Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Giới thiệu Dương Văn Hiến

Dương Văn Hiến

Thầy Cô và các bạn cho phép tôi được dài dòng đôi chút để được biết rỏ về tôi, cũng giống như bài viết  « Tự bạch của Trương thanh Hùng » đã được đăng vào Blog nầy. Vào khoảng năm 1962 tôi từ Hòn Heo, Bãi Ớt lên Hà Tiên, ba tôi là ông Dương Công Huỳnh làm y tá ở bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, lúc đó tôi học lớp nhất với thầy Lê Đức Nguyên (chung với Lý Mạnh Thường).  Vì thi trượt vào lớp Đệ Thất nên tôi học lớp Bán Công chung với Trần Tiên, Tiền Công Thành… Tôi đậu vào lớp Đệ Thất « sau lưng » Trương Thanh Hùng ( Trương Thanh Hào đậu hạng 46/50, Trương Thanh Hùng đậu hạng 47/50 và tôi  Dương Văn Hiến đậu hạng 48/50, còn bạn Trương Minh Huệ đậu hạng 49/50). Không may, học lớp Đệ Thất năm đó (niên khóa 1965-1966) vận đen đến với tôi: ngay cái ngày thi Đệ nhị lục cá nguyệt tôi lại kẹt đi lưới chưa về được nên bỏ cuộc thi, tôi khóc và khóc thật nhiều, năm đó ở lại và học chung lớp với Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt…(niên khóa 1966-1967). Hết năm đó tôi vừa lên lớp Đệ Lục đươc 2 tháng thì trong nhà có nhiều chuyện xảy ra, tôi buồn tình bỏ học và đi hoang (đi Phú Quốc làm việc, khi thì đi biển khi thì đi tàu chở hàng hóa lênh đênh trên sông biển cho đến năm 18 tuổi thì trở về Hà Tiên đi lính Địa Phương Quân đóng ở Đá Dưng. Trong khi các bạn ngày xưa đứa có Tú Tài, đứa vào trường Sư Phạm, người nhập ngủ vô Thủ Đức,  người thì còn vui với đèn sách, còn tôi nếu có nhớ về trường về bạn về kỹ niệm học trò thì thật là không có gì để được nhớ và nói đến. Tôi không thể có khung thời thơ mộng nào của tuổi học trò để đóng góp trong Blog của thầy cô và các bạn, chỉ mong thầy cô và các bạn nhận ở tôi đôi dòng tâm sự nầy coi như tôi chia sẽ chút vui buồn về tôi đến thầy cô và các bạn. Vậy xin cám ơn anh Trần Văn Mãnh chủ Blog đã bỏ chút thời gian đọc thư của tôi. Xin kính chúc gia dình anh có được mùa xuân hạnh phúc và dồ dào sức khỏe. 

Tạm bút 12/2016: Dương Văn Hiếu  (ngày xưa tôi tên Dương Văn Hiến còn tên hiện dùng là Dương Văn Hiếu)

Dương Văn Hiếu

Dương Văn Hiến, người bạn khá đặc biệt của tôi (Trương Thanh Hùng)

Trong số bạn bè hồi còn học Đệ Thất, Đệ Lục (1965-1966), có lẽ Dương Văn Hiến là một trong những người bạn đã để lại ấn tượng trong tôi đậm nét nhất, bởi Hiến là học trò học lớp luyện thi vào Đệ Thất của ba tôi. Tôi quen Hiến và chơi thân với Hiến từ lúc đó. Kỷ niệm về Hiến hơi nhiều, xin kể lại các bạn nghe một vài mẫu chuyện vui vui về người bạn khá đặc biệt này.

Chuyện ở Núi Lăng

Tôi không nhớ đó là năm học Đệ Thất hay Đệ Lục, có một giờ trống, tôi cùng Dương Văn Hiến, Trần Phước An, Trương Thanh Hào (anh tôi) lên núi Lăng chơi. Mà hình như thời gian đó học trò hay đi núi Lăng phá phách vào những giờ trống (thầy cô có việc không dạy). Mấy anh em đến gần mộ Mạc Thiên Tích ăn cắp dừa. Trần Phước An là người leo dừa giỏi nên leo lên một cây dừa xiêm không cao lắm. Hiến là dân lao động, tháo vác nên phụ trách chụp dừa không cho rớt xuống đất, bởi nếu dừa rớt xuống đất gây tiếng động thì ông Từ Nguơn nghe lên bắt thì hư bột hư đường hết. Khi An leo lên cây thì Hiến đứng dưới gốc dừa mở nút quần ra tè. Lúc đó, vào ngày thứ hai học trò phải mặc quần trắng, mà quần còn gài nút chứ chưa có « phẹc mơ tuya ». Hiến tè vừa xong, còn đang lui cui gài nút thì ở trên, An hỏi “Rồi chưa?”. Hiến đáp “Rồi!”, An thả trái dừa xuống vừa lúc Hiến ngữa mặt lên, trái dừa rớt ngay miệng của Hiến một cái như trời giáng, cái mỏ lập tức sưng vù lên. Tuy đau, nhưng Hiến cũng ráng chụp thêm mấy trái nữa. Anh em đem dừa đến mộ Mạc Thiên Tích đập lột võ uống. Xong xuôi, Hiến mang cái mỏ sưng vù về trường, vô lớp bị bạn gái Lâm Thị Lan hỏi “Bộ bị vợ khẻ đũa vô mỏ sao mà sưng vù vậy?”. Hiến mắc cỡ không trả lời…!!

Bán cà rem

Tôi thương, quý Hiến cũng vì chuyện này. Nhà tôi nghèo, mà nhà Hiến cũng không khá, hai anh em lãnh cà rem ở hảng nước đá Triều Quang đi bán dạo. Lúc đầu tôi còn ngỡ ngàng nên rao “Ai mua cà rem hôn?”. Hiến dạy tôi: “Mầy phải rao Cà rem đây, chớ ai mà rao như mầy”. Vậy là tôi học được một chiêu. Hôm đó, bán cà rem ở khu nội ô hơi ế, Hiến rũ tôi qua Tô Châu bán. Hai anh em qua đò đi vòng núi Tô Châu rao bán. Khi có người kêu mua, Hiến hay nhường tôi bán trước. Hiến còn hỏi: “Nếu người ta trả giá 3 đồng 5 cây mầy bán không?”. Tôi chưa trả lời thì Hiến nói tiếp: “Mầy bán 4 đồng 5 cây rồi mầy ăn 1 cây, bây giờ mầy bán 3 đồng 5 cây thì coi như mầy ăn 1 cây chớ đâu có gì mà lo”. Vậy là tôi học thêm được một chiêu nữa.

Đi xuồng trên Đông Hồ

Hiến nghỉ học khá sớm, một thời gian rất dài tôi không gặp Hiến. Đến năm 1974 mới gặp lại khi Hiến làm lính đóng trên Đá Dựng. Đến năm 1976, lúc tôi đi dạy học ở Hà Tiên, có lần tôi đến nhà Hiến (ở mé sông gần Cầu Đá), hình như hai anh em có làm vài xị, sau đó Hiến rũ tôi xuống xuồng chèo vào Đông Hồ thả lưới. Hiến chèo chỉ có 1 chèo mà xuồng đi rất nhanh, Hiến giảng cho tôi biết về kỹ thuật chèo xuồng của người dân biển. Khi vào trong Đông Hồ Hiến nói: “Tao chỉ muốn có một chiếc ghe nhỏ, có mui để khi nào trời mưa vô ngồi trong mui nhậu là được rồi”. Vậy mà cho đến bây giờ Hiến không thực hiện được ước muốn đó cho dù điều kiện hiện nay của Hiến không còn nghèo khổ như trước nữa.

Cuộc gặp ở Vàm Rầy và nửa con khô cá bè.

