Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu

 

 

Cô Nguyễn Ngọc Mai

Thầy cô và các bạn thân mến, qua những trang viết về Thầy Cô đã từng giảng dạy các trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên và Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa mà chúng ta đã có dịp hoặc gặp gở trực tiếp hoặc biết được thông tin hiện tại của quý Thầy Cô…Thật là một điều rất quý và rất may mắn cho tất cả học trò chúng ta yêu thầy cô và không bao giờ quên ơn thầy cô đã từng trên lớp giảng dạy và sinh hoạt với chúng ta ngày xưa…Bây giờ thêm một trường hợp rất hay cho chúng ta vì nhóm học trò của chúng ta qua sự thông tin liên lạc của các bạn học ngày xưa mà chúng ta đã tìm ra được cô Nguyễn Ngọc Mai, một người cô đã dạy tại trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa, với những sinh hoạt giáo huấn học trò qua các bài giảng về Đạo Pháp Phật giáo của cô Mai, chúng ta thật là không thể nào quên được hình dáng cũng như giọng nói của cô …Kết quả của sự tìm hiểu về thầy cô của chúng ta là một nhóm học trò Hà Tiên đã thực hiện được một chuyến đi viếng thăm cô Mai tại Long Thành (Đồng Nai). Sau đây xin giới thiệu thêm một bài viết nhớ về cô Nguyễn Ngọc Mai do bạn Giá Khê viết rất hay vì có những chi tiết mà đến ngày nay chúng ta mới hay biết…Xin cám ơn bạn Giá Khê và xin mời thầy cô và các bạn đọc bài nhé,..(TVM viết lời giới thiệu)

Cô Nguyễn Ngọc Mai (tác giả Giá Khê)

Hôm 14 tháng 6 vừa qua, đoàn học sinh Trung học Hà Tiên xưa gồm 4 người: Trần Văn Dõng, Trần Quý Nương, Lý Thúy Hà và Trương Thanh Hùng đang sinh sống ở Sài Gòn đi Long Thành thăm cô Nguyễn Ngọc Mai, một người giáo viên của trường Tiểu Học Hà Tiên xưa. Một chuyến đi khá nhiều kỷ niệm và rất có ý nghĩa. Anh Dõng đã có bài viết về chuyến đi này và đã được đưa lên trang “Trung học Hà Tiên xưa” của chúng ta rồi. Nhưng tôi vẫn muốn viết thêm một ít (Dương Văn Hiến giao nhiệm vụ) để Thầy, Cô và các bạn hiểu thêm về một cô giáo tương đối đặc biệt đã từng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục trên đất Hà Tiên thân yêu của chúng ta.
Như Anh Dõng đã viết, đoàn chúng tôi đến điểm hẹn của cô Mai trước một nhà hàng ven quốc lộ vào lúc hơn 10 giờ. Không thấy Cô đâu, Quý Nương lấy điện thoại ra gọi nhưng không liên lạc được, mấy anh em đang lo lắng thì thấy một người phụ nữ cao tuổi (hơn chúng tôi) mặc cái áo xanh của anh em dân phòng, đạp chiếc xe đạp cũ kỹ từ xa đi lại. Anh Dõng nói ngay: “Chắc là cô Mai rồi!”. Đúng là Cô Mai. Cô thấy chúng tôi thì dừng xe lại hỏi với vẻ mừng rỡ: “Quý Nương đâu?”. (Tôi và anh Dõng đứng hơi xa chiếc xe, còn Quý Nương và Thúy Hà ở gần xe), ngay lúc đó, Thúy Hà đi đến, cô liền gọi “Quý Nương”, Thúy Hà nói “Em không phải Quý Nương, Quý Nương còn ở trong xe”, cô nói “Sao giống Quý Nương quá”. Rồi Quý Nương cũng đến. Cô hỏi tíu tít về từng người, vì chúng tôi không ai là “học trò ruột của cô”, cô chỉ biết Quý Nương thôi.
Sau đó, Cô đưa chúng tôi về nhà người học trò ở gần đấy, anh này làm nghề sửa xe gắn máy, xe đạp, có một cửa tiệm bán đồ phụ tùng hẳn hoi. Chúng tôi hơi ngạc nhiên vì sự nhiệt tình của vợ chồng “người học trò” này. Mọi người vào phòng khách hỏi thăm cô ít chuyện, trao quà, chụp hình vừa xong thì chủ nhà mời ra phòng ăn phía sau. Anh chủ nhà cùng ngồi nói chuyện với chúng tôi. Bàn ăn có khổ qua xào thịt bò và mấy món đồ ăn chay, có cả bia, rượu rất chu đáo. Vừa ăn, chúng tôi vừa hỏi Cô nhiều điều, Cô cũng hỏi lại và nhắc những kỷ niệm khi cô còn dạy học ở Hà Tiên. Qua đó, chúng tôi mới biết thêm về Cô, xin kể ra đây để mọi người cùng biết:

Học trò xưa trường Tiểu Học Hà Tiên đến thăm cô giáo Mai từng dạy học tại Hà Tiên (1961 – 1968). Hàng đứng: Trần Quý Nương, Lý Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng (tác giả bài viết), Người ngồi là cô Nguyễn Ngọc Mai.

Cô Nguyễn Ngọc Mai về Hà Tiên dạy học từ năm 1961 đến năm 1968 thì cô chuyển đi nơi khác. Cô Mai là một người mộ đạo Phật từ lúc còn trẻ nên khi dạy học ở Hà Tiên, cô gần gũi với Tịnh xá Ngọc Hồ. Thời gian đó, thầy Lê Quang Khanh (em thầy Lê Quang Thuyên, con của thầy Lê Quang Phấn) rất có cảm tình với Cô và có đặt vấn đề đi tới hôn nhân (theo lời của cô Mai kể), lúc đó Cô rất sợ chuyện nam nữ, không muốn để thầy Khanh theo đuổi, cô mới cạo đầu và ăn mặc rất giản dị. Sau một thời gian, cô lên Sài Gòn học tiếp ở Đại học Vạn Hạnh thì có quen với một vị bác sĩ y khoa, cô cũng có cảm tình, nhưng khi đặt vấn đề hôn nhân thì cô từ chối, quyết một lòng theo Phật và sự nghiệp giáo dục, không để tình cảm hôn nhân chi phối. Lúc nói chuyện, tôi có nói vui: “Tại cô mà cho đến bây giờ thầy Khanh cũng không lập gia đình. Hiện Thầy ở Sài Gòn, cô có muốn gặp Thầy không?”. Cô lắc đầu trả lời “Không! Bây giờ cô đã buông bỏ hết rồi, chỉ lo làm từ thiện giúp đời mà thôi”. Hỏi tại sao Cô không mặc áo lam như những người tu hành khác, Cô nói: “Chiếc áo đâu nói lên được gì, theo đạo đâu nhất thiết mặc áo nhà Phật, miễn tâm mình tốt, mình chăm làm điều thiện là được rồi!”. Tôi hỏi “Khi ở Hà Tiên, điều gì tạo ấn tượng cho cô nhiều nhất?”, Cô nói hiện Cô đã buông bỏ hết nên không có ấn tượng gì hết. Nhưng qua cuộc nói chuyện, tôi thấy Cô rất mến Hà Tiên, Cô nhắc nhiều người, đồng nghiệp của Cô, nhất là thầy Minh và thầy Phát; Cô nói rất rõ chuyện thầy Khanh, điều đó chứng tỏ Hà Tiên vẫn còn đậm trong lòng Cô. Nhất là khi được học trò Hà Tiên xưa đến thăm làm cô hết sức vui và nói chuyện khá nhiều.
Một vài chuyện nói thêm về Cô Mai cung cấp cho quý Thầy Cô và các bạn.
Trong chuyến đi thăm cô Mai lần này có sự động viên của anh Mãnh, bạn Hiến và tấm lòng của Quý Nương, Thúy Hà. Xin cám ơn các bạn!

   Tác giả bài viết: Giá Khê (06/2018)

         

Tái bút: Để nhắc lại đầy đủ các kỷ niệm về cô Nguyễn Ngọc Mai, mình xin chép lại ở đây bài viết lời giới thiệu đã đăng trong phần giới thiệu bài « Học trò Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên đi thăm cô giáo Mai ngày xưa » do tác giả Trần Văn Dõng viết.

Thầy cô và các bạn thân mến, nhân dịp khi mình viết bài « Ngôi Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh) » mình nhớ lại từng hình ảnh thầy cô đã giảng dạy trong ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên thân thương nầy….Ký ức mình chợt thoáng hiện lại hình ảnh một người cô giáo rất có ấn tượng khi còn dạy học ở Hà Tiên trong những năm 60…, đó là cô Nguyễn Ngọc Mai. Vào khoảng đầu tháng 5 vừa rồi mình có nhắn tin trên mạng xả hội fb để nhắc nhở với thầy cô và các bạn ở Hà Tiên, có ai còn nhớ ngày xưa ở trường Tiều Học Hà Tiên có một giáo hình như tên là Cô Mai, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác….Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ , có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của , vậy các bạn và quý thầy các trường Tiểu Học, Trung Học Hà Tiên, có vị nào còn nhớ không, xin cho mình các thông tin, các kỷ niệm về cô Mai nhé, rất cám ơn tất cả. Kết quả việc nhắn tin nầy là có rất nhiều thầy cô và các bạn đã đóng góp thông tin về cô Mai, về đời sống hiện tại của cô sau khi đã rời khỏi ngôi trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên. Đặc biệt là có chị Dương Hồng Châu và các bạn Trần Quý Nương, Lâm Thị Lan,..v..v… đã cho tin chính xác về cô Mai. Theo như tin đã nhận được thì Cô Mai khi xưa dạy lớp nhất hay lớp tiếp liên. Ngày xưa trong thời gian đi dạy có lúc ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung, bạn Chung Lưỡng Tài học chung lớp với anh Trần Văn Dõng),  nhà trên đường đi Thạch Động. Bạn Tài Chung có một người mà Quý Nương cũng gọi bằng ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước của Tài Chung có dẩn bạn Quý Nương đến thăm cô Mai. Sau này vì của Tài Chung ở tận chùa ở Long Thành nên ít tới lui những chùa ở Thành phố.  NHờ những thông tin mới nầy, các bạn học trò xưa ở trường Tiểu Học Hà Tiên, vì muốn tỏ lòng nhớ ơn cô Mại nên đề nghị tổ chức một ngày đi thăm cô, vì các bạn cũng ở tại Thành Phố Sài Gòn nến đường đi cũng thuận tiện. Bàn qua tính lại, liên lạc thông tin lẫn nhau, sau cùng phái đoàn đi thăm cô có được 4 thành viên: Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Lý Thúy Hà và Trần Quý Nương, trong lúc đó cũng có một số các bạn khác cũng có ý định tháp tùng đi theo nhưng giờ chót vì mỗi người đều có việc riêng trở ngại, một vài bạn ở nước ngoài cũng góp công sức chút ít về phương diện vật chất, rốt cuộc việc đi thăm cô diễn ra vào ngày thứ năm 14/06/2018, công cuộc diễn biến rất tốt đẹp, có chụp hình với cô lưu niệm và trao quà, khi viếng chùa xong, phái đoàn cũng nhận được quà do Sư Bà trụ trì chùa biếu tặng, thật là rất may mắn và rất vui mừng khi thấy học trò Hà Tiên chúng ta tuy thời gian đã qua mấy chục năm nhưng lúc nào cũng tỏ lòng nhớ ơn quý thầy cô đã từng giảng dạy ở mái trường thân thương Hà Tiên. (TVM)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Còn nợ Thầy một lời hứa (Huỳnh Kim Nguyệt)

Còn nợ Thầy một lời hứa

Khi tôi biết có Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa» chủ bút là anh Trần Văn Mãnh, trong lòng tôi ấp ủ một ý định phải viết về một người Thầy đã dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên và cũng đã qua đời, đó là Thầy Nguyễn Văn Hùng.

