tôi cùng trở về lớp học Đệ Tứ của trường Trung Học Hà Tiên, khoảng năm 1968-1969.
Lúc ấy tôi nhớ có rất nhiều thầy, cô trẻ đến trường chúng ta để giảng dạy. Một trong các thầy là “nạn nhân” của Đệ Tứ Quốc Tế, cho đến bây giờ mỗi lần nhớ đến, tôi vẫn thấy hối hận vô cùng và thấy thương thầy vô hạn. Nhưng… đã trễ tràng rồi.

Ví như tôi đổi được thời gian
Trở lại trường xưa buổi muộn màng
Nhặt chiếc lá rơi, lòng viết vội
Nghìn lời xin lỗi gởi thầy tôi!

Tôi muốn nói tới thầy Nguyễn Văn Út.
Nghe nói thầy quê ở Bến Tre? Thầy chỉ đến dạy lớp chúng tôi chừng vài hôm thôi, là tai họa đã xảy ra cho thầy rồi, và người gây ra tai họa đó chẳng ai khác hơn là Trưởng lớp quậy Trang Lệ Thủy. Tôi còn nhớ, hôm đó thầy đang thao thao bất tuỵệt giảng bài , thì bắt gặp bạn Mai Thị Hạt, có tên là Gái Hạt, đang cười vang dội cả một góc trời. Thầy kêu Hạt đứng lên và hỏi xem chuyện gì. Bạn Hạt thay vì trả lời thầy thì lại cười, lần này tiếng cười của Hạt lại rung rinh cả lớp học. Thầy giận quá và không giữ được bình tỉnh nữa rồi, thầy nói nhưng vẫn không ra được tròn câu:  “Con gái gì mà…”
Chỉ ngần đó thôi, mà cả nhóm quậy bàn ra tán vào. Nào là, tại sao thầy lại nói Gái Hạt là “con gái này, con gái nọ chứ? Nào là, thầy là phái nam mà, sao không lịch sự với học trò nữ chút nào? Nào là, cho dù Gái Hạt có lỗi cũng đâu đến nổi phải nói là “Con gái này…” không biết thầy muốn nói cái gì?

Một phần của lớp học Đệ Tứ Quốc Tế niên khóa 1968 – 1969 Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. tác giả Trang Lệ Thủy đứng thứ hai bên phải đếm qua.

Thầy Nguyễn Văn Út trong thời gian 60-70 dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (hình đi chơi bãi Mũi Nai cùng với lớp học Trần Văn Mãnh)

“NGHỈ HỌC giờ thầy Út.”

Đó là lời tuyên bố “cương quyết” của Trưởng lớp quậy và được cả lớp ủng hộ rất nồng nhiệt. Thế là cứ ngày nào tới giờ thầy Út, là cả lớp lo thu xếp tập vở, “cúp cua”, đi lang thang tản bộ hoặc lên núi “cầu cơ”…nhất định không thèm vào lớp. Thầy Giám Thị, Hứa Văn Vàng nổi tiếng là “ kỷ luật sắc” lúc bấy giờ cũng bó tay với chúng tôi. Không lẻ thầy đuổi hết cả lớp. Còn kẻ chủ mưu thầy cũng không sao ngờ được, lại là cô học trò mảnh khảnh, với mái tóc dài ngoan ngoan, có giọng nói mềm mỏng và cũng là Trưởng lớp của lớp “Đệ Tứ”, hàng ngày cô tới văn phòng, lấy sổ sách, phấn…cho thầy cô. Cô còn có thành tích học hành và hạnh kiểm tốt nữa, thì làm sao là cô được!

Ừ, làm sao là cô được!

Cuối cùng thầy Giám Thị phải giải quyết câu chuyện “cúp cua” dài hạn của lớp chúng tôi bằng cách trình bày sự việc này lên ông Quận Trưởng Hà Tiên.
Một ngày thật đẹp trời, thầy Giám Thị gặp chúng tôi ở lớp và chuyển lời mời đặc biệt của ông Quận Trưởng Hà Tiên đồng thời thông báo về ngày, giờ để chúng tôi đến gặp ông Quận Trưởng ở văn phòng của ông ấy.

“Ối giời ơi! Làm sao bây giờ đây?” Cả lớp lo sợ, nhốn nháo không biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Trưởng lớp quậy cố gắng an ủi các bạn, mặc dù trong bụng cũng đánh lô tô: “Thì có gì đâu, bớt quá chúng ta bị đuổi học mấy ngày, bị ba má la rầy thôi…”
Vậy rồi cái ngày “âm u” đó cũng tới. Cả lớp chúng tôi xếp hàng trong văn phòng ông Quận Trưởng, hồi hộp, im lặng và chờ đợi.
Ông Quận Trưởng xuất hiện với nụ cười trên môi, rất bình dị, thân mật. Thay vì giận dữ, quát tháo chúng tôi. Ông ôn tồn nhìn từng đứa một, rồi bảo chúng tôi phải có gắng học hành, phải biết tôn trọng, yêu kính thầy cô và cố tránh đi những việc phá phách, gây rối trong trường, lớp.
Cả lớp hứa sẽ vâng lời ông và ra về rất vui vẽ. Thế là thoát nạn!
Gánh nặng nghìn cân trên người mỗi chúng tôi đã trút đi đâu mất rồi?

“TRỞ LẠI học giờ thầy Út.”

Lời tuyên bố thứ hai đầy “hân hoan” của Trưởng lớp quậy, Trang Lệ Thủy đã khép lại câu chuyện Đệ Tứ Quốc Tế. Nhưng tình bạn ngây ngô, phá phách của Đệ Tứ với một thời áo trắng tinh khôi mãi mãi còn trong tôi, cũng như niềm hối hận vì làm cho thầy buồn, cũng còn trong tôi mãi mãi.
Lời cuối của Đệ Tứ Quốc Tế xin dành riêng cho thầy kính yêu : Nguyễn Văn Út:

“Thầy ơi! Xin tha lỗi cho các em, nha thầy!”

Trang Lệ Thủy (Tháng hai, 2018)

 

 

 

 

Hình ảnh: Trang Lệ Thủy, Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Hoàn