Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu

 

 

Publicités

Ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên chúng ta đã có một bài do bạn Trương Thanh Hùng viết tựa bài là: »Về một câu đối », bài được xếp trong mục « Hình ảnh sinh hoạt nay » và do Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/02/20/ve-mot-cau-doi-truong-thanh-hung/

Hôm nay nhân dịp có một số hình về trường lớp do bạn Nguyễn Hữu Tâm cho lên trang fb nên mình sẽ gom góp các hình ảnh ngày xưa về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên nầy lại, để có được một bài giới thiệu về ngôi trường nầy, mình cũng giới thiệu lại bài viết mở đầu để thầy cô và các bạn đọc lại và nhớ các kỷ niệm mà chúng ta học sinh Tiểu Học Hà Tiên ai cũng đã từng sống qua…

Thực ra Trường Tiểu Học Hà Tiên được cất lên từ thời rất xa xưa (khoảng trước năm 1869). Sau đó khi người Pháp trở lại chiếm đóng Hà Tiên, vì chiến tranh các dinh thự công ốc đều bị tiêu hủy. Vào khoảng các năm 1947 – 1948 Trường Tiểu Học Hà Tiên được tái thiết lại, cổng chính quay ra đường Mạc Công Du (trong khi trước đó trường xưa thì cổng chính quay ra đường Đống Đa, theo tài liệu « Nghiên Cứu Hà Tiên do thầy Trương Minh Đạt viết). Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Đang làm lễ trong trường mà người dân tình cờ đi ngang trường là tự đứng lại, nếu có đội nón thì giở nón ra chào, khi hát hết Quốc ca thì mới tiếp tục đi , rất trang trọng. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(mời xem bài bạn Hùng viết…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu Học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào do anh Cù Mính con ông Tòng Sen bán, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối » vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là Mãnh, ai là Dõng, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Ngày xưa mình và anh Trần Văn Dõng vì là hai anh em sinh đôi, cùng ngày, tháng và năm sanh nên đều đi học chung một lớp suốt cả quá trình học Trường Tiểu học Hà Tiên. Ngay xưa hai anh em mình học rất sớm, ngay 6 tuổi đã vào lớp năm (còn gọi là lớp « chót » hay nghiêm trang hơn gọi là lớp vỡ lòng). Tuy nhiên lúc đó vì mới lần đầu tiên « bị bắt » đi học nên mình rất sợ đi học, việc nhập học của mình rất khó khăn (ngày xưa không có lớp mẫu giáo nên khi đi học là vào thẳng lớp vỡ lòng ngay). Những ngày đầu tiên bị nhà bắt phải đi học, mình thường hay trốn học, có lúc đã vào lớp rồi nhưng lại trốn, nhảy cữa sổ lớp ra ngoài chạy bộ về nhà, mình còn nhớ có hôm nhà nhờ anh Lê Quang Chánh (anh bà con bạn dì ruột với mình), anh Chánh chở mình bằng xe đạp để đưa đến trường, gần tới trường, đang ngồi phía sau yên xe đạp, mình bổng phóng khỏi xe và chạy ngược về không chịu vào trường học,…Bây giờ nghĩ lại cũng thấy lạ, vì hầu hết các trẻ em bây giờ hay là các con của mình đều chấp nhận đi học, đi đến trường lớp một cách dể đàng không có gì khó khăn hay có vẻ bị bắt buộc cả,..có lẻ trường học thời nay hấp dẫn và quyến rũ trẻ em hơn trường lớp ngày xưa…(Lúc đó mình còn nhớ học lớp vỡ lòng với Thầy La Từ Sự nhà thầy cũng ở đường Bạch Đằng gần nhà mình). Phải mấy tuần lễ sau mới êm cái vụ đi học lớp năm của hai anh em mình…

Rồi trong thời gian theo học các lớp Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm nào cũng có điểm tốt, được phát bảng Danh Dự và cuối năm đều được lên lớp trên. Trong những sinh hoạt của các lớp học Trường Tiểu Học, có thông lệ là trong lớp thầy cho lập một quyển vở gọi tên là « Sổ luân chuyển » hay « Tập luân chuyển », hồi đó mình cũng không hiểu gì lắm cái danh từ « luân chuyển », chỉ biết kêu tên quyển tập như vậy. Mà đúng như cái tên gọi của quyển tập nầy, vì mục đích của thầy dạy trong lớp là muốn lưu giữ các bài do học trò ghi chép trong các giờ học nên thầy đặt ra quyển tập nầy, quy định là mỗi ngày phải có một học trò trong lớp giữ quyển tập nầy và phải chép lại tất cả các bài giảng trong ngày đó vào quyển tập nầy. Mỗi lần mình nhớ tới ngày phải giữ « sổ luân chuyển » là hay bị lo, vì khi viết bài trong sổ thì phải cố gắng viết cho sạch sẽ và viết chữ phải đẹp nên mình rất lo và rất cẩn thận khi chép bài vào sổ. Mỗi khi tới ngày giữ sổ luân chuyển như vậy rất mất công vì chẳng những phải viết chữ đẹp, sạch sẽ trong sổ, mà sau đó cùng một lúc khi về nhà mình lại phải chép bài hôm đó trong quyển vở của mình để khi giao sổ luân chuyển cho học trò khác thì mình không bị thiếu bài hôm mình giữ sổ…

Còn một kỷ niệm khác trong thời học Trường Tiểu Học mình còn nhớ, khi học khoảng lớp tư thì thường là có môn « Toán », « Khoa Học Thường Thức », « Ngữ Vựng ». Môn « Ngữ Vựng » là môn học có mục đích giúp cho học sinh được làm giàu các từ ngữ dùng trong viết văn hay nói chuyện hằng ngày..Phương cách dạy môn nầy là như sau: Sau khi giảng dạy về chủ đề của môn « Ngữ Vựng » trong ngày, thầy cho học trò chép một bài tập gồm có bài một văn xuôi, trong bài nầy thỉnh thoảng có nhiều đoạn tương ứng với một từ ngữ và bị bỏ trống, có chấm chấm, học trò phải hiểu câu viết trong bài và phải điền đúng cái từ ngữ thiếu đó vào phần chấm chấm trong bài văn!. Mình còn nhớ có lúc đó học bài « Ngữ Vựng » về sự liên hệ bà con và cách xưng hô trong một gia đình, thí dụ như đối với người em của cha mình thì mình phải gọi là « chú », vợ của chú thì mình phải gọi là « thiếm »…Trong bài tập hôm đó, học trò phải điền các từ còn thiếu trong các phần có chấm chấm…(tức là phải tìm ra các từ thích hợp trong cách xưng hô như: chú, thiếm, cậu, mợ, ..v..v…). Mình còn nhớ là mình rất sợ cái bài tập nầy vì lúc đó còn nhỏ mình hoàn toàn không hiểu các cách xưng hô nầy, mình không hiểu gì cả, không biết phải điền vào các chổ chấm chấm trong bài bằng từ ngữ nào cả…

Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…

Đến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu « chuyển động », « động tử », « vòi nước chảy »,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Thầy Hà Phương Linh chuyên dạy lớp Tiếp Liên, (tên gọi Tiếp Liên là vì lớp nầy dành cho các học sinh thi rớt của năm lớp nhứt phải ở lại và vào lớp nầy, túc là lớp chuyển tiếp giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, lớp luyện thi cho năm sau thi lại để lên Trung Học). Thầy Linh dạy lớp tiếp liên rất hay, rất nỗi tiếng, sau năm học nầy mình thi đậu lên lớp Đệ Thất vì vậy trong bậc Trung Học mình học sau anh Trần Văn Dõng một năm. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd, (ba của Hào Kiệt là Ông Lâm Tấn Bình chủ tiệm thuốc tây Thanh Bình ở dưới chợ cá ngày xưa của Hà Tiên).

Nhân đây xin nhắc lại tên họ một số quý Thầy dạy trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa:  Lê Quang Phấn (ba của Thầy Lê Quang Thuyên, thầy Lê Quang Khanh), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình),…

Một vài học sinh bây giờ đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn còn nhớ tên họ quý Thầy Cô đã từng dạy cho mình thời còn ngồi ghế nhà Trường Tiểu Học, chẳng hạn như chị Nguyễn Thị Hoa cho biết danh sách quý thầy cô đã dạy chị thời còn học Tiểu Học như sau:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương chụp trong vườn hoa nhà thầy ở đường Phương Thành, 1991 (hình: Therese Tran)

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từng lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) .

Bạn Trương Minh Quang Nguyên (con trai của thầy cô Trương Minh Đạt) có góp ý thêm về danh sách thầy cô dạy học Nguyên lúc còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp 1: thầy Hà Văn Thành (tự ông giáo Ngọt), lớp 2:  cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ bạn Nguyễn Hữu Tâm, lớp 3:  thầy Phan Liên Trì được ít tháng thầy mất nên sau đó học với cô Vân sau này là vợ thầy Hiếu cũng dạy cùng trường, lớp 4:  thầy Lâm Văn Núi, lớp 5: cô Dương Hồng Châu. Trường truóc 1975 còn có cô Thu dạy lớp nhất (lớp 5) không nhớ cô gốc ở đâu?

Ngoài quý Thầy Cô cao tuổi và đã dạy Trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên đã kể trên, thời 60-70 cũng có nhiều cô giáo trẻ cũng quê Hà Tiên hay có liên hệ tới Hà Tiên cũng về trường nhà dạy học như cô Nguyễn Phước Thị Liên (phu nhân của thầy Trương Minh Đạt) về Hà Tiên dạy năm 1965. Cô Dương Hồng Châu (mẹ của cô là cô Nhan cũng là giáo viên kỳ cựu của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên) về trường năm 1967.

Cô giáo Nguyễn Phước Thị Liên dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1965

Cô giáo Dương Hồng Châu dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1967

Ngoài ra mình còn nhớ trong thời gian đó có một cô giáo tên Mai ở trường Tiều Học Hà Tiên, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học cô thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác,…Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cô cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ cô, có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của cô. Theo sự nhớ lại của một số bạn học ngày xưa, cô Mai thường dạy lớp nhứt tức lớp cuối cùng của bậc Tiểu Học. Bạn Lâm Thị Lan còn nhớ có một lần sinh hoạt đầu tuần cô Mai nói về vấn đề cờ bạc và cô có nói câu: « cờ bạc là bác thằng bần, không theo cờ bạc thì còn gia sản ». Còn bạn Nguyễn Thị Điệp thì còn nhớ có học lớp nhứt với cô Mai, cô chỉ mặc áo màu trắng và màu nâu may theo mẫu áo của người tu. Hôm nào cô kêu đau đầu mà học sinh nói chuyện là cô cho quỳ gối hết cả lớp!!. Còn mình còn nhớ cô Mai thường vẻ hình lên một tờ giấy cứng trắng rất lớn, như loại giấy mình làm bích báo ngày xưa, cô vẻ các hình phạt dưới âm phủ có quỷ sứ cắt lưởi,….để khuyên răn học trò tụi mình. Mình còn nhớ như in trong đầu và như còn nghe qua lổ tai, câu cô Mai nói với mình: « Ăn cá là ít tội nhứt »…..Chử « ít » cô phát âm theo kiểu người Bắc …chắc cô cũng có gốc người Bắc….Bạn Tăng Thị Sáu thì còn nhớ cô Mai mặc áo màu cao khô là cô Mai Nguyễn dạy lớp 5, cô cũng đánh học trò dữ lắm đánh xong cô kêu học trò úp mặt xuống bàn để cô xin lỗi…!! Bạn Trần Quý Nương có cho biết rất nhiều thông tin về cô Mai: Ngày xưa khi còn dạy học, cô có một thời gian ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung,) trên đường đi Thạch Động. Tài Chung có một người cô ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai và cô của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. Cô của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên cô đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước cô của Tài Chung có dẩn Quý Nương đến thăm cô Mai.

Sau đây là một số hình ảnh do mình còn lưu giữ và góp nhặt do các học trò Hà Tiên xưa cung cấp, xin thành thật cám ơn tất cả.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: 1/Đựng, 2/Chúa, 3/Mạnh, 4/Tiếp, 5/Lâm Tấn Hào, 6/Thầy Pho, 7/?,8/?,9/? (không biết tên ba người bạn), 10/Lâm Tấn Kiệt, 11/?,12/? (không biết tên hai người bạn), 13/Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Trần Văn Dõng, 3/Trần Tấn Công, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/La Văn Hủi, 7/Trần Văn Mãnh, 8/Quân, 9/? (không biết tên một người bạn), 10/Pha.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: 1/? (không biết tên một người bạn), 2/Đựng, 3/Mạnh, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/Hòa, 7/Quân, 8/Thầy Pho, 9/Trần Văn Dõng, 10/?, 11/? (không biết tên hai người bạn), 12/Tiếp, 13/?, 14/? (không biết tên hai người bạn), 15/Chúa, 16/?,17/? (không biết tên hai người bạn). Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Lâm Tấn Hào,3/Trần Văn Mãnh, 4/Lâm Tấn Kiệt, 5/Trần Tấn Công, 6/? (không biết tên một người bạn).

Một lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

Một lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Trần Tố Chinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

Hình Lâm Ngọc Bích (con gái anh Nhum, tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Lý Thị Nhan (thân mẩu của cô Dương Hồng Châu), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Lý Thị Nhan.

Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa). Hàng Cô giáo từ trái qua: Cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Nguyễn Hữu Tâm), cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Bình Lôc, Vương Bình Phước).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ ba là thầy Hà Văn Thành tự Giáo Ngọt, người thứ 4 là thầy Núi, cô Lý Thị Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

Một lớp học trò nữ trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên, cô giáo trong hình là cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ của Nguyễn Hữu Tâm (hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1980)

Lớp học sinh nữ do cô giáo Tăng Ngọc Mỹ dạy của trường Tiểu Học Hà Tiên. Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1970)

Hai em học trò Trường Tiểu Học Hà Tiên nhận phần thưởng cuối năm. Em trai trong hình là Nguyễn Hữu Tâm. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm trước 1975)

Hai em học trò trường Tiểu Học Hà Tiên, em trai tên Nguyễn Hữu Tâm, em gái tên Vân. Phái sau lưng là dảy lớp học nam sinh. (Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Hai em học trò vừa nhận phần thưởng trước sân Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Quý cô giáo dạy Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời 60-70. Cô đứng bìa trái không biết tên. Ba cô kế là cô Cưởng, cô Ngọc Điệp (hiện ở Rạch Giá) và cô Mỹ Ngọc (dạy học ở Lộc Trỉ Mũi Nai Hà Tiên, hiện ở Texas, nước Mỹ). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Hình ảnh một vài cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: từ trái sang phải: thứ ba là cô Lý Thị Nhan (mẹ của cô Dương Hồng Châu), thứ năm là Bà Giáo Lộc (nhạc mẫu của Thầy Nguyễn Văn Nén), thứ bảy là cô Tăng Ngọc Dung, giáo viên Mẫu Giáo sau đó bị mất vì trúng đạn pháo kích), thứ chín là cô Lý Ánh Nguyệt (vừa mới mất)

Cô Lý Ánh Nguyệt giáo viên Trường Tiểu Học Hà Tiên (bìa phải) chụp trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên.

Từ trái qua phải: Thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, thầy Hứa Văn Vàng, dự đám cưới của hai em Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi. (Hình: Trần Thị Thúy Hằng)

Bìa trái: Thầy Hứa Văn Vàng (dự đám cưới của Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi). Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Bìa phải: Nguyễn Bích Thủy, người thứ ba từ phải qua trái: Cô Lâm Thị Ánh Tuyết. Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Ngôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Chú thích: 1/ Hồi xưa thời 1960-1970 tên gọi các lớp của Trường Tiểu Học là như sau: Lớp năm (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp tư, lớp ba, lớp nhì và cao nhất là lớp nhứt (lớp để thi lên bậc Trung Học vào lớp Đệ Thất). Trong khi đó sau 1975 thứ tự tên các lớp lại như sau: lớp 1 (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp 2, lớp 3, lớp 4, và lớp 5 (lớp để lên bậc Trung Học vào lớp 6)

2/ Theo tài liệu của bạn Trương Thanh Hùng, có một bảng danh sách quý Thầy Cô từng giảng dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên và hiện đã qua đời còn được niêm yết trong trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay, mình xin chép vào đây để thầy cô và các bạn tham khảo.

Nguyễn Văn Truyện, Trần Văn Sang, Nguyễn Văn Phẩm, Hứa Văn Bình, Nguyễn Văn Phi, Trần Minh Đạo, Huỳnh Thoại Bang, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Vàng, Diệp Chí Trung, Trương Hòa Thành, Nguyễn Văn Đặng, Lư Sanh Nho, Lục Phan, Phan Văn Viên, Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Thành, Hứa Văn Tài, Nguyễn Văn Mẩn, Nguyễn Văn Sữu, Lưu Kim Hầu, Nguyễn Tấn Phát, Hồ Thị Tân, Nguyễn Thị Nu, Phạm Văn Lai, Nguyễn Thị Liễu, Hồ Văn Nhi, Lý Văn Cải, Vương Giáp Thình, Nguyễn Văn Giỏi, Lê Đức Nguyên, Lê Quang Phấn, Huỳnh Quốc Minh, Lâm Quốc Hải, Lý Văn Nhơn, Lâm Tấn Phác, Trần Văn Canh, Võ Văn Hổ, Nguyễn Văn Tượng, Nguyễn Văn Vân, Đỗ Quý Tý, Nguyễn Văn Kiêm, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Trình Kim Chung, Lê Quang Thuyên, Nguyễn Văn Tửng, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Tửng, Trần Hòa Hùng, Phan Thị Tuyết Mai, Trương Tự Phát, Trần Văn Tường, Phạm Văn Nhan, Hà Văn Điền, Trần Văn Lọt, Trương Văn Vinh, Hà Văn Hoa, Lý Thị Nhan, Trần Thị Thứ, Hứa văn Vàng, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Ngà, Trần Phát Đạt, Trương Tường Oanh, Huỳnh Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ngọc Ty, Hà Ngọc Kiều, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Lầu, Hà Văn Thanh, Hà Mỹ Khôi, Trương Hà, Nguyễn Văn Hùng.

3/ Sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm như sau: Hồi mới vào học lớp năm (lớp đầu tiên) Trần Văn Mãnh rất sợ đi học. Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhờ đi đường trước quán Ty La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ « ai sao tôi vậy » nhưng có cái dở  là « ai làm bậy tui cũng làm theo », cũng đáng đời!!!).

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga, Lâm Ngọc Bích, Trần Tố Chinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phước Thị Liên, Trương Thị Uyên My, Dương Hồng Châu. Khiết Nha Huỳnh. Xin thành thật cám ơn sự đóng góp quý báo của quý vị.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…