Vào năm tôi học lớp 10 (niên khóa 1974-1975) Thầy dạy môn Toán. Thầy rất vui tính và giảng bài rất hay, rất dể hiểu. Khi giảng bài Thầy hay dùng từ « Nếu và chỉ nếu » (thí dụ như Thầy nói : « Nếu và chỉ nếu A+B =AB thì ta có…v…v.. ». Thầy rất cởi mở, vui vẻ …Khi chứng minh một bài toán hay là làm một chuyện gì đó, Thầy thường hỏi « Các em chịu chưa? », thì « đám » con gái trong lớp traả lời thật lớn: « Dạ em chịu Thầy », mà tiếng « chịu » kéo dài đến tận Mũi Cà Mau. Lúc đó Thầy đứng trên bục giảng chỉ cười trừ (thật là nhất quỷ, nhì ma thứ ba học trò, phải hông các bạn?!). Đến lúc tôi nghỉ học thì tôi đã được học với Thầy một năm rưởi rồi, khi gặp Thầy vẫn chào hỏi cung kính. Đến đầu năm 1982 tôi được Thầy kêu đến họp mặt bạn cùng lớp tại văn phòng trường vào buổi tối, vì có các bạn học ở xa về thăm trường, các bạn tôi lúc nầy có bạn đã là Nhà Giáo, Dược Sĩ, Nha Sĩ, Y Sĩ, có bạn là công nhân viên chức, còn tôi là kế toán của một ngành kinh doanh. Buổi họp mặt rất vui, Thầy kể đủ thứ chuyện, đó là buổi họp mặt đầu tiên của lớp 10B. Rồi đến năm 1983 tôi lảnh nhiệm vụ phụ trách một ngành, lúc đó đi hội họp thương xuyên và gặp Thầy nhiều hơn (Thầy giờ là Trưởng Phòng Giáo Dục). Mặc dù là Thầy trò nhưng là Trưởng Ban ngành với nhau nên lúc nầy tôi mới có dịp nói chuyện với Thầy nhiều hơn. Thầy thường kể chuyện cho tôi nghe và Thầy cũng tâm sự về người yêu của Thầy (vì người yêu của Thầy là bạn của tôi ). Đến năm 1984 tôi đang học Đại Học tại chức ở Rạch Giá, Thầy đi họp ở Sở Giáo Dục, Thầy trò có dịp gặp lại nhau. Thầy buồn buồn kể là Thầy và người yêu có chút chuyện nên đã chia tay (nhưng tôi đã biết nguyên nhân sự chia tay vì người yêu của Thầy đã kể cho tôi nghe rồi), tôi không nói gì chỉ an ủi và chia sẻ nỗi buồn cùng Thầy. Thầy trò ngồi buồn hiu ! Rồi bổng nhiên Thầy chuyển đề tài, Thầy hỏi tôi : « Em hay gì hông ? » Tôi cũng ngạc nhiên hỏi : » Gì hả Thầy? « …..Lúc đó thì Thầy trở lại là Ông Thầy vui tính mà tôi từng biết ngày xưa, Thầy nói:  » Trong lớp học, tổ thảo luận của em có người để ý em, nhờ làm mai hỏi cưới em đó! ». Thầy nói và Thầy cười « chọc quê » tôi quá trời luôn. Vì trong tổ thảo luận có 5 nữ, 4 cô chưa chồng mà không chọn, mà lại chọn nhầm tôi đứa đã có chồng có con mà hỏi cưới! Là vì tôi đã lập gia đình rồi, bởi vậy Thầy mới cười và « chọc quê » tôi là vậy đấy!

Thầy Nguyễn Văn Hùng cùng các em học trò (Từ trái qua phải : Trương Ngọc Nữ, Lương, Nguyễn Yến Hương và Lâm Mỹ Tiên)

Đến năm 1985, nhà Ba tôi có ghe cào và Ba tôi « vượt biển » …Tôi bị kỷ luật lây (vì đi vượt biên là không yêu nước), tôi đang học khóa Đại Học thì bị cho nghỉ học luôn, buồn !!!

Thời gian nầy Thầy hay nói chuyện với tôi nhiều hơn, tôi nhớ có một kỳ họp rất đông ở hội trường, đang họp thì trời đổ cơn mưa, tôi lơ đểnh nhìn ngoài trời mưa và Thầy đã nhìn thấy. Đến giờ giải lao Thầy lại ngồi chung bàn với tôi, Thầy hỏi: «Sao buồn vậy, đừng thèm buồn em!» Lúc đó tôi mới nói với Thầy: «Thầy xem em có được học như các bạn đâu, em toàn là học khóa ngắn hạn nghiệp vụ thôi, mà giờ còn bị cho nghỉ học». Thầy ân cần khuyên tôi: « Học ở trường đâu bằng học ở ngoài đời, những gì em va chạm với đời em sẽ linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh thực tế hay hơn, hiện giờ em rất giỏi mà ». Tôi có giỏi gì đâu! Thầy chỉ động viên cô học trò ngày xưa mà thôi, tôi biết vậy nên cười cho Thầy vui. Đến khi Thầy lập gia đình, rồi Thầy giả từ Hà Tiên về quê Thầy……

Từ đó, thỉnh thoảng tôi gặp lại Thầy vài lần ở Sài Gòn. Đến năm 1993 tôi đi Sài Gòn để khám bệnh, rồi tình cờ gặp Thầy, Thầy trò vào quán càfê nói chuyện rất lâu. Nhà Thầy ở bên Thủ Thiêm, đến lúc chia tay Thầy kêu tôi phải đến nhà Thầy, rồi Thầy dặn đi dặn lại… «Em nhớ đến nhà nghe » và tôi đã hứa với Thầy là tôi sẽ đến …!. Nhưng Thầy đâu có biết, ngày gặp Thầy nói chuyện với Thầy đó, là ngày mai tôi phải nhập viện để chờ mổ ! Tôi dấu chuyện nầy với Thầy, tôi đâu dám nói là tôi đang bệnh, tôi sợ Thầy lo và sợ làm phiền Thầy đến bệnh viện để thăm tôi. Thầy đâu có biết người ta nằm viện 7 – 10 ngày là xong về nhà, còn tôi phải kéo dài nằm viện gần cả tháng trời, sức khỏe yếu khi ra viện tôi phải về quê tịnh dưởng, nên tôi mãi nợ Thầy một lời đã hứa… !

Học trò đến thăm thầy Nguyễn Văn Hùng, phía sau là phu nhân của thầy Hùng. (Củ Chi)

Thầy Nguyễn Văn Hùng

Rồi khi ở fb kết nối với các bạn và người đồng hương…tôi mới biết Thầy đã ra đi vĩnh viễn rồi … !!! Đối với Thầy tôi không phải là người vô tâm đâu, vì cuộc sống của tôi có quá nhiều biến cố và cuộc đời tôi có quá nhiều bước thăng trầm nên tôi không đến nhà Thầy được như đã hứa. Hôm nay cũng gần tới ngày Tri Ân Thầy Cô rồi, tôi viết về người Thầy yêu quý luôn động viên tôi trên bước đường đời khi tôi vấp ngã…để bây giờ biết tin Thầy đã mất, tôi không còn cơ hội gặp Thầy. Nơi cõi vĩnh hằng đó, tôi biết Thầy tha thứ cho tôi vì Thầy luôn là vậy cơ mà! Giờ đây tôi viết những dòng chữ nầy cho Thầy, tôi mới vơi đi nỗi ray rức trong lòng và tôi xin gởi bài viết vào Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa», để mãi nhớ về người Thầy đã từng dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên, nơi quê hương Hà Tiên mến yêu …!

Thưa Thầy ! Thầy có rất nhiều học trò của Thầy ở Hà Tiên nầy đó Thầy à! Chúng em luôn kính nhớ về Thầy !!!

Huỳnh Kim Nguyệt (tháng 11/2017)

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: Huỳnh Kim Nguyệt tuổi học trò.

Hình phải: Huỳnh Kim Nguyệt tuổi vào đời làm việc.

Hình ảnh: Huỳnh Kim Nguyệt, Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Yến Hương, Hàng Phụng Linh

 

 

 

 

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành

Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » đã viết rất nhiều bài giới thiệu những thầy cô yêu quý đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên xưa, nếu không nhắc đến thầy Nguyễn Văn Thành thì sẽ là một thiếu sót đáng kể…Mình không biết trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta có tất cả là bao nhiêu đời Hiệu Trưởng nhưng theo mình biết trước thầy Nguyễn Văn Thành trường Hà Tiên chúng ta có hai thầy Hiệu Trưởng:  thầy Doãn Quốc Sỹ và sau đó là thầy Lại Xuân Quất (khi mình vào bậc Trung Học niên khóa 1964-1965 thì thầy Lại Xuân Quất đã là Hiệu Trưởng của trường. Sau đó có đợt giáo sư ở Sài Gòn được bổ nhiệm xuống trường Hà Tiên (khoảng năm 1964-1965), trong đó có thầy Nguyễn Văn Thành dạy môn Lý Hóa, khi mình vào lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1966-1967) thì thầy Thành bắt đầu nhận chức Hiệu Trưởng của trường Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Văn Thành cũng thuộc trong nhóm giáo sư ở trọ căn nhà số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên (Quý thầy ở trọ trong căn nhà nầy là: Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Hồng Ẩn, Phùng Tuấn Sinh, Nguyễn Văn Thành, Út, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Phan Văn Chiếu, Bùi Văn Cầm…..)

Trong khoảng thời gian đó sau khi có biến cố 1963, các tướng lảnh bắt đầu nắm quyền hành trong nước, lúc đó có tướng Nguyễn Khánh với bộ râu dưới càm rất lạ và rất oai. Thầy Nguyễn Văn Thành cũng theo phong cách để râu càm như vậy…

Lớp mình có nhiều kỷ niệm với thầy Thành, xin kể kỷ niệm thứ nhứt:

Vì thầy dạy môn Lý Hóa nên trong những giờ môn Vật Lý thầy thường giảng về các khái niệm: « Năng Lượng », « Điện Tích », « Điện Trường »,….và định luật Coulomb. Trong các ký hiệu dùng để diển tả công thức, thầy thường dùng ký hiệu Q (đọc theo âm Việt là « cu »…), và khi trên bảng thầy viết có hai công thức khác nhau nên thay vì dùng hai ký hiệu khác nhau Q1 và Q2, thầy lại dùng hai ký hiệu Q và q, thầy đọc trong lúc giảng… »cu lớn » và « cu bé »…!!! làm cả lớp cứ khúc khích cười không tập trung theo dỏi bài giảng được.