Năm 1977, tôi đi dạy học ở Vàm Rầy (xã Bình Sơn), tình cờ gặp Hiến tại đây, tôi rũ Hiến về chỗ các thầy cô giáo ở để ăn với nhau một buỗi cơm. Hồi đó thầy giáo rất nghèo, khi tôi nói với mấy cô giáo nhà có khách, các cô khá băn khoăn vì bạn của thầy Hùng tới mà không có gì ăn. Khi Hiến ra phía sau đi vệ sinh thì nghe các cô nói với nhau: “Bạn thầy Hùng tới mà thức ăn không còn gì, mình phải đi mua vài cái trứng vịt chiên để đãi khách”. Hiến nghe nói cảm động quá. Khi các cô ra nhà trước để đi mua thức ăn thì Hiến ngăn lại nói: “Mấy cô đi mua thêm thức ăn phải không, thôi, mấy cô đi chi cho mất công, tui còn con khô cá bè, để tui cắt phân nửa chiên ăn là xong chớ gì”. Nói xong, Hiến vội lấy con khô cá bè gói trong tờ giấy nhật trình xuống bếp cắt phân nửa (phần đầu), còn khúc đuôi có dây cột thì gói lại treo lên vách. Hôm ấy mấy thầy cô có bữa ăn cơm với khô cá bè chiên thật ngon. Đến sau này tôi mới biết còn nửa con khô, Hiến xách đi qua Ba Chúc thăm bạn. Thật là cái tình của bạn nghèo cảm động biết bao nhiêu.

Chuyện của Hiến với tôi còn dài, nhưng chỉ kể vài chuyện để Thầy Cô và các bạn nghe cho vui.

Hiện nay Hiến có tên là Dương Văn Hiếu, đang sinh sống ở tiểu bang Floride Mỹ.

Trương Thanh Hùng Ngày 28 tháng 10 năm 2017

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi giữa: Lê Thị Việt Nga, Trần Quý Nương, Trần Quý Nữ)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bìa trái: Lê Thị Việt Nga và Trần Quý Nương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bài trái: Lê Phước Dương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi ở giữa: Sĩ, Trang Việt Thánh, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương)

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

 

Kể về người bạn ở trời Tây (Lâm Thị Lan)

Nữ kê tác quái,gà mái đá gà cồ.
Đây là 2 nhân vật chính nè các bạn ơi!
Nữ kê đây. Gà cồ đây

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: « Nữ kê »: Lâm Thị Lan, hình phải: Gà cồ: Dương Văn Hiếu

Sau gần 40 năm gặp lại bạn Dương Văn Hiếu trên Face book. Hiếu hỏi Lâm Lan có còn nhớ lúc còn là học sinh năm học ở lớp Đệ Thất trường Hà Tiên không?

          – Nhớ cái gì bạn Hiếu?

          – Nhớ cái tuổi 13 lắm chiêu, nhiều trò này. Lớn không lớn, mà nhỏ không nhỏ hay trêu hay ghẹo với nhau.

Nữ sinh với chiếc áo dài thướt tha thường hay bị cái anh chàng « lí lắc » này rình cột cái đuôi áo dài. Khi mình phát hiện ra thì anh chàng này mặt phớt tỉnh như không có sự việc gì xẩy ra.

Ấm ức trong bụng không biết làm sao trả đũa cái anh chàng « lí lắc » này. Có một lần Lâm Lan chờ giờ vào lớp khi chàng Hiếu đi qua (vì Hiếu xếp hàng sau Lâm Lan nên phải đi vào sau), Lâm Lan đưa cái chân cho anh chàng này té chảy máu mũi chơi.

Hihihi!

Nghĩ thế thì làm. Khi anh chàng « lí lắc » vừa trờ tới Lan liền đưa chân ra. Úi giời ơi! Sợ quá rút chân về nhanh các bạn ạ (sợ gặp thầy Giám Thị là con chết lớn). Thôi rồi tha cho bạn lần này thôi. Không thì cho bạn nhảy cò cò một phen cho chừa cái tật hay ghẹo bạn gái.

Hihihi! Hihihi!

Cái tuổi 13 lắm chiêu trò.
Nhớ mãi trò vui nghịch ở trường.
Làm cho bạn té chảy mũi chơi.
Hay đùa hay nghịch với bạn gái.
Bây giờ gặp lại bạn ngày xưa.
Hiếu ơi! Lúc đó có gì không?
Không Lan ơi! Làm sao tui té được.
Đến bây giờ kẻ bắc, người nam.
Kể nhau nghe cái tuổi học trò.

Nhờ có Blog THHTX mình nhớ lại cái tuổi con nít có biết bao là kỷ niệm. Đúng là học sinh đứng hàng thứ 3 nhỉ.!!!

Lâm Thị Lan tự thuật (10/2016)

Tái bút: Bài « Tạm bút » của bạn Dương Văn Hiếu và bài « Tự thuật » vui nhộn của Lâm Lan đã được viết lâu rồi (năm 2016), nhưng vì chờ nhiều thông tin bài vở về bạn Dương Văn Hiếu nên hôm nay sẳn có bài của Trương Thanh Hùng kể chuyện về Hiếu ngày xưa nên mình cho vào chung một bộ…

Hình ảnh: Dương Văn Hiếu, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào

Bốn chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Hà Tiên (Hà Hưng Quốc)

1/ NGƯỜI THẦY DẠY TÔI GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHẢN BIỆN

Tôi gặp lại thầy Trương Minh Hiển lần thứ nhì vào năm 2007 (?) tại Sài Gòn. Lúc đó thầy đang dạy ở Đại Học Văn Lang. Thầy trò đã kéo nhau vào Bình Quới ăn trưa và tâm sự suốt mấy tiếng đồng hồ rồi sau đó kéo về căn chung cư chật hẹp của thầy ở Quận 4. Tại đây thầy Hiển trao cho tôi ba quyển sách: cuốn tiểu thuyết huyền sử Bà Chúa Xứ do thầy Hiển sáng tác, cuốn Địa Đàng ở Phương Đông của Dr. Oppenheimer do thầy Hiển dịch bản nháp bìa đóng bằng giấy thùng cạt tông, và cuốn Việt Điện U Linh Tập đã ngã màu. Nhờ lần gặp nhau đó mà tôi mới biết được tôi với thầy có một tương thích là đang nghiên cứu về cội nguồn đích thực của dân tộc. Đó là lần sau cùng tôi gặp thầy và vĩnh viễn không còn một cơ hội nào nữa.

            Lúc xưa thầy Hiển rất năng động và thích chính trường. Tôi nhớ là đám học sinh Trung Học Hà Tiên của chúng tôi đã từng đi khắp Hà Tiên vận động tranh cử cho thầy Hiển. Nhưng giấc mơ trở thành một nghị viên dân cử đã không thành. Người đã giúp khai phóng khả năng và giúp tôi tin vào giá trị của sự phản biện không ai khác hơn là thầy Trương Minh Hiển.

Thay_TruongMinhHienTrái: Thầy Trương Minh Hiển

            Tôi học quốc văn với thầy Hiển vào năm Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ. Ngoài việc giúp học trò chúng tôi tiếp thu kiến thức căn bản chiếu theo giáo án ấn định, thầy Hiển còn bỏ nhiều thời gian dạy chúng tôi làm thơ, viết văn, phân tích, tổng hợp, lý luận, phản biện, phỏng vấn, khảo sát thực địa, thí dụ như thầy đã từng đưa chúng tôi đến nhà ông Năm Bùn là một nhân vật trong truyện Cánh Buồm Đen của của Sơn Nam để phỏng vấn hoặc là đến nhà của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã từng cư ngụ để tìm lại dấu vết xưa. Ngay cả việc nhờ học trò chúng tôi đi vận động tranh cử, tuy thực sự là cần chúng tôi giúp đỡ nhưng đồng thời cũng là một phương pháp đào tạo của thầy qua hoạt động thực tiễn cho đám học trò của mình. Nếu chưa nhìn ra điều này thì chưa thực sự hiểu thầy. Những kinh nghiệm như vậy, cũng là những kỷ niệm không quên, là món quà vô giá mà thầy Hiển đã trao tặng cho chúng tôi năm xưa. Nhìn lại, tôi thật sự khâm phục thầy Hiển và phải tự nhận là sở dĩ tôi có được khả năng cầm bút ngày hôm nay một phần lớn là do thầy Hiển đã bỏ công sức uốn nắn lúc trước. Cảm ơn thầy, vị thầy kính yêu của con. Cảm ơn mớ hành trang vô giá mà thầy đã trao tặng mỗi đứa để giúp chúng con bước xuống cuộc đời một cách đầy tự tin và dùng năng lực đó để làm ấm những mảnh đời chung quanh.

