Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay mình sẽ kể một câu chuyện vui:  Đầu tiên thì một bên đã định cư ở nước Pháp nầy từ những năm đầu của thập niên 80, còn một bên thì định cư ở Pháp vào những năm giữa thập niên 80…cùng ở ngoại ô thủ đô Paris mà rốt cuộc không hay biết gì cả…Mấy chục năm trôi qua, nhờ vừa rồi có bài vở, hình ảnh và clip nói về cuộc họp mặt của Hội Đồng Hương Hà Tiên, người nầy nhìn ra người kia,…thật là hay và rất quý. Số là vì mình có giới thiệu cho quý hội viên đồng hương Hà Tiên xem bài vở và hình ảnh trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của mình, rốt cuộc có người chị ở Hà Tiên ngày xưa nhìn ra hình mình và đã liên lạc được với nhau. Đó là chị Tô Thanh Phượng, chị Phượng là chị của bạn Tô Vĩnh Tuấn, bạn Tô Vĩnh Tuấn là bạn học cùng lớp các các bạn « Đệ Tứ Quốc Tế »: Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trang Lệ Thủy,….và còn nhiều bạn khác nữa…Ngày xưa nhà của chị Phương và Tuấn ở đường bến Trần Hầu, nhìn ra Đài Kỷ Niệm, gần quán nhà của Nguyễn Thúy Vân đó…Má của chị Phượng và Tuấn là cô Loan, ngày xưa thường hay giữ tiệm thuốc tây Thanh Bình, bạn nào ngày xưa có mua thuốc tây ở tiệm Thanh Bình thì sẽ nhớ rỏ. Ngày xưa tuy mình và Tô Vĩnh Tuấn học khác lớp (hai người học cách nhau một lớp) nhưng cũng có một thời gian mình và Tuấn cũng thường đi chơi với nhau. Chị Tô Thanh Phượng thì thuộc thế hệ đàn chị của Trung Học Hà Tiên, chị học trên mình rất nhiều lớp, chị Phượng học ở Trung Học Hà Tiên vài năm rồi sau đó chị lên Sài Gòn tiếp tục học và sau đó về sinh sống với gia đình ở Long Xuyên.

Khi đã liên lạc được với nhau rồi, chị có nhã ý mời mình và Ngọc Tiếng đến nhà chị chơi, chị khao cho một bữa cơm có rất nhiều món ăn độc đáo đầy hương vị quê hương Hà Tiên: canh nấm tràm, mấm chưng, ăn tráng miệng thì có món « xôi nước » và các loại trái cây,…Tất cả đều do chính tay chị làm nấu nướng ra, nguyên liệu nấm tràm và mấm thì chính gốc ở Việt Nam (Hà Tiên) đem qua…Bữa ăn rất ngon, hòa lẫn với niềm vui được gặp lại người đồng hương, đồng trường nên mọi người rất vui vẻ, rất mến nhau, cùng nhắc lại chuyện ngày xưa và những người quen biết ở Hà Tiên. Qua bài viết nầy mình xin gởi đến chị Tô Thanh Phượng lời cám ơn và lòng cảm kích sự tiếp đón thân tình của chị và công khó của chị đã bỏ thời giờ chuẩn bị các món ăn ngon.

Vì mình vốn là « con mọt » hình ảnh Hà Tiên xưa nên cũng không quên hỏi thăm chị xem chị có còn giữ một số hình ảnh ngày xưa, thời đi học hay không…Chị vui vẻ mở ra xem vài tập hình ảnh cũ và cuối cùng mình cũng được phép chị chia sẻ vài hình ảnh để thầy cô và các bạn xem lại để nhớ thầy cô và bạn xưa.

Chị Tô Thanh Phượng

Ngoài ra chị Tô Thanh Phượng còn có vài tấm hình thầy cô thời Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên như sau đây:

H1: Bức hình xưa chụp trước ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đường Mạc Công Du, thầy đứng giữa hình là thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, từ trái qua phải: chị Nguyệt (con của thầy Trịnh Học Ký, em của các anh Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng), kế là chị Lâm Xuân Hương (chị Chín Hương chị của chị Lâm Xuân Cúc), thứ nhì bìa bên phải là chị Tô Thanh Phượng. Còn các vị thầy và học trò khác thì không nhìn ra.

H2: Bức hình nầy hình như chụp ở Đài Kỹ Niệm Hà Tiên, phía sau là chiếc tàu của Quan Thuế Hà Tiên, xa xa là Pháo Đài. Bìa phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy Lý Hóa Trung Học Hà Tiên xưa), cô mang kiếng đen quần áo trắng là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa), đứng bìa trái là anh Đỗ Thành Tâm.

H3: Hình như bức hình chụp ở bãi Mũi Nai Hà Tiên, cô trong hình hình như là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

H4: Hình thầy cô và học sinh đi chơi bãi biển Hà Tiên, người mặc áo đen có thể là thầy Bùi Hữu Trí (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm..Trần Văn Mãnh, chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (07/2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm.. chị Tô Thanh Phượng và Trần Văn Mãnh (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa qua buổi họp Hội Đồng Hương Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, qua hình ảnh những lần gặp gỡ trong các buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên ở tiểu bang California do cô Tiền Ngọc Thanh tổ chức (điển hình là vào năm 2017…) mình thấy đó quả thật là một dịp thuận tiện để cùng một lúc gặp lại thầy cô và bạn bè rất là vui…Vì thế trong đầu óc mình nảy ra ý nghĩ là tại sao mình không tham dự một lần ngày họp Hội Đồng Hương Hà Tiên vào năm 2019 nầy đây…Quyết định xong, bàn với Ngọc Tiếng thì hai đứa đều đồng ý là mình sẽ làm một chuyến đi Mỹ tới đây để dự ngày Hội Đồng Hương Hà Tiên…Sau đó mình có thông báo cho cô Tiền Ngọc Thanh biết ý định và cô cũng rất vui khi biết tin nầy…Lúc trước Ngọc Tiếng có người anh ruột ở thành phố Anaheim (thuộc tiểu bang California) mình và Ngọc Tiếng cũng đã có nhiều lần đến thăm nhà người anh ở đây…Tuy nhiên hiện tại gia đình người anh của Ngọc Tiếng không còn ở Anaheim nữa nên mình tỏ ý với cô Thanh là chưa biết sẽ trú ngụ tại đâu khi sang đó,..cô Thanh có nhã ý đề nghị hai vợ chồng mình ở ngay nhà cô ở thành phố Duarte thuộc tiểu bang California trong thời gian qua Mỹ dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, thật là may mắn, mình và Ngọc Tiếng cám ơn sự giúp đở rất tử tế của cô Thanh…

Chuẩn bị xong xuôi, ngày lên đường đến rồi, theo lịch của Hội thì ngày họp mặt là ngày chúa nhật 09/06/2019, mình quyết định đi qua Mỹ một tuần lễ từ ngày 06/06/2019 đến ngày 12/06/2019…Trước khi đi cũng có liên lạc với cô Thanh và một số bạn bè bên đó để thông báo cho biết sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt, bạn bè ai nấy cũng đều rất vui mừng, trông ngóng cho đến ngày họp để gặp tụi mình, vì dù là đã giao tiếp với nhau rất chặc chẻ trên mạng fb nhưng đã rất lâu rồi, có hơn vài chục năm chưa hề gặp lại nhau, có người thì mình chỉ biết qua hình ảnh, tuy là cùng quê hương Hà Tiên nhưng chưa bao giờ diện kiến…Ai nấy đều rất nôn nóng được gặp lại nhau…

Chuyến bay đưa mình và Ngọc Tiếng đáp xuống phi trường Los Angeles (LAX) có trể hơn dự báo khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, theo cô Thanh thông tin, có người bạn gái cùng trường là Trang Lệ Thủy sẽ cùng với cô Thanh đón mình và Ngọc Tiếng tại phi trường…Hai đứa đẩy va li ra ngoài cửa phi trường, trông ngóng vào đám đông người đang vây chật cả lối ra để tìm người thân nhân, sao mình chưa thấy cô và bạn Lệ Thủy, đang cố bắt vào mạng wifi của phi trường trên chiếc phone di động của mình, có lúc vô được mạng wifi, có lúc lại bị đứt mạng…để đánh tin cho cô biết là mình và Ngọc Tiếng đang đứng chờ cô và Thủy trước phía cửa ra. Loay hoay một lúc sau cũng liên lạc được với nhau, cô bảo mình cứ đứng tại chỗ chờ và bạn Lệ Thủy sẽ đến tìm mình…Nhìn qua nhìn lại đám đông người thì may thay như một phép mầu, mình thấy rỏ ràng Trang Lệ Thủy đang đi nhanh đến, mặc dù là mình và Lệ Thủy đã không gặp lại nhau có hơn 50 năm rồi, nhưng không biết sao mình vẫn nhận ra ngay bạn Thủy, mình kêu to …Thủy… Thủy…Mừng quá thế là thoát nạn khỏi bơ vơ tại phi trường rộng lớn có tầm vóc quốc tế nầy…(mình nhìn ra Lệ Thủy có lẽ là tại vì dù sau bao nhiêu năm rồi nhưng Lệ Thủy vẫn còn giữ được nét trẻ trung ngày xưa nên khi thấy thì đã nhận ra ngay…).

Thế rồi cả nhóm đi lại nơi gặp cô Tiền Ngọc Thanh đang ngồi nghỉ chân nơi một băng ghế trong phi trường, đi bộ ra nơi Thủy đậu xe và sau đó lên đường, cô bạn gái ngày xưa nay đã mạnh dạn trở thành một người địa phương lái xe chạy phon phon…làm cho mình và Ngọc Tiếng rất khâm phục…Xin ghi lại nơi đây lòng cảm ơn và cảm kích sự giúp đở của cô Thanh và bạn Lệ Thủy.

Trên đường về nhà cô Thanh để ổn định nơi ở thì Lệ Thủy đề nghị ghé qua nhà Thủy thăm gia đình Thủy và cũng nghỉ ngơi uống nước…Xe đến nhà Thủy thì mình lại được có dịp biết và chào hỏi thăm sức khỏe má của Thủy. Chẵng những Lệ Thủy đón tiếp nồng nhiệt vui vẻ mà bạn còn chuẩn bị một chiếc bánh có khắc dòng chữ phía trên « Welcome Patrice & Sylvie »….Thủy thật là chu đáo và tế nhị…

Trong thời gian chuẩn bị đến ngày 09/06/2019 ngày chánh thức họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, Thủy và cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đi chơi và thăm vài người bạn học cùng trường. Lần đầu tiên được gặp lại người đẹp của Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa sau hơn 50 năm, đó là bạn Mai Thị Ngọc Minh, với phu quân là anh Tiền Hữu Lộc, anh Lộc và Ngọc Minh tiếp đón mình và Ngọc Tiếng rất chân thành, vui vẻ, nồng nhiệt tại nhà riêng cùng có mặt cô Thanh (chính là em gái của anh Lộc) và Lệ Thủy. Nói thật gặp lại các bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp mình rất xúc động, phải nói là cảm động…Mình nhận thấy Ngọc Minh ngày nay rất yêu đời, tính tình giản dị, cởi mở và rất hài hòa với mọi người…Cả nhóm cùng đi chơi ra khu phố Little Saigon, khu chợ Phước Lộc Thọ cùng chụp hình chung với nhau để ghi lại phút hội ngộ…Buổi chiều Lệ Thủy mời mọi người đến ăn chiều tại một quán ăn do người em của Thủy vừa mới mở ra, đó là quán ăn đặc biệt về các món ăn biển rất ngon…

Trong thời gian nầy mình cũng có dịp gặp vợ chồng em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh, em Sáu là em gái của bạn Huỳnh Văn Năm, Năm là bạn học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên). Em Sáu cùng với phu quân là Hoàng (người Rạch Giá) rất vui vẻ, tử tế, mời cả nhóm mình đi ăn DimSum (một loại ăn vừa điểm tâm vừa ăn trưa…) tại một nhà hàng lớn ở California, thức ăn có rất nhiều món, tha hồ mà chọn lựa…Sau đó nhân dịp họp mặt như thế, cả nhóm cùng đi đến nhà thầy cô Võ Thành Tường cũng không xa nơi đó..Đến nhà thầy cô Võ Thành Tường, đó là dịp mình gặp lại thầy Tường sau hơn 50 năm, tuy là mình không có học với thầy Tường, nhưng mình biết thầy từ lúc thầy và người em thầy là thầy Võ Thành Tài cùng ở tại căn biệt thự của Ông Bày đường Bạch Đằng Hà Tiên, xéo xéo nhà mình..Lúc đó quý thầy đang dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, thời gian nầy mình còn chưa vào bậc Trung Học, anh Trần Văn Dõng thì mới vào lớp đệ thất (khoảng năm 1964…). Trái với sự tưởng tượng của mình trước đó, thầy cô Võ Thành Tường rất cởi mở, giản dị và rất gần gủi, thầy cô tiếp chuyện với mình một cách rất vui vẻ, nhắc lại chuyện xưa ở Hà Tiên, mình có nói với thầy lời thăm hỏi của chị Dương Hồng Châu nhờ mình chuyển đến thầy, sau đó thầy còn kêu điện thoại cho thầy Võ Thành Tài (thầy Tài có dạy lớp mình môn Pháp văn lúc mình học lớp đệ thất) và thầy Tài và mình có nói chuyện với nhau qua điện thoại. Thầy Võ Thành Tài cùng gia đinh cũng đang ở Mỹ, tiểu bang California, tuy thầy rất ít liên lạc với thầy cô và học trò Hà Tiên, nhưng thầy Tài cũng còn nhớ rất nhiều thời gian thầy còn dạy học ở Hà Tiên. Điều rất thú vị là khi thầy Tường hỏi thầy Tài còn nhớ mình hay không thì thầy Tài nói còn nhớ rất rỏ, thầy nói phải hai cậu tây lai ở Hà Tiên đó không .!!! Điều nầy làm cho mình rất cảm động và rất vui vì thầy Tài vẫn còn nhớ đến hai anh em mình…

Vì lúc nào cũng mang tinh thần sưu tầm hình xưa Trung Học Hà Tiên nên mình cũng có hỏi thầy Tường còn giữ hình xưa lúc còn dạy ở Hà Tiên, thầy bảo cô lấy vài album hình xưa ra xem chung, thừa lúc như vậy mình xin phép thầy Tường chụp lại được vài bức ảnh của thầy ngày xưa. Thầy cô Võ Thành Tường có hai người con, một gái và một trai, người con trai ở với thầy cô lúc nầy tên là Tấn, em Tấn cũng rất vui vẻ góp chuyện trò rất phấn khởi trong buổi viếng thăm đó.

Thầy Võ Thành Tường đang giảng bài trên lớp trong những năm 60…

Thầy Võ Thành Tường sau khi rời khỏi Trường Trung Học Hà Tiên (sau những năm 60)

Tính sổ qua lại thì còn có hai người mình chưa được gặp trước khi ngày họp mặt diễn ra, đó là anh Lâm Hữu Dư và phu nhân là bạn Lê Mai Hoa (bạn Lê Mai Hoa là bạn học chung lớp với mình từ lúc đệ thất, và sau đó thì Mai Hoa theo gia đinh ba mẹ về Rạch Giá học). Nghe thầy Tường nói là chiều ngày hôm đó anh chị Dư và Mai Hoa sẽ đến nhà thầy Tường nghỉ để ngày hôm sau cùng đi với thầy cô dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên…Vì phải về sớm theo chương trình dự định chung nên mình chưa được gặp anh Dư và Mai Hoa ngay hôm đó, thôi thì để đến ngày họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên thì sẽ gặp chung tất cả mọi người…

Buổi tối thật là đặc biệt vì cô Tiền Ngọc Thanh có mời mình và Ngọc Tiếng cùng với Lệ Thủy đến dự buổi họp mặt toàn bộ gia đình họ Tiền, nhân dịp nầy mình mới được gặp lại anh Huỳnh Văn Quang, một người anh và láng giềng rất thân quen với gia đình mình ở Hà Tiên vì nhà anh Quang ở cách nhà mình một căn mà thôi trên đường Bạch Đằng Hà Tiên. Anh Huỳnh Văn Quang là anh của hai bạn Huỳnh Văn Bé, Huỳnh Văn Bền ngày xưa…). Qua sự gặp gỡ nầy anh Quang có giới thiệu phu nhân của anh là chị Linh, hai ông bà hiện đang quản lý một tiệm bánh chuyên sản xuất các loại bánh Trung Thu rất lớn và nổi tiếng tại thành phố Los Angeles…Trong buổi họp mặt gia đình họ Tiền, đó là dịp mừng sinh nhật của bạn Tiền Hữu Đạt, em trai của cô Thanh, trong dịp nầy mình được gặp lại Tiền Ngọc Dung, từ bên Pháp qua đây, được biết thêm hai cô em gái của Dung là Tiền Ngọc Liên và Tiền Ngọc Ánh. Mình cũng được gặp lại bạn Tiền Hữu Minh mà mình đã biết từ ngày xưa, Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng.., được gặp lại anh Tiền Hữu Phát, anh Phát học chung lớp với chị Huỳnh Thị Kim người chị bạn dì với mình, nhân dịp nầy mình cũng có chuyển lời thăm hỏi về anh Phát của chị Kim nhờ mình chuyển lại. Buổi tối họp mặt và cùng ăn mừng sinh nhật nầy rất là vui…Buổi họp mặt có đầy đủ tất cả từ anh hai chị hai Tiền Hữu Lộc và Mai Thị Ngọc Minh cho đến các người em trai gái trong gia đình họ Tiền, chỉ thiếu có em Tiền Ngọc Hương (Holly Tien), được biết em Tiền Ngọc Hương có việc riêng phải đi xa nên không đến dự được…

Rốt cuộc ngày họp mặt Hội Đồng Hương 09/06/2019 đã đến, buổi sáng đó cô Thanh đưa mình và Ngọc Tiếng đến khu vườn của thành phố Garden Grove, nơi hội chọn để làm nơi gặp gỡ người đồng hương Hà Tiên…Thật tình mà nói mình cũng rất hồi hộp…Trong lúc cô tìm chỗ đậu xe thì mình cũng đã thấy quang cảnh trong khu căn nhà rộng lớn nơi đã có rất đông người đến trước rồi…Khi đi vào căn nhà hội họp thì mình thấy từ xa bạn Mai Hoa đã nhìn ra Ngọc Tiếng (theo lời Ngọc Tiếng kể lại thì Mai Hoa nói …đây là chị Tiếng đây rồi….!!), mình cũng nhìn thấy bạn La Văn Cao từ trong chạy ra bắt tay chào mừng, gặp lại lần lượt rất nhiều người bạn ngày xưa cùng trường cùng lớp, có người từng học chung ngay từ bậc Tiểu Học…

Gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Hoàng thị Minh Liên cùng phu quân là nhà điêu khắc Ngô Hoàng Minh, hai bạn Hồ Thị Kim Hoàn và phu quân là anh Xuân, Hồ Thị KIm Yến, Hồ Thị Kim Phượng, cũng gặp được em Dương Thị Phương Hà cùng phu quân Phan An, Nguyệt Đường cùng người chị là chị Tuyết, gặp được Hồ Thị Kim Nga và phu quân là anh Lâm Văn Có cũng là người Hà Tiên…Gặp chị Chín Hương và quý cô con gái Diệu Khanh, Minh Thu …Đặc biệt là nhờ có sự nhắc nhở của em Huỳnh Thị Sáu, trong chuyến họp mặt nầy mình được gặp anh Giang Văn Thân là một người anh và người thầy dạy kèm hai anh em Dõng Mãnh ngày xưa khi còn học ở bậc Tiểu Học, anh Giang Văn Thân là bạn thân của người anh bạn dì với mình là anh Lê Quang Chánh, hai người học cùng lớp thời Trung Học, anh Giang Văn Thân đến họp mặt cùng với phu nhân của anh là chị Đỗ Ngọc Điệp, người Long Xuyên và sau khi tiếp xúc nói chuyện, Ngọc Tiếng cũng có quen biết gia đình của chị Điệp thời xưa ở Long Xuyên. Nhân dịp nầy mình cũng được gặp và biết hai đàn chị trong thời Trung Học Hà Tiên, học trò của thầy Võ Thành Tường, đó là hai chị Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (chị Liềm là em của chị Lý Thị Lắc còn ở Hà Tiên hiện nay). Gặp em Lâm Mỹ Nga và người mẹ (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa). Lần đầu tiên được gặp và biết mặt vợ chồng em Lê Quang Thùy (con của thầy Lê Quang Thuyên, cháu của thầy Lê Quang Khanh), và vợ chồng bạn Hồ Anh Dũng (Dũng là con của bác Âu Tư có tiệm bánh kẹo trước nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa, Hồ Anh Dũng là một trong những người có nhiều hình ảnh xưa của phố chợ Hà Tiên, nhân dịp nầy mình cũng được hân hạnh biết phu nhân của bạn Dũng, là một người rất xinh đẹp…), cùng lúc nầy mình được quen biết vợ chồng anh Sủng, chị Phương, quý bạn nầy rất vui vẻ, nồng nhiệt và cho mình biết đều là đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »…Trong dịp nầy, qua sự giới thiệu của cô Thanh, mình biết được anh Vương Bình Thành, là anh của hai bạn Vương Bình Phước (học chung lớp với mình thời Trung Học Hà Tiên) và Vương Bình Lộc, anh Thành cũng là học sinh Trung Học Hà Tiên xưa, anh đến dự buổi họp mặt với phu nhân là chị Dung, chị Dung rất vui tánh …Được biết bạn Mong Đức Kiết chính là em của Mong Đức Hưng và Mong Đức Thạnh, biết được em Tăng Thu Hiền là em của Tăng Thu Hồng (Tăng Thu Hồng là một trong những giọng ca ngày xưa của Trung Học Hà Tiên, trong nhóm chơi nhạc với mình…). Còn được gặp rất nhiều người Hà Tiên, nhưng mình chưa được hân hạnh biết trước, và cũng không biết là có phải là những người cựu học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa hay không…Đặc biệt mình có nói chuyện với anh Đại, anh Đại là người con trai của ông bà Phán Cơ, ngày xưa mình và Lý Mạnh Thường rất thường xuyên ghé chơi lại nhà bác Phán Cơ đường Tô Châu gần phía sau chùa Bà Mã Châu,…Bác Phán Cơ thường mời mình và bạn Mạnh Thường vào nhà bác chơi, để bác thực hành đàn orgue và accordéon đệm nhạc cho Mạnh Thường hát…Có điều rất tiếc là trong lúc chụp hình sôi nổi, mình không có được một bức hình với anh Đại.

Trong lúc mở đầu buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, những vị trong ban quản lý cũng có đọc lên một vài bản diễn văn, đại khái nói về sinh hoạt của hội và giới thiệu các thành phần trong ban quản lý. Nhân dịp nầy cô Tiền Ngọc Thanh có giới thiệu với mọi người lý do sự có mặt của mình và Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt năm nay…và sau đó mình xin phép nói một vài cảm nghĩ cá nhân…Cô Thanh có nói cho mình biết trước nên hôm trước đó mình có chuẩn bị một vài ý cho bài « phát biểu » nầy, xin ghi lại đây cho quý vị đọc qua nhé,..

 » Kính thưa quý thầy cô, quý vị và các bạn, cho phép mình mượn giây phút nói chuyện ngắn ngủi nầy gởi lời cám ơn đến cô Thanh Lưu đã tạo điều kiện lưu trú và di chuyển tốt đẹp, cám ơn người bạn gái ngày xưa nhà ở cùng đường, học cùng trường Trung Học Hà Tiên là Trang Lệ Thủy có hai bàn tay nhiệm mầu đã biến những khoảng không gian rộng lớn, những con đường xinh đẹp của phố xá California trở thành ngắn ngủi và thật gần đưa mình đến gặp lại những người bạn thân thương ngày xưa. Một cách tổng quát, xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ, thật lòng đón tiếp chẳng những trong những ngày vừa qua mà còn trong những ngày ngắn ngủi sắp tới cho đến khi chia tay…Đù không bao giờ dám nhận là hậu duệ của những thi nhân Chiêu Anh Các ngày xưa, nhưng mình cũng ao ước có lần bước ra Thụ Đức Hiên, ngẫu hứng thảo vài hàng, trong khi chờ đợi giấc mơ đó chắc chắn là sẽ không bao giờ thực hiện , cho phép mình ngỏ ý, tỏ lòng trong vài câu viết vội:

Trời Cali hôm nay bao nhiêu nắng
Bấy niềm vui chứa chất ngập lòng tôi
Hà Tiên ơi dù xa người năm tháng
Vẫn chảy hoài một dòng nhớ không thôi…..
Và vì là người Hà Tiên, mình chắc chắn rằng các bạn sẽ trả lời được dễ dàng 4 câu hỏi sau đây:
Con đường nào đưa tôi về hàng dương?
Con đường nào đưa tôi về hàng dừa?
Con sông nào đưa tôi ra cửa biển?
Dòng nhạc nào đưa tôi đến cô miên?
Xin cám ơn quý thầy cô, quý vị và các bạn. »
Đến đây xin tạm ngưng bài phóng sự về những cuộc hội ngộ giữa thầy cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa…Dĩ nhiên là sau buổi gặp gỡ đó, thời gian dù cho có kéo dài vô tận trong giây phút xiết tay nhau, rồi phải đến lúc chia tay, mọi người nắm tay nhau bịn rịn, vài cái hôn nhè nhẹ để bày tỏ niềm cảm xúc, vài cái vổ vai nhè nhẹ bày tỏ sự thân thiết sẽ còn với thời gian,…sau cùng thì chia tay, mình cảm thấy buổi gặp gỡ sao diễn ra nhanh quá, mọi người đều luyến tiếc phút giây nầy…vài nhóm bạn còn cố ghi lại vài hình ảnh cuối qua chiếc máy ảnh chụp vội vả,…một vài bảng tên của ai đó rót lại trên mặt cỏ xanh…Trong khi ban quản lý và những bạn tình nguyện còn ở lại để tiếp dọn dẹp các thứ vật dụng và gói ghém thức ăn lại, tiếng động cơ của xe hơi bắt đầu nổ vang và thực sự chúng ta đã rời xa khu vườn xinh đẹp với cái gian nhà rộng lớn đã bắt đầu trút vắng người hội họp…Xin hẹn lại năm sau?!! ….Lần tới?!! Không biết có được không, cuộc đời thường dành cho chúng ta nhiều nổi bất ngờ…dù sau riêng mình và Ngọc Tiếng đã được sống qua những giây phút tuyệt đẹp của một tình bạn, tình thầy trò, tình cô trò, mong rằng sau phút chia tay, mọi người về nhà sẽ nhắm mắt sống lại cái giây phút đó và hình ảnh thầy cô bạn bè mà mình đã có may mắn nhìn lại sau nhiều năm xa cách, sẽ ghi đậm hơn nữa trong ký ức…Xin cảm ơn tất cả….
Trần Văn Mãnh , Paris 02/07/2019
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Cô Tiền Ngọc Thanh (áo màu cam), Trang Lệ Thủy (bìa phải) và Trần Văn Mãnh (bìa trái), (06/2019, tại vườn nhà Trang Lệ Thủy, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Trang Lệ Thủy và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại vườn nhà cô Tiền Ngọc Thanh, california, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: Mai Thị Ngọc Minh và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại khu phố chợ Phước Lộc Thọ Little Saigon, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50 năm: Thầy Võ Thành Tường và Trần Văn Mãnh (06/2019, tại nhà thầy cô Võ Thành Tường, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 50: Huỳnh Thị Sáu (ngồi bìa phải) và Trần Văn Mãnh (đội nón đứng bìa trái). (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và anh Tiền Hữu Phát (anh Phát học chung lớp với chị Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh THị KIm),  (06/2019, California, Mỹ)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm:  trái qua phải: anh Tiền Hữu Phát, Tiền Hữu Đạt, Tiền Hữu Minh (bạn Minh học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), Trần Văn Mãnh, anh Tiền Hữu Lộc và anh Huỳnh Văn Quang (anh Quang ở cách nhà mình một căn, đường Bạch Đằng, Hà Tiên, anh của Huỳnh Văn Bé),  (06/2019, California, Mỹ)
Cô Tiền Ngọc Thanh đang giới thiệu sự có mặt của Trần Văn Mãnh và Nguyễn Ngọc Tiếng trong buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: anh Giang Văn Thân (ngày xưa ở đường Trần Hầu, Hà Tiên, học chung lớp với anh Lê Quang Chánh) và Trần Văn Mãnh, (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm: anh Lâm Hữu Dư và phu nhân, bạn Lê Mai Hoa (học chung lớp với mình), (06/2019, California)
Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên sau hơn 40 năm: trái qua phải: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên (em của Hoàng Đức Trung và Hoàng Thu Bình, diện kiến lần đầu tiên) và Lê Mai Hoa (bạn học cùng lớp Đệ Thất Trung Học Hà Tiên xưa), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Hồ Thị Kim Nga (em của Hồ THị KIm Hoàn, diện kiến lần đầu tiên), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và chị Chín Hương (chị của bạn Lâm Xuân Mỹ), (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh, Hồ Thị Kim Phượng, Hồ Thị Kim Nga, Nguyễn Ngọc Tiếng, Hoàng Thị Minh Liên, Hồ Thị Kim Hoàn, anh Xuân và anh Ngô Hoàng Minh (06/2019, Califorlia)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: La Văn Cao, Tiền Ngọc Dung và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà (em của Dương Thị Diễm Hà), Nguyễn Ngọc Tiếng, Nguyệt Đường và chị Tuyết (06/2019, California)
Gặp gỡ quý đọc giả quen thuộc của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » (áo trắng bìa phải: phu nhân của bạn Hồ Anh Dũng), (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Mẹ của Lâm Mỹ Nga, Lâm Mỹ Nga (tiệm Tòng Phát đường Tuần Phủ Đạt, Hà Tiên) chị Chí (phu nhân của anh Trần Đại Chí con của thầy Trần Hòa Hùng) và Nguyễn Ngọc Tiếng (06/2019, California)
Gặp gỡ quý chị Trung Học Hà Tiên Xưa: Ngô Kim Loan và Lý Mũi Liềm (06/2019, California)
Một số học trò xưa chụp hình chung với thầy cô Võ Thành Tường (thầy cô ngồi ghế) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Trần Văn Mãnh và Mong Đức Kiết (em của Mong Đức Hưng và anh Mong Đức Thạnh) (06/2019, California)
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Nga và Trang Lệ THủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Hoàng Thị Minh Liên và Trang Lệ Thủy (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa: Dương Thị Phương Hà và Tiền Ngọc Dung (06/2019, California). Hình: Thành Lâm
Tái bút: Thầy cô và các bạn có thể xem thêm hình ảnh ở link sau đây:

Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Nguyễn Hồ Hải tự Hồ Hải

Giới thiệu anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng có dịp trở lại ngược thời gian rất xa xưa với các bài viết của anh Đoàn Kim Minh và chị Lý Thị Lắc,…Đó là các đàn anh, đàn chị đã từng chứng kiến sự ra đời của ngôi trường Trung Học Hà Tiên và đã theo học từ các lớp ngay từ những năm đầu của trường. Thời gian đó là những niên học của những năm đầu thập niên 50. Bước qua thập niên 60, những niên học đầu của thập niên 60 ở trường Trung Học Hà Tiên cũng có rất nhiều anh chị học sinh đã in lại dấu ấn sâu đậm cho sinh hoạt trường lớp ở Hà Tiên…Một trong những anh học sinh của trường Trung Học Hà Tiên rất nổi bậc bấy giờ là anh Nguyễn Hồ Hải, Anh Nguyễn Hồ Hải nổi tiếng ở Hà Tiên về lãnh vực âm nhạc vì anh là một tay đàn guitare rất hay…Anh Nguyễn Hồ Hải lấy biệt hiệu là Hồ Hải, ở Hà Tiên, thầy cô và bạn bè đều gọi anh là Hồ Hải. Chính bản thân mình cũng được hân hạnh biết anh và đã có một thời gian được may mắn thường xuyên nghe tiếng đàn của anh.

Anh Hồ Hải là người quê ở Châu Đốc, tuy nhiên có cơ duyên đưa anh về Hà Tiên theo học bậc Trung Học. Anh Hồ Hải vào học trường Trung Học Hà Tiên từ niên khóa lớp Đệ Tứ 1961-1962, và anh theo học tại trường Hà Tiên cho đến hết các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị. Anh Hồ Hải học cùng lớp với anh Mao Xuân Kia, chị Chín Hương (chị của chị Lâm Xuân Cúc). Vì anh không phải là người gốc gác Hà Tiên nên trong thời gian anh theo học ở Hà Tiên, anh ở trọ ở nhà của người quen biết, đó là nhà của chị Lê Thủ Điệp, cháu của thầy Hứa Văn Vàng và là chị của Lê Thị Việt Nga, anh vừa ở trọ và vừa ăn cơm tháng tai đây luôn, lúc đó là căn nhà trên đường Chi Lăng, phía sau chùa Phước Thiện, gần nhà Lâm Cẩm Nhung.

Anh Nguyễn Hồ Hải

Trong thời gian nầy, có quý thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…ở trong căn biệt thự của Chú Hai Bày*, đường Bạch Đằng, xéo xéo nhà mình, khoảng ngay đối diện với nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khanh, Trần Thị Thu Oanh. Vì thế anh Hồ Hải rất thường tới lui căn biệt thự nầy để thăm viếng quý thầy và cũng đến đó để sinh hoạt văn nghệ, đàn ca…Lúc đó theo mình nhớ thì trong căn biệt thự quý thầy ở có một bộ gồm một cây đàn điện Fender và ampli, anh Hồ Hải mỗi lần đến chơi với quý thầy, anh thường dợt đàn, dợt ca cho các anh bạn học cùng nhóm và cũng là học sinh đến chơi với quý thầy, như các anh Phù Thọ Phương (biệt hiệu Tùng Phương), anh Hoàng Tùng, anh Phù Thọ An (biệt hiệu Tùng Trang),…Có nhiều đêm, anh Hồ Hải còn ở lại căn biệt thự để đàn, rất khuya, lúc đó bên nầy con đường Bạch Đằng, mình đã lên giường ngủ rồi và thường nghe tiếng đàn điện của anh, mình rất thích , nhất là anh thường chơi đàn bài Hàn Mặc Tử.  Cũng xin nói thêm là khi anh đến Hà Tiên vào học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1961-1962) thì mình mới ở lớp Nhì trường Tiểu Học Hà Tiên, hai niên khóa sau, đến niên khóa 1963-1964 thì lúc đó anh Trần Văn Dõng của mình vào lớp Đệ Thất bậc Trung Học còn mình thì đang theo học lớp Tiếp Liên ở trường Tiểu Học Hà Tiên với thầy Hà Phương Linh vì mình thi hỏng vào lớp Đệ Thất lần đó, năm sau thì mới vào Đệ Thất.

Như vậy trong thời gian niên khóa 1963-1964 anh Hồ Hải đang theo học lớp Đệ Nhị của trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy hoạt động văn nghệ của mấy anh rất sôi động, sôi động đến độ là tại căn biệt thự đường Bạch Đằng của quý thầy đang ở, có tổ chức Đại Nhạc Hội, chương trình do các anh Hồ Hải, Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng Trang,…phụ trách, lúc đó có cả anh Bảy Kế là công chức đang làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên cũng tham gia vào tổ chức Đại Nhạc Hội này với tính cách là kỹ thuật viên phụ trách về âm thanh, máy móc…Trong đầu óc mình vẫn còn nhớ rỏ cái áp phích quảng cáo cho chương trình Đại Nhạc Hội nầy dựng trước căn biệt thự đường Bạch Đằng, có ghi rỏ tên các anh chị ca sĩ và tên anh Bảy Kế, lúc đó anh không ghi là Bảy Kế mà ghi là Văn Kế….Còn về giá tiền vào cửa và giá các thức uống trong đó thì mình quên rồi, nhưng vẫn còn nhớ là lúc đó buổi chiều anh Trần Văn Dõng đi học về có nói là « Mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng »…(vì là đi uống nước và có văn nghệ phục vụ… ». Thời đó nói đến nước ngọt tức là loại chai nước như: xá xị, nước cam, bạc hà, mỏ nách (Limonade),…và nếu là « người lớn » thì dĩ nhiên có quyền uống bia 33 con cọp… Trong các buổi Đại Nhạc Hội nầy mình còn nhỏ nên đâu có phương tiện để vào xem, chỉ ở bên nhà bên đường nghe tiếng đàn hát và thấy khách đi xem ra vào rất đông…Lúc đó mình không biết có nữ ca sĩ không mình chỉ nhớ các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng,Tùng Trang mà thôi, quý thầy cô, anh chị hay quý bậc cao niên còn nhớ các chi tiết về thời hoạt động văn nghệ nầy, nhất là thầy Võ Thành Tường nếu còn nhớ xin thầy góp ý, cho thêm thông tin chi tiết nhé, rất cám ơn quý thầy cô, anh chị và các bạn.

Anh Nguyễn Hồ Hải

Có thể nói anh Hồ Hải là một trong những người đi tiên phong trong nền âm nhạc ở Hà Tiên, dĩ nhiên là trước anh, Hà Tiên vẫn có tổ chức văn nghệ đàn ca, kịch, múa,…Nhưng nếu nói thời vàng son của phong trào ca nhạc ở Hà Tiên thì phải nói là vào những năm có mặt anh Hồ Hải..Thật vậy, lúc đó anh Hồ Hải rất nổi tiếng, chẳng những anh được biết qua tài đàn rất hay của anh, mà mọi người đều ái mộ anh về dáng vóc thanh nhã, đẹp trai và nét lãng tử của anh. Chính mình ngày xưa tuy không phải là bạn của anh (vì sự chênh lệch tuổi tác và không sinh hoạt trong cùng một môi trường) nhưng mình cũng biết anh, có lần mình cũng có qua chơi trong căn biệt thự của quý thầy ở đường Bạch Đằng và cũng có gặp anh, cười nói, tiếp xúc….mình rất ái mộ anh ngay cả về cách ăn mặc rất mode và đẹp của anh…Vì thế từ lâu rồi trong đầu óc mình đã có ý nghĩ phải cố gắng viết một bài về anh, để giới thiệu anh Hồ Hải với tư cách là một người « bạn » học cùng trường…Trong Blog Trung Học Hà Tiên Xưa nầy có một mục « Bạn Học Cùng Trường », mình đã cố gắng và cùng với sự đóng góp bài vở, hình ảnh của quý thầy cô, các bạn mà mình đã giới thiệu được rất nhiều bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên, chỉ có một cái tiêu chuẩn không phải là tuyệt đối lắm để có mặt trong mục nầy là có được một (hay vài) tấm hình ngày xưa, để thầy cô và các bạn nhìn lại người bạn được giới thiệu đó mặt mày ra sao ngày xưa…Dĩ nhiên là tên của tiết mục là « Bạn Học Cùng Trường » nhưng người bạn đó có thể là một bậc đàn anh, đàn chị, đàn em hay bạn cùng một lứa tuổi…Như vậy thì trong mục nầy không thể thiếu anh Nguyễn Hồ Hải vì anh cũng là một người đàn anh từng theo học trường Trung Học Hà Tiên, hơn nữa mình muốn viết về anh để thứ nhất cho quý anh chị cùng thời với anh Hồ Hải có dịp nhớ lại anh, thấy lại, nghe lại những mẫu chuyện thời anh ở Hà Tiên, thứ hai cũng không kém phần quan trọng là phải viết về anh để bậc đàn em đi sau biết được về anh, về một thời Hà Tiên có sinh hoạt văn nghệ rất là hay, rất sâu đậm…và biết được tài năng của anh về môn chơi đàn guitare, tất cả những lý do đó khiến mình bắt đầu đi vào sự tìm hiểu về anh, tìm thông tin, tìm hình ảnh để viết bài…

Anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô, quý anh chị và các bạn sẽ đặt câu hỏi là người tài năng, tài tử, lãng tử như anh Hồ Hải vậy được người ta mến mộ đã đành, nhưng về phía « fan » thuộc phái nữ thì sao ?? Không nói ra nhiều thì ta cũng hiểu là không thiếu những tình cảm của phái nữ dành cho anh vào thời đó,…Các bạn gái cùng thời với anh, các nữ ca sĩ, hay các nữ sinh học sau anh vài lớp chắc hẳn cũng rất ái mộ anh về mọi phương diện…Mặc dù vào thời gian đó mình vẫn còn ở bậc Tiểu Học, nhưng mình cũng rất chú ý đến sinh hoạt ở bậc Trung Học qua lời kể của anh Trần Văn Dõng và người chị bạn dì của mình là chị Huỳnh Thị Kim về quý thầy cô và các anh chị ở Trung Học…Chị Huỳnh Thị Kim có nhiều bạn cùng chung lớp chị như chị Lê Thủ Điệp, Trịnh Ngọc Lệ, chị Liên (chị của bạn Trương Trung Cang), chị Ngọc Hằng, chị Mỹ Dung,…Nghe các chị kể lại là thường ngày các chị chơi đánh vũ cầu (cầu lông) trên con đường Bạch Đằng, và từ cơ hội đó cũng có quen biết anh Hồ Hải và cũng rất ái mộ anh Hồ Hải…!!

Khi anh Hồ Hải học xong bậc Trung Học ở Hà Tiên vào giữa thập niên 60, tình hình chiến tranh đã phát triển nhiều, anh quay trở về quê anh ở Châu Đốc..Một thời gain nữa anh trở lại Kiên Lương để làm việc ở nhà máy Xi măng Hà Tiên…Thời gian sau anh đi vào đơn vị Tâm Lý Chiến để phục vụ đúng với khả năng của anh. Tại đây anh gặp được người bạn đời của anh và anh lập gia đình. Sau khi rời khỏi đơn vị Tâm Lý Chiến, anh và gia đình chọn Kiên Lương làm nơi định cư sinh sống. Gia đinh ngày càng đông vui vì anh chị có nhiều con, một trong những người con trai của anh có vợ là người Hà Tiên và lập nghiệp ở Hà Tiên. Một người con trai khác của anh chính là ca sĩ, nhạc sĩ Chi Dân (tên thật là Nguyễn Trung Hiếu), tiếp nối truyền thống của anh, chính Chi Dân sáng tác bài hát « Anh Muốn Em Sống Sao » rất nổi tiếng giúp cho ca sĩ Bảo Anh trở thành ngôi sao ca nhạc…

Vào ngày 24/10/1997 tại Kiên Lương, anh Nguyễn Hồ Hải lúc đó 52 tuổi, đã đặt cây đàn guitare xuống vĩnh viễn, và vì anh vẫn còn luyến tiếc khung trời thơ mộng của Hà Tiên mà ngày xưa anh đã từng trải qua một thời tuổi trẻ, anh được chôn cất tại Hà Tiên, mộ của anh ở gần khu mộ của Bà Cô Năm..

Anh Nguyễn Hồ Hải

Cho đến ngày hôm nay mình vẫn còn ái mộ anh Hồ Hải và mong rằng qua bài viết ngắn ngủi và nhiều thiếu sót nầy, mong quý thầy cô, anh chị và các bạn hãy tưởng nhớ lại một tài năng ngày xưa, một người học trò, một người anh, một người quen biết mà trong những năm tháng của thập niên 60 ở Hà Tiên, không ai là không biết đến tên tuổi của anh Hồ Hải.

Trần Văn Mãnh Paris, 28/04/2019

Một trong những người con trai của anh Nguyễn Hồ Hải, ca sĩ Chi Dân (Nguyễn Trung Hiếu)

Đặc biệt xin trân trọng cám ơn chị Hồ Hải đã giúp và chia sẻ cho mình thông tin, hình ảnh, cũng như xin cám ơn cô Dương Hồng Châu, chị Huỳnh Thị Kim và chị Trịnh Ngọc Lệ, không quên cám ơn Lê Ngọc Ngân, Lê Thị Việt Nga  đã chia sẽ thông tin, hình ảnh

* (Về căn biệt thự của chú Hai Bày nầy, mình có nói nhiều trong bài viết về bạn học Lê Văn Đông, mời thầy cô và các bạn có thể xem thêm qua link nầy).

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2019/03/29/gioi-thieu-le-van-dong/

Gửi bạn Đoàn Kim Minh (Lý Thị Lắc)

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng sống lại nhiều hơn với quá khứ và ký ức của Trường Trung Học Hà Tiên xưa….Thật vậy, mới hai ba hôm nay anh cả của Trường (tạm gọi như vậy nhé…) Trung Học Hà Tiên ngày xưa, anh Đoàn Kim Minh vừa xuất hiện với chúng ta qua sự khám phá và đọc bài trên Blog nầy, anh đã đem đến cho chúng ta nhiều kỷ niệm rất xa xưa, xa xưa đến nổi ngoại trừ những anh chị cao cấp không ai trong chúng ta có thể nhớ lại những câu chuyện do anh Minh kể trong bài viết…May mắn thay, tiếng kêu gọi của Trung Học Hà Tiên xưa đã vang đi khắp nơi, và hôm nay chúng ta hân hạnh đón tiếp một cách thật vui, thật trịnh trọng một cây bút mới, mới với Blog nhưng rất quen thuộc với khung trời Trung Học Hà Tiên ngày xưa…Đó là bài viết của chị Lý Thị Lắc, một người học trò của thời khai sanh ngôi trường Trung Học Hà Tiên,…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay chẳng những để gửi đến người bạn cùng trường lớp năm xưa với chị là anh Đoàn Kim Minh, mà còn viết bài để cho tất cả chúng ta, trước hay sau, cao tuổi hay vẫn còn « tươi trẻ »…biết được những kỷ niệm xa xưa mà chị và quý anh chị ngày xưa đã từng trải nghiệm qua…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay vì chị đã đọc qua bài viết của anh Minh và không thể không viết lên vài hàng chia sẻ cảm xúc. Một trong những người cô đã dạy mình thời Trung Học Hà Tiên, cô Tiền Ngọc Thanh, khi đọc bài của anh Minh viết cũng bồi hồi xúc động, vì hơn ai cả cô Thanh đã thấy trong bài anh Minh có nhắc đến người bạn đời thân yêu của cô năm xưa, cô đã viết nhận xét như sau:

« Cám ơn anh Đoàn Kim Mình. Tôi rất bùi ngùi khì anh nhắc đến Vương Mình Quí người yêu đầu tiên cũng là người chồng của tôi Tiền Ngọc Thanh. Khì ấy tôi còn rất nhỏ nên không biết các bậc đàn anh nhiều. Anh Quí mất rất sớm lúc chưa đầy 30 tuổi. » !! 

Hôm nay, trong bài viết nầy, chị Lý Thị Lắc cũng có nhắc đến thầy Vương Minh Quí, với một tính chất luôn cười vui nên được các bạn đặt cho danh hiệu, mình hoàn toàn không hiểu danh hiệu nầy và cũng không biết Ô.B.K ở gần chùa Năm Ông ngày xưa, mong rằng đó một danh hiệu vui, minh họa được tánh cách yêu đời, hay cười của thầy Quí…, hay cười, yêu đời cho dù thầy Vương Minh Quí đã rời xa cuộc sống một cách quá sớm…

Rồi thời gian cứ trôi qua, trường lớp có còn đó, vẫn « trơ gan cùng tuế nguyệt », cho dù dấu hằn của năm tháng, dấu tàn phá của chiến tranh biên giới, dấu hao mòn của bao nhiêu thế hệ học sinh sinh hoạt ở trường lớp từ lúc các bậc đàn anh, đàn chị rời xa trường mãi mãi,…Các anh chị người thì đi thật xa, người thì còn ở lại Hà Tiên, nhưng dù ở phương trời nào, ta cũng có cái tâm gần nhau, có một khung trời chung trong con tim, đó là khung trời kỷ niệm của Hà Tiên,…và dù cho ta chắc chắn sẽ rời xa trường lớp một lần nữa, lần nầy là vĩnh viễn, hãy tâm đắc với cái triết lý sống « đi về không hứa hẹn, không từ giả, hãy im lặng với vui buồn là đủ…. »  . (TVM viết vài hàng giới thiệu, Paris, 27/04/2019)

GỬI BẠN ĐOÀN KIM MINH (Lý Thị Lắc)

Tôi phải đặt bút viết ngay những dòng cảm xúc khi đọc bài của bạn. Rất cảm ơn đã cho tôi và những bạn học cùng lớp ngày xưa trở lại bao kỷ niệm vàng ngọc thuở ấu thơ. Thương yêu biết mấy tuổi học trò. Nếu không có Patrice Trần sáng lập trang “Trung học Hà Tiên xưa và nay” thì bao kỷ niệm ngày xưa… “tự mình ôm lấy”.

Đọc bài của bạn tôi phục sát đất, bạn nhớ kỹ quá, tài quá. Tôi nghĩ những ai là diễn viên múa trong bài “Gấm vàng” khi đọc những dòng của bạn chắc phải rưng rưng…

Tôi vẫn nhớ bạn rất thân với Vương Minh Quí. Quí lúc nào cũng cười cười, cười cười… Trong lớp mình, Nguyễn Văn Thu (ông xã của Huỳnh Thị Lành, nay đã mất) thường đặt cho mỗi người một “hỗn danh”, thấy Quí cười cười hoài Thu đặt Quí là “Ô.B.K” (Minh có nhớ ở chùa Năm Ông gần nhà máy đèn có Ô.B.K không?). Nói sao cho hết những kỷ niệm thuở học trò.

Còn một chuyện vui này nữa, tôi không biết bạn có bị “cồng sin” trong vụ án ăn cắp dừa nước ở mương đào gần lò vôi trên đường đi Thạch Động không? Hôm đó vào ngày chúa nhật, từ 7h – 9h chúng tôi bị thầy Giám thị Trịnh Học Ký bắt vào lớp “cấm túc” vì người chủ dừa nước thưa lũ học trò phá phách. Đến 9h, hết giờ “ở tù” thầy Giám thị nhỏ nhẹ: “Mấy em được về”. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh thầy Ký há mồm kinh ngạc khi “bọn tù” nhao nhao:

– “Không về! không về! Ai biểu thầy phạt tụi em…”

Chân dung thầy Trịnh Học Ký, dạy môn Thể Dục và là Giám Thị Trường Trung Học Hà Tiên

Ôi, cha mẹ ơi! có bọn tù nào không chịu về khi được thả??? Đúng là “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bạn ạ, sau này chúng tôi thường đi đám giỗ thầy Trịnh Học Ký ở Sóc Trăng, khi cầm nén hương trước thầy tôi thường khấn: “Thầy ơi, xin tha tội cho lũ học trò quỉ quái ngày xưa”.

Bạn Minh ơi,

Thời gian qua nhanh quá, ngày nào chúng ta còn là những cậu bé, cô bé tuổi học trò, vui đùa vô tư trong sân trường Trung Học Hà Tiên mà nay đã là những lão niên tuổi cao sức yếu. Bây giờ, mỗi sáng chúng tôi thường tập dưỡng sinh trước sân nhà thầy Trương Minh Đạt. Trên đường đến sân tập, tôi thường tâm đắc với hai câu thơ:

“… Đi không từ giã, về không hẹn
Câm nín, vui buồn, ai biết đâu…”

Lý Thị Lắc, Hà Tiên, 27.4.2019

Cuộc hội ngộ giữa thầy, cô, học trò Trung Học Hà Tiên vào năm 2016. Hàng ngồi: Thầy cô Võ Thành Tường và thầy Nguyễn Văn Nén. Hàng đứng gữa: bìa trái chị Lý Thị Lắc và cô Nguyễn Thị Sồ, thầy Phan Văn Xuân và anh Đạng Văn Thơm. Phía sau: anh Lập (Hình: Nguyễn Bích Thủy)

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, Nguyễn Bích Thủy

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn chị Lý Thị Lắc đã đóng góp cho chúng ta một bài viết thật hay, đầy kỷ niệm những năm xưa, hy vọng là chị sẽ tiếp tục cho chúng ta đọc những bài viết đầy ký ức của một thời trường Trung Học Hà Tiên.

Sai lầm (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã có một khối lượng học sinh tuy không to lớn lắm nhưng cũng đủ để trải dài qua nhiều thập niên, từ khi được thành lập vào những năm đầu thập niên 50 cho đến những năm đầu của thiên niên 2000, kể ra cũng đã được hơn 50, 60 năm…Từ các bậc đàn anh, đàn chị của những lớp đầu tiên của ngôi trường: quý anh Trần Phình Chu, Phù Thọ Phương, Đoàn Kim Minh, Huỳnh Hữu Điền, quý chị Lý Thị Lắc, (cô) Hà Thị Hồng Loan,…cho đến quý anh chị bậc trước sau hay cùng thời với mình như Thái Nam Đệ, Trần Hồng Khanh, Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Trương Thái Minh, Lý Mạnh Thường, Lâm Xuân Cúc, Trần Học Quang, Lê Phước Hải, Trường Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan,…và các bạn tuy đi sau nhưng cũng có liên hệ tình bạn thân thiết như Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương, Phạm Thị Kim Loan, Trần Thị Như Liên, Nguyễn Thị Điệp,..rồi các bạn của thời gian hơi xa  xa phía sau như Huỳnh Thị Sáu, Huỳnh Ngọc Tuyết, Trần Mỹ Hạnh, Lê Thị Tám,….rồi đến những niên học thật xa sau nữa thì mình không còn biết được các bạn, các em đi sau đó,…Tuy nhiên với những trang viết kể chuyện học trò, chuyện trường lớp, các kỷ niệm thời học sinh đó đã đưa chúng ta từ những anh chị cả của những thập niên 50 cho đến các em xa xa sau nầy, chúng ta lại hiểu được phần nào sinh hoạt học đường của tất cả…Từ các câu chuyện chơi văn nghệ rất xa xưa cho đến câu chuyện theo bạn năn nỉ học đánh trống gần gần sau nầy, tất cả đều cho chúng ta thấy những hoạt động liên hệ bạn bè, vui chơi của cả một khung trời của Trung Học Hà Tiên…Kỷ niệm có rất nhiều, kỷ niệm rất vui rất nhộn, nhưng cũng có những kỷ niệm hơi đau buồn, hơi luyến tiếc của một thời học sinh tuổi còn rất trẻ, ngôn từ, hành động cử chỉ không biết đo lường, suy tư, để rồi đi đến một điều gì đó gây muộn phiền cho mình, có khi sự muộn phiền đó theo đuổi, gặm nhấm tâm hồn mình cho đến nhiều năm dai dẳng sau nầy,..Chính bản thân mình cũng có trải qua kinh nghiệm sống nầy, đôi khi mình gây ra buồn phiền cho một người bạn trong quảng thời gian xa xưa, rồi vì một lý do nào đó, tự ái, sự bồng bột háo thắng, sự tự kỷ, sự co rút của mình tất cả những đặc tính đó làm cho mình không can đảm nói lên một lời dịu ngọt để làm cho tan biến sự giận hờn, buồn phiền, hiểu lầm trong tình bạn năm xưa,…Nếu một ngày nào đó với cuộc sống chính chắn của một người trưởng thành, mình được có một dịp may gặp lại và nói lên lời giải tỏa cho khúc mắc năm xưa thì thật là hay và đó cũng là dịp để ta vui mừng gặp lại bạn năm xưa và cùng nhau nhắc lại kỷ niệm xưa với một tình thần thật thanh thản thoải mái,..Nhưng dòng đời nhiều khi cũng đưa đến cho chúng ta nhiều bất ngờ, nhiều éo le, có khi gặp lại bạn rồi nhưng chưa nói lên được những gì thông cảm nhau thì thời gian lại khắc nghiệt không cho phép ta kéo dài thêm nổi vui hội ngộ,…Cây bút Quang Nguyên hôm nay cống hiến cho chúng ta một câu chuyện, chuyện thật hay, thật nhẹ vì cách hành văn trẻ trung, vui nhộn, nhưng chuyện cũng đượm một vẻ buồn vì cái kết thúc đau thương…và cái hối tiếc vẫn còn vấn vương đâu đó trong tâm hồn bạn,..Tựa bài là hai chữ « Sai lầm »,…chúng ta sẽ đặt câu hỏi « Sai lầm » của ai, ai đã phạm sai lầm ??? Và sự sai lầm nầy có thể được sửa chữa không ?? Rất khó mà phán quyết về sự kiện xảy ra trong câu chuyện, có sai lầm không khi ta không kịp nói lên lời phân giải với bạn, để nổi khúc mắc quá lâu với thời gian, có sai lầm không khi mình chọn một cách sống đi ra ngoài chuẩn mực của xã hội, có sai lầm không khi sự giáo dục của gia đình hơi buông lơi vì mọi thứ ràng buộc chung quanh, và có sai lầm không khi ta lại nhắc chuyện xưa mà thời gian gần như chôn lấp đi rồi…?? Nói tóm lại khi đọc câu chuyện mỗi người trong chúng ta sẽ tự phân tích và tự tìm hiểu cái thông điệp mà tác giả Quang Nguyên muốn gửi gắm qua bài viết nầy..Có một điều mà riêng mình nghĩ là sẽ không có gì sai lầm khi ta vẫn còn nhớ về bạn, về trường cũ năm xưa…!!.(Paris tháng 4, 2019, TVM viết vài hàng giới thiệu bài của Quang Nguyên)

Sai lầm  (Quang Nguyên)

Ai cũng từng trải tuổi thanh thiếu niên, ắt hẵn cũng thấy tình bạn trong tuổi học trò nó đáng quý thế nào, bởi từ tuổi học trò này đến mãi về sau, chúng ta có rất nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều người tốt kẻ xấu lần lượt bước vào và bước ra khỏi cuộc đời bạn, nhưng có một góc tủ riêng trong mỗi con người mà ở đó họ sắp đặt ngăn nắp những câu chuyện cũ thời học trò như những báu vật giá trị, thỉnh thoảng họ lại lấy các báu vật ra lau chùi, ngắm nhìn… rồi họ cảm giác hạnh phúc vì có nó. Những kỷ niệm của tuổi học trò là những báu vật, những người bạn của chúng ta vẫn ở mãi trong đó với mối thâm tình trân trọng keo sơn cùng đi với chúng ta đôi khi hết cả cuộc đời mình.

… Có một hôm tôi đi làm về khuya, mở đài FM tần số 99.9 Mhz hay 104,5 Mhz chi đó để làm ngắn đi quãng  đường vài chục ki lo mét về nhà, tôi chợt nghe một ca sĩ nào đó mà chất lượng giọng hát thoạt nghe chỉ có thể “té ghế” chứ không thể xoay ghế như The Voice được, lời bài hát quen thuộc được “đọc” bởi một ca sĩ lạ hoắc:  « … Bây giờ còn nhớ hay quên? Ngày xưa hè đến, phượng hồng nở hoa… »,  giọng ca đó nó không làm tôi có chút cảm hứng nào để tiếp tuc nghe, nhưng vô tình nó gợi nhớ một thằng bạn rất thân từ nhỏ học cùng lớp cũng hay nghêu ngao hát bài hát này. Ngày xưa, khi nghe bạn hát tôi rất bực, tôi bực không phải vì bạn tôi có giọng hát hay hơn tôi, mà tôi bực vì lời bài hát không phù hợp chút nào với lứa học trò lớp bảy, lớp tám của bọn tôi, nhưng bực là bực thế thôi chứ cái thằng tôi (dù còn rất nhỏ) cũng hiểu đó là sở thích của bạn và anh ta có quyền tự do mà?

H là « con nhà giàu, đẹp trai, và… viết chữ bự! ». Thật ra H thân với anh Q của tôi hơn, nhưng vì tôi luôn cặp kè với anh Q nên tui cũng thân với H bởi cả ba cùng học chung một lớp… Cũng có thể là tôi tự ngộ nhận về mức độ “thân” này.

Anh Q của tôi không cần nói thì mọi người đều biết là rất đạo mạo và rất chi là nghiêm túc, lại già dặn hơn tuổi rất nhiều. tôi thường thấy anh ấy và H tâm sự với nhau về những “ câu chuyện học trò”,  nhiều khi tôi rất muốn tham gia vì tôi cũng để ý đứa này đứa kia chứ bộ? Thế nhưng H và anh tôi thường hay lãng tránh và một cách công khai nói rằng sợ tôi “bép xép” (mà cái này thì đúng là anh tôi không sai – vì quả thật tôi rất “nhiều chuyện” – một cái tính không thể chấp nhận có trong một thằng cu !).

H học cũng khá giỏi, lại viết chữ đẹp và hát hay, vẽ thì cực đẹp…H hay cùng Q làm báo tường và trang trí cho sân khấu hay những tiết mục văn nghệ của trường. Trường Trung Học Hà Tiên năm xưa có tay trống lừng danh Nguyễn Kha Ly, H chơi với Kha Ly và trở thành môt tay trống giỏi, năm hoc 1977-1978 Miên Đỏ đánh sang biên giới, anh Kha Ly di tản đi đâu đó thì H nghiễm nhiên trở thành tay trống của trường, Trường Trung Học Hà Tiên có dàn trống jazz hồi nào không rõ, chỉ là một dàn trống căn bản cho học trò gồm có: Bass, Snare, hai cái Tom, một cái chập chã đôi Hi-hat và một cái “chiêng” Cymbal, chỉ là vậy thôi nhưng ngồi vào đó là “oai” lắm. Hằng ngày sau khi học xong H hay tìm đến dàn trống ấy, nó được đặt trong cái phòng sau lưng Ban Giám Hiệu sát mé núi của điểm trường Rạch Núi mà bọn học trò Trung Học Hà Tiên chúng tôi đã được chia bớt về đây, và tôi thì quyết không bỏ qua cơ hội để tiếp cận cái dàn trống này.

Cuối cùng, sau những đòi hỏi nhây nhưa lầy lội của một thằng bẻm mép như tôi, H cũng trở thành « thầy » dạy tôi đánh trống (nhờ vậy nên sau này khi lên đại học tôi có thêm một nghề là đánh trống thuê kiếm tiền ăn sáng uống cà phê, cũng có khi được tiền nhiều bao cả bạn bè cả một bàn cà phê sữa đá cùng gói thuốc thơm Samit và mấy lượt bình trà Thái Đức cùng nhau ngồi đồng!…). Trong trường thì có nhiều con mắt mơ màng của mấy nàng nhìn ngắm anh chàng này, H có dáng vẻ “bất cần” trộn chút kiêu hãnh, lại con nhà giàu, luôn ăn mặc đẹp, vẽ đẹp hát hay, có tài chơi trống…, thế là quá dư để trở nên nổi trội.

Bọn con trẻ tụi tôi chơi với nhau vô tư không phân biệt giàu nghèo hay hoàn cảnh của gia đình, gia đình H giàu có và có tiệm vàng ở Hà Tiên, H vô tư trong bản chất một đứa trẻ thiếu niên, trong khi anh em tụi tôi quá nghèo, hôm nào vào lớp cũng phải kèm thêm bao bánh mì bán cho các bạn trong giờ ra chơi và đầu óc ngoài chuyện học chỉ quay quanh cơm gạo, chúng tôi không có cả một chiếc quần Tây để đi học, việc đó khiến má tôi vì thương con nên tìm cách có được cái quần cho hai thằng nhóc, bà lấy vải bao cát xanh của Mỹ (loại làm công sự) mà may thành cái quần đùi cho hai thằng cu của bà có cái mặc mà đến lớp, tuy thô ráp nhưng được cái rất bền và … rất mát! Nó thưa đến nổi khi ra nắng thì ôi thôi – hai thằng anh em tôi trở nên nổi tiếng là sexy boys nhất trường làng… Sự khác nhau về “đẳng cấp” xã hội nó không khiến cho tình cảm của chúng tôi có sự “tách lớp” như nước và dầu, chúng tôi cùng chơi, cùng học và cùng trao đổi những điều thú vị trong cái nhãn quan nhỏ nhoi mà bọn trẻ góp nhặt được chung quanh đời sống thường nhật, chưa bao giờ vì sự cách biệt đó mà H không chơi với chúng tôi.

Tuy nhiên – bao giờ cũng có “tuy nhiên” trong một vấn đề mà người ta tưởng chừng như chân lý.

H luôn xem tôi là một đứa “trẻ trâu” (là nói theo ngôn ngữ thời thượng bây giờ), là một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch, mặc dù anh ta chỉ hơn tôi một tuổi, “nhưng mình học chung lớp mà? Cũng là bạn bè nhau sao phân biệt đối xử với mình vậy?”, tôi thường đem suy nghĩ này ra để lằng nhằng với bạn bởi tính tôi thô thiển và “ruột ngựa”, “phổi bò” trong thân xác “trẻ trâu” như đã nói. Cái sự trẻ con rách việc của tôi đến một lúc nào đó thì nó cũng gây ra chuyện… Một hôm, vì chịu không nổi một thằng bạn thuộc họ móng guốc này đã làm một chuyện gì đó tệ hại đến độ làm tổn thương H, H đã rất lịch sự và không tuyên bố chi cả, đơn giản chỉ âm thầm nghỉ chơi với tôi.

Nhưng bạn vẫn « nồng ấm” với anh tôi thế mới ức chứ? 

Tôi đau khổ vì chuyện này cho tới rất nhiều năm sau mỗi khi nhớ lại …Tôi không hiểu tại sao bạn H không có cả một nụ cười với tôi nữa, lẽ ra phải tha thứ cho tôi khi nghĩ rằng đó là thằng con nít? Thế nhưng mãi mãi từ hôm ấy cho đến tận sau này bạn không bao giờ nói chuyện với tôi, không nhìn tôi, mặc dù tôi làm đủ mọi cách để làm hòa mà không có tác dụng, tôi chỉ còn biết tự trách mình.

Năm học lớp 8 (1978-1979) đột nhiên H bỏ học, tôi rất buồn vì năm này rất nhiều bạn bỏ học, đám học sinh sơ tán của Trung Học Hà Tiên nay vắng rất nhiều bóng dáng thân quen…

Bẳng đi khoảng năm năm chúng tôi không thấy H đâu, tôi rất nhớ bạn cùng với nỗi buồn gặm nhấm…

Rồi sau đó hai anh em tôi đi học Đại Học, gia đình vẫn đang còn rất khó khăn, hàng ngày các em tôi vẫn phải xe nước mướn, nên mùa hè là thời gian mà tôi và anh Q phải gánh vác cho các em được “thư giãn”… Một hôm, khi hai anh em đang kéo nước thì thấy H xuất hiện, trổ mã đẹp trai như một thiên thần và nhoẻn miệng cười với… anh của tôi, dừng chiếc xe đạp, bạn hỏi thăm anh tôi, trao đổi với anh Q nhiều câu chuyện, trong khi tôi đứng sát một bên mà tuyệt nhiên không hỏi tôi dù nửa câu. 

Ngày đó tôi đau khổ hơn những ngày khác nhiều lần, giá như ngày ấy chỉ cần bạn cười với tôi một cái, có thể hôm đó tôi sẽ dư sức kéo được gấp đôi số xe nước của mọi ngày…

Không lâu sau H đi nghĩa vụ quân sự, thỉnh thoảng tôi vẫn gặp bạn “cách xa” trong một cự ly rất gần, rất gần nhưng rất xa… Tôi thích ngắm nhìn H trong bộ đồ lễ phục của quân đội được ủi đàng hoàng thẳng thóm, bạn hiện diện trong đội quân duyệt qua lễ đài trong những ngày lễ (ngày xưa chính quyền hay bắt người dân đi mít – ting), hình ảnh bạn tôi quân phục chỉnh tề đứng trong hàng quân vuông vức làm tôi xúc động.

Rồi sau đó bạn ra quân rồi về làm việc bên Văn Hoá Thông Tin của thị trấn, H rất có hoa tay, tôi thích ngắm những bức tranh cổ động mà H vẽ, bạn vẽ cho các áp-phích của rạp xi-nê Phát Minh trông rất ấn tượng và hấp dẫn, quả là bạn ấy vẽ rất có hồn, các chùa chiền ở Hà Tiên cũng thuê bạn tô vẽ tượng Phật trong những đợt trùng tu hay làm mới lại các pho tượng… Có điều, bức tượng của H trở nên trẻ trung lạ lẫm hơn so với trước, bạn gửi gắm tâm hồn mình vào trong đó, các tượng Phật đã không còn tẻ nhạt, không còn bí hiểm, các gương mặt Đức Phật trở nên tươi trẻ khoẻ khoắn, gần gũi lạ thường, nó dễ khiến chúng ta có cảm tình mà dễ đến với đấng từ bi hơn…

Hóa ra bạn H của tôi có bí quyết đem “đời” vào chùa nhiều hơn!

Thời gian trôi nhanh….

Năm 2006 trong một bữa giỗ ở gia đình tôi, cả đại gia đình nhà tôi đang đông đủ, tôi nhìn ra ngoài đường phía trước nhà thấy một ông già hành khất rách rưới, ốm đói và bộ dạng thật tệ hại ngồi cách nhà tôi độ mươi bước chân, ông ta không già vì tuổi tác, mà già vì bộ dạng…. Tôi nhìn thật lâu và nhận ra H, tôi hoảng hồn, đau khổ, chết lặng…Rồi bao nhiêu kỷ niệm về người bạn thiếu thời quay về ngay lập tức, kể cả những câu hỏi thời con nít còn đang chưa được trả lời…

Tôi gọi anh Q ra và xúi anh mời H vào buổi tiệc đang đông đủ bà con, (cũng như hồi còn nhỏ, tôi hay xúi anh tôi những chuyện mà tôi không dám làm, tôi rất yếu đuối, thật vậy!). H rất vui và còn nhớ chuyện bạn bè, nhắc tên đứa này đứa kia… Và Trời ạ! H cũng nhắc và nhớ “thằng Nguyên” mặc dù bây giờ mắt anh ta đã lòa không nhận ra “thằng tôi” đứng cạnh bên, tình cảnh đó khiến thằng trung niên bốn mươi tuổi dạn dày sương gió cuộc đời chực trào nước mắt…

Hậu quả của rượu làm H trở nên như vậy, đôi mắt nhãn quan nghệ sĩ của anh đã bị lòa, bàn tay tài hoa của anh cũng bị liệt, H bị bại liệt bán thân.

H bây giờ vô gia cư sống đầu đường xó chợ, vợ con bỏ rơi, sống nhờ sự bố thí của bà con cô bác trong địa phương “Đất Phật Người Hiền” của chúng ta, người cho bạn cơm, kẻ cho bạn tiền… Cứ thế bạn sống cho qua ngày đoạn tháng, bạn đã không còn ý chí và sức lực để làm lại cuộc đời, và có đồng nào H xiêu vẹo ngật ngưỡng mua rượu uống hết để quên đi quá khứ vàng son, sự thất chí đã đẩy H đến tận cùng của sự kiệt quệ, H không than thân trách phận, không mượn rượu quậy phá chửi rủa ai hay chửi đời đông đổng theo kiểu Chí Phèo của Nam Cao… Ngày cũng như đêm, bạn chỉ lặng lẽ đâu đó trong những góc tối của thị trấn bé nhỏ này …

Chính tôi “xúi” anh tôi đưa bạn vào nhà, nhưng tôi không đủ can đảm để nói chuyện với bạn, tôi viết một tờ giấy nhỏ (mà không chắc H còn có thể đọc được) đại ý nói rằng – « … ông cầm tiền này ra mua rượu uống cho thỏa chí đi, vì tôi biết đó là niềm vui của ông, là bạn bè không gì vui hơn khi thấy bạn vui… ». Em gái tôi nói rằng:  « anh cho tiền ảnh là ảnh sẽ đi nhậu hết ngay trong một đêm! », tôi không trả lời em tôi nhưng tôi hình dung ra nụ cười sảng khoái của bạn vì đêm nay chắc chắn bạn sẽ say nhiều hơn mọi ngày khác…

Đó là điều tốt nhất cho H, theo tôi nghĩ vậy.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được vì mãi chiêm nghiệm về cuộc đời… Mới ngày nào hình ảnh H còn phơi phới, rạng rỡ như thiên thần vậy mà giờ đây ám ảnh trong tâm trí tôi đó là một H thiểu nảo thân xác tả tơi xiêu vẹo lên xuống nhấp nhô với cái bóng đổ dài xiên xẹo trong buổi chiều tà hôm ấy, cái bóng đong đưa qua lại gập ghềnh trên đôi nạng gỗ, dịch chuyển đều đều xa dần trông như quả lắc đồng hồ đếm ngược vội vàng thời gian còn lại theo từng bước chân mà H đã thật khó nhọc mới nhấc được cơ thể mình giữa  hai cây nạng…

Tôi cứ mãi trách mình, sao mình không nói chuyện với bạn ấy?

Mãi mãi tôi không còn cơ hội để nói chuyện với bạn, vì H đã đem theo xuống mồ cái lý do đã giận tôi suốt mấy mươi năm (cũng có khi H còn không nhớ được)… Mùa đông gió bấc năm 2007 (nếu tôi nhớ không lầm?), trong sân một ngôi chùa lớn ở thị trấn yên tĩnh này, người ta tìm thấy H nằm chết co ro dưới chân ngôi tượng Phật mà tự tay H đã tô vẽ nên… Khung cảnh đó, hình ảnh đó, với cái xác người tả tơi, ốm yếu, khẳng khiu xơ xác và co quắp đen đủi, bên cạnh là chiếc nạng gỗ nằm dưới một góc… Thật chẳng khác chữ ký của một nghệ nhân bên tuyệt tác của mình.

Và có lẽ bạn còn đủ tỉnh táo trong phút cuối của cuộc đời, bạn đã đến dưới chân bồ tát để ra đi thanh thản với niềm tin vào sự cứu rỗi của Đức Từ Bi.

Còn tôi khi nhớ về bạn, tôi luôn nhớ về các điều sai lầm: sai lầm đầu tiên là tôi đã để mất bạn từ năm xa xưa ấy, gần ba mươi năm sau tôi đã có cơ hội để sửa sai nhưng tôi đã không làm và điều này là thêm một sai lầm. Còn H, bạn đã mắc phải sai lầm nào để cuộc đời bạn rả nát tan hoang?  

Và rồi, hôm nay tôi kể lại chuyện này có thể đây lại thêm một sai lầm nữa? Cũng có thể lắm!. »

 (Để tưởng nhớ về bạn tôi– D.S.H)

Quang Nguyên.

04/2019.

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…

 

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)