Trang giới thiệu

Mis en avant

Đây là một nơi dành cho Thầy, Cô và các bạn đã một thời trải qua dưới mái trường Trung Học Công Lập Hà Tiên,….Xin mời Thầy Cô và các bạn có mặt vào những năm 60′ hoặc 70′ (ngay cả những năm 80′, 90′) tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên góp hình ảnh, thông tin hiện tại vào trang nhà của chúng ta nhé, như thế chúng ta có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời mà chúng ta đã có một thời sống rất trọn vẹn….

Vẫn biết rằng sống là phải vượt qua mọi trở ngại, cố gắng tiếp tục đi tới, nhìn về tương lai và có một tinh thần tích cực phục vụ đời sồng hiện tại, nhưng chúng ta vẫn không thể quên dĩ vảng, không thể quên Thầy, Cô, bạn bè, trường, lớp,….Vậy các bạn cứ sồng trọn vẹn cho hiện tại nhưng thỉnh thoảng xin cho một vài phút giây trở về quá khứ, nhớ về trường xưa, Thầy, Cô, bạn cũ, đó là mục đich của trang nhà của chúng ta ở đây,…

Paris, ngày chúa nhật 04/10/2015

Trần Văn Mãnh  (Patrice Tran)

Trần Văn Mãnh

Créez votre badge

(Mọi liên lạc xin viết mail về địa chỉ: tranvanmanh18@yahoo.fr)

 Tan_Truong_VeNha

Tan trường về nhà trên đường Mạc Công Du (đường hàng dương)

NguyetHong_NgocMinh_HoangPhuong

Nữ sinh trước cữa lớp học, từ trái qua phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng

Thầy Cô và các bạn thân mến, sáng nay trên xe lữa trên đường đi làm, xem lại những hình ảnh xưa trên Blog THHTX, lòng bổng thấy dạt dào kỹ niệm và buồn da diết, lòng nữa vui nữa buồn, vui vì ngày nay mình lại có dịp nhìn lại hình ảnh bạn cũ trường xưa, với Thầy Cô …Tuy nhiên trong lòng cũng không ngăn được tình cãm nhớ Trường lớp ngày xưa,…Có một cái gì đó tràn ngập trong tâm hồn mình, cãm hứng dâng lên dạt dào, nên phóng tác ra vài câu thơ trên toa xe lữa,…lòng thì buồn và « Mắt anh mờ vì nước hay mưa Hà Tiên ??.. » Mời Thầy Cô và các bạn đọc qua nhé..

Người còn kẻ mất kẻ đi xa
Xem Blog Hà Tiên bổng nhớ nhà
FaceBook ngày lên đêm lại lướt
Thầy Cô bạn hữu mãi không xa

Trường xưa bạn cũ ôi thương quá
Áo trắng ngây thơ bổng mắt nhòa
Mái cũ tường rêu theo năm tháng
Dáng em trước lớp tháng năm qua

Dăm đứa bạn xưa hình còn đó
Ảnh mờ ký ức bận lòng lo
Ai còn ai mất cho tin nhắn
Về khung trời cũ chớ đắn đo

Paris 09/10/2015

Tên gọi năm lớp bậc Tiểu Học
trước 1971       sau 1971
Lớp năm           Lớp một
Lớp tư              Lớp hai
Lớp ba              Lớp ba
Lớp nhì             Lớp tư
Lớp nhất           Lớp năm
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhất cấp
Lớp đệ thất      Lớp sáu
Lớp đệ lục       Lớp bảy
Lớp đệ ngũ      Lớp tám
Lớp đệ tứ         Lớp chín
Tên các lớp bậc Trung Học đệ nhị cấp
Lớp đệ tam      Lớp mười
Lớp đệ nhị       Lớp mười một
Lớp đệ nhất     Lớp mười hai

Thầy Lư Khê – Trương Văn Em

Thầy cô và các bạn thân mến, tiếp tục giới thiệu và tưởng nhớ quý thầy cô đã từng giảng dạy trong các trường Trung và Tiểu học Hà Tiên, hoặc quý thầy cô người gốc Hà Tiên đã từng làm rạng danh của miền đất Hà tuy xa xôi với thành đô nhưng là một vùng đất xanh tươi, nơi phát sanh rất nhiều nhân tài trong ngành giáo, thơ văn…..Thầy Trương Minh Đạt có viết rất nhiều bài nói về lịch sử đất Hà Tiên và gia đình họ Mạc..Trong một quyển sách về nghiên cứu Hà Tiên mà mình đã đọc qua rất nhiều lần, thầy Trương Minh Đạt có đăng một bài viết khi thầy trình bày ở Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn (Thành Phố HCM) ngày 26/05/2006, bài viết nhắc lại thân thế và sự nghiệp của người anh cả trong gia đình họ Trương của thầy, đó là nhà giáo, nhà văn, nhà thơ và nhất là một nhà báo rất tận tâm nghề nghiệp, đó là thầy Trương Văn Em, có hiệu là Lư Khê. Tuy hiện diện trong một cuộc đời khá ngắn ngủi (1916-1950), thầy Trương Văn Em đã để lại một sự nghiệp văn chương, thơ phú và báo chí rất nhiều tác phẩm và gương sáng của một người trí thức có lòng yêu nước và yêu nghề. Trong bài viết hôm nay xin được nhắc lại quá trình của người học sinh tuy có nhiều khó khăn từ thưở nhỏ, nhưng rất thành công trên con đường học hành vì chính thầy Trương Văn Em là người đầu tiên của đất Hà Tiên thi đậu bằng Thành Chung (có thể xem như học xong hai bậc Tiểu Học và Trung Học của chương trình Pháp thời xưa). Sau đó thầy trở thành nhà giáo, nhà văn, nhà thơ và nhà báo hoạt động ở Sài Gòn. Mời quý thầy cô và các bạn đọc bài với nhiều chi tiết về cuộc đời thầy Trương Văn Em rất hay..  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 26/12/2020)

Thầy Trương Văn Em (tác giả Trương Minh Đạt)           

              Chân dung thầy Lư Khê – Trương Văn Em (1916 – 1950). Hình: TMĐ         

Trương Văn Em tự Lư Khê, sinh năm 1916, biệt danh Trương Tuấn Cảnh, là nhà giáo, nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Người xóm Rạch Vược, xã Thuận Yên tỉnh Hà Tiên, ông mượn tên quê hương mình làm bút danh. Ông là chồng của nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm, tự là Manh Manh*.          

Lư Khê tham gia đóng góp nhiều cho nền văn học quê hương Hà Tiên và đất nước Việt Nam. Ông bị ám sát năm 1950, trong khi nhiều công trình còn dang dở chưa kịp thực hiện.

Ông là người Hà Tiên đầu tiên đỗ bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieuses de l’Indochine) ở Cần Thơ năm 1928. Thời đó, học sinh tiểu học các tỉnh miền tây Nam Kỳ phải thi vào trường Trung Học Cần thơ, sau khi học hết cấp ở tỉnh nhà. Chương trình học dùng chữ Pháp là chính. Ông giỏi cả Việt văn lẫn Pháp văn. Lư Khê xuất thân là nhà giáo nghèo, dạy Việt văn tại các trường Huỳnh Khương Ninh và Đồng Nai.

Về văn học, Lư Khê sáng tác khá nhiều, nhất là thơ. Thơ ông rất trữ tình, thường xuyên đăng ở các báo Thế giới Tân văn (1936), Nữ Lưu tuần báo (1936), Văn Nghệ (1937), Tự do (1938), Nay (1940), Gió Mùa (1941), Đông Tây (1942)…Tập tùy bút Phút thoát trần được in năm 1942 do nhà xuất bản LUK phát hành. Riêng tập bản thảo Nhạc đêm ông định xuất bản, nhưng chưa kịp.

Về thơ chữ Pháp, Lư Khê đoạt giải cuộc thi “Tournoi des Jeux Floreaux de Nice” của Pháp, năm 1938. Ông cũng định xuất bản tập “Au fil de l’heure” (Theo bước giờ đi), nhưng còn dang dở. Ông cũng viết tản văn, truyện ngắn hay tùy bút tựa La Douleur Secrète (Nỗi đau thầm kín), sách đã in và phát hành năm 1940. Lư Khê nổi danh nhà báo. Từ 1935, ông viết cho báo SỐNG của Đông Hồ và Trúc Hà. Cùng với Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà, Lư Khê được văn giới gọi là Hà Tiên tứ tuyệt. Sống là tờ báo văn học Việt ngữ đầu tiên ở Nam kỳ, chú trọng nhiều đến chánh tả, nhất là dấu hỏi, dấu ngã. Khi báo SỐNG đình bản, Lư Khê tiếp tục viết cho Thế Giới Tân Văn, Nữ lưu, Văn Nghệ, Tự Do v.v… 

Đầu năm 1950, Lư Khê được hảng hàng không Air France của Pháp mời dự lễ khánh thành đường bay Paris – Sài Gòn tại thủ đô nước Pháp. Nhân dịp này, ông đặt in một bức ảnh màu bằng kỷ thuật offset, trong khi các báo khác tại Sài Gòn chỉ in typo như xưa. Cơ sở in là Imprimeries George Lang ở Paris, thuộc loại tiên tiến nhất của Pháp. Bức hình màu, cở thật lớn, vẽ cô thiếu nữ tuyệt đẹp. Ấy là một cô gái thôn quê miền Nam tay ôm chiếc nón lá, vừa xinh lại vừa ngây thơ. Tác phẩm được ông Lư Khê thương lượng mua của tác giả họa sĩ Lê Trung, một họa sĩ thời thượng trong làng báo Sài Gòn lúc ấy. Nhờ có sáng kiến độc đáo của Lư Khê, bức ảnh màu được in riêng, dán hờ trên bìa báo, một cách gợi ý độc giả có thể tháo rời ảnh để lộng khung, treo làm cảnh trong nhà, hoặc dùng như tác phẩm nghệ thuật hội họa hiếm có. Nhờ vậy, báo Ánh Sáng Xuân năm đó bán thật chạy. Nhưng rất tiếc, ông chưa kịp nhìn thấy đứa con tinh thần của mình thì đã sớm lìa đời…

Một trong những bức tranh với người mẫu cô gái thôn quê của họa sĩ Lê Trung. Hình sưu tầm

Có một câu chuyện về ông được người dân vùng Rạch Vược thường kể cho nhau nghe: Ngày nọ, ông vác chài đi chài cá ở Mũi Gành (Rạch Vược). Ông ở trần, đội nón lá và đi chân trần như người dân chài miền quê. Cạnh mé biển là đường xe hơi chạy. Có chiếc xe Traction đen của một viên quan người Pháp vừa bị chết máy đậu trên đường. Chủ xe ngồi trong xe, tài xế loay hoay quay cho máy chạy. Anh tài xế áo ướt đẩm mồ hôi mà động cơ không nổ. Ý chừng chủ xe muốn kêu người đẩy giúp. Khi ông Lư Khê vác chài qua chỗ xe hư, vẫn thản nhiên đi luôn. Viên quan người Pháp bước xuống xe với kêu:

  • Eh!…Eh!…

Ông không trả lời, cứ lầm lũi đi. Hắn lớn tiếng gọi thêm:

  • Eh!…Eh!…Cooli! ( Ê, ê, tên phu!…)

Ông nổi dóa, quay trở lại, xổ một tràng tiếng Pháp, nói với hắn là hắn phải lễ độ. Hắn không có quyền kêu người Viẹt Nam là Ê!…Cu li!…Không ai là cu li của hắn.

Lúc ấy, dân địa phương bu quanh chiếc xe để xem ông Lư Khê lớn tiếng tay đôi với tên người Pháp. Họ chưa bao giờ nhìn thấy một người dân Rạch Vược nói rành tiếng Pháp, đang sừng sộ cãi vã với người Pháp. Họ không hiểu chuyện gì, nhưng khi nghe ông dịch lại nội dung, mọi người hào hứng khoái trá. Thuật xong ông bỏ đi, mọi người cũng bỏ đi theo. Không ai tiếp đẩy xe cho tên Pháp. Lần đó ông gieo trong lòng nhân dân Rạch Vược một sự ngưỡng mộ và thích thú. Về sau, chuyện nầy trở thành giai thoại thường được người trong xóm kể lại khi nhắc đến ông Lư Khê.

Chú thích: * Nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm, tự là Manh Manh  được mệnh danh nữ tiên phuông phong trào thơ mới (1932-1935). Bà là con của ông Nguyễn Đình Trị có thời làm tri huyện Hà Tiên ( khoảng sau năm 1921).

                                                                                      Hà Tiên, lập đông 2020

                                                                                                   TMĐ

Nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm, tự là Manh Manh (2014 – 2005). Hình: TMĐ

Hình trong bưu ảnh của người Pháp sản xuất ngày xưa: Cầu Rạch Vược, Thuận Yên, Hà Tiên. Cầu nầy ngày nay không còn nữa, ngay cả cái rạch nầy cũng biến mất rồi. Hình sưu tầm.

Thầy Dương Tài Khôi (Oanh Hdh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngược dòng thời gian về những năm 50-60 ở vùng đất Hà Tiên, một khoảng thời gian mà ngay cả thế hệ học sinh như mình cũng không biết được nhiều về những bậc thầy cô, tiền bối trong ngành Giáo Dục. Hôm nay duyên cơ được đến, có một người quen tuy chỉ quen biết qua trao đổi thông tin trên mạng, nhưng cuối cùng rồi thì hóa ra cũng là người đồng hương. Một cô gái trong gia đình có giới thiệu đến với mình một bài viết ngắn, nói về sự nghiệp thân thế của một vị thầy ở Hà Tiên ngày xưa, vị thầy đã từng cống hiến rất nhiều trong công việc Giáo Dục, mở đường mở lối, đem ánh sáng của chữ nghĩa đến tận những vùng còn xa xôi, thiếu phương tiện vật chất,…nhằm giảng dạy con em những gia đình nghèo khó, không có điều kiện ra đến tận chợ thành Hà Tiên để theo học. Xin giới thiệu vị thầy tên là Dương Tài Khôi, bản thân mình lại rất tiếc là không được dịp hân hạnh biết đến thầy vì sau khi phục vụ một thời gian ngắn ở Hà Tiên, thầy chuyển tiếp đến những nơi khác trong tỉnh để tiếp tục sứ mạng giáo dục. Mời thầy cô và các bạn đọc bài viết của tác giả Oanh Hdh viết về « Thầy Dương Tài Khôi ». (TVM viết lời giới thiệu, Paris ngày 16/12/2020)

Thầy Dương Tài Khôi (Oanh Hdh)

Phía đường ra bãi Mũi Nai, chúng ta ai cũng từng biết và đến chơi một bãi biển nhỏ, kín và rất xinh đẹp, an lành, đó là vùng có tên là Xóm Nò vì là nơi người Việt cư trú rất xa xưa, chuyên nghề làm « Nò » bắt cá…, trước năm 1975 nơi đây có một đơn vị Ấp tên là Ấp Việt Nam., ta thường gọi theo tên quen thuộc là Bãi Nò, vừa để chỉ bãi biển nơi người ta ra bãi hứng gió, vừa chỉ chung vùng nầy. Vào năm 1955, trên một cái trại nò cũ đã bỏ hoang nhiều năm, các phụ huynh học sinh quanh đó và quý thầy giáo cùng hợp nhau ra sức, mỗi người góp một tay: người khiêng ván, người đóng bàn, người dựng cột, lợp mái…Cuối cùng một lớp học được ra đời, tuy đơn sơ mái lá, nhưng được cái mát mẻ, khang trang và nhất là được sự tiếp nhận trong lòng hân hoan của mọi người. Đó là lúc đánh dấu cho một sự việc quan trọng: con chữ đã được đến với các em nhỏ của làng chài xa xôi, hẻo lánh nầy …Và rồi đến giờ mở lớp học, tiếng giảng bài của ngày đầu tiên vang xa, đó là tiếng của thầy Dương Tài Khôi, hòa lẫn với tiếng phụ họa đọc bài của các em nhỏ học sinh, một bầu không khí đầy sức sống, ấm cúng tình thầy trò lại còn được điểm thêm những tiếng cười giòn tan sau giờ tan học…

Trong thời gian đầu thầy giáo chưa nhận được lương bổng gì cả, phụ huynh vui vẻ ủng hộ, người giúp gạo, người mang đến con cá mới chài buổi sáng còn tươi rói để biếu thầy, đó là niềm vui và niềm khích lệ cho người giáo viên dạy nơi xa…

Bức chân dung xưa thầy Dương Tài Khôi. (Hình: Oanh Hdh)

Công việc được một năm, học sinh được ăn học ổn định, qua năm sau, thầy Dương Tài Khôi chuyển về ngôi trường Thánh Thất Cao Đài Tô Châu để dạy học. Đến năm 1957, thầy được chuyển về dạy học ở Dương Hòa để gần gủi với gia đình vì thầy vốn người ở Hòn Heo (Dương Hòa là đơn vị xã thuộc huyện Kiên Lương, và Bãi Ớt, Chà Và, Hòn Heo, Mũi Dừa, Ngã Tư, Tà Xăng là đơn vị ấp thuộc xã Dương Hòa). Khi về dạy ở Dương Hòa, thầy Dương Tài Khôi được cử làm Hiệu Trưởng trường. Nhận chức vụ mới là thêm trách nhiệm nặng nề thêm…, thầy thấy là trường thì đã có, nhưng lớp học thì lại còn thiếu nên xin xây dựng thêm phòng học để mở thêm lớp. học sinh được tiếp nhận ngày càng đông, có khoãng 400 em. Ngoài ra thầy cũng xin mở thêm trường ở ấp Cầu Thăng (có sách viết Cần Thăng, hiên nay tên là Tà Xăng), trường nầy tiếp nhận được cở 100 học sinh đến học.

Đến năm 1961 một bước ngoặc mới lại đến với thầy. Thầy nhận quyết định về quận Kiên Tân (tên trước đó và sau nầy là Tân Hiệp, thuộc tỉnh Kiên Giang). Lần này thầy đưa cả gia đình theo. Trường Tiểu Học Kiên Tân khá khang trang đầy đủ vật chất, về trường thầy không còn phải vất vả, lo toan nữa. Thầy phụ trách đứng lớp chuyên về lớp một. Mỗi năm học sinh của thầy đông nhất khối. Bạn bè đồng nghiệp được thầy truyền trao kinh nghiệm giảng dạy. Học trò được thầy tận tình chỉ dạy.

Thầy Dương Tài Khôi. (Hình: Oanh Hdh)

Những tưởng thầy sẽ an vui với công việc, hạnh phúc với gia đình. Nào ngờ một căn bệnh hiểm nghèo đã đến với thầy và thầy đã vĩnh viễn ra đi mãi mãi xa rời bạn bè đồng nghiệp học sinh và xa vợ xa con của mình. Tâm nguyện cuối đời của thầy là được đưa về quê hương (Dương Hoà, Hà Tiên) và tâm nguyện thứ hai nữa là các con của thầy phải tiếp bước con đường mà thầy còn bỏ dở. Lúc bấy giờ thầy có hai cô con gái cũng đang dạy ở quận Kiên Tân.

Để thực hiện tâm nguyện của thầy, cô Dương Mỹ Ái đã xin chuyển dạy ở trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1972. Lúc đó, thầy Lê Quang Thuyên làm hiệu trưởng và những năm sau là thầy Trương Thanh Hùng làm hiệu trưởng. Đến năm 1978, do chiến tranh biên giới bùng nổ, cô Dương Mỹ Ái chuyển về dạy trường Tiểu Học Dương Hoà. Sau năm 1975, hai người em cô cũng về dạy học ở đây. Lúc đó, với đồng lương trong nghề ít ỏi, một số giáo viên phải bỏ nghề, nhưng với tâm nguyện của người cha, các cô đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để bước tiếp hết quãng đường mà cha mình đã bỏ dở.

Hai người con gái của thầy Dương Tài Khôi là cô Dương Mỹ Diễm (đứng bìa trái mặc áo dài xanh dương) và cô Dương Mỹ Duyên (đứng bìa phải mặc áo dài trắng cầm bó bông) nhận huy chương « Vì Sự Nghiệp Giáo Dục » nhân ngày nhà giáo năm 2004. Ngoài ra cô giáo mặc âu phục đứng thứ nhì từ trái qua phải cũng là con gái của thầy Dương Tài Khôi, cô tên là Dương Mỹ Ái. (Hình Oanh Hdh)

Trên đây là vài hàng nhắc lại thân thế, hoàn cảnh gia đình của thầy Dương Tài Khôi, xin gửi đến trang Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để nói về những người giáo viên thầm lặng đem con chữ đến với học sinh nơi vùng xa xôi hẻo lánh.

TB: Dạy cùng thời với thầy Dương Tài Khôi là quý thầy: là thầy Lê Quang Phấn, thầy Hứa Văn Vàng, thầy Thành, thầy Trương Tự Phát, thầy Lâm Văn Núi, cô Lý Thị Nhan….v…v….