2/ BƯỚC XUỐNG CUỘC ĐỜI

Cụm chữ « Bước xuống cuộc đời » làm cho tôi nghĩ tới một người. Một ngày của năm nào đó trong quá khứ, ba đứa chúng tôi đã bước ra khỏi cửa nhà của Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh để đi vòng vòng như mọi ngày. « Theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say, theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau, cho em . . . », Mãnh vừa đi vừa huýt gió một đoạn trong bản tình ca Vũng Lầy Của Chúng Ta mà chúng tôi rất ưa thích thời đó. Một đứa trong chúng tôi bước xuống lề và vô ý giẫm mạnh lên vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt đường làm nước bẩn văng trúng quần chúng tôi. Anh Dõng đã khựng lại nhìn xuống chỗ dính dơ trên quần của mình rồi lầm bầm trong miệng: « Tại sao là bước xuống cuộc đời mà không là bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời? » Đúng là ngớ ngẩn. Chẳng ăn nhập gì với vũng nước và cái quần bị làm dơ. Nhưng lại là thứ ngớ ngẩn bất chợt lóe lên trong tâm thức của một triết gia ở khoảnh khắc của một hiện tượng phát sinh và biến mất mà chỉ có hắn mới bắt kịp, kéo nó lại và treo nó lơ lửng, như bắt lấy một frame của video, và khám phá diện mạo rất mới của một hình ảnh cũ mèm nhạt nhẽo. Đó là anh bạn Dõng của tôi mà tôi biết. Và cái ngớ ngẩn thoát ra từ cửa miệng của anh ấy, dầu rất khẽ, đã bám theo tôi cho tới ngày hôm nay. Thú thật tôi vẫn chưa có câu trả lời là mình đã bước xuống cuộc đời, bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời. Anh có câu trả lời chưa vậy anh Dõng?  

TranvanDong1972TranvanManh1970

            Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Văn Mãnh

Dõng Mãnh tuy là hai anh em ruột nhưng bản chất hoàn toàn trái ngược. Anh Mãnh là mẫu người sống động, hào nhoáng, trẻ trung, thích vui, đam mê âm nhạc và có thiên khiếu chơi đàn guitar. Còn anh Dõng là mẫu người trầm lặng, sống nhiều với nội tâm, ăn nói nhỏ nhẹ, thích triết học, có khả năng tư duy cao, giỏi toán, rất mẫn cảm nhưng khéo che dấu cảm xúc và chỉ khi nào anh uống rượu thật say thì mới để lộ, không thích đấu khẩu tào lao nhưng khi cần tranh luận thì luôn tranh luận cho vị thế ngược với chỗ đứng của anh để giúp anh cũng cố thêm cho chỗ đứng của mình. Có lẽ vì vậy mà chưa bao giờ thấy anh nổi giận với ai. Người ta càng công kích mạnh mẽ chỗ đứng A của anh đưa ra thì anh càng cười khoái chí vì trong bụng anh biết rõ là anh không tin vào chỗ đứng A nên mượn người đối diện giúp anh phản biện để anh có cơ hội xác định giá trị của chỗ đứng B, ở đó mới thật là chọn lựa của anh. Rất thông minh. Và tôi đã áp dụng kỹ năng này trong vai trò quản trị công ty rất thuần thục. Trường học không có dạy nó. Tôi học từ anh Dõng năm xưa khi tôi có dịp quan sát anh tranh luận với các bạn khác. Cảm ơn món quà của anh nhé anh Dõng, anh bạn thân quí của tôi.

            Anh Dõng ít khi đi chơi riêng với tôi. Anh không có nhiều thì giờ để đi chơi vì bận học, vã lại anh cũng không mấy thích lang thang cả ngày như tôi. Trong những lần hiếm hoi cùng nhau ngồi uống cà phê hay trà đá ở quán cô Năm Lèo hoặc ở quán thương phế binh gần bờ sông thì hai anh em chúng tôi thích tán gẫu về triết học. Chia sẽ với nhau suy nghĩ của mình về những tác phẩm lớn của một thời như « Đôi Bạn Chân Tình » của nhà văn Thụy Sĩ gốc Đức Hermann Karl Hesse, « Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết » của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, « Kẻ Xa Lạ » của triết gia Pháp Albert Camus, « Buồn Ơi Chào Mi » của nhà văn Pháp Françoise Sagan, « Ngư Ông Và Biển Cả » của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, vân vân và vân vân. Chẳng biết lúc đó chúng tôi lĩnh hội được bao nhiêu, phê bình đúng hay sai, và sự hiểu biết có phủ đầy lá mít hay không nhưng một điều chắc chắn là lúc đó tôi rất nể ông anh triết gia (bởi bản chất) Trần Văn Dõng của trường Trung Học Hà Tiên.

3/ MỘ GIÓ

Bây giờ đang là những ngày đầu năm âm lịch năm Bính Thân 2016. Hội chợ Tết của người Việt ở Mile Square Park của Quận Cam được tổ chức thật đình đám. Nghe người ta nói là rất đông và vui. Tôi không có mặt ở đó vì bận đi thăm mộ bà nhạc mẫu. Ngồi lặng lẽ ở nghĩa trang suốt mấy tiếng đồng hồ, nhìn những mộ bia thẳng tấp nằm sát mặt đất phủ cỏ xanh, tôi liên tưởng đến những người bạn đã ngã xuống ngày xưa ấy….

NguyenNgocThanhTrái: Nguyễn Ngọc Thanh

            Rồi nghĩ tới những thằng bạn thời trung học. Lại nhớ tới một cái Tết nào đó năm xưa, vào ngày mùng 5 âm lịch thì phải, anh Nguyễn Ngọc Thanh đã lấy ghe chở cả đám ra đầu gành Bãi Nò ăn tiệc mừng năm mới. Hình như là có anh La Văn Cao, Anh Trần Văn Dõng, anh Nguyễn Đình Nguyên, anh Trần Văn Mãnh, anh Lê Phước Hải, anh Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Trang Việt Thánh và vài người nữa không nhớ hết, tuyệt nhiên không có lấy một bóng nữ. Chúng tôi bưng theo nào là bánh tét, nào là dưa hấu, nào là gà luộc và dĩ nhiên không thiếu bia rượu. Cả đám mặc tình mà tiệc tùng và nỗ như pháo xuân. Được một lúc thì ba thằng Dương, Kiệt, Thánh (?) lặng lẽ biến mất. Chừng nửa giờ sau thì một thằng trở về, đứng ờ một khoảng cách khá xa vừa gọi vừa quay đi « có chuyện lớn rồi đi tới đây nhanh lên. » Thế là cả bọn đi theo nó. Đến một góc núi, mũi ông Đốc Nhơn, thì thấy hai thằng quỷ kia đang xì xụp khấn vái trước một ngôi mộ, và trên mộ bia ghi « Tiến Sỹ Hà Quốc Hưng Chi Mộ ». Vừa vái vừa réo « Hưng ơi là là Hưng ơi sao mày đành lòng bỏ đi sớm vậy Hưng ơi là Hưng ơi ». Thiệt tình là tôi muốn nhào vô đá cho mỗi thằng một cái. Chơi chi mà ác nhơn. Mới đầu năm đầu tháng không chúc lành thì thôi có đâu lại trù cho mình chết yểu. Mà biết đâu mình sẽ quảnh củ tỏi sớm cũng không chừng. Ông thầy bói cà chớn nào đó đã nói là mình sẽ không sống qua 26 tuổi mà. Cả bọn ôm bụng cười với trò lí lắc này nhưng riêng tôi thì rất quạu. Mấy mươi năm qua rồi bây giờ nghĩ lại thấy vui vui. Biết đâu nhờ tụi nó khai tử tôi lúc đó mà tôi còn sống tới bây giờ với cái tên mới Hà Hưng Quốc sau khi qua Mỹ. Và biết đâu cũng nhờ lời tiên tri của tụi nó mà tôi đã học hành tới nơi tới chốn. Chỉ có trời biết, đất biết và tụi nó biết thôi.

