Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Giới thiệu Dương Văn Hiến

Dương Văn Hiến

Thầy Cô và các bạn cho phép tôi được dài dòng đôi chút để được biết rỏ về tôi, cũng giống như bài viết  « Tự bạch của Trương thanh Hùng » đã được đăng vào Blog nầy. Vào khoảng năm 1962 tôi từ Hòn Heo, Bãi Ớt lên Hà Tiên, ba tôi là ông Dương Công Huỳnh làm y tá ở bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, lúc đó tôi học lớp nhất với thầy Lê Đức Nguyên (chung với Lý Mạnh Thường).  Vì thi trượt vào lớp Đệ Thất nên tôi học lớp Bán Công chung với Trần Tiên, Tiền Công Thành… Tôi đậu vào lớp Đệ Thất « sau lưng » Trương Thanh Hùng ( Trương Thanh Hào đậu hạng 46/50, Trương Thanh Hùng đậu hạng 47/50 và tôi  Dương Văn Hiến đậu hạng 48/50, còn bạn Trương Minh Huệ đậu hạng 49/50). Không may, học lớp Đệ Thất năm đó (niên khóa 1965-1966) vận đen đến với tôi: ngay cái ngày thi Đệ nhị lục cá nguyệt tôi lại kẹt đi lưới chưa về được nên bỏ cuộc thi, tôi khóc và khóc thật nhiều, năm đó ở lại và học chung lớp với Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt…(niên khóa 1966-1967). Hết năm đó tôi vừa lên lớp Đệ Lục đươc 2 tháng thì trong nhà có nhiều chuyện xảy ra, tôi buồn tình bỏ học và đi hoang (đi Phú Quốc làm việc, khi thì đi biển khi thì đi tàu chở hàng hóa lênh đênh trên sông biển cho đến năm 18 tuổi thì trở về Hà Tiên đi lính Địa Phương Quân đóng ở Đá Dưng. Trong khi các bạn ngày xưa đứa có Tú Tài, đứa vào trường Sư Phạm, người nhập ngủ vô Thủ Đức,  người thì còn vui với đèn sách, còn tôi nếu có nhớ về trường về bạn về kỹ niệm học trò thì thật là không có gì để được nhớ và nói đến. Tôi không thể có khung thời thơ mộng nào của tuổi học trò để đóng góp trong Blog của thầy cô và các bạn, chỉ mong thầy cô và các bạn nhận ở tôi đôi dòng tâm sự nầy coi như tôi chia sẽ chút vui buồn về tôi đến thầy cô và các bạn. Vậy xin cám ơn anh Trần Văn Mãnh chủ Blog đã bỏ chút thời gian đọc thư của tôi. Xin kính chúc gia dình anh có được mùa xuân hạnh phúc và dồ dào sức khỏe. 

Tạm bút 12/2016: Dương Văn Hiếu  (ngày xưa tôi tên Dương Văn Hiến còn tên hiện dùng là Dương Văn Hiếu)

Dương Văn Hiếu

Dương Văn Hiến, người bạn khá đặc biệt của tôi (Trương Thanh Hùng)

Trong số bạn bè hồi còn học Đệ Thất, Đệ Lục (1965-1966), có lẽ Dương Văn Hiến là một trong những người bạn đã để lại ấn tượng trong tôi đậm nét nhất, bởi Hiến là học trò học lớp luyện thi vào Đệ Thất của ba tôi. Tôi quen Hiến và chơi thân với Hiến từ lúc đó. Kỷ niệm về Hiến hơi nhiều, xin kể lại các bạn nghe một vài mẫu chuyện vui vui về người bạn khá đặc biệt này.