Tác giả bài viết: Oanh Hdh

Hình chụp toàn thể giáo viên hai quận Hà Tiên và Kiên Lương ngày 02/02/1963. (Hình Oanh Hdh)

Viết về một người bạn cùng lớp: Nguyễn Phước Lộc (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm bạn Lê Phước Dương có viết một bài viết ngắn về một người bạn cùng lớp tên Nguyễn Phước Lộc đăng trên một trong những trang fb cá nhân cũ của bạn Dương. Thời đó mình có để ý đến bài nầy vì mình thường khuyến khích các cây bút của « Trung Học Hà Tiên Xưa » viết bài giới thiệu về bạn học cùng lớp. Tuy nhiên mình cũng có đề nghị với tác giả (LPD) là chờ xem nếu có hình xưa thời đi học của Nguyễn Phước Lộc sẽ đăng bài luôn một lúc. Thời gian trôi qua, vì không thể có được hình xưa của Lộc (hình xưa đã thất lạc mất hết cả) nên bài cũng còn nằm chờ đó,…Cuối cùng thì tin buồn lại đến, bạn Nguyễn Phước Lộc đã ra đi vì sức khỏe yếu kém dần và cũng vì cơn tai biến…Khi nhìn hình bạn Lộc trên bảng cáo phó thì mình nhận ra là mình có biết Lộc thời xưa, tuy không đi chơi chung nhóm nhưng đa số các bạn học nam nữ cùng lớp với Lê Phước Dương thì mình biết nhiều. Dĩ nhiên là những chi tiết về cuộc đời của bạn Nguyễn Phước Lộc mình không biết rỏ hết, qua bài viết năm xưa của Dương và vài thông tin về sự ra đi của Lộc, mình tổng hợp lại thành bài viết hôm nay, với mục đích giới thiệu Nguyễn Phước Lộc, một người bạn cùng lớp với tác giả bài viết và cũng là một người bạn cùng trường với mình. Tuy bài viết ra mắt thầy cô và các bạn vào thời điểm bạn Lộc đã ra đi, đã muộn màng, nhưng tuy muộn trể cũng còn hơn là không có gì hết…Vậy qua bài viết nầy xin dành vài giây phút đọc bài để tưởng nhớ đến một người bạn học, Nguyễn Phước Lộc, tuy đã rời xa chúng ta vĩnh viễn, nhưng mong rằng hình ảnh và những câu chuyện vui buồn trong cuộc đời Nguyễn Phước Lộc vẫn còn mãi với chúng ta, để không quên những khuôn mặt đã một thời vui chơi cùng chúng ta dưới mái trường Trung Học Hà Tiên xưa, thay mặt Blog THHTX, xin cám ơn tác giả Lê Phước Dương, đã đem đến cho chúng ta một vài nét có buồn có vui khi đọc bài viết. (Paris, ngày 12/12/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Viết về một người bạn cùng lớp: Nguyễn Phước Lộc (biệt danh « Xí Ngầu »)

Nguyễn Phước Lộc sanh năm 1952, thuở nhỏ ở Rạch Giá, nhà có bàn Bi-da, học rất giỏi, năm 1966 về Hà Tiên thi lên Đệ thất trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, đậu hạng nhất, được học bỗng một năm 1.800 đồng vì là học sinh giỏi và đạo đức tốt.
Lộc có rất nhiều tài: làm thơ, ca hát, tuy nhiên có học là ngày càng yếu dần vì ở xa cha mẹ, không ai rầy la, bắt đầu lêu lỏng, chơi nhiều hơn học, vào lớp thì hay phá thầy cô…Trong giờ Văn của cô Hà Thị Hồng Loan, vì hay phá cô trong lúc cô giảng bài nên cô thường « nhéo » tai Lộc và bảo Lộc ra ngoài chơi hết giờ cô dạy thì trở lại vào lớp…

Khoãng giữa năm Đệ Thất môt hôm vào giờ thầy Nguyễn Tấn Ngoan, khi thầy vừa bước vào cửa, trưởng lớp hô nghiêm, tất cả học sinh trong lớp đứng cả dậy. Thầy bước vào lớp và lên tiếng:

     – Các em ngồi xuống.

Lê Phước Dương (tác giả bài viết) lấy cái gối nhỏ lau bảng không biết ai để trong học tủ lót vào ngay chỗ ngồi của Lộc, Lộc ngồi lên nghe một cái xẹp phấn bay mịt mù. Có lẽ là giận lắm nên Lộc la to và đồng thời chụp cái gối quăng đi…nhưng rủi sao nó lại nhè bên mặt của thầy Ngoan mà đập vào…phấn bay mù mịt. Hơi giận, thầy nhìn xuống lớp quát lớn:

     – Em nào quăng gối trúng thầy, ra nhận đi?

Lộc run run đưa tay lên:

     – Thưa thầy em ạ, mà em không cố ý thầy ơi.

Thầy hỏi:

   – Em tên gì?

  – Dạ Nguyễn Phước Lộc.

Thầy lật sổ tìm tên và rút cây bút đỏ trên túi ra và dù cố ý hay không thầy cũng cho một cặp zero về điểm hạnh kiểm…Lộc nhăn nhó và buồn…: »Tại mầy đó Dương ơi! »….. »Tao xin lỗi mầy Lộc ơi…tao vô tình giởn thôi… »

 ….Và thế là năm đó Lộc cũng như mình không được lãnh tiền học bỗng vì mất điểm hạnh kiểm.

Năm lớp Đệ Lục, học cùng lớp có Huỳnh Ngọc Sơn si mê Huỳnh Thị Đông mà không dám viết thư tỏ tình, Sơn tâm sự với Lộc và Lộc đã làm (mướn) một bài thơ như sau:

Sơn đi chiều đổ bóng.
Âm thầm gọi tên Đông.
Trông vô cùng lạc lõng.
Ngàn xưa chứa đắng cay.
Sơn xin Đông đừng nói .
Tiếng xa nhau trọn đời .
Trên con đường Lam Sơn .
Với những chiều hai đứa .
Đông còn nhớ không Đông!

Thuở học trò làm đươc một bài thơ như thế này dù nàng chưa đáp lại thì cũng làm nàng phải ngẩn ngơ thôi.

Lộc không có chất giọng trời cho nhưng biết nhạc lý nên hát đúng ton đúng giọng đúng nhịp, thích hát những bài của Duy Khánh hay ca: « Kẻ ở miền xa »;  « Bông cỏ may »; « Sương trắng miền quê ngoại » …v…v… Khi Lộc hát giúp vui trong lớp cũng như khi có đám cưới, đám ma, phong thái rất tự tin và đĩnh đạt.

Đến năm lớp Đệ Tứ vì chơi thân với Đặng Văn Huy, lúc đó Huy si mê và thất tình Dương Hồng Minh cũng là bạn học cùng lớp nên chán học, chán đời nên rũ Lộc đi đăng Lính…và cả hai cùng vào nhà binh. Chưa được tròn năm thì Huy chết trận, Lộc thì may mắn sống sót trở về.

Sau ngày 30/04/1975 Nguyễn Phước Lộc về làm công nhân Công Ty 10 đóng tại Xà Ngách, Ba Hòn, thuộc Kiên Lương, rồi có vợ có con. Sau một thời gian dắt dìu vợ con về sống nghề mua bán trái cây, hớt tóc ở Hà Tiên.

Vì nhiều tài ca hay, đàn giỏi, kể chuyện tiếu lâm có duyên, người nghe cười nghiêng cười ngửa nên có đám ma, đám cưới, đám giỗ, thôi nôi, đầy tháng người ta đều đến rước Lộc « Xí Ngầu ». Được một thời gian sống yên ổn, nhưng cơn tai biến lại chợt đến với Lộc, từ đó Lộc phải ngồi xe lăn và trí nhớ sa sút, bạn bè đến thăm khi nhớ khi quên…Hằng ngày ngồi trên xe lăn ở góc Ao Sen mắt nhìn về chốn xa xăm không biết để tìm kiếm để hoài niệm………. điều gì!

Tái bút: Bài viết để tả chân về người bạn của mình nên dẩu sao cũng có điều thiếu sót mong là Dương Văn Hiến (Hiếu) và Trần Tuấn Kiệt ..v..v….những người bạn chơi thân bỗ sung thêm về các chi tiết về bạn Lộc).

Lê Phước Dương, Hà Tiên 31/01/2016, nhằm ngày 22 tháng Chạp..

Viết bổ túc thêm về Lộc « Xí Ngầu »:

Có lần trên đường chạy xe một mình về nhà gặp Lộc « Xí Ngầu » đang đi xiêu vẹo bên lề đường mình ngừng xe lại và nói:

     – Mầy lên xe đi tao chở về ….

Chắc là say nhưng còn biết nghe nên ngoan ngoãn lên xe và ôm chặt eo ếch mình. Chạy một lúc thì đến nhà…đầu tiên là 2 con chó nhào ra sủa kế đó là có tiếng người đàn bà cằn nhằn…..Nghe vậy nên mình vội vả đưa Lộc vào nhà và quay xe nhanh ra chạy về nhà, lòng cũng hơi ấm ức nhưng nghĩ lại thấy tội nghiệp bạn mình….

Nguyễn Phước Lộc, người bạn học chung lớp với mình ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên, thời gian qua, sức khỏe suy yếu dần và đã từ trần ngày 06/12/2020 nhằm ngày 24 tháng 10 năm Canh Tý. Lễ hỏa táng diễn ra tại chùa Mũi Nai, Hà Tiên ngày 08/12/2020.

Chân dung bạn Nguyễn Phước Lộc. năm 2020 Nguồn: LPD

Cuối cùng rồi thì Lộc cũng đã bỏ vợ con và đám cháu mà đi về cỏi vĩnh hằng. Xin thắp một nén nhang cho Nguyễn Phước Lộc, người bạn học đa tài mà cũng lắm tật.

Lê Phước Dương, Hà Tiên, 08/12/2020

 

 

 

 

Ngôi trường năm ấy (T. Hương)

Thầy cô và các bạn thân mến, bài viết hôm trước đã có nói đến ngôi trường dạy tiếng Hoa tên Trường Tư Thục Sơ Cấp Hữu Đức, ở tại đường Cầu Câu, Hà Tiên. Suốt những năm dài ngôi trường nầy là nơi truyền bá ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa cho con em người gốc Hoa chung quanh khu chợ Hà Tiên…Cho đến những năm chiến tranh biên giới 1977-1978, ngôi trường nầy bị bỏ hoang vì dân chúng Hà Tiên phải đi tản cư, sau đó, từ những năm đầu thập niên 80, người ta dần dà trở về Hà Tiên, chỉnh tu, sửa chữa trường lớp và mọi sinh hoạt giáo dục, xã hội từ từ được thiết lập lại. Những năm cuối thập niên 80, ngôi trường Hữu Đức được đưa vào ngành giáo dục địa phương, được xem như một điểm trường với cấp thứ là trường cấp II, và có nhiều giáo viên được cử đến để giảng dạy. tác giả bài viết hôm nay, cô Nguyễn Thị Thiên Hương là một trong những vị giáo viên đã từng giảng dạy tại ngôi trường nầy… Tuy nhiên, sau cái tên chánh thức là Trường Hữu Đức, người ta không biết một cách chính xác ngôi trường cấp II nầy có tên là gì, chỉ biết là trường cấp II (Bình San?), vì trường tọa lạc ở phường Bình San nên có thể được ghép thêm hai chữ Bình San…? Người Hà Tiên thời đó lại quen gọi đây là trường cấp II « Hoa Liên »…(hai chữ Hoa Liên chỉ là để nhắc nhở đây là ngôi trường ngày xưa thuộc về trường của người Hoa mà thôi). Đúng ra, ở Hà Tiên không có trường nào mang tên « Hoa Liên » cả, chỉ có trường Hữu Đức mà thôi (và đến những năm 80 thì tên gọi trường Hữu Đức với sự giảng dạy bằng tiếng Hoa không còn nữa). Trong niên học 1989-1990, tác giả được cử đến trường cấp II ở điểm đường Cầu Câu, Hà Tiên nầy để phụ trách môn dạy Anh văn. Xin hân hạnh được giới thiệu một cây bút hoàn toàn mới của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta…Khi đọc qua bài viết, thầy cô và các bạn sẽ có thể đoán ra tác giả bài viết là ai, có liên quan gì đến Hà Tiên, và sẽ biết được những nhân vật: chồng, gia đình bên chồng,…v…v…Có rất nhiều những vị trong ngành giáo chức, từ phương xa về Hà Tiên nhận nhiệm sở giảng dạy và cũng theo thời gian, yêu mến đất Hà Tiên, từ đó nhận Hà Tiên là quê hương thứ hai…Câu chuyện trong bài viết không dài, không ngắn, nhưng nói lên được một quãng đời khá dài của một con người, từ lúc đi học, thành tài, ra đời làm việc theo lý tưởng đã chọn, ….Thay mặt Blog, xin cám ơn tác giả và hy vọng rằng sự cộng tác của tác giả sẽ bền vững, lâu dài để chúng ta sẽ còn thưởng thức những bài viết rất hay, kể về kỷ niệm những ngày xa xưa liên quan đến cuộc sống êm đẹp ở vùng đất quê hương của người thân yêu của tác giả…  (Paris; 09/12/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

NGÔI TRƯỜNG NĂM ẤY …(T. Hương)

Vừa nghe tin tôi lấy chồng và rồi về đi dạy học ở Hà Tiên, ai cũng lắc đầu lo ngại, thậm chí mấy cô chú còn trách mẹ tôi « Sao chị để nó đi xa dữ vậy chị Ba? Có chuyện gì biết có gặp được nó không đó … ». Có lẽ mẹ tôi đã quay đi để dấu giọt nước mắt đong đầy sự lo lắng cho tương lai cô con gái út, nhưng tôi luôn biết mẹ tôi tin tưởng tuyệt đối và rất yêu thương người con rể út của mình, cho đến tận giây phút này.

Mọi người lo lắng cũng phải, năm ấy – 1989 – khi lập gia đình và nộp đơn ở Sở giáo dục xin về Hà Tiên dạy tôi còn chưa tròn 22 tuổi. Nhiều người ở lứa tuổi này đã trưởng thành, rất mạnh mẽ trong suy nghĩ và trong cuộc sống. Tôi thì vẫn còn là một con bé gầy gò, yếu đuối thể chất, cuộc sống tinh thần thì chỉ bao gồm việc học và sự quen thuộc con đường từ nhà đến trường rồi ngược lại. Ba tôi là một thiếu tá quân đội của chế độ trước 1975, một luật sư chưa có cơ hội hành nghề và không thích chính trị chút nào nhưng bị tổng động viên nên trở thành sĩ quan quân đội. Ông là người cực kỳ nghiêm nghị và khó tính nên ngồi mãi ở cấp bậc này vì ông không đời nào chấp nhận việc phải ‘’biết điều’’ với cấp trên để thăng tiến. Ông mất rất sớm sau tháng 4/1975. Mẹ tôi là người phụ nữ rất đẹp nhưng quá hiền lành đến mức yếu đuối. Chỉ một, hai tháng sau khi thay đổi chế độ ở Sài gòn bà đã vĩnh viễn mất đi chỗ dựa của cả cuộc đời mình và bắt đầu những chuỗi ngày ngập tràn nước mắt, ngụp lặn trong nỗi vô vọng không biết sẽ làm thế nào một mình nuôi dạy đàn con tám đứa, với đứa nhỏ nhất chỉ vừa hơn bảy tuổi. Nhưng rồi đứa nhỏ ấy (là tôi) cùng với thế hệ của mình cũng lớn dần lên dù trải qua đói nghèo cùng cực, không có cơm ăn áo mặc theo đúng nghĩa đen của thành ngữ này, và nghiệt ngã nhất cho những thanh thiếu niên có cùng hoàn cảnh như tôi vào thời điểm đó là rất khó vào đại học, chứ đừng nói đến học được ngành mình thích. Vì lý do lý lịch cộng với gia đình có xin đi xuất cảnh nên tôi chỉ có thể đăng ký thi vào trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Sài gòn, khoa Anh ngữ.

Tôi tự cho là mình khá may mắn, ít nhất tôi cũng được học chuyên môn theo nguyện vọng vì không biết tự khi nào tôi luôn mang ý nghĩ trong đầu là mình sinh ra để làm cô giáo. Tôi càng may mắn hơn khi có người bạn đời, và trước đó là người yêu là người đầu tiên và duy nhất trong đời. Tôi học được rất nhiều ở anh cả về kiến thức thường thức lẫn những cách cư xử thực tế với những người chung quanh trong cuộc sống hàng ngày;  và « bài học » đầu tiên hết sức ngộ nghĩnh là cái tên « Hà Tiên » và những cái hay, cái đẹp ở xứ sở quê hương của anh. Thật vậy, lần đầu nói chuyện và khi anh trả lời câu hỏi « Nhà anh ở đâu?’’ của tôi, tôi thật sự không biết Hà Tiên là một nơi chốn nào. Thế mà, sáu năm sau đó tôi trở thành vợ anh và là một cô giáo trẻ ở trường cấp II Hà Tiên. Cho đến giờ này thì cái tên Hà Tiên đã là tên gọi của quê hương ruột thịt trong lòng tôi.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thị Thiên Hương lúc đi dạy ở Trường cấp II « Hoa Liên » Hà Tiên (1989): Hình T. Hương

Vì đã từng dạy kèm suốt những năm là sinh viên Sư Phạm cùng với những lần kiến tập, thực tập đạt loại giỏi trong quá trình học nên tôi tiếp nhận các lớp học sinh một cách khá dễ dàng. Hàng ngày tôi đi dạy ở hai điểm trường – các lớp 6 ở điểm trường Ao Sen và các lớp 8 ở điểm trường « Hoa Liên » (thật ra dạo ấy cái tên Hoa Liên không phải là tên chính thức của trường, tôi chỉ gọi theo người Hà Tiên quen gọi vậy thôi, sau này tôi còn biết thêm tên gốc xưa nữa của trường là Hữu Đức).  Không giống như điểm trường Ao Sen khá sơ sài và tạm bợ, điểm trường « Hoa Liên » là dãy lớp học có kiến trúc xưa theo kiểu kiến trúc của Pháp với trần nhà cao lợp ngói âm dương và những cửa sổ lá sách thon dài, sân trường rộng tráng xi măng với cái sân bóng rổ có lẽ duy nhất tại Hà Tiên, hàng rào xây kiên cố nhưng chừa những ô vuông nhỏ để không tạo sự cách biệt quá với bên ngoài, cái cổng chính to hướng ra đường Cầu Câu đoạn đầu gần giáp với đường Mạc Thiên Tích…  Vốn là người hoài cổ nên khi bước vào các lớp học cũ kỹ, tường vôi vàng tróc vữa và có mùi ẩm thấp, tôi chợt có một cảm xúc trân trọng đặc biệt, khó tả với nơi mình bắt đầu công việc của tâm nguyện.

Giáo viên trường cấp II (điểm « Hoa Liên »), Hà Tiên. Từ trái qua phải: Cô Trương Thị Uyên Nguyên, cô Biên ((phu nhân của thầy Hưng dạy Cấp III cùng năm, thầy Hưng còn dạy đến nay tại Trường Trung Học Nguyễn Thần Hiến), cô Nguyễn Thị Thiên Hương (cầm đàn guitare), cô Đinh THị Kim Thoa. 1989. Hình: T. Hương

Cô giáo Nguyễn Thị Thiên Hương, 1989-1990, Hà Tiên. Hình: T. Hương

Nhiều thành viên trong gia đình chồng tôi là thầy cô giáo, kể cả cha mẹ chồng, nhưng không vì thế mà bản thân tôi và mọi người trong nhà muốn mình có được sự ưu ái nào từ ban giám hiệu hay đồng nghiệp của trường tôi dạy. Mẹ chồng tôi là một cô giáo kỳ cựu ở Hà Tiên. Bà có quan điểm và nguyên tắc giáo dục cứng rắn và nhất quán đối với học sinh (trong đó có con cái của mình) tập trung vào cốt lõi: đạo đức con người.  Với bà, cả những lời khen tặng tung hê hay những lời ong tiếng ve về cách dạy học hay trong đời tư cũng không thể lay chuyển sự kiên định của bà trong phương châm giáo dục cả đời của bà. Tôi còn nhớ dạy được chưa hết một học kỳ thì các thầy cô trong tổ chuyên môn có đề đạt với thầy hiệu trưởng Hứa Nhứt Tâm đăng ký cho tôi thi giáo viên dạy giỏi của trường, huyện và sau đó là tỉnh. Về nhà tôi trình bày với mẹ chồng, bà lập tức gạt ngang « Không được! » và yêu cầu tôi hôm sau vào trường từ chối ngay. Thú thật là lúc đó tôi có cảm thấy chút hờn tủi nhưng tôi vẫn hiểu cha mẹ hẳn có lý do riêng từ nhân sinh quan của mình, hẳn là việc « chạy theo thành tích » nằm trong danh sách những điều tối kỵ mà bà không muốn con cái mình phải sa vào. Ba chồng tôi là cũng là người hết sức chỉnh chu, có hôm trời mưa rả rích cả đêm mãi gần đến giờ tôi đạp xe đi dạy vẫn chưa tạnh nên tôi có xin phép ông được mặc đồ ngắn đi dạy thay vì chiếc áo dài thường nhật. Ông trả lời rất nhẹ nhàng dù nét mặt hơi nghiêm « Thôi cố gắng đi con, mặc áo dài đứng lớp chỉnh tề hơn đó con! ». Tôi hiểu ông luôn muốn bản thân và con cái mình khi đã là thầy cô giáo thì luôn là hình tượng mẫu mực trong mắt học trò để thế hệ nối tiếp này sẽ là tương lai tốt đẹp của xã hội, của đất nước.