4/ BỐN CHÀNG NGỰ LÂM PHÁO THỦ CỦA HÀ TIÊN

Kiệt, Thánh, Dương và tôi học cùng lớp. Bốn đứa chơi chung với nhau rất thân. Chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi dưới gốc cây da Chùa Lò Gạch đấu khẩu về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, có khi đấu khẩu đến cả tiếng đồng hồ, đến xùi cả bọt mép. Thường là tôi với Dương đứng về một phía của trận chiến tranh luận còn Kiệt với Thánh ở phía bên kia. Thời đó chúng tôi đã sớm có những quan tâm đến vấn đề chính trị và xã hội. Và có lẽ sự chọn lựa hướng đi của tương lai cũng đã định hình từ những ngày đó. Dầu đấu khẩu có gay gắt đến đâu thì cuối cùng chúng tôi vẫn là một nhóm bạn keo sơn. Nhiều khi keo sơn quá mức. Keo sơn đến độ cả bốn đứa đều cùng trồng cây si trước nhà của một giai nhân đất Hà. Cũng may là chỉ cạnh tranh nhau để giành sự chú ý của người đẹp ở mức độ vừa phải chứ chưa đến nổi phải oán ghét nhau. Tôi tin rằng tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ bị sức mẽ (có đúng không vậy quí cụ?). Cho đến ngay cả sau khi Thánh và Kiệt rời trường Trung Học Hà Tiên chuyển về Sài Gòn tiếp tục việc học thì sự gắn bó đó cũng vẫn không thay đổi.

TrangVietThanhTrái: Trang Việt Thánh

            Trong bốn đứa có lẽ Thánh là người suy nghĩ sâu sắc và chững chạc hơn cả. Có lẽ do suy nghĩ quá nhiều và nếm đủ hương vị mật đắng của tình yêu đầu đời quá sớm mà đầu Thánh đã lưa thưa tóc bạc từ khi còn đi học. Thánh có thói quen chỉ ngón tay cái lên trời hoặc xòe ngửa cả bàn tay ra phía trước lắc lắc lúc lý luận. Khi suy nghĩ lung lắm thì hay dùng ngón tay giữa gãy trên đỉnh đầu. Còn lúc bối rối hay muốn che dấu cảm xúc thì dùng một ngón tay của bàn tay trái khều khều chân tóc trước trán. Sau mấy mươi năm không biết Thánh đã thay đổi quán tánh đó chưa hay vẫn như vậy. Thánh giỏi toán, giỏi lý luận, đặc biệt là tam đoạn luận, và giỏi cả phản biện. Sau này nhờ Dương nói mà tôi mới biết thêm là Thánh còn có tài làm thơ với bút hiệu là Hoài Nhân.

« Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sỹ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông
Thuyền ai đó chơi vơi trôi dưới Nguyệt
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không. »
(Ngày Về -1970)

« Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!. »
                              (Dấu Tình -1969)

Đọc những dòng thơ của Thánh sáng tác từ thời trung học mà thấy lòng mình chơi vơi (và chới với) . Nếu tôi là « người ấy » thì chắc chắn tôi đã ngã gục trước những con chữ có linh hồn của hắn ngay. (Tuy nhiên, có một câu chắc chắn đã bị nàng trừ điểm là câu « dại dột yêu em nên chết cả đời« . Thánh ơi thằng con trai biết yêu sớm là thằng khôn trước tuổi. Yêu đúng đối tượng đáng yêu và nhờ đó mà mình có thể vắt máu trái tim ra viết những dòng thơ thì rõ là thằng con trai đó cực kỳ thông minh và sáng tạo chứ sao cho là dại dột. Ngày hôm nay khả năng cảm nhận, nắm lấy và diễn đạt những thứ xuất phát từ trái tim người ta gọi là « emotional intelligence » đó bạn. Tình yêu đích thực phải là « no return, no refund » nghe bạn).    

            Ngoài tài năng nổi trội, Thánh còn là người hào phóng và hết lòng với bạn. Có những lần Dương và tôi lang thang ở Sài Gòn phải nhờ đến sự giúp đỡ, Thánh đã không ngần ngại đem cầm cả dây chuyền vàng mẹ cho để cứu nguy bạn bè. Hiếm có. Cảm ơn nghe ông bạn.  

Trái: Trần Tuấn KiệtTranTuanKiet

                        Kiệt đẹp trai nhất trong bốn đứa lại thông minh. Thầy Hiển luôn khẳng định như vậy. Kiệt vui tính và hay làm trò. Phá phách cũng một cây xanh rờn. Bình thường thì có dáng vẽ rất thư sinh nhưng một khi đã nổi nóng thì dám chơi tới bến, bất kể hậu quả. Da của Kiệt rất trắng. Mỗi khi da cổ bắt đầu nổi lấm chấm đỏ là lúc Kiệt bắt đầu quạu. Và khi Kiệt đã thiệt quạu thì mặt đỏ gay. Lúc đó phải coi chừng. Sau này Kiệt lên Sài Gòn tiếp tục việc học ở trường Hưng Đạo nằm trên đường Cống Quỳnh rồi vào học kỹ thuật Phú Thọ (?). Khỏi cần giới thiệu thì cũng đủ biết Kiệt là một trong những học sinh ưu tú thời đó. Có vài lần ghé qua thăm Kiệt, hình như là nhà ở trong hẻm Bùi Viện (?), rồi cùng nhau lội bộ đi qua nhà Thánh. Bây giờ thì chẳng còn nhớ nhà Thánh nằm ở đường nào. Chỉ nhớ là có một lần đi ngang qua cầu Ông Lãnh bị chị em ta chọc ghẹo, và họ chỉ nhắm vào Kiệt vì cái tội đẹp trai, đã làm cho Kiệt lúng túng thấy rõ. Thì ra Trần Tuấn Kiệt không sợ trời không sợ đất lại sợ quí cô nương cầu Ông Lãnh.   Lần sau cùng gặp lại, sau bao nhiêu năm xa cách, Kiệt vẫn là Kiệt « quậy » của năm nào. Chỉ có điều là tóc đã muối tiêu và hình như có nhiều mỏi mệt. Duy có một điều không mỏi mệt sau ngần ấy năm là việc nhắc tên của một người. Còn ai khác nếu không phải là nàng, giai nhân của đất Hà.    

   LePhuocDuong     Trái: Lê Phước Dương

            Dương với tôi là cặp bài trùng. Tôi gọi má của Dương là Chị Hai từ khi tôi biết Dương. Má của Dương bảo tôi gọi như thế vì chị gọi ba tôi là Cậu Năm, hình như là bà con xa chi đó (?). Tôi ăn ở nhà Dương. Tôi ngũ ở nhà Dương. Đôi khi tôi mặc cả quần áo của Dương. Tôi đã từng nói đùa với Dương là tôi lớn lên nhờ chén cơm phiếu mẫu. Nhưng nói như vậy là không đúng và không biết quí ân tình của Chị Hai bởi vì phiếu mẫu cho cơm Hàn Tín là bố thí, vã lại tôi không phải là Hàn Tín, còn những bữa cơm của Chị Hai là những bữa cơm trộn cả thương yêu vào đó đối với cả hai đứa tôi chứ không phải bố thí. Chị Hai rất thương Dương và vì là cặp bài trùng nên Chị Hai cũng coi tôi như con trong nhà. Nhà Dương có một bộ phản gỗ đặt ở phòng khách cạnh cửa sổ. Trên chiếc phản gỗ đó tôi đã có không biết bao nhiêu giấc ngũ trưa. Nói tóm lại, tôi gần gũi với Dương nhiều hơn là gần gũi với anh em ruột của mình.

            Dương rất trực tính. Ngay trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Dương vẫn thường xài thanh long đao của Quan Công hoặc cặp búa lớn của Trình Giảo Kim. Tuy nghe giọng điệu có vẽ táo tợn nhưng Dương lại là một người rất mẫn cảm, yêu thơ văn và có khả năng sáng tác, lại rất thủy chung. Dương lưu trữ từng sự kiện ở quá khứ của bốn đứa trong bộ nhớ. Dương có thể đọc vanh vách từng bài thơ của bạn bè đã sáng tác. Dương cưu mang từng kỷ niệm trên lưng với tất cả tự hào và với tất cả sự trân trọng. Nghe đâu Dương cũng rất can đảm trên chiến trường. May là gãy súng sớm chứ nếu không thì đã leo cao hoặc lên bàn thờ ngồi từ lâu.

            Dương ví tôi giống như Dương Quá si mê Cô Long nhưng thiếu thủy chung của gã. Đúng quá. Để đáp lại, tôi muốn tặng Dương một bài thơ ngắn của sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh.

