Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn đi học ở các lớp của bậc Trung Học (Hà Tiên), mình thường thích những giờ văn với những lời giảng bài rất lôi cuốn của quý thầy cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Trương Minh Hiển,…Thời đó môn văn được xếp thành hai loại: Kim văn và Cổ văn. Kim văn là văn xuôi còn Cổ văn là văn có vần điệu, là thơ…Trong các bài học về văn xuôi và các tác giả, thường có nhắc đến các tác giả tiên phong trong phong trào văn hiện thực như nhà văn Ngô Tất Tố với tác phẩm « Tất Đèn », trong đó nhân vật chính là Chị Dậu và cái câu văn điển hình mô tả chị Dậu: « Chị Dậu là người đàn bà có cái nhan sắc của người đàn ông không đẹp trai… », câu văn mà thời đó trong giới học sinh mình ai cũng thích và thường đem ra dùng để nhắc đến hay để trêu ghẹo ai đó…!! Khi nhận được bài mới của tác giả Quang Nguyên, một cậy bút rất quen thuộc và rất được yêu chuộng trong giới đọc giả của « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », đọc bài xong mình không thể không nhớ đến thể loại văn xuôi tiền chiến hiện thực như kiểu Ngô Tất Tố kể trên,….Thật vậy, bạn Quang Nguyên đã mô tả một người anh, người bạn học cùng trường, người « đồng nghiệp » trong phong trào kéo nước ở Hà Tiên sau những năm cuối thập niên 70, bạn đã mô tả anh Hồ Hải (Lê Phước Hải) một cách rất hiện thực, rất chân chính,…Chỉ cần đọc bài văn dưới đây của Quang Nguyên, ta cũng đủ thấy và nhớ lại cái khung cảnh tuy không kém phần « bi đát » nhưng cũng đượm đầy tình bằng hữu và tính quan niệm sống rất triết lý của thời đó…Dù trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn, nhưng các bạn vẫn lạc quan, chấp nhận sự phấn đấu hằng ngày và không nản chí hay buông thả…Văn viết của Quang Nguyên chuyên chở một tính chất của loại văn « hiện thực xưa » tuy tác giả lại là một anh chàng còn rất trẻ và rất yêu đời…Có đọc qua những đoạn mô tả cảnh sống và liên hệ bằng hữu hằng ngày  đi kéo nước ở Ao Sen Hà Tiên, ta mới thấy tính chất hiện thực của văn Quang Nguyên, và không thể không nhớ đến loại văn xuôi thời tiền chiến mà chúng ta có dịp học qua thời Trung Học,…Bài văn mô tả một con người yêu tự do, sống phóng khoáng và tinh thần hiện thực của Hồ Hải qua cây bút của Quang Nguyên cho ta thấy rỏ cái triết lý sống của Hồ Hải, sống cho từng giây từng phút trong cuộc đời, sống cho chung quanh và sống cho chính mình…Hồ Hải đã tận hưởng được cái tự do của khoảnh khắc đáng giá trong cuộc sống, giống như câu thơ của chính Hồ Hải nói về mình trong bài thơ « Mãi mãi như nhiên »:

Ta lữ khách đã ngàn năm sinh tử
Chợt lặng người. Tỉnh giấc vổ tay cười.
Kiếp làm chồng thế gian sao vất vả.
Hạnh phúc nào hơn, trốn vợ rong chơi.

Con người vốn đã có chất lãng tử, nghệ sĩ và yêu giang hồ như bạn Hồ Hải rồi thì dù cho có quyết định dừng chân, gởi tâm cho cỏi Phật Đường thì cũng không làm sao chống chỏi được cái « ta »…, cái « tâm » vốn nhạy bén và dể xúc động trước nét đẹp của một người con gái tín nữ nào đó một hôm đến viếng chùa,…Cho nên Hồ Hải đã phải trở lại với cuộc sống, trở lại với cái thế gian dù khắc nghiệt, khó khăn đối với anh, nhưng đó mới chính là môi trường và không gian của anh,.., của Hồ Hải…

Bản thân mình ngày xưa qua phong trào chơi nhạc với các bạn thời Trung Học, mình có quá nhiều kỷ niệm với Hồ Hải, dù cho học khác lớp nhưng đã có quá nhiều liên hệ và đối tác với Hồ Hải,…Mình vẫn thường nhớ Hồ Hải thường nói một câu nầy trong những giờ dợt nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường hay những lần đến Chi Thông Tin quận Hà Tiên để hát trực tiếp và phát thanh ra khắp chợ Hà Tiên qua những cái loa kiểu xưa treo đầy các cột đèn đường… »Cho mình hát một bài trước đi để còn về kịp bắt heo nữa…!! » . Có một lần sau khi mình đã định cư ở Pháp, lần đầu tiên trở về Việt Nam thăm gia đình tại Hà Tiên (1994), xe vừa mới đến nhà tại đường Bạch Đằng Hà Tiên thì Hồ Hải đã nghe tin và đã đến nhà mình chờ đón, và Hồ Hải đã rủ ngay đứa con trai mới 13, 14 tuổi của mình (tên là Trần Nguyễn Tường Linh…) lên ngay chiếc xe Honda dame của Hải và anh ta chở Tường Linh chạy tuốt ra chơi phía Thạch Động, biên giới….Có nhiều lúc nghĩ lại cũng phải hú hồn vì không biết đi chơi xa như vậy có an lành không nữa…

Có một điều mình vẫn còn tiếc nuối và cũng hơi buồn là lần cuối về Hà Tiên (06/2012), mình không kịp gặp lại Hồ Hải, vì có một hôm Hồ Hải và Nguyễn Đình Nguyên chờ mình suốt buổi chiều tại quán cà phê trước Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa) trong khi đó thì mình và bà xả thì lại ngồi ở quán cà phê nỗi Thủy Tiên trên bờ sông Giang Thành trước trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa…Vấn đề là vì không nói rỏ điểm hẹn ….Từ đó đến nay không còn dịp gặp lại Hồ Hải nữa…!!  (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với người vợ quá cố…

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

(Để tưởng nhớ đến anh – một người đặc biệt)

Tôi quen anh cũng đã lâu lắm, dễ cũng đã có hơn bốn mươi năm trước, ở cái thời mà xã hội chúng ta có những vấn đề vô cùng lạ kỳ và đối nghịch nhau một cách vô lý trong đời sống diễn ra hàng ngày chung quanh… Còn nhớ dạo ấy Hà Tiên có một “đạo quân” mà độ “đậm đặc” của chất xám, của trí tuệ, của tri thức, của kiến thức, của chuyên môn v..v… co cụm trong một tập thể vài ba mươi người mà trong đó có các kỹ sư, vài ông giáo sư đáng kính, chuyên viên kỹ thuật, và các sĩ quan chuyên nghiệp … Họ đang hành nghề … kéo nước mướn, và Hồ Hải (anh tên thật là Lê Phước Hải, anh của bạn Lê Phước Dương, nhà ở khúc trên đường Lam Sơn quẹo phải)  là một người trong số đó.

Hà Tiên chúng ta có cái nghề xe nước này kể ra cũng là một điều đặc biệt, tôi không biết rằng nghề này đã có bao lâu? Có lẽ cũng đã lâu lắm vì các ao nước ngọt đã có từ xưa và phải có người và phương tiện mang đến từng hộ cho cư dân Hà Tiên chứ? Mà kể cũng lạ, từ lúc xã hội loài người có phương thức trao đổi hàng hoá bằng hiện vật hay hiện kim thì người ta mặc định đó là hành động mua và bán, kẻ mua cái mình cần và người bán cho họ cái họ cần. Việc đem nước cho các hộ cần và nhận tiền thù lao cho công việc ấy  từ bao đời của ngươi Hà Tiên được mặc định bằng hai từ “đổi nước”, họ đổi nước để lấy tiền và đổi tiền lấy nước chứ không có chuyện “bán nước” và “mua nước”! Đó chẳng phải là một thái độ rất nhân văn, một tình yêu tổ quốc chân thành, một sự cẩn trọng về ngôn từ… xuất phát từ tim óc của các bậc tiền nhân nghèo khổ vốn luôn trao đổi lao lực để mưu sinh của người Hà Tiên chúng ta đó sao?

Ắt hẳn những người xe nước ấy đã rất yêu nước, kể cả những người trong “đội quân” đổi nước mà tôi đang nói nơi đây.

Đành rằng nghề nào cũng quý, nhưng ngày đó thật sự là một sự lãng phí trí tuệ thật là to lớn, đó không là sự lựa chọn nghề nghiệp của những con người đã kinh qua trường lớp khoa bảng, mà là vì sự áp đặt ý chí của thời cuộc…  Tuy nhiên đó là câu chuyện lịch sử và hãy để lịch sử phán xét, dù vậy cũng phải nhắc đến đây đôi chút để chúng ta không quên quá khứ, bởi “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng … đại bác”!

… Dạo ấy chúng tôi còn rất nhỏ, nhưng được cái thân thể to lớn mà tạo hóa đã vụng về: gắn đầu óc trẻ thơ chung với bộ cơ lực sĩ (!), chính vì vậy chúng tôi có thể kham đươc những công việc nặng nhọc thay thế cha tôi hành nghề xe nước vì ông mau xuống sức bởi thời gian ông đi “học tập”. Hàng ngày đạo quân ấy hay tụ tập tại quán cà phê bác Sáu Lượm ở đầu ao sen bìa dưới. Chúng tôi, kể cả các chú các anh trí tuệ sáng ngời nhưng sinh lầm thế kỷ , họ tụ tập nhau lại điểm hẹn này không nhằm mục đích gì cả, chỉ là hỏi thăm nhau sáng giờ được mấy xe, nhà nào mà mình xách nước vào cực nhọc vì phải lên lầu, hay lối đi nhỏ hẹp, hoặc có khi là sang mối cho nhau hay giúp nhau vài xe nước hôm nay…  Cũng có khi  đơn giản chỉ là thưởng thức ly « xây chừng » nóng của bác Sáu Lượm với cái hương vị cục đường thật ngọt vì lao động mệt nhọc, hay chỉ là nói những câu chuyện không đâu kiểu “đầu Ngô mình Sở” (!).

Cũng như mọi người, Hồ Hải cũng ghé đây hàng ngày vì nhà anh ấy gần đó, anh ngồi vào ghế, bỏ một bên dép và rút một chân lên chiếc ghế đẩu đã không còn mặt bằng bởi cái mông mỏng lét của anh đã chiếm hết, nhưng chỉ cần một động tác thì xuất hiện một chỗ hỗng giữa hai đùi, dù chỉ đủ để lọt một cái bánh cam là anh ấy đã nhét được gót chân mình vào, xong cái tư thế ấy là anh bắt đầu “mở máy”, phải nói anh rất thích nói, và có sức cuốn hút bởi anh có thể huyên thuyên nhiều đề tài… Thoạt đầu chúng tôi gọi anh Hải bằng “chú” nhưng anh bảo rằng “tụi mày đừng làm tao già!”, và anh ấy nhất mực buộc chúng tôi gọi bằng anh. Ừ thì anh, nhưng bên tai tôi nghe cụ Galileo nói nhỏ mà rõ mồn một rằng:  “dù sao thì trái đất vẫn quay!”.

Ở đâu có Hồ Hải là ở đó có tiếng cười, anh thường xuất hiện sau khi tiếng cười ha hả và giọng nói oang oang đã đến tai ta hàng giờ! Nụ cười của anh làm rung bần bật bộ râu kiểu ông Nguyễn Cao Kỳ, và hai hàm răng to khỏe ám nâu khói thuốc lộ ra để hạn chế tối đa cái mức độ hấp dẫn, nhưng cho dù vậy thì kiểu gì nụ cười ấy cũng tỏa đầy nắng bởi nó rạng rỡ trên cả gương mặt với mắt mũi miệng đều kéo hết cỡ V-line!

Có một buổi trưa tôi vào quán bác Sáu kêu một ly tài chừng, quán trưa vắng khách, thấy anh Hồ Hải ngồi một mình mắt nhìn xa xăm tư lự, không giống kiểu của anh hàng ngày, tôi hỏi:

              – Có gì mà buồn vậy anh Hải?

              – Tao nhớ Sài Gòn!

              – Giờ đi khó khăn lắm, phải có giấy đi đường, có người không được ra khỏi Hà Tiên vì bị quản chế, xe cộ thì không có mà phải đi xe chuyền rất nhiều chuyến nữa đó.

              – Ừ!..hmm

Rồi như bừng tỉnh, đôt nhiên mắt anh ánh lên và tỉnh táo sảng khoái không như trước đó vài giây.

              – Nè Bé, có bao giờ mày thử chơi “ken” chưa?

              – Là cái gì?

              – Hmm..! Vậy là mày không biết gì rồi, là một loại ma túy đó Bé.

              – Hơ! Em còn nhỏ lắm mà, dính thứ đó ba em “giết” chết!

Rồi mắt anh lại nhìn xa mơ màng…

–              Tao nhớ cái cảm giác đó… Sài Gòn, vũ trường, thuốc, mấy em gái nhảy… Hồi đó tao buồn chuyện riêng, mấy thằng bạn rủ chơi, anh cũng thử. Mà hay thiệt nhe Bé, anh hết cảm giác buồn, thấy mọi cái phiền phức chung quanh như vô nghĩa, kể cả cái chết cũng vậy luôn, tao đã lên đến tầng thượng thứ mười mấy, định bay xuống phứt cho rồi, cảm giác bay nó cứ thôi thúc anh…

              – Ừ, hồi đó anh mà nhảy xuống có khi giờ đỡ cực! – Tôi nói ghẹo Hồ Hải.

              – Ừ, tao kịp nghĩ tới gia đình, tới má anh! – Nói chuyện, anh hay xưng anh và tao lộn xộn.

Kể cũng lạ, bỗng dưng anh lại tâm sự chuyện ‘người lớn” cho thằng con nít mười ba mười bốn tuổi như tôi, trưa ngày ấy chắc anh có nhiều tâm sự lắm…

Anh là một người lạc quan trong mọi hoàn cảnh, Hồ Hải thường tự hào với chiếc xe cây tự chế của mình, có thể nói chiếc xe của anh “quái” nhất trong “binh đoàn xe nước” vì sự khác biệt của nó. Thông thường chiếc thùng phuy chứa nước được đặt nằm dọc gọn gàng trong thùng chiếc xe cây, để chống lại việc cái phuy bị xoay người ta đóng một cái đế cho nó, và cái đế được thiết kế vừa vặn với sàn xe, hai bên thùng xe còn khoảng hở mỗi bên khoảng năm centi-mét để cột dây cố định, có nghĩa thùng xe phải vừa đủ to để đế và phuy nằm gọn, khi có nước đầy thì chính vị trí có khối lượng của nó làm cân bằng xe, chống được việc lắc theo phương ngang và như vậy nước sẽ không bị sóng sánh thoát đi… Chiếc xe của Hồ Hải thì khác, anh ấy giảm thiểu tối đa số cây gỗ có trên chiếc xe của mình khiến nó trần trụi như bộ xương hóa thạch trong bảo tàng, anh cho rằng xe càng nhẹ thì tổng trọng lượng mà anh phải kéo nó sẽ nhẹ hơn các xe khác vì thế xe anh không cần bộ khung chân đế cho phuy nước, thay vào đó anh biến cả chiếc xe là một bộ khung luôn, có nghĩa xe anh là xe nước “chuyên nghiệp” không làm việc gì khác ngoài việc xe nước, bỏ cái phuy ra là không có thùng xe và sàn xe để chở thứ khác, và hơn thế nữa xe của Hồ Hải nhỏ xíu, “trục láp” thì ngắn và cái thùng phuy nằm khơi khơi chơi vơi trên cao, được mỗi điều là xe rất nhẹ…

              – Ê Bé! Anh có thể kéo một tay nè, đã chưa?

              – Hahaha… đường ổ gà thì anh biết!

Quang cảnh « binh đoàn xe nước » với các chiếc xe cây và thùng phuy đặc trưng của Hà Tiên

Và quả thật, mùa cao điểm đường sá chung quanh các ao trở nên hư hỏng trầm trọng vì đội quân xe nước, để cho nhanh kịp cho mối nước đang hối… Phuy nước có 210 lít, nên về mặt lý thuyết thì năm đôi rưỡi thùng loại 20 lít là đầy, mà chưa bao giờ được thế, muốn đầy phuy phải sáu đôi hoặc sáu đôi rưỡi, các anh em cứ một thùng đổ vào xe thì hết một phần thùng ra ngoài làm cho đường sá chung quanh càng lầy lội, hậu quả là xe càng lắc lư và đường càng hư thêm… Những lúc đó trông Hồ Hải rất tội nghiệp, vì tấm thân “cò ma” của anh ấy cứ phải vặn mình kênh chịu hơn hai trăm kilô-gam đang đong đưa giục giặc theo phương ngang trên chiếc xe đang đi tới, khiến mấy cây ba sườn bén như những cây dao găm gắn vội vàng trên cái “bo đì” mỏng dính lộ ra mồn một trong chiếc áo ướt đẫm dính sát vào người, hai con chuột nhắt bé xíu trên hai tay cứ nhảy lên nhảy xuống vì anh cố kìm chiếc xe đang dao động như quả lắc đồng hồ, còn khi ấy chiếc thùng phuy thì do chơi vơi nên chao đảo văng nước tóe tung ướt cả người anh ấy… Mọi người ghẹo rằng:

              – Hồ Hải! Ra tới chợ xe ông còn nửa phuy!

              – Ha..ha..ha… Vậy càng tốt, nhẹ cho tui mà thu tiền thì cũng như mấy ông!

Lạc quan đến thế là cùng.

… Rồi thời gian sau không thấy anh ấy kéo xe nước nữa, chắc tại cái tính bỡn cợt và “nửa phuy tính tiền một phuy” nên anh ấy mất hết mối chăng? Tôi không biết! Cho đến sau năm 1982 khi tôi không còn đi xe nước nữa vì đi học xa nhà, những kỳ nghỉ hè về Hà Tiên thì thấy Hồ Hải đứng trên sân khấu ca nhạc của địa phương, vẫn là Hồ Hải với bộ râu đặc trưng nhưng thay vì cái áo đẫm mồ hôi và nước cùng chiếc quần cộc, đôi chân mang dép lê đầy bùn đất mà là sừng sững trên ấy là một Hồ Hải trong bộ vó rất “bảnh” mang giầy Tây, áo sơ mi tinh tươm… Thay Hồ Hải rổn rảng cười nói là một Hồ Hải có chất giọng « dramatic baritone » nam trung, là giọng nam khỏe khoắn đầy đặn, đầy uy lực và có khả năng “vượt quãng tám”, anh hát rất to và đặc biệt thích những bài hát có âm vực cao để anh có thể phô bày chất giọng của mình…

Tôi đã không có dịp gặp anh từ sau dạo xe nước, nhưng tôi vẫn quan tâm đến anh vì sự đặc biệt của anh, đó là một người luôn lạc quan và không có gì làm cho anh ấy mất vui, ngay cả ánh đèn sáng bưng của sân khấu cũng không thể dập tắt được nụ cười tràn ánh sáng với các cơ mặt bung ra khiến mắt mũi miệng đều bị kéo hết cỡ của Hồ Hải, có điều đứng xa sân khấu quá tôi không thấy được hàm răng to khỏe của anh có còn ám nâu khói thuốc?

Rồi một ngày khác khi tôi đã không còn ở Hà Tiên mà lưu lạc mưu sinh xứ khác, tôi nghe người ta đồn rằng anh …xuống tóc quy y! Trời ạ. Hồ Hải mà đi tu là điều tôi không thể tin được vì anh ấy rất ư là người!  Anh ấy là dạng người luôn sống hết mình trong từng ngày mình có…

Rồi lại không lâu sau đó tôi nghe rằng anh bị thầy quở mà trả về đời, mô Phật! Đó mới thật là Hồ Hải mà tôi đã từng biết! Lý do cũng rất là ‘Hồ Hải’ – tâm dao động khi nhìn thấy các thiện nữ đến chùa! Bởi cuộc đời anh bị “ám” từ cái tên mà tự anh đã chọn cho riêng mình, mà khi nghe đến ta đã thấy một khát vọng tự do, một cuộc đời không dễ gì ràng buộc – Hồ Hải.

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nét nhìn  vào một không gian trống vắng, vô tận,….

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nụ cười vô tư giữa dòng đời cuộc sống hằng ngày

Người ta thường viết về một người bởi người đó tài năng, người đó nổi tiếng, hay người có nhiều cống hiến, hoặc vĩ nhân… Nhưng tôi viết dành cho Hồ Hải vì anh là một người rất bình thường, bình thường hơn những người bình thường khác, có thể anh đã có một cuộc sống quá đổi tự do để làm phiền muộn bao người thân thuộc, nhưng trên hết anh đáng yêu, anh đáng được nhắc nhớ vì anh khác biệt, một sự đặc biệt của riêng mình, anh sống trong lòng những người đã biết và nhớ về anh – Hồ Hải.

Và tôi luôn nhớ anh với giọng hát to cao vang vọng cả Bình San dạo ấy: “Khi người yêu tôi …tắm, tôi xe nước thấy mồ!”.

Cũng phải thôi, vì khi đến nhà cô nào ấy, xe anh chắc chỉ còn một vài đôi nước trong phuy, còn anh thì đã tắm hết phần nước của cô ấy suốt dọc đường!

Xin phép anh để tôi được viết về Hồ Hải ở đây, cầu mong hương hồn anh thanh thản vì anh đã sống để mọi người đã không quên anh, trong đó có tôi – thằng nhóc ngày xưa hay ngồi giải lao nghe anh bàn chuyện phiếm giữa những trưa nắng trong quán cà phê bác Sáu Lượm một thời…

12/2018

Tác giả Quang Nguyên.

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Trương Minh Quang Nguyên, sưu tầm.

Chú thích: Bạn Lê Phước Hải là anh của Lê Phước Dương, Hải học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…v..v…(vào lớp đệ thất niên khóa 1965-1966). Khi bạn Hải tham gia chơi văn nghệ với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương », bạn Lê Phước Hải lấy hiệu là Hồ Hải, một phần để nhớ đến người đàn anh ngày xưa từng học ở Trung Học Hà Tiên và chơi đàn guitare rất hay đó là anh Nguyễn Hồ Hải, anh lấy hiệu là Hồ Hải, thời anh Nguyễn Hồ Hải chơi nhạc là những năm 1961 – 1694…

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, bên phải hình là đường Mạc Công Du, ta thấy một phần mái ngói của Trại Gia Binh (Thành 18) ngày xưa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1970.

Vị trí Thành Mười Tám sau khi bị san bằng để chuẩn bị xây dựng Quảng Trường Hà Tiên. Hinh: IvanQuach 2015

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham, Nguyễn Hữu Tâm