  Ngôi trường Hữu Đức, Hà Tiên sau khi đổi thành trường cấp II (điểm trường nơi có tác giả bài viết dạy môn Anh văn trong năm học 1989-1990). Sau đó trở thành trường Tiểu Học Bình San, Hà Tiên. Hình: Nguyễn Lệ Thủy

Tôi độ chừng đồng nghiệp của mình từ ban giám hiệu đến các thầy cô cùng hay khác tổ chuyên môn ai cũng biết « danh tiếng » của gia đình chồng tôi, nhưng tuyệt nhiên không một người nào có chút dè dặt hay xa cách trong giao tiếp với tôi vì lý do đó, hay đơn giản hơn vì tôi là một cô giáo trẻ từ xa về dạy ở xứ mình, trường mình. Lúc nào tôi cũng cảm thấy tình cảm ấm áp của đồng nghiệp, lúc nào mọi người cũng vui vẻ trò chuyện hay chia sẻ chuyên môn với tôi khi có dịp. Từ vợ chồng thầy Phước cô Vân, rồi cô Thoa, cô Dậu, cô Biên, cô Thành v.v… ai cũng chân thành, gần gũi. Có lẽ do ở Hà Tiên có nhiều thầy cô giáo từ Bắc chí Nam tụ về dạy học nên mọi người dễ dàng có sự đồng cảm với nhau chăng? Thật ra thì khi về Hà Tiên sống, tôi rất nhanh chóng nhận thấy dân địa phương ở Hà Tiên rất lành tính dù người Hoa có, người Kh’mer có … và chung sống rất đỗi « hòa bình » với người Việt ở đây.  Có lần tôi nói đùa với chồng mình:

 – « Anh hay tự hào là Hà Tiên sông, hồ, núi, biển cảnh đẹp gì ở đâu có thì ở đây cũng có, rất đa dạng phong phú, dân tình cũng vậy, nào người Việt cả Nam – Trung – Bắc, rồi người Hoa, người Miên … tưởng chừng xã hội hẳn phải có chút phức tạp, mà sao em thấy ở đây ai cũng đơn giản, hiền lành vậy anh? »

Thế là anh cười thật tươi (lúc nào cũng vậy khi nhắc đến quê hương Hà Tiên của mình), và cười bằng luôn cả đôi mắt tinh nghịch của mình:

 – « Vậy thì em có thấy mình may mắn gấp đôi không? Em có được cả người lẫn cảnh rồi đó! »

Học trò Hà Tiên năm tôi dạy rất ngoan ngoãn. Các em lớp 6 – lớp đầu tiên của cấp II trong những ngày đầu năm học dường như lúc nào cũng có chút lo lắng, nhất là học một môn học mới với ngôn ngữ lạ hoắc so với tiếng mẹ đẻ của mình. Tuy vậy không ít em có năng khiếu học ngoại ngữ và đã học rất tốt. Thế nên không biết bao nhiêu lần trong đời tôi ngậm ngùi nuối tiếc đã không thể dẫn dắt các em ấy được tới nơi tới chốn để các em ít nhiều có thể thành công ở khía cạnh nào đó trong cuộc sống với năng khiếu của mình.

Học trò lớp 8 ở điểm trường « Hoa Liên » thì lại rất sinh động. Các em đang ở lứa tuổi « chuyển tiếp » – không còn nhỏ nữa mà cũng chưa lớn hẳn, quen thuộc với cấp lớp mình đang học và bắt đầu có những trò nghịch ngợm tinh quái của lứa tuổi này. Tôi còn nhớ một cô bé lớp trưởng xinh đẹp, hiền lành nhưng rất năng động, luôn giúp giữ trật tự lớp để tôi có thể giảng bài thông suốt hơn vì cô giáo dạy Anh văn vừa trẻ, vừa « mỏng manh », nhỏ nhẹ quá nên lũ học trò « thừa thắng xông lên » cứ ồn như cái chợ vỡ… Tôi cũng nhớ hai cậu học trò rất thân thiết mà chỉ cần nhìn chúng đi với nhau là đã muốn bật cười, một em thì nhỏ con nhưng thông minh lém lỉnh, em kia thì rất to con nhưng lại chậm chạp và vô cùng « nghe lời » anh bạn thân láu lỉnh của mình nên thỉnh thoảng lại bị chàng ta gài bẫy làm trò cười cho chúng bạn trong lớp.

Rồi có lần cô giáo « thị thành » chưa quen được với đồ ăn thức uống đa dạng văn hóa ẩm thực Việt – Hoa – Kh’mer – Thái ở vùng biên giới này nên đổ bệnh không thể lên lớp. Vậy là học trò cả hai cấp lớp chạy đến thăm cô nườm nượp. Đặc biệt buổi chiều đó lúc trời chưa tắt nắng, tôi đang nằm thiêm thiếp trên giường thì nghe có tiếng bước chân nhè nhẹ, rồi một phụ nữ hơi đậm người ngồi xuống mép giường, tay cầm bọc trái cây:

 – « Cô ơi, cô mệt lắm không cô? Tui đang bán ngoài chợ thì thằng con tui chạy ra bắt tui phải dọn hàng về, nhứt định biểu tui phải đi thăm cô giáo nó bị bệnh hà cô! Tui kêu nó vô đây với tui mà nó mắc cỡ hông dám vô (cười). Thôi cô ráng khỏe đi dạy tụi nhỏ nhen cô, tụi nó nhớ cô lắm! »

Tuy đang sốt và yếu sức, nghe chị nói xong tôi chợt như vừa uống được một ngụm nước mát lạnh thấy người dường khỏe khoắn hơn nhiều, lòng dạt dào nhiều cảm xúc khó tả – học trò của mình dễ thương đến lạ!  

 Thế nhưng … ước nguyện suốt đời là cô giáo của tôi lại không được trọn vẹn.

Tác giả bài viết, ảnh chụp năm 2020. Hình: T. Hương

Vì hoàn cảnh riêng, chỉ sau một niên học tôi phải quay về Sài Gòn sống và làm việc. Do tình trạng xã hội lúc ấy có « dễ thở » hơn về vấn đề học hành nên tôi có dịp quay lại làm sinh viên của Đại Học Tổng hợp, tiếp theo là giảng viên khoa Đông phương học của trường, và tuy sau đó thì cuộc sống cứ cuốn tôi đi xa dần nghề giáo tôi yêu quí … nhưng những ngày tháng ngắn ngủi ở trường cấp II Hà Tiên mãi mãi nằm trong vùng ký ức sống động nhất trong tôi với những tình cảm yêu thương trong trẻo dành cho những cô cậu học trò bé bỏng của tôi ở miền biên viễn với tên gọi – Hà Tiên!

 T. Hương – 27/11/2020.

 

Hữu Đức, ngôi trường bị bỏ quên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, trên Blog nầy đã có bài viết về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ở đường Mạc Công Du, và bài viết về ngôi trường chánh mà mình theo học ngày xưa ở bậc Trung Học, đó là trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ở đường Mạc Tử Hoàng. Tuy nhiên Hà Tiên của chúng ta còn có rất nhiều ngôi trường khác, nếu không kể chi tiết từng ngôi trường Tiểu Học ở từng làng xã thì còn lại hai ngôi trường rất đáng chú ý vì tầm vóc quan trọng và ảnh hưởng của hai ngôi trường nầy ở Hà Tiên: đó là ngôi trường dạy tiếng Hoa do bang hội người gốc Hoa lập ra từ xa xưa và ngôi trường mang tên Trường Nông Lâm Súc ngày xưa ở khúc đường ra Thạch Động do thầy Trần Đại Thắng giảng dạy. Bài viết hôm nay giới thiệu về ngôi trường dạy tiếng Hoa ở đường Cầu Câu Hà Tiên, trường mang tên Trường Tư Thục Sơ Cấp Hữu Đức. (Về ngôi trường Nông Lâm Súc, hy vọng sẽ có một vài cựu học sinh ngày xưa sẽ viết bài nhắc nhở).

Ngày xưa ngoài những người bạn thân thuộc học cùng lớp cùng trường Trung Học với mình, mình còn có nhiều người bạn ở chung quanh khu chợ Hà Tiên xưa, tuy những người bạn nầy không phải là bạn cùng trường lớp ở Trung Học Hà Tiên, vì đa số các bạn nầy theo học ở trường Hữu Đức, nhưng mình cũng có quan hệ rất thân. Qua sự quan hệ nầy mình cũng biết được một vài thông tin về ngôi trường Hữu Đức tuy nhiên rất ít không đầy đủ để viết được một bài giới thiệu về ngôi trường Hoa duy nhất ở Hà Tiên nầy. Vì thế trước khi có ý muốn viết bài về ngôi trường Hữu Đức Hà Tiên, mình có thông báo trên trang face book để nhờ quý anh chị, bạn bè từng theo học ở ngôi trường Hữu Đức nầy giúp đở, chia sẻ tư liệu hình ảnh, và kết quả là quý anh chị, bạn bè đã nồng nhiệt vui vẻ giúp ý kiến và hình ảnh rất nhiều, mình rất cảm kích sự giúp đở của quý anh chị và các bạn, và xin trân trọng cám ơn quý anh chị và các bạn rất nhiều.

Mặc dù theo hình dáng ngoài mình là người Việt và có dáng người tây phương, nhưng tính theo nguồn gốc gia đình bên ngoại thì mình là người có liên hệ đến người Hoa (hay có lẻ đúng hơn là người Minh Hương ??), vì bên ngoại của mình tính từ đời ông ngoại là Ông Trần Đệ thì là người có gốc Hoa, vả lại, mình cũng có bà con với một vài gia đình gốc Hoa ở khu chợ Hà Tiên. Nhà bà con với mình ở đường Lam Sơn, đối diện với nhà sơn sửa xe đạp ngày xưa, mình gọi Hia Phón là hia (có tên chánh thức là Thái Văn Bằng), má của Hia Phón mình gọi bằng Ý Hai, Ý Hai Láng có một tiệm bán tạp hóa ở bên hông nhà lồng chợ Hà Tiên, đối diện với tiệm Hiệp Lợi, đường Tham Tướng Sanh). Vì những lý do đó, ngày xưa khi còn nhỏ mình thường chịu ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử Trung Hoa, mình đã đọc hết tất cả những quyển sách gọi nôm na là « truyện Tàu » do tiệm Thanh Bình cho mướn sách ngày xưa. Mình rất thích quan hệ và giao lưu vói các bạn chung quanh khu chợ Hà Tiên. Đó là lý do khiến mình nghĩ là nên viết một bài nhắc nhở lại ngôi trường Hoa tên Hữu Đức ở Hà Tiên cho mọi người nhớ đến, hơn nữa hiện nay ngôi trường nầy đang bị bỏ hoang, không ai chăm sóc và có thể một ngày nào đó trong tương lai sẽ biến mất để được thay thế vào đó một công thự nhà cửa hiện đại nào đó…Nếu viết được bài nầy thì ít nhất ngôi trường Hữu Đức Hà Tiên vẫn còn mãi trong lòng mọi người khi thỉnh thoảng đọc lại bài viết nầy. Paris, 04/12/2020, Trần Văn Mãnh).

A/ Cấu trúc của ngôi trường:

Ngôi trường từ lúc thành lập được xây dựng bằng vật liệu gạch với xi măng, nóc trường được lợp ngói rất khang trang, mặt trước trường dọc theo các dãy lớp, ngay dưới mái ngói có các thanh gỗ sọc đứng có bìa bầu tròn để trang trí.

Ngôi trường mang tên Trường tư thục sơ cấp Hữu Đức, gồm có tất cả 6 lớp, từ lớp 1 đến lớp 6.  Theo kiến trúc ngôi trường, mặt nhìn ra đường Chi Lăng là mặt sau, có tất cả 10 cửa sổ, cứ mỗi hai cửa sổ liên tiếp là thuộc về một căn phòng lớp học. Như vậy trường có tất cả 5 phòng,  Phòng thứ nhất dành cho lớp 1 và lớp 2, phòng thứ hai dành cho lớp 5 và lớp 6, phòng thứ ba là phòng hội họp, có để một cái bàn đánh ping-pong và cũng là phòng dành cho các cuộc thi diễn giả, thuyết trình. Phòng thứ tư là văn phòng ông Hiệu Trưởng, có một phần phía sau trong căn phòng nầy cũng có lúc là nơi cho thầy cô tạm trú trong thời gian dạy học. Phòng thứ năm dành cho lớp 3 và lớp 4. Ngồi trong lớp nhìn ra cửa sổ phía bên đường Chi Lăng là thấy căn nhà của chị Lý Mũi Liềm.

Bên trong mỗi phòng dành cho lớp học, có hai dãy bàn ghế, vì một phòng dành cho 2 lớp khác nhau, nên mỗi một bên dãy bàn ghế là chỗ ngồi của một lớp (thí dụ lớp 1 dãy bên trái, lớp 2 dãy bên phải…). Trong mỗi dãy bàn ghế cho học sinh, phái nữ ngồi hàng trước, phái nam ngồi hàng sau, mỗi lớp thường không quá 15 học sinh.

Ngoài hành lang của ngôi trường thường là nơi để xe đạp của học sinh.

Bên ngoài sân trường có một sân dánh bóng rổ, môn bóng rổ là một môn thể thao điển hình của các trường học người Hoa thời bấy giờ, vì thế trong mọi ngôi trường người Hoa đều có sân bóng rổ để học sinh chơi giải trí, luyện tập, thực hành chơi theo từng đội ngũ và để đấu giao hữu trong trường hay giữa các đội của các trường bạn.

Ngoài ra từ những năm xa xưa, trong sân trường còn có một vườn chuối, nhưng đến khoảng năm 1972 thì người ta dẹp bỏ vườn chuối và thay vào đó là một sân thể dục, thể thao, có thể chơi các môn nhảy cao, nhảy dây..v..v..

Cổng chánh của ngôi trường nhìn ra đường Cầu Câu, toàn bộ cổng chia làm ba phần, cổng ra vào chánh ở giữa, rông rãi, có hai cổng phụ nhỏ hai bên. Phía trên cổng chánh ra vào ở giữa có bảng tên trường (vì không nhìn thấy được trong tấm hình nào cả nên không biết bảng ghi tên như thế nào, tuy nhiên phía bên trong, dọc theo hành lang và dưới mái ngói của trường có treo một bảng tên trường như sau: « Hữu Đức, Trường tư thục sơ cấp, 78 đường Cầu Câu 78 » với toàn bộ chữ in). Từ bên ngoài cổng chánh đường Cầu Câu nếu ta nhìn vào sân thì ngôi trường nằm bên trái, dãy lớp nằm thẳng góc với con đường Cầu Câu. Phía ngoài cổng trường, thường có Ông « Tùng Xen » bán nước đá bào cho học sinh và đối diện với cổng chánh trường là nhà của ông Ngâu.

Thầy cô và học sinh trường Hữu Đức, Hà Tiên chụp hình trước dãy lớp học mặt tiền của trường. Đây là những niên học có ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc và cô Trần Thúy Vân giảng dạy. Trong hình có Ông Bang Tuồn Huệ Nguyên mặc áo veste đen ngồi giữa và ông bà Hiệu Trưởng ngồi bên trái. Thời gian trong khoảng 1968 – 1977. Hình: Trịnh Tân và Trần Tố Chinh.

Trong phạm vi sân trường, có một cây cột cờ, một giếng nước, hai nhà tắm và nhà vệ sinh, có vài cây trứng cá. Đối diện với ngôi trường, nhìn về phía đường Lâm Sơn thì ngày xưa là dãy nhà ăn được dựng bằng tôn (thiếc) rất thoáng cho học sinh ở trọ lưu lại trường ăn học. Kế đó có một ngôi nhà gạch trắng được cất trong những năm sau đó (nhưng trước năm 1975), đó là ngôi nhà dành cho ông bà Hiệu Trưởng ở. Gần bên nhà nầy cũng có một căn nhà dành cho lớp học.

Trong khu nầy, nhìn ra đường Lam Sơn, có một ngôi chùa, thực ra đúng là một ngôi miếu, Miếu Ông Bổn hay miếu Bổn Đầu Công (người Hà Tiên chúng ta thường gọi một cách quen thuộc là chùa Ông Bổn vì ít khi phân biệt chùa và miếu). Đó là đền thờ ông Trịnh Hòa, người Trung Quốc, thời Minh. Ông Trịnh Hòa vốn là thái giám dưới triều Minh Thành Tổ, đã bảy lần chỉ huy hạm đội gồm hàng chục chiếc tàu biển xuống biển Đông, Ấn Độ Dương…nhằm mở rộng ảnh hường nhà Minh. Những nơi có người Hoa sinh sống đều có miếu thờ Ông Bổn. Thời xưa khi trường Hữu Đức còn hoạt động, có giai đoạn những người Việt và Việt gốc Hoa hồi hương từ Cambodge về Hà Tiên, có một gia đình được cho phép ở trong chùa Ông Bổn, bán tạp hóa ngoài chợ Hà Tiên để sinh sống và coi giữ chùa. Thời đó trước chùa ông Bổn cũng có một ông bán bánh bao, phía bên đường Cầu Câu thì có bà Sáu Ly bán xôi, cháo, bánh tiêu…

Vì có hàng rào xây bằng xi măng bao quanh khu trường nên giữa khu trường học, nhà Hiệu Trưởng ở và ngôi chùa Ông Bổn cách biệt nhau, có cổng nhỏ ngăn cách. Tuy nhiên trong ngày có lớp học thì cổng nầy được mở ra cho học sinh đi vào trường, một số học sinh ở khu chợ Hà Tiên thường vào trường bằng cổng nầy mà không cần phải đi vòng tới cổng chánh ở đường Cầu Câu.

B/ Hiệu Trưởng, giáo viên trường Hữu Đức:

Kể từ lúc thành lập ngôi trường tư thục sơ cấp Hữu Đức (có thể là ngay từ năm 1920…), có các vị hiệu trưởng như sau: Ông Hiệu Trưởng đầu tiên họ Hồng, kế đến là ông Hiệu trưởng họ Trần (khoảng năm 1953 – 1958), phu nhân của ông Hiệu Trưởng Trần cũng là cô giáo dạy trong trường. Hai người từ nước Cambodge về Hà Tiên làm việc. Đến năm 1959 có ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý, ông Mã cũng là giáo viên dạy môn Sử Ký và Địa Lý, học trò thường thích nghe ông giảng bài về thời Tam Quốc Chí.

Ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý (bìa trái) chụp hình với giáo viên và học sinh trong sân trường Hữu Đức Hà Tiên.  (Thập niên 1960-1970). Hình: Alyssa Ho.

Đến năm 1968 có ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc (còn có tên trong giấy tờ là Lâm Thiện Cư) về làm việc và dạy học ở trường Hữu Đức nầy. Phu nhân của ông Hiệu Trưởng là cô Trần Thúy Vân cũng là cô giáo dạy trong trường. Thầy Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc làm chủ nhiệm lớp 5 và lớp 6. Cô Trần Thúy Vân dạy môn hát và làm chủ nhiệm lớp 1. Ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc có ba người con gái: Huệ Trang, Mẫn Hồ, Holly Lam. Ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc giảng dạy ở trường Hữu Đức Hà Tiên đến năm 1977. Đến năm 1987 ông Hiệu Trưởng Lâm từ trần. Hiện nay cô Trần Thúy Vân vẫn mạnh khỏe và sinh sống với con gái bên nước Mỹ.

Ông Bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc, cô Trần Thúy Vân chụp hình với các con trong sân trường Hữu Đức Hà Tiên (khoảng năm 1968-1977). Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Bà Hiệu Trưởng Lâm: cô Trần Thúy Vân, hình trái: chụp trước căn nhà dành cho gia đình Hiệu Trưởng ở trong khu trường Hữu Đức, hình phải: chụp với con gái trước ngôi trường Hữu Đức, Hà Tiên (khoảng năm 1968-1977). Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Ông bà Hiệu Trưởng trường Hữu Đức Hà Tiên: thầy Lâm Chánh Khắc và cô Trần Thúy Vân. (Thời gian 1968-1977). Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Bà Hiệu Trường Lâm: Cô Trần Thúy Vân. (Thời gian ở trường Hữu Đức: 1968-1977). Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Đa số thầy cô dạy trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên là người từ Rạch Giá đến Hà Tiên dạy học. Có rất ít người gốc gác Hà Tiên dạy trong trường Hữu Đức. Một số tên họ quý thầy cô thời dạy tiếng Hoa còn được biết đến như sau: thầy Bành Cơ, thầy Dương Vạn Tựu, cô Lý Như Lan, thầy Châu Ân, thầy Huỳnh Khải Anh..v..v.. . Có thầy Trần Tiến Sũng là con rể của ông Vĩnh Xương, thầy Trần Tiến Sũng dạy học ở trường Hữu Đức một thời gian khá lâu, dưới thời ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý .Ngoài ra từ năm 1972, có cô Nguyễn Bích Thủy (Nguyễn Lệ Thủy) lúc đó mặc dù còn theo học trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, nhưng cô Bích Thủy cũng được giới thiệu vào dạy môn tiếng Việt trường Hữu Đức, Hà Tiên, cô Bích Thủy dạy cho đến nhiều năm sau thì đổi việc làm tại Phòng Giáo Dục. Tiếp đó có cô Tiền Ngọc Hương dạy khi trường chuyển qua thành trường cơ sở cấp 2 và trường tiểu học Bình san.  

Thầy Trần Tiến Sũng, giáo viên trường Tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên trong nhiều năm, dưới thời ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý. Hình: Sung Tran

Trong những năm 60, có rất ít thầy cô dạy trường Hoa Hữu Đức, Hà Tiên nên bang hội người Hoa có mời Ông chủ tiệm Phục Hưng (tiệm trồng răng ở đường Tham Tướng Sanh, ba của hai bạn Huỳnh Vạn Tường và Huỳnh Bá Tường) vào trường dạy một thời gian, đó là thầy Huỳnh Thuật Sanh, thầy mất năm 1968. Còn có một thầy người Hà Tiên nữa là con rể của ông Lào Xị cũng dạy tại trường Hữu Đức (nhà ông Lào Xị ở đường Lam Sơn, gần tiệm bánh mì Tân Thái, còn nhà của con rể ông thì ở gần nhà bạn Lý Cui khúc trên đường Lam Sơn). Ngoài ra chương trình của trường cũng có một phần dạy tiếng Việt (2 giờ mỗi tuần), các lớp lớn do thầy Phan Liên Trì dạy (thầy Phan Liên Trì là giáo viên trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ở đường Mạc Công Du), môn tiếng Viêt ở các lớp nhỏ do một thầy cô khác dạy.