« Dòng sông không chảy hai lần
 Ai hay giọt nước tần ngần không trôi
Luyến lưu là chuyện nực cười
Tử sinh bám siết ngàn đời biết sao. »

Dương cũng ví tôi như Lệnh Hồ Xung hai đạo hắc bạch đều chơi, chánh tà đều chẳng cần phân biệt. Đúng luôn. Dương thường nói « sinh ra Dương là cha mẹ còn hiểu Dương chỉ có một mình Hưng, và ngược lại. » Chẳng sai. Nhưng riêng góc khuất tâm linh thì tôi e rằng Dương chưa thật thấy hết. Có lẽ bây giờ là cơ hội tốt để tôi mở luôn cánh cửa cuối cùng để cho thằng bạn thân nhìn thấy, thông qua những dòng thơ tôi sáng tác hơn 40 năm trước khi hai đứa vẫn còn ngồi chung dưới một mái trường,

« Khói cay và cỏ lã
Còn em no bóng tối
Còn anh no hẹn hò
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi anh
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi em
Còn Ta
Tiếng im từ lòng thẳm
Không có màu thời gian
Bến đậu vô cùng
No xót xa?
No hy vọng?
Gì?

Anh cuối xuống ngực em màu sữa
Tiếng thở em
Và tiếng thở anh
Hòa quyện
Như loài rắn ân cần làm tình trong đêm tối
Ta đến gần
Ôm mặt trời trong tay
Mặt trời lạnh trong tay
Lạnh thủy tinh
Giữ một mình
Nơi miền của miền
Anh im lặng
Em nụ cười ngu ngơ
Ta bỏ đi, lành lạnh
Em nghe không
Tiếng thở dài nơi anh?

Mở con mắt tre gai
Nhìn nhau qua ngục tối
Môi tìm môi âm thầm
Tay tìm tay vòng rắn
Tiếng động nào tháng năm. »

(Đơn Điệu – 1970)

Cánh cửa đã mở xong. Bên sau cánh cửa vừa mở đó, ai mới là Hưng?

HaQuocHung (2)Trái: Hà Quốc Hưng

            Tuy là đôi bạn chân tình nhưng Govinda đã chọn theo chân đức Phật để trú ngụ dưới cây dù giới hạnh và hưỡng sự an lạc của một đời sống phạm hạnh trong khi Siddhartha thì đã chọn con đường trãi nghiệm của bản thân để khám phá chính mình và khám phá sự vận hành của pháp giới. Và trên hành trình đó Siddhartha đã từng đi đến tột cùng của những trụy lạc. Tuy sa đọa đến vậy nhưng tiếng « OM » linh thiêng vẫn chưa bao giờ rời bỏ tâm thức Siddhartha. Người chèo đò Vasudeva đã phải chờ ở trên dòng sông cho đến khi Siddartha giác ngộ. (« Câu Chuyện Dòng Sông » – Hermann Hesse). Có thấy ra thực tướng của thằng bạn chưa vậy Dương?

            Vì tri ân bạn bè cũ chung trường nên hồi tưởng lại cho vui. Có khi tất cả chỉ là hư cấu. Thánh ơi, hãy lôi cổ thằng Dương ra gõ một cái vào đầu nó thật đau và nói cho nó biết thế nào là:

« Một con sông chảy, một con sông
Một hạt nước trôi ngay giữa dòng
Đến đi như thế là như thế
Cần gì phải hỏi đục hay trong.
Một mùa đông lạnh, một mùa đông
Một hạt nước bay giữa tuyết bông
Đến đi như thế là như thế
Lưu dấu làm chi giữa hư không.
Một cơn mưa qua, một cơn mưa
Một hạt nước rơi chạm lá thưa
Đến đi như thế là như thế
Tưởng chi âm điệu dứt hay chưa. »

                                            (Hà Hưng Quốc – Tết 2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng, Hoàng Thị Minh Liên

Mong sao mưa mãi đừng thôi (Lê Phước Dương)

            Thầy Cô và các bạn thân mến, nếu Hà Quốc Hưng đã kể một chuyệt tình thật đẹp dưới cơn mưa trên đường Mạc Công Du Hà Tiên thì hôm nay Lê Phước Dương sẽ kể cho chúng ta nghe một mẫu chuyện êm dịu và nồng ấm như một sự đụng chạm của hai người khác phái…..Nếu nhạc sĩ Vinh Sử đã viết bài hát « Chuyến Xe Lam Chiều » thì nhà văn Lê Phước Dương cũng viết một bài văn kể chuyện trên một chuyến xe lam chiều từ Bãi Nò về chợ Hà Tiên…Có một điều khác là nếu như nội dung bài hát: 

« Trên chuyến xe lam đông người chiều nao
Xui mình không quen mà ngồi bên nhau
trời mang nhiều trớ trêu chi
Người chưa hề biết quen gì
Sao ngồi gần như tình nhân si »

Thì Lê Phước Dương còn được cái may mắn nhiều hơn là đã chẳng những quen biết mà còn là bạn học cùng lớp với người con gái ngồi gần trên xe lam,…và còn hơn nữa là không những ngồi gần mà còn ngồi trên đùi….Đó là nội dung của mẫu chuyện « Mong Sao Mưa Mãi Đừng Thôi » mà Dương sẽ kể cho chúng ta nghe dưới đây….(Trần Văn Mãnh)

                     Mong Sao Mưa Mãi đừng Thôi

Tên các nhân vật trong chuyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung:

  • A Tử (阿紫): Tiền Ngọc Dung
  • Kiều Phong (蕭峰): Hà Quốc Hưng
  • Đoàn Dự ( 段譽): Trần Tuấn Kiệt
  • Hư Trúc (虛竹): Trang Việt Thánh
  • Du Thản Chi ( 游坦之): Lê Phước Dương

Nếu Dung là A Tử, Hưng là Kiều Phong, Kiệt là Đoàn Dự, Thánh là Hư Trúc thì mình là Du Thản Chi….yêu A Tử mà chỉ xuất hiện phía sau chờ đợi một cử chỉ, một sự quan tâm tình cờ nào đó.

Năm Đệ Tứ nhờ cùng chơi với Trang Việt Thánh mà được học thêm môn Hình Học do Thầy Nguyễn Phước Hậu dạy thêm ở Chi Quan Thuế mà mình khá dần lên…lúc đó trong lớp mình cũng từ từ có mặt có mày.

Sau sự kiện đồng bào Việt kiều về Hà Tiên ở 2 trại tỵ nạn được dựng lên tại Chùa Phù Dung và Tam Bảo mà Hà Quốc Hưng tổ chức và đạo diễn chương trình văn nghệ bán vé cho học sinh của trường xem để lấy tiền gửi giúp đồng bào tỵ nạn. Nhờ đó đầu năm Đệ Tam xuất hiện cô nàng Nguyễn Kim Tuyến vào lớp học cùng 2 gã khờ còn lại…

Sau khi hát hò xong cả nhóm văn nghệ sỹ mướn một chiếc xe lạm chở ra Bãi Nò xã hơi hóng gió với giỏ bánh mì và patê gan. Lúc đi trời trong gió mát vì xe nhỏ chổ ngồi ít mà đi đông nên một vài bạn phải leo lên nóc mui xe mà ngồi. Từ Hà Tiên ra Bãi Nò đường rất xấu nên mình có cảm nhận lâu tới và chắc là cả tiếng đồng hồ ….Hưng ngồi cạnh Dung, từ lúc Dung giả chết (trong vở kịch) Hưng bồng Dung rồi ngần ngừ không chịu để xuống đến lúc này Hưng luôn bám sát Dung !!….

Rồi thì cuộc vui nào cũng có lúc tàn, họp rồi cũng tan. Sau khi vui đùa với biển thỏa thích sắp về thì Trời bất chợt đỗ cơn mưa mà lại là đám mưa giông sầm sập. Những bạn nam và nữ lẹ chân gần xe đã có chổ ngồi trên xe mình cũng có được một chổ ngồi dù là chật chội.

Bất chợt một giọng nói ngọt ngào quen thuộc :

– Dương cho Dung ngồi lên đùi nhé !

Chưa kịp trả lời thì một bờ mông mềm mại nóng hôi hổi …đặt lên đùi mình.
Thì ra là Dung, Dung đây mà ….do xe chật không chổ ngồi, ủa Hưng đâu?….Dung cố ý …hay Dung vô tình ??….!!

Một cảm giác rờn rợn của một thằng con trai mới lớn được gần gũi da thịt với người con gái mà từ lâu mình mơ mình ước ùa về …

– Dung ngồi vậy có nặng không Dương?

