Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 1)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

1/ Nhà cô Muối: góc đường Lam Sơn – Phương Thành, (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998)

Đây là góc đường Lam Sơn (bên trái) và Phương Thành (bên phải). Căn nhà bìa mở cửa trong hình là nhà cô Muối, kế bên là nhà củ Cang, kế nữa là nhà Hia Bấu, chế Mũm. Đối diện là nhà bạn La Văn Hủi, La Văn Gồi , Huỳnh Kim Châu. Căn nhà lầu là nhà chế Mũm, có con gái tên là Lâm Kim Hoa, học trường Hoa có tên kêu là Mỹ Anh. Cô Muối là chị của bạn Vương Bình Phước, Vương Đình Lộc. Cô dạy trường Tiều Học Hà Tiên, là phu nhân của thầy Lê Phước Lộc dạy môn Thể Dục. Mình không biết thời gian chụp bức hình nầy.

2/ Đường Bạch Đằng nhìn lên phía nhà lầu anh Cáo Di (Hà Tiên)


(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Đường Bạch Đằng, bên trái hình chổ vài căn nhà ngói cũ kỷ, khúc trên là nhà anh Trần Hồng Khanh, kế đó về phía bến Trần Hầu là nhà Bác Cang hồi xưa hay bán vé xe đò Liên Trung, Lộc Thành, ba của hai chị Lệ và Liểu. Xuống hết đầu đường là tiệm đồi mồi Lê Minh. Còn đầu đường trên là miếng đất trống, hồi xưa có căn nhà ngói rất xưa của gia đình anh Khai, anh Tòng. Sau đó nhà ngói bị phá bỏ và anh Khai mở tiệm cafe cơm tấm hiệu là Lan Chi . Đối diện tiệm anh Khai bên nầy đường là biệt thự của cô Hiền, xuống một chút là tiệm cafe hủ tiếu Quãng Phát, rồi kế là một căn nhà hay đóng cửa hoài, nhà của chế Lêm may quần áo con của Ông Èm Sen. Sau cùng là phía nhà sau của ba má anh Trần Binh mặt trước là tiệm cho đánh billard …Còn căn nhà đúc đầu đường có bốn cửa sổ cong cong đó là nhà anh Cáo Di, nhà nầy hồi xưa còn là nhà ngói đời trước là của ba má anh Trần Bình …

3/ Đường vô Thánh Thất Cao Đài bên xóm Tô Châu (Hà Tiên)

(Hình: Axel Drainville, năm 2011)

Con đường nầy lúc đầu rất khó nhận ra, nhưng nhờ nhiều ý kiến đóng gớp mới biết đó là con đường dọc theo mé biển dưới chân núi Tiểu Tô Châu. Ngày xưa khi đi qua cây cầu nổi, tới bên kia xóm Tô Châu, quẹo trái là ngay con đường nầy. Bên phải là bến xe đò cũ. Đầu con đường nầy là hảng nước Mắm Bỉnh Ky. Ngày xưa khúc đường vừa qua cầu nổi bên trái có một quán nước có chiếu video ăn tiền cho khách xem. Trên con đường nầy có Thánh Thất cao Đài, và phía trên núi thì có Tịnh xá Ngọc Tiên, nếu đi sâu vào cuối đường thì ra sông rạch đi Phú Mỹ, Giang Thành.

4/ Đường Trần Hầu nhìn qua Ty Quan Thuế và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Con đường Trần Hầu hơn 30 năm về trước. Bên phải là khu có tiệm cây xăng của gia đình Ông Thái Dũ, xa hơn nữa là Đài Kỷ Niệm và chợ cá Hà Tiên. Bên trái hình là khách san Vân Tiên, sau đổi tên là khách sạn Hà Tiên, trước năm 1975 thuộc về gia đình bạn Trần Văn Hữu. Chú ý là có một cây cột sắt màu trắng, đó là cột đèn hải đăng ngày xưa. Phía trên là khu nhà làm việc và nhà ở của Ty Quan Thuế. Qua bên đường Mạc Công Du là quán nem nướng của gia đình bạn Nguyễn Thúy Vân, tiếp theo là nhà dì Loan má của bạn Tô Vĩnh Tuấn, kế nữa là tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm và nhà của bạn Trần Ngọc Sương… Đặc biệt phía bên phải hình hơi xa ta thấy có mái ngói của một căn nhà, có rất nhiều ý kiến về căn nhà nầy: lúc xưa là chợ cá, do công ty Thủy Sản xây dựng, sau đó làm cơ quan cho đội quản lý chợ. Còn người đẹp áo tím trên xe đạp thì không biết là ai, chắc giờ nầy đã lên chức bà nội, bà ngoại rồi…

5/ Nhà Hiến Binh xưa tại ngả tư đường Mạc Công Du – Mạc Cửu (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Căn nhà trong hình thời xa xưa là tòa án, sau đó để cho Hiến Binh ở, rồi sau nữa là nhà cho cảnh sát ở, trong đó có nhà của gia đình chú Ba Sanh ở. Con đường trước mặt căn nhà là đường Mạc Công Du, đường bên hông bên phải là đường Mạc Cửu. Đối diện với căn nhà nầy là phía sau khu vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn. Qua bên nầy đường Mạc Cửu, bên phải là nhà cô giáo Điệp vợ của anh Ba Mẩn, rồi tới khu Học Đường Viên cho gia đinh quý thầy cô ở, ngày xưa có nhà thầy Trịnh Học Ký, Nguyễn Văn Thất, Trần Hòa Hùng,..v..v… và lên nữa là ngay trường Tiều Học Hà Tiên. Phía trái căn nhà nầy trên đường Mạc Công Du về phía chợ là sân đánh quần vợt ngày xưa, trong sân nầy có một cây trâm rất lớn; ai đi chơi tối về ngang qua khu cây trâm nầy rất sợ ma…Về phía chợ nữa là căn nhà của gia đình Ông Kiều, ba của bạn Dzung Tran.