C/ Các thế hệ học sinh theo học trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên:

Vì mục đich của quý ông bà trong bang hội người gốc Hoa ở Hà Tiên là lập một ngôi trường dạy tiếng Hoa để con cháu em của các gia đình nầy có nơi theo học và duy trì văn hóa Trung Hoa nên học sinh của trường Hữu Đức Hà Tiên đa số cũng là con cháu em người gốc Hoa chung quanh khu chợ Hà Tiên. Thực ra cũng có một số gia đình người gốc Hoa cho con em theo học chương trình tiếng Việt ở các trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, nhưng vì đôi khi có trở ngại về thi cử nên đa số là theo trở lại chương trình học tiếng Hoa ở trường Hữu Đức. Thế hệ học sinh đầu tiên theo học trường Hữu Đức Hà Tiên khi trường được thành lập (có thể là ngay từ năm 1920) ngày nay ít người biết đến, ta có thể kể vài cựu học sinh quen biết như:

Anh Lê Minh: Anh Lê Minh là chủ tiệm đồi mồi hiệu Lê Minh ở góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng. Thời gian anh Lê Minh theo học trường Hữu Đức Hà Tiên là khoảng 1945.

Chị Trần Lệ Hà: chị Trần Lệ Hà là chị của bạn Trần Bình (anh Trần Bình là bạn thân từ nhỏ với mình vì hai nhà ở đối diện gần nhau). Nhà chị Lệ Hà ngày xưa ở ngay góc đường Lam Sơn – Bạch Đằng ngay trước mặt nhà mình. Ba của chị Lệ Hà tên là Ông Tỷ, ông nội của chị Lệ Hà là ông bang Trần Thăng, một trong những người sáng lập ra ngôi trường Hữu Dức Hà Tiên.  Chị Lệ Hà theo học trường Hữu Đức Hà Tiên trong khoảng thời gian 1953 đến 1958, chị học đến tốt nghiệp bậc sơ cấp ở trường nầy. Trong thời gian chị Lệ Hà học trường Hữu Đức Hà Tiên thì có đời ông Hiệu Trưởng Trần và sau đó là ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý.

Anh Tạ Hữu Thái: Anh Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Anh Tạ Hữu Thái theo học trường Hữu Đức Hà Tiên trong thời gian 1963 – 1967, thời ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý. Ngoài ra em trai của anh Tạ Hữu Thái cũng có theo học trường Hữu Đức, một thời gian sau người em trai nầy bị tai nạn mất.

Alyssa Ho: Alyssa Ho là chị lớn của bạn Hồ Anh Dũng, con của ông Hồ Mạng Đức (tên quen thuộc là ông Âu Tư có tiệm bán bánh kẹo trong nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa). Thời gian bạn Alyssa Ho theo học trường Hữu Đức Hà Tiên là những năm 1960, thời ông Hiệu Trưởng Mã Thiên Lý.

Huỳnh Bình Bá: Huỳnh Bình Bá là tên lúc theo học trường Hữu Đức Hà Tiên của em Huỳnh Bá Tường (ở nhà tên thân mật là Bẻ, em của bạn Huỳnh Vạn Tường tức là Sện, bạn đi chơi chung với mình ngày xưa ở Hà Tiên). Những người anh chị của em Huỳnh Bá Tường cũng đều theo học trường Hữu Đức Hà Tiên.

Đây là hình các học sinh tốt nghiệp trường Hữu Đức Hà Tiên năm 1971 chụp trong sân trường. Từ trái qua phải: người đứng là con ông Thiên Tân nhà may ở đường Lam Sơn, hàng ngồi từ trái qua: Quốc Huy, Lý Quảng Hữu, người họ Đỗ nhà bán trầu cau, Từ Di Lương con nhà chụp hình Phương Dung ở đường Bến Trần Hầu, đứng bìa phải chính là Huỳnh Bình Bá (tức là Huỳnh Bá Tường). Hình: Huỳnh Bá Tường.

Học sinh tốt nghiệp trường Hữu Đức Hà Tiên năm 1971 chụp hình trong sân trường. Đây là lớp học của Huỳnh Bình Bá (tức Huỳnh Bá Tường, người thứ hai từ bên phải qua trái). Hình: Huỳnh Bá Tường.

Học sinh nữ trường Hữu Đức Hà Tiên. Từ trái qua phải: Tên Chiều (em gái của Huỳnh Bá Tường), Thục Trân (mặc áo đen, cháu của bà Hiệu Trưởng, Thục Trân là bạn cùng lớp 2 với Trần Tố Chinh,  Thục Trân nay đã qua đời), Lưu Sở Sanh (con gái của ông Nam Thiên), người cuối cùng tên Lâm Thanh. Thời nầy các nữ sinh của trường Hữu Đức mặc váy đầm (màu xanh dương đậm hay đen). Đây là lớp học sau lớp của Huỳnh Bá Tường một lớp.

Trịnh Tân, Trần Tố Chinh: Trịnh Tân và Trần Tố Chinh là hai người bạn học ở trường Hữu Đức Hà Tiên. Anh Trịnh Tân học trong khoảng thời gian 1968 – 1973, sau khi tốt nghiệp trường Hữu Đức anh Trịnh Tân ra tỉnh Long Xuyên học tiếp. Trong thời gian anh Trịnh Tân học ở trường Hữu Đức, khi tốt nghiệp, trong lớp chỉ còn không quá 10 học sinh mà thôi. Trần Tố Chinh là con gái trong gia đình có tiệm Hiệp Lợi ở đường Tham Tướng Sanh. Trần Tố Chinh vào trường khoảng năm 1972, học đến lớp 4 và qua Rạch Giá học nhảy lên thẳng lớp 6 trường Hoa tên Minh Đức.

Lớp học của anh Trịnh Tân lúc tốt nghiệp 1973, chụp hình trước khu nhà cất thêm sau nầy (nhưng trước năm 1975). Hàng đứng là các học sinh tốt nghiệp, hàng ngồi là quý thầy cô, người ngồi bìa trái là thầy Trần Tiến Sũng, người ngồi thứ ba từ trái đếm qua là Ông Hồ Mạng Đức (tên quen thuộc là Âu Tư), ta nhìn ra ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc, cô Trần Thúy Vân thứ 3 và 4 từ phải đếm qua. Người nữ sinh đứng bìa phải là con của ông Sâm Hiệp, cháu ngoại của ông bang Tuồn Huệ Nguyên. Người ngồi ghế ở giữa có thể là ông Huỳnh Tường Văn (người Hà Tiên gọi một cách quen thuộc là Cù Bớt, ở tiệm Vạn Ích Đường). Hình: Trịnh Tân, Trần Tố Chinh.

Thầy cô và học sinh trường Hữu Đức Hà Tiên đi chơi bãi biển Mũi Nai, Hà Tiên. Thời gian những năm 60-70. Trong hình có ông bà Hiệu Trưởng Lâm Chánh Khắc và cô Trần Thúy Vân. Hình: Gia đình Mẫn Hồ.

Học sinh lớp nhỏ mặc đồng phục của trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên chụp hình trước căn nhà ông bà Hiệu Trưởng. Hình: Gia đình Mẫn Hồ.

Cũng cần nói thêm là ngôi trường Tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên nầy được cất lên từ những năm rất xa xưa (có thể là từ năm 1920) nên đã có trước thời ông Ngô Đình Diệm, vì trong thời gian đệ nhất cộng hòa thời ông Ngô Đình Diệm có lúc nhà nước không cho mở trường dạy học bằng tiếng Hoa, trong khi đó Hà Tiên thì đã có trường Hữu Đức rồi nên vẫn tiếp tục hoạt động. Vì thế có một số học sinh từ Rạch Giá về Hà Tiên ghi danh vào trường Hữu Đức học khá nhiều.

Học sinh từ Rạch Giá qua Hà Tiên để theo học trong trường tư thục sơ cấp Hữu Đức. Hình chụp trước ngôi trường trong những năm 60-70. Người đứng ở giữa phía sau học trò là thầy giáo của trường, thầy tên là Trần Tiến Sũng (con rể của ông Vĩnh Xương). Hình: Alyssa Ho

Học sinh theo học trường tư thục sơ cấp Hữu Đức ở Hà Tiên, nếu học xong 6 lớp, được tốt nghiệp và nếu muốn tiếp tục học lên trên thì qua Rạch Giá học trường Minh Đức hay lên Long Xuyên học trường Hoa Liên.

Hội trưởng hội Phụ Huynh Học Sinh trường Hữu Đức những năm 70 là ông Huỳnh Tường Văn (người Hà Tiên gọi một cách quen thuộc là Cù Bớt, ở tiệm Vạn Ích Đường).

Cựu học sinh trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên, về sau là cựu học sinh của trường Minh Đức Rạch Giá, chụp hình lưu niệm nhân lúc họp mặt ở nước Mỹ. Hình: Alyssa Ho

D/ Nội dung giảng dạy ở trường tư thục sơ cấp Hữu Đức:

Đây là ngôi trường tư thục do người gốc Hoa thành lập nên trường giảng dạy bằng tiếng Hoa là chính. Mỗi ngày học sinh học hai buổi, trừ thứ bảy học một buổi. Buổi sáng thời gian học từ 8 giờ đến 12 giờ. Buổi sáng nào khi vào lớp đều có thi khảo sát kiến thức, học sinh phải làm bài trên giấy khi trả lời các câu hỏi. Có 2 giờ toán trước và sau đó hai giờ cuối học tiếng Việt (theo quy luật thời đó, phải có giờ dạy tiếng Việt). Buổi chiều học từ 2 giờ đến 5 giờ chiều, có các môn Văn, Hoa ngữ, Kiến thức Thường Thức. Ngày thứ bảy trong tuần học sinh học buổi sáng, học môn Thư Pháp (học cách viết chữ đẹp bằng bút lông), học vẽ môn hội họa. Học sinh nào học hết tất cả 6 lớp và có kết quả tốt trong các cuộc thi khảo sát thì sẽ được cấp bằng tốt nghiệp. Nếu muốn học tiếp tục thì phải đi Rạch Giá hay Long Xuyên học bậc Trung Học.

E/ Sinh hoạt văn nghệ, thể thao, tài chánh của trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên:

Theo nguồn gốc của trường Hữu Đức, các vị thương gia Hà Tiên theo truyền thống thường lập ra bang hội, vị nào đứng đầu một nhóm người theo một sự phân chia thường là chiếu theo nguồn gốc dân tộc thì được xem như là ông bang trưởng.  Ông bang trưởng của người gốc Hoa là người thường có thế lực, khá giàu có về vật chất để có thể giữ vai trò bang trưởng mà không bị ảnh hưởng về tiền bạc. Mọi việc trong bang đều do ông bang trưởng nhóm họp và quyết định, cộng đồng trong một bang thường theo ý kiến ông bang trưởng vì thế ít khi có đến việc nhờ chánh quyền bên ngoài xã hội giải quyết. Ngày xưa ở Hà Tiên có ông bang trưởng tên là Trần Thăng, ông là ba của ông Tỷ và là ông nội của chị Trần Lệ Hà. Ông là người bang trưởng trong cộng đồng người Triều Châu (hay Tiều Châu, Teochew). Theo lời truyền lại của gia đình, Ông bang trưởng Trần Thăng huy động các ông bang khác trong khu chợ Hà Tiên ngày xưa và cho xây cất ngôi trường Hữu Đức để con em người gốc Hoa có chỗ để theo học ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa (về việc nầy theo lời truyền lại của gia đình, cũng chính ông bang trưởng Trần Thăng là người khởi xướng cho đào hai cái ao sen ở trước lăng ông Mạc Cửu, cái ao thứ nhất đã có từ thời ông Mạc Cửu vì chính ông Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. Việc ông Trần Thăng cho đào hai cái ao sen sau nầy là do ý kiến của gia đình, vì ít ai người Hà Tiên biết đến sự kiện nầy, mong rằng các nhà nghiên cứu về lịch sử Hà Tiên tiếp tục tra cứu và cho ý kiến chính xác). Việc cất ngôi trường Hữu Đức xảy ra khoảng trong những năm 1920. Đến năm 1936, ông Trần Thăng qua đời lúc 53 tuổi.

Từ đó việc quản trị ngôi trường Hữu Đức Hà Tiên là do các bang hội ở Hà Tiên đảm nhận: gồm có các thương nhân chung quanh khu chợ như: ông bang Tuồn Huệ Nguyên được xem như hội trưởng quản trị, và các ông chủ các hiệu tiệm như: Thái Dũ, Hải Ký, Vĩnh Xương, Sâm Hiệp, Vạn Ích Đường, Liên Hưng, Âu Tư, Lê Minh,…v..v…(còn nhiều nữa nhưng mình không biết rỏ nên không kể được tiếp theo…). Ông chủ tiệm Hồ Mạng Đức (tên quen thuộc Âu Tư) làm thủ quỷ của trường lo về tài chánh. Ông Cù Thú có tiệm kế bên tiệm chụp hình Quách Ngọc Bá ở Bến Trần Hầu lo phần Thê Dục, Thể Thao. Ngoài ra còn có Ông chủ tiệm bánh mì Tân Thái (đường Lam Sơn) là ông bang danh dự yểm trợ phần tài chánh.

Mỗi tháng quý vị thương nhân nầy đóng góp tiền cung cấp cho nhà trường để trang trải trong việc sinh hoạt của nhà trường, trả lương cho quý thầy cô, Hiệu Trưởng,…(trường có danh sách những vị ủng hộ về tài chánh để thu góp tiền hàng tháng). Ngoài ra còn có một nguồn tài chánh nữa là tiền học phí do các học sinh theo học đóng góp tùy theo trình độ lớp học. Những lần cuối năm học, nhà trường có tổ chức các buổi lễ phát thưởng và có văn nghệ giúp vui, nhà trường huy động học sinh đi quyên góp các nhà buôn chung quanh khu chợ Hà Tiên để xin bút mực, sách vở làm quà phần thưởng cho học sinh.

Suốt năm nhà trường cũng có tổ chức các sinh hoạt thể dục, thể thao, văn nghệ múa hát do học sinh nhà trường thực hiện.

Tiết mục văn nghệ ca múa do học sinh trường Hữu Đức Hà Tiên thực hiện, tổ chức ngay tại phòng lớp của trường. Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Tiết mục văn nghệ ca múa do học sinh trường Hữu Đức Hà Tiên thực hiện, tổ chức ngay tại phòng lớp của trường. Hình: Gia đình Mẫn Hồ

Sinh hoạt thể thao của trường Hữu Đức Hà Tiên: các trận đấu giao hữu ngày 18 và 19/05/1976 của hai trường Hà Tiên và Sa Đéc. Hình: Trịnh Tân, Trần Tố Chinh

Hằng năm đến ngày rằm tháng tám, tức lễ Trung Thu, theo phong trào cộ đèn do chánh quyền quận Hà Tiên tổ chức lúc bấy giờ, có rất nhiều trường tiểu học cộng đồng Hà Tiên tham gia, trường Hữu Đức cũng có tham gia vào sinh hoạt cộ đèn đêm Trung Thu nầy. Đặc biệt là trường Hữu Đức Hà Tiên năm nào cũng có thực hiện một chiếc lồng đèn rất to lớn hình quả cầu, có con chim hòa bình phía trên, các học sinh của trường thì đi cộ đèn phía sau với mỗi người một chiếc lồng đèn cá nhân xếp bằng giấy bông rất xinh đẹp, đó là kiểu mẫu lồng đèn đặc trưng của trường Hoa Hữu Đức. Năm nào trong các cuộc thi lồng đèn đẹp, trường Hữu Đức đều thường chiếm giải nhất.

Ngoài ra hình như là trường Hữu Đức Hà Tiên còn có một đội múa lân để múa trong những ngày Tết Nguyên Đán hay lễ lộc đặc biệt. Điều nầy mình không có được tài liệu rỏ ràng, thầy cô và các bạn nếu có tư liệu thông tin và hình ảnh về chi tiết nầy xin góp ý và chia sẻ cho mình để bổ sung bài viết nhé, xin cám ơn.

F/ Trường Hữu Đức Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian:

1/ Từ lúc thành lập (có thể là năm 1920) đến 1977: trường tư thục sơ cấp Hữu Đức, chương trình dạy dùng tiếng Hoa và do bang hội của những thương nhân chung quanh chợ Hà Tiên quản trị.

2/ Giai đoạn 1977 – 1978: chiến tranh biên giới bùng nổ ở Hà Tiên, người Hà Tiên chạy giặc về các vùng khác (Thuận Yên, Kiên Lương, Rạch Giá,..v..v..). ngôi trường Hữu Đức bị bỏ trống.

3/ Sau năm 1979, tình hình Hà Tiên tạm yên ổn, người dân Hà Tiên lần lượt trở về nhà, các công sở, trường học bắt đầu được tu bổ, quét dọn, chăm sóc, thời gian nầy trải dài hai ba năm, có thể đến năm 1981. Khi dân Hà Tiên trở về quê mình, nhiều gia đình không còn nhà cửa vì chiến tranh hư hoại, nhiều gia đình tạm trú ngay trong khu trường tư thục sơ cấp Hữu Đức, tình hình nầy kéo dài một thời gian. 

4/ Sau đó dãy trường học nhà gạch được trưng dụng làm phòng Thể Dục, Thể Thao, rồi phòng Giáo Dục. Sau đó trường được đổi thành trường Cơ Sở cấp 2 theo hệ thống giáo dục Việt Nam, lúc đó thầy Hứa Nhất Tâm được cử làm Hiệu Trưởng (nền Giáo Dục dạy theo tiếng Hoa từ nguồn gốc ban đầu chấm dứt từ giai đoạn nầy). Song song với giai đoạn nầy, ngôi chùa Ông Bổn biến thành Thư Viện Hà Tiên, rồi là trụ sở hội Chữ Thập Đỏ. Dãy đất trống bên hông chùa Ông Bổn được cất lên thành một Trung Tâm Dạy Nghề.  

5/ Đến năm 1994, trường cơ sở cấp 2 đổi thành trường Tiểu Học Bình San. Trong thời gian biến thành trường Tiểu Học Bình San, có một giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên tên là thầy Thắng, người Hà Tiên, nhà ở gần Ao Sen, người Việt gốc Hoa, có dạy tại trường Tiểu Học Bình San nầy, thầy có dạy môn tiếng Hoa ở đây.

6/ Trong thời gian gần đây (năm 2020), trường được trao trả cho bang hội người gốc Hoa, nhưng chưa có ai tiếp nhận. Ngôi trường đang bị bỏ hoang, vách tường, sân trường, hàng rào gạch của trường, tất cả đều lâm vào tình trạng hư hao nhiều, không người chăm sóc, tương lai có thể bị biến mất để thay vào một công thư nhà cửa nào đó…

Sơ đồ trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên. Ngôi trường nằm trong khuôn viên 4 con đường: Lam Sơn, Cầu Câu, Chi Lăng và Nhật Tảo. Số 1: Trường Hữu Đức ngày xưa, số 2: Khu nhà Hiệu Trưởng ở và lớp học, số 3: Chùa Ông Bổn, số 4: khu nhà ở của người giữ chùa Ông Bổn.

Hình ảnh vệ tinh tổng quát khu có ngôi trường Hữu Đức và chùa Ông Bổn, Hà Tiên (trong hình chữ nhật do bốn con đường Lam Sơn, Cầu Câu, Chi Lăng và Nhật Tảo tạo thành).. Nguồn: Cartes Michelin 2006 – 2020

Con đường trong hình là đường Nhật Tảo, một trong bốn con đường bao quanh khu trường Hữu Đức, Hà Tiên. Bên trái hình là một phần hàng rào gạch của trường Hữu Đức, phía trên bên trái là một phần mái lợp tôn thiếc của ngôi trường, con đường nằm ngang ở giữa hình là đường Chi Lăng. Hình TVM 2012

Mặt tiền chùa Ông Bổn nhìn ra đường Lam Sơn. Bên phải là khu nhà ở, bên trái là ngôi chùa. Hình TVM 2012

Mái ngói của ngôi trường tư thục sơ cấp Hữu Đức, Hà Tiên đã hư hao, trong những năm đầu thập niên 90 được thay thế bằng tôn thiếc. Đây là mặt sau của ngôi trường, nhìn ra đường Chi Lăng, ta thấy 10 cửa sổ của 5 phòng lớp. Hình: Nguyễn Lệ Thủy

Dãy lớp học mặt trước của ngôi trường Hữu Đức Hà Tiên. Mái ngói của trường đã được thay thế bằng tôn thiếc. Hàng cây gỗ trang trí phía dưới mái ngói cũng đã biến mất. Thời gian những năm 1990. Hình: Nguyễn Lệ Thủy

Dãy nhà cho Hiệu Trưởng ở và lớp học ngày xưa trong sân trường Hữu Đức được tu bổ lại sau những năm 1990. Hàng chữ phía bên trái là « Trường Học Thân Thiện ». Hình: Nguyễn Lệ Thủy.