Kỷ niệm thứ hai:

Mình không nhớ vì một lý do gì đó mà thầy vào lớp để điều tra xem có học sinh nào làm một điều gì đó mà mình quên rồi, thầy đứng trước giữa lớp cứ hỏi to và nhiều lần: « Em nào vào đây ?? », « Em nào làm hãy cứ ra nhận lỗi ?? « ….Cả lớp im phăng phắt vì không ai ngu dại gì ra nhận tội….Cả lớp cứ chối: « Đâu có ai làm gì đâu thầy ơi…!! » Chờ và hỏi hoài không thấy có kết quả thầy giận quá thầy quát to: « Không ai « quô » đây thì ma quỷ nó « quô » đây …!! »….Câu nầy về sau mình và Lý Mạnh Thường rất thích cứ nhái đi nhái lại thầy hoài (dỉ nhiên là đâu dám nói trước mặt thầy…)

Kỷ niệm thứ ba:

Kỷ niệm nầy lại rất ghê gớm…Rất nhiều lần học trò thường hay đến chơi nhà quý thầy ở trọ (căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên), mỗi lần các học trò « thân » đến chơi, các bạn thường khai ra hết những chuyện bí ẩn trong lớp cho quý thầy biết,..Có lần đó không có mặt mình, có một nhóm bạn hình như là Lý Cui, Lý Văn Tấn,…đến nhà thầy chơi tối, không biết là thầy Thành tò mò hỏi các bạn nầy hay các bạn nầy tự khai ra mình không nhớ rỏ, mà các bạn đã khai ra hết trong lớp mình, ai là bồ của ai, hay là ai « yêu » thích ai.. …Thời đó trong lớp có Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm nhỉ) cặp bồ với bạn Quách Thị Chol, còn nhiều cặp nữa mà mình đã quên rồi, chắc lúc đó các bạn Lý Cui và Tấn Lý có khai trường hợp của mình nữa…Thầy Thành nghe các bạn khai hết như vậy rất thích, không biết thầy có ghi lại tên mỗi cặp cho dể nhớ hay không mà sáng hôm sau, có giờ thầy Thành dạy Vật Lý, thầy bắt đầu kêu tên trả bài, thầy cứ kêu tên một bạn nam và sau đó thầy kêu tới tên bạn nữ trong cặp nam nữ mà thầy đã biết đêm hôm qua, lúc đầu trong lớp không ai để ý, một lúc sau, cả lớp khám phá ra quy luật kêu tên trả bài của thầy Thành, lúc đó cả lớp hiểu ra chiến thuật đó nên rất thích chí và cười to mỗi khi có một nam và một nữ đúng tên trong một cặp bị kêu lên trả bài,…Bởi vậy khi thầy kêu tên bạn nam A thì cả lớp nói bạn nữ B phải chuẩn bị đó….(trong cặp nam nữ tên A và B)…Đọc đến đây chắc các bạn muốn thắc mắc vậy khi thầy Thành kêu tên mình lên trả bài thì sau đó sẽ kêu tên bạn nữ nào trong lớp,…?? Thôi mình không nói ra để cho các bạn học cùng lớp năm xưa đoán nhé,…  :-)…(bạn nào không biết cứ hỏi Hà Mỹ Oanh sẽ rỏ…  :-)…)

Kỷ niệm thứ tư:

Trong thời gian thầy Nguyễn Văn Thành làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên thì phong trào văn nghệ của trường phát triển khá mạnh. Mỗi dịp cuối năm trường làm lễ phát thưởng đều có kèm theo chương trình văn nghệ rất phong phú. Vì mình phụ trách đàn guitare đệm nhạc cho cả trường hát (có cả các bạn chơi guitare khác như Tống Châu Thành, Lý Cui,…) nên thầy Thành hứa là sẽ mua cho trường một dàn trống và một cây đàn điện Fender với cả ampli. Mình còn nhớ lúc thầy Thành nhân một chuyến đi về Sài Gòn công việc, khi trở xuống Hà Tiên, thầy có mua đem về dàn trống và một cây đàn điện Fender và ampli. Hôm đầu tuần thứ hai kế sau ngày thầy về, lúc đó có thông lệ làm lễ chào cờ đầu tuần. Học sinh cả trường ra sắp hàng ngoài sân trước cột cờ để làm lễ chào cờ, có ca bài Quốc Ca nữa. Lúc đó thầy kêu mình lên thử đàn guitare điện Fender mới mua, thầy kêu mình đệm đàn cho cả trường ca bài Quốc Ca… Không biết đến bây giờ số phận của cây đàn điện Fender và cái ampli đó ra sao rồi nhỉ???

Kỷ niệm thứ năm:

Kỷ niệm nầy rất thú vị và mình rất thích tuy bây giờ mình muốn kể lại đầy đủ chi tiết nhưng không làm sao nhớ ra được. Đó là việc vì thầy Nguyễn Văn Thành có nhiều bạn làm Sĩ Quan Hải Quân thời đó, thời đó các tàu Hải Quân thường vào ra ghé bến Hà Tiên (60-70), tàu đậu dưới Đài Kỷ Niệm chổ cầu tàu bến đậu của chiếc tàu đoan quan thuế. Lúc đó là ngày 20/06/1969, vị Sĩ Quan Thuyền trưởng chiếc tàu HQ-607 là bạn của thầy Thành nên ông nầy mời thầy Thành cùng tất cả học sinh trường Trung Học Hà Tiên đi một chuyến du ngoạn ở ngoài Hòn Nghệ. Thầy Thành đồng ý và thầy trò trường Hà Tiên chúng ta được một dịp lên chiếc tàu HQ-607 cùng ra khơi đi thăm Hòn Nghệ. Chuyện đi du ngoạn Hòn Nghệ trên chiếc tàu HQ-607 nầy rất thú vị và là đề tài cho một bài viết mà mình rất muốn viết lại để cho các bạn đọc Blog thưởng thức, tuy nhiên mình không còn nhớ nhiều các chi tiết về chuyến đi Hòn Nghệ nầy, mình rất lấy làm tiếc và nhân đây xin lên tiếng quý Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa những vị có mặt trên chuyến đi nầy xin cố gắng nhớ lại từng chi tiết, từng kỷ niệm chuyến đi và xin đóng góp cho mình các chi tiết đó, mình sẽ tổng hợp lại thành một bài viết để đọc cho vui nhớ về chuyện xưa nhé, rất cám ơn thầy cô và các bạn. Trong chuyến đi Hòn Nghệ nầy có đủ cả các bạn: Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Quách Ngọc Sơn, Trần Văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Mãnh,…Mai Thị Ngọc Minh, Nguyễn Nguyệt Hồng,…đủ hết rất nhiều có cả chị Huỳnh Thị Kim, chị Dung (con Ông Bà Ngữ) cùng lớp với chị Kim,…Mình còn nhớ khi các học sinh lên tàu ra khơi, vì sóng biển bắt đầu đánh nhấp nhô, đi được một lúc, ai nấy đều lừ đừ. ..Khi lên được ở trên Hòn Nghệ thì vui chơi cả ngày, có mua heo, vịt làm tiết canh vịt và cả nhóm bên học sinh nam cùng uống rượu với các anh Hải Quân… .Chiều lại trên chuyến về bị sóng đánh nữa nên ai nấy đều ói mửa đầy cả sàn tàu…khổ cho các anh thủy thủ và các quan chức trên tàu sau chuyến đi đó phải rửa tàu cho sạch lại. Tuy nhiên các chàng thủy thủ và các Sĩ Quân trên tàu rất thích và rất vui trong chuyến đi đó, vì các vị đó được dịp phục vụ các cô nàng nữ sinh Hà Tiên đẹp như mơ mà thường ngày các vị đó tìm cách làm quen nhưng chưa được,…

Vì thầy Nguyễn Văn Thành đảm nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng nên trong công việc điều hành sinh hoạt của trường lớp đôi khi cũng có một vài mâu thuẩn với các đồng nghiệp, và với cả với học sinh.Tuy nhiên theo mình nghĩ qua thời gian hơn 40, 50 năm nay ta nên gìn giữ lại những gì tốt đẹp của ngày xưa mà hãy quên đi những lúc khó khăn, tranh chấp,…Sống theo một tinh thần rộng lượng và thoải mái là tốt đẹp nhất trong những quan hệ xưa và nay.

                       Paris,  mùa lễ Toussaint 02/11/2017 Trần Văn Mãnh tự thuật…

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành mặc áo xám đứng giữa trong hình

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành  trao giải thưởng Danh Dự cho học sinh Trần Văn Mãnh trong ngày lễ phát thưởng cuối năm

Chữ ký tên của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành trong sổ Thông Tín Bạ

Chính trên chiếc tàu Tuần Duyên Hạm PGM Nam Du HQ-607 nầy cả thầy trò và học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đi chơi Hòn Nghệ ngày 20/06/1969 (PGM = Patrol Gunboat Motor)

Khưu Thiên Phước (hồi xưa Phước thường hoạt động trong Gia Đình Phật Tử chùa Tam Bảo, nay đã chết), Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ (cháu Dì Hai Sánh) và anh Chư (anh Chư nhà ở đường Bạch Đằng kế nhà Thầy La Từ Sự, anh Chư học chung lớp với Hải con ông Ba Nhan), hình chụp ngày 20/06/1969 trên tàu Hải Quân HQ-607 chở ra hòn Nghệ đi du ngoạn.

Sau đây là một vài cảm nghĩ của bạn Lâm Thị Lan viết về thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành:

Nhớ về thầy hiệu trưởng NGUYỄN VĂN THÀNH của Trung học Hà Tiên xưa.
Một người thầy hiền từ rất quan tâm tới học sinh nhất là đối tượng học sinh nghèo có ý chí vượt khó vươn lên. Thầy lại rất giỏi về chuyên môn nhất là môn Lý Hoá. Thầy có tư tưởng chuyên sâu đi vào nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao kiến thức cho học sinh, lại có tâm quyết đào tạo thế hệ người thầy tương lai cho những học sinh xuất thân từ Trung học Hà Tiên.
Cảm ơn và trân trọng những phẩm chất cao quý của Thầy ”Tất cả vì học sinh thân yêu” nơi mảnh đất xa xôi phía Tây Nam của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

Tác giả Lâm Thị Lan

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Phùng Học Thông

Tái Bút: Trong phần kể lại kỷ niệm thứ hai, bạn Lê Phước Dương có cho biết lý do tại sao thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành vào lớp mình hỏi để tìm ra thủ phạm: đó là vì có một học sinh vẻ một bức hình hí họa có ý trêu chọc ba người thầy: Thầy Hứa Văn Vàng (Giám Thị), thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng) và ông Thân (Thư Ký). Bức hình diển tả một trường hợp hơi có ý phạm thượng với ba người thầy đó nên thầy Thành rất giận, phải điều tra cho ra ai là học sinh vẻ hình đó để sửa sai…Không biết kết cuộc ra sao mình quên rồi nhưng Dương còn nhớ học sinh đó là bạn Chung Lưởng Tài, học cùng lớp với mình. Cám ơn bạn Lê Phước Dương đã đóng góp cho bài thêm đầy đủ chi tiết.

 

 

 


Thầy Nguyễn Văn Tiêu

 

Thầy Nguyễn Văn Tiêu.

Trước tiên tôi xin cảm ơn ý tưởng quá xá hay (chứ không còn là “rất hay”) của một cựu học sinh Trung học Hà Tiên – Mr. Trần Văn Mãnh, ông đã mở trang một Blog về ngôi trường trung học mà khi tất cả chúng ta trải qua đều cảm nhận rằng đó là thời gian đẹp nhất, thời gian đáng nhớ nhất của một đời người, tuy dài theo tiếng đếm của nhịp đồng hồ nhưng rất ngắn với kiếp nhân sinh… Đó là thời gian mà chúng ta “mở mắt” với  cuộc đời  một cách “bài bản” được hướng dẫn và dìu dắt bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp, là các nhà khoa học mà chúng ta thân thương gọi là thầy cô (xưa nữa, đối với giao viên trung học người ta phân biệt bằng danh xưng “giáo sư” – professeur).  Đó là lúc chúng ta bước qua một không gian học tập mới, với một tinh thần mới mang tính khám phá một góc thế giới nhỏ bé với đôi mắt trong suốt và trí tuệ đang trong tình trạng “trong vắt”… Đó là lúc chúng ta không còn “mài đũng quần” theo kiểu làm theo và bắt chước thời tiểu học mà chúng ta đã trưởng thành hơn một bậc, để rồi tất cả những gì mà chúng ta được truyền đạt và hướng dẫn bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp đó sẽ làm hành trang cho tất cả chúng ta bước vào cuộc đời một cách tự tin hơn…

Hưởng ứng với tác giả trang Blog này “viết về các thầy cô đã từng dạy tại Trung Học Hà Tiên”,  tôi xin nhắc đến một người thầy – thầy Tiêu dạy môn Sinh Vật. Tôi không nhớ rõ đủ cả tên họ của thầy, nói ra mà không đúng thì thật là bất kính. Về điểm này xin các anh chị hay bạn bè góp ý cho tôi.