(Còn tiếp phần 2)

 

Vài nét về địa danh Giang Thành

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi mình còn là một học sinh trung học ở Hà Tiên, thường thì chỉ biết lo học, đi chơi với các bạn và cũng biết … »thương yêu » chút chút kiểu « tình yêu học trò »…chứ chưa biết suy nghĩ, tìm hiểu về những cái hay cái đẹp của quê hương… Thật vậy ngày nay nhờ có những quyển sách nghiên cứu sâu đậm về mảnh đất Hà Tiên và họ Mạc của nhà Hà Tiên học thầy Trương Minh Đạt, mình mới bắt đầu chú ý đến tất cả những gì có liên quan đến Hà Tiên…Hồi xưa mình cũng không biết đến cái tên núi Phù Dung, không nghe ai nói núi Phù Dung cả, chỉ biết có một ngôi chùa tên là Phù Dung mà thôi, mà lại cũng không biết có đến hai ngôi chùa Phù Dung, một chùa xưa (ở núi Phù Dung, tức núi Đề Liêm, đã mất) và một chùa nay (ở núi Bình San, còn hiện tại), hoàn toàn không biết gì về ngôi chùa Phù Dung xưa. Còn về cuộc đời và sự nghiệp của các quan tướng đời họ Mạc: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích,…v..v…mình chỉ biết mơ hồ, mông lung, chỉ biết nghe những câu chuyện truyền thuyết mà thôi. Về các danh từ chỉ địa danh như: Cừ Đứt, Trà Phô, Phú Mỹ, Giang Thành,…v..v..thì lại càng mông lung hơn nữa, chỉ biết tất cả những địa danh đó là ở phía xa xa về hướng Đông Hồ trở vô sâu theo con sông về phía kênh Vĩnh Tế…Hồi xưa cũng thường nghe nói những vùng mang tên đó đều không được an ninh lắm, thỉnh thoảng nghe nói có « đụng độ » với « mấy ảnh »…và thường có ghe tàu Hải Quân PCF, Hải Thuyền thường hành quân về phía các sông rạch đó…nên cả một quảng đời mình sống ở Hà Tiên không có lúc nào dám phiêu lưu mạo hiểm đi về phía các vùng đó…Hồi đó chỉ biết là vào buổi sáng thường có ghe đò từ trong Cừ Đứt, Trà Phô chở hành khách ra chợ Hà Tiên, người dân trong vùng đó thường ra chợ Hà Tiên mua sắm hay đem các máy móc radio, truyền hình ra sửa chữa…

Bây giờ tuổi đã hơn lục tuần, nơi ở thì cách xa quê hương Hà Tiên hơn 10000 km, muốn tìm hiểu nơi chốn địa phương thực tế cũng không còn thuận tiện như xưa, chỉ có cách tìm tòi, lục lạo trong sách vở và trên mạng…Tuy thế, nhưng lại được cái đam mê tìm hiểu, do đó mình rất thích viết về những gì liên quan đến Hà Tiên, về kỷ niệm bạn bè, thầy cô xưa, về hình ảnh địa danh cũ,…v..v…Tuy nhiên vì không được mắt thấy tai nghe tận chỗ nên các bài viết chắc chắn sẽ có nhiều sai lầm, thiếu sót…mong thầy cô và các bạn thông cảm, mình chỉ mong được quý độc giả góp ý và chỉnh sửa, bổ sung thêm, đó là điều mình rất hoan nghinh và rất cảm ơn quý vị.

Bây giờ nói về địa danh Giang Thành và con sông Giang Thành. Ngay cả tên sông Giang Thành, hồi xưa mình cũng không có dùng, chỉ nói là sông Hà Tiên mà thôi,…con sông chảy ngay qua phố thị Hà Tiên mà không ngày nào là mình không nhìn thấy…Trước khi vào phần phát triển bài viết, mình cũng xin đính chánh là đây không phải là một bài khảo cứu khoa học có tính chất Địa Lý về địa danh Giang Thành, đây chỉ là những góp nhặt các tài liệu, các thông tin tuy phần lớn từ các nguồn đúng đắn và giá trị những cũng còn cần phải truy cứu, so sánh và kiểm tra lại dưới con mắt của quý độc giả, mục đich chỉ để phổ biến phần nào các kiến thức thông dụng trong chúng ta mà thôi, hoàn toàn không có tính chất cao cấp của một bài viết trong giới nghiên cứu.

A/ HUYỆN GIANG THÀNH:

Thời Pháp thuộc Giang Thành là một quận thuộc tỉnh Hà Tiên, tuy nhiên dần dần vì chiến tranh, dân cư thưa thớt, quận Giang Thành bị giải thể, tỉnh Hà Tiên cũng xuống bậc trở thành quận, Giang Thành lại thuộc về quận Hà Tiên. Cho đến năm 2009, Giang Thành được chính thức lập thành huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang và có 5 xã như sau:

1/Phú Mỹ
2/ Phú Lợi
3/ Tân Khánh Hòa
4/ Vĩnh Điều
5/ Vĩnh Phú

1/ Xã Phú Mỹ: gần Hà Tiên nhất vì giáp với phường Đông Hồ, phường Tô Châu và xã Thuận Yên. xã Phú Mỹ gồm có các ấp: Kinh Mới, Rạch Dừa, Thuận Án, Trần Thệ, Trà Phô, Trà Phọt. (Như vậy khi đọc đến đây thầy cô và các bạn xác định được ngôi thứ của các từ Trà Phô, Phú Mỹ (Trà Phô là một ẤP thuộc xã Phú Mỹ và Phú Mỹ là một XÃ thuộc HUYỆN Giang Thành). Riêng danh từ « Trà Phọt » hồi xưa mình không nghe nói tới…

2/ Xã Phú Lợi: Giáp với xã Phú Mỹ về hướng nam, giáp biên giới Cambodge về hướng tây bắc,  gồm có các ấp: Cả Ngay, Cỏ Quen, Giồng Kè, Rạch Gỗ, Tà Teng (ta lại thấy xuất hiện từ « Tà Teng », đó là tên gọi một ấp cư dân cổ, người Khmer gọi là « Tà Teng », người Việt sau đó gọi là « Trà Tiên », Trà Tiên có thời là một xã nhưng sau đó lại trở thành ấp, tên hiện tại là « Tà Teng »).

3/ Xã Tân Khánh Hòa: Giáp với xã Phú Lợi về hướng tây nam, giáp biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Hòa Khánh, Khánh Hòa, Tân Thạnh, Tiên Khánh, (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tân Tiến và Khánh Tân, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào). Chính trong xã Tân Khánh Hòa nầy là chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau tại ấp Hòa Khánh. Địa danh « Đầm Chít » nằm trong xã Tân Khánh Hòa.

4/ Xã Vĩnh Điều: Giáp với xã Tân Khánh Hòa về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Cống Cả, Đồng Cừ, Nha Sáp, Vĩnh Lợi. (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tà Êm và Tràm Trổi, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào).

5/ Xã Vĩnh Phú: Giáp với xã Vĩnh Điều về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Đồng Cơ, Mẹt Lung, Ấp Mới, Ấp T4, Ấp T5.

Trong lãnh thổ ba xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều và Vĩnh Phú đều có con kênh Vĩnh Tế chạy qua.

Vị trí huyện Giang Thành và 5 xã:1/ Phú Mỹ, 2/ Phú Lợi, 3/ Tân Khánh Hòa, 4/ Vĩnh Điều và 5/ Vĩnh Phú.

B/ SÔNG GIANG THÀNH:

Nói đến tên sông Giang Thành ta thường nghe nhắc đến tựa bài thơ « Giang Thành dạ cổ » của nhà thơ Mạc Thiên Tích (là bài thứ tư trong 10 bài thơ « Hà Tiên Thập Vịnh »).  Chính từ bài thơ nầy ta hiểu là Mạc Thiên Tích đã đặt tên cho con sông là sông Giang Thành, trước đó người Khmer gọi con sông nầy là Prêk Ten. Sông Giang Thành bắt nguồn từ nước Cambodge, ở tỉnh Kampot (tỉnh Kampot rất rộng lớn), tại đây có hai nguồn nước chảy về phía sông Giang Thành Việt Nam.

1/ Ở hữu ngạn sông (tức phía bên phải của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là cao nguyên Banteay Meas, có một nhánh sông tên Touk Meas River, sông nầy chảy vào sông Prêk Tonhon Chas (tức là tên của sông Giang Thành phần còn trong lãnh vực của nước Cambodge hiện nay).

2/ Ở tả ngạn sông (tức phía bên trái của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là khu có núi Linh Quỳnh (một cụm núi bên nước Cambodge), có một nhánh sông chảy vào phần sông sông Prêk Tonhon Chas.

Hai nhánh sông nầy cùng chảy vào sông Prêk Tonhon Chas và chảy vào khu vực nước Việt Nam, từ đây con sông mang tên là sông Giang Thành, toàn bộ khúc sông Giang Thành trên lãnh thổ Việt Nam dài 23 km và chảy ra cửa biển Hà Tiên sau khi đổ vào đầm Đông Hồ ở ngay Hà Tiên, tại đây chiều rộng cửa sông có trên 200 m.

Vào năm 1824 khi kênh Vĩnh Tế được hoàn thành dưới thời vua Minh Mạng, kênh Vĩnh Tế được nối liền với sông Giang Thành, chỗ giáp nối giữa kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành gọi là ngả ba Giang Thành, thuộc ấp Hòa Khánh, xã Tân Khánh Hòa. Trên lãnh thổ xã Tân Khánh Hòa của huyện Giang Thành, có một phần kênh Vĩnh Tế nằm rất sát biên giới, chạy từ ấp Khánh Hòa (Đầm Chít) về phía ấp Hòa Khánh để đổ vào sông Giang Thành, đoạn kênh nầy dài 5,4 km, và cặp rất sát biên giới, chỉ cách có 300 m. Còn khúc kênh Vĩnh Tế từ Đầm Chít trở đi về phía Châu Đốc thì con kênh cặp theo con đường Quốc lộ N1 chạy cho đến Nhà Bàng thuộc Châu Đốc, trên đoạn nầy con kênh Vĩnh Tế cách biên giới khoảng hơn 1 km.

Sông Giang Thành bắt nguồn từ hai nơi: cao nguyên Banteay Meas và khu núi Linh Quỳnh trong tỉnh Kampot, nước Cambodge. Kể từ năm 1824, sông Giang Thành có thêm một nguồn nước thứ ba là kênh Vĩnh Tế, kênh đổ vào sông tại điểm A. Đoạn kênh Vĩnh Tế AB là đoạn gần sát biên giới Cambodge-Việt Nam nhất, đoạn nầy dài 5,4 km và chỉ cách biên giới dưới 300m. Từ điểm B trở đi về phía phải hình (về phía Châu Đốc, kênh Vĩnh Tế cách hơi xa biên giới, khoảng trên 1 km và cặp theo con đường Quốc lộ N1.

C/ SÔNG GIANG THÀNH TRÊN ĐỊA PHẬN HÀ TIÊN:

Sông Giang Thành chảy vào địa phận Hà Tiên và trước khi đổ ra cửa biển, sông chảy ngay vào đầm Đông Hồ (một đầm nước mặn đã thành hình từ trên 6000 năm về trước…). Vì tính chất phù sa mỗi năm tụ động nên dòng sông Giang Thành ngay tại khúc trước khi vào Đông Hồ, khúc sông nầy thường có nhiều cồn cát. Ngày xưa người Pháp đóng cừ thành hai hàng để tạo lối di chuyển cho tàu bè trong thời gian nạo vét lòng sông, có chỗ cừ đóng không chắc, gặp dòng nước chảy mạnh nên cừ bị gảy, phần đất nạo vét bị cuốn trôi đi, còn phần đất nạo tụ lại có cây cỏ mọc lên thành vùng đất, người ta cất nhà tụ họp sinh sống ở đó, do đó vùng đất đó có tên « Cừ Đứt ». Vậy danh từ « Cừ Đứt » để chỉ tên một vùng đất trên sông Giang Thành mà thôi.

Sông Giang Thành từ phía bắc đổ vào đầm Đông Hồ, trong khoảng sông nầy có nhiều cồn cát và có một phần đất có tên là « Cừ Đứt ».

Sông Giang Thành góp phần rất lớn vào việc hình thành và phát triển thương cảng Hà Tiên từ thời Mạc Cửu cho đến đầu thế kỷ thứ 19, lúc đó cảng Hà Tiên mới bị suy thoái vì nhiều lý do. Trong những năm 20 của thế kỷ thứ 18, cảng Hà Tiên chẳng những đã được nhiều nước trong vùng biết đến, mà các thương nhân Âu Châu cũng biết tiếng thương cảng Hà Tiên. Trong thời gian đó hàng hóa xuất khẩu của Hà Tiên luôn bằng đường biển, xuất phát tại thương cảng Hà Tiên, gồm có các mặt hàng: muối, gạo, tổ ong, sáp ong, lông chim, gỗ, ngà voi,..v..v..

Tuy nhiên vào đầu thế kỷ thứ 19, Hà Tiên đi vào một giai đoạn khó khăn, cảng Hà Tiên bắt đầy suy tàn vì nhiều nguyên nhân:

  •  Sự tàn phá của chiến tranh: nhiều nhóm quân dân, hải tặc phản loạn gây chiến với họ Mạc: 1767, 1769, 1770, tuy nhiên Mạc Thiên Tích đều cầm quân dẹp tan các nhóm nầy. Tiếp đến sự dòm ngó của quân Xiêm mà trận tấn công năm 1771 đã tàn phá Hà Tiên nặng nề, thương cảng Hà Tiên trở nên bế tắc…Đến năm 1773 nhà Nguyễn giúp quân khôi phục lại Hà Tiên, tuy nhiên cảng Hà Tiên đã không còn phục hồi lại như xưa. năm 1777 quân Tây Sơn chiếm Hà Tiên và đã đánh tan quân Xiêm vào năm 1785 (trận Rạch Gầm – Xoài Mút). Tuy nhiên đến năm 1833 có giặc loạn Lê Văn Khôi chiếm Hà Tiên, rồi các năm 1842, 1845 quân Xiêm lại tấn công Hà Tiên, Sau các biến cô nầy Hà Tiên và thương cảng cũng bị tàn lụi theo không còn khả năng phục hồi như xưa.
  • Sự thay đổi về tình hình chánh trị kinh tế của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19: Mạc Thiên Tích mất tại Vọng cát (1780), Hà Tiên không còn thủ lãnh, trong khi đó Tây Sơn và nhà Nguyễn tranh chấp gây chiến tranh liên tục…Tiếp đến nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chánh sách « bế quan tỏa cảng », hạn chế việc ngoại thương, đến thời Minh Mạng thì triệt để ngăn cấm không cho các tàu buôn các nơi được cập bến cảng Hà Tiên, các biến cố nầy dần dần gây chấm dứt vai trò quan trọng của cảng Hà Tiên.
  • Sự thay đổi con đường thương mại đông tây: Từ xưa các nhà thương thuyền phương tây đã phát triển con đường thương mại hàng hải từ phương tây sang phương đông (thế kỷ 15 và 16). Tiếp đến các nhà buôn bán phương đông cũng dương buồm tiến qua trời tây (thế kỷ 17 và 18), trong bối cảnh đó thương cảng Hà Tiên trở nên phát triển tột độ. Tuy nhiên qua đầu thế kỷ 19, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, người ta không còn phụ thuộc vào những con đường đã vạch sẳn, các tàu lớn có khả năng vượt biển thật xa, không cần phải chạy theo ven biển, không cần ghé khu vịnh Thái Lan. Thêm các yếu tố chánh trị khiến cho đại đa số các tàu phương tây đều không được ghé bến các nước phương đông vì bị ngăn cấm hay vì sự quá dè dặt của triều đình nhà Nguyễn, nên các thương cảng sầm uất của phương đông dần dần biến mất, đó là một lý do khách quan mà thương cảng Hà Tiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề.

Nói tóm lại chúng ta là người Hà Tiên, ngày ngày đều nhìn ngắm con sông Giang Thành chảy lững lờ trước mặt, có mấy ai tự đặt vài câu hỏi con sông bắt nguồn từ đâu, nguồn nào cung cấp nước cho sông, tại sao có tên Giang Thành,…Cho đến bây giờ, đầu đã bắt đầu trắng, mình mới bỏ chút thời giờ tìm hiểu về quê hương đất nước, với vốn hiểu biết hạn hẹp, điều kiện thực tế lại không có, mình vẫn muốn cố gắng để biết được phần nào các câu trả lời các câu hỏi trên, tuy biết rằng sẽ có rất nhiều sai lầm, thiếu thốn nhưng mong sao cho bài viết được đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc tìm hiểu về quê hương mà thầy cô và các bạn muốn tìm đọc, mong tất cả vui lòng trợ giúp, góp ý để bài được chỉnh sửa, bổ sung đầy đủ và chính xác hơn nhé,.

Trần Văn Mãnh (Paris 09/10/2019)

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và đầm Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh đầm Đông Hồ. Phần giữa dưới hình là núi Tiểu và Đại Tô Châu, hình vuông nhỏ màu vàng là trại Biệt Kích Tô Châu. Hình: Ken-Fillmore 1970-71

Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m)* và Đại Tô Châu (cao 178 m)*, xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m)*, và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m)*. Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Chú Thích: * Theo site bản đồ có tên là MAPNALL thì chiều cao có khác hơn: Tiểu Tô Châu (cao 89 m) và Đại Tô Châu (cao 153 m)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.

 

 

Tô Châu (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, khi thầy cô và các bạn nhìn thấy cái tựa bài với hai chữ tuy ngắn ngủi nhưng lại gợi cho chúng ta một ký ức rất quen thuộc … »Tô Châu »…..A nếu trong bối cảnh là Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì Tô Châu đây chính là bài viết về núi Tô Châu của Hà Tiên yêu dấu của chúng ta…Không thể nào khác đi được, Tô Châu chính là tên hai ngọn núi giữ vai trò cửa ngõ bước vào Hà Tiên đây…Tuy nhiên nếu ta chỉ viết đơn thuần hai chữ « Tô Châu » và không ở trong bối cảnh « Hà Tiên » thì từ ngữ nầy chắc chắn sẽ nhắc đến một thành phố xa xưa trong lịch sữ, đó là phố thị Tô Châu nằm ở hạ lưu sông Dương Tử, thuộc tỉnh Giang Tô bên Trung Quốc…!! Chẳng những đó là tên của một phố thị xưa bên Trung Quốc mà có thời Tô Châu lại là kinh đô của nước « Việt » trong khoảng năm 473 trước Công Nguyên…Thời đó Tô Châu cũng được gọi là Cô Tô, Câu Ngô…với sản phẩm tơ lụa nỗi tiếng…Tác giả bài viết dưới đây, bạn Quang Nguyên đã nhắc lại ở phần nhập đề bài viết « Tô Châu » về thành phố nầy, với bốn câu thơ chữ Hán miêu tả quang cảnh thơ mộng của Tô Châu đó….Tuy nhiên là người con muôn đời của Hà Tiên và cũng không muốn trở thành « chủ nghĩa dân tộc quá khích », chúng ta chỉ biết, nói và viết mãi về cái từ Tô Châu để chỉ núi Tô Châu của Hà Tiên của chúng ta, và cũng không phải chỉ có nhà thơ Trương Kế làm thơ ca ngợi cảnh phố Cô Tô của nước Trung Hoa mà may mắn thay, chúng ta cũng có nhiều bậc thi nhân xuất thân từ đất nhà Hà Tiên, làm thơ ca ngợi cảnh đẹp mây trời sắc nước của xóm núi Tô Châu, hãy đọc thơ của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mà hiểu ngay ra là cảnh Tây Hồ với Hàng Châu cũng chừng thế thôi…đâu có hơn Tô Châu với bến đò qua sông Giang Thành viếng phố Hà Tiên của chúng ta…

« Cận quách kê sơn hoành cổ độ
Đã trang kiều mộc đái tân yên »

Đò ghé bến xưa vờn bóng núi
Khói tuôn xóm mới khuất ngàn cây…
(Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội)

Khách đến chơi phố Hà Tiên hãy thong thả, đừng nóng ruột chờ đò qua sông, hãy dành vài khoảnh khắc nhìn lên hai ngọn núi Tô Châu, ngắm cảnh thiên nhiên núi, hồ, rồi lại không ngăn được ý muốn leo lên ngọn núi Tô Châu nầy, ngay tại bến đò với xóm nhà thơ mộng dưới chân núi,…vì khách cũng còn muốn dừng chân đứng lại đây, ngắm nhìn bốn bên biển hồ sông núi, nhìn cho thỏa ý rồi chợt tai nghe văng vẳng tiếng máy đò cặp bến, thôi mời khách xuống đò sang thăm chợ Hà Tiên,…thăm lăng Mạc Cửu, ở đó khách sẽ lại có thêm dịp ngắm nhìn thưởng ngoạn cảnh núi Tô Châu, một lần được khẳng định là quả thật hai ngọn núi Tô Châu giống y như hai con voi nằm phủ phục trước ngưởng cữa vào đất Hà Tiên…Đến đây mình viết hơi nhiều về đề tài núi Tô Châu nầy rồi, mời Thầy Cô và các bạn đi ngay vào bài của bạn Quang Nguyên, sẽ thấy rất thú vị với những kỷ niệm thời học trò mà bạn kể lại trong bài viết dưới đây…(TVM viết lời giới thiệu bài)

Tô Châu (Quang Nguyên)

Có một Tô Châu (còn gọi là Cô Tô) của Việt Vương Câu Tiễn với câu chuyện Tây Thi – Phạm Lãi mà ai cũng biết, và mọi người cũng biết Tô Châu ấy làm say ngất lòng người trong “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế – nhà thơ sống ở thế kỷ thứ tám:

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

Thuyền đêm đỗ bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Và có một bản dịch khác của một ông quan thời nhà Nguyễn cũng rất hay – ông Nguyễn Hàm Ninh dịch rằng:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(theo Wikipedia)

… Thời học trò luôn có những kỷ niệm trong sâu thẳm của từng người chúng ta, thỉnh thoảng một câu chuyện gì đó, hoặc gặp ai đó, hoặc không có lý do gì cụ thể – có thể chỉ là một giấc mộng đêm hè – với tiếng ve ra rả đánh thức những tiềm thức đã ngủ yên cả vài chục năm trước khi chúng ta còn ấu thơ… Mấy tháng trước tôi cũng đã có một đêm như vậy, không phải là tiếng ve gọi hè đánh thức đêm khuya mà chỉ đơn giản là thấy mình thời đi học, được đi chơi đến một nơi quen thuộc, lòng nhủ lòng sẽ viết về nó và gửi cho Mr. Mãnh để ông cất vào đâu đó trong những vùng đầy ắp những câu chuyện đẹp đẽ về thời học sinh của chúng ta.
Và không chỉ là một giấc mộng mị không đầu không đuôi của tôi, cũng khoảng thời gian ấy, có một hôm tôi nhận được một tin nhắn của bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên: “Sao bạn không viết về Tô Châu? Tôi thích Tô Châu vào hoàng hôn với hình ảnh “con voi phục” có những ánh đèn nhấp nháy của ngôi chùa trên đó như con mắt của chú voi…”. Ừ thì tôi sẽ viết và giờ tôi đang viết, chút nữa tôi sẽ nhắc lại vụ “mắt voi” này sau khi tôi viết một chút về tuổi học trò mà cái tên Tô Châu của chúng ta đã luôn “dính dáng”, một Tô Châu của người Hà Tiên cũng đặc biệt không kém Tô Châu xứ người…

….Ngày xưa chúng ta không có nhiều trò chơi để giải trí, nên « dã ngoại tự phát » cũng là cách mà học trò ngày ấy ưa thích, có những buổi nghỉ học bất ngờ vì giáo viên bệnh mà trường không sắp xếp thầy dạy thế được, ngay lập tức chúng tôi tổ chức đi chơi, nhưng đi đâu chỉ vài tiết học? Hà Tiên thì có nhiều chỗ cho học trò dã ngoại, nhưng do không có nhiều thời gian nên chúng tôi đã chọn núi Tô Châu. Quả thật, núi Tô Châu rất đẹp, nếu nó không đẹp sao người xưa có câu ca dao rằng:

“Hà Tiên có núi Tô Châu,
Có lăng Mạc Cửu, có chùa Phù Dung…”

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60.

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Nếu muốn biết Tô Châu đẹp thế nào, và nếu bạn có thời gian đi kèm với lòng can đảm, bạn phải lên Núi Lăng (Bình San), bạn phải đứng ngay trước sân quynh của lăng ông Mạc Cửu vào buổi chiều tà, nhìn qua bên kia sông của cửa biển Hà Tiên, chú tâm chỉ gói gọn trong khung ảnh cần khai thác (vì các cảnh vật khác ở lân cận, cảnh nào cũng đẹp khiến bạn phân tâm), bạn sẽ thấy núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu hiện ra rất đẹp trong khung cảnh hoàng hôn của một ngày nắng đẹp… Núi Đại là con voi mẹ đang nằm phủ phục đầu hướng ra biển và chúng ta thấy rõ cái gù trên đầu voi, khoảng lõm cổ voi, với chiếc vòi đang duỗi dài ra phía trước tựa hồ voi đang thư giãn ngắm hoàng hôn tuyệt vời trên biển Tây, nó thưởng ngoạn cái thời khắc đẹp đẽ mà gần như chỉ duy nhất Hà Tiên – Phú Quốc chúng ta mới có, bởi vị trí của xứ sở đặc biệt của chúng ta trên dãi đất hình chữ S này.
Nếu Núi Đại Tô Châu là con voi mẹ thì Núi Tiểu Tô Châu lại là con voi con với cái đầu nhỏ hơn và không có gù, nằm phủ phục như mẹ nhưng hình thể lại thấp hơn, nó rất biết vị thế để nằm lui về sau mẹ một chút, nó cũng “bắt chước” mẹ thưởng ngoạn hoàng hôn trên biển, nhưng chúng ta thừa biết rằng nó chỉ “làm bộ” vậy thôi chứ voi “trẻ trâu” làm sao có thể chiêm nghiệm được cái đẹp thâm trầm ý nhị của buổi chiều tà? Nó sẽ mãi mãi nằm đó, mãi mãi tuổi nhi đồng bên cạnh bà mẹ quý phái mãi mãi không thể già thêm được nữa…

Quang cảnh nhìn từ trên lăng Mạc Cửu về phía núi Tô Châu (Hà Tiên), phía đầu núi hướng ra biển. Hình: TVM 1994

Rồi bạn cứ đứng yên trước quynh lăng, chịu khó “ghìm” nỗi sợ mồ mả chung quanh trong buổi nhá nhem, cố đừng để ý đến ngoại cảnh sau lưng và hai bên tả hữu …, bạn sẽ nhìn thấy ánh vàng chiếu thẳng vào hai quả núi, khiến nền xanh lục của cây rừng như rõ hẳn lên, vàng và lục là hai màu kế nhau trong quang phổ ánh sáng trắng (đỏ-cam-vàng-lục-lam-chàm-tím), thế nên nó hài hòa một cách lạ kỳ, những vùng mà ánh sáng không chiếu được vào trở nên xanh thẫm, càng nổi bật khung cảnh tuyệt vời của buổi chiều tà trên hai ngọn Tô Châu xinh xắn của chúng ta mà người Hà Tiên quen đơn giản như tính cách của họ, họ gọi là núi Tiểu và núi Đại.
Họ tuyệt đối không bao giờ bỏ chữ “núi” đến tối giản để gọi là: “tiểu đại”!
Thế nhưng không như trong ký ức của người bạn của tôi là có “con mắt voi nhấp nháy…”, chúng ta sẽ phải chờ mãi đến tối mịt, khi mà mặt trời đã xuống hẳn, khi màn đêm bắt đầu lan đến cái không gian âm u tĩnh mịch của nơi bạn đang đứng, nơi mà – phía sau bạn là mồ mả, bên trái cũng là mộ phần, còn đường xuống dưới chân núi là bao nhiêu “căn hộ” của người đã khuất mà ta phải đi qua, tất cả đều đang nằm trong rừng cây âm u với những hình thù tranh tối tranh sáng quái dị… Mà cái điều đã giữ chân chúng ta đứng đó là chờ đợi con mắt của mẹ con voi nhấp nháy vẫn chưa được thỏa lòng. Nếu may ra được một lần trông thấy bà mẹ voi hay chú voi con mở mắt thì cũng đáng để chúng ta chôn chân trên “vùng đất linh hồn” này… Nào có ngọn đèn nào của ngôi chùa hay ngôi nhà nào nơi vị trí của mắt voi ấy? Nhưng chúng ta hãy kiên nhẫn mà chờ chút… Ô kìa! Đã có những ánh sáng nhấp nháy, nhiều nữa là khác, mà ở đằng kia, nơi vị trí tương ứng của cái … mông voi con!
Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi.
… Đám học trò chúng tôi đi lên núi Tiểu (Tô Châu) bằng con đường có bậc tam cấp bằng đất và đá tảng xếp thành, từ quốc lộ 80 cách đầu cầu nổi trứ danh của chúng ta chừng 200-300 mét về hướng Rạch Giá, vừa qua một khúc quanh nhẹ chúng ta đã thấy đường lên núi Tiểu là lối tam cấp đó, trước khi bước vào tam cấp chúng ta phải thấy một cái giếng nước có xây bao quanh một vòng tròn lớn mà theo trí nhớ của tôi ước chừng đến 4-5 mét, đi độ một phần tư đường lên đỉnh núi sẽ có một lối bên phải, đó là lối vào nhà bác Hai Dãnh.
       Xin lạc đề chút để nhắc về bác Hai.
Bác Hai trông rất cao, cao đến độ cái yên chiếc xe đạp bác chẳng cần bước chân qua, bác đạp xe trên đường là từ xa tôi đã nhận ra cái dáng cao kều của bác. Tương phản, bác gái lại là người nhỏ nhắn, có giọng nói rất nhẹ nhàng, bác gái hay mặc áo nâu và cả hai ông bà đều tu hành tại gia, trông người đức độ… Ngày xưa cha tôi thường sai tôi đi “trao đổi kiến thức” bằng cách cầm qua cho bác ấy những quyển sách mà cha tôi có, hoặc cầm về những quyển sách của bác đang có cho cha tôi mượn… Đôi khi kèm về tôi phải vác theo người quả mít, gói tiêu hạt, hay vài loại trái cây trong vườn nhà bác mà bác đã ân cần giấm dúi bắt tôi phải mang về. Một chút tình cảm của ngày xưa ấy tuy không dành cho đứa con nít như tôi, nhưng luôn luôn ấn tượng trong tôi về tình nghĩa của người xưa, hẵn đã rất ấm lòng cha tôi khi thời cuộc xoay vần khiến ông chỉ còn biết tìm vui trong sách vở với người tri kỷ…

« Bác Hai Dãnh » trong bài viết của Quang Nguyên. Đối với mình, đây là Hia Tư vì hia là chồng của chế Thìn chị bạn dì với mình. Tên của Hia Tư là Lý Văn Nhiên, tên của chế Thìn là Lê Thị Phượng. Đây là hình Hia Tư chụp trên núi Tiểu Tô Châu, ngay phía trước nhà của hia và chế, bên phải con đường đi lên tịnh xá Ngọc Đăng

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng:

Trên lối mòn đường núi trước nhà bác Hai, đám học trò chúng tôi đi theo hướng Thuận Yên, được một đoạn trống, nhìn xuống dưới Hà Tiên ẩn hiện nho nhỏ phố xá bên kia sông, cửa biển Hà Tiên xanh biếc mùa gió bấc, phố chợ nối với bờ bên Tô Châu là cây cầu nổi gió nước dập dềnh, đương nhiên trên núi Tiểu ta không thể thấy nó dập dềnh, nhưng thật sự nó vẫn dập dềnh như khẳng định của Galileo “dù sao thì trái đất vẫn quay!”. Bên kia con lộ 80 ngày ấy vốn còn là lộ đất đỏ, là khu rừng sác đầy dừa nước được đẩy ra tới ngang núi Pháo Đài bên kia sông, và mở rộng đầm lầy đó đến qua khỏi Eo Bà Má đến trước Trung Tâm. Chúng tôi còn nhìn thấy rõ một đoạn con lộ đỏ vượt đầm lầy, bắt đầu từ bên trái đầu cầu nổi chạy thẳng ra biển đến cái mái tôn trắng của nhà máy xay bột cá làm thức ăn gia súc, và đương nhiên phía bên phải đầu cầu nổi nhìn về Hà Tiên phải là phần còn lại của hãng nước mắm danh tiếng Bỉnh Ky đã “quốc hữu hóa », với hàng đống các tĩn mắm loại 5 lít bằng sành sơn vôi trắng chất hàng hàng lớp lớp cao ngất mà không có thứ cần chứa bên trong – cái chất nước làm nên quốc hồn quốc túy, được gìn giữ, được nghiên cứu, được mày mò bao thế hệ để ẩm thực Việt Nam không thể lạc điệu, hay lơ lớ lai căng với phần còn lại của thế giới.
Vì đã “quốc hữu hóa” nên hãng đã không còn. Đã có một thời lầm lẫn đáng tiếc nuối…
Trên núi Tiểu nhìn về Hà tiên thì bến Tô Châu thương thuyền cũng tấp nập, và có lẽ trước năm 1975 có thể tấp nập hơn chăng? Hà Tiên dạo ấy còn quạ, (những chú quạ đen gớm ghiếc với cái mỏ to đùng và tiếng kêu đầy đe dọa, chúng đậu trên những cây dừa trong vườn nhà ông Ba Lón trước nhà chúng tôi), cũng có thể có khách thương hồ đậu bến Tô Châu nửa đêm nghe tiếng quạ kêu sương mà tỉnh giấc, ngắm trăng in Đông Hồ, nghe tiếng chuông công phu phát xuất từ tịnh xá mà hứng khởi làm thơ chăng? Thế thì Tô Châu của chúng ta khác nào Cô Tô của Tây Thi và Ngô Phù Sai?

Một trong những cảnh đẹp của núi Tô Châu (Hà Tiên), góc nhìn của hình cho ta thấy cả hai ngọc núi Đại Tô Châu (phía bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa và bên phải). Trên sườn núi Tiểu Tô Châu ta thấy có « Tịnh Xá » Ngọc Tiên chiếm một khoảng rất lớn của sườn núi, điều nầy có làm giảm vẻ đẹp thiên nhiên của ngọn núi hay không ? Hình: Nguyễn Lệ Thủy, 2016

… Cũng trên đường mòn trên núi Tiểu về hướng Thuận Yên như đã nói, đi thêm đoạn nữa sau khi vẹt bao bụi gai hay dây rừng, chúng tôi chợt thấy hiện ra trước mặt có nhiều cây lạ, rất to, suông thẳng và có gân lớn, vỏ cây láng trắng xám, tuy lớn nhỏ không đều nhưng chúng giống nhau một cách lạ kỳ. Thoạt đầu chúng ta nghĩ chúng là một quần thể hội tụ nơi đây của cùng một giống, nhưng không phải, mà Trời ạ! Tất cả các gốc cây này chỉ xuất phát từ… một cây.
Đúng vậy! Đó là “Cây Da Bảy Gốc”.
Thật khó để mô tả nó một cách rõ ràng như thế nào, nhưng cái cách mà nó sinh tồn thật mãnh liệt, từ một cái gốc chính nó đã vươn cành nhánh ra chung quanh, rồi từ cành nhánh đó nó phát xuất thêm những gốc khác bằng cách “đâm” xuống đất, gốc to lên và vươn xa hơn… cái cách nó vươn ra ấn tượng làm sao, cứ như là nó biết “bò” vậy…
Cây Da Bảy Gốc là một điểm đến của học trò ngày ấy, không biết bây giờ nó còn tồn tại không hay “lâm tặc” đã “xử” nó rồi? Hơn bốn mươi năm trước trong trí nhớ của tôi nó đã to lắm, có những gốc đến mấy ôm, cũng đã ngần ấy thời gian rồi tôi đã không đến đó, giờ nếu nó còn chắc đã to hơn?
Đã có một cây da có đến mười ba gốc ở Hải Phòng, nó được định tuổi là 300 năm và được công nhận là “cây di sản” và được nhà nước bảo tồn và cho khách tham quan thưởng ngoạn, nhưng công tâm mà nói cây đó nhỏ hơn nhiều và có thể nó ít tuổi hơn Cây Da Bảy Gốc mà tôi biết từ năm xưa…
Trong ký ức của học trò Hà Tiên xa quê, Hà Tiên không chỉ có thập cảnh quá danh tiếng tặng kèm mười bài thơ “xướng” và hàng chục bài thơ “họa”, mà Hà Tiên còn bao cái lạ hơn xứ người: dừa ba ngọn, dừa bốn ngọn, dừa bảy ngọn, da bảy gốc… Biết đâu được năm xưa Sơn Tinh đi bắt voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao từ vùng đất này của chúng ta?

Và “ hai con voi phục” của bạn tôi thì vẫn nằm đó, vẫn ngắm hoàng hôn từ biển Tây, hàng đêm vẫn chớp mắt từ … mông, Tô Châu vẫn thơ mộng dù giờ có những bến phà Phú Quốc và du thuyền sang trọng, Hà Tiên qua bao năm tháng đã thay đổi nhiều, nhưng trong ký ức của người xa quê thì hình ảnh xưa vẫn chiếm ngự…
Tôi không dám đòi hỏi, nhưng tôi sẽ rất vui nếu bạn nào lứa chúng tôi mà “trẻ lại”, thử leo ngọn Tiểu Tô Châu, thăm cụ Bảy Gốc có còn khỏe chăng?
                                                                                            Quang Nguyên (07/2018)

                                                         Tác giả: Quang Nguyên                       

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Lệ Thủy, Rich Krebs , Quách Ngọc Bá, TuanVo