Cổng chánh của ngôi trường Hữu Đức ngày xưa vẫn còn trong những năm đầu 1990. Đây là mặt tiền đường Cầu Câu, Hà Tiên. Ngôi trường đã đổi thành trường Tiểu Học Bình San. Hình: Nguyễn Lệ Thủy

Cổng chánh của ngôi trường Hữu Đức trên đường Cầu Câu, Hà Tiên. Ngôi trường đã đổi thành trường Tiểu Học Bình San. Trường vẫn còn hoạt động năm 2017. Hình: Trần Tố Chinh

Cũng cùng một cảnh cổng chánh của trường Hữu Đức, sau đó là trường Tiểu Học Bình San, nhưng hiện nay trường đã bị bỏ hoang, không còn hoạt động nữa. Hình chụp mới nhất ngày 26/11/2020. Hình: Nguyễn Ngọc Hằng

Cũng cùng một dãy lớp mặt trước của trường Hữu Đức, sau đó là trường Tiểu Học Bình San, nhưng hiện nay trường đã bị bỏ hoang, không còn hoạt động nữa. Hình chụp mới nhất ngày 26/11/2020. Hình: Nguyễn Ngọc Hằng

Cũng cùng một dãy lớp và nhà Hiệu Trưởng ở ngày xưa trong sân trường Hữu Đức, sau đó là trường Tiểu Học Bình San, nhưng hiện nay trường đã bị bỏ hoang, không còn hoạt động nữa. Hình chụp mới nhất ngày 26/11/2020. Hình: Nguyễn Ngọc Hằng

Cũng cùng một hàng rào gạch mặt trước của trường Hữu Đức, sau đó là trường Tiểu Học Bình San, nhưng hiện nay trường đã bị bỏ hoang, không còn hoạt động nữa. Hình chụp mới nhất ngày 26/11/2020. Hình: Nguyễn Ngọc Hằng

Phía ngoài hàng rào gạch mặt trước của trường Hữu Đức, sau đó là trường Tiểu Học Bình San, nhưng hiện nay trường đã bị bỏ hoang, không còn hoạt động nữa. Hình chụp mới nhất ngày 26/11/2020. Hình: Nguyễn Ngọc Hằng

Dưới đây là tấm hình toàn bộ khu Trường tư thục sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên được quay từ trên cao,  trích ra từ vidéo: « Flycam Đô thị Hà Tiên phấn đấu đạt loại 2 trước năm 2025, do MinGia Channel thực hiện, đăng Youtube ngày 01/12/2020. (Xin cám ơn tác giả vidéo).

Hình toàn bộ khu trường Hữu Đức Hà Tiên chụp từ trên cao, trích ra từ vidéo: « Flycam Đô thị Hà Tiên phấn đấu đạt loại 2 trước năm 2025 », do MinGia Channel thực hiện, đăng Youtube ngày 01/12/2020

Tái bút: Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin chân thành cảm tạ sự đóng góp, giúp đở và chia sẻ những thông tin, hình ảnh rất là quý báo của quý thầy cô và các bạn: thầy Trương Minh Đạt, cô Nguyễn Phước Thị Liên, Mẫn Hồ (và cô Trần Thúy Vân, má của Mẫn), Alyssa Ho, Huỳnh Bá Tường (Bẻ), chị Trần Lệ Hà, Trịnh Tân, Trần Tố Chinh, anh Tạ Hữu Thái, Nguyễn Ngọc Hằng, Hồ Thị Kim Hoàn, Hồ Thị Kim Nga, Lê Trường An, Nguyễn Thị Kim Liễu, Nguyễn Lệ Thủy, Trương Minh Quang Nguyên, Lâm Thị Lan, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Điệp, Trần Cao..v..v..và tất cả quý anh chị, bạn bè quan biết đã góp ý trên trang face book của mình. Nếu có quên kể tên anh chị, bạn bè nào xin quý vị thứ lỗi cho mình nhé…

Viết xong ngày 04/12/2020, Paris Trần Văn Mãnh

 

 

 

Nhân ngày 20 tháng 11 (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày nhớ ơn nhà giáo 20/11 đã trôi qua, chẳng lẽ nào trong suốt một năm chỉ có một ngày để nói chuyện và nhớ ơn thầy cô…Cây bút Quang Nguyên, một lần nữa đã trở lại với chúng ta (đúng là người bạn rất trung thành,…ai mà là người bạn đường của anh ta thì có phước quá nhỉ…!)..Quang Nguyên trở lại với chúng ta qua một bài viết về những kỷ niệm thời con nít, thời bắt đầu được đi học để cái trí óc non nớt được thầy cô cho khởi điểm vài cái kiến thức và vài cái khái niệm về thế giới học đường….Vốn là một cây bút có tính chất hiện thực và rất trào phúng, tác giả Quang Nguyên vẫn giữ một phong cách như vậy để vào bài, dùng dạng nhập đề « lung khởi » để có lý do nói dài dòng chuyện nầy chuyện nọ trước khi vào ý chánh…Tuy nhiên, có một điều lạ là đọc bài viết của Quang Nguyên hôm nay, sau khi thấm ý tự cười về một vài chi tiết thời con nít do Quang Nguyên còn nhớ và kể lại, cái buồn và cái cảm xúc lại từ từ thấm vào hồn người đọc, khiến cho càng đọc, người ta càng cảm thấy dâng lên trong hồn một nỗi nhớ xa xôi, nhớ cái thuở còn đi học với những vị thầy cô đầu tiên trong cuộc đời học hành của mình…Thời còn nhỏ, trẻ nít nào cũng có một dĩ vãng « hào hùng » về môn quậy phá, làm khổ cha mẹ…Mình cũng vậy, những buổi đầu tiên « bị bắt » đi học rất khó khăn, nghe kể lại và chính mình cũng còn nhớ chuyện bị đưa đi học nầy, theo lời của anh Trần Văn Dõng kể như sau: « Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhớ đi đường trước quán Ti La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ «ai sao tôi vậy» nhưng có cái dở  là «ai làm bậy tui cũng làm theo», cũng đáng đời!!!) ». (Trần Văn Dõng).

Người ta thường nói đứa trẻ nào lúc nhỏ đi học khó khăn thì khi lớn học giỏi lắm,…mình không biết có đúng không, nhưng đến thời con cái của mình thì mình thấy các con đi học một cách tự nhiên, dễ dàng, không khó khăn hay phản đối gì cả, mà lại học rất tốt trong trường lớp,..Có lẻ thời đại khác, cách giáo dục cũng khác và tình thần học trò cũng khác rồi…Trở lại bài của tác giả Quang Nguyên, tác giả muốn viết bài tuy nhân ngày 20/11 là ngày nhắc nhở, nhớ ơn thầy cô, nhưng Quang Nguyên cũng có nói rỏ là hình ảnh và sự dạy dổ, cách thức đối xử của thầy cô ngày xa xưa đó đối với Quang Nguyên nói riêng, đối với học trò nói chung, vẫn còn ghi đậm vào đầu óc như mới ngày nào, và cứ còn nằm trong tâm khảm ngày nầy qua ngày kia, không bao giời quên được…Người ta thường nói sanh ra ta là cha mẹ ta, nhưng người dạy dổ ta nên người trong xã hội thì chính là thầy, cô ta,…điều đó thật là quá hiển nhiên, không ai có thể tự mình giáo dục cho mình, ai cũng phải cần có thầy cô để được học hỏi kiến thức trong đời sống, vì thế nghề dạy học quả thật là một nghề cao quý, từ bao nhiêu thế hệ, nhiều người vẫn ước ao trở thành nhà giáo, đi vào đời với một sứ mạng cao quý giáo dục giới trẻ…

Rồi đến lúc « tre già măng mọc », chúng ta ngày càng chín chắn hơn, trưởng thành hơn thì thầy cô chúng ta lại càng cao tuổi, đời sống đi vào giai đoạn khó khăn, bệnh tật của lứa tuổi già nua…Rồi một ngày nào đó hay tin thầy cô đã ra đi, …để dù ở nơi xa xôi, có điều kiện cũng bôn ba trở về nhà thầy để kịp thắp nén hương tiễn thầy cô,…Cuộc sống là như vậy, người ra đi, kẻ còn ở lại, tiếp nối con đường tốt đẹp trong xã hội để không khỏi bỏ công thầy cô ngày xưa đã ra công sức dạy dỗ chúng ta…Đọc những chi tiết về những người thầy cô ngày xưa của tác giả Quang Nguyên, chúng ta không thể không bùi ngùi, xúc động..Mời quý thầy cô và các bạn vào bài nhé…(Paris, 27/11/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

NHÂN NGÀY 20-11

Ừ thì đây là Ngày Nhà Giáo Việt Nam.

Tôi dám cá rằng ai cũng có những người thầy cho riêng mình (thầy hay cô vẫn là thầy), không cứ gì thầy là phải đến lớp, tự trong thâm tâm mỗi người sẽ biết rằng người thầy đó đã ảnh hưởng, đã truyền dạy, đã thay đổi mình như thế nào, và mình đã chịu ơn thầy như thế nào… Nói vậy để thấy rằng chúng ta phải công bằng cho tất cả những người làm công việc đào tạo chính thức hay không chính thức. Người xưa nói: “nửa chữ cũng là thầy”, nhưng theo tôi thì dù không có chữ nào mà ta “học” được ở ai đó điều hay lẽ phải hay công việc nghề nghiệp thì người đó vẫn xứng đáng là thầy của riêng ta, ta phải tri ân trong lòng ta nếu có dịp thổ lộ thì cứ thổ lộ, đó là việc làm đúng đắn.

Nhưng tôi không có ý định viết về những người thầy đã đi qua đời tôi mà không ở trong ngành Giáo dục. Chắc độc giả sẽ thắc mắc “Ủa? Sao trớt quớt dzậy?”. Ừ, thì trớt quớt đó, vì tôi của ngày hôm nay (20-11-2020) thích nhập đề “lung khởi” để nhớ một thời đã cắp sách đến trường đã rất xa…

Hôm nay tôi háo hức muốn viết về những người cô người thầy dạy tôi đầu đời, là những người ươm mầm cho sự nghiệp trồng người, những người đã được ông bà ta phó thác nhiệm vụ cùng cha mẹ để “dạy con từ thuở lên ba”, nhiệm vụ đó vô cùng quan trọng trong một đời người, nó sẽ định hình đứa trẻ sau này, và các bạn phải công nhận với tôi rằng, cho đến chết các bạn cũng không thể quên thầy cô vở lòng của mình là ai.

… Tôi đã ngồi mẫu giáo hồi bốn tuổi ở lớp cô Tăng Ngọc Dung trong ngôi trường nằm ở góc Mạc Cửu – Bạch Đằng sau nhà tôi chỉ mươi bước chân, học mẫu giáo thì chỉ toàn chơi vui hát hò, xếp thủ công, đục lỗ giấy, và chơi xếp các cục gỗ sơn những màu cơ bản, to nhỏ, vuông tròn tam giác..v..v,  vậy mà tôi không chịu đi học. Có hôm ba tôi đã trễ giờ đi làm mà tôi cứ giãy đành đạch trên sàn nhà, ông mới quất cho tôi vài roi, xách tôi bỏ vào cái rổ có nắp đậy phía trước xe Honda Dame, một tay ông điều khiển xe, tay kia ông giữ chặt cái nắp đậy để đè tôi trong đó, mặc cho tôi gào la to hơn tiếng xe nổ (hồi xưa ống pô xe đâu có cách âm tốt như giờ?), và cái thằng tôi bé xíu ưỡn ẹo vặn vẹo trong cái giỏ chỉ chứa một phần lưng, mông và đôi tay, khuỷu chân và đầu lòi hết ra ngoài, ông đè cái nắp rổ qua thân mình để giữ tôi trong đó, bằng cách nào đó cứ thế mà ông đến giao cho cô Tăng Ngọc Dung một món hàng “tươi sống”, đó hẵn là lần duy nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của cô đã tiếp nhận một cách lạ kỳ một thằng nhóc học trò “quậy xám hồn” như thế.

Độc giả có thể đã là cha là mẹ, là ông là bà… Các bạn thử hình dung trong gia đình có một thằng cu hiếu động, thích nghịch phá, tò mò, làm bất cứ chuyện gì nó thích để rồi sau đó sinh ra bao điều tệ hại, thì hẵn mọi người sẽ hiểu cha mẹ tôi đã “mệt” thế nào vì cái thằng tôi này:

Xem Ti Vi thằng nhỏ thấy có ban tam ca “Ba Con Mèo” (trước 1975) hát nhạc vui tươi, họ đứng trên các bục gỗ hình tròn mà nhún nhảy theo điệu nhạc, nó bèn bắt chước, lấy cái ly “cối” úp ngược mà tì gót chân đỏ hồng da mỏng lên đó rồi nhún, thế là “cao độ nhân tạo” liền mất, gót chân chuyển sang ướt đỏ, da thịt nẻ ra rồi đi nhà thương may lại là lẽ đương nhiên! Rồi một ngày nóng nực má nó bắt nó đi tắm, bà mang nó ra cái lu nơi sàn nước mà xối, nó nhảy tưng tưng để đón nhận những gáo nước mát rượi, và để cho “sướng” hơn nó nhảy đùng vào cái thau to đựng nước vo gạo kế bên, cái thau nước văng tung tóe với các mảnh vỡ mỏng dính và phát ra tiếng giòn tan của các loại chén dĩa kiểu, phần nước vo gạo còn lại trong thau chuyển sang màu “hồng phấn” rất đẹp tương phản với gương mặt xanh lè hoảng hồn của má nó, lại cũng giống như lần trước, bà hộc tốc bồng nó trong tình trạng lõa thể đầy nước vo gạo ù chạy lên nhà thương, vết thẹo bằng chỉ may y tế trên đầu gối đó năm mươi năm sau vẫn còn và sẽ còn…

Rồi cũng cái thằng đó, nó hay đi “hành quân” quanh vườn nhà để xem có cây trái nào chín chưa kịp thu hoạch để chạy vào báo cáo với bà nội của nó đang nằm một chỗ vì bệnh, để nội nó sẽ la ba nó, ba nó sẽ rầy rà má nó, còn nó thì chắp tay sau đít đi tới đi lui ra chiều quan trọng… Hôm nọ, sau khi đi “hành quân” một vòng, thấy ổi chín cây nó bèn thót lên cây để hái, ổi ruột hồng thơm lừng mũi, nó vừa hái vừa ăn, tính tham lam nó “bắt ổi hai tay”, mở mắt ra thấy nằm ở nhà thương với cái vai băng bột vì gãy cùng lúc hai cây xương vai đòn gánh, nghe nói ai đó đã phải móc cái họng đầy ổi của nó để cho nó thở… Có lẽ bà nội biết trước con trai mình sẽ sanh ra một thằng “quẩy” nên mua cái nhà gần bệnh viện chăng?

Mà nào phải chỉ gần bệnh viện? Nhà tôi cũng gần trường học, má tôi phải gửi sớm thằng tôi vào mẫu giáo để bà yên tâm đi dạy vì sợ để tôi ở nhà một mình không “nên thuốc”, tôi học sớm với cô Dung như đã nói.

Cô Tăng Ngọc Dung đậm người da ngâm đen, tóc ngang vai, cô không đẹp nhưng duyên ngầm, tôi luôn nhớ đến cô với những sự đối nghịch, cô xuê xoa nhưng nghiêm túc, dễ dãi nhưng nguyên tắc, giờ nào việc đó chơi là chơi học ra học, giờ thì tôi nói thế theo quan điểm của “người lớn” chứ hồi xưa lời cô phát ra là những “khẩu lệnh” mà bọn nhóc chúng tôi sợ lắm phải răm rắp tuân theo. Cô dạy cho tôi suốt hai mùa học cùng với anh tôi và các anh con bác của tôi, lớn lên tôi hiểu rằng cô có những nguyên tắc sư phạm chuyên nghiệp đặc thù của một cô giáo nhà trẻ để khống chế cái sự “manh động” của những thằng nhóc như tôi, điều đó đã làm tôi vào khuôn khổ hơn và biết nghe lời hơn dù cô chẳng đánh roi nào suốt thời gian đó, thật ra cô cũng có cây roi (hồi xưa thầy cô nào mà chẳng có?) nhưng chỉ để hù dọa hay để nhịp nhịp phát ra tiếng kêu quen tai trong một lớp học, hay cầm nhịp cho bọn trẻ học hát theo mà thôi.

Nhà cô có sạp rau hành hay chạp phô chi đó ở chợ Hà Tiên, ngoài giờ dạy học cô phụ gia đình việc chợ, khoảng năm 1972 (mốc thời gian có thể không chính xác), có một vụ pháo kích vào ngay chợ Hà Tiên, cô giáo Tăng Ngọc Dung của tôi đã mất vào ngày ấy khi còn rất trẻ…

Mặt tiền khu chợ cá cũ ngày xưa ở Hà Tiên, cửa tiệm tạp hóa bên phải (hiệu Ngọc Tiền) là nơi gia đình cô Tăng Ngọc Dung bán hàng hóa. Đây là nơi cô Dung và người con bị trúng đạn pháo kích thiệt mạng cả hai người, năm 1972. Hình: Rich Krebs, HaTien 1966-1970

Trong lòng tôi và nhiều người Hà Tiên đã biết về cô thì hình ảnh cô sẽ cứ mãi trẻ trung như thế. Năm mươi năm qua tôi luôn dành một góc riêng trong ký ức của mình để trân trọng gìn giữ hình ảnh cô nơi đó, bởi cô là cô giáo đầu tiên của đời tôi đã đưa được cái thằng tôi ngổ ngáo nghịch ngợm vào khuôn phép, dù chỉ vài tiếng một ngày nhưng tạo cái ý thức khuôn phép đó cho “ca khó” này là vô cùng quan trọng.

Không lẽ cứ ngồi hoài mẫu giáo? Dù chưa đến tuổi đến trường tôi cũng phải lên lớp một. Người thầy đầu tiên của tôi là thầy Hà Văn Thanh, đó là tên trên giấy tờ, còn trong trường thì học trò và các thầy cô khác thì gọi là thầy Thành, đôi khi người ta gọi ông là “thầy Thành già” vì quả thật không thể nói ông trẻ được, hay để phân biệt với thầy Thành “trẻ” nào khác chăng? Người Hà Tiên còn gọi ông là ông giáo Ngọt, dù tôi thấy ông chẳng “ngọt” bao giờ, có khi ông còn “mặn” nữa là khác. Riêng về cái tên của thầy, cho đến nay tôi chưa thấy có một thầy cô nào ở Hà Tiên chúng ta có nhiều tên gọi đến thế, cho dù bạn gọi ông thế nào trong bốn tên trên thì ông vẫn xác nhận: “tôi đây!”.

Thầy Hà Văn Thanh tự Ông Giáo Ngọt, giáo viên trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời xưa

Nếu ai đã là học trò của thầy trước năm 1975 sẽ nhớ trong tay ông luôn có cây roi mây to bằng ngón tay cái, dài non một mét, với một đầu te tua vì ông hay dùng nó đập vào bàn để dọa đám học trò ồn ào này. Những khi rảnh vì cho học trò làm bài tập, ông hay đứng tựa cửa lớp với một chân trụ, một chân thả lỏng tự do một chút với mũi chân tạo góc 90 độ với nền nhà, cây roi mây trong tay là một trò thư giãn của ông, nắm lấy đoạn 1/3 về gốc ông khẻ tung cho nó xoay trên không một vòng 360 độ, rồi nó rớt xuống tay ông ngay vị trí ông mới cầm lúc nãy mà không hề sai lệch, suốt năm học với thầy tôi chưa bao giờ thấy ông tung roi như thế mà làm rớt, cũng như chưa bao giờ ông chụp nhầm vào cái đầu ngọn roi tè le tét lét kia, (không hiểu sao ký ức tôi không hề có cây roi mây mới nào trong tay thầy?).

Ở lớp một tôi chơi thân với bạn Tỷ Tùa, gia đình bạn làm nghề chằm lá dừa nước để lợp nhà, nhà bạn ở gần góc Tô Châu-Chi Lăng, vì gần nhà tôi nên hai đứa trẻ hay qua lại chơi với nhau…Như đã nói trên, cái thằng nhóc là tôi của ngày xưa ấy nó rất nghịch ngợm và hay làm những điều tệ hại, một hôm trong lớp có bạn nào đó hát lên một câu lục bát rất giàu hình ảnh của đồng quê, nghe “ngộ” nên nó “hùa” theo, bởi trong câu ca đó có cá, có “chim”, có thức ăn đặc sản, có lao động chân tay…Chỉ có điều câu ca hơi bạo lực và thô tục chút xíu: “Tỷ Tùa đi lùa cá sặc/ Về nhà vợ cắt “c…t” nấu canh chua”!

Thế là Tỷ Tùa giận tôi luôn, tôi mượn cục gôm bạn không cho, một cách ngang ngược tôi xé tập bạn, thế là hai đứa ẩu đả… Thầy Thành “mời” hai tên lên phải nằm dài trên bục giảng để quất mỗi đứa năm roi mà không phân xử, phạt chỉ mỗi cái tội cả hai đều phạm là làm mất “trật tự trị an” trong lớp, Tỷ Tùa bị đánh trước và khóc hu hu, còn tôi là cái thằng tội nặng hơn thầy bắt phải đứng xem để tra tấn tinh thần tôi. Đến lượt tôi bị đánh đương nhiên tôi cũng khóc hu hu, nhưng tới roi thứ ba đột nhiên cái “máu điên” trong người tôi nó trỗi lên, tôi đứng dậy giật mạnh cây roi trong tay thầy, vì quá bất ngờ nên thầy để mất roi (!).

Quăng cây roi xuống nền gạch tàu, tôi hỗn hào chỉ vào thầy và thét lên: “ông oánh tui nhe. Nhớ nhe! Tui méc má tui!”. Nói là làm, cái thằng nhóc đó nó ù chạy, vừa chạy vừa khóc mặc kệ học trò các cấp lớp khác ngạc nhiên nhìn ra cửa sổ vì bị kinh động bởi tiếng khóc la và tiếng chạy thình thịch với tốc độ điền kinh, đằng sau là tiếng thầy Thành “Nguyên! Nguyên…”. Vì lớp 1 của thầy Thành là kế cạnh nhà vệ sinh đường Mạc Thiên Tích, còn lớp của má tôi là ở đầu dãy nữ đường Mạc Công Du, nên sau khi băng hết dãy Nông Lâm Súc, rồi chạy hết dãy nữ, tôi ào vào lớp má đang dạy (phải chăng là lớp chị Hoàng Thị Minh Liên?), mấy chị đang học cười ồ lên, má tôi rất nhanh để hiểu vấn đề vì đây đang là giờ học của cả trường và có lẽ bà nhìn thấy thầy Thành cuối dãy kia ra hiệu chi đó, bà thản nhiên cho tôi ngồi vào một góc thút thít, bà tiếp tục dạy… Cuối giờ đích thân bà dẫn tôi qua xin lỗi thầy, xin lỗi bạn Tỷ Tùa…

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Chiều đó chờ ba tôi đi làm về ba má hạch tội tôi. Cái hay của ba má tôi là ông bà luôn luôn “cùng một phe” để trị mấy đứa con, tôi bị rất nhiều tội: hỗn hào với thầy, xé tập bạn, chọc bạn, nói bậy… Thêm năm roi nữa là do ba tôi đánh, roi nào ra roi đó, hôm đó tôi lỗ nặng.

Rồi lại thêm chuyện, một hôm vào giờ ra chơi tất cả học trò phải ra sân hết, muốn chơi gì cũng được nhưng không được chơi trong lớp, ở ngoài sân tôi chạy giỡn và vấp té vào người của bạn Minh (con ông Đại Diện Mười người Hà Tiên chúng ta), không biết thế nào đó mà trong lúc chới với chúi nhủi thì thằng nhóc tôi chụp trúng ngay “cái lủng lẳng” của bạn Minh làm tuột cả quần bạn ấy, bạn ấy không giận mà chỉ theo chọc tôi “mẹc-xi- bóp-cu” (merci beaucoup), hễ cứ gặp tôi đâu là bạn ấy nói vậy… Mấy hôm sau  chịu hết nổi tôi nhào đến đánh bạn ấy, nhưng không phải lúc nào tiên hạ thủ cũng vi cường, hôm ấy tôi lỗ còn hơn hôm trước, Minh chỉ ra đúng một đòn hiểm là trúng cái mũi của tôi khiến cho “máu nhuộm sân trường”, thầy Thành lật đật đưa tôi đi kiếm bông gòn, cởi áo ra giặt sơ cho, rửa mặt và tay chân tôi… Ông làm việc đó tỉ mẩn và nhẹ nhàng, không quát nạt, chẳng đòn roi, chỉ khẽ rầy hai đứa sơ sơ, vì chuyện xảy ra trong giờ ra chơi là giờ tự do của bọn nhóc, rồi chiều về ông giao tôi cho má với cái áo còn loang nhiều máu trên hai vạt, má tôi hoảng hồn, thầy kể chuyện rồi nói thêm “ý là tui đã giặt sơ rồi đó!”.

Hôm đó tôi không bị đòn, nhưng trong thâm tâm có ý mong chờ ba má đi “mắng vốn” gia đình Minh vì tên đó đánh tôi “sặc máu mũi”, nhưng sau khi nghe má tôi kể chuyện, hai ông bà đồng thuận, ba tôi đại diện phát ngôn: “có sức chơi, có sức chịu!”

Nhiều năm sau khi tôi đã học trung học, lớp 9 lớp 10 chi đó, Minh từ Rạch Sỏi về kiếm tôi, hai đứa nói chuyện rất vui và đã bỏ qua cho nhau những câu chuyện thời con nít, giờ thì tôi lại lạc Minh đã lâu từ sau năm ấy …

Thầy Thành khiến cho tôi nghĩ về ông như một người thầy chuẩn mực, ông hành xử đâu ra đó và công minh, như câu chuyện của tôi đã kể, chuyện trong lớp của hai thằng nhóc ông đánh cả hai 5 roi về tội “mất trật tự”, nhưng “ẩn trị” cái tên gây hấn bằng cách cho nó đứng xem để nó biết sợ. Còn chuyện đánh nhau đến đổ cả máu ướt áo thế mà ông không đánh đứa nào vì ông “tôn trọng” cái tự do của tụi nó, đó là chuyện “chơi” trong giờ chơi chứ không phải chuyện trong giờ học, giờ chơi của con nít thì có thể xảy ra bao nhiêu là vấn đề? Nhưng cho dù thế nào thì đó cũng là “quan hệ cá nhân” của tụi nó trong giờ đó…

Khoảng năm 1978-1979 chi đó, lúc đó tôi học bên trường Thuận Yên, có thầy Lâm Hồng Trung người Long An Cần Giuộc, thầy dạy toán rất giỏi, thầy luôn tự hào về xuất xứ trường lớp của mình, ”tôi: Lâm Hồng Trung – Đại Học Sư Phạm Sài Gòn – VNCH đào tạo”, thầy nổi tiếng ngang tàng và không biết sợ cường quyền, câu “slogan” của thầy là “giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha!”, có lẽ thầy thích anh hùng tính của Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, cuộc đời thầy về sau vì cái tính cách đó mà thầy nhiều phen “lên bờ xuống ruộng”, nhưng thầy nói với tôi một cách không hề hối tiếc “đó mới là Lâm Hồng Trung!”… Năm đó con thầy Thành học dưới tôi một lớp, phạm một cái lỗi chi đó mà còn hỗn với thầy Trung, thầy Trung giận lắm bèn mời thầy Thành (thầy Thành làm hiệu phó trường Thuận Yên) đến để phân xử, thầy Thành không hề bênh con, thầy cũng chẳng phân xử mà chỉ phán rằng “nó là con tôi, nhưng mắc lỗi với thầy trong lớp thầy, thầy toàn quyền xử nó!”, thế là bạn ấy bị thầy Trung xử một cách “ ra thầy ra trò”, bạn ấy khóc la đến cái đỉnh núi kế trường Rạch Núi còn nghe, còn thầy Thành thì ngồi trong phòng giám hiệu chỉ cách một bức tường nhưng tâm định như Thái Sơn!

… Đó là lý do tôi nể ông, tôi tự hào là học trò của ông, tôi sợ ông từ cây roi thứ ba ngày ấy, tôi quý mến ông khi ông ân cần chăm sóc vết thương mà tôi tự tìm đến khi gây sự với bạn bè. Ông cùng với ba má tôi cho tôi những bài học nhớ đời, về tính kỷ luật, về trách nhiệm với bản thân mình, về lời xin lỗi… Cùng uốn nắn tôi từ tấm bé, lúc mà cái thằng tôi hoang dại như cây cỏ ngoài đồng…

Tôi mang ơn ông với cách nghĩ của mình, tôi rất ít khi gặp thầy vì tôi ở xa Hà Tiên, nhưng tôi vẫn có thông tin của thầy từ má tôi, bà luôn kính nể và gắn bó với ông như đối với người thủ trưởng năm xưa… Ngày ông mất tôi đã bỏ hết công việc ở Sài Gòn để chạy về một đêm chỉ để đến với ông, thắp nén hương mà nói rằng: “Con đã xin lỗi thầy nhiều lần rồi, nhưng hôm nay con nói điều mà chưa bao giờ con nói – cám ơn thầy!”

Tôi tự thấy mình như Quách Tĩnh của Kim Dung trong câu chuyện thọ ơn nhiều “sư phụ” khi tuổi đời càng ngày càng dày lên (tôi nào dám so với sự tài giỏi của chàng?), nếu như đời người là trăm năm thì tôi đã bước qua con dốc cuộc đời rồi. Trong suốt cuộc đời đó tôi đâu chỉ học kiến thức nên đã có rất nhiều “sư phụ” ngoài kia mà tôi đã thọ ơn, nhưng hình ảnh và những câu chuyện của tôi với các thầy cô từ tấm bé khiến tôi không thể quên được, nó cứ quay về bất chợt như hôm nay…

QN (11/2020)

Tái bút: Nhờ có các bạn, các em còn sinh sống ở Hà Tiên chi biết thông tin về cô Tăng Ngọc Dung như sau: Cô Tăng ngọc Dung chết vì bị trúng đạn pháo kích ngày mùng 9 tháng 10 âm lich, năm 1972 mùa hè đỏ lửa. Cô chính là người em gái út của chú Mười Thân làm nghề Đồi Mồi. Lúc bị trúng đạn pháo kích, cô và người con của cô đang ở quán bán tạp hóa của gia đình dưới chợ cá cũ Hà Tiên, cả hai người cùng chết cả. (Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » xin cám ơn rất nhiều các bạn, các em đã giúp và góp ý về chi tiết nầy).

 

Vài năm thành muôn thuở (Nguyễn Hồng Ẩn-« Anh Tú »)

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay đọc được bài viết trên Blog « Chia Sẻ Vui Buồn » của thầy Nguyễn Hồng Ẩn viết về một người đồng nghiệp, một người « em » kết nghĩa lúc các thành viên trong gia đình kết nghĩa còn dạy học ở Hà Tiên…Trong bài viết còn có một bài thơ, bài thơ viết cho hương linh của người em kết nghĩa đó, vì đã qua hơn một nửa thế kỷ kể từ ngày gặp nhau trên tình đồng nghiệp và tình bạn thân thiết, nay lại được tin báo là « cô Ba » đã ra đi từ thành phố Rạch Giá, nơi quê hương xa xôi…Thât đau buồn và cũng xót xa, ngẩn ngơ trước hung tin đó,…vì thế bài thầy viết mang tựa là « Vài năm thành muôn thuở »,…Đúng là như vậy, trong thời buổi chúng ta hiện nay, thầy cô trò, bạn học, mỗi người ở một nơi, có thể gần nhau khi còn cùng trên một đất nước, nhưng cũng có thể rất cách xa nhau, trải qua một đại dương,…mà được gặp nhau thì chỉ một vài lần, cũng có thể khi « xa nhau từ độ ấy » là không còn dịp gặp lại nhau nữa, nên chỉ có « duyên » vài năm như thế để rồi trở thành muôn thuở xa nhau…Xa nhau trong thời gian mà cũng xa nhau trong không gian, người bên nầy, người bên kia, bến bờ đó có thể là bến bờ một đại dương mà cũng có thể là hai bờ của hai thế giới âm dương,…Cũng như đoạn cuối thầy đã viết, thôi thì dù sau mọi người chúng ta cũng sẽ còn có dịp gặp lại nhau: « Sẽ sum vầy lần nữa;
Chốn an bình thiên niên« …..Sẽ gặp lại nhau khi mà mỗi người, trước hay sau, đều trả xong món nợ đời thiên thu…Xin mời thầy cô và các bạn đọc bài viết của tác giả Anh Tú nhé…Thay mặt Blog THHTX, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn đã cho phép đăng lại bài viết của thầy.  (Paris, 22/11/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

 

VÀI NĂM THÀNH MUÔN THUỞ 

(Cho hương linh Cô giáo Trần Ngọc Điệp, từ trần lúc 20:30′ ngày 30/10/2020 dương lịch nhằm 14/9 âm lịch tại Rạch Giá Việt Nam)

Cô Trần Ngọc Điệp, cô giáo trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên trong những năm 60-70

Anh Cả* Vĩnh Long đến
Anh Hai* Cần Thơ qua
Cô Ba* quê Rạch Giá
Chung cảnh ngộ xứ xa.

Đất Hà Tiên dấn bước
Mê phấn trắng bảng đen
Góp phần cho đất nước
Dắt tuổi trẻ sách đèn.
 
Ba người thêm cô Út*
Anh em kết nghĩa tình
Ngắm ráng chiều bên núi
Đón tia nắng bình minh.

Chia sẻ kinh nghiệm sống
San sớt nỗi buồn vui
Vài năm thành muôn thuở
Kỷ niệm không chôn vùi.

Mỗi nơi …nửa thế kỷ
Một sáng… sóng bùi ngùi
Cô Ba đi về đất
Để thương tiếc không nguôi.

Hãy yên nghỉ người hởi
Tình nghĩa dầy còn đây
Trong lòng kẻ ở lại
Vẫn mãi mãi đong đầy!

Sẽ sum vầy lần nữa
Chốn an bình thiên niên
Bốn chúng ta tay bắt
Mặt mừng vui viễn miên!

Nguyễn Hồng Ẩn (Anh Tú)
November 20, 2020


*Anh Cả: Nguyễn Hồng Ẩn
*Anh Hai: Huỳnh Văn Hòa
*Cô Ba: Trần Ngọc Điệp
*Cô Út: Tăng Mỹ Ngọc

****************************************************************************************************

NHÓM BẠN GIÁO CHỨC HÀ TIÊN XƯA

Sau khi viết xong VÀI NĂM THÀNH MUÔN THUỞ, tôi mới viết được câu chuyện năm xưa:

Năm 1965, tôi đến Trung học Hà Tiên sau khi ra trường.

Tại thị trấn biên cương này, tôi quen biết nhiều đồng nghiệp Trung, Tiểu học; họ rất thân thiện, dễ mến.

Tuổi thanh niên năng động, còn ham vui mà mang vào mình trọng trách là nghề giáo, đến làm việc tại nơi cô liêu, u tịch, hình như bị cô lập với các thị thành náo nhiệt gần đó do chiến cuộc nên tôi cảm thấy buồn tẻ lắm.

Tuy nhiên, vốn bản tính thích thiên nhiên nên sông núi biển đất Giang Thành, với học trò  tính tình hiền hoà chân thật ham học, cùng một số đồng nghiệp trẻ xa nhà như mình thì tất cả là những niềm vui, những an ủi vô biên cho tôi.

Trong số bạn đồng nghiệp hợp tính nhất có cô giáo Trần Ngọc Điệp, Tăng Mỹ Ngọc và anh Huỳnh Văn Hòa. Theo thời gian, chúng tôi cùng rong chơi vài thắng cảnh quanh thị trấn khi rổi rảnh, lúc cuối tuần thì thân tình nảy nở dần dần, nên một trong chúng tôi đề nghị kết nghĩa anh-chị-em. Theo tuổi tác lớn đến nhỏ, tôi là anh Cả, Hòa là anh Hai, Điệp là cô Ba và Mỹ Ngọc là Út.

Tình bạn của chúng tôi thật trong sáng, giữ gìn bền chặt trong lòng cho dù sau này chúng tôi có chuyển nhiệm sở khác, hoặc trải qua bao biến động của thời cuộc.

Nhớ lại: khi tôi lập gia đình, 22/8/1967, đám cưới được tổ chức tại Vĩnh Long, do tình thế dạo ấy, tôi đã không có thể biết các bạn ở nơi nào để thông báo hoặc mời vì các bạn đã thuyên chuyển khỏi Hà Tiên. Thế mà một bất ngờ, không rõ do thông tin từ đâu mà ba bạn quý,  cô Ba Điệp, Cô Út Mỹ Ngọc và cô Cưởng đột ngột xuất hiện khiến tôi cảm động vô cùng.

Quý cô đồng nghiệp đến dự đám cưới thầy Nguyễn Hồng Ẩn ngày 22/08/1967. Từ trái qua phải: Cô Tăng Mỹ Ngọc, Cô dâu Vân, chú rể Nguyễn Hồng Ẩn, cô Trần Ngọc Điệp, cô Cưởng.

Tôi thì gắn bó nhiều với anh Hòa : do là trai cùng lứa tuổi nên gặp nhau tại Quân trường Thủ Đức, gặp lại nhau khi tôi về dạy học tại Cần Thơ rồi Bình Minh Vĩnh Long, gần quê nhà của anh, và cùng lên đường tù “cải tạo”.

Một lần vượt biển không thành công, tôi có gặp lại cô Điệp tại Rạch Giá, túi bị rổng, nên được cô cho mượn tiền để đi xe về Vĩnh Long.

Những năm gần đây, do tiến bộ về tin học, chúng tôi tìm gặp lại nhau và liên lạc dễ dàng hơn.

Ngày 31/10/2020, khoảng 2:30 sáng, giờ bờ Đông Hoa Kỳ ( tức ngày 31/10/2020 khoảng 2:30 chiểu  giờ Sài Gòn Việt Nam) tôi thức giấc, thói quen liếc qua phone thì thấy tin nhắn của cô học trò cũ ở Hà Tiên, Lâm Lan cũng là bạn đồng nghiệp với cô Điệp, báo tin Điệp vừa “ra đi”.

Dù biết rằng sẽ có “ngày này”, nhưng lòng tôi xót lắm, ngẩn ngơ.

Bình tâm lại, tôi muốn viết, viết cái gì đó về nhóm bạn của chúng tôi…cho cô Ba và cho ba người còn « ở lại » khi chưa xong “nợ đời”- món nợ đời mà ai cũng muốn trả hoài không hết (!?) – viết để tiển đưa, an ủi cô Ba, mong linh hồn cô chứng giám được.

Cầu nguyện hương hồn cô Trần Ngọc Điệp sớm siêu thoát.

Hãy an nghỉ nhe cô Ba!

Nguyễn Hồng Ẩn <Anh Tú>
November 21, 2020

 

Người Bưu Tá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, thời gian từ từ trôi qua, nhờ Trời thương, Blog của chúng ta vẫn được những cây bút tài ba luôn ủng hộ và thỉnh thoảng gởi bài cộng tác…Hôm nay nhận được bài từ một phương trời xa, nhìn thấy tác giả ký tên QN thì nhận ra đó là cây bút rất quen thuộc của chúng ta…QN đã từng viết rất nhiều bài trên Blog nhà, bài nào cũng hay và rất lý thú với một cung cách văn chương có thể dược xếp vào loại « hiện thực »…Văn chương hiện thực là loại văn người ta viết tả chân mà tiên phong trong những năm 30 phải kể đến các tiền bối Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô tất Tố…Ngày nay bắt đầu những năm 20 kể ra cũng gần một thế kỷ trải qua, hy vọng là cây bút QN sẽ được nhắc nhở nhiều và tiếp nối được phong trào hiện thực vốn rất được nhiều độc giả yêu chuộng…!! Từ đầu đến giờ mãi lo viết về tình hình Blog và tác giả QN mà chưa vào chủ đề chính của bài sẽ được giới thiệu dưới đây…Thôi thì xin vào đề nhé,…Từ xưa đến giờ, ai cũng biết là ngoài những việc tiếp xúc trực tiếp tay nắm tay, mắt nhìn mắt, ta còn có một phương tiện khác rất tiện lợi và nhất là rất tế nhị…, đó là viết thư gởi cho nhau đọc…Thời mình còn nhỏ đến trưởng thành, ăn học ở Hà Tiên, mình cũng có nhiều lần trao đổi thư từ với các bạn ở những nơi khác. Tuy nhiên mình cũng quên đi không thể nhớ được là trao đổi thư từ với ai cụ thể…Chỉ nhớ là mình biết rành ở Hà Tiên có một người làm nghề bưu tá, chuyên phát thư cho dân chúng Hà Tiên, và người đó làm việc rất cẩn thận, liêm chính, đó là chú Sáu « Viên » nhà ở gần chùa Tam Bảo…Mình biết chú và lúc nào cũng thấy chú trên chiếc xe đạp chạy vòng quanh hết cả những con đường ở Hà Tiên…Chú Sáu thì cũng biết mình, tuy mình thuộc hàng con cháu mà thôi…Hình như là chú Sáu có quen và biết rành về những người anh chị bà con của mình…Lại xin nói thêm về tên riêng của chú, ai cũng kêu chú là chú Sáu Viên, không ai thắc mắc hay đánh lưỡi rành rẽ để phát âm cho đúng từ « Viên »..Vì thế hơn sáu bảy chục năm nay, nếu không có các bạn góp ý cho mình biết trên trang face book của mình thì mình vẫn nghĩ chú tên là « Viên »…đến đổi khi đọc bản thảo bài viết của tác giả QN, có nhắc đến tên « Diên » mình rất ngạc nhiên và cho là không thể được vì trong đầu óc mình, chú vẫn là chú Sáu Viên…Rốt cuộc sai hoàn toàn, nhờ có bạn Tăng Thị Sáu, học trò xưa Trung Học Hà Tiên và nhất là một đồng nghiệp với chú Sáu, cho biết một cách chính xác, chú Sáu có tên họ đàng hoàng là « Trương Văn Diên »…Vậy là đã rỏ, không còn đặt câu hỏi gì nữa,…đến hôm nay mới biết tên họ chú rỏ ràng, rất là hay, cám ơn Tăng Thị Sáu rất nhiều nhé…

Mình nghĩ là khi mình rời Hà Tiên, rời quê hương đi định cư ở Pháp thì lúc đó ở Hà Tiên, má của mình mới có dịp được chú Sáu đến thăm thường xuyên, vì lúc đó mẹ con trao đổi thư từ rất nhiều, mẹ cũng có kể cho mình nghe là thường hay « trông ngóng » chú Sáu để được nhận thư của con trai….Có thể cho mình viết một câu cám ơn chú Sáu dù cho lời cám ơn quá muộn màng và người nhận cũng không có cảm giác chi,…tuy nhiên cũng như vài hàng kết thúc bài viết của QN, mong rằng ở nơi đó, chú cũng theo dõi tình hình quê nhà Hà Tiên, đọc bài trên mạng và có thể chú sẽ thấy bài viết nầy và sẽ mỉm cười nói « Tao biết má mầy, tao thường đem thư của mày đến nhà cho má mầy đó… »…!!