– Không đâu ! Dung cứ ngồi vậy đi. (Nói vậy chứ nặng muốn chết tê cả 2 chân!!)

Xe lam chở nặng chay đường xấu lúc nhào qua lúc lắc lại lúc dằn Dung nhảy lên đụng nóc xe thế mà không biết sức chịu đựng vô hình nào mà giúp mình chịu nổi.

– Mưa vậy Dương lạnh không?

– Không đâu Dung, còn ấm áp là khác nữa!!

Từ những cái chụp vào nhau để giử thăng bằng…Những cái chúi nhũi vào nhau khi xe dằn xóc, lại thêm cảm giác mềm mại của bờ mông, rồi mùi hương con gái nhè nhẹ bay vào mũi, làm mình đã len lén hít thật dài hít thật sâu để mong sao sẽ nhớ mãi mà không quên được mùi hương và khoảnh khắc này….

Xe chạy rề rề. Trời vẩn còn mưa….

Mong sao mưa mãi đừng thôi!

Dung vẫn đang ngồi trên đùi. Mộng hay thực?!!

Bất chợt có một điều ao ước hiện về ….Phải chi ngay lúc này một anh du kích nào đó nhào ra bắn thẳng vào xe một tràng đạn AK 30 viên!!…..Phải chi lúc này một trái mìn nổ ngay dưới bánh xe lam!!….
…để phút giây này là mãi mãi .
…để phút giây này là vĩnh viễn .
…để phút giây này là thiên thu.
………………………………..Dung ơi !
Lê Phước Dương
                                   (mùng 12 Tết  Bính Thân 2016 )

Hình ảnh những kẻ khờ, không biết gì trong lúc tuổi học trò ngây thơ, chỉ biết cùng  … »yêu »…một nàng « A Tử »

LePhuocDuongHaQuocHung

Du Thản Chi ( 游坦之): Lê Phước Dương  Kiều Phong (蕭峰): Hà Quốc Hưng

TranTuanKietTrangVietThanh

Đoàn Dự ( 段譽): Trần Tuấn Kiệt                       Hư Trúc (虛竹): Trang Việt Thánh

TienNgocDung_1A Tử (阿紫): Tiền Ngọc Dung trong một màn múa nón lá mừng Tết Việt Nam trên đất Pháp

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên, Hà Quốc Hưng, Tiền Ngọc Dung

 

Chỉ vì những giọt mưa thôi mà…(Hà Hưng Quốc)

Thầy Cô và các bạn thân mến, hôm nay xin giới thiệu một người bạn học cùng Trường Trung Học Hà Tiên Xưa, không ai xa lạ, đó chính là bạn Hà Quốc Hưng (hiện tại Hà Hưng Quốc). Bạn Hưng là một người bạn khá thân với mình, học sau mình hai lớp, cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân, Dương Hồng Minh,….Nhà bạn Hưng ở đường Nhật Tảo, Ba Hưng làm việc trong ngành y tế tại Hà Tiên…Hưng rất lãng mạn, đọc sách nhiều và rất hợp ý với mình về nhiều phương diện: triết lý, âm nhạc, thơ văn, bàn chuyện về con gái,…v..v….Nhiều khi mình và Hưng lại có chung một đối tượng nữ,…nhưng không phải là tình địch,….rất hiểu nhau và rất rộng lượng theo kiểu anh hùng « rơm » nam giới,..Thà hy sinh một người con gái còn hơn mất một người bạn thân….Theo lời Hưng kể thì Hưng học lớp « chót » (lớp 5 ngày xưa, lớp 1 bây giờ) ở Hà Tiên với Thầy La Từ Sự, sau đó chuyển về Cần Thơ, rồi chuyển về Rạch Giá học cho đến lớp Đệ Thất và sau cùng là trở về Trung Học Hà Tiên theo học lớp Đệ Lục cho đến hết các lớp bậc Trung Học…Như vậy là Hưng có đầy đủ tư liệu để xuất hiện trên trang Blog Trung Học Hà Tiên Xưa nầy và còn hơn nữa là Hưng đã đóng gớp rất nhiều bài vở rất hay và phong phú,…Bài số 3 dưới đây rất hay, (« Chỉ vì những giọt mưa thôi mà »…), bài kể lại một trong những chuyện tình thời học sinh, rất ngây thơ, rất đẹp, nhưng không kém phần lãng mạn trong đó,….Nếu Nguyễn Tất Nhiên đã viết « Thà như gịot mưa… » thì Hưng lại đổ lỗi cho những gịot mưa (« Chỉ vì những giọt mưa thôi mà »…).. không biết những giọt mưa làm điều gì đó mà Hưng lại viết như vậy, mời Thầy Cô và các bạn xem tất cả 3 mẫu chuyện dưới đây,…  (Trần Văn Mãnh)

1/ MAY LÀ CHƯA THÔI HỌC Ở NHÀ BÁN VÉ SỐ

Tôi chỉ học ở trường Tiểu Học Hà Tiên được có một năm thôi, là năm học lớp 5 (tức lớp 1 bây giờ) do Thầy La Từ Sự dạy, sau đó thì chuyển về trường Tiểu Học tỉnh Cần Thơ. Một năm sau lại chuyển về trường Tiểu Học tỉnh Rạch Giá. Rồi vài năm sau lại chuyển từ Rạch Giá về trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm học Đệ Lục.

            Những năm Tiểu Học của tôi là một cơn ác mộng dài dằng dặc. Không, không phải là ác mộng của bản thân tôi mà là của ba má tôi, vì có một quí tử như tôi. Suốt những năm này thành tích của tôi có thể gom gọn trong năm chữ: học dốt và phá phách. Tôi chuyên môn đội sổ. Tôi lười học đến độ mỗi ngày cô giáo phụ trách lớp vừa bước vào cửa là đã hét lên « Hưng đâu, lên đây trả bài ». Thế là tôi bị bắt quỳ trên bục giảng cả tiếng đồng hồ. Cô giáo thừa biết là tôi khá thông minh nên nếu để cho tôi có đủ một chút thời gian thôi, thí dụ như đợi đến sau khi điểm danh cả lớp xong, thì tôi sẽ thuộc bài ngay tại lớp và như vậy thì cô giáo sẽ mất cơ hội hành hạ đứa học trò mà cô muốn cứu rỗi. Về tài phá phách thì tôi nổi tiếng khắp cả Vĩnh Thanh Vân. Nói tới Hưng xoáy ngựa là tụi bạn học ở Rạch Giá sẽ ớn lạnh ngay. Nhờ có khiếu đánh nhau mà tôi có không ít kẻ thù. Tụi nó thù tôi đến độ có lần cả bọn hè nhau đè tôi ra giữa sân trường rồi banh hai con mắt ốc bu của tôi ra phơi dưới trời nắng trưa để trừng phạt. May là chưa bị mặt trời làm cho mù. Tóm lại, tôi phá phách và đánh nhau gần như mỗi ngày và bị bắt ngồi ở bàn đầu mỗi tháng không sót tháng nào, từ năm này sang năm khác (lúc xưa đứa nào đội sổ thì bị bắt ngồi ở bàn đầu gần thầy). Cũng may là ba tôi rất coi trọng việc học của con cái cho nên vẫn kiên trì bắt tôi tới trường chứ không cho tôi thôi học . . . ở nhà bán vé số. Nhờ vậy mà tôi cứ khập khiển bò lên tới bậc trung học.

HaQuocHung (2)HaQuocHung       

Hà Quốc Hưng thời Trung Học Hà Tiên

Trong năm đầu của Trung Học, một sự kiện rất ấn tượng đã xảy ra và nhờ đó mà tôi đã trở nên gắn bó hơn với những con chữ. Vào một ngày đẹp trời, lúc đó đã vào khóa học được hai tháng hơn, tôi lon ton đi theo một đám bạn gái cùng lớp và đã bị cả đám con gái này rộ lên cười chọc quê sau khi chúng nó thúc cùi chỏ vào hông nhau và buông ra mấy lời xỏ xiên « con bò xoáy ngựa đi theo mình kìa tụi bây » cố ý cho tôi nghe. Đúng là đám con gái cà chớn. Mà con bò thì làm gì có xoáy ngựa? Có nói lộn không vậy? Nhưng ví mình là con bò thì thiệt là quá đáng. Lòng tự ái và tự trọng của một đấng nam nhi đại trượng phu bị xúc xiểm nặng. Thế là tôi bắt đầu hành trình luyện công để chứng minh cho mấy em gái thấy là Hưng xoáy ngựa này không phải là « con bò » như các em đã công khai mạ lỵ. Tôi cắm cúi học. Ngoài việc học ở trường, làm bài tập ở nhà, tôi còn đọc thêm sách, rất nhiều sách, sách tây sách ta ta lẫn sách tàu. Mới đầu tôi đọc sách trong thời gian nhàn rỗi để không nghĩ đến chuyện đi chơi. Một thời gian sau thì tôi đâm ra ghiền sách. Tôi mê đọc sách đến độ không có đủ tiền mua sách tôi phải đến những quầy bán báo và tiệm bán sách xếp dọn sách báo cho người ta để được đọc ké. Đọc ngày lẫn đêm. Đọc đến độ bị ba má tôi cằn nhằn vì thức quá khuya. Bị la thì bị la tôi vẫn cứ mài miệt đọc, vẫn là quá nửa đêm nhưng phải chui vào mền bật đèn pin để đọc. Kết quả là đến cuối khóa học thì tôi đoạt được phần thưởng giỏi nhất trường của sáu lớp đệ thất. Phần thưởng nhiều đến độ phải có tới hai chiếc xe xích lô để chở về nhà. Dĩ nhiên là tôi cũng trở nên ngoan hiền đột xuất. Như vậy, có thể nói mà không sợ lầm lẫn, là tôi đã được đám con gái « khai quang điểm nhãn » vào năm đầu của trung học và nhờ sự kiện đó mà tôi trở thành một đứa học trò không tệ. Dĩ nhiên là đám con gái đó sau này đều trở thành bạn thân và tôn tôi là nam thần của họ (chỉ là nói đùa cho vui thôi). Tôi chuyển về trường Trung Học Hà Tiên với hành trang rất hách đó.

2/ VỊ THẦY ĐẦU ĐỜI CỦA TÔI

Chuyển về học ở Hà Tiên người thầy mà tôi nghĩ đến đầu tiên và sợ gặp mặt nhất là Thầy La Từ Sự, ông thầy đầu đời của tôi, dầu rằng tôi đã vào lớp Đệ Lục. Thú thật là đến giờ tôi không còn nhớ nổi gương mặt của thầy. Nhưng tôi còn nhớ sự tận tụy và thương yêu của thầy đã dành cho tất cả học trò của mình. Tôi còn nhớ những lần hai bàn tay mình đỏ tấy lên vì bị thầy đánh bằng cây thước kẻ, tuy đau lắm nhưng vẫn thương thầy. Tôi còn nhớ những lần sau khi ăn thước no nê còn phải đứng bên thầy nài nỉ ỉ ôi xin thầy đừng mách với ba mẹ về việc sai quấy mình đã làm vì sợ sẽ bị ba mẹ đánh thêm, giận thầy ghê lúc đó nhưng mà vẫn thương thầy. Tôi còn nhớ những lần khệ nệ bưng chồng sách bài tập của học trò nộp lên để chấm điểm đi theo về nhà thầy để rồi nhận được mấy viên kẹo và cái xoa đầu khen thưởng làm tôi rất hãnh diện vì được thầy chọn làm chú tiểu theo hầu sư phụ ngày hôm đó. Tôi còn nhớ là mình cũng đã từng ngắm nhìn rất lâu mái tóc bạc mầu dường như đã mệt mỏi theo tháng năm làm nghề độ trẻ qua sông của thầy mà rưng rưng nước mắt. Lúc đó, với trái tim vô nhiễm của một đứa trẻ con, tôi thấy thương thầy của tôi vô hạn.

Nha_Thay_LaTuSuĐường Bạch Đằng (Hà Tiên), nhà Thầy La Từ Sự

Nhà_Thay_LaTuSu_aNhà Thầy La Từ Sự đường Bạch Đằng (Hà Tiên), cữa vào nhà có viền vòng cung màu nâu.

           Thương thầy thì có thương, nhưng phá phách thì vẫn phá phách. Nếu không phá phách thì không phải là Hưng xoáy ngựa. Có một hôm thầy bảo tôi bưng một chồng sách về nhà cho thầy. Khi đi ngang qua phòng khách nhà thầy, tôi nhìn thấy ở đó có một chậu cá cảnh. Chắc là thầy mới mua hoặc là ai đó mới cho. Tôi kết mấy con cá cảnh của thầy nên quyết định sẽ mượn vài con về nuôi. Tôi tức khắc lên kế hoạch vận chuyển chúng về nhà một cách an toàn mà quỷ sẽ không biết thần sẽ không hay. Thế rồi thừa lúc thầy bận rửa tay ở nhà sau, tôi nhanh nhẫu nói to « Thưa thầy con đi về » rồi te te ra ngoài phòng khách, không chờ nhận kẹo và được xoa đầu như mọi khi, thuận tay vớt luôn hai con cá lia thia bỏ vào miệng với một ngụm nước sau đó nhanh chóng lau hai tay vào chiếc quần cụt đen đang mặc để phi tang dấu tích phạm tội. Tưởng đâu mình là thiên tài kế hoạch và hành động nhưng không ngờ là thầy đã đánh hơi sự bất thường. « Con làm gì đó Hưng? » tiếng thầy hỏi ngay sát sau lưng làm tôi giật thót người. « Dạ con thấy cá đẹp nên đứng ngó thôi hỏng làm gì hết á, thưa thầy » tôi trả lời và quay lại nhìn thầy với nụ cười thật tươi, dĩ nhiên là nụ cười giả tạo. Thầy nói « được rồi, thầy cảm ơn con giúp thầy, thôi con về đi ». Tôi vòng tay nói « Thưa thầy con về » rồi dong thẳng một mạch. Thế là tôi thoát nạn. Hú hồn. Chỉ tội nghiệp hai con con cá vô tội bị chôn sống trong bao tử tôi một cách tức tưởi. Giờ nghĩ lại tôi dám chắc là thầy đã nhìn theo rồi mỉm cười độ lượng. Cảm ơn thầy. Con còn nợ thầy hai con cá lia thia.

Goi_Pall_MallTrên, trái qua phải: Trang Việt Thánh, Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình (ba bạn học chung lớp với Hà Quốc Hưng). Dưới, trái qua phải: Trần Văn Mãnh, Trần Tuấn Kiệt (Kiệt chung lớp với Hưng), Hoàng Đức Trung

3/ CHỈ VÌ NHỮNG GIỌT MƯA THÔI MÀ

Tất cả các bạn học của tôi ở trường Trung Học Hà Tiên đều là bạn thân thương nhưng trong số bạn nam cùng lớp thì tôi đi chơi nhiều hơn với Thánh, Dương, Kiệt. Còn trong số bạn nữ thì tôi đặc biệt gần gũi với NL. Anh Trần Anh Kiệt, người anh trai của NL, thì học chung với anh Trần Văn Dõng. Còn NL thì thường đi chơi chung với chị Điệp và chị Loan. Nhà của NL ở ngay ngã tư. Mẹ của NL là một thợ may áo dài khéo tay nên NL lúc nào cũng có những chiếc áo dài trắng rất đẹp. NL có một vóc dáng thanh thoát và mái tóc dài óng mượt xõa ngang lưng. Với những chiếc áo dài tha thướt hở eo của mẹ tự tay may cho, NL vốn đã đẹp càng thêm đẹp. Đặc biệt hơn hết là NL có giọng nói của con gái bắc thật dễ thương. Tóm lại là tôi có một người bạn nữ tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Nhưng chúng tôi chỉ là bạn. Cũng không hẳn đúng như vậy. Nó vượt xa hơn tình bạn bình thường. Cũng chẳng biết nó là cái quái gì. Chỉ biết là mỗi ngày không gặp mặt nhau thì thấy có cái gì đó thật trống vắng, thấy « nhớ người rưng rưng ».  Nhưng hai đứa không phải là tình nhân của nhau. Gặp nhau chỉ để nói chuyện tầm phào. Cả hai đứa hay nói với nhau « hai đứa mình là bạn thân của nhau há ». Ừ, thì là bạn thân của nhau có sao đâu.

NguyenHongAn_avecHocTroTrái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên

          Tôi và NL có một kỷ niệm khó quên. Vào một ngày của năm học lớp Đệ Tứ hai đứa rũ nhau bỏ học đi hoang. Đó là một ngày mưa. Mưa thật nhiều nhưng trời không lạnh. Hai đứa trùm chung một chiếc áo mưa rồi khoác vai nhau đi lang thang hết con đường này sang con đường khác. Vừa đi vừa nghêu ngao đọc thơ, lan man từ bài thơ của tác giả này tới bài thơ của tác giả khác. Có lúc hai đứa hợp ca tân nhạc. Có lúc rống lên ca vọng cổ. Có lúc bóng gió trêu nhau. Có lúc ăn chung một trái cóc ngâm cam thảo. Nói chung là hứng gì làm nấy. Rồi chuyện đáng nhớ xảy ra.

Lúc hai đứa đang đi trên con đường từ nhà anh Mạnh Thường hướng về phía bờ sông thì ba của tôi xuất hiện từ góc quán cô Năm Lèo và đang hướng tới phía chúng tôi. Ông đạp chiếc xe đòn dong cọc cạch trong mưa, người ướt sủng nước. Tôi cúi người xuống và kéo áo mưa che thấp hơn một chút với hy vọng là ông không nhìn ra hai đứa tôi. NL ôm ngang hông tôi rù rì bên lỗ tai « Bác Năm thấy thì chết ». Thiệt tình là tôi cũng hơi run và lo hai đứa sẽ bị tóm tại trận. Tôi cố ép NL đi sát vào lề đường để tránh chạm mặt với ba tôi. Nhưng điều bất ngờ là khi xe ba tôi vừa tới gần, cách chừng vài bước chân, thì NL lại thò đầu ra và hét lên « Bác Năm ơi tụi con nè ». Theo phản ứng tự nhiên, tôi xoay người một tay ôm eo NL kéo sát vào mình còn tay kia đưa lên bịt miệng. Nhưng đã trễ. Ba tôi đã thắng xe và đã nhìn thấy chúng tôi. Tệ hại hơn là chiếc áo mưa đã tuột xuống đất nên ông nhìn thấy hai đứa tôi vào khoảnh khắc đó y như là đang ôm nhau xà nẹo làm trò khỉ dưới mưa. Mưa rơi như trút nước. Chỉ một khoảnh khắc thôi là hai đứa đã ướt sủng. Một khoảnh khắc thôi mà dài như thiên thu. Tôi ước gì mình là gã Thổ Hành Tôn trong chuyện Phong Thần có phép chui xuống đất để trốn khỏi hiện trường. Còn NL thì lại cười ngặt ngẽo trong vòng tay tôi, coi chuyện đùa quá trớn này như pha. Từ phía lề bên kia đường ba tôi to tiếng hỏi « Hai đứa bây làm gì đấy? » Ổng hỏi vậy là có ý gì vậy trời? Tôi nghĩ thầm trong đầu. Rồi chợt nhớ ra là mình vẫn còn đang ôm eo NL, tôi hoảng hồn rụt tay lại dấu sau lưng mình, miệng lí nhí không ăn nhập đâu vào đâu, « Dạ chỉ vì những giọt mưa thôi mà ». Trời đất ngó xuống mà coi, tôi đã trút tội lên ông trời. Chắc chắn là ba tôi chẳng nghe được tôi đã nói cái gì. Thay vì đứng xê ra một chút thì NL lại vòng ra phía sau lưng tôi, hai tay ôm chặt lấy eo tôi, mặt kề vào lưng tôi, giống như là đang chơi cút bắt với ba tôi, rồi hét to như muốn át tiếng mưa « Bác Năm ơi, Hưng rủ con trốn học đi lang thang trong mưa để làm thơ đó ». Không biết ba tôi đã thấy gì qua đôi mắt của ông và nghĩ gì trong cái đầu của ông. Còn riêng tôi thì chỉ nghe ông gầm gừ « Đưa NL về nhà nó nhanh lên! » (nếu bạn chưa biết thì xin giới thiệu ba tôi là ông Năm Dần, còn có biệt danh là ông Năm Cọp, cho nên ổng thích gầm gừ). Ba ra lệnh xong là đạp chiếc xe cọc cạch đi thẳng một mạch chẳng thèm ngoái lại. Tôi đứng như trời trồng, lo rằng mình sẽ bị nện một trận nên thân khi về tới nhà, còn NL thì lui cui cuối xuống lượm áo mưa trùm lên hai đứa. Em còn cười rút rít nói nhỏ vào tai tôi chọc ghẹo « chỉ vì những giọt mưa thôi mà ». Nâng cái áo mưa cho cao hơn đầu một chút, tôi xoay người đối mặt với NL, định gây với ả về cái nết bốc đồng, nhưng đã kịp giữ lại lời nói. Bởi vì, bên trong chiếc áo mưa trùm lên hai đứa đứng thật gần nhau, tôi đã thấy đôi mắt tròn xoe của NL nhìn tôi, nghịch ngợm và . . . che dấu. Che dấu một cái gì đó, dường như là cảm xúc ngọt ngào. Một lúc lâu cả hai đứa đều im lặng nhìn nhau, thật sâu, sâu tới tận đáy hồn. Rồi từ từ tôi nghe rõ tiếng đập trong lồng ngực của em. Rồi từ từ tôi nghe tiếng thở dường như là đứt khoảng của em. Rồi từ từ tôi nhận ra vùng ngực no tròn của em đang phập phồng bên sau lớp vãi sủng nước. Đột nhiên tôi nhận ra là NL đã trưởng thành hơn tôi rất nhiều. Đột nhiên tôi nhận ra em quyến rũ hơn cả Ma Đăng Già. Đột nhiên tôi nhận ra mình run như tôn giả A Nan đứng trước ma nữ. Đột nhiên tôi nghe tim mình đâp loạn nhịp và tiếng thở của cũng đứt khoảng. Đột nhiên tôi lấy hết can đảm đặt cả hai bàn tay lên đôi vai nhỏ của em và bóp nhẹ. Đúng vậy, phải lấy hết can đảm, dầu rằng trước đây tôi đã cùng em khoác vai nhau rất nhiều lần và trước đây chỉ mấy phút thôi tôi đã ôm eo em một cách . . . rất đàn ông, như gã tài tử trong bộ phim « Cuốn Theo Chiều Gió », chỉ là thiếu cái hôn thôi. Thiệt tình là trong khoảnh khắc đó tôi rất muốn ghì em thật chặt vào vòng tay của mình và hôn em thật say. Nhưng mà chẳng dám. Chỉ vì tôi sợ rằng nếu táo tợn vượt qua một giới hạn mong manh thì tức khắc sẽ làm vỡ mất một tình bạn trong suốt như pha lê. Tôi không có thần chú Thủ Lăng Nghiêm để chống lại cám dỗ. Nhưng tôi đã, chỉ vì tôi trân trọng tình bạn trong suốt như pha lê đó. « Ừ, chỉ vì những giọt mưa thôi mà », tôi lập lại lời em và buông tay. Đột nhiên tôi bước ra khỏi chiếc áo mưa trùm lên hai đứa, dang rộng hai tay và ngửa mặt lên trời để cảm nhận những giọt mưa rơi rát mặt. Đột nhiên tôi lao về phía trước và hét to trong mưa « Chỉ vì những giọt mưa thôi mà ».   Phải rồi, chỉ vì những giọt mưa thôi mà! Tất cả đều đột nhiên. Ngoại trừ cái đột nhiên sau cùng là sự đột nhiên cố tình để dành lại tự chủ của một gả con trai vừa mới lớn. Phải rồi, chỉ vì những giọt mưa thôi mà! Phải rồi, chỉ vì những giọt mưa thôi mà!

Diep_Nuong_Nien_Xuan_Hong_LienLớp học chung với bạn Hà Quốc Hưng: Hàng trên: Nguyễn Thị Điệp, Mỹ Nương, Thái Thanh Niên, hàng dưới: Mai Thị Ngọc Xuân, Tăng Thu Hồng, Trần Thị Như Liên (nhà tiệm may đường Phương Thành đối diện nhà Điệp)

haQuocHung_3Bạn Hà Hưng Quốc hiện nay (đang suy tư để viết sách về Triết lý Đông Phương…)

                                                                              Hà Hưng Quốc (13/tháng hai/2016)

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Thị Điệp, Lê Thị Việt Nga, Hoàng Thị Minh Liên, Hà Quốc Hưng…