Chuyện ở Núi Lăng

Tôi không nhớ đó là năm học Đệ Thất hay Đệ Lục, có một giờ trống, tôi cùng Dương Văn Hiến, Trần Phước An, Trương Thanh Hào (anh tôi) lên núi Lăng chơi. Mà hình như thời gian đó học trò hay đi núi Lăng phá phách vào những giờ trống (thầy cô có việc không dạy). Mấy anh em đến gần mộ Mạc Thiên Tích ăn cắp dừa. Trần Phước An là người leo dừa giỏi nên leo lên một cây dừa xiêm không cao lắm. Hiến là dân lao động, tháo vác nên phụ trách chụp dừa không cho rớt xuống đất, bởi nếu dừa rớt xuống đất gây tiếng động thì ông Từ Nguơn nghe lên bắt thì hư bột hư đường hết. Khi An leo lên cây thì Hiến đứng dưới gốc dừa mở nút quần ra tè. Lúc đó, vào ngày thứ hai học trò phải mặc quần trắng, mà quần còn gài nút chứ chưa có « phẹc mơ tuya ». Hiến tè vừa xong, còn đang lui cui gài nút thì ở trên, An hỏi “Rồi chưa?”. Hiến đáp “Rồi!”, An thả trái dừa xuống vừa lúc Hiến ngữa mặt lên, trái dừa rớt ngay miệng của Hiến một cái như trời giáng, cái mỏ lập tức sưng vù lên. Tuy đau, nhưng Hiến cũng ráng chụp thêm mấy trái nữa. Anh em đem dừa đến mộ Mạc Thiên Tích đập lột võ uống. Xong xuôi, Hiến mang cái mỏ sưng vù về trường, vô lớp bị bạn gái Lâm Thị Lan hỏi “Bộ bị vợ khẻ đũa vô mỏ sao mà sưng vù vậy?”. Hiến mắc cỡ không trả lời…!!

Bán cà rem

Tôi thương, quý Hiến cũng vì chuyện này. Nhà tôi nghèo, mà nhà Hiến cũng không khá, hai anh em lãnh cà rem ở hảng nước đá Triều Quang đi bán dạo. Lúc đầu tôi còn ngỡ ngàng nên rao “Ai mua cà rem hôn?”. Hiến dạy tôi: “Mầy phải rao Cà rem đây, chớ ai mà rao như mầy”. Vậy là tôi học được một chiêu. Hôm đó, bán cà rem ở khu nội ô hơi ế, Hiến rũ tôi qua Tô Châu bán. Hai anh em qua đò đi vòng núi Tô Châu rao bán. Khi có người kêu mua, Hiến hay nhường tôi bán trước. Hiến còn hỏi: “Nếu người ta trả giá 3 đồng 5 cây mầy bán không?”. Tôi chưa trả lời thì Hiến nói tiếp: “Mầy bán 4 đồng 5 cây rồi mầy ăn 1 cây, bây giờ mầy bán 3 đồng 5 cây thì coi như mầy ăn 1 cây chớ đâu có gì mà lo”. Vậy là tôi học thêm được một chiêu nữa.

Đi xuồng trên Đông Hồ

Hiến nghỉ học khá sớm, một thời gian rất dài tôi không gặp Hiến. Đến năm 1974 mới gặp lại khi Hiến làm lính đóng trên Đá Dựng. Đến năm 1976, lúc tôi đi dạy học ở Hà Tiên, có lần tôi đến nhà Hiến (ở mé sông gần Cầu Đá), hình như hai anh em có làm vài xị, sau đó Hiến rũ tôi xuống xuồng chèo vào Đông Hồ thả lưới. Hiến chèo chỉ có 1 chèo mà xuồng đi rất nhanh, Hiến giảng cho tôi biết về kỹ thuật chèo xuồng của người dân biển. Khi vào trong Đông Hồ Hiến nói: “Tao chỉ muốn có một chiếc ghe nhỏ, có mui để khi nào trời mưa vô ngồi trong mui nhậu là được rồi”. Vậy mà cho đến bây giờ Hiến không thực hiện được ước muốn đó cho dù điều kiện hiện nay của Hiến không còn nghèo khổ như trước nữa.

Cuộc gặp ở Vàm Rầy và nửa con khô cá bè.

Năm 1977, tôi đi dạy học ở Vàm Rầy (xã Bình Sơn), tình cờ gặp Hiến tại đây, tôi rũ Hiến về chỗ các thầy cô giáo ở để ăn với nhau một buỗi cơm. Hồi đó thầy giáo rất nghèo, khi tôi nói với mấy cô giáo nhà có khách, các cô khá băn khoăn vì bạn của thầy Hùng tới mà không có gì ăn. Khi Hiến ra phía sau đi vệ sinh thì nghe các cô nói với nhau: “Bạn thầy Hùng tới mà thức ăn không còn gì, mình phải đi mua vài cái trứng vịt chiên để đãi khách”. Hiến nghe nói cảm động quá. Khi các cô ra nhà trước để đi mua thức ăn thì Hiến ngăn lại nói: “Mấy cô đi mua thêm thức ăn phải không, thôi, mấy cô đi chi cho mất công, tui còn con khô cá bè, để tui cắt phân nửa chiên ăn là xong chớ gì”. Nói xong, Hiến vội lấy con khô cá bè gói trong tờ giấy nhật trình xuống bếp cắt phân nửa (phần đầu), còn khúc đuôi có dây cột thì gói lại treo lên vách. Hôm ấy mấy thầy cô có bữa ăn cơm với khô cá bè chiên thật ngon. Đến sau này tôi mới biết còn nửa con khô, Hiến xách đi qua Ba Chúc thăm bạn. Thật là cái tình của bạn nghèo cảm động biết bao nhiêu.

Chuyện của Hiến với tôi còn dài, nhưng chỉ kể vài chuyện để Thầy Cô và các bạn nghe cho vui.

Hiện nay Hiến có tên là Dương Văn Hiếu, đang sinh sống ở tiểu bang Floride Mỹ.

Trương Thanh Hùng Ngày 28 tháng 10 năm 2017

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi giữa: Lê Thị Việt Nga, Trần Quý Nương, Trần Quý Nữ)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bìa trái: Lê Thị Việt Nga và Trần Quý Nương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bài trái: Lê Phước Dương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi ở giữa: Sĩ, Trang Việt Thánh, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương)

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

 

Kể về người bạn ở trời Tây (Lâm Thị Lan)

Nữ kê tác quái,gà mái đá gà cồ.
Đây là 2 nhân vật chính nè các bạn ơi!
Nữ kê đây. Gà cồ đây

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: « Nữ kê »: Lâm Thị Lan, hình phải: Gà cồ: Dương Văn Hiếu

Sau gần 40 năm gặp lại bạn Dương Văn Hiếu trên Face book. Hiếu hỏi Lâm Lan có còn nhớ lúc còn là học sinh năm học ở lớp Đệ Thất trường Hà Tiên không?

          – Nhớ cái gì bạn Hiếu?

          – Nhớ cái tuổi 13 lắm chiêu, nhiều trò này. Lớn không lớn, mà nhỏ không nhỏ hay trêu hay ghẹo với nhau.

Nữ sinh với chiếc áo dài thướt tha thường hay bị cái anh chàng « lí lắc » này rình cột cái đuôi áo dài. Khi mình phát hiện ra thì anh chàng này mặt phớt tỉnh như không có sự việc gì xẩy ra.

Ấm ức trong bụng không biết làm sao trả đũa cái anh chàng « lí lắc » này. Có một lần Lâm Lan chờ giờ vào lớp khi chàng Hiếu đi qua (vì Hiếu xếp hàng sau Lâm Lan nên phải đi vào sau), Lâm Lan đưa cái chân cho anh chàng này té chảy máu mũi chơi.

Hihihi!

Nghĩ thế thì làm. Khi anh chàng « lí lắc » vừa trờ tới Lan liền đưa chân ra. Úi giời ơi! Sợ quá rút chân về nhanh các bạn ạ (sợ gặp thầy Giám Thị là con chết lớn). Thôi rồi tha cho bạn lần này thôi. Không thì cho bạn nhảy cò cò một phen cho chừa cái tật hay ghẹo bạn gái.

Hihihi! Hihihi!

Cái tuổi 13 lắm chiêu trò.
Nhớ mãi trò vui nghịch ở trường.
Làm cho bạn té chảy mũi chơi.
Hay đùa hay nghịch với bạn gái.
Bây giờ gặp lại bạn ngày xưa.
Hiếu ơi! Lúc đó có gì không?
Không Lan ơi! Làm sao tui té được.
Đến bây giờ kẻ bắc, người nam.
Kể nhau nghe cái tuổi học trò.

Nhờ có Blog THHTX mình nhớ lại cái tuổi con nít có biết bao là kỷ niệm. Đúng là học sinh đứng hàng thứ 3 nhỉ.!!!

Lâm Thị Lan tự thuật (10/2016)

Tái bút: Bài « Tạm bút » của bạn Dương Văn Hiếu và bài « Tự thuật » vui nhộn của Lâm Lan đã được viết lâu rồi (năm 2016), nhưng vì chờ nhiều thông tin bài vở về bạn Dương Văn Hiếu nên hôm nay sẳn có bài của Trương Thanh Hùng kể chuyện về Hiếu ngày xưa nên mình cho vào chung một bộ…

Hình ảnh: Dương Văn Hiếu, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào