Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay mình sẽ kể một câu chuyện vui:  Đầu tiên thì một bên đã định cư ở nước Pháp nầy từ những năm đầu của thập niên 80, còn một bên thì định cư ở Pháp vào những năm giữa thập niên 80…cùng ở ngoại ô thủ đô Paris mà rốt cuộc không hay biết gì cả…Mấy chục năm trôi qua, nhờ vừa rồi có bài vở, hình ảnh và clip nói về cuộc họp mặt của Hội Đồng Hương Hà Tiên, người nầy nhìn ra người kia,…thật là hay và rất quý. Số là vì mình có giới thiệu cho quý hội viên đồng hương Hà Tiên xem bài vở và hình ảnh trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của mình, rốt cuộc có người chị ở Hà Tiên ngày xưa nhìn ra hình mình và đã liên lạc được với nhau. Đó là chị Tô Thanh Phượng, chị Phượng là chị của bạn Tô Vĩnh Tuấn, bạn Tô Vĩnh Tuấn là bạn học cùng lớp các các bạn « Đệ Tứ Quốc Tế »: Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trang Lệ Thủy,….và còn nhiều bạn khác nữa…Ngày xưa nhà của chị Phương và Tuấn ở đường bến Trần Hầu, nhìn ra Đài Kỷ Niệm, gần quán nhà của Nguyễn Thúy Vân đó…Má của chị Phượng và Tuấn là cô Loan, ngày xưa thường hay giữ tiệm thuốc tây Thanh Bình, bạn nào ngày xưa có mua thuốc tây ở tiệm Thanh Bình thì sẽ nhớ rỏ. Ngày xưa tuy mình và Tô Vĩnh Tuấn học khác lớp (hai người học cách nhau một lớp) nhưng cũng có một thời gian mình và Tuấn cũng thường đi chơi với nhau. Chị Tô Thanh Phượng thì thuộc thế hệ đàn chị của Trung Học Hà Tiên, chị học trên mình rất nhiều lớp, chị Phượng học ở Trung Học Hà Tiên vài năm rồi sau đó chị lên Sài Gòn tiếp tục học và sau đó về sinh sống với gia đình ở Long Xuyên.

Khi đã liên lạc được với nhau rồi, chị có nhã ý mời mình và Ngọc Tiếng đến nhà chị chơi, chị khao cho một bữa cơm có rất nhiều món ăn độc đáo đầy hương vị quê hương Hà Tiên: canh nấm tràm, mấm chưng, ăn tráng miệng thì có món « xôi nước » và các loại trái cây,…Tất cả đều do chính tay chị làm nấu nướng ra, nguyên liệu nấm tràm và mấm thì chính gốc ở Việt Nam (Hà Tiên) đem qua…Bữa ăn rất ngon, hòa lẫn với niềm vui được gặp lại người đồng hương, đồng trường nên mọi người rất vui vẻ, rất mến nhau, cùng nhắc lại chuyện ngày xưa và những người quen biết ở Hà Tiên. Qua bài viết nầy mình xin gởi đến chị Tô Thanh Phượng lời cám ơn và lòng cảm kích sự tiếp đón thân tình của chị và công khó của chị đã bỏ thời giờ chuẩn bị các món ăn ngon.

Vì mình vốn là « con mọt » hình ảnh Hà Tiên xưa nên cũng không quên hỏi thăm chị xem chị có còn giữ một số hình ảnh ngày xưa, thời đi học hay không…Chị vui vẻ mở ra xem vài tập hình ảnh cũ và cuối cùng mình cũng được phép chị chia sẻ vài hình ảnh để thầy cô và các bạn xem lại để nhớ thầy cô và bạn xưa.

Chị Tô Thanh Phượng

Ngoài ra chị Tô Thanh Phượng còn có vài tấm hình thầy cô thời Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên như sau đây:

H1: Bức hình xưa chụp trước ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đường Mạc Công Du, thầy đứng giữa hình là thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, từ trái qua phải: chị Nguyệt (con của thầy Trịnh Học Ký, em của các anh Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng), kế là chị Lâm Xuân Hương (chị Chín Hương chị của chị Lâm Xuân Cúc), thứ nhì bìa bên phải là chị Tô Thanh Phượng. Còn các vị thầy và học trò khác thì không nhìn ra.

H2: Bức hình nầy hình như chụp ở Đài Kỹ Niệm Hà Tiên, phía sau là chiếc tàu của Quan Thuế Hà Tiên, xa xa là Pháo Đài. Bìa phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy Lý Hóa Trung Học Hà Tiên xưa), cô mang kiếng đen quần áo trắng là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa), đứng bìa trái là anh Đỗ Thành Tâm.

H3: Hình như bức hình chụp ở bãi Mũi Nai Hà Tiên, cô trong hình hình như là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

H4: Hình thầy cô và học sinh đi chơi bãi biển Hà Tiên, người mặc áo đen có thể là thầy Bùi Hữu Trí (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm..Trần Văn Mãnh, chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (07/2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm.. chị Tô Thanh Phượng và Trần Văn Mãnh (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Publicités

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Lăng Ông Mạc Cửu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, đối với thầy trò trường trung học Hà Tiên, khi nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nhớ đến giai đoạn ngày xưa trong những năm 60-70, biết bao nhiêu lần chúng ta, thầy lẫn trò, cùng kéo nhau lên núi Lăng (núi Bình San) để họp nhau vui chơi, kể chuyện, ăn uống tại chỗ rất vui, Hôm nay chủ đề chánh của bài là sẽ viết ngắn gọn và nhờ những hình ảnh sưu tầm để nhắc lại về gốc tích của ngôi đền thờ ông Mạc Cửu và sự thay đổi qua các giai đoạn thời gian.

Cũng theo thông lệ và nguyên tắc của Blog nầy, xin nhắc lại là bài viết chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

A/ Định vị trí của Lăng Mạc Cửu:

Có rất nhiều tên gọi để chỉ định lăng Mạc Cửu, nói chung ta có thể dùng từ « Đền thờ họ Mạc » để chỉ định ngôi đền nầy vì đền được dựng lên để thờ cúng tất cả các dòng con cháu nhà họ Mạc. Tuy nhiên còn có nhiều tên chữ để chỉ định ngôi đền như các tên: Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ, Mạc Công Miếu, dân gian lại thường gọi là Miếu Ông Lịnh (vì đền thờ ông Mạc Thiên Tích và ông Mạc Thiên Tích được gọi là Mạc Lịnh Công).

Thực ra ngay từ lúc đầu khi vua Gia Long phong cho Mạc Công Du (con của Mạc Tử Hoàng, cháu nội của Mạc Thiên Tích) làm Trấn Thủ Hà Tiên (trong khoảng thời gian 1818 – 1829) thì ông Mạc Công Du bắt đầu cho dựng một ngôi đền gọi là Đền Mạc Công để thờ phụng ông nội là Mạc Thiên Tích. Ngôi đền nầy vách bằng cây, lợp lá đơn sơ nằm ở bên trái chùa Tam Bảo, trong khu phế tích thành quách cổ thời ông Mạc Cửu (vị trí nầy còn được xác định trong bản đồ người Pháp vẻ tay vào năm 1869 và ghi chú là Ruines). Lúc nầy đền còn có tên « Mạc Thiên Tứ Từ », tuy nhiên trong đền cũng thờ tất cả ba vị họ Mạc có tên là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, vì thế đền cũng được gọi là đền « Mạc Công Tam Vị ».

Sở dĩ đền thờ ba vị họ Mạc là vì ba vị họ Mạc nầy đều được sắc phong nhân thần của các vua nhà Nguyễn thời đó:

Mạc Cửu (1655-1735 thọ 81 tuổi): được vua Minh Mạng phong Trung Đẳng Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng ban thêm các mỹ tự và vua Bảo Đại phong thêm Thượng Đẳng Thần.

Mạc Thiên Tích (1718 – 1780 thọ 63 tuổi): con của Mạc Cửu, được vua Minh mạng phong Đạt Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Mạc Tử Sanh (1769 – 1788 chết trẻ 20 tuổi): con của Mạc Thiên Tích, được vua Minh Mạng phong Trung Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Từ khi thành lập năm 1818 đến năm 1833, ngôi đền được con cháu họ Mạc và nhân dân chăm lo hương hỏa, cúng kiến. Đến năm 1833 lúc nầy có giặc phản loạn Lê Văn Khôi dấy binh đánh chiếm thành trì nhà Nguyễn (đời vua Minh Mạng), Mạc Công Du và các con ngả theo bên Lê Văn Khôi, đến khi họ Lê thất bại, Mạc Công Du và các con đều bị tội, lúc đó Mạc Công Du lại bệnh mất, cả nhà họ Mạc đều bị  vua kết tội, đền thờ họ Mạc bị bỏ hoang không ai dám chăm sóc…

Đến năm 1846 có quan thần nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị xin vua nghĩ đến công trạng của cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích nên nhà vua cho phép dựng lại ngôi đền mới nhưng xây cất tại vị trí mới, tọa lạc dưới chân núi Bình San, hoàn thành năm 1847, đó là ngôi đền Mạc Công Miếu hiện nay. Tuy nhiên từ lúc xây cất năm 1847, vì ngôi đền xây cất bằng gỗ, lợp ngói nên không duy trì được lâu dài với thời gian sau đó, chừng vài chục năm lại bị hư dột…

Đến năm 1897 có chí sĩ người gốc Hà Tiên tên là Nguyễn Thần Hiến thảo bài văn kêu gọi nhân dân Hà Tiên góp tiền góp sức trùng tu lại ngôi cổ miếu cất từ đời vua Thiệu Trị (bản văn của ông Nguyễn Thần Hiến vẫn còn lưu truyền tại đền Mạc Công Miếu hiện nay). Công việc trùng tu kéo dài đến năm 1901 mới xong (đó là công lao rất to lớn của ông Nguyễn Thần Hiến cùng với nhân dân và hội người Minh Hương ở Hà Tiên, người Hà Tiên chúng ta không ai là không biết đến tên gọi Nguyễn Thần Hiến, từ ngày xưa Hà Tiên đã có một bệnh viện và một con đường được mang tên Nguyễn Thần Hiến, ngày nay có ngôi trường mới cất sau nầy là trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến với pho tượng bán thân của ông ở ngay lối chánh vào trường). Trong đợt trùng tu nầy, có cất thêm nhà Võ Ca, bức tường bao quanh ngôi miếu và cổng Tam Quan. Lần trùng tu thừ hai là vào năm 2002 do Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San thực hiện. Lần trùng tu thứ ba là vào năm 2012, do Ban Di Tích tỉnh Kiên Giang thực hiện. Tuy vậy việc trùng tu đều tôn trọng giữ theo đúng hình dạng kiến tạo năm 1897 của thời ông Nguyễn Thần Hiến.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Ngôi đền Mạc Công Miếu được Mạc Công Du dựng đầu tiên vào năm 1818 nằm bên trái chùa Tam Bảo, ngôi đền nầy đã bị bỏ hoang phế sau năm 1833. Đến năm 1846 ngôi đền Mạc Công Miếu mới được xây dựng lại nhưng đã ở vị trí khác, tọa lạc dưới chân núi Bình San, ngay trước đền có một cái ao đã có từ đời ông Mạc Cửu (đào vào khoảng năm 1719).

Tuy việc dựng đền là để thờ cúng ba vị họ Mạc đi tiên phong trong công cuộc mở mang vùng đất Hà Tiên, nhưng thực sự trong đền đều có đủ cả các bài vị thờ hầu hết tất cả con cháu dòng họ nhà Mạc, có cả bàn thờ chư vị tướng lảnh phục vụ cho nhà Mạc và cũng có cả bàn thờ các vị phu nhân và bàn thờ Mạc Mi Cô tức bà Cô Năm, người con gái út của Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô chết rất trẻ lúc chỉ mới 14 tuổi.

B/ Các bộ phận của ngôi đền

  • Cổng tam quan và tường gạch cao chung quanh đền: Có ba cổng ra vào đền nhung cổng bên trái bít kín từ năm 1911 vì tôn kính bà Cô Năm.
  • Nhà Võ Ca: Có rất nhiều câu đối, những bài thơ Nôm trên những hàng cột.
  • Trù Phòng: Hai gian nhà bếp để phục vụ việc nấu nướng ngày xưa, nay là văn phòng và nhà kho.
  • Tiền Khu Chánh Điện: Một bức tường có ba lối vào ngăn nhà Võ Ca và Chánh Điện, có tấm biển đề tên Trung Nghĩa Từ và nhiều câu liễn đối.
  • Bái Đình: nền gạch hình vuông, có mái.
  • Đông Lang và Tây Lang: nơi đặt bài thờ gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền.
  • Chánh Điện: một ngôi nhà trệt ba gian, có tấm biển khắc tên và nhiều câu liễn đối. Đây là nơi đặt các bàn thờ chánh.
  • Hai bên tường tả và hữu; nơi chép các bài văn, thơ, vịnh…

C/ Khu lăng tẩm và các ngôi mộ nằm trên ngọn núi Bình San:

Toàn bộ mồ mả các vị quan, tướng, phu nhân, hầu thiếp nhà họ Mạc đều được chôn cất trên ngọn núi Bình San (ngọn núi Bình San có ba đỉnh riêng biệt). Theo tài liệu tổng kết của Ban Bảo vệ Di tích núi Bình San thì có khoảng 68 ngôi mộ được chỉnh trang, sơn phết và có bia khắc, đánh số để xác định tên tuổi. Mộ ông Mạc Cửu đánh số 1, mộ Mạc Thiên Tích đánh số 2, mộ Mạc Tử Hoàng đánh số 3…, mộ Bà Cô Năm Mạc Mi Cô đánh số 43…Điều đáng chú ý là tuy đền Mạc Công Miếu thờ ba ông được phong nhân thần là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, nhưng trong ba ông chỉ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích là có được mồ mả oai nghiêm còn Mạc Tử Sanh thì trong cơn biến loạn đã mất vì bệnh và không ai biết được mồ mả của ông chôn cát ở đâu.

Khi đi vào ngôi đền Mạc Cửu, nhìn bên phải có con đường lót gạch để dẫn đi lên khu các ngôi mộ. Ngoài ra chung quanh ngôi đền và đường lên khu mồ mả đều có trồng cây xanh, cây hoa kiểng rất xinh đẹp.

Hồi xưa lúc còn đi học trung học, các học sinh Hà Tiên thường kéo nhau cả nhóm lên núi Lăng chơi. Tuy nhiên lúc đó mình rất sợ và rất tôn kính ngôi đền ông Mạc Cửu và ngay cả khi đứng trước các ngôi mộ. Lúc vào trong chánh điện của đền thờ mình rất sợ, không dám nhìn thẳng vào các bài vị trên bàn thờ, và hoàn toàn im lặng không dám nói chuyện …Hồi xưa có rất nhiều tin đồn, chẳng hạn như người ta nói là khi mình chụp hình ngôi mộ của ông Mạc Cửu, khi đem phim đi rửa để ra hình thì thấy hình hoàn toàn màu đen không có hình ảnh gì cả,…, đó chỉ là lời đồn nhưng hồi xưa mình cũng tin ít nhiều…

Bức hình về ngôi đền Mạc Công Miếu xưa nhất có lẻ là hình nầy, trên tấm bưu thiếp nầy được người Pháp ghi là Pagode, vì người Pháp xem ngôi đền như là ngôi chùa, bưu thiếp được ký tên ngày 6 tháng ba năm 1909, như vậy bức hình nầy được chụp khoảng trước năm 1909, đền Mạc Công Miếu được trùng tu xong vào năm 1901.

Một bức hình xưa về đền Mạc Công Miếu trên một bưu thiếp do ngườì Pháp xuất bản, dấu ấn đóng trên con tem cho biết là Tây Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 1909. (bộ sưu tập Poujade de Ladevèze)

Sâu đây là một số bưu thiếp do người người Pháp xuất bản cùng dạng, trên hình ta thấy đó là nhà Võ Ca trong đền Mạc Công Miếu sau khi được trùng tu lần đâu tiên.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Một trong hai bức tượng tướng quân đứng hai bên ngôi mả của Mạc Cửu, hình chụp từ sau lưng tượng, nhìn về phía cửa sông Giang Thành ra biển. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp vào năm 1953. (đây là hình bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1960, người trong hình là Nguyễn Đình Nguyên, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Nguyễn Đình Nguyên

Lăng Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Trần Văn Dõng

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Dõng. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên phải, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên trái, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Nói thêm về hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên mả của ông Mạc Cửu: Từ lúc lập mả người ta có làm hai bức tượng hai tướng quân đứng hầu hai bên mả, tả hữu rất oai nghiêm, từ xa xưa, có nhà nhiếp ảnh người Hà Tiên Quách Ngọc Bá có chụp hình làm bưu thiếp về lăng ông Mạc Cửu và hình tượng tướng quân đứng hầu. Lúc còn nhỏ mình có thấy hình bức tượng nầy do ông QNB chụp, ông chụp một cách rất nghệ thuật từ sau lưng nhìn về phía trước và chụp gần nên thấy trong hình bức tượng rất to lớn. Đến khi học Trung Học (những năm 60 – 70), mình thường theo nhóm bạn lên lăng Mạc Cửu chơi trong những giờ vắng thầy, không có giờ học, lúc đó mới nhìn thấy hai bức tượng thật sự trước mắt thì mới biết là hai bức tượng có khuôn khổ vừa phải không to lớn như mình tưởng lúc còn nhỏ .

Đến sau khi chiến tranh biên giới ở Hà Tiên chấm dứt (sau những năm 1978-1979), hai bức tượng nguyên bản gốc nầy đã bị người ta trộm mất đầu…Sau đó một thời gian dài người ta làm đầu bằng xi măng và gắn lên thân tượng gốc bằng đá còn lại …Tuy nhiên hiện nay hai bức tượng đã được người ta làm lại mới hoàn toàn, có nét vẻ sơn phết tô màu cho đẹp, còn hai thân tượng cũ nguyên gốc ngày xưa thì đã được cất giữ đâu đó không có tin chi tiết rổ.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp trong những năm 1970-1980. Người đứng trong hình là Trần Văn Phi (em của Trần Văn Dõng và Trần văn Mãnh), một học sinh trường trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Phi.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 1974, ta còn thấy bức tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu bên phải. Trong hình là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965 – 1969. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn

Ngôi mộ Mạc Cửu: Hình trắng đen trái: Một trong hai pho tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu (vị trí đứng bên trái ngôi mộ), hình trích trong ảnh do ông Quách Ngọc Bá chụp vào những năm 1970. Hình màu phải: Một trong hai pho tượng làm lại sau những năm 1990 (vị trí đứng bên phải ngôi mộ), hình trích trong ảnh do Missak chụp vào năm 2006.

Toàn cảnh Lăng Mạc Cửu rất đẹp năm 1994. Hình: TVM

Trần Văn Mãnh với nhà nghiên cứu Sử Học Trương Minh Đạt, hình chụp trước cổng tam quan đền Mạc Cửu năm 1994. Hình TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1996. Hình: tạp chí Hà Tiên Thập Cảnh, nhà xuất bản Văn Hóa.

Lăng Mạc Cửu năm 1999, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1999. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 1999. Hình trích từ video TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2006, hình chụp nhìn ra ngoài ao sen trước đền. Hình: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2006, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2007, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: DawnBreeze

Lăng Mạc Cửu năm 2008, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: LeDuyThuong

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2009. Hình: BuiThiDaoNguyen

Bút tích của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn ghi lại trên vách tường đền thờ nhà họ Mạc. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2009

Lăng Mạc Cửu năm 2009, bên trong Tiền Khu Chánh Điện chụp ra phía ngoài ao sen. Hình: FamilleToan

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2010, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: TranNguyenMinhHuy

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2011. Hình: LaiMyThanh

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2011, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: LaiMyThanh

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2011. Hình: NguyenSauRieng

Bái Đình nền gạch vuông trước khi vào chánh điện. Hình chụp khoảng năm 2011

Cổng tam quan phía bên phải đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: AaronGeddes

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: JimGoodman

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Cổng Tam Quan chánh và cổng bên phải lăng Mạc Cửu vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Bên phải đền Mạc Cửu, có con đường gạch dẫn lên khu mồ mả nhà họ Mạc. Hình: Kiều Trang 2017

Cổng Tam Quan chánh vào đền Mạc Cửu vào năm 2017. Hinh: Kiều Trang

Bái Đình lăng Mạc Cửu, hình chụp từ trong Bái Đình nhìn ra phía ngoài ao sen. Hình: SoniaMaclean 2018

Sơ đồ các ngôi mộ nhà họ Mạc tọa lạc trên 4 khu vực trên toàn địa phận núi Bình San và danh sách các ngôi mộ có đánh số và ghi tên.

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời quý đọc giả xem thêm các bài viết có liên quan đến đền Mạc Cửu:

1/ Bài viết về nguồn gốc các ao sen trước ngôi đền Mạc Cửu.

2/ Bài viết về ngôi chùa Tam Bảo qua các giai đoạn thời gian.

3/ Xin mời bạn đọc xem thêm video dưới đây về buổi viếng thăm lăng Mạc Cửu của hai người bạn năm xưa Trần Văn Mãnh và Nguyễn Đình Nguyên vào tháng 11 năm 1999:

 

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên chúng ta đã có một bài do bạn Trương Thanh Hùng viết tựa bài là: »Về một câu đối », bài được xếp trong mục « Hình ảnh sinh hoạt nay » và do Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/02/20/ve-mot-cau-doi-truong-thanh-hung/

Hôm nay nhân dịp có một số hình về trường lớp do bạn Nguyễn Hữu Tâm cho lên trang fb nên mình sẽ gom góp các hình ảnh ngày xưa về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên nầy lại, để có được một bài giới thiệu về ngôi trường nầy, mình cũng giới thiệu lại bài viết mở đầu để thầy cô và các bạn đọc lại và nhớ các kỷ niệm mà chúng ta học sinh Tiểu Học Hà Tiên ai cũng đã từng sống qua…

Thực ra Trường Tiểu Học Hà Tiên được cất lên từ thời rất xa xưa (khoảng trước năm 1869). Sau đó khi người Pháp trở lại chiếm đóng Hà Tiên, vì chiến tranh các dinh thự công ốc đều bị tiêu hủy. Vào khoảng các năm 1947 – 1948 Trường Tiểu Học Hà Tiên được tái thiết lại, cổng chính quay ra đường Mạc Công Du (trong khi trước đó trường xưa thì cổng chính quay ra đường Đống Đa, theo tài liệu « Nghiên Cứu Hà Tiên do thầy Trương Minh Đạt viết). Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Đang làm lễ trong trường mà người dân tình cờ đi ngang trường là tự đứng lại, nếu có đội nón thì giở nón ra chào, khi hát hết Quốc ca thì mới tiếp tục đi , rất trang trọng. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(mời xem bài bạn Hùng viết…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu Học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào do anh Cù Mính con ông Tòng Sen bán, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối » vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là Mãnh, ai là Dõng, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Ngày xưa mình và anh Trần Văn Dõng vì là hai anh em sinh đôi, cùng ngày, tháng và năm sanh nên đều đi học chung một lớp suốt cả quá trình học Trường Tiểu học Hà Tiên. Ngay xưa hai anh em mình học rất sớm, ngay 6 tuổi đã vào lớp năm (còn gọi là lớp « chót » hay nghiêm trang hơn gọi là lớp vỡ lòng). Tuy nhiên lúc đó vì mới lần đầu tiên « bị bắt » đi học nên mình rất sợ đi học, việc nhập học của mình rất khó khăn (ngày xưa không có lớp mẫu giáo nên khi đi học là vào thẳng lớp vỡ lòng ngay). Những ngày đầu tiên bị nhà bắt phải đi học, mình thường hay trốn học, có lúc đã vào lớp rồi nhưng lại trốn, nhảy cữa sổ lớp ra ngoài chạy bộ về nhà, mình còn nhớ có hôm nhà nhờ anh Lê Quang Chánh (anh bà con bạn dì ruột với mình), anh Chánh chở mình bằng xe đạp để đưa đến trường, gần tới trường, đang ngồi phía sau yên xe đạp, mình bổng phóng khỏi xe và chạy ngược về không chịu vào trường học,…Bây giờ nghĩ lại cũng thấy lạ, vì hầu hết các trẻ em bây giờ hay là các con của mình đều chấp nhận đi học, đi đến trường lớp một cách dể đàng không có gì khó khăn hay có vẻ bị bắt buộc cả,..có lẻ trường học thời nay hấp dẫn và quyến rũ trẻ em hơn trường lớp ngày xưa…(Lúc đó mình còn nhớ học lớp vỡ lòng với Thầy La Từ Sự nhà thầy cũng ở đường Bạch Đằng gần nhà mình). Phải mấy tuần lễ sau mới êm cái vụ đi học lớp năm của hai anh em mình…

Rồi trong thời gian theo học các lớp Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm nào cũng có điểm tốt, được phát bảng Danh Dự và cuối năm đều được lên lớp trên. Trong những sinh hoạt của các lớp học Trường Tiểu Học, có thông lệ là trong lớp thầy cho lập một quyển vở gọi tên là « Sổ luân chuyển » hay « Tập luân chuyển », hồi đó mình cũng không hiểu gì lắm cái danh từ « luân chuyển », chỉ biết kêu tên quyển tập như vậy. Mà đúng như cái tên gọi của quyển tập nầy, vì mục đích của thầy dạy trong lớp là muốn lưu giữ các bài do học trò ghi chép trong các giờ học nên thầy đặt ra quyển tập nầy, quy định là mỗi ngày phải có một học trò trong lớp giữ quyển tập nầy và phải chép lại tất cả các bài giảng trong ngày đó vào quyển tập nầy. Mỗi lần mình nhớ tới ngày phải giữ « sổ luân chuyển » là hay bị lo, vì khi viết bài trong sổ thì phải cố gắng viết cho sạch sẽ và viết chữ phải đẹp nên mình rất lo và rất cẩn thận khi chép bài vào sổ. Mỗi khi tới ngày giữ sổ luân chuyển như vậy rất mất công vì chẳng những phải viết chữ đẹp, sạch sẽ trong sổ, mà sau đó cùng một lúc khi về nhà mình lại phải chép bài hôm đó trong quyển vở của mình để khi giao sổ luân chuyển cho học trò khác thì mình không bị thiếu bài hôm mình giữ sổ…

Còn một kỷ niệm khác trong thời học Trường Tiểu Học mình còn nhớ, khi học khoảng lớp tư thì thường là có môn « Toán », « Khoa Học Thường Thức », « Ngữ Vựng ». Môn « Ngữ Vựng » là môn học có mục đích giúp cho học sinh được làm giàu các từ ngữ dùng trong viết văn hay nói chuyện hằng ngày..Phương cách dạy môn nầy là như sau: Sau khi giảng dạy về chủ đề của môn « Ngữ Vựng » trong ngày, thầy cho học trò chép một bài tập gồm có bài một văn xuôi, trong bài nầy thỉnh thoảng có nhiều đoạn tương ứng với một từ ngữ và bị bỏ trống, có chấm chấm, học trò phải hiểu câu viết trong bài và phải điền đúng cái từ ngữ thiếu đó vào phần chấm chấm trong bài văn!. Mình còn nhớ có lúc đó học bài « Ngữ Vựng » về sự liên hệ bà con và cách xưng hô trong một gia đình, thí dụ như đối với người em của cha mình thì mình phải gọi là « chú », vợ của chú thì mình phải gọi là « thiếm »…Trong bài tập hôm đó, học trò phải điền các từ còn thiếu trong các phần có chấm chấm…(tức là phải tìm ra các từ thích hợp trong cách xưng hô như: chú, thiếm, cậu, mợ, ..v..v…). Mình còn nhớ là mình rất sợ cái bài tập nầy vì lúc đó còn nhỏ mình hoàn toàn không hiểu các cách xưng hô nầy, mình không hiểu gì cả, không biết phải điền vào các chổ chấm chấm trong bài bằng từ ngữ nào cả…

Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…

Đến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu « chuyển động », « động tử », « vòi nước chảy »,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Thầy Hà Phương Linh chuyên dạy lớp Tiếp Liên, (tên gọi Tiếp Liên là vì lớp nầy dành cho các học sinh thi rớt của năm lớp nhứt phải ở lại và vào lớp nầy, túc là lớp chuyển tiếp giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, lớp luyện thi cho năm sau thi lại để lên Trung Học). Thầy Linh dạy lớp tiếp liên rất hay, rất nỗi tiếng, sau năm học nầy mình thi đậu lên lớp Đệ Thất vì vậy trong bậc Trung Học mình học sau anh Trần Văn Dõng một năm. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd, (ba của Hào Kiệt là Ông Lâm Tấn Bình chủ tiệm thuốc tây Thanh Bình ở dưới chợ cá ngày xưa của Hà Tiên).

Nhân đây xin nhắc lại tên họ một số quý Thầy dạy trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa:  Lê Quang Phấn (ba của Thầy Lê Quang Thuyên, thầy Lê Quang Khanh), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình),…

Một vài học sinh bây giờ đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn còn nhớ tên họ quý Thầy Cô đã từng dạy cho mình thời còn ngồi ghế nhà Trường Tiểu Học, chẳng hạn như chị Nguyễn Thị Hoa cho biết danh sách quý thầy cô đã dạy chị thời còn học Tiểu Học như sau:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương chụp trong vườn hoa nhà thầy ở đường Phương Thành, 1991 (hình: Therese Tran)

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từng lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) .

Bạn Trương Minh Quang Nguyên (con trai của thầy cô Trương Minh Đạt) có góp ý thêm về danh sách thầy cô dạy học Nguyên lúc còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp 1: thầy Hà Văn Thành (tự ông giáo Ngọt), lớp 2:  cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ bạn Nguyễn Hữu Tâm, lớp 3:  thầy Phan Liên Trì được ít tháng thầy mất nên sau đó học với cô Vân sau này là vợ thầy Hiếu cũng dạy cùng trường, lớp 4:  thầy Lâm Văn Núi, lớp 5: cô Dương Hồng Châu. Trường truóc 1975 còn có cô Thu dạy lớp nhất (lớp 5) không nhớ cô gốc ở đâu?

Ngoài quý Thầy Cô cao tuổi và đã dạy Trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên đã kể trên, thời 60-70 cũng có nhiều cô giáo trẻ cũng quê Hà Tiên hay có liên hệ tới Hà Tiên cũng về trường nhà dạy học như cô Nguyễn Phước Thị Liên (phu nhân của thầy Trương Minh Đạt) về Hà Tiên dạy năm 1965. Cô Dương Hồng Châu (mẹ của cô là cô Nhan cũng là giáo viên kỳ cựu của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên) về trường năm 1967.

Cô giáo Nguyễn Phước Thị Liên dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1965

Cô giáo Dương Hồng Châu dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1967

Ngoài ra mình còn nhớ trong thời gian đó có một cô giáo tên Mai ở trường Tiều Học Hà Tiên, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học cô thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác,…Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cô cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ cô, có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của cô. Theo sự nhớ lại của một số bạn học ngày xưa, cô Mai thường dạy lớp nhứt tức lớp cuối cùng của bậc Tiểu Học. Bạn Lâm Thị Lan còn nhớ có một lần sinh hoạt đầu tuần cô Mai nói về vấn đề cờ bạc và cô có nói câu: « cờ bạc là bác thằng bần, không theo cờ bạc thì còn gia sản ». Còn bạn Nguyễn Thị Điệp thì còn nhớ có học lớp nhứt với cô Mai, cô chỉ mặc áo màu trắng và màu nâu may theo mẫu áo của người tu. Hôm nào cô kêu đau đầu mà học sinh nói chuyện là cô cho quỳ gối hết cả lớp!!. Còn mình còn nhớ cô Mai thường vẻ hình lên một tờ giấy cứng trắng rất lớn, như loại giấy mình làm bích báo ngày xưa, cô vẻ các hình phạt dưới âm phủ có quỷ sứ cắt lưởi,….để khuyên răn học trò tụi mình. Mình còn nhớ như in trong đầu và như còn nghe qua lổ tai, câu cô Mai nói với mình: « Ăn cá là ít tội nhứt »…..Chử « ít » cô phát âm theo kiểu người Bắc …chắc cô cũng có gốc người Bắc….Bạn Tăng Thị Sáu thì còn nhớ cô Mai mặc áo màu cao khô là cô Mai Nguyễn dạy lớp 5, cô cũng đánh học trò dữ lắm đánh xong cô kêu học trò úp mặt xuống bàn để cô xin lỗi…!! Bạn Trần Quý Nương có cho biết rất nhiều thông tin về cô Mai: Ngày xưa khi còn dạy học, cô có một thời gian ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung,) trên đường đi Thạch Động. Tài Chung có một người cô ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai và cô của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. Cô của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên cô đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước cô của Tài Chung có dẩn Quý Nương đến thăm cô Mai.

Sau đây là một số hình ảnh do mình còn lưu giữ và góp nhặt do các học trò Hà Tiên xưa cung cấp, xin thành thật cám ơn tất cả.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: 1/Đựng, 2/Chúa, 3/Mạnh, 4/Tiếp, 5/Lâm Tấn Hào, 6/Thầy Pho, 7/?,8/?,9/? (không biết tên ba người bạn), 10/Lâm Tấn Kiệt, 11/?,12/? (không biết tên hai người bạn), 13/Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Trần Văn Dõng, 3/Trần Tấn Công, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/La Văn Hủi, 7/Trần Văn Mãnh, 8/Quân, 9/? (không biết tên một người bạn), 10/Pha.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: 1/? (không biết tên một người bạn), 2/Đựng, 3/Mạnh, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/Hòa, 7/Quân, 8/Thầy Pho, 9/Trần Văn Dõng, 10/?, 11/? (không biết tên hai người bạn), 12/Tiếp, 13/?, 14/? (không biết tên hai người bạn), 15/Chúa, 16/?,17/? (không biết tên hai người bạn). Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Lâm Tấn Hào,3/Trần Văn Mãnh, 4/Lâm Tấn Kiệt, 5/Trần Tấn Công, 6/? (không biết tên một người bạn).

Một lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

Một lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Trần Tố Chinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

Hình Lâm Ngọc Bích (con gái anh Nhum, tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Lý Thị Nhan (thân mẩu của cô Dương Hồng Châu), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Lý Thị Nhan.

Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa). Hàng Cô giáo từ trái qua: Cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Nguyễn Hữu Tâm), cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Bình Lôc, Vương Bình Phước).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ ba là thầy Hà Văn Thành tự Giáo Ngọt, người thứ 4 là thầy Núi, cô Lý Thị Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

Một lớp học trò nữ trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên, cô giáo trong hình là cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ của Nguyễn Hữu Tâm (hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1980)

Lớp học sinh nữ do cô giáo Tăng Ngọc Mỹ dạy của trường Tiểu Học Hà Tiên. Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1970)

Hai em học trò Trường Tiểu Học Hà Tiên nhận phần thưởng cuối năm. Em trai trong hình là Nguyễn Hữu Tâm. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm trước 1975)

Hai em học trò trường Tiểu Học Hà Tiên, em trai tên Nguyễn Hữu Tâm, em gái tên Vân. Phái sau lưng là dảy lớp học nam sinh. (Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Hai em học trò vừa nhận phần thưởng trước sân Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Quý cô giáo dạy Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời 60-70. Cô đứng bìa trái không biết tên. Ba cô kế là cô Cưởng, cô Ngọc Điệp (hiện ở Rạch Giá) và cô Mỹ Ngọc (dạy học ở Lộc Trỉ Mũi Nai Hà Tiên, hiện ở Texas, nước Mỹ). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Hình ảnh một vài cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: từ trái sang phải: thứ ba là cô Lý Thị Nhan (mẹ của cô Dương Hồng Châu), thứ năm là Bà Giáo Lộc (nhạc mẫu của Thầy Nguyễn Văn Nén), thứ bảy là cô Tăng Ngọc Dung, giáo viên Mẫu Giáo sau đó bị mất vì trúng đạn pháo kích), thứ chín là cô Lý Ánh Nguyệt (vừa mới mất)

Cô Lý Ánh Nguyệt giáo viên Trường Tiểu Học Hà Tiên (bìa phải) chụp trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên.

Từ trái qua phải: Thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, thầy Hứa Văn Vàng, dự đám cưới của hai em Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi. (Hình: Trần Thị Thúy Hằng)

Bìa trái: Thầy Hứa Văn Vàng (dự đám cưới của Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi). Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Bìa phải: Nguyễn Bích Thủy, người thứ ba từ phải qua trái: Cô Lâm Thị Ánh Tuyết. Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Ngôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Chú thích: 1/ Hồi xưa thời 1960-1970 tên gọi các lớp của Trường Tiểu Học là như sau: Lớp năm (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp tư, lớp ba, lớp nhì và cao nhất là lớp nhứt (lớp để thi lên bậc Trung Học vào lớp Đệ Thất). Trong khi đó sau 1975 thứ tự tên các lớp lại như sau: lớp 1 (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp 2, lớp 3, lớp 4, và lớp 5 (lớp để lên bậc Trung Học vào lớp 6)

2/ Theo tài liệu của bạn Trương Thanh Hùng, có một bảng danh sách quý Thầy Cô từng giảng dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên và hiện đã qua đời còn được niêm yết trong trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay, mình xin chép vào đây để thầy cô và các bạn tham khảo.

Nguyễn Văn Truyện, Trần Văn Sang, Nguyễn Văn Phẩm, Hứa Văn Bình, Nguyễn Văn Phi, Trần Minh Đạo, Huỳnh Thoại Bang, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Vàng, Diệp Chí Trung, Trương Hòa Thành, Nguyễn Văn Đặng, Lư Sanh Nho, Lục Phan, Phan Văn Viên, Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Thành, Hứa Văn Tài, Nguyễn Văn Mẩn, Nguyễn Văn Sữu, Lưu Kim Hầu, Nguyễn Tấn Phát, Hồ Thị Tân, Nguyễn Thị Nu, Phạm Văn Lai, Nguyễn Thị Liễu, Hồ Văn Nhi, Lý Văn Cải, Vương Giáp Thình, Nguyễn Văn Giỏi, Lê Đức Nguyên, Lê Quang Phấn, Huỳnh Quốc Minh, Lâm Quốc Hải, Lý Văn Nhơn, Lâm Tấn Phác, Trần Văn Canh, Võ Văn Hổ, Nguyễn Văn Tượng, Nguyễn Văn Vân, Đỗ Quý Tý, Nguyễn Văn Kiêm, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Trình Kim Chung, Lê Quang Thuyên, Nguyễn Văn Tửng, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Tửng, Trần Hòa Hùng, Phan Thị Tuyết Mai, Trương Tự Phát, Trần Văn Tường, Phạm Văn Nhan, Hà Văn Điền, Trần Văn Lọt, Trương Văn Vinh, Hà Văn Hoa, Lý Thị Nhan, Trần Thị Thứ, Hứa văn Vàng, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Ngà, Trần Phát Đạt, Trương Tường Oanh, Huỳnh Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ngọc Ty, Hà Ngọc Kiều, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Lầu, Hà Văn Thanh, Hà Mỹ Khôi, Trương Hà, Nguyễn Văn Hùng.

3/ Sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm như sau: Hồi mới vào học lớp năm (lớp đầu tiên) Trần Văn Mãnh rất sợ đi học. Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhờ đi đường trước quán Ty La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ « ai sao tôi vậy » nhưng có cái dở  là « ai làm bậy tui cũng làm theo », cũng đáng đời!!!).

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga, Lâm Ngọc Bích, Trần Tố Chinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phước Thị Liên, Trương Thị Uyên My, Dương Hồng Châu. Khiết Nha Huỳnh. Xin thành thật cám ơn sự đóng góp quý báo của quý vị.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Những « Con đường xưa ta đi » của Hà Tiên

Thầy Cô và các bạn thân mến, thành phố Hà Tiên ngày xưa không to lắm, chỉ đủ để chúng ta chiều chiều khi cơm nước xong, rủ nhau thả bộ đi vòng vòng quanh phố, đi cho đến khuya, có hôm thì kéo nhau vào quán Ti La uống cafe nghe nhạc và nói chuyện với quý thầy cô…Hà Tiên là như thế, đã hiện hữu qua bao nhiêu năm dưới ánh mắt của chúng ta, lúc nào cũng dể thương, quen thuộc, mộc mạc nhưng không kém phần quyến rũ…

Tuy nhiên mọi vật trên trái đất nầy đều phải chịu tuân theo luật biến hóa, Hà Tiên cũng thế, mỗi ngày một đổi mới tốt đẹp thêm cũng có, hơi lố lăng một tí cũng có…Để nhớ lại mỗi con đường ngày xưa của Hà Tiên, những con đường mà các bạn đã từng dìu một người em gái nữ sinh Trung Học Hà Tiên nào đó, đi qua trong một buổi chiều …, để nhớ lại và hồi niệm cho một thời mà chúng ta tự xem như là « chủ » của đường phố Hà Tiên xưa…, xin mời thầy cô và các bạn duyệt qua một số con đường xưa của phố Hà Tiên, vì chỉ nói về những con đường hiện hữu của ngày xưa nên chỉ có một số ít thôi, còn Hà Tiên ngày nay đã quá phát triển, có những con đường còn tự trồi lên trên mặt của lớp đất bằng lấp đi một phần của con sông xinh đẹp và êm đềm ngày xưa,…dường như đường sá đã tự có từ ngàn xưa cũng không đủ để ngày nay người ta  lưu thông,…Hà Tiên đã phát triển tột độ, xin chúc mừng cho thành phố quê hương của chúng ta và cũng xin ngậm ngùi cho một phố Hà Tiên của những con đường tuy vắng khách « ngựa xe » qua lại dập dìu như hiện nay, nhưng lại rất tình tự và đầy ấp kỷ niệm học trò…

Những đường phố chánh của Hà Tiên ngày xưa

1/ Đường Mạc Công Du: Đường Mạc Công Du được người Pháp xây dựng đầu tiên vào năm 1871 và lúc đó tên đường là Avenue Inspection (Đại lộ Tham Biện), đường nầy được xây dựng cùng một lúc với Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ (dinh Ông Chánh Tham Biện). Đường Mạc Công Du chạy dài từ dưới chân đồi Ngũ Hổ thẳng tới ra bờ sông ngay cầu tàu Quan Thuế (xưa tên là Pont de Douane). Về sau trong những năm 50, đường được đặt tên chánh thức là đường Mạc Công Du (con trai của Mạc Tử Hoàng và cháu nội của Mạc Thiên Tích). Chúng ta quen gọi là đường Hàng Dương. Đây chính là « Con đường xưa em đi »…!! Vì con đường nầy đã chứng kiến rất nhiều những tà áo dài trắng của nữ sinh trung học Hà Tiên khi tan trường về và nối theo là những chiếc áo trắng quần tây xanh của những chàng trai nam sinh cùng về chung đường…

Trên đường Mạc Công Du một bên là trường Tiểu Học Hà Tiên, một bên là bên hông của trại lính « Thành 18 », tiếp theo là dảy nhà cư xá của quý thầy cô có tên là Học Đường Viên: thầy Hiệu Trưởng Hùng, thầy Thất, thầy Trịnh Học Ký, và thầy Nguyễn Đức Sơn…

Ngày xưa ngay trên con đường Mạc Công Du nầy có nhà của các bạn: Mai Thị Ngọc Minh, Lâm Tấn Hào – Kiệt, Huỳnh Văn Năm, Huỳnh Thị Sáu, Thái Cẩm Hà, Lý Mạnh Thường, …

Nam sinh trung học Hà Tiên trên đường tan học về nhà đường Mạc Công Du Hà Tiên trong những năm 60. (Hình: TVM)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên trước những năm 2000 ngay ngả tư Mạc Công Du-Mạc Cửu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên sau những năm 2000, ngay ngả tư Mạc Công Du-Lam Sơn (Hình: Lê Phước Dương)

Ngả ba đường Mạc Công Du (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là Chi Quan Thuế, bên phải là quán Ông Năm bán nem nướng. (Hình: TVM 2012)

2/ Đường Chi Lăng: Đường Chi Lăng ngày xưa có tên là Đường Lớn, người Pháp lúc xây dựng đường nầy đặt tên là Rue de Mui Nai. Đường Chi Lăng chạy dài từ mé sông Đông Hồ lên đến ngang qua đường Mạc Thiên Tích và tiếp tục thẳng lên bên phải là khu Lăng Mạc Cửu, quẹo trái là đường ra bãi biển Mũi Nai. Trên đường Chi Lăng nếu tính từ mé sông Đông Hồ thẳng lên thì lần lượt có nhà gia đình Quách Ngọc Sơn, Quách Ngọc Lâm ở đầu đường, Nguyễn Thanh Hà, thầy Nguyễn Văn Nén, Lâm Mỹ Nhung, Hà Mỹ Oanh, Phạm Kim Loan, nhà cô Vương Thị Lành, Trần Anh Kiệt, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Thúy Vân, Nguyễn Thị Điệp, Nguyễn Nguyệt Hồng,..v…v…

Khúc đường Chi Lăng Hà Tiên về phía núi Lăng, bên phải có chùa Phật Đường (Hình: TVM 2012)

Đường Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

3/ Đại Lộ Mạc Thiên Tích: Đại lộ Mạc Thiên Tích rất dài, nối liền Đồi Ngũ Hổ thẳng xuống đồi Pháo Đài, có tên xưa là đường Pháo Đài, người Pháp đặt tên là Boulevard Phao Dai. Vào năm 1952 tỉnh trưởng Hà Tiên là ông Lê Văn An đặt tên là Đại lộ Mạc Thiên Tích (con trai của Mạc Cửu và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến lịch sử văn học Hà Tiên). Con đường Mạc Thiên Tích ngày xưa lúc mình còn học vẫn chưa tráng nhựa, còn là đường sỏi đá, mình thường đi theo con đường nầy để xuống chơi nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh và Lý Văn Tấn. Đường nầy đi ngang qua cổng chính của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa.Tính từ ngay dưới chân đồi Ngũ Hổ về phía Pháo Đài thì trên con đường nầy có nhà các bạn: Tống Châu Thành (ngay xéo xéo bên phải cổng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên), La Tấn Lực, Lâm Thị Lan, Bùi Văn Tư, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh..v..v..

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên (khúc cắt đường Mạc Cửu). (Hình: TVM 2012)

Một góc đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên, khúc Ngả Sáu Điện Lực. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

4/ Đường Bạch Đằng: Người Pháp đặt tên cho đường Bạch Đằng là Rue des Cocotiers, ta quen gọi là đường Hàng Dừa. Từ năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Bạch Đằng. Đây là con đường quen thuộc của mình, trên con đường nầy có trại lính (thành 18), có cây dừa ba ngọn nỗi tiếng của Hà Tiên, mời xem bài:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Đường Bạch Đằng thẳng góc với đường Chi Lăng, phía trên giới hạn bởi đường Mạc Tử Hoàng và phía dưới chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay Cầu Bắc ngày xưa. Trên đường Bạch Đằng có Chi Thú Y, mặt nhà sau Thầy Trương Minh Đạt, nhà ông Ký Cụi, chùa Phước Thiện, thầy Lâm Văn Núi, anh Chư, thầy La Từ Sự, Tạ Em Sợi, Trần Tuấn Khanh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Thu Oanh, nhà mình (Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh), Lê Phước Hải, Huỳnh Văn Bền, Huỳnh Văn Bé, Trần Hồng Khanh, Chị Lệ, Chị Liễu..v..v…

Đường Bạch Đằng Hà Tiên ngày xưa trong những năm 70, nhìn về phía Cầu Bắc, bên trái là tiệm Cafe Quảng Phát, bên trái là quán cafe nhạc Khai, kế đó là nhà anh Trần Hồng Khanh. Trong hình: Trần Văn Phi (Hình: TVM)

Góc đường Bạch Đằng – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, nhà có cửa sắt xanh dương là nhà ông Minh Thái Phong. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên phải là khúc có tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên trái là biệt thự Ông Bầy ngày xưa có cửa sắt xanh dương đậm. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, hướng nhìn ra phía sông. (Hình: TVM 2012)

Ngả ba đường Bạch Đằng (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là tiệm Đồi Mồi Lê Minh, bên phải là tiệm Billard nhà bạn Trần Bình. (Hinh: TVM 2012)

5/ Đường Tô Châu: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Tô Châu là Rue de la Poste (đường Bưu Điện) vì đường nầy chạy ngang qua nhà Bưu Điện xưa (sau nầy đổi là Chi Bưu Điện mặt trước nhìn ra đường Tô Châu, mặt sau nhìn ra bờ Đông Hồ). Đường Tô Châu chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay tại mé sông có cầu phao nổi ngày xưa, phía trên thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng. Đường Tô Châu thời chiến tranh trong những thập niên 1960-1670 có một đoạn chạy ngang Chi Cảnh Sát và dinh Ông Quận Trưởng nên khúc đường nầy có lính gát và giới hạn sự đi lại. Trên đường Tô Châu tính từ đầu đường Mạc Tử Hoàng đi xuống mé sông là có: Dinh Quận Trưởng (lúc ông Thiếu Tá Hoa làm quận trưởng, là ba của bạn Trần Văn Minh gọi là « Minh Còi » học chung lớp với mình thời Trung Học), Chi Cảnh Sát (lúc trước có gia đình bạn Nguyễn Hoàng Nhi con ông Cảnh Sát trưởng học chung lớp với mình), trường Mẫu Giáo, Chi Bưu Điện có gia đình bạn Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Anh Khanh, Nguyễn Thị Anh Đào học chung lớp, có sân đánh bóng chuyền, thầy Hứa Văn Vàng, mặt sau vườn nhà ông Ký Cụi, nhà chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, Huỳnh Hồng Quang (anh chị em bạn dì với mình), gia đình Kiều Dũng, dãy nhà Ông Phán Cơ thường cho giáo sư ở trọ, mặt hông của Đình Thần Hoàng, thầy Trần Văn Tường, bạn Trần Thanh Tuyên, Chùa Bà Mã Châu, bên hông khách sạn Tô Châu và khách sạn Đại Tân…v…v…

Trần Văn Mãnh trong những năm 60, phía sau bên phải là Trường Mẫu Giáo Hà Tiên nằm trên đường Tô Châu. (Hình: TVM)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên phải là chùa Bà Mã Châu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên trái là chùa Bà Mã Châu, đầu đường phía xa là khách sạn Tô Châu. (Hình: HungCuongPC)

Một góc đường Tô Châu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

6/ Đường Phương Thành: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Phương Thành là Rue de Kampot vì đường nầy chạy thẳng lên phía biên giới Việt – Cambodge, giáp giới với tỉnh Kampot bên kia. Đường Phương Thành chạy xuống mé sông Hà Tiên ngay đường Trần Hầu. Có một nơi ba con đường giao nhau: Phương Thành, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tạo thành ngả sáu, bây giờ người ta gọi là Ngả Sáu Điện Lực (vì ngay đó có nhà đèn điện lực). Con đường Phương Thành là một con đường rất quen thuộc với giới trẻ học sinh Hà Tiên ngày xưa vì mỗi chiều các bạn trẻ thường hay chạy xe Honda, chở nhau từ ngay khu chợ theo con đường Phương Thành ra phía nhà thờ, qua Ấp Chiến Lược, thẳng ra Thạch Động và lên phía biên giới, đó là một khúc đường để phóng xe Honda 67 với tốc độ nhanh mà không bị phiền phức vì sự lưu thông nhờ đường hay vắng xe,…Mình còn nhớ rất nhiều kỷ niệm trên con đường nầy với các bạn Lương Cường, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm,..v..v..(đó là các cao thủ chạy xe Honda ngày xưa mà mình rất sợ khi ngồi phía sau cho các bạn nầy chở ra Thạch Động vì khi chạy ngang qua Ấp Chiến Lược là có một khúc quanh để các bạn đó « lạng » xe rất hấp dẩn, nhưng mà mình ở phía sau thì lại rất sợ…). Kể từ phía mé sông đường Trần Hầu đi lên thì trên con đường Phương Thành có rất nhiều nhà bạn học ngày xưa: Khách sạn Lâm Văn Cao, thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương ba của bạn Trần Đại Thắng, Trần Mỹ Quyên, Trần Mỹ Ngân, Lâm Hữu Quyền, anh em Vương Đình Phước, Vương Đình Lộc, nhà bạn tên Nguyệt em cô Tuyết con ông Chín Nhà Đèn, cô Tiền Ngọc Thanh, Tiền Ngọc Dung, ngang qua chùa Tam Bảo, nhà hai chị em Thanh Niên, Thanh Nữ, mặt hông nhà thờ, nhà máy xay lúa gia đình chị Lâm Xuân Cúc, nhà bạn Lâm Nhi Tôn, có chùa (Miếu) Bà Cửu Thiên,  rồi dài dài ra phía Ấp Chiến Lược, phía Thach Động có nhà bạn Quách Thị Chol học chung lớp với mình, còn nhiều nhưng mình không nhớ để kể ra…v…v…(Sau nầy khúc đường Phương Thành qua khỏi Ấp Chiến Lược ngày xưa khúc có chùa Phù Dung, đường có tên khác là đường Phù Dung chạy ra xa tới Thạch Động và biên giới).

Đường Phương Thành Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 ngay góc khách sạn Lâm Văn Cao đổi tên là Phương Thành. (Hình: HungCuongPC)

Đường Phương Thành Hà Tiên ngay khách sạn Phương Thành và khách sạn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên, nhìn về phía Nhà Thờ. (Hình: TVM 2012)

7/ Đường Mạc Cửu: Người Pháp đặt tên là Rue Mac Cuu, đường nầy chạy song song với đường Chi Lăng. Đường Mạc Cửu (để tưởng nhớ vị quan khai khẩn ra đất Hà Tiên là Mạc Cửu) chạy ngang qua khu lăng của gia đình họ Mạc, thẳng tới chùa Lò Gạch thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng và trở ra đụng đường Phương Thành. Từ ngày xưa đã lâu có một cái ao nước trước đền thờ Ông Mạc Cửu, sau nầy người Pháp khai thác đất đai nên đào thêm hai cái ao nằm hai bên đường Mạc Cửu nầy, ta quen gọi chung ba cái ao đó là khu Ao Sen. Chính ba cái Ao Sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Đầu kia của đường Mạc Cửu chạy thẳng ra bờ sông Đông Hồ, khúc phía sau dảy nhà cư xá cho nhân viên bưu điện viễn thông ngày xưa. Tính từ đầu đường bờ sông Đông Hồ chạy thẳng lên khu Lăng Mạc Cửu và chùa Lò Gạch thì lần lượt trên đường Mạc Cửu có bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, bên hông cư xá của Nhà Bảo Sanh (gia đình bạn Lê Mai Hoa, chị Lê Mỹ Hồng, chị Lê Mai Hương ngày xưa ở đó). Lần lượt tới nhà Lý Tòng Hiếu, Trương Thái Minh, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trần Văn Danh, Phạm Thúy Phượng…và thẳng qua khu Ao Sen,…Trong những năm 1970-1974 cô Võ Kim Loan lúc dạy văn trường Trung Học Hà Tiên ở tại căn nhà đối diện với nhà Lý Tòng Hiếu trên con đường Mạc Cửu nầy.

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, trước 1975 có Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến, sau 1975 đổi tên là Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau 2011 bệnh viện đã bi phá hủy nhường chổ cho Quảng Trường. (Hình: PhungAnhKiet)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ. (Hình TVM 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía cây đa chùa Lò Gạch. (Hình TVM, 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, khúc trước Ao Sen. (Hình: TVM 1999)

Ngả ba đường Mạc Cửu – Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu khúc giáp với đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, bên phải là Nhà Bảo Sanh ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

8/ Bến Trần Hầu: Bắt đầu vào năm 1889, người Pháp lấp vùng sình lầy bờ sông và cho đấp đá dọc theo mé sông từ cầu Quan Thuế lên tới Pháo Đài. Người Pháp cũng cấm không cho xây cất nhà cửa dọc theo mé sông nầy và thành lập một bến sông đặt tên là Quai Doceul (tên của viên Chánh Tham Biện Hà Tiên từ năm 1889-1890). Sau nầy con đường được đổi tên là Bến Trần Hầu ngày nay thì đề là Đường Trần Hầu (tên ông Trần Đại Lực có chức là Lực Tài Hầu). Con đường Trần Hầu là một một trong những con đường chánh của Hà Tiên, có thể xem như là mặt tiền của Hà Tiên. Thời xưa đường đó cũng nằm trong lộ trình chạy xe Honda mỗi buổi chiều du ngoạn của giới học sinh Hà Tiên. Trên mặt tiền nầy có rất nhiều khách sạn nhìn ra bờ sông: khách sạn Tô Châu, Đại Tân, Vân Tiên, Lâm Văn Cao,…(tất cả các khách sạn nầy ngày nay hầu như đã thay hình đổi dạng và đã đổi luôn tên…:Đại Tân thành Đông Hồ, Vân Tiên thành Hà Tiên, Lâm Văn Cao thành Phương Thành….). Trên đường Trần Hầu còn có bến đò, chợ cá, Đài Kỷ Niệm, Thánh Thất Cao Đài,…và có nhà của các bạn: Trịnh Công Tước, Phan Thị Liên Phương, Trịnh Xuân Tài, Đình Quận, Trần Phương Nhu, Dương Văn Hiếu, …v…v…

Bến Trần Hầu nhìn từ phía Cầu Bắc Hà Tiên trước 1975. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Một khúc đường Bến Trần Hầu Hà Tiên vào khoảng năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Bến Trần Hầu (Hà Tiên) ngày xưa, bên trái là Đài Kỷ Niệm, bên phải là dảy phố buôn bán có tiệm nước mắm của gia đình Tiền Thành Ký. (Photo: Bronson Ha)

Đường Trần Hầu ngày xưa, nhìn qua khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

Đường Trần Hầu Hà Tiên năm 1994. (Hình: Trần Văn Mãnh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: Chánh Thái Minh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên ban đêm, bên trái là phố Tứ Diện và tiệm Xuân Thạnh, bên phải là chợ tạp hóa. (Hình: Hoàng Nguyên 1998)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Khúc đường Trần Hầu có nhà Thầy Phan Thanh Trì, ba của Phan Thị Liên Phương. (Hình: AaronGeddes 2012)

Góc đường Trần Hầu – Nhật Tảo Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Trần Hầu – Tuần Phủ Đạt Hà Tiên sau những năm 2000

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng (Hà Tiên), bên phải là tiệm Billard ngày xưa của gia đình bạn Trần Bình.

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Trần Hầu Hà Tiên nhìn từ trên cao, bên trái là khách sạn Phương Thành. (Hình: TVM 2012)

9/ Đường Đống Đa: Thời Pháp đường Đống Đa có tên là Rue de l’Ecole vì ngày xưa người Pháp xây trường học quay mặt ra đường nầy. Đến năm 1947 trường mới quay mặt chánh ra đường Mạc Công Du, cổng sau trường nhìn ra đường Đống Đa. Năm 1952 tên đường chánh thức đổi thành đường Đống Đa. Dân Hà Tiên của chúng ta rất quen thuộc với đường Đống Đa vì ngày xưa lúc còn học trường Tiểu Học lúc nào cũng có lui tới trên con đường nầy. Vì nằm ở cổng sau của trường Tiểu Học nên ngày xưa khúc nầy có rất nhiều gian hàng bán bánh trái cho học sinh ra chơi mua ăn…Đường Đống Đa thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng ngay tại điểm giao với đại lộ Mạc Tiên Tích, chạy dài ra phía chợ đường Đống Đa thẳng góc với đường Lam Sơn và ngưng lại nơi đó. Trên đường Đống Đa nầy mình cũng có rất nhiều kỷ niệm vì trên đường nầy là có nhà của bạn Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên. Mỗi khi đi chơi về khuya, mình thường đưa Nguyên và Hưởng về tới khúc đường Đống Đa nầy (khoảng đối diện với Chi Thanh Niên và sân quần vợt ngày xưa). Nhiều lúc Hưởng thường lén lấy cắp một chiếc dép của mình nên mình phải đi theo Hưởng về tới khúc đường nầy, vừa đi vừa năn nỉ Hưởng để được trả dép lại rồi mình mới về nhà được…Ngoài ra trên đường Đống Đa nầy còn có nhà bạn Trương Kim Ô học chung với mình, Trần Yến Phượng, Trần Tuấn Anh..v…v…

Ngả tư đường Dống Đa – Mạc Cửu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Đống Đa Hà Tiên giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn. Bên phải ngay các chậu kiểng là nhà bạn Trương Kim Ô (học chung lớp với Trần Văn Mãnh). (Hình: TVM 2012)

10/ Đường Lam Sơn: Người Pháp lúc đầu đặt tên cho đường Lam Sơn là Rue de la Pagode vì trên đường nầy có chùa Ông Bổn (đúng ra là Miếu) thờ ông Bổn Đầu Công tên là Trịnh Hòa. Năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Lam Sơn. Đường Lam Sơn là con đường hàng ngày mình đi chợ, đến nhà bạn Lý Mạnh Thường, đến nhà các bạn Nguyễn Văn Tài, Lý Cui,…và cũng là đường để đi ra bãi biển Mũi Nai ngày xưa. Đường Lam Sơn một đầu thẳng góc với đường Bạch Đàng nhà mình, đầu kia chạy dài lên khúc ngọn núi có chùa Giải Thoát và khi quẹo trái là đi ra Mũi Nai. Đường Lam Sơn chạy ngang chợ Hà Tiên xưa, tiệm Sanh Hoạt bạn Lương Cường, nhà chị Lâm Xuân Cúc, Trần Ý Hui, cô Lý Ánh Nguyệt, tiệm bánh mì Tân Thái, Dương Thị Phương Hà, Đỗ Minh Quang, Lý Kiến Tân, Dương Hồng Minh, Trần Hoàng Phượng, Trần Hoàng Trang, Trần Học Quang, Trần Mỹ Hạnh, phía trên nữa là nhà bạn Lý Cui, nhà chị Hai Mùi vợ anh Lê Quang Chỉnh (anh bạn dì với mình). Ngày xưa mình thường thả bộ trên con đường Lam Sơn nầy để lên nhà Lý Cui mỗi chiều để chơi đàn chơi nhạc trong nhóm Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Tống Châu Thành, Trần Văn Yến,…

Ngả tư đường Lam Sơn – Phương Thành ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là mặt tiền ngôi chợ ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, nhìn về phía đường Bạch Đằng. ngôi nhà ngói ngay ngả ba Lam Sơn-Bạch Đằng là nhà Huỳnh Văn Bé. (Hình HungCuongPC 1997)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là tiệm (lò bánh mì) Tân Thái nhà Dương Phương Hà, bên phải là đầu đường Đống Đa.

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên phải có ngôi nhà đầu đường là Tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hinh: HuynhNT)

Đướng Lam Sơn Hà Tiên, hướng từ đường Bach Đằng nhìn ra phía chợ ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ cũ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Ngả tư Lam Sơn – Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, hướng nhìn về phía đường Nhật Tảo và Cầu Câu, bên lề đường trái ngay chổ người đang đi bộ là nhà chị Dương Hồng Châu. (Hình: TVM 2012)

11/ Đường Mạc Tử Hoàng: Tên thời Pháp là Rue de l’Appontement, tức là đường Cầu Tàu vì một đầu đường Mạc Tử Hoàng ra tới bến tàu ngày xưa ở sông Đông Hồ. Đầu kia chạy tới đường Phương Thành ngay chổ Nhà Thờ. Đến năm 1952 ông Tỉnh trưởng Hà Tiên Lê Văn An đặt tên là đường Mạc Tử Hoàng (con trai của ông Mạc Thiên Tích). Đường Mạc Tử Hoàng là con đường quan trọng về phương diện chiến lược và hành chánh ngày xưa vì trên đường nầy tính từ mé sông thì có Sân Vận Động (sân đá banh) ngày xưa, khu Chi Công Chánh, dinh của ông Phó Quận (ngày xưa gia đình của bạn Lê Mai Hoa cũng có lúc ở trong khu dinh thự nầy), đối diện bên nầy là cổng chánh của trại lính Thành 18, tiếp đến là Tòa Bố tức là nơi làm việc của ông Quận Trưởng, một bên là cổng sau của ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, một bên là cổng sau của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, nhà của các em Lành, Tuyết (con của Bà Năm), kế nhà nầy ở ngay góc đường, là nhà của một bạn tên Thu bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, phía trước nhà có ao rau muống, ngày xưa mình rất sợ cái ao rau muống nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo chân mình xuống ao…). Đến Nhà Thờ là hết đường Mạc Tử Hoàng. Ngày nay đường Mạc Tử Hoàng còn được nối dài lên con đường đất nhỏ ngày xưa đi lên tới chùa Lò Gạch và gặp ngay đường Mạc Cửu. Khúc đường Mạc Tử Hoàng từ Nhà Thờ lên đến chùa Lò Gạch nầy là rất quen thuộc với học sinh trung học ngày xưa vì mỗi khi có giờ học trống thì cả nhóm kéo nhau lên núi Lăng bằng con đường đất nhỏ nầy (trên con đường nhỏ nầy bên trái có nhà của chị Trần Diệu Châu và cô Trần Diệu Hiền thơ ký và giám thị của trường chúng ta ngày xưa).

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, bên phải là Nhà Thờ. (Hình TVM 2012)

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, nhìn về phía dinh Quận ngày xưa. (Hình TVM 2012)

Góc đường Mạc Tử Hoàng (trái) – Phương Thành (phải) có nhà thờ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

12/ Đường Tuần Phủ Đạt và đường Tham Tướng Sanh: Hai con đường nầy được xây dựng khi ngôi chợ Hà Tiên ngày xưa làm xong, lúc đầu chưa có tên. Đến năm 1952 hai con đường song song hai bên hông chợ Hà Tiên nầy mới được ông Nguyễn Văn Hải đặt tên: Tuần Phủ Đạt tức là Ông Tuần Phủ Huỳnh Mẫn Đạt, Tham Tướng Sanh tức là Tham Tướng Mạc Tử Sanh con của ông Mạc Thiên Tích. Vì hai con đường nầy ở ngay vị trí hai bên chợ Hà Tiên nên rất tấp nập, có nhiều tiệm buôn, cửa hàng. Mỗi buổi sáng trên đường Tuần Phủ Đạt thì có họp chợ bánh trái, đủ thứ bánh trái cho người Hà Tiên ăn điểm tâm: bún chả giò, hủ tiếu hấp, bánh tầm bì, cháo đậu đỏ, xôi hột gà, xôi tôm khô, chè đậu trắng, chè hột me,…., Đường Tuần Phủ Đạt khúc trên gặp đường Chi Lăng, khúc dưới thì ra đến chợ cá ngày xưa. Ngay khúc trước Phố Tứ Diện tiệm văn phòng phẩm nhà Minh Thái Phong, ngay trước đó là khoảng đất dành cho má của bạn Lý Cui bán gạo. Ngày xưa khi cuối tuần không có giờ học nhóm mình thường hay ra ngay khu bán gạo của má bạn Lý Cui để nói chuyện chơi, gồm có Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến,..v..v..Cả bọn nhóm lại phía sau quầy hàng gạo và nói chuyện với Lý Cui, khi có khách mua gạo, đong gạo xong, Lý Cui phải chở bao gạo phía sau yên xe đạp để giao đến tận nhà cho khách, lúc đó cả bọn cũng còn lai rai ở đó chờ cho Lý Cui giao gạo xong nói chuyện tiếp…Phía bên kia đường tính từ khúc trên đường Chi Lăng dài xuống thì có nhà các bạn: Rạp chiếu bóng Phát Minh (cất lúc sau nầy) Lương Cường, Hồ Anh Dũng, Hồ Thị Kim Hoàn, Hồ Thị Kim Nga,…, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm, Phù Ngọc Anh, Phù Ngọc Liên, Trần Tiên,….

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa, bên phải có khoảng đất trống sau nầy có rạp ciné Phát Minh, giữa hình là nhà Hồ Thị Kim Hoàn. (Photo: Dave Kathy Crawford 1966)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn có ba căn phố đối diện với mặt bắc của chợ Hà Tiên: Tiệm Ông Tàu Lái, Tiệm Sanh Hoạt và Tiệm cafe Dũ Long. (Photo: Fred Abery)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa trước năm 1975, nhìn về vườn Ông Ba Lón. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên.

Đường Tuần Phủ Đạt ngay khu chợ Hà Tiên xưa trước năm 2000. (Hinh: HungCuongPC)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, khúc giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn (Hình: Hồ Anh Dũng)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, giáp với Đường Trần Hầu. (Hình TVM 2012)

Đường Tham Tướng Sanh thì dài hơn đường Tuần Phủ Đạt vì khúc trên gặp ngay trước bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, khúc dưới cũng ra tới chợ cá ngày xưa. Ngày xưa người Pháp đặt tên là Rue de l’Hôpital (đường Bệnh Viện). Đến năm 1952 được đổi tên là đường Tham Tướng Sanh. Trên đường Tham Tướng Sanh bắt đầu là Nhà Bảo Sanh (nơi mà mình sinh ra ở đó…cùng lúc với anh Trần Văn Dõng và hầu như tất cả các bạn cùng trạc tuổi mình đều được sanh ra ở Nhà Bảo Sanh nầy), tiếp là mặt sau Chi Thú Y, mặt trước nhà thầy Trương Minh Đạt (quán Ti La), bên hông vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn, nhà bạn La Văn Cao, gia đình ông Lâm Văn Cao, dài xuống nhà Trịnh Tố Chinh (tiệm Hiệp Lợi), nhà chị Đỗ Mùi,…ra tới tiệm cơm Xuân Thạnh. Nếu bên đường Tuần Phủ Đạt buổi sáng có hàng bánh trái điểm tâm thì bên đường Tham Tướng Sanh bên nầy là chợ rau cải và tạp hóa, chợ họp ngay từ đầu đường Lam Sơn chạy dài xuống đụng Bót Cảnh Sát ngay chợ cá. Phía bên đường Tham Tướng Sanh thì mình ít đi buổi sáng vì người ta bán toàn là rau cải, tạp hóa, dành cho các bà nội trợ đi chợ mua thực phẩm về nấu cơm trưa chiều, mình chỉ quanh quẩn bên phía chợ bánh trái bên đường Tuần Phủ Đạt để ăn hàng vặt mỗi sáng…!!

Góc đường Tham Tướng Sanh – Lam Sơn Hà Tiên. Tiệm Hoàng Sơn là ngay chổ tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

Đường Tham Tướng Sanh Hà Tiên, ngay bên hông chợ Hà Tiên xưa. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tham Tướng Sanh – Trần Hầu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

13/ Đường Cầu Câu, đường Nhật Tảo và đường Nguyễn Thần Hiến: Ba con đường nầy song song với nhau và giới hạn một đầu là đường Chi Lăng, đầu kia là đường Trần Hầu. Đây là ba con đường ngày xưa mình cũng rất thích đi dạo một mình vì trên mỗi đường đều có nhà các bạn quen thuộc. Người Pháp quy hoạch ba con đường nầy cùng một lúc với ngôi chợ, bệnh viện. Lúc đầu chưa có tên, đến năm 1952 do ông tỉnh trường Hà Tiên đặt tên. Trên đường Cầu Câu có nhà của các bạn: Phan Văn Hữu, Nguyễn Ngọc Lê, Hà Thu Hương, Nguyễn Minh Hùng (Hùng Hynos), chị Nguyễn Thị Hoa cùng các em Nguyễn Thị Lan, Liên, Liễu, Lệ (Thủy)…Đầu đường Cầu Câu và Trần Hầu có nhà Ông Đốc Hà Văn Điền là ba của cô Hà Thị Hồng Loan. Đầu đường Cầu Câu và Lam Sơn có nhà anh Độ, khoảng đường nầy ngày xưa mình cũng rất thường hay đi qua đi lại…!!!

Đường Cầu Câu Hà Tiên. (Photo: Axel.R.D 2011)

Góc đường Cầu Câu – Trần Hầu. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Cầu Câu – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nhật Tảo thì có một ngôi nhà rất nổi tiếng đó là nhà Bà Bảy Tiếu, ngôi nhà dành cho quý thầy thường ở trọ thời đi dạy Trung Học ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970: thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Phúc Hậu,…Gần đầu đường phía Trần Hầu thì có nhà bạn Hà Quốc Hưng, nhà của Tòng cũng trên con đường nầy (Hưng và Tòng là anh em cô cậu ruột…)

Góc đường Nhật Tảo – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Nhật Tảo Hà Tiên góc có chùa Ông Bổn, phía dưới hình là đường Lam Sơn, phía xa là đường Chi Lăng. (Photo: AdriaanCastermans)

Đường Nhật Tảo Hà Tiên, giữa đường Lam Sơn và Chi Lăng. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nguyễn Thần Hiến có nhà các chị Huỳnh Ánh Tuyết, Phan Thu Hường, cô Ngọc Lan, cô Sồ…v..v…Khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng thì có nhà của bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên, Trần văn Hữu (Mạnh). Con đường Nguyễn Thần Hiến rất êm đềm và bình lặng, ngày xưa mình rất thích đi bộ qua con đường nầy. Ngoài ra còn có nhà của Phan Kim Chi ngày xưa mỗi khi đến ngày cúng sao thường gặp Kim Chi trên chùa Phật Đường, lúc đó còn nhỏ Bà Ngoại mình thường dắt lên chùa Phật Đường cúng sao và chờ khi cúng xong được ăn chè, Kim Chi cũng theo ông bà đi chùa.

Góc đường Nguyễn Thần Hiến – Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đến đây cũng gần như chấm dứt nhắc lại chuyện xưa về đường phố Hà Tiên, những con đường mà ngày xưa mình đã đi qua rất nhiều, khi thì để đến nhà các bạn thân để chờ rủ nhau đi chơi, khi thì để nhìn thoáng qua một hình bóng nào đó ẩn hiện trong nhà…Ngoài ra còn một con đường đất nhỏ lúc đó hình như chưa có tên nay có tên là đường Phạm Văn Ký (không biết tên đường đặt ra từ thời nào, đường nầy thẳng góc với đường Lam Sơn về phía trên), con đường nầy mình cũng thường đi vào những buổi chiều khi cơm nước xong, đó là đi để đến nhà bạn Lê Phước Dương và Lê Phước Hải. Ngày xưa căn nhà nhỏ của Hải và Dương gọn gàng xinh xắn (bây giờ thì đã cất phát triển thêm rộng lớn) chỉ có ba mẹ con ở, những lúc mình đến chơi mẹ của Dương và Hải tiếp đón tận tình rất tử tế, trong nhà có chiếc bàn học cạnh cửa sổ và cũng như thường lệ thời đó, có một cây đàn guitare để đàn hát cho vui…Ngày nay nghĩ lại bạn Phước Hải đã lâm vào cơn bệnh tai biến, ăn nói hành động khó khăn, mình rất buồn và cảm thương cho số phận của một người bạn chẳng những học cùng trường trung học Hà Tiên mà còn là người bạn văn nghệ từng cùng nhau đi trình diển rất nhiều nơi tại Hà Tiên. Lê Phước Dương là một thành phần trong nhóm có tên « Gói Pall Mall chịu » vì nhóm nầy của mình ngày xưa thường hút thuốc Pall Mall nhưng hay mua chịu!!!. Vài hàng viết xong xin kết thúc phần tưởng nhớ những con đường xưa của Hà Tiên, xin mời các bạn đọc qua và góp ý thêm nhất là xin nhắc lại nhà của từng bạn trên con đường nào để mình bổ sung vào bài viết cho đầy đủ nhé, xin cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cận tết Mậu Tuất 11/02/2018 Trần Văn Mãnh viết theo tài liệu của Nhà nghiên cứu Hà Tiên Thầy Trương Minh Đạt. (xin mời thầy cô và các bạn tìm đọc quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên tập 2 » của thầy Trương Minh Đạt sẽ biết rỏ nhiều chi tiết hơn về những con đường của phố Hà Tiên)

Bổ túc: sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm về hai con đường nhỏ không có tên nhưng rất quen thuộc đối với những người Hà Tiên xưa:

Hai con đường không tên, cùng thẳng góc với đường Bạch Đằng và Tô Châu.

Sẳn bài của Trần Văn Mãnh viết về các con đường ở Hà Tiên xưa, mình xin góp vài phụ lục « ngoài lề » cho vui. Nói là phụ vì đây không phải công trình nghiên cứu, sưu tầm gì cả mà chỉ là nhận xét của một người con đất Hà sống ở thời đó. Chuyện là như vầy: Ở Hà Tiên thời đó có hai con đường ngắn nhất, cả hai đều không (chưa) có tên và trên hai con đường nầy tuyệt không có ngôi nhà dân cư nào cả. Các bạn có biết hai đường nầy không?
1/ Đường thứ nhứt là con đường từ Chi Thú Y ngày trước đâm thẳng ra Chi Bưu Điện, giới hạn giữa đường Bạch Đằng và đường Tô Châu. Hồi đó đường nầy chỉ là đường rải đá. Một bên là bên hông khu vườn nhà ông Ký Cuội, còn bên kia là khu đất trống trải, không có nhà, chỉ có vài cây dừa, một cây sứ cổ thụ và một sân bóng chuyền dã chiến của các anh hùng, hảo hán cầu thủ thuở đó của đất Hà Tiên (đội bóng nầy do đó được đặt tên là đội cây Sứ (hay bông Sứ). Theo trí nhớ của mình thì gồm các nhân vật sau (bây giờ chắc nhiều người đã vắng bóng): các Ông Năm Nghép, Sáu Lỹ, Tư Chuộn (cà phê Dũ Long), Ông NHUM (đồi mồi Lâm Văn Cao), Lê Minh (đồi mồi), hia Phón, anh Bún (con ông Tư Hiếm), Ông Bảy Kính, ông Đức Quang chụp hình, thỉnh thoảng có Ông Sáu Quang (ba của Trần Văn Hữu), Ông Âu Tư (bánh Kẹo), Vạn Ích Đường (thuốc bắc), anh Lô Sến, có lúc có Ông Điệp (ba Kim Hoàn cũng vô chơi)…Còn vài ông nữa nhưng mình quên tên rồi.
2/ Con đường thứ hai cũng là đường đất đá, không tráng nhựa, cũng giới hạn bởi đường Bạch Đằng và đường Tô Châu, nhưng chạy sát trước cửa đình Thần Thành Hoàng. Đường nầy chỉ duy nhất có ngôi đình một bên, còn bên kia là hông nhà ông Bái (ba của Tạ Em Sợi), xong tới khoảng trống trước cửa đình, xong tới hông dãy nhà kho 3 căn (của gia đình Ông Thái Dũ hay ai đó).
Hai con đường nầy ngày xưa chắc được xem là hẻm, vả lại không có nhà dân, nên chưa cần đặt tên, chưa kể nó quá ngắn. Luu ý thời đó chưa có mạng Internet nên nhà cửa cần có địa chỉ rỏ ràng để nhận thư từ gởi qua Bưu Điện.
Còn một vài điều thú vị về đường phố Hà Tiên xưa lúc nào vui mình kể tiếp.

                                                  (Trần Văn Dõng)

DinhThanThanhHoang_HaTien_TrungLyHuu_2018

Con đường trước đình Thần Thành Hoàng ngày nay đã được tráng xi măng. (Hinh: Trung Lý Hữu 2018)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, bên phải hình là đường Mạc Công Du, ta thấy một phần mái ngói của Trại Gia Binh (Thành 18) ngày xưa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1970.

Vị trí Thành Mười Tám sau khi bị san bằng để chuẩn bị xây dựng Quảng Trường Hà Tiên. Hinh: IvanQuach 2015

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham, Nguyễn Hữu Tâm

 

Nhà Hiến Binh xưa tại ngả tư đường Mạc Công Du – Mạc Cửu (Hà Tiên)

maccongdu_maccuu_hatien_hungcuongpcNhà Hiến Binh xưa tại ngả tư đường Mạc Công Du – Mạc Cửu (Hà Tiên)

Photo: HungCuongPC, Trần Văn Mãnh tổng hợp từ face book

Commentaires

Patrice Tran: Kỳ nầy cũng dể thôi,..quen thuộc lắm…:-)
J’aime · Répondre · 27 février, 20:07
Huu Tran
Huu Tran: Mình hỏng biết gọi là nhà gì, nhưng ngày xưa của mấy ông Hiến binh ở, còn gọi là ông cò mũ đỏ, kế bên là sân tennis
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 27 février, 20:37
Hien Lam
Hien Lam: Giống nhà phó quận HT ở?
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 27 février, 20:49
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Nhà của ông cảnh sát nhưng quên tên. Cách con đường nhà của Cô Điệp em chị Hà vợ thầy Núi.
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 27 février, 22:24
Lâm Lan
Lâm Lan: Đường hàng dương kế sân banh tennis có cây trâm mỗi tối đi qua rất là sợ ma. Ngôi nhà này trước 1975 gia đình các ông cảnh sát ở. Trong đó có 1 gia đình người bạn học cùng lớp với LL ở nơi này.
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 00:04
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Ngã tư đường Mạc Cửu & Mạc công Du.
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 00:04
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Nhà của Hoa Lâm ở trong đó
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 00:05
Hoa Nguyễn
Hoa Nguyễn: Ngôi nhà của mấy ông cò hiến binh ở trên đường hàng dương kế bên là sân tennis
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 00:12
Lâm Lan
Lâm Lan: Cảnh đẹp quá! Không khí trong lành. Xứ sở thần tiên .
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 00:30
Truong An Nhu
Truong An Nhu: Nhà này bây giờ là UB mặt trận, nay vừa bán cho Siêu thị chuẩn bị đập rồi Cô Chú ạ.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 00:38
Thái Nam Phong
Thái Nam Phong: Các anh chị nói đúng, kế bên nhà cô Điệp là dãy nhà 5 căn dành cho giáo viên ở như cô Hạnh vợ thầy Đa, thầy Thất, thầy Hùng, thầy Kim…hiện nay căn nhà trong hình là nơi làm việc của mặt trận tổ quốc Hà Tiên.
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 00:46
Jennie Huynh
Jennie Huynh: Căn nhà này thời Pháp thuộc là toà án, sau này HT không có toà nên để cho hiến binh ở và sau này cảnh sát ở, gia đình bạn chị LL là chú Ba Sanh cảnh sát.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 02:18
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Đúng rồi nhớ là chú Ba nhưng quên tên cám ơn chị Jennie
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 02:39
Patrice Tran
Patrice Tran: Đầu tiên mình xác định đúng là căn nhà trên đường Mạc Công Du, phía bên trái hình đi xuống là sân tennis có cây trâm. Nhưng mình nhớ còn dảy nhà hồi xưa có bảng nhỏ đề là « Học Đường Viên » có phải là dảy nầy không. Dảy HĐV là phía sau bên hông trường tiểu học, đầu dảy là nhà thầy Trịnh Học Ký GS thể dục ở, trong nhà có bàn thờ Phật rất trang nghiêm. Chiều nào thầy Ký cũng lội từ pháo đài dài xuống cầu bắc,..có một lúc có thầy Nguyễn Đức Sơn ở trọ nữa. Kế đó́ là nhà các thầy: thầy Thất, thầy Hùng ở. Thúy Vân đâu rồi kể lại cho các bạn nghe xem nhé..Dảy HĐV là nhìn qua bên nhà thương Nguyễn Thần Hiến đó.
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 08:14 · Modifié
Jennie Huynh
Jennie Huynh: Anh Mãnh dãy này nằm ngay góc đường còn dãy giáo viên ở là căn đầu tiên bên hông sát với hàng rào của dãy trường nữ căn đầu, hàng rào đó có cái cửa nhỏ dành riêng cho giáo viên đi, tức người ở đó qua trường tiểu học đi cổng đó không phải ra đường Mạc Công Du qua trường.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 07:47
Patrice Tran
Patrice Tran: Tóm lại là từ trường tiểu học đi xuống về phía chợ thì theo thứ tự là dảy Học Đường Viên rồi đụng đường Mạc Cữu, rồi là dảy hiến binh nầy rồi sân tennis….
J’aime · Répondre · 28 février, 08:15 · Modifié
Jennie Huynh
Jennie Huynh: Dạ đúng vậy anh Mãnh .
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 07:51
Patrice Tran
Patrice Tran: Lúc đầu anh không nhớ ra dảy nhà hiến binh nầy chỉ nhớ dảy Học Đường Viên thôi, …dảy nầy nhìn ra bên hông vườn nhà ông Ba Lón Tăng Kim Sơn…
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 07:55
Jennie Huynh
Jennie Huynh: Dạ phải đối diện với phía sau nhà ông Ba Lón vì miếng đất đó lớn.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 07:57
My Tú
My Tú: Vườn Ba Lón là nhà dượng hai của con, nay là như vậy đây củ Patrice Tran, giải toả mất rùi. Nhìn bên phải là nhà thầy Đạt, hii sẵn coi hình con luôn😛😛😛
Patrice Tran
Patrice Tran: Bên phải là quán Ti La đó …sẳn coi hình thì sẳn khen luôn nhé…My Tu xinh quá…..:-)
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 08:25 · Modifié
My Tú
My Tú: Patrice Tran haha con thanks củ😘
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:26.
Lâm Lan
Lâm Lan: Huynh trưởng! Theo thứ tự trên con đường hàng dương ( LL thích gọi biệt danh của con đường sợ ma): Trường tiểu học, khu nhà tập thể giáo viên, đường ao sen, khu nhà tập thể cảnh sát ở, sân banh tennis, căn nhà ông gì mua bán hàng biên giới, đến 1 căn phố liền kề có tiệm chụp hình Tô Châu (phải không hia Nhiều).
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:28 · Modifié
Jennie Huynh
Jennie Huynh: Chị Lan ơi! Nhà ông Kiều (là gia đình Dzũng Tran có trên fb này).
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 08:10
Hoa Nguyễn
Hoa Nguyễn: Phải rồi Lâm Lan từ sân tennis cặp mé đường là nhà ….( em nói đó) là tiệm chụp hình Tô Châu (của Hia Nhiều) liền kề nữa là tiệm uốn tóc Hương Xuân, rồi một vòng thành cách biệt là nhà Cô Vương Thị Lành của trường Trunghochatienxua của chúng mình đó em !
Je n’aime plus · Répondre · 3 · 28 février, 08:14
Patrice Tran
Patrice Tran: Nhà kế với sân tennis phía dưới đó có một lúc thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt có mướn ở nữa đó. Còn sân tennis có một lúc có rạp hát văn nghệ nữa đó. Sau sân tennis là trụ sở chi thể dục thể thao và ngó ra đường Đống Da…
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 08:18
Patrice Tran
Patrice Tran: Kế uốn tóc Hương Xuân là nhà của cô gì mình quên tên rồi là má nuôi của bạn Lê Văn Tấm bạn thân của Nguyễn Đình Nguyên đó…
J’aime · Répondre · 28 février, 08:22 · Modifié
Hoa Nguyễn
Hoa Nguyễn: À chị Hoa Nguyễn nhớ ra rồi, nhà của bà Hai Phán Lịch đó Patrice Tran
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:26
Patrice Tran
Patrice Tran: A đúng rồi Bà Phán Lịch…Đó chị Hoa và các bạn thấy không, một mình mình không nhớ hết nhưng tập thể thì mình làm sống lại cảnh cũ người xưa của Hà Tiên mình…bravo…
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 08:30
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Nhà Lâm Lan ở đâu nhỉ?
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:30
Lâm Lan: Nhà chế Lan của Hiến ở gần trường tiểu học phía trước là đường Mạc Thiên Tích. Phía sau là đường Đống Đa . Háaaaa. Tiểu đệ ơi đúng không? Bây giờ chế tiến về SG rui!

Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:37 · Modifié
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Ở Saigon er mấy?
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:41
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Er là cái gì hả? Hỏi anh Mãnh đi ảnh ở bên Pháp nên ảnh biết
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:44
Lâm Lan
Lâm Lan: Huynh trưởng! Cái ông bạn Dương Văn Hiến này hôm nay nói sai chủ đề rùi đó huynh. Phạt bạn đi huynh.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:51
Lâm Lan
Lâm Lan: Hiến nè er 12 đóa.
J’aime · Répondre · 28 février, 08:52
Patrice Tran
Patrice Tran: Hiếu hỏi Lâm Lan ở SG mà ở quận mấy đó… 🙂
J’aime · Répondre · 28 février, 08:52
Lâm Lan
Lâm Lan
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:53
Lâm Lan
Lâm Lan: Lâm Lan ở Quận 12
J’aime · Répondre · 28 février, 08:56
Hương Nguyễn
Hương Nguyễn: Dì ơi! Có phải má của dì ngày xưa bán xôi ngon nhất Hà Tiên không? Con nhớ hồi nhỏ bà ngoại con dặn mua xôi của bà chứ không được mua của ai khác, (thương hiệu xôi HT có lẻ xuất phát từ đây)
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 08:56
Lâm Lan
Lâm Lan: Đúng rồi đó Hương Nguyễn.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:58
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Má của Chế Lan có phải là Ý Ba không?
J’aime · Répondre · 1 · 28 février, 15:55
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Chế có bà con gì với Cô Mai không?
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 15:56
Lâm Lan
Lâm Lan: Chinh Trinh Chinh Trinh giới thiệu cho Lâm Lan biết bạn là ai?
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:11
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Em là cháu ngoại của tiệm Hiệp Lợi
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:17
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Nếu là người cố cựu đa số sẽ biết tiệm nhà em
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:23
Lâm Lan
Lâm Lan: Chinh Trinh ui! Trước 1975 Mẹ tui bán xôi ở chợ Hà Tiên. Mẹ tui thứ Ba. Tui có 2 chị em. Chị Hai tui là Lâm Ngọc Mai có thời gian dạy ở trường Trung Học Hà Tiên. Còn tiệm Hiệp Lợi ngày xưa thì biết. Còn Chinh Trinh thì Lâm Lan Không nhớ rồi. Cảm ơn em đã thăm hỏi chị.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:25
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Vậy chế Lan là chị của Tùng luôn phải không?
J’aime · Répondre · 28 février, 16:29
Lâm Lan
Lâm Lan: Chinh Trinh có chi không em? Chị không biết Tùng hiện ở Đâu.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:32
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Chế không biết em vì còn nhỏ tuổi hơn, tụi em cùng đợt với Thanh Thủy, Lệ Thủy, Bích Lâm, Nga Hồ v.. v.
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:36
Dương Van Hiếu
Dương Van Hiếu: Chinh Trinh, tôi là bạn của Huỳnh Mỹ Nam (học chung lớp ở Vĩnh Long). Nếu « hia Mến » có fb thì kết bạn với tôi nhé, tôi cũng người HT nè
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 16:41
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Hia Mến không có FB
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 17:09
Hương Nguyễn
Hương Nguyễn: Lâm Lan
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 08:57
Lam Dua
Lam Dua: Nhớ quê nhà quá…!
Je n’aime plus · Répondre · 2 · 28 février, 09:52
Sau Tang
Sau Tang: Khu đó ngày xưa là khu hiến binh, quân cảnh thời xa xưa, Sáu nhớ là mấy ông đội mũ màu đỏ, không phải lính nhảy dù đâu nhé, ngã 4 đối diện là nhà của cô ba Loáng, hình như anh Sơn Tăng gọi bằng cô, lùi lại phía sau là góc nhà cô giáo Điệp, vợ anh Ba Mẫn nay là Sư cô Diệu Bảo, đối diện góc bên là khu bv Nguyễn thần Hiến,
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 14:00
Sau Tang
Sau Tang: Em xin chỉnh sửa là cô giáo Điệp (cô giáo dạy lớp 5 cũng là cô giáo của Sáu Tăng)
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 28 février, 14:03
Thuan Ly
Thuan Ly: Đường Mạc Cửu và Mạc Công Du, đối diện vườn anh Sơn, ngang hông nhà cô Điệp, xuyên xuyên là bệnh viện là một thời là công sở Hiến binh….chắc là không lầm (sau lưng là nhà Hiếu Ly)….
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 1 mars, 07:45
Cao Huynh
Cao Huynh: Cám ơn anh Mảnh
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 1 mars, 08:00
Patrice Tran
Patrice Tran: Xin chú ý chú ý, cũng cảnh đường ngả tư Mạc Công Du – Mạc Cửu nầy nhưng vào những năm 60: Chú thích: Trên đường tan trường học về nhà, đường hàng dương tên là đường Mạc Công Du..Hà Tiên. Từ trái sang phải: Trần Văn Yến, phía xa: Lý Mạnh Thường, phía gần: Trần Văn Mãnh (đội nón), Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), phía gần: Nguyễn Văn Tài, ….Lúc đang học Trung Học Hà Tiên, những năm 60′..

J’aime · Répondre · 2 · il y a 23 heures
Chinh Trinh
Chinh Trinh: Cô nào chụp lén mấy anh vậy? 🙂
Je n’aime plus · Répondre · 1 · 14 h
Patrice Tran
Patrice Tran: Chắc hồi đó có « fans » ái mộ mà mình không hay biết đó Chinh Trinh ơi….. 🙂
J’aime · Répondre · 1 h
Dzung Tran: Nếu nhà đó của bà Phán Lịch là phía sau nhà Bà Kiều là má của Dzung Tran !
J’aime · Répondre · 19 h
Patrice Tran
Patrice Tran: Dzung Tran nhìn nhầm hình rồi, nhà Bà Phán Lịch là ở trên đường Chi Lăng gần tiệm chụp hình Tô Châu của Hia Nhiều không phải hình nầy,…
J’aime · Répondre · 1 h

Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan)

Thầy Cô và các bạn thân mến, thật là tình cờ và thú vị khi mình nhận được một tin nhắn của một đọc giả Blog THHTX của chúng ta, đó là tin của một em gái quê ở tỉnh Rạch Giá vì biết được tin buồn về Mạnh Thường và đồng thời cũng muốn hỏi thăm về đời sống hiện tại của bạn Hoàng Đức Trung…Khi đọc tin mình rất vui vì biết được nhờ có Blog THHTX mà từ từ các bạn có liên quan đến Trường Trung Học Hà Tiên đều thông qua Blog và tìm cách liên lạc lại với nhau. Trường hợp của bạn Bạch Loan cũng vậy,..Bạch Loan và gia đình có quen thân với bạn Lý Mạnh Thường và bạn Hoàng Đức Trung của chúng ta. Trường hợp quen với Mạnh Thường thì Thầy Cô và các bạn sẽ đọc bài viết đầy đủ dưới đây, trường hơp quen với Hoàng Đúc Trung thì có lời giãi thích của Bạch Loan như sau: « Anh Trung đi lính khóa 3/1972 sĩ quan Thủ Đức, đổi xuống quận Kiên-An, Kiên-Giang (quê nội của BL) và quen biết từ đó, anh Trung thường gọi BL là bé Loan, lần sau cùng gặp anh Trung là năm 1974, anh Trung ghé qua nhà BL ở Rạch-Giá. BL biết anh Trung qua Mỹ bình an cũng được rồi ». Qua bài viết về những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường do Bạch Loan nhớ lại và kể ra, chúng ta sẽ thấy nhớ rất nhiều về mảnh đất Hà Tiên với những ngôi chùa quen thuộc và các thắng cảnh không thể bỏ qua mà không thăm viếng đối với một du khách,..Bạch Loan có kể những lần đến chơi nhà bạn Mạnh Thường và có gặp ngay ban nhạc đang tập dợt nhạc và nhân tiện có cho Bạch Loan thưởng thức vài bài nhạc,…chắc là lúc đó có mình trong nhóm vì mình là tay đàn guitar cho nhóm, chắc đang đàn cho các bạn trong nhóm ca,..rất tiếc là mình không còn nhớ ra có gặp Bạch Loan lúc xưa hay không?? Thôi nếu đã là duyên thì trước sau cũng có hội ngộ, nay thì đã gặp lại đó tuy chỉ gặp trên Blog THHTX cũng là rất vui và rất cảm xúc…Thầy Cô và các bạn đọc bài của Bạch Loan viết và xem hình xem có bạn nào đã biết Bạch Loan từ xưa không nhé,…!!                                                                          (Trần Văn Mãnh)

Những kỷ niệm về anh Lý Mạnh Thường

loan_1973_ha_tienTác giả: Cái Thị Bạch Loan chụp trước bãi biển Mũi Nai Hà Tiên năm 1973

Gia đình tôi quen biết anh Lý Mạnh Thường qua người chị Hai. Năm 1967, chị hai tôi đi Hà Tiên chơi và ở chùa Tam Bảo vì có người bà con là cô Tư Thọ, một thành viên trong ban quản trị của chùa. Chị hai tôi gặp và làm quen với anh Thường và anh Ngọc (Nguyễn Văn Ngọc?) ở tại chùa. Anh Thường và anh Ngọc nhỏ hơn chị hai tôi vài tuổi nên cũng gọi bà chị của tôi là chị hai. Thấy chị em tâm đầu ý hợp nên hai anh tình nguyện làm người hướng dẫn cho chị hai tôi đi thăm những thắng cảnh của Hà Tiên. Nhớ lời anh Thường kể lại là mấy chị em rủ nhau đi qua biên giới Việt-Campuchia chơi. Vì mãi mê đi coi hàng hóa bên đó mà quên giờ biên giới Việt–Campuchia đóng cửa nên khi về tới biên giới thì họ nói đã đóng cửa không còn cho ai qua lại, làm mấy chị em rất là lo lắng. Thời may nhờ chị hai tôi biết vài câu tiếng Khmer, không biết chị năn nỉ với mấy ông lính Khmer thế nào mà cuối cùng rồi mấy chị em cũng được trở về nhà. Thiệt là hú hồn, hú vía, may mà đã thoát nạn!.

Vài tháng sau, anh Thường qua Rạch-Giá tìm đến nhà tôi. Chị hai tôi giới thiệu anh Thường cho cả nhà và  chị em tôi đón nhận anh Thường như người anh em trong nhà. Từ đó cho đến năm 1975, mỗi lần xuống Rạch-Giá là anh Thường ghé lại nhà tôi ở trọ 1 vài ngày. Tính tình anh Thường vui vẻ, hiền hòa, anh hát và ngâm thơ rất hay. Mỗi lần anh Thường tới nhà là chị em tôi hay có chương trình nhạc yêu cầu với anh Thường. Tôi rất thích anh thường ngâm bài thơ “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” của thi sĩ Kiên-Giạng. Thỉnh thoảng anh Thường mua những món quà làm bằng đồi mồi, đặc biệt của xứ Hà Tiên như kẹp hay vòng đeo tay tặng cho mấy chị em tôi. Tới bây giờ tôi vẫn còn giữ chiếc vòng đồi mồi của anh Thường trao tăng.

Tháng 8, năm 1973, tôi theo phái đoàn chùa Tịnh Xá Ngọc Sơn đi Kiên Lương và Hà Tiên chơi, nhờ dịp nầy tôi mới biết được hòn Chông, chùa Hang, hòn Phụ Tử ở Kiên-Lương. Sau đó qua Hà Tiên đi núi Đá Dựng, Thạch Động, chùa Phù Dung, lăng Mạc Cữu và qua biên giới Việt-Campuchia nữa. Tối thì về chùa Tam Bảo, Hà Tiên tá túc. Tôi không còn nhớ liên lạc với anh Thường bằng cách nào, chỉ nhớ là anh Thường đến đón tôi từ chùa Tam Bảo tới nhà của anh ở số 1 đường Mạc Công Du. Lúc đó trời cũng về chiều, đến nhà chào Ba Má của anh Thường xong, anh giới thiệu tôi với vài người bạn của anh đang quanh quẩn trước hiên nhà. Hình như ở đâu có anh Thường là ở đó có đờn ca; các anh cho tôi thưởng thức vài màn văn nghệ rồi đưa tôi đi ăn yogurt ở quán Ti-La. Mấy anh em vui vẻ trò chuyện xong, anh Thường đưa tôi trở lại chùa Tam Bảo. Một chuyến đi chơi với nhiều kỷ niệm.

Anh Thường đi học ở viện đại học Hòa Hảo, Long Xuyên. Khoảng tháng Tư, năm 1974  anh cùng các sinh viên của trường đại học Hòa Hảo qua trường trung học Nguyễn Trung Trực, Kiên-Giang tổ chức buổi văn nghệ, hát và quảng cáo cho trường đại học Hòa Hảo. Tôi rủ mấy đứa bạn đi coi và khoe với bạn bè là có ông anh của tôi hát hay lắm. Hôm đó anh Thường trình diễn bài “Lý quạ kêu”, cả hội trường tán thưởng nhiệt liệt.

Chân dung Lý Mạnh Thường vào năm 1968 (bức ảnh tặng Trần Văn Mãnh)LyManhThuong_1968

Sau 1975, gia đình tôi và anh Thường không còn gặp nhau nữa, vì gia đình tôi lần lần di tản qua Mỹ. Bận lo miếng cơm manh áo ở xứ lạ quê người, đành gác lại mọi chuyện về kỷ niệm ở VN qua một bên, mặc dù tâm tư tôi vẫn luôn ấp ủ những hình bóng quê nhà. Chỉ cần một cơn mưa dầm hay một buỗi nắng trưa hè cũng làm xao xuyến lòng tôi . Đầu năm 2015, một người bạn của tôi cho hay sẽ về VN ăn tết. Biết bạn có người thân ở Hà Tiên nên tôi cho địa chỉ và nhờ tìm dùm anh Lý Mạnh Thường. Ít hôm sau bạn tôi cho biết là anh Thường đã qua đời vì bạo bệnh. Ôi, thật tiếc thương cho ông anh vắn số! Tôi buồn ngẩn ngơ rồi lang thang vào internet để tìm coi có ai viết gì về anh Thường. May mắn thay, trang website “Trung Học Hà Tiên Xưa” có anh Trần Văn Mãnh viết rất đầLyManhThuong_ay đủ về anh Thường.

Trong niềm luyến tiếc, tôi xin viết ra bao kỷ niệm để tưởng nhớ đến anh Thường. Nguyện cầu cho linh hồn anh Thường luôn được bình an nơi cõi vĩnh hằng.

 Xin kính chào vĩnh Biệt !

 Bạch-Loan  (Virginia, Mỹ)

ha-tien-chua-tam-bao

Ngôi chùa mang tên « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » (Hà Tiên)

DSC_0021Ngôi nhà của bạn Lý Mạnh Thường, nơi xem như trung tâm văn nghệ thường xuyên có nhóm bạn tập dợt ca hát trong những năm ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » hoạt động mạnh.

Tái bút của Bạch Loan sau khi đọc bài viết trên:

Bạch Loan đã thấy anh Mãnh post bài viết của Bạch Loan vào Blog THHTX rồi, chắc không có ai biết Bạch Loan ngoại trừ anh Trung. Bạch Loan nhớ ra còn có quen với anh Huỳnh Văn Bé là em của anh Huỳnh Văn Quang, anh Bé qua Rạch-Giá đi học trường Nguyễn Trung Trực cùng lớp với người chị thứ 5 của Bạch Loan, thỉnh thoảng anh Bé có đến nhà Bạch Loan chơi. Bây giờ anh Quang và anh Bé đang ở California, anh Quang có tiệm Bakery (tiệm bánh mì).

Lúc qua Hà Tiên, anh Thường có đưa Bạch Loan tới nhà của Dì Tư, gặp anh Lý Tòng Hiếu 1 lần, chắc anh Hiếu không còn nhớ Bạch Loan đâu. Tuổi đời giờ xế bóng, hồi tưởng lại những kỷ niệm xưa cũng vui vui …(CTBL)

hvb_lth

 Bạch Loan chú thích tên của Lý Tòng Hiếu và Huỳnh Văn Bé trong hình

Hình ảnh: Cái Thị Bạch Loan, Trần Văn Mãnh, Ngoc Doly, Võ Kim Loan, Hoàng Phương (Internet)