Thầy về trường trung học Hà Tiên khoảng năm 1975-1977, khi tôi vào trường niên học 1976-1977 thì đã có thầy rồi, có lẽ thầy về cùng lúc với thầy Bùi Đăng Trường (đã quá cố), cô Châu (dạy Pháp Văn), cô Vũ Thị Thêm… Tất cả các thầy cô đều được điều động từ nơi khác đến dạy tại trường của chúng ta.

Thầy  Tiêu trong ký ức của tôi là một người cao ráo, với mái tóc loăn xoăn mà mỗi khi đi ra gió thì cái mớ tóc ấy của thầy bị gió thốc tung lên, rồi một khi ngọn gió đã đi qua thì để lại “trên đỉnh phù vân” của thầy một … Cái tổ quạ!

Tôi xin dừng lại đôi chút vì tôi chợt nghĩ: “cái kiểu viết này sẽ gây sốc cho nhiều người…”, tuy nhiên xin mọi người đừng hiểu lầm rằng thế này là một sự bất kính, bởi sự kính trọng nó nằm trong tâm tưởng của một người, nó có một trọng lượng tinh thần đáng kể chứ không phải cố gồng mình thể hiện ra ngoài mà thực tâm trống rỗng… Hơn nữa, thầy cô cũng như chúng ta, cũng có những cung bậc cảm xúc, những phút giây tếu táo và những hành động bộc phát táo bạo “rất con người” mà không hề được môi trường sư phạm khuyến khích.

… Thầy đã dẫn một nhóm nhỏ lớp chúng tôi đi Thạch Động, thầy rất thích và thầy nói rằng vùng đất và con người nơi đây rất cuốn hút thầy… Sau khi đi khắp hang động tìm chàng Thạch Sanh để hỏi cách “cứu mỹ nhân” bởi thầy còn “rất độc thân”. Đương nhiên nào có Thạch Sanh? Chỉ có nàng công chúa nhỏ xíu vận tà áo dài rêu phong với mái tóc dài màu đen được tạo bởi một miếng đá vôi đậm màu hơn chút. Nàng được Thạch Sanh “dấu lộ thiên” bằng cách treo nàng lơ lửng trên hốc của một vách đá cheo leo để chẳng ai được đụng đến nàng… Quả thật việc làm của Thạch Sanh đã rất hiệu quả, đến nỗi ngày nay muốn tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ đó, chúng ta phải dùng một cây sào dài mà chỉ gãi gãi được tà áo rêu phong của nàng mà thôi. Thầy Tiêu “rất độc thân” của tôi chỉ đứng trầm ngâm lặng lẽ lắc đầu tiếc nuối và ngao ngán…

Sau khi không thể tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ kia, thầy cũng nhanh chóng trở về thực tại, thầy đưa lũ nhóc chúng tôi leo mấy chục bậc thang lên một cái hốc trống hoác ở rìa phía Tây của Thạch Động, rồi sau khi đến được mép của hốc đá này chúng tôi cảm thấy lạnh cả người và sống lưng vì chợt thấy rằng mình đang ở lưng chừng vách đá mà nhìn xuống con đường QL 80 với người ta nhỏ xíu bên dưới… Ở đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt nhìn hết cánh đồng Xà Xía, đường Bà Lý về Núi Đèn Mũi Nai và cả Lục Sơn bên đất Cambodge… Chợt tôi nhìn thấy thầy rùng mình và nhanh chân tụt xuống các bậc thang, mau chóng rời khỏi nơi có cái tầm mắt thu trọn cảnh vật tuyệt vời có một không hai đó một cách lãng phí, không nói không rằng thầy chỉ lên trên vòm hang, cái thứ gì làm cho thầy quá sợ? Một tảng đá to cỡ chiếc xe hơi, chắc nặng cũng chục tấn đang lơ lửng giữa không trung, nó bị kẹt giữa hai khối đá to hơn hai bên, tảng đá ấy như chực hờ rơi xuống cái đám trẻ con và một ông thầy cũng còn đang rất trẻ này…

Hôm sau vào lớp thầy đọc cho chúng tôi một đoạn thơ vì tức cảnh mà sinh tình hôm trước:

“ Hùng vỹ quá! Thạch động nơi ta đến
Thăm một lần rồi khiếp sợ bao đêm.
Nhỡ chiều nào sóng gió chẳng êm
Nó sụp đổ, hỡi đường mô ta chạy?”

Thach Đông nhìn từ QL80, cách trung tâm thị xả Hà Tiên khoảng 3 km. (Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2011)

Một vị trí trên Thạch Đông để ngắm toàn cảnh phía dưới. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Toàn cảnh ruộng lúa từ trên Thạch Động nhìn xuống. (Photo: Trần Văn Mãnh 1994)

Một lối thoát « lên Trời » nhìn từ bên trong Thạch Động

… Hà Tiên trong ký ức của nhiều người trung niên và cao niên, có một nhu cầu tối cần thiết của con người mà Hà tiên của chúng ta luôn đối mặt hàng năm đó là: Nước!

Nhu cầu nước của vùng đất này luôn nhiều hơn khả năng cung cấp của tất cả những gì người ta có thể, ngày xưa họ Mạc đã cho đào ao to chứa nước, các chùa chiền đều có ao chứa nước, nhà dân có đất rộng cũng đào ao chứa nước ngọt, dùng lu hoặc xây bồn hứng triệt để nước mưa, hoặc đào thêm giếng để có nước rửa nhằm tiết kiệm nước ngọt để nấu ăn và nấu nước uống… (Tuy nhiên, có mấy ai biết được là nấu cháo bằng nước giếng lờ lợ sẽ rất ngon và rất béo…)

Hàng ngày người ta phải lên Ao Sen lấy nước, ba cái ao đó không bao giờ đủ cho nhu cầu của người Hà Tiên dù chính quyền xa xưa đã tăng từ một ao lên đến ba như ngày nay… Mùa hạn, cả ba ao đều cạn khô, người ta phải vét nước moi đầy bùn sét từ đáy ao bằng cách đào lỗ chỗ các miệng giếng nhỏ, nhìn đáy ao như vừa qua một trận bom rải thảm thu nhỏ… Các ao nhà dân và ao chùa cũng cạn, người ta phải đi xa hơn để lấy nước trên Giếng Tượng núi Tam Phu Nhơn, hay các giếng khoan “vùng đất linh hồn” núi Đề Liêm mà không một ai nghĩ tới nước giếng khoan đó ngấm cả những phần tử hửu cơ được phân hủy từ nghĩa trang bao đời ngay đó… Rồi sau khi hết tất cả nước của xứ sở giàu tình mà nghèo nước này thì… Ghe nước về.

Ghe nước mang nước từ dòng Vĩnh Tế, là nước ngọt của dòng Bassac của Campuchia chia xẻ cho chúng ta khi trôi về hạ nguồn, nơi ấy nước mặn không xâm nhập, ghe thương hồ thay vì đi chở hàng, nay vì nhu cầu nước của xứ Hà Tiên nên họ đã cải tạo chiếc ghe chút ít để khả dĩ chứa được nước ngọt bơm thẳng vào lòng ghe chứ không chứa đựng vào đâu cả… Nước ghe về thì bến Đông Hồ vui như hội, hàng trăm chiếc xe cây chở nước (bằng thùng phuy hay thùng tôn hàn) xếp dài dọc theo con đường cập theo đó, hết chiếc này được bơm đầy nước sông trắng bạc thì lần lượt đến chiếc khác, “văn hóa xếp hàng” được tôn trọng tuyệt đối nơi đây…

Thầy Tiêu cũng phải tự đi lấy nước và phải xếp hàng trong đó dù ông là … Thầy.

Trải qua mùa hạn đầu tiên của năm 1976-1977 thầy đã thật sự ngao ngán mà thốt lên rằng”

… “Hà Tiên ơi! Cỏ cháy!
Hà Tiên ơi! Người khô.
Ta ngồi đây im lặng
Nhìn mặt nước Đông Hồ
Xót xa…Toàn nước mặn!”

Thầy không ở Hà Tiên đủ lâu để hiểu là người Hà tiên không hề khô, và biết đâu có thể con người của xứ sở này sẽ xoá cái thế “rất độc thân” của thầy mà không có một đòi hỏi gì khác ngoài chuyện – phải yêu xứ sở đó! Và có lẻ, thầy Tiêu còn nhiều thơ về Hà Tiên nữa vì thầy thích làm thơ và có khả năng “xuất khẩu thành thơ”, tuy nhiên tôi đã không còn nhớ…

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước lớn (Photo: Ngọc Viên)

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước cạn. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Nay tôi không biết thầy đang sống nơi đâu, vì năm 1977 Hà tiên bị Khmer đỏ đánh ác liệt, các thầy cô sơ tán, một số thầy cô đã thuyên chuyển đi và không bao giờ quay lại, trong đó có thầy Tiêu.

Tôi cũng mong muốn rằng nhờ Blog này giúp sức, chúng ta sẽ lan tỏa thông tin để tìm kiếm lại những thầy cô bạn bè và đã từng đến gắn với ngôi trường Trung học Hà Tiên, để cùng ôn lại những kỷ niệm thời cắp sách đến trường, để chúng ta còn lưu được những điều đẹp đẽ nhất.

TruongMinhQuangNguyen_1Quang Nguyên (Việt Nam)

10/2017

 

 

 

 

 

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trương Minh Quang Nguyên

Tái bút:

Cô Lâm Ngọc Mai chị của bạn Lâm Thị Lan cho chúng ta biết là thầy tên nguyên họ là Nguyễn Văn Tiêu và môn thầy dạy là môn Sinh Vật. Xin cám ơn cô Mai và bạn Lan nhiều. (dỉ nhiên là một người thầy trên bậc Trung Học có thể dạy nhiều môn khác nhau tùy theo tình hình thiếu giáo sư trong trường nên có thể là thầy Nguyễn Văn Tiêu ngoài môn Sinh Vật, còn dạy môn Địa Lý cho lớp của bạn Quang Nguyên (tác giả bài viết trên)

Bạn Hồ Anh Dũng có thông tin cho biết thêm là thầy Nguyễn Văn Tiêu về dạy trường TRung Học Hà Tiên trước năm 1975, cô Nguyễn Thị Bình dạy môn Anh văn tại Trung Học Hà Tiên (niên khóa 1974-1975) là vợ của Thầy Tiêu lúc đó..