Trong thời niên thiếu còn theo học Trung Học Hà Tiên, mình đã có quen đến hai gia đình của hai ông Trưởng Chi (không biết là « Chi » hay « Ty ») Bưu Điện Hà Tiên, và hai gia đình nầy đều có con trai gái theo học Trung Học Hà Tiên, tất cả đều là bạn thân của mình thời đó…Đã có bao lần cả bọn cùng lớp kéo đến Chi Bưu Điện Hà Tiên, mặt trước quay ra đường Tô Châu, còn mặt sau nhìn ra Đông Hồ thơ mộng, trong khu viên của Chi Bưu Điện, có đất vườn rất rộng, đặc biệt là có rất nhiều cây xoài cao lớn…Thời đó, các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn,…cùng nhiều bạn gái đến đó, và các bạn đã « anh dũng » leo lên các cây xoài nầy để hái rất nhiều trái xoài và cắt ra thành nhiều lát mỏng, chấm nước mắm đường rất ngon…(Sở dĩ mình nói leo các cây xoài một cách « anh dũng » vì cho đến bây giờ mình vẫn là tuổi « con thỏ » mặc dù tính đúng 12 con giáp thì phải là con rồng…, con thỏ là vì mình rất « nhát » không dám leo cao…, chỉ nhìn các bạn leo trên các nhánh cây xoài cao vút mà lắc đầu, lòng thì ngưỡng mộ thôi…)…Nhờ có bạn thân thương như vậy, ngày nay mình mới còn được vài tấm hình của Chi Bưu Điện Hà Tiên minh họa cho bài viết nầy, thật là rất may mắn và rất hay…Thầy cô và các bạn sẽ thấy lại Chi Bưu Điện ngày xưa, nơi mà mình chắc chắn rằng không có ai trong quý thầy cô và các bạn mà không lần nào đến đó để gởi đi một phong thư hay một tờ điện tín… Còn hình chân dung của chú Sáu Diên thì tiếc thay mình không có, đã có nhắn tin xin được chia sẻ, hy vọng rằng bạn nào đó sẽ ủng hộ giúp mình nay mai…

Viết đã dài dòng rồi, không khéo thì đánh mất « vedette » của bài viết dưới đây của tác giả QN, mà làm sao như thế được, vì xin nói trước với thầy cô và các bạn, bài « Người Bưu Tá » dưới đây của tác giả QN, rất hay, rất lý thú và cũng không kém phần cảm xúc khi đọc bài thấy nhớ người, nhớ quê xưa…Mời tất cả vào bài nhé,…(Paris, 27/10/2020, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Người Bưu Tá (Quang Nguyên)

Chân dung chú Trương Văn Diên (thường được kêu thân mật là chú « Sáu Diên », chú Sáu Diên mất ngày 24 tháng tám Âm lịch, năm 2002. Hình thờ trong gia đình.

Nghĩ cũng thật lạ, ngay trong cuộc đời của mình thôi mà xã hội đã thay đổi một cách thần tốc, nó làm cho một số thói quen, một số công việc bình thường của chúng ta ở ngày xưa mà giờ có thực hiện cũng xem là không bình thường chút nào… 

Lấy ví dụ như ta lấy giấy và bút ra ngồi viết thư để gửi gắm tâm trạng lãng mạn và mang cái cảm xúc ấy bay bổng đến người sắp nhận, để ngòi bút lướt trên trang giấy tự do rồi thỉnh thoảng đọc lại câu chữ vừa viết chợt nhận ra mình không hài lòng với câu cú hay chỉ với nét chữ của mình, rồi gạch xóa một vài chữ sai, chữ thừa hay tô vẽ thêm khi câu cú chưa đủ hình tượng, rồi vào cuối thư phóng tay ký chữ ký mà bao nhiêu ngày tháng mình đã cố công múa máy, cốt sao để chữ ký hóa rồng bay phượng múa để làm cho người nhận ở phương xa có ấn tượng nhất…Sau khi mất vài tiếng, có khi vài hôm để hoàn thành một bức thư thì công việc còn lại là bỏ chúng vào bao thư, nắn nót tên người nhận bằng cách viết hoa với kỹ thuật đẹp nhất mà mình có, lấy miếng hồ dán quẹt vào mép phong bì, hay lười biếng hơn là thè cái lưỡi gửi một tí AND kém vệ sinh theo phong bì ấy đến người nhận, cho dù người ấy có là ai đi nữa. Sau đó, bạn phải mang cái phong bì có cái ruột đầy ắp các loại hỷ nộ ái ố và một chút cái mật mã di truyền sinh học mất vệ sinh của mình ra Bưu Điện gửi, để rồi sau đó là một chuỗi ngày dài chờ đợi với niềm tin rằng thư đi rồi tin sẽ lại…

Nhưng hôm nay tôi không có ý định viết một bài về việc “viết thư”, mà về người bưu tá giao thư!

… Bỗng nhiên một hôm tôi chợt nhớ ông, một người rất đổi bình thường làm một công việc bình thường nhưng là một người không thể thiếu ở xứ Hà Tiên của chúng ta. Tôi cũng không biết rằng cái mối quan hệ giữa một người lớn và một thằng nhóc đó có tự bao giờ, chỉ biết rằng « chúng tôi » gặp thường xuyên lâu dần rồi quen. Tôi từng chờ đợi ông hàng ngày, thấy ông từ xa là đã thầm mong ông ghé qua nhà mình, thấy ông nhìn mình với ánh mắt giễu cợt là tim mình rộn lên vì biết rằng sẽ có thư.

 – Ê Bé! « thơ » của bồ mày nè.

 – Sao bác biết « thơ » của bồ con?

 – Đâu có ai « hưởn » để viết « thơ » cho mày hoài mà dài dữ vậy?

Dĩ nhiên với kinh nghiệm mấy mươi năm làm nghề của ông, thời ông khắc biết với một phong thư dày được gửi đi với tên của một người con gái có nét chữ chân phương của học trò, đều đặn gửi cho tôi cứ mười ngày hay nửa tháng một lần thì không phải vậy là gì?

Một cái mối quan hệ cũng lạ kỳ, cho đến giờ tôi cũng không biết tên chính xác của ông là gì nữa, ông tên Diên, Viên, Riêng hay Giêng? Tôi chỉ nghe người ta gọi ông là “Sáu Diên” (người miền Nam thì tên nào như trên cũng đọc là Diên!), và để kính trọng tôi chỉ gọi đơn giản là “bác Sáu”, vì chừng như ông lớn hơn ba tôi.

… Xưa lắm, trước 1975, khi ông còn trẻ với mớ tóc chải và chiếc xe đạp có bộ thắng và vè bọng đầy đủ với cái giỏ đằng trước, và là khi tôi còn rất nhỏ chạy lúp xúp dưới chân má tôi, thì mỗi khi “Cô ơi, có thơ!” là tôi nhanh nhất nhà chạy ù ra lấy thư. Cũng tùy sở thích hay sự tiện lợi của ông mà hôm ấy ông thích cưỡi chiếc xe đạp nhảy tưng tưng trên con đường Tham Tướng Sanh đầy đá cục trước nhà tôi hay ông muốn chạy tàng tàng êm ái trên con đường Bạch Đằng trải nhựa sau nhà, nhiệm vụ của tôi là định hướng gọi của ông mà chạy ra để lấy các niềm vui nho nhỏ mang vào cho ba má tôi.

Và theo phong cách của người xưa, một cách lịch sự má tôi đi ra sau, tự tay đưa phong bì chút ít để “boa” cho ông, nhưng tuyệt đối không bao giờ ông nhận, về sau má tôi thỉnh thoảng biếu ông lúc thì quả mãng cầu xiêm, khi thì nải chuối, lúc là quả đu đủ từ vườn nhà cũng chỉ để cảm ơn ông một cách ý nhị, ông vui vẻ treo lủng lẳng trên ghi- đông xe và khoan thai đạp đi…

Rồi sau năm 1975, tôi cũng định hướng tiếng gọi của của ông mà chạy ù ra nhanh nhất, để mang vào cho má tôi những phong thư dày cộp mà ba tôi đã viết từ trong trại cải tạo gửi về, với đầy ắp những yêu thương dành cho “em thương yêu và sắp nhỏ…” (tính ba tôi cẩn thận, ông viết nhiều để dặn dò rất kỹ lưỡng đến từng đứa con, mà con ông chỉ có … tám đứa!). Cũng có khi bác Sáu giao những phong thư dày cộp ấy khi ông gặp tôi đang khệ nệ vác bao bánh mì rêu rao lang thang trên khắp hang cùng ngõ hẻm xứ Hà Tiên để giúp má tôi cải thiện cuộc sống quá đói nghèo những năm tháng ấy, ông không quên mua giúp tôi ổ bánh mì để ủng hộ và còn dặn dò:

 – Bán nhanh rồi về con! « Thơ » của thầy. (người miền Nam hay gọi thư là thơ)

Nhưng dạo ấy có khi bác Sáu không có bức thư nào mà chỉ là đưa mảnh giấy điện tín có vài chữ ngắn súc tích (mà người gửi đã phải trả tiền rất nhiều), được “ám hiệu” nội dung mà chỉ người nhận mới hiểu, ví dụ “A (hay B…) thi đậu”. Cái nội dung đơn giản dễ hiểu ấy hóa ra bao hàm cái niềm vui tột cùng của người gửi, sự chia sẻ niềm vui cho người nhận, hoặc một thông báo ngầm cho một « đường dẫn đến tương lai »… Bọn trẻ chúng tôi chỉ hiểu trong bữa cơm khi má cho hay anh (chị) hay bà con chi đó đã vượt biển trót lọt đến Thái đến Phi..v.v..

Sau này, khi anh em chúng tôi đi xe nước mướn ở Hà Tiên, thỉnh thoảng bác Sáu đuổi theo hoặc dừng chúng tôi lại để đưa các phong thư, có lần bác như vội vả điều gì, bác thao tác nhanh lắm chỉ một lần cái động tác rút trong cái túi thư thì phong thư dài dài khác với khổ thư thường thấy, thì phong thư ấy đã nằm gọn trong tay bác, bác đã không quên dặn dò thầm thì:

 – « Thơ » ở nước ngoài gửi cho thầy, cất kỷ nhe con, tụi mày kiếm cái túi nylon bỏ vào để khỏi ướt!

Hồi ấy có thư nước ngoài gửi về là một chuyện rất “tế nhị” nhất là hoàn cảnh nhà tôi, bác Sáu vì vậy mà rất khéo léo… Ngày hôm ấy ba tôi hẵn đã rất vui dù tôi thấy ông rất xúc động, con mắt còn lại của ông đỏ hoe khi đọc mấy trang thư từ Paris, người gửi là chú Hòn, ba nói rằng đó là một học trò cũ của ba, nhà chú rất nghèo và ở ngoài hòn, chú được ba giúp đỡ cho ăn học, chú ấy là học trò tại Trung Học Hà Tiên của chúng ta … Chú Hòn đã cố gắng gửi một bức thư thăm ba tôi với địa chỉ rất mơ hồ vì chú đã không còn nhớ địa chỉ chính xác, chỉ có cái tên là chú viết đúng “thầy Trương Minh Đạt”. Ở Hà Tiên chúng ta những người tên Đạt không hiếm, còn đã là thầy giáo thì cũng có thầy giáo tên Đạt khác không riêng gì ba tôi. Lại có việc Hà Tiên nhiều lần thay đổi địa chỉ nhà, như nhà tôi đã đến bốn năm lần đổi địa chỉ mà chưa lần nào bị thất lạc thư từ. Bác Sáu có thể không giao vì địa chỉ không rõ ràng, nhưng bác là người rất có tâm và trách nhiệm, mẫn cán với cái công việc dù rất đơn điệu của mình…

Khi chúng tôi lớn lên, đi học, và có bạn bè phương xa… Thì anh chị em chúng tôi hay viết thư để giao lưu với bạn bè tứ xứ, thư qua tin lại đó là niềm vui không nhỏ của đám học trò nhà này, thì có nghĩa là bác Sáu phải làm việc nhiều hơn, nhưng tôi vẫn thấy nụ cười hóm hỉnh giễu cợt của bác khi trêu chọc chúng tôi. Chỉ một lần tôi thấy bác « rầy » thằng em út nhà tôi, khi nó nhận thư của cô bạn gái mà nó để địa chỉ của một đứa bạn khác ở xóm Lầu Ba nhờ chuyển cho nó, vì nó cố tình dấu mấy anh chị quá ư nhiễu sự của nó, thấy cái tên họ Trương mà ở địa chỉ lạ hoắc, bác Sáu bèn kêu nó ra và nói:

 – Nè, mình có tên họ đàng hoàng, có nhà cửa đàng hoàng, thơ thì cứ gửi về nhà mình không gửi chuyển lung tung nhe mậy!

Với đám trẻ con nhà này thì bác Sáu luôn mày tao một cách xuề xòa dễ dãi, nhưng những chuyện như vậy là bác đang nghiêm túc dạy cho chúng biết cái điều lớn hơn để “làm người” sau này: “danh có chánh thì ngôn mới thuận”!

… Rồi thời gian qua rất nhanh, tôi không kịp nhận ra bác Sáu đã bỏ đi mái tóc đen chải một bên bằng mái đầu cua lún phún sợi bạc từ khi nào? Cũng không biết từ khi nào chiếc xe đạp của bác đã không còn vè và thắng? Có lẽ bác đã già đi và đạp chậm hơn nên không cần đến chúng nữa chăng? Nhưng những khi về thăm gia đình tôi vẫn thấy bác đi giao thư, cứ thong thả và chậm chậm tôi chờ bác đến để hỏi vài câu xả giao, thăm hỏi sức khỏe bác…

Cho đến một hôm về thăm nhà, tôi hỏi thăm má về bác Sáu, má tôi cho hay bác mất rồi, hôm đó tôi buồn và nhớ bác vì tuổi thơ của tôi luôn có hình bóng bác Sáu với cái dáng đạp xe khoan thai, với các cánh thư buồn vui qua các thời cuộc mà bác đã mang đến cho gia đình tôi nói riêng và các gia đình khác ở quê hương Hà Tiên chúng ta.

Giờ chuyện thư từ này được giải quyết một cách chóng vánh với bao nhiêu là ứng dụng của thời @, chỉ cần một cái smartphone là bạn có thể giải quyết “nhanh hơn một nốt nhạc”! Vì vậy mà có khi các cảm xúc thú vị về việc viết thư tay qua đường Bưu Điện của chúng ta đã biến mất tự bao giờ, cảm giác chờ nhận thư của người thân yêu, của bạn bè… từ người bưu tá đã không còn nữa. Tiếc thật! Và chắc chắn một điều rằng sẽ không có còn ai tạo được một hình ảnh về một người mấy mươi năm làm một bưu tá mẫn cán, liêm chánh và có tâm như ông.

Hà Tiên có nhiều người nổi tiếng đóng góp tài sức cho quê nhà, nhưng nếu chúng ta không nhắc đến những người bình thường, làm những công việc bình thường như ông bưu tá mà tôi kính trọng gọi bằng “bác Sáu” thì thật là có lỗi với tiền nhân.

Cho dù ông tên Diên, Viên, Riêng hay Giêng cũng không quan trọng, vì người Hà Tiên nhớ tới ông sẽ nhắc ngay – ông Sáu « Diên”.

Ở Suối Vàng, ông sẽ thật vui nếu ông biết có người nhắc đến ông với tất cả sự trân trọng, sẽ còn hay hơn nữa nếu nơi ấy có mạng Internet thì dứt khoát ông sẽ đọc được bài này, vì ông là một người yêu Hà Tiên hơn tất cả những người Hà Tiên chúng ta, bởi tất cả các con đường nơi đây đều in dấu chân ông.

QN.

10/2020.

Dãy nhà bên trong khu Chi Bưu Điện Hà Tiên, dùng làm văn phòng, tem thư, điện tín..v..v…trong những năm 60 – 70. (Hình: Bạn học chung trường lớp THHT ngày xưa)

Một trong những cổng lớn vào khu Chi Bưu Điện Hà Tiên, nhìn ra đường Tô Châu, Hà Tiên. Đây là cổng vào khu cư xá nhà ở của gia đình Trưởng Chi và nhân viên. Thời gain: những năm 60-70. (Hình: Bạn học chung trường lớp THHT ngày xưa)

Các bạn trong lớp mình đang tụ tập tại nhà Nguyễn Anh Tài (lúc đó là khu cư xá nhà ở của Chi Bưu Điện Hà Tiên vì Ba của Tài làm trưởng chi). Khu nầy có rất nhiều cây xoài nên tụ tập lại cả lớp để leo cây xoài hái ăn. Trong hình là chị Huỳnh Kim Cúc, Mai Thị Ngọc Minh và Lý Văn Tấn đang chấm xoài với nước mắm đường,… :-). (Hình: TVM)

Tái bút:

1/ Bạn học cùng trường ở Hà Tiên có góp ý thông tin về chú Sáu Diên như sau: Chú Sáu là một người nhân viên rất tận tụy với nghề, khi về hưu chú ra đốn cây me ở gần nhà, rồi từ đó chú bịnh hoài luôn, không bao lâu là chú mất. Vào năm 1978 lúc có giặc biên giới tràn qua Kiên Lương, chú Sáu chạy xe đạp xuống Kiên Lương thăm bà con, sau đó chú đạp xe về Hà Tiên vì không có xe đò.  Chú rất có tình cảm với con cháu, chú mất năm nào lâu rồi mình không còn nhớ rỏ,.(Tăng Thị Sáu).

 2/ Em Tăng Thị Sáu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã chia sẻ được một tấm hình chân dung chú Sáu Diên và có cho thông tin về ngày tháng chú mất. Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » xin cám ơn em Tăng THị Sáu nhiều nhé.
 

 

Nhớ Trung Thu năm xưa…(Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, tháng chín năm rồi (2019) cũng nhân dịp mùa Trung Thu về, bạn Trương Thanh Hùng có viết một bài tựa là « Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên… ». Qua bài viết nầy, mình có viết lời giới thiệu và anh Trần Văn Dõng cũng có bổ túc nhiều chi tiết nhắc lại sinh hoạt Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên. Hôm nay Trung Thu cũng lại về với những tia sáng của vầng trăng ngày càng sáng tỏ và tròn trịa, nỗi nhớ Trung Thu của những năm xưa ở Hà Tiên chợt dâng cao khiến mình không thể không viết lại một chút gì đó để bày tỏ tâm trạng nhớ đêm « cộ đèn » diễn vào ngay ngày rằm Trung Thu do hai trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên (cùng với sự tham dự của trường Hoa Hà Tiên nữa)  tổ chức và có rất nhiều thầy cô, học sinh tham gia đóng góp bằng cách trưng ra những tác phẩm lồng đèn đầy màu sắc, đầy sáng tạo…(Có thể là những buổi « cộ đèn » vào dịp Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên là do chánh quyền Quận tổ chức và có sự tham gia của các trường học ở trong Quận).

Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », « Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn ») …Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó các nhân vật là có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay «ronéo» thời đó), theo lời hai bạn Nguyễn Thúy Vân và Hồ Thị Kim Hoàn kể lại thì tờ báo nầy có tên là « Dân Ý »,các trang trong chỉ là những tờ giấy màu vàng không bóng láng, in từng tờ rồi dùng kim đóng sách bấm lại, đó là việc do Thúy Vân và Kim Hoèn thường làm để giúp cho cô Chín Triệu, còn việc quay « ronéo » thì do chú Bảy Kế đảm nhận. Thúy Vân và Kim Hoàn còn kể thêm là ngày xưa đó mặc dù « tuổi của em chỉ mới 13″…!! mà cũng thường làm thơ gởi đăng vào báo nầy vì tờ báo còn non trẻ cần rất nhiều bạn văn thơ đóng góp bài vở, nhất là trong giới học sinh Trung Học Hà Tiên…Còn riêng mình thì cũng có cộng tác với tờ báo nầy, mình có viết được hai bài đoản văn, bài nào cũng là để diễn tả tấm lòng về một người con gái cùng thời xưa đó, hai bài tức là nói về hai người con gái khác nhau, tuy trong bài mình chỉ dùng kỷ thuật « hư cấu » không nói rỏ tên họ hai người con gái ra nhưng cũng có bạn khi đọc bài cũng hiểu và biết hai người đó là ai,…nhất là bạn La Văn Cao thường hay trêu chọc mình, mỗi khi gặp mình Cao thường nói lẩm bẩm trong miệng: « Tôi rùng mình kéo cao cổ áo vì cơn gió lạnh thoáng qua… » (đó là Cao nhắc lại một câu viết trích trong một trong hai bài đăng báo đó…)

Trong bài báo của mình đươc chọn đăng nhân dịp Trung Thu ở Hà Tiên, nội dung câu chuyện là nhân vật nam chánh (tức là mình) đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Nhân Trung Thu lại về, lòng thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …
Theo góp ý của anh Trần Văn Dõng, ngày xưa, Trung Thu nào ở Hà Tiên cũng có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Trong nhà mình có mình, anh Dõng cùng tiếp em thứ tư là Trần Văn Phi làm một cái lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em Phi mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Có rất nhiều lồng đèn với nhiều kiểu lạ mắt và hình dáng rất sáng tạo…Ôi, ngày xưa!
Còn điều này nữa, theo trí nhớ, thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn. Từ đó mới có bối cảnh trong câu chuyện đăng báo do mình viết…
Năm nào cũng vậy, cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia, có điều đặc biệt là Trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (hình quả địa cầu có con chim bồ câu Hòa Bình đậu phía trên…), còn hầu hết tất cả các em học sinh của Trường thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt (trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa rất đẹp.

Nếu nói về các giai đoạn làm một chiếc lồng đèn thì cũng khá gian truân, hơi phức tạp. Hồi xưa mình rất ngưỡng mộ các bậc người lớn làm lồng đèn, mình rất mê xem người ta làm, vì mình không biết làm thật sự một chiếc lồng đèn xinh đẹp…Tuy nhiên mình nhớ là cũng có làm qua vài cái lồng đèn. Hồi đó kiểu thông dụng nhất của một chiếc lồng đèn là hình ngôi sao năm góc, rồi từ đó các « nghệ nhân » có thể chế biến thêm cho khác nhau chút ít. Trước ngày Trung Thu vài ngày là phải đi đốn tre hay đi xin vài khúc tre. Về nhà phân đoạn ra thành một khúc có chiều dài như ý muốn làm chiếc lồng đèn lớn hay nhỏ. Chiết ra 10 thanh tre vừa vặn hơi dẹp, không dầy lắm cũng không yếu quá…Sau đó cứ ghép 5 thanh tre nhập lại thành hình ngôi sao, làm hai hình ngôi sao như vậy rồi nhập các đầu tre lại và lấy dây nhợ hay dây thun cột chặc cho các thanh tre dính chặc lại nhau. Tiếp đến chẻ ra 5 thanh tre ngắn hơi tròn trịa để dương hai ngôi sao vừa nhập vào nhau xong để cho lồng đèn « phình » lớn ra ở giữa (chỗ có hình ngũ giác), đến giai đoạn dán giấy kiếng màu vào khung tre, giai đoạn nầy là phải rất khéo tay để dán giấy cho phẳng không bị nhăn nhíu…Muốn tạo lồng đèn ngôi sao có màu sắc ra sao thì do ở giai đoạn chọn màu của giấy kiếng ở đây. Giai đoạn nầy rất khó vì thường là phải cần hai người làm cùng nhau để căng giấy cho phẳng phiu…Khi dán giấy kiếng màu thì nhớ là phía trên bên hông phải chừa một chỗ trống không dán giấy để cho khói thoát ra khi đốt đèn cầy và phần dưới cũng chừa ra một bên để thò tay vào gắn và đốt đèn cầy. Sau đó lấy một cọng dây chì cứng không to lắm, dùng một cây viết chì làm khuôn rồi quấn cọng dây chi bao quanh cây viết chì nhiều lần, sau đó rút cây viết chì ra thì sẽ có được một hình thức dây chì có một phần như cái « lò xo », dùng một đầu dây chì có lò xo nầy quấn chặc vào thanh tre căng ngang ở giữa lồng đèn, đây là chỗ để gắn đèn cầy vào lúc thắp lồng đèn. Sau khi dán giấy xong xuôi, có bạn còn khuyên một kỷ thuật như sau: phải ngậm nước phun vào giấy kiếng vừa dán xong và đốt đèn cầy lên bên trong lồng đèn, để một lúc lâu để cho giấy kiếng được căng thẳng, không biết kỷ thuật nầy có hiệu quả hay không nhưng đó cũng là một giai đoạn phải thực hành qua. Đó là xong cái lồng đèn hình ngôi sao, đến đây là tùy theo mỹ thuật trang trí của các bạn, có bạn lấy giấy kiếng vụn còn dư, quấn lại thành một băng dài rồi cắt nữa chừng bề ngang của băng giấy nầy nhiều lần suốt chiều dài băng giấy, sau đó quấn vào mỗi 5 đầu ngôi sao lồng đèn và cho bung ra phần dư ra ngoài mỗi đầu ngôi sao, thành một bông giấy kiếng rất xinh đẹp. Có bạn còn tạo thêm một hình tròn bằng tre ngoại tiếp hình ngôi sao lồng đèn và cuốn giấy kiếng trang trí thêm cho hình tròn nầy. Có bạn còn dùng dây nhợ nối liền 5 đầu ngôi sao lại thành hình một ngũ giác lớn rồi dùng giấy kiếng còn dư cắt thành hình những chiếc cờ hình tam giác và dán dọc theo 5 cạnh nầy…Ngoài hình đạng thông thường là hình ngôi sao, có nhiều người khéo tay còn làm lồng đèn hình con gà, hình con cá rất linh động và rất đẹp, tuy nhiên vật liệu phải dùng thêm là các cọng dây chì cứng để dễ uốn nắn theo hình dạng cần tìm.

Cũng nói thêm về chiếc lồng đèn hình ngôi sao, ở Hà Tiên ngày xưa, không những chỉ vào dịp Tết Trung Thu người ta thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao, mà nhân dịp lễ Giáng Sinh, người ta cũng có thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao, nhất là những chiếc lồng đèn hình ngôi sao có màu vàng và trắng. Đó là sinh hoạt ở xóm Đạo ở Hà Tiên. Xóm Đạo ở Hà Tiên nói ở đây tức là xóm nhà ở cuối đường Mạc Thiên Tích đi về hướng Pháp Đài, chỗ nối liền với xóm Cầu Đá. Vì nơi đây là khu nhà dân thường có Đạo Công Giáo nên vào dịp lễ Giáng Sinh người ta tổ chức thắp đèn lồng đèn hình ngôi sao nầy rất nhiều và rất vui mắt.

Đến đây cũng đã nhắc khá nhiều kỷ niệm Trung Thu ngày xưa, những kỷ niệm mà mình không bao giờ quên được,…Nhất là kỷ niệm đã được đưa vào một câu chuyện ngắn đăng lên báo « Dân Ý » của Chi Thông Tin Hà Tiên…Kỷ niệm nhắc lại một người em gái mà mình cũng thường chú ý nhà ở chung quanh chợ cũ Hà Tiên, được « lãng mạn hóa » đưa vào một đoản bút mà mình viết ra chỉ để bày tỏ một tình cảm thoáng qua nào đó do một thời tuổi trẻ hay nhạy cảm và dễ rung động trước một dáng vóc con gái…, có phải đó là điều đáng cười không? Mình cũng không biết, tuy nhiên biết bao nhiêu người cũng đã từng mơ ước là trong cuộc đời họ phải có được rất nhiều lần nếu không là cũng phải có ít nhất một lần « yêu » và « được yêu »…… »Được yêu » hay không thì mình không biết chắc nhưng có điều chắc chắn là con tim cũng đã, đang và vẫn rung động khi mà trong cuộc đời vẫn còn có những người con gái, thiếu nữ đáng yêu…!!! 

(Trần Văn Mãnh, Paris, mùa Trung Thu 03/10/2020, viết để nhớ những mùa Trung Thu êm đẹp ở Hà Tiên)

Hình minh họa chiếc lồng đèn hình ngôi sao trong dịp Trung Thu

Tái bút: Tác giả cám ơn các bạn Trương Thanh Hùng, Nguyễn Thúy Vân, Hồ Thị Kim Hoàn và anh Trần Văn Dõng đã góp ý cho bài viết.

Nhớ bậc thầy người Hà Tiên (Cô Nguyễn Phước Thị Liên)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong Blog của chúng ta có một mục để tôn vinh và gợi nhớ quý thầy cô đã từng giảng dạy ở hai trường Trung Học và Tiểu Học Hà Tiên. Hiện nay trong mục nầy đã có được 27 bài viết về quý thầy cô. Thực ra thầy cô giảng dạy ở hai trường nói trên còn rất nhiều và chưa được giới thiệu đầy đủ qua những bài viết ở đây, ví dụ bên trường Tiểu Học còn thiếu bài về quý thầy cô: Trần Văn Hương, Trần Hòa Hùng, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Nguyễn Văn Pho, Trương Tự Phát, Hà Phương Linh, Lâm Văn Núi, Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh, Trần Văn Tường, Nguyễn Hữu Thất, Lý Ánh Nguyệt, Lý Thị Nhan…v…v…Bên trường Trung Học còn thiếu bài về quý thầy cô: Trịnh Học Ký, Võ Thành Tường, Võ Thành Tài, Bùi Hữu Trí, Nguyễn Minh Nguyệt,…v…v… Nói tóm lại, còn thiếu rất nhiều, kể ra ở đây không hết được, chỉ một mình mình thôi, không thể có đủ tư liệu, hình ảnh để viết bài về quý thầy cô nói trên, mình xin kêu gọi quý thầy cô và tất cả các bạn, nếu có điều kiện nhớ về chuyện quý thầy cô ngày xưa, xin đóng góp bài vở và hình ảnh, để mục tôn vinh, tưởng nhớ quý thầy cô của chúng ta ngày càng được đầy đủ và phong phú thêm, để chúng ta khỏi phải phạm lầm lỗi là không nhớ đến thầy cô trọn vẹn, mong được như vậy nhé quý thầy cô và các bạn mến…

Cũng nhắc lại ở đây là tại trường Tiểu học Hà Tiên của chúng ta, có một bàn thờ “Tiền vãn” đặt ngay trong văn phòng Hiệu trưởng rất trang nghiêm. Có phải chăng truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của Việt Nam đã được những người làm việc trong lảnh vực giáo dục của Hà Tiên, của các thầy cô Hà Tiên chúng ta thể hiện bằng tấm lòng thành kính ít nơi nào có được. Trên tấm bia nầy, ta còn nhận thấy có tên họ của những bậc tiền bối, bậc thầy mà ở lứa tuổi của mình, vốn là hậu bối, sanh sau đẻ muộn, không có cái may mắn được học tập với quý thầy cô đó: xin kể tiêu biểu vài bậc thầy ra đây: Lâm Tấn Phác, Lê Quang Phấn, Hà Văn Điền, Lý Văn Nhơn,….

Hôm nay nhân duyên đã đến, xin được nhắc đến một bậc thầy, người đã từng làm vẻ vang cho tên gọi đất Hà Tiên, đó là thầy Lâm Tấn Phác, như cô Nguyễn Phước Thị Liên có viết:

« Tôi thấy trong khu vườn Hà Tiên xưa đề cập đến nhiều Thầy Cô mà chưa ai đả động đến cây đại thụ Thầy giáo Đông Hồ là một thiếu sót lớn. Nhờ người chăm sóc nuôi dưỡng khu vườn đọc bài thử và tùy nghi sử dụng nhé ».

Đúng như lời viết của cô, chúng ta chưa có bài nào viết về bậc thầy Đông Hồ trong mục thầy cô, nói Đông Hồ tức là nói về thầy Lâm Tấn Phác, vì thi sĩ Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác (thầy sinh ngày 10 tháng 3 năm 1906 và mất ngày 25 tháng 3 năm 1966). thầy còn có tự là Trác Chi, hiệu là Hòa Bích và còn nhiều bút hiệu khác như: Thủy Cỗ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu Tiên Sinh, thầy được xem là một nhà giáo, nhà thơ, chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt và là một người có nhiệt tình với văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong khoảng thời gian 1926-1934, thầy Lâm Tấn Phác có lập ra một ngôi trường tên là Trí Đức Học Xá, ngay bên bờ Đông Hồ ở Hà Tiên, chủ trương chuyên dạy toàn tiếng Việt, nhằm cổ động mọi người tin tưởng vào tương lai của tiếng Việt. Ta có thể xem đó là một ngôi trường đầu tiên ở Hà Tiên dạy về tiếng Việt. 

Ngoài cô Nguyễn Phước Thị Liên, tác giả của bài viết sẽ được giới thiệu đăng tiếp theo dưới đây (bài mang tên « Nhớ bậc thầy người Hà Tiên »), còn có một người bạn thân học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Hà Quốc Hưng, có viết cho mình qua những dòng chữ như sau:

« Tôi biết là chúng ta muốn viết về thời của chúng ta dưới mái trường Trung Học Hà Tiên là chính. Nhưng như bạn thấy chúng ta có rất nhiều thế hệ sau mình sẽ vào đọc cho nên tôi muốn nói một chút gì về thế hệ cha chú trước mình. Sở dĩ làm vậy là có ý muốn vực dậy niềm tự hào của các em học sinh Trung Học Hà Tiên bây giờ (để cho bậc đàn em thấy có một sự truyền thừa liên tục trên mảnh đất Hà Tiên chứ không phải là hiện tượng một lần rồi chết mất) và vực dậy tình yêu của các em đối với mảnh đất Hà Tiên tuy nghèo vật chất nhưng giàu tình yêu và huyền thoại.  Biết đâu sau này khi Mãnh nghỉ hưu có thể hai đứa mình sẽ quay lại Hà Tiên để làm cái gì đó cho các em Trung Học Hà Tiên, mà những điều mình viết xuống ngày hôm nay chính là hạt giống gieo xuống « tâm điền » của các em và sẽ nãy mầm ngày mai chứ không đơn thuần là những mẫu chuyện ngu ngơ, vu vơ, vô giá trị. Nói một cách khác là chúng ta đang gián tiếp tuyên dương tình tự dân tộc, tình yêu đối với thi ca, tình nghĩa thầy trò, tình bạn . . . giữa dòng đời xô bồ và vô cảm này đó Mãnh. Tôi đánh giá cao những giá trị nhân bản này. Đó là lý do vì sao mấy ngày hôm nay tôi dừng lại công việc nghiên cứu và để ra một chút thời gian viết cho Blog của mình đó Mãnh. Cũng cảm ơn bạn đã tạo Blog này để mình có dịp sống lại những « ngày xưa thân ái » đầy ấp kỷ niệm. Tình bạn của chúng ta quả thật ngọt ngào và mầu nhiệm. Vài dòng chia sẽ ý nghĩ với bạn thân. » (mail tháng giêng, 2016, Hà Quốc Hưng)

Cũng qua những dòng chữ trên, bạn Hà Quốc Hưng có gởi cho mình một bài viết về « thế hệ cha chú trước mình », đó là bài viết mang tên « Gương Hồ Núi Mộng » mà mình đã từng đăng trên Blog nầy trong tiết mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và là bài « Trăng Hà Tiên và U Hương » với tên ký là Hưng Hà (tháng 1, năm 2016). Hôm nay, tiếp theo bài của cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình sẽ đăng lại bài của bạn Hà Quốc Hưng, cả hai bài viết nầy đều là bài để nhắc lại, tưởng nhớ và tôn vinh bậc thầy người Hà Tiên, thầy Đông Hồ Lâm Tấn Phác. Tới đây xét cũng đã đủ lời giới thiệu về hai bài viết dưới đây, xin mời quý thầy cô và các bạn bước vào vườn văn nghệ, đọc hai bài viết về thầy Lâm Tấn Phác nhé. Xin cám ơn cô Nguyễn Phước Thị Liên đã nhắc nhở cho phong phú khu vườn Hà Tiên xưa và bạn Hà Quốc Hưng đã có tâm niệm khuyến khích thế hệ đàn em sau tiếp tục truyền thống thi sĩ Đông Hồ…và cũng xin cám ơn quý thầy cô và các bạn chú ý đọc bài. (Paris cuối tháng 9 năm 2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Bài 1: NHỚ  BẬC THẦY NGƯỜI HÀ TIÊN (Nguyễn Phước Thị Liên)

Đôi lời giới thiệu

Chồng tôi, anh Trương Minh Đạt, người xóm Rạch Vược xã Thuận Yên – Hà Tiên. Khi anh chưa ra đời (1936), gia đình anh đã có mối thân tình với gia đình thầy Đông Hồ. (Người Hà Tiên gọi là “Thầy” vì lúc đó ở đây, năm 1926 – 1927, thầy có mở trường dạy học, tên là Trí Đức). Thời gian sau, duyên lành đưa đẩy, anh Hai Lư Khê của chồng tôi cùng thầy về Sài Gòn làm báo. Tờ ÁNH SÁNG của họ tỏa sáng khắp miền Nam lúc đó. Và tự nhiên, hai bà vợ của hai ông là Mộng Tuyết và Manh Manh trở thành đôi bạn tâm giao trong sáng tác thơ văn, đã một thời nổi tiếng trên văn đàn cả nước. Các nhà phê bình văn học đã viết trong phần văn học Hà Tiên thời cận đại hôm nay còn ghi truyền câu nói: “Hà Tiên tứ tuyệt”, nhắc ta nhớ đến Thầy Đông Hồ, nữ sĩ Mộng Tuyết, nhà văn Trúc Hà và nhà văn nhà báo Lư Khê.

                                                    ***

59 năm trước, khi tôi về làm dâu xứ Hà Tiên, chồng tôi đưa tôi đến thăm, ra mắt thầy cô Đông Hồ tại nhà của thầy ở đường Nguyễn Thái Học (cũ) – Sài Gòn và đây chính là nơi hiệu sách Yiễm Yiễm Thư Trang của thầy đang hoạt động.

Lúc còn đi học, tôi mến mộ tác giả Đông Hồ qua bài thơ “Bốn cái hôn”, mường tượng trong đầu một nhà thơ trẻ tuổi mộng mơ mà chân thực. Thế nhưng khi diện kiến tác giả, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi lại là cái phong cách nho nhã…lạ đời.

Hôm đó, tôi còn nhớ như in, thầy mời chúng tôi vào bàn khách, thầy vào trong. Khi bước ra, thầy đã chỉnh tề trong bộ áo dài trắng, tay cầm cái lư đồng nhỏ. Sau đó thầy thư thả đốt trầm. Lư trầm thầy đặt giữa bàn, đúng “tọa độ” giữa thầy và chúng tôi. Xong đâu đó thầy mới hỏi chuyện, chuyện Hà Tiên và chuyện sức khỏe của mẹ chồng tôi. Tiếng thầy khoan thai nhỏ nhẹ mà ấm áp chân tình nhất là khi biết gia đình tôi người Huế, thuộc “nòi văn chương”, ngoại tổ và thân phụ tôi có quan hệ mật thiết với Hương Bình thi xã Huế. Rồi thầy nói cho tôi nghe nhiều chuyện về Hà Tiên xưa, dạy tôi những lời vàng ngọc.  Khi chúng tôi sửa soạn ra về, thầy đề tặng nhiều sách còn bảo tôi đến tủ chọn thêm vài quyển “ưng ý” khác.

Sau đó vì cuộc sống, chúng tôi không thể đến thăm thầy cô được. Bẵng đi mấy năm, chúng tôi sững sờ hay tin thầy gục ngã trên bục giảng ở trường Đai học Văn khoa – Sài Gòn.

Nay thầy cô Đông Hồ – Mộng Tuyết không còn nữa, chúng tôi cũng đã trên 80, bạc đầu sương gió… Nhớ thầy như nhớ lời nói thơm ngát hương trầm năm xưa: “Con gái xứ Huế, con trai Hà Tiên, duyên tình cố đô kết với đất Hà, các em đừng quên quê mình, cả hai đều đẹp lắm…”

Chúng tôi chỉ ân hận một điều là chưa làm được gì theo lời thầy trong sự nghiêp làm đẹp quê mình./.

Cô Nguyễn Phước Thị Liên thời dạy học tại Trường Tiểu Học Hà Tiên, tác giả bài viết « Nhớ bậc thầy người Hà Tiên ».

Bài 2: GƯƠNG HỒ NÚI MỘNG (Hà Quốc Hưng)

Nói đến trăng Hà Tiên mà không nói đến nữ sĩ Mộng Tuyết và thi sĩ Đông Hồ là một thiếu sót lớn. Hai người là thái sơn bắc đẩu của thập niên 30-40 trong nền văn học Việt. Cùng với cặp tài danh khác là nhà văn Lư Khê và nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, người ta đã tôn xưng họ là Hà Tiên Tứ Tuyệt (Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà và Lư Khê). Cả bốn người họ đều sinh ra và lớn lên ở Hà Tiên, một xứ sở nghèo nàn nơi biên địa, nhưng mộng hồn thơ văn của họ cao muôn trượng chẳng nhường ai.

         Nhận xét về Mộng Tuyết , Đoàn Lê Giang đã viết: «Tôi nghĩ là sẽ không quá lời khi khẳng định: Mộng Tuyết là thi sĩ tài hoa nhất, có bản sắc nhất trong nhóm Hà Tiên, và là nữ thi sĩ xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới toàn quốc.» (Văn Học Nam Bộ, 32-45, Cái Nhìn Toàn Cảnh). Trong bài Hai Cuộc Tình Thơ Nơi Cõi Mộng Hà Tiên, Vương Tân đã viết: «Cái tên Mộng Tuyết được bay bổng với những vần thơ đầy lãng mạn và tạo nên một hiện tượng thơ ca vào những năm cuối của thập kỷ 30. Ngày đó tác giả thơ nữ hiếm lắm, tiếng thơ của Mộng Tuyết vang rộng đến nỗi tạo nên dư luận, người ta còn đồn thổi, đây là một trang nam nhi đóng giả gái, chứ nữ nhi thường tình sao làm thơ hay đến thế.»

Trăng chảy ngập đường đi thuở ấy
Để người soi bóng bước song song
Rồi trăng từ đó tương tư bóng
Chảy ngập đường đi khắp nẻo lòng
(Trăng Tương Tư – Mộng Tuyết)
Sực nhớ . . .  
Ta cùng ai thong dong dưới nguyệt
Khẽ dang tay người ngọc thẩn thơ
Hồ Đông một vũng nông sờ
Non Bình một dải tờ mờ ngọn cao
Em mới hỏi: “Trăng sao sáng tỏ?”
Anh bảo rằng: “Trăng có đôi ta”
Bây giờ em đã cách xa,
Vầng trăng xưa vẫn chưa nhoà bóng gương.
(Nhớ Rằm Tháng Hai – Đông Hồ)

          Trăng Hà Tiên là như vậy đó. Đâu phải chỉ có thế hệ của tôi hay những thế hệ sau này được trăng Hà Tiên thai nghén và nuôi dưỡng. Rõ ràng là những thế hệ trước của Hà Tiên cũng đã từng như vậy. Họ chính là vầng trăng lưu giữ một vầng trăng mà tỏa sáng trên văn đàn thuở ấy và có lẽ . . . sẽ tỏa sáng đến ngàn sau.

Bài viết 01/2016, tác giả Hà Quốc Hưng (tên hiện nay: Hà Hưng Quốc)

Ảnh Thi Sĩ Đông Hồ & Nữ Sĩ Mộng Tuyết

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ, Hà Tiên. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nơi ở của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940. Hiện nay là nơi dựng lên nhà Lưu niệm Đông Hồ.

Gia đình thi sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết (bên phải) với thi sĩ Nguyễn Bính (bên trái), hình chụp tại Hà Tiên năm 1944. Hình sưu tầm (TL)

Thầy Đông Hồ cùng với các sinh viên tại Sài Gòn. Hình Tuan Vo