Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Publicités

Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ một câu chuyện thời học sinh ở Hà Tiên nữa, xin kể ra đây cho thầy cô và các bạn nghe qua…

Lúc đó vào khoảng thời gian mình học lớp đệ ngũ, niên khóa 1966-1967, mình thường đi chơi thân với các bạn Nguyễn Văn Tài (Tài người không cao lắm, nhà ở ngay góc đường Cầu Câu – Lam Sơn, nhà Tài đối diện với bên hông chùa Ông Bổn, phía có Trường Hoa Liên, ba má của Tài người ta thường gọi là Ông Tư bà Tư, ba Tài bán kẹo kéo chung quanh các trường học ở Hà Tiên. Một bạn thân nữa trong thời kỳ nầy là Lương Cường, con của ông bà có tiệm bán thuốc Bắc ngay trước mặt bắc của ngôi chợ Hà Tiên xưa, đó là tiệm Sanh Hoạt, tiệm Sanh Hoạt nầy ngày xưa mình rất thường lui tới nào là để mua bóng đèn nhỏ để chơi pin đèn, nào là mua « xí muội » hoặc « trái táo » khô về để ngậm trong những ngày bị bệnh…Cả hai gia đình của bạn Nguyễn Văn Tài và Lương Cường đều biết mình và ba má của hai bạn cũng rất tử tế đối với mình.

Buổi chiều đó như mọi hôm, mình thả bộ trên con đường Lam Sơn để đến nhà Tài chơi, sau khi gặp nhau thì có bạn Lương Cường chạy xe Honda ghé đến (kiểu xe Honda đàn ông đời 1967). Vào thời gian nầy ở Hà Tiên cũng đã bắt đầu có nhiều xe Honda kiểu đàn ông, đàn bà (Honda Dame) xuất hiện, các nhà buôn khá giả chung quanh chợ đều có trang bị xe Honda cho con cái trong nhà để chiều chiều chạy xe dạo chơi trên các đường phố Hà Tiên. Bạn Lương Cường vừa ghé nhà Nguyễn Văn Tài với chiếc xe Honda 67 màu đen, có hai loại xe Honda đàn ông thời nầy, trước nhất là loại xe Honda 67 với tay cầm thẳng ngang và rất ngắn, sau đó có loại với tay cầm hình theo kiểu chữ V rộng ra, đó chính là kiểu xe của bạn Lương Cường thời đó. Cường rủ mình và Tài lên xe làm vài vòng buổi chiều hóng gió mát. Thế là cả ba thượng lên chiếc Honda 67 của Cường, Cường cầm tay lái ngồi phía trước, Tài nhỏ người ngồi giữa và mình ngồi phía sau cùng. Thầy cô và các bạn cũng biết là ngày xưa luật giao thông cũng hơi lỏng lẻo, chỉ một chiếc xe Honda mà người ta muốn chở trên đó mấy người cũng được, miển là các hành khách ngồi được vững vàng và ngay ngắn là tài xế chạy được, có người chở vợ phía sau và ba bốn đứa con ngồi đủ cả che kín chiếc bình xăng phía trước cũng lái xe chạy bình thường…

Ở Hà Tiên thời kỳ nầy có một vòng các đường phố mà chiều nào các anh em học sinh Hà Tiên đều « lượn » xe Honda không sót một khúc nào, nhiều khi còn phải làm lại hàng ba, bốn lần cái « circuit » nầy, giống như chạy theo kiểu thi đua theo môn thể thao « Công thức 1 » (forrmule 1) của quốc tế vậy…Chẳng những chạy xe Honda vòng vòng theo các con đường nầy mà còn tự động tập trung các xe Honda của các bạn khác, nam nữ đều có đủ, hợp lại cùng chạy chung một hướng rất là ngoạn mục…Đó là con đường bắt đầu từ đường « Bến Trần Hầu », chạy vòng qua đường Phương Thành, chạy thẳng ra phía Ấp Chiến Lược ngày xưa, quẹo qua phía núi Đề Liêm, chạy thẳng ra đường đi Thạch Động và …quẹo về…Đặc biệt là ngay khúc có Ấp Chiến Lược ngày xưa, có một khúc quanh rất đẹp mắt, đường kính khúc quanh vừa rộng rải để cho người lái xe cặp khúc quanh nầy, không bị quẹo gắt lắm…Ngày xưa có hai bạn Phan Thanh Tùng và Phan Thanh Liêm (Tùng và Liêm là hai anh em, con của bác Ba Phan Văn Thân có tiệm bán sản phẩm kỷ niệm đồi mồi ở ngay góc đường Lam Sơn-Tuần Phủ Đạt), bạn Tùng học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ,..v..v..Còn bạn Liêm thì học chung lớp với mình. Tới đây xin mở ngoặc nói về Tùng và Liêm: có một lúc mình cũng đi chơi thân với bạn Phan Thanh Tùng, đó là lần Tùng rủ mình cùng đi qua Sa Đéc để thăm anh của Tùng, lúc đó anh ấy đang đóng quân ở Sa Đéc và ở trong một căn nhà nhỏ với người vợ, mình và Tùng đến nhà anh thăm cả hai người, hai đứa ở lại vài ngày rồi mới kéo nhau qua Cần Thơ, mình còn nhớ hình như lúc đi bộ từ phà bắc lên đường xe, mình có gặp thầy Nguyễn Hồng Ẩn tại đây, lâu quá không biết có nhớ chính xác không…Còn nói về Phan Thanh Liêm, Liêm thì ít nói, rất hiền, nhưng Liêm có tài chạy xe Honda lạng lách rất hay, nhiều lần Liêm chở mình trên chiếc xe Honda 67 có tay cầm hình chữ V (đúng là mode tay cầm xe Honda thời đó…), chạy nhanh ra phía Ấp Chiến Lược đường Phương Thành, ra phía Thạch Động, Liêm nghiêng mình lạng chiếc xe Honda rất lành nghề và chiếc xe và mặt đường làm thành hình chữ V rất đẹp, tuy nhiên mỗi lần Liêm chở mình ngồi phía sau và lạng qua cua như vậy, mình rất sợ, hót bụng và nhắm mắt cho qua giai đoạn đó…

Trở lại câu chuyện bạn Lương Cường chở mình và Nguyễn Văn Tài chạy ra phía Thạch Động chơi. Khi chạy gần tới Thạch Động thì cũng xin nhắc lại là trong thời xưa Hà Tiên tuy không có chiến tranh trực tiếp ngay ở thành thị nhưng những nơi chiến lược như Thạch Động, Đá Dựng, đồi Ngũ Hổ đều có quân đội Nghĩa Quân và Địa Phương Quân đóng ở đó và dân chúng không được tới lui viếng cảnh như vào thời bình. Vì thế, ngay ở dưới chân núi Thạch Động lúc đó, có một cái cổng chắn ngang và có một người lính trẻ đang đứng gát ở đó, khi nào có xe cộ thường là xe đạp và xe gắn máy muốn chạy ngang qua thì người lính mở cổng lên cho xe chạy qua (cổng chắn ngang là một thanh cây nằm ngang, một đầu có treo một đối trọng nặng để cây được nâng lên dể dàng và đầu kia thì móc vào một cái móc để giữ cho thanh cây nằm ngang khi ở vị trí chắn ngang. Trước khi xe của bọn mình chạy tới cổng chắn ngang thì có một chiếc xe chạy phía trước và đã được người lính gát cổng mở cổng lên cho xe đó chạy qua, bạn Lương Cường thấy vậy nên nghĩ là anh ta cũng giữ cổng mở lên cao cho mình qua luôn nên cũng tiếp tục chạy qua không dừng lại, tuy nhiên anh lính gát cổng nầy có lẻ hơi « không mấy thích » mấy anh chàng học sinh chạy xe Honda đi chơi như bọn mình nên thình lình anh cho cổng quay xuống để chận đường lại, khổ thay lúc đó đã quá trể xe của Cường vừa lao tới, lại bị cây chắn ngang cản ngang mình, nên cả ba đều bị té xuống ngay liền, còn chiếc xe Honda thì vì quán tính nên tiếp tục chạy về phía trước không có người trên đó và bị mất thăng bằng xe ngả luôn xuống đường, hình như cái đèn vàng « signal » phía trước tay lái cũng bị bể văng tung ra…

Lúc đó ngay cả anh chàng lính gát cũng nhận thấy tình hình hơi nghiêm trọng vì đã làm cho bọn mình bị té xe, nên anh ta làm ra mặt nghiêm muốn bắt lỗi bọn mình tại sao không dừng xe lại ngay trạm gát mà chạy luôn như vậy, bọn mình thì cả ba đang lò mò đứng dậy, nhìn chung quanh mình xem có bị thương tích gì không và cũng muốn « cự » lại anh ta tại sao anh lại hạ cổng chận ngang xe như vậy,…Rốt cuộc anh lính gát phải gọi điện lên phía trên Thạch Động chỗ đóng quân để báo cáo tình hình và xin cấp trên xuống can thiệp xem sao. Bọn mình cả ba phải dựng xe đứng lại và phải chờ giải quyết…Tới đây xin phép được nói thêm về tình hình đóng quân ở Thạch Động thời đó. Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người bạn gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Múi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ…

Trở lại câu chuyện bọn mình bị té xe Honda ở ngay dưới chân núi Thạch Động và đang chờ cấp trên xuống giải quyết. Chờ một lúc có một người lính đi bộ từ trên núi Thạch Động xuống ngay chỗ có cổng gát để hỏi chuyện, mình cũng đang lo sợ vì không biết có bị bắt bớ gì không trong vụ nầy…đến khi thấy người lính xuống để giải quyết công việc thì mình cũng bớt lo vì người lính nầy chính là anh hạ sĩ (hay trung sĩ mình không nhớ rỏ) tên là Tòng. Nói về hạ sĩ Tòng, ở Hà Tiên thời đó chắc ai cũng biết hạ sĩ Tòng nầy, vì anh bị thương trong một vụ đụng độ và bị một viên đạn trúng ngay trên đầu, làm bể một phần xương sọ, tuy nhiên anh cũng thoát nạn sau khi được chữa trị, chỉ có điều là trên tráng của anh có một chổ bên phải bị móp vô và chỉ có da bọc bên ngoài lại, anh vẫn sinh hoạt hằng ngày như thường lệ miển là đừng đụng vô chổ tráng bị móp vô thôi. Sở dĩ mình biết hạ sĩ Tòng hay còn hơn nữa là quen với anh nữa là vì lúc đó hạ sĩ Tòng có mướn một khu đất nhỏ phía bên phải nhà của má Hai của mình (nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, bà con anh chị em bạn dì với mình), nhà ở đường Tô Châu, ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng. hạ sĩ Tòng cất một căn nhà lá nhỏ ở đó để sinh sống với vợ con. Thường ngày khi mình đến nhà chị Kim (nhà Má Hai) để chơi thì gặp anh Tòng rất thường và trở thành quen biết, anh Tòng xem mình như mấy em trong nhà. Do đó rất là may mắn, khi hạ sĩ Tòng xuống đến chỗ có cổng gát và sau khi anh chàng lính gát cổng chào hạ sĩ Tòng rất nghiêm trang kiểu nhà binh, thì anh ta báo cáo lại tình hình té xe như vậy, hạ sĩ Tòng nhìn thấy có mình trong nhóm chạy xe Honda nên anh cũng rất tử tế bỏ qua câu chuyện nầy và cho phép bọn mình lên xe chạy về nhà…Cả bọn cám ơn anh hạ sĩ Tòng và sau đó cũng mất hết hứng thú nên không tiếp tục đi chơi nữa mà trở lại về chợ Hà Tiên và đi uống cafe để nói chuyện chơi cho vui…Đó là một kỷ niệm cũng vui vui, rốt cuộc thì cũng thoát nạn, nghĩ lại bây giờ thời thanh bình ai muốn đi thăm viếng thắng cảnh nào cũng được và đi chơi tới những chỗ mà ngày xưa hoàn toàn là dành cho nhà binh dân thường không được bén mảng tới. Đến đây là hết chuyện kể xin hẹn với thầy cô và các bạn một dịp khác nhé, cũng xin nhắc lại là sau khi học xong trường trung học Hà Tiên, bạn bè mỗi người đi một ngả, sau 1975 bạn Lương Cường cùng gia đình đi định cư ở nước ngoài, bạn Nguyễn Văn Tài từ trước năm 1975 đã nhập ngủ theo ngành chuyên viên kỷ thuật không quân, đóng tại Cần Thơ, trong những năm mình học Đại Học Sư Phạm ở Cần Thơ rất thường xuyên gặp lại Tài. Sau 1975 nghe nói Tài vẫn còn ở tại Cần Thơ, mình không có dịp gặp lại nữa.

Paris ngày 12/11/2018 Trần Văn Mãnh

Từ trái sang phải: Lương Cường, Nguyễn Văn Tài, Trần Văn Mãnh (hình: Trần Văn Mãnh năm 1966)

Anh Đường Hùng Việt, chân dung lúc còn học sinh trường Trung Học Hà Tiên, sau nầy anh vào quân đội với cấp bậc Trung Sĩ và hy sinh ngay tại quê nhà Hà Tiên. Hình Nguyệt Đường

Bên trái: Phan Thanh Tùng, bên phải: Phan Thanh Liêm. Hình: Hoàng Thị Minh Liên, năm 2014

Một trong những kiểu xe Honda 67 với tay cầm ngang và ngắn. Hình: tuannguyen959

Trên đường đi ngang Thạch Động, phía dưới chân Thạch Động ngay lề đường ngày xưa có một cổng gát chắn ngang đường. Hình: Herman Hermanson 2006

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Ở Hà Tiên chúng ta ai cũng biết Lầu Ba (còn được gọi là Lầu Ông Chánh). Lầu Ba được xây cất trên một ngọn đồi có tên là « Đồi Ngũ Hổ ». Tất cả các học sinh học trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đều biết Lầu Ba vì trường chúng ta nằm dưới chân đồi, tính từ trường đến đồi Ngũ Hổ thì qua một sân trường, một cái ao xà lách và một dảy phòng gọi là Phòng Thí Nghiệm, ngày xưa là phòng thí nghiệm của Trường Trung Học và có trang bị rất nhiều dụng cụ để thực tập Vật Lý và Hóa Học, sau đó dảy phòng thí nghiệm được dùng làm phòng học phụ thêm khi có chia lớp học sinh ngữ. Rất ít người được lên trên Lầu Ba vì từ ngay ngày xưa đã là căn cứ đóng quân của Địa Phương Quân Hà Tiên, sau đó là căn cứ Ban Chỉ Huy quân sự của chính quyền thị xả Hà Tiên. Có một lần mình được dịp lên Lầu Ba, lúc đó mình còn là một học sinh, vì có chơi văn nghệ đàn ca, nên có Đại Úy Thơ lúc đó chỉ huy quân đóng trên Lầu Ba, Đại Úy Thơ mời mình cùng một vài học sinh trong ban văn nghệ (trong đó có Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Ngọc Thanh) xách đàn lên Lầu Ba (đi từ ngả trường Trung Học, qua phòng thí nghiệm có một con đường nhỏ dẫn lên Lầu Ba). Lúc đó có một vài cố vấn Mỹ, vì Đại Úy Thơ muốn giới thiệu nhóm văn nghệ trường với các lính Mỹ nầy để cùng nhau đàn, hát một chút cho vui. Lúc đó mình còn nhớ có một người lính Mỹ da đen, có ca một bài và cùng lúc đệm đàn rất lướt mướt….

Bạn Trương Thanh Hùng (bút hiệu Giá Khê) có viết một bài về sự tích năm con cọp trên Đồi Ngũ Hổ, bài nầy có đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432 ngày 22/12/2016 (các bạn có thể tìm xem trên mạng). Sau đây xin đăng lại bài viết đó để chúng ta biết được một sự tích dân gian hay của Hà Tiên. (Trần Văn Mãnh viết lời nhập)

Sự tích Đồi Ngũ Hổ (tác giả: Giá Khê)

Về Hà Tiên, chúng ta sẽ nghe nói đến đồi Ngũ Hổ, hiện nay Ban chỉ huy Quân sự thị xã Hà Tiên đóng trên đồi, bên cạnh doanh trại có một ngôi miếu và tượng của 5 con hổ (4 con bằng gốm, một con bằng xi măng). Vào thời Pháp thuộc, viên chánh chủ tỉnh cất công thự ở trên đồi này nên có câu ca dao:

Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông
Thương em từ thuở má bồng
Bây giờ em lớn em lấy chồng bỏ anh.

Truyền thuyết kể lại rằng:

Ngày xưa, Hà Tiên còn khá hoang sơ, nhưng cửa biển Hà Tiên là nơi tránh sóng gió rất tốt nên thuyền buôn từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á qua lại thường ghé vào neo đậu tránh gió, đồng thời để lấy thêm nước ngọt.

Vào mùa khô, khi nước biển lấn vào Đông Hồ, nước ngọt từ sông Giang Thành không thể chảy xuống át nước mặn được, người dân địa phương phải dùng nước ao, nước giếng đào. Gần bên Đông Hồ có một ngọn đồi nhỏ và một ao nước ngọt cung cấp nước cho người dân tại chỗ khi đã hết mùa mưa. Từ đó có những người chuyên làm nghề gánh nước mướn đổi cho các ghe thuyền qua lại và dân mua bán.

Hôm nọ có một ông lão gánh nước mướn quảy đôi thùng với cây đòn gánh bằng gỗ mun đen bóng đến bên đồi lấy nước. Đang mùa khô nên thú rừng cũng phải tìm nước uống (lúc ấy rừng còn đến khu vực này) và chúng cũng hay đến đây uống nước. Khi ông lão đến gần ao nước thì có 4 con cọp vừa đến uống nước. Tấn thối lưỡng nan, ông lão không thể bỏ về mà không có nước cho người cần dùng; cũng không thể nhường cho lũ cọp nguồn nước quí giá này, ông quyết định đi tới ao nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu lũ cọp định làm hại ông.

Bốn con cọp thấy có người tranh giành nguồn nước, chúng gầm gừ dọa nạt. Thấy ông lão cứ đến, chúng bèn dàn trận đánh ông.

Ông lão để cặp thùng xuống, thủ cây đòn gánh trên tay, con cọp đầu tiên vừa nhào đến, ông liền ra đòn rất mạnh và rất hiểm đánh hất con cọp văng ra. Ông cũng định dọa cho chúng lui thôi, nhưng bầy cọp hung hãn quyết ăn thua đủ với ông, chúng cùng nhào vô đánh với ông. Biết không thể nhịn được, ông dùng những thế võ cực hiểm đánh trả làm cho chúng bị thương rất nặng nhưng chúng cũng không chịu rút lui, sau gần một buổi chiến đấu, buộc lòng ông phải hạ dần từng con cho đến khi chúng kiệt sức và chết hết.

Ông lão chống cây đòn gánh nhìn xác 4 con cọp rồi ông cũng trút hơi thở sau cùng vì quá kiệt sức.

Những người cần nước chờ ông lâu quá nên kéo nhau đến đồi thúc hối. Khi đến nơi, họ mới phát hiện ông lão đã chết giữa 4 con cọp, dáng dấp rất uy nghi.

Người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và 4 con cọp, cũng từ đó ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ.

Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống. Về Hà Tiên, lên đồi Ngũ Hổ thắp nén nhang tưởng nhớ người xưa cũng là một việc làm thú vị.

Hiện nay, vì cơ quan quân sự đóng trên đồi nên Ban chỉ huy có làm một con đường phía sau cho dân lên chiêm bái. (Giá Khê, theo bài đăng ngày 22/12/2016 Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432)

Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ)…Trung Học Hà Tiên những năm 60′. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, ngồi trên ở giữa: Lý Cui, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy,..Hà Tiên…60′. Phía sau cột cờ ta thấy phòng thí nghiệm (bên phải) và xa nữa là Lầu Ba.

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1960-1970)

Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (Phía sau ta thấy phòng thí nghiệm bên phải và xa nữa là Lầu Ba.)

Dương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu BaDương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu Ba

Đồi Ngũ Hổ với Lầu Ba ở giữa hình, bên trái Lầu Ba là dảy Phòng Thí Nghiệm, phía dưới Lầu Ba là dảy nhà thiếc: căn cứ Duyên Đoàn 44 Hãi Quân thời 1970, bên phải dảy nhà thiếc là sân vận động cũ của Hà Tiên. Phía dưới hình là một phần của Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ, phía xa là núi Đề Liêm, phía dưới là Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Học sinh của một lớp học Trung Học Hà Tiên chụp hình tại sân trường, phía sau ta thấy rỏ Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Trần Quyết Tới (con của Chú Tư Thiên tiệm hớt tóc Tư Thiên Hà Tiên), hình chụp năm 1981 trên Đồi Ngũ Hổ, phía sau Lầu Ba, sau lưng là cây cổ thụ Bao Báp (BaoBab Africain)

Quang cảnh Lầu Ba trên Đồi Ngũ Hổ chụp từ phía núi Tô Châu. Photo: Trương Minh Quang Nguyên 2012

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên) , du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên), du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Bàn thờ bên trong đền thờ Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ hiện nay (Hà Tiên 2017)

Chi tiết chữ viết trên bia thờ trên bàn thờ đền Ngũ Hổ (phía sau Lầu Ba) trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên 2017)

Lầu Ba hiện nay (ngôi nhà bên phải cột antenne và dưới Thạch Động). Hà Tiên. 2018

 

Chú thích hình:

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Dương Thị Phương Hà, Trần Hoàng Trang, Trần Quyết Tới, Rich Krebs, Lâm Lan, Minh Đức Dương

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)