Cô Võ Kim Loan có thông tin thêm là hiện thầy Nguyễn Văn Tiêu định cư ở Sydney Úc Châu, thầy Tiêu có thông tin tìm người quen trên mạng (Blog Tha Hương, thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá), địa chỉ e-Mail của Thầy Tiêu như sau:

tuannguyenaus1@yahoo.com.au

Thông tin tìm người quen của thầy Nguyễn Văn Tiêu đăng trên Blog Tha Hương (thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá)

 

Thầy Nguyễn Lê Hùng

« Thầy cô và các bạn thân mến, vào những năm đầu của thập niên 1960, có một người thầy dạy môn Pháp văn ở Trường Trung Học Hà Tiên mà mình muốn giới thiệu qua bài viết hôm nay, thầy tên là Nguyễn Lê Hùng. Thầy Hùng tuy dạy không nhiều năm ở Hà Tiên (thầy dạy trong khoảng thời gian 1962-1965) nhưng là một trong những vị thầy đã để lại rất nhiều ấn tượng và tình cảm luyến nhớ cho học sinh…Mình cũng là một trong những học sinh có nhiều tình cảm luyến nhớ về thầy…Tuy không được học với thầy nhiều lắm nhưng mình nhớ là thầy đã có dạy qua lớp Đệ Thất (1964-1965) của mình một thời gian ngắn, môn Pháp văn. Hồi xưa ngay cả lúc còn ở bậc Tiểu Học, khi chưa vào bậc Trung Học, nhưng theo tin tức các anh chị đi trước, học trò thường hay nghe ngóng và bàn tán về các vị thầy cô trên bậc Trung Học,…Lúc đó mình cũng có nghe nói rất nhiều về thầy Nguyễn Lê Hùng….Mấy anh chị thường ca ngợi thầy là một người rất thanh nhả, thanh nhả từ dáng người của thầy, qua đến tiếng nói, lời giảng bài trong lớp.., Thật sự là như vậy, các bạn có biết là ngày xưa, ở tuổi học trò nhỏ bé của chúng mình, mình thường nhìn lên phía thầy cô như là một nhân vật cao cả, tuy hơi có vẻ xa cách bên ngoài nhưng về mặt tình cảm thì lại rất gần…Phong cách của quý thầy cô thời xưa rất là sang trọng, đẹp đẻ, có một cái vẻ gì đó cao cả, thanh tao, quý phái, không bao giờ có một nét tầm thường hay trần tục trong đó,…Học trò luôn ái mộ thầy cô, lúc nào cũng ngắm nghía với một vẻ khâm phục, chiêm ngưởng và trân trọng đối với thầy cô…Trong giờ dạy trong lớp học, mỗi khi thầy hoặc cô đến gần học trò, người học trò cảm thấy hơi bị xao động, bối rối nhưng đồng thời cũng cảm và ngửi được cái mùi thơm tho của y phục và con người thầy cô thoát ra. Mình còn nhớ trong giờ học, vì mình thường hay ngồi đầu bàn, mỗi khi thầy cô đến gần nhìn vào bài làm của mình, mình thường hay bị dao động và cảm nhận được mùi hương thơm của thầy cô thoát ra…. Mình còn nhớ cô Nguyễn Minh Nguyệt dạy Pháp văn trong những năm về sau, cô rất thích và chú ý nhiều đến mình (có lẻ vì là học trò « ngoan »…!!), cô thường đến đứng gần chổ mình ngồi để xem mình làm bài, cô đứng sát đến nổi mình cảm thấy thân hình cô chạm nhẹ vào cánh tay của mình,…lúc đó mình không dám động đậy gì cả, chỉ yên lặng gần như nín thở và làm ra vẻ suy nghĩ để làm bài và ……!!

Mình còn nhớ giờ học Pháp văn với thầy Nguyễn Lê Hùng, hôm đó thầy dạy bài « À l’école », đó là một bài học về môn « Etude de texte »…Bắt đầu giờ giảng, thầy đọc to tiếng… » A….a…a…a..lê….lê…lê….coo…..coo..lơ…..lơ….lơ….!! »  Cũng có bạn cười lên và nói rì rào thầy « điệu » quá…Mà thật sự là như vậy, « điệu » ở đây không phải là cầu kỳ, quái dị, nhưng từ « điệu » ở đây chỉ một nét gì đó không phải là bình thường, không phải là nhạt nhẻo mà chỉ một cá tính cao sang, quý phái trong cách nói, cách phát âm của thầy…Ngay cả trong lúc đi đường thời đó, mình còn nhớ, mỗi khi trời mưa lất phất không lớn lắm, thầy cũng chậm rải đi, tay cầm cây dù đen che mưa như người Tây phương,..khiến học trò từ xa nhìn thầy đi tới với một ánh mắt rất là ái mộ…

Mấy tháng trước đây, nhân có một bài mình vừa tìm ra được trên mạng với tựa đề « Ký Ức Về Chùa Tam Bảo Hà Tiên » do một cây bút ký tên là MINH CƯỜNG, đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo » số 144&145 (2014), trong bài viết có nói về đời sống và tâm tình của một người thầy từng dạy học ở Hà Tiên những năm xưa…mình rất ngạc nhiên và đã giới thiệu bài viết đó trên trang nhà fb. Sau đó thầy cô và các bạn có bàn luận và nhận ra là bài viết đó là do thầy Nguyễn Lê Hùng viết ra (kết luận theo các chi tiết chính xác có trong bài), lại có bạn cho tin là hình như thầy đã qua đời nhiều năm nay ở Sài Gòn…Thật là vừa vui vừa lại buồn tiếc cho người thầy xưa vừa mới gặp lại dù là gặp trên tin tức mạng ảo mà lại biết là thầy đã ra …..

Bạn Trương Thanh Hùng có cho biết thầy có gởi một bài văn cho Hùng và may mắn thay ngày nay bạn Hùng vẫn còn giữ bản văn của thầy viết, mình xin được bản văn nầy do Hùng gởi đến,…(xin cảm ơn Hùng rất nhiều nhé..) Thầy cô và các bạn thân mến, đọc xong bài văn rất dài và rất nhiều đề tài do thầy viết, mình thấy công ơn và tình cảm của thầy đối với học trò, trường lớp, chùa Tam Bảo và đất Hà Tiên chúng ta thật là to lớn…Thầy vẫn không quên những anh chị học trò giỏi ưu tú thời thầy dạy, thầy nhắc tên từng người: Lắc, Nhung , Nga, Cheo, Xuân, và đặc biệt là thầy có nhắc nhiều đến người học trò nam mang tên Phù Thọ Phương, biệt hiệu Tùng Phương, không ai xa lạ đó chính là anh Tùng Phương (anh của bạn Phù Ngọc Anh học chung lớp với mình)…Thầy rất khen anh Tùng Phương, nào là đẹp trai, hào hoa, ca hay, đàn giỏi,…và thầy lại tiếc thương cho người học trò thân yêu đó đã không còn trên cỏi đời nầy nữa !!!

Trong bài văn của thầy viết, thầy đề cặp tới đủ tất cả các chủ đề, về Hà Tiên, về chùa Tam Bảo, về lịch sữ Hà Tiên nói riêng, Việt Nam nói chung, có cả thơ ca trong đó,…Vì thầy là thầy dạy Pháp văn nên thầy không kiềm được thú chiêm những từ tiếng Pháp vào trong bài viết, thậm chí thầy còn trích thơ tiếng Pháp vào bài, tất cả các gia vị nầy biến bài văn của thầy viết thành một món ăn tinh thần rất hay, bổ ích và nhất là một niềm cảm kích thấm sâu vào lòng chúng ta khi đọc qua những hàng chữ thầy viết,..Bài của thầy viết rất là cảm động, càng đọc càng thấy nhớ thương thầy, nhớ một người thầy có tài hiểu biết sâu rộng và lại buồn cho sự ra đi của thầy quá đột ngột…Theo phần cuối bài viết, thầy có nói đến tập hồi ký « Bóng Ngày Qua » một hồi ký về ký ức dạy học ở Hà Tiên gồm 25 bài, tiếc là chúng ta không biết làm sao để tìm ra được tập hồi ký nầy …

Mình chỉ có một ý duy nhất để kết luận phần giới thiệu nầy: thầy cô và các bạn hãy đọc, đọc kỷ và đọc hết bài văn của thầy Nguyễn Lê Hùng, bài viết rất dài, rất sâu sắc, rất hay và rất bổ ích cho chúng ta, đọc để tưởng nhớ một người đồng nghiệp, một vị thầy đã trải qua một thời gian cùng chung sống với chúng ta dưới mái trường thân yêu Trung Học Hà Tiên…Cánh cửa đã mở rộng dưới đây, xin mời tất cả bước vào tâm hồn của thầy Nguyễn Lê Hùng nhé,.. »  (TVM viết lời giới thiệu 12/10/2017)

 Chân dung thầy Nguyễn Lê Hùng trongthời kỳ dạy học ở Hà Tiên 1962-1965NHỚ LẠI NHỮNG CON VẬT DỄ THƯƠNG TRONG KHUÔN VIÊN CHÙA TAM BẢO HÀ TIÊN NĂM XƯA

(Nguyễn Lê Hùng)

KÍNH DÂNG – Chơn linh: Thượng Tọa Thích Thiện Giác (nguyên Trụ trì chùa Tam Bảo Hà Tiên (1960-1974), Bà Cô Diệu Thanh Đỗ Thị Kiểng (Quản Lý chùa), Đại Đức Thích Thiện Tường (phụ tá thầy Trụ Trì) với tất cả lòng tôn kính và sự biết ơn vô hạn.

ĐẶC BIỆT TẶNG – Các em học sinh thuộc diện ưu tú trường trung học Hà Tiên năm xưa (1962-1965) với tất cả cảm tình quí mến hơn bao giờ hết: Lắc, Nhung, Nga, Cheo, Xuân…. Rất ngỡ ngàng khi nhận được điện thoại và gặp lại các em sau gần 50 năm xa cách. Cuộc hội ngộ này đối với tôi thực sự là khoảnh khắc ngàn vàng, nó giống như một giấc mơ kỳ diệu và tôi cảm thấy “như chưa hề có cuộc chia ly”. Gặp lại nhau, thầy trò chúng tôi đã có quá nhiều những niềm vui khó tả, những câu chuyện không kết thúc.  Thế nhưng, điều khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc động là nhận thấy các em lúc nào cũng thể hiện trọn vẹn tấm lòng “tôn sư trọng đạo” trước sau như một. Tôi rời Hà Tiên đã gần nửa thế kỷ và chưa có dịp trở lại viếng thăm lần nào. Ở đó, tôi có nhiều kỷ niệm êm đềm đã nhạt nhòa theo năm tháng. Cái không khí thanh bình của một thời xa vắng tưởng chừng như đã vĩnh viễn qua đi, cứ ngỡ tất cả đã chìm trong quên lãng,  nay vụt sống lại trong tôi. Do vậy, lúc viết những dòng này, tôi đang lần bước ngược chiều thời gian, trở về quá khứ với tất cả nỗi niềm thương nhớ đan xen lẫn lộn. Nó giống như một cuộn phim được phục hiện và lần lượt cho thấy những hình ảnh thấm đậm biết bao tình cảm trìu mến về một khung cảnh đầy Thơ và Mộng. Vì lẽ đó, bài viết này gần giống như một bài thơ được diễn tả bằng văn xuôi mà tôi mong muốn được hân hạnh trao tặng các em với vô vàn tình cảm quí mến nhất. Các em thân mến, khi viết những dòng này, thực sự là tôi đã về thăm lại Hà Tiên thân yêu trên những trang viết. Mong các em thấu hiểu cho lòng thành của tôi. C’est presque un poème en prose que j’ai l’honneur à dédier à mes éleves. Ce texte est bien à elles et à eux en tant qu’ il est le reflet d’ un pays merveilleux inondé de lumière et de beauté dans un cadre paradisiaque. Et mon coeur brule souvent l’envie de le revoir (hầu như đây là một bài thơ được diễn tả bằng văn xuôi mà tôi hân hạnh được để tặng các học trò của tôi. Bài văn này hoàn toàn thuộc về các em, vì nó phản ánh được một vùng đất tuyệt vời, tràn ngập đầy ánh nắng và sự mỹ lệ trong một khung cảnh thần tiên. Và lòng tôi luôn cháy bỏng một nỗi khát khao là mong muốn được trở lại thăm viếng). 

«Ai về mua lấy duyên cười,
Riêng tôi mua lại mảnh đời thơ ngây »
Trích bản nhạc “Tình hoài hương” (Phạm Duy)

          Thời gian êm đềm trôi qua, thấm thoát tôi dạy học ở Hà Tiên đã được ba tuần trăng kể từ tháng 9/1962. Thường khi tiết học cuối cùng buổi sáng (dành cho học sinh cấp 3) chấm dứt lúc 11 giờ 30 qua một hồi kẻng xôn xao và rộn rã, thầy trò chúng tôi cũng chỉ mong có thế! Tôi cùng ào ra về với các em học sinh, lòng tràn ngập một niềm vui sướng , hớn hở và hồn nhiên như các em. Tôi đi bộ thong thả đến chỗ dùng cơm tháng nơi nhà ông Ách Nhỏng. Sự ân cần đối đãi tử tế của hai ông bà đã đọng lại trong ký ức tôi nhiều ơn sâu nghĩa nặng khó quên mà tôi chưa một lần được đền đáp. Nhiều lúc, bâng khuâng nhớ lại, tôi không khỏi chạnh lòng và cảm thấy phảng phất buồn.

           Dùng cơm trưa xong, tôi lửng thửng đi bộ về chùa. Đường sá Hà Tiên tuy nhỏ bề ngang, nhưng được tráng nhựa bằng phẳng và sạch sẽ. Đi rảo bộ ngoài đường dưới ánh nắng hanh vàng ban trưa một lúc là vã mồ hôi ngay. Mặc dù trời nắng chang chang, nhưng khi bước vào bên trong cổng chùa, tôi thấy mát mẻ dễ chịu nhờ có bóng râm.

          Sau khi hít thở không khí trong lành và ngắm nhìn một hồi lâu cảnh quang bên trong chùa, tôi nghe văng vẳng đâu đây tiếng nhạc chuông gỗ treo lủng lẳng dưới cổ mấy chú bò tơ thả hoang. Đó là đàn bò 5 con đã lẻn vào bên trong sân chùa từ lúc nào không ai hay. Nghe tiếng lóc cóc phát ra từ đàn bò vang vọng lên một thứ âm thanh đơn điệu tan biến trong gió thoảng, tạo thành những nốt nhạc vui tai, tôi thấy lòng mình cũng rộn ràng và phấn khởi thế nào ấy. Lúc này, chung quanh tôi toàn là nắng và nhạc. Nhưng rồi phải xua đuổi đàn bò đi ra ngoài thôi. Không chần chờ lâu, nói là làm. Đàn bò đành bỏ lỡ bữa ăn ngon giữa chừng, đồng loạt tháo chạy ra ngoài nhanh chóng. Chúng đi luôn một mạch, không quay lại chỗ cũ, rất ngoan ngoãn.

            Len lỏi qua các thân cây Sao có dáng dấp thẳng đứng, tôi cảm nhận được mùi hương thơm thoang thoảng toát ra từ cỏ cây, hoa lá mọc chen lấn nhau dày đặc chung quanh chùa theo gió phảng phất trong không khí. Bóng mát dưới đất và ánh sáng rạng rỡ phía trên nền trời xanh tương phản nhau tạo thành một ranh giới rõ nét, tách biệt hẳn trên cao và dưới thấp trông rất lạ mắt.

             Vẫn con đường quen thuộc hằng ngày từ cổng dẫn vào chùa mà hai bên lề đường có trồng hai hàng cây Cau ngay hàng thẳng lối, tôi đi chậm rãi vào bên trong, hướng tới hành lang nhà khách, bổng nhiên tôi thấy toàn cảnh mặt tiền ngôi chùa giờ đây hiện lên một màu trắng toát và sáng ngời dưới bầu trời rạng rỡ ánh nắng vào một buổi trưa yên tĩnh. Tôi lóa mắt bởi cảnh tượng kỳ diệu này.

              Đi tới vài bước nữa, bất chợt tôi nghe một tiếng Frrrựt khô khan làm tôi giật mình. Thì ra, một đàn bồ câu khoảng chục con đang say mê mổ liên hồi những hạt cỏ rơi vãi trên mặt đất. Thấy tôi đi tới, chúng đồng loạt bay vụt lên nhanh để lại dưới đất một đám bụi mờ. Chúng đậu trên mái ngói của chánh điện, đầu gục gật liên hồi. Những con chim bồ câu này không biết từ đâu bay đến đây trú ngụ. Chúng làm tổ trong các lỗ trống dưới mái ngói lâu lắm thì phải. Tôi thầm nhũ:  «này các bạn bồ câu thân mến! các bạn có đầy đủ lầu son gác tía mà gia chủ đã hiến tặng các bạn với tất cả tình cảm thắm thiết, không thiếu một thứ gì: nào là lúa thóc đầy máng ăn, bồn tắm sang trọng, kiếng soi mặt sáng sủa và lộng lẫy…tại sao các bạn nỡ dứt áo ra đi một cách phủ phàng và lạnh lùng đến nổi không kịp từ giả ai cả (tôi đoán thế) để tìm đến một chỗ nương náu  trong cảnh «chùa rách Phật vàng» nghèo nàn và thanh vắng như thế này. Còn tôi lúc này đây, có khác gì các bạn đâu! Tôi cũng có nỗi niềm riêng tư khó nói nên lời khiến tôi đã rời bỏ chốn phồn hoa đô hội ồn ào náo nhiệt không chút luyến tiếc. Mặc dù ở nơi đô thị có nhiều ánh đèn màu rực rỡ lúc về đêm và sực nức mùi hương phấn đầy quyến rũ, thế nhưng lòng tôi thật khó vui khi mà trên mỗi bước đi dạo, tôi thường chạm phải những điều khổ tâm phơi bày ra trước mắt. Nhìn những cảnh tượng như thế, có nhiều khi tâm hồn tôi bỗng thấy nặng trĩu một nỗi sầu vô cớ, một nỗi sầu muộn  không hiểu vì đâu. Vẫn biết, lòng mình không ai oán, nhưng sao tôi cảm thấy man mác buồn, một nỗi buồn mênh mông xa lạ. Trước đây, tôi thường đi dạo trong  lòng thành phố đông người, đi dưới một bầu trời nắng ấm, đếm từng bước đi trên vỉa hè khô ráo và tôi lấy làm thích thú vô cùng. Nay, tôi thấy cô đơn và khắc khoải một cách kỳ lạ, đôi lúc day dứt khó tả khi va chạm với thực tế phủ phàng. Do vậy, tôi đã phải tạm lánh về đây, lấy cửa chùa làm nơi nương tựa trong một giai đoạn mà ở ngoài kia đang mịt mù khói lửa chiến tranh, đồng thời mong muốn quên đi tất cả nỗi chán chường để được đắm chìm trong  những giây phút suy tư và thả hồn vào cõi mộng mơ. Đây là khoảnh khắc mà cơ hồ như tôi không còn biết đến thời gian là gì. Ở đây, tôi tìm ra được cho mình một tâm thức an lạc. Ỏ đây, tôi thấy mình thực sự an tịnh với chính mình và thế giới chung quanh. Cũng giống như các bạn, tôi thích cảnh sống thanh bần, ưa cuộc sống tự do hơn là gò bó trong lầu son gác tía. Chúng ta có đồng cảnh ngộ như nhau, nên đồng cảm với nhau dễ dàng. Bây giờ chúng ta thực sự là những kẻ thân quen. Không rõ các bạn thế nào, chứ riêng tôi, tôi rất hạnh phúc khi được sống trên mảnh đất hiền hòa, hiếu khách và nhìn thấy khắp nơi, đâu đâu cũng tràn ngập toàn ánh nắng tươi sáng rực rỡ, nắng ở nơi này nó giống như một thứ ánh sáng thanh khiết và kỳ ảo. Ở đây, trong cái đẹp của thiên nhiên còn có cái đẹp của tình người. Điều đó khiến tôi cảm thấy yêu tha thiết nơi này đến thế nào các bạn biết không! Từ lâu, tôi mong muốn tìm một góc nhỏ không gian ngào ngạt cây cỏ hoa lá và khí hậu hiền lành, vậy còn chốn nào hơn Hà Tiên! Các bạn cứ tha hồ hưởng thụ thoải mái những gì có sẵn trong thiên nhiên vô tận. Chùa chiềng là nơi trú ẩn an toàn nhất trong thời tao loạn. Còn ở ngoài kia, các bạn sẽ gặp đủ thứ rủi ro. Nhưng điều mà các bạn đáng lo ngại hơn hết, chẳng phải diều hâu, đại bàng hay chim cắt…Có một loài động vật tỏ ra cực kỳ hiếu sát: thích giết để ăn thịt, giết để mua vui, hoặc giết để mà giết chứ chả có mục đích gì cả…Đố các bạn là ai? Xin nói ngay, đó là Con Người. Ở bên phương Tây, người ta bẫy một con chim đẹp để nghiên cứu về màu sắc, tiếng hót, mùa sinh sản…rồi thả nó ra ngay, sau khi cân-đo-đong-đếm. Còn đối với người Đông phương thì họ thiết thực hơn, họ tính thử với một con chim như thế sẽ làm được mấy món “nhậu”, hủ rượu ở nhà đã vơi hay còn đầy… Hiện nay, các bạn đã tìm được một chỗ ẩn náu nơi chốn Thiền môn là điều rất may mắn cho các bạn. Không ai vào trong sân chùa hãm hại các bạn. Ở trong này, việc săn bắn để giải trí, hoặc phục vụ các trò chơi thể thao, bị coi như một Tội Ác. Các bạn biết không, thế giới này có đủ mọi thứ, nhưng cũng đầy dẫy khổ đau. Cái mà nhân loại cần là Tình Thương, vì nhân loại là một phần của cơ thể, khi nhân loại đau là cả cơ thể ta đau. Tôi thực sự mừng cho các bạn đã tìm được một chỗ trú ngụ an toàn nhất». Vừa quay mặt đi khuất, bầy bồ câu lại bay sà xuống đất. Nhìn chúng vô tư nhặt nhạnh những hạt bông cỏ li ti rơi rụng vung vãi trên mặt đất, tôi mới nghiệm ra rằng, trong các loài động vật, chỉ có con người là vất vã tìm kế sinh nhai. Hãy quan sát đàn bồ câu kia, chúng tha hồ ăn no, khi thì ở chỗ này, lúc ở chỗ khác. Chúng không cần thiết phải “ tích cốc phòng cơ” như con người  mà vẫn hưởng thụ trọn vẹn hạnh phúc trên đời.

           Sau đó,  tôi quay mặt hướng vào chùa, đi dọc theo hành lang nhà khách bọc ra phía sau hậu Liêu, chuẩn bị bước lên tâng cấp nhà hậu Tổ, chợt tôi thấy một con rùa nặng khoảng 5 kg. Nhìn hình ảnh con rùa đang trầy trật leo lên bậc thềm một cách khó nhọc, điều đó không khỏi làm cho tôi sửng sờ trong giây lát. Rong rêu bám đầy trên chiếc mai sần sùi của nó. Hai bên hông mai rùa dày cộm và cuốn cong lại, chứng tỏ con rùa có tuổi thọ rất cao. Đây là giống rùa thuộc loại nhỏ con, nó phát triển tới cỡ đó là tối đa.. Lúc tôi nhìn thấy là nó đã leo lên được vài ba bậc thềm . Quá ngạc nhiên và xúc động làm sao! Tôi định bước tới đỡ nó lên, nhưng Bà Cô nói cứ để tự nhiên, rồi nó sẽ leo lên được hết các bậc thềm và lặng lẽ bò đến nằm dưới bàn thờ Tổ, trên có di ảnh Sư Ông ( Hòa Thượng Phước Ân, Trụ Trì chùa Sắc Tứ Tam Bảo Hà Tiên từ năm 1920-1946 ). Đây là trường hợp hiếm hoi và lạ lùng nhất mà tôi mới thấy lần đầu.

           Bà Cô kể, con rùa này do Sư Ông phóng sinh lúc làm Trụ trì chùa Tam Bảo Hà Tiên  hồi thời còn thực dân Pháp cai trị. Tại nhà hậu Tổ, ảnh bán thân Sư Ông được lồng trong bộ khung gỗ quí và được treo một cách trang trọng trên cao của bức tường. Tuy Sư Ông viên tịch đã lâu (1946), nhưng cứ đến đến ngày giỗ là các Phật tử cao niên vẫn đến chùa thắp hương lễ bái. Bà Cô còn cho biết, cứ đúng ngày giỗ Sư Ông là nó lại lò mò về chùa mà quanh năm suốt tháng không thấy nó đâu cả. Mỗi năm khi thấy nó về chùa, Bà Cô  nhờ người ta viết dòng chữ bằng sơn đỏ “rùa phóng sinh”, viết lại theo nét chữ cũ trên mai rùa nhằm giúp nó khỏi lọt vào nằm thảm thương  trong các quán nhậu bình dân.

           Qua năm sau,  đúng ngày giỗ Sư Ông, nó lại khệ nệ mang chiếc mai lưu đày nặng nề của nó về chùa, tự leo lên được các bậc thềm và lê từng bước chân chậm chạp đến nằm dưới bàn thờ Tổ. Tôi ngụ trong chùa ba năm liên tục và có dịp chứng kiến đủ ba lần rùa về chùa đúng ngày giỗ Sư Ông. Sau đó, nó âm thầm ra đi lúc nào không ai hay và đi đâu chả ai biết. Tôi cũng đã lùng sục khắp các ngõ ngách trong khuôn viên chùa mà chẳng thấy nó đâu cả.

           Tôi tự hỏi, rùa là loài động vật như các loài khác, tại sao con rùa này biết được chính xác ngày giỗ Sư Ông? Trong khi các bậc cao niên cũng có thể có người nhớ, người quên. Thật khó hiểu! Phải chăng có sự liên hệ phi-ngôn-ngữ giữa loài vật và con người bằng một trực giác siêu-tâm-thức qua nhiều giai đoạn tái sinh? Khoa học nghĩ gì về hiện tượng kỳ lạ nầy! Mặc dù con người đã đặt chân lên mặt Trăng từ nửa thế kỷ nay và chuẩn bị đưa tiếp người lên sao Kim, sao Hỏa. Tuy vậy, trong thế giới chúng ta đang sống, hiện có rất nhiều điều bí ẩn mà khoa học chưa giải thích được. Có nhiều hiện tượng siêu hình thuộc lĩnh vực tâm linh mà khoa học không bao giờ chấp nhận.

          Thực tế, trong vũ trụ bao la này, không gian là vô cùng, thời gian là vô tận, sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan là có giới hạn. Vì thế, trình độ khoa học kỹ thuật của con người ngày nay vẫn còn mờ nhạt trước nhiều bí ẩn chưa khám phá và còn rất nhiều hiện tượng siêu nhiên lạ lùng vẫn đang còn nằm ngoài kiến thức của chúng ta. Không gian của các loài động vật cấp thấp chỉ có hai chiều. Muốn đi từ điểm A đến điểm B, con chim hoặc con kiến chỉ biết đi đường thẳng. Ở loài người, họ nắm bắt được không gian 3 chiều, nên đã thực hiện được nhiều công trình tưởng chừng như siêu đẳng. Thế nhưng, nếu ta nhìn vũ trụ như mục tiêu khách quan nổi lên toàn những hiện tượng vật lý, ta chẳng hiểu gì hết. Bởi lẽ, tất cả những bí ẩn đều nằm trong chiều thứ 4 có vẻ như huyền bí mà khoa học thực nghiệm luôn phủ nhận. Bốn ngàn năm trước, Ai Cập vẫn còn trong thời kỳ xã hội nô lệ, năng lực sản xuất hoàn toàn mang tính thủ công. Vậy, họ đã áp dụng kỹ thuật gì để đưa hai triệu sáu trăm ngàn (2.600.000) khối đá (mỗi khối nặng từ 3 đến 8 tấn) được gọt đẽo vuông vức, bằng phẳng lên cao 145 thước và xây dựng nên Kim Tự Tháp Échop lớn nhất trong sa mạc mênh mông, không có lấy một quả núi đá nào. Đá ở đâu đem đến đây, đem đến bằng cách nào. Người xưa xây dựng Kim Tự Tháp hoàn toàn bằng thủ công và thật khó mà hoàn thành một công trình vĩ đại như thế đã tồn tại 4.000 năm. Phải chăng, các kiến trúc sư cổ xưa của Ai Cập đã nắm bắt được chiều thứ 4 của không gian! Trình độ khoa học kỷ thuật ngày nay vẫn còn lắm thắc mắc. Đúng hơn, đây là bài toán khó giải đáp đối với giới khoa học hiện đại. Chính, nhà bác học Albert Einstein, cha đẻ ra bom hạt nhân cũng đã thừa nhận “những gì chúng ta biết chỉ là một giọt nước, những gì chúng ta chưa biết thì mênh mông như đại dương”.

          Chùa Tam Bảo Hà Tiên tọa lạc trên một vị trí thuận lợi cả về quy mô lẫn cảnh quang kỳ vĩ nhất miền Tây Nam Bộ. Đáng kể hơn hết là những bức tường xưa cổ kính được xây dựng bằng mủ cây ô dước, vôi và mật đường,  nhưng nó đã hiện hữu ngót 300 năm nay. Đây là biểu tượng hào hùng của một thời Cảng Khẩu Phương Thành rất hưng thịnh. Những bức tường thành cổ xưa này đã từng làm phên giậu che chắn và cũng là công sự bảo vệ chính quyền đia phương tại một miền đất biên cương  xa xôi của Tổ quốc thân yêu và giàu đẹp từ hồi thế kỷ 17, nay hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Ngoài ra, chung quanh chùa còn có một thảm thực vật dày đặc toàn màu xanh tươi mượt mà. Thêm vào đó, chùa được điểm xuyết qua vài nét chấm phá đơn sơ của một bức tranh thủy mặc siêu thoát với những ao hồ thiên nhiên, trong đó nổi lên những cánh bèo lung linh theo làn gió thoảng nhẹ. Đúng là phong cảnh đượm vẻ sơn thanh thủy tú hữu tình,  đứng nhìn từ xa, ta thấy mỗi tán cây là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Đây cũng là nơi hội tụ đông đảo của các loài chim muông từ khắp các nơi bay về đậu rãi rác trên những cành cây rậm lá lúc bình minh vừa ló dạng. Chúng cất tiếng hót líu lo, rộn ràng và bay chuyền  nhảy nhót lăng xăng dưới ánh nắng mai rực rỡ.Tất cả cảnh vật thơ mộng  và xinh đẹp đó đã làm cho không gian bên trong khuôn viên chùa Tam Bảo Hà Tiên có đủ 4 mùa chỉ trong một ngày đêm.Ta hãy xem đây:

           – Nằm nghĩ nơi nhà hậu Tổ khoảng nửa đêm về sáng, tôi đã phải thức giấc  vì cảm thấy cái lạnh đâu đó chợt đến thình lình, khiến tôi phải kéo chăn lên tận cằm, tưởng không có gì thích thú cho bằng. Cái cảm giác lạnh lẽo như thế này làm cho người ta cứ tưởng như đang ở giữa mùa Đông rét mướt.

            – Lúc sáng sớm, mặt trời vừa ló dạng phía Đông Hồ và trải dài ánh nắng ấm áp lên nóc chánh điện chùa Tam Bảo, cũng là lúc mà muôn ngàn tia sáng lấp lánh xuyên qua các cành cây kẽ lá còn ướt đẫm sương đêm. Đó đây, khắp nơi chung quanh chùa, tiếng chim họp đàn cất tiếng hót líu lo, ríu rít vang rền như một ngày hội, nghe rất vui tai, báo hiệu một buổi sáng tươi đẹp bắt đầu. Vạn vật giao hòa trong bầu không khí ấm áp. Tôi chuẩn bị đi đến trường, lòng nghe rạo rực và phấn khởi kỳ lạ. Bước xuống thềm từ nhà hậu Tổ, nhìn ánh nắng ban mai chói lọi sáng rực trên hòn non bộ và tràn ngập khắp sân chùa, lòng tôi cũng thấy phấn khởi trước cảnh tượng thiên nhiên  sáng sủa và lộng lẫy mang dáng dấp của mùa Xuân. Tôi đi bộ ra khỏi chùa với một cảm giác lâng lâng thơ thới là được đi dưới một bầu trời nắng đẹp và được hít thở không khí trong lành. Ánh nắng huy hoàng êm dịu của một buổi sáng đẹp trời đổ xuống, tràn ngập trên các lối đi tạo thành những tia sáng long lanh rực rỡ làm tôi cảm thấy dễ chịu khác thường. Đặc biệt, khi đất trời trở sang Xuân và trong những tháng đầu năm, nhất là sau Tết Nguyên Tiêu (15/1 âm lịch) là có một loài chim ở đâu trên núi bay về đậu  trên mấy nhánh cây Sao trong sân chùa. Nó cất tiếng hót  trong trẻo, lãnh lót và kéo dài từng tiếng nghe rất lạ tai. Tiếng hót của nó khác hẳn với các loài chim thường khi rất xôn xao, ríu rít. Âm giai của tiếng hót chia thành hai nhịp. Nhịp đầu phát ra mạnh hơn gồm ba nốt có vẻ thong thả, vang dội ra xa, nghe rất ảo nảo: Tút…Tút…Tút. Nhịp hai nhẹ hơn, thốt ra nhanh gọn, dồn dập và kết thúc mau lẹ ở phần cuối cùng: tút,tút,tút,tút,tút. Có người thích bông đùa và họ đã thử giải mã âm thanh tiếng hót của nó thành những từ rời rạc như sau: “Père…Mère…Frères…tout est perdu”  (Cha…Mẹ…Anh-Em…tất cả đều mất! ) rồi đặt cho nó cái tên ngộ nghĩnh: “chim mồ côi”, nghe cũng có lý. Thân hình của nó nhỏ nhắn như chim Sơn ca (rossignol) và có bộ lông màu nâu sậm. Khi hót, nó nhướng cổ lên, ngoe nguẩy cái đuôi theo tiếng hót. Giọng hót của nó vang vọng ra xa, buông thỏng từng tiếng làm cho người nghe lắm lúc phải thót cả ruột gan. Loài chim này chỉ xuất hiện vào những tháng mùa Xuân, đến khi trời đổ một vài cơn mưa đầu mùa là nó biến đi đâu mất, mãi cho đến mùa xuân năm sau mới thấy nó xuất hiện trở lại. Thoạt tiên,  nghe lại tiếng hót của nó, tôi mới cảm nhận được là một năm trôi qua nhanh quá, chứ ở đây đời sống êm ả, thanh bình nên cũng khó mà lắng đọng trong tâm não về khái niệm thế nào là thời gian. Có thể hiểu là ở đây, thời gian hầu như không có bến đỗ, nó cứ trôi lơ lững như “con thuyền không bến”.

           – Buổi trưa tan học, dùng cơm xong, tôi đi bộ về chùa trên một quãng đường ngắn là cảm thấy nóng bức, đúng lúc mặt trời đứng bóng. Trên mặt sàn xi măng và trên nóc mái tôn nhà khách, cái nắng hừng hực bốc lên nền trời xanh thăm thẳm và trong vắt không chút gợn mây. Khắp nơi tràn ngập ánh nắng gay gắt. Cảnh vật đượm vẻ tiêu sơ, hoang vắng từ trong ra ngoài. Mặt trời từ trên cao chiếu ánh nắng oi ả xuống nền đất khô khan. Không một làn gió nhẹ, cây cối đứng lặng yên, thời gian như ngưng đọng hẳn, mọi vật chìm đắm trong một không gian hoàn toàn tĩnh lặng. Tất cả chim chóc, côn trùng đều im hơi lặng tiếng. Đây là buổi trưa Hè đúng nghĩa của nó.

           – Đến khoảng 5 giờ chiều, thời tiết bắt đầu dịu lại và trở nên mát mẻ như mùa Thu. Mặt trời ngã về Tây làm đổ bóng toàn thể ngôi chùa về phía đối diện. Lá cây rung động dưới làn gió nhẹ. Tôi háo hức khoát vào người  bộ cánh tươm tất cho đúng phong cách một thầy giáo rồi hí ha hí hửng bước xuống bậc thềm sau nhà hậu Tổ và bắt đầu tung tăng đi ra khỏi chùa, lòng tràn ngập một niềm vui khó tả.

              Tôi có thói quen là thích đi dạo một mình. Nhờ khí hậu mát mẻ, tôi bắt dầu đi dạo và đi dạo…trên những con đường rất thân thuộc đối với tôi lúc bấy giờ. Tôi cứ đi lòng vòng một cách thong thả, hết con đường này đến con đường khác mà hồi đó còn thưa vắng người. Tôi nhớ mình đã bước hoài, bước mãi qua các con đường lớn, nhỏ để tận hưỏng và đắm chìm trong sự yên tĩnh, vắng lặng khác thường. Những con đường nhỏ hẹp, ngắn gọn này đã trở nên thân quen một cách kỳ lạ và nó đã đọng lại trong ký ức tôi biết bao là tình cảm quyến luyến khác thường. Tôi đi như trôi trong cảm xúc với nhiều cung bậc khác nhau khó tả (ngày nay, truy cập trên mạng Internet, nhìn thấy kiến trúc hiện đại thời mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài đã xóa nhòa những nét đẹp cổ kính của phố cũ nhà xưa từng tạo nên một khuôn mặt cá biệt cho Hà Tiên thế kỷ trước. Nhưng đây lại là điều đáng mừng, mừng vì Hà Tiên bây giờ thay đổi lớn quá, trù phú hơn xưa rất nhiều. Có  mấy người học trò cũ nói đùa với tôi là nếu Thầy về Hà Tiên bây giờ, coi chừng đi lạc đường ! ).  

               Lúc này, thời gian có vẻ dồn dập, chân trời rực lên một dãy màu cam pha lẫn sắc tím, rồi cứ chuyển đổi gam màu từng phút… Và khi mà ánh nắng của bầu trời về chiều càng lúc càng yếu dần, vạn vật đang lặng lẽ chìm đắm trong ánh sáng mờ nhạt cuối ngày, đó đây hiện lên những sắc màu huyền ảo giữa cảnh tranh tối, tranh sáng, lòng tôi không khỏi vương vấn một nỗi buồn mênh mông xa lạ của kẻ độc hành đi giữa phố xá quạnh hiu. Đúng hơn là một kẻ lữ thứ mang nặng nỗi niềm cô đơn giá lạnh trong giây phút ngắn ngủi trước hình bóng của một ngày sắp tàn lụi.

                Trời đã tắt nắng hẳn, bước đi của tôi chậm lại. Trên đường về, tôi đưa mắt ra xa, ngắm nhìn bóng tối dịu dàng từ trên cao buông xuống mỗi lúc một dày đặc…Và khi mà bức màn đêm đã phủ kín khắp không gian thì những tinh tú lấp lánh hiện ra rải rác trên nền trời cao thăm thẳm mỗi lúc một rõ dần. Một cảm giác hoang vu, huyền bí và mơ hồ đả theo tôi mãi trên từng chặn đường. Phố xá đã lên đèn, tôi nghe từ xa, trên sóng phát thanh địa phương, vọng lại một giọng ca trầm lắng, nhẹ nhàng, nó quyến rũ tôi một các kỳ lạ, tôi dừng lại để thả hồn chơi vơi theo giai điệu slow rock du dương của bài hát với tất cả nỗi nhớ  nhung dâng sầu. Lời ca buồn da diết, uyển chuyển, thanh thoát, mang thêm niềm day dứt, xót thương, hòa quyện lẫn nhau, ca từ có những đoạn như sau: «Chiều đi lặng lẽ màn đêm dần trôi…Bâng khuâng vì gió đông đến tim côi…Ngã mình nghe lá khô nhẹ rơi…Thấy lòng bớt cô đơn…giữa ánh đèn kinh đô sáng soi»… Ôi, lời ca nghe sao mà thấm thía đến tận cõi lòng, nó phù hợp với hoàn cảnh và tâm hồn rã rời của một kẻ độc hành cô đơn đang âm thầm đếm từng bước đi lẽ loi trong sự tĩnh lặng của màn đêm kỳ bí (đây là bản nhạc Kiếp Tha Hương , nhạc sĩ Lam Phương sáng tác qua giọng ca của Phù Thọ Phương, biệt hiệu Tùng Phương trên sóng phát thanh Hà Tiên. Phương là học sinh lớp đệ Nhị năm 1962 chuẩn bị thi Tú Tài phần 1. Nhờ có giọng ca thiên phú, chơi đàn gui-ta xuất sắc nên thỉnh thoảng Phương còn được mời hát trong chương trình văn nghệ nơi quê nhà. Sở trường của Phương là trình bày những bản nhạc thuần túy trữ tình rất được ưa chuộng thời đó. Giọng ca của Phương đã một thời làm say mê giới trẻ Hà Tiên. Tôi còn nhớ mãi cái tính tài tử hào hoa ở Phương, luôn toát ra chất nghệ sĩ từ mái tóc, lối nói chuyện nhỏ nhẹ và nhất là dáng dấp cao ráo, khuôn mặt đẹp trai trông thật phong nhã. Sau gần 50 năm bạt tin, nay thăm hỏi lại, tôi mới biết Phương giờ đã nghìn trùng xa cách vĩnh viễn, một phút ngậm ngùi tưởng nhớ người học sinh tài hoa năm xưa ).

Bên trái trên: Học sinh, anh Tùng An (Phù THọ An) em của anh Tùng Phương (Phù Thọ Phương), bên phải dưới: Thầy: Nguyễn Lê Hùng.

           Vậy là đã trôi qua, ngày đi đêm tới với tất cả tâm trạng chán chường lẫn rạo rực. Cứ thế, ngày lại ngày hiện lên đều đặn cảnh Đông tàn, Xuân qua…rồi Thu đến…

            Tuy đã rời xa mái chùa thân yêu gần nửa thế kỷ, tôi vẫn nhớ mãi con đường đất từ cổng dẫn ra sau chùa.Trên con đường mòn quen thuộc này, tôi đã bắt gặp thường xuyên nhiều con rắn mối rất dễ thương. Chúng cứ bò qua lại và làn chàn ngay trước mặt tôi, thấy rất dễ ghét! Trên đường đi, hễ lúc nào gặp chúng là tôi nổi máu nghịch ngợm như một đứa trẻ (lúc đó tôi cũng chỉ mới ngoài 20 tuổi, không trẻ con là gì!) và ra sức rượt đuổi chúng chạy tán loạn, trong lòng cảm thấy vui vui. Có một lần, trên đường về chùa, tôi rượt đuổi con rắn mối, nó chạy nhanh trên một đoạn đường ngắn rồi dừng đột ngột, quay đầu ra sau nhìn tôi trân trân khiến tôi đứng khựng lại, tay chân nổi da gà. Một lần khác, cũng trên đường về chùa, tôi cố đuổi một con rắn mối, nó đâm đầu chạy trối chết và chui nhanh vào một lỗ trống dưới chân nền chùa, tưởng đâu yên ổn như mọi khi, chợt nó dội trở ra ngay, bí quá bèn chui đại xuống đống lá khô dưới giàn trầu của Bà Cô. Thì ra, trong cái hang ổ đó đã có sẵn một con rắn mối thuộc loại “anh chị”, nó quen sống “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” và nó ngang nhiên chiếm ngụ “bất hợp pháp” các hang ổ nào tùy thích để sẵn sàng tống cổ bất cứ kẻ đồng loại nào dám bén mảng đến gần. Quá vui! Rắn mối cũng là cư dân hiền lành  sống trong sân chùa, tôi xem như bạn.

           Nằm lì mãi trong chùa, tôi cảm thấy thời gian như đọng lại, mặc cho ngày tháng cứ lạnh lùng trôi qua, tôi bây giờ thực sự sống như một “ẩn sĩ bất đắc dĩ”. Các bạn đồng nghiệp đến thăm nơi “ẩn cư” của tôi, không ai ở chơi lâu được, họ chợt đến rồi chợt đi vì không chịu nổi sự vắng vẻ và tĩnh lặng của cuộc sống cô liêu, u tịch.  Còn tôi, tôi thích chọn nơi này để mà nghiền ngẫm, để mà suy tư sau khi đã  rủ bỏ cát bụi của chốn đô thành xuống hai con sông Tiền, sông Hậu mỗi lần trở lại Hà Tiên và dứt khoát từ biệt cuộc sống ồn ào ở nơi thị tứ. Tại đây, tôi vô cùng sung sướng được sống trong cảnh thân tâm chay tịnh và cảm thấy một niềm phúc lạc lâng lâng thoát tục. Cũng tại đây, tôi có được một tâm thức bình an, một sự siêu thoát lạ lùng không thể diễn tả được. Cũng tại nơi này, tôi được sống gần gũi với thiên nhiên, với gió trăng và ánh nắng mặt trời chói chan tràn ngập trên khắp cỏ cây tươi đẹp. “Ẩn cư” như thế này quả thực cũng phong lưu, vì suốt ngày tôi lấy việc di dưởng tinh thần, đọc sách và dạy học làm phương châm sống.

           Lúc nhớ lại những con vật dễ thương năm xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo Hà Tiên, tôi không thể nào quên được mùa Đông cuối năm 1963. Đây là mùa đông đáng nhớ hơn hết trong những năm tháng dạy học tại Hà Tiên. Qua một trận mưa to hiếm thấy lúc nửa đêm, sáng ra nhìn mặt đất trong sân chùa chỗ nào cũng ẩm ướt. Cây cỏ, hoa lá toát lên sức sống trở lại sau những ngày hanh khô. Cảnh vật chung quanh chùa đã thay hình đổi dạng chỉ qua một đêm mưa nặng hạt và tôi cảm thấy dấu hiệu đầu tiên của mùa đông đang đến. Ngọn gió Đông-Bắc kéo về, thổi ào ạt vào cây cối chung quanh chùa, đập mạnh vào 4 cánh cửa gổ bước lên nhà hậu Tổ nghe rầm rầm. Mùa đông thực sự đã tràn về Hà Tiên. Chưa bao giờ trời trở lạnh đột ngột như thế này. Gió lạnh kéo về rít từng cơn, thổi ào ào tới tấp, xuyên qua các cành lá cây làm rách tả tơi những tàu lá chuối trông thật thê thảm. Giờ đây, có dịp xem lại mấy tấm ảnh cũ tuy đã phai màu thời gian sau gần 50 năm, tôi vẫn nhận ra được nhiều bạn đồng nghiệp chụp ảnh chung với các em học sinh trong buổi lễ ra mắt hiệu đoàn trường trung học Hà Tiên tháng 12/1963. Tất cả  mặc áo ấm đã đành, còn có những bạn quấn thêm chiếc khăn len quanh cổ trông giống như đi du lịch ở Đà Lạt, miền đất của sương mù và gió rét. Đủ biết, mùa đông năm 1963 ở Hà Tiên là quá lạnh. Lúc bấy giờ, thị xã Hà Tiên chưa có nhà cao tầng, ngoại trừ hai dãy phố lầu thấp lè tè hình thành dọc hai bên hông chợ đã xưa cũ. Ngoài ra, còn có một cái nhà lầu đúng nghĩa của nó, kiến trúc theo kiểu Tây trông rất bề thế, tọa lạc đơn độc trên một khoảnh đất cao (núi Ngũ Hổ). Hồi thời Pháp thuộc, Hà Tiên còn là đơn vị hành chính cấp tỉnh, cái nhà lầu này là dinh tỉnh trưởng, người dân địa phương gọi nó là Lầu Ba.  Năm 1962, toàn bộ nhà lầu được sử dụng làm trại gia binh (foyer du soldats) và người dân Hà Tiên vẫn còn nghe đều đặn tiếng kèn Tây trỗi lên từ đây vào lúc tờ mờ sáng và khuya trước khi đi ngủ. Tiếng kèn về đêm buông thỏng từng giai điệu rời rạc nghe buồn tê tái đến  não nùng. Nhà cửa thưa thớt như thế, cho nên không có gì cản trở ngọn gió lạnh từ phía Đông-Bắc đổ dồn về làm cho Hà Tiên lãnh đủ.

           Trời đã sáng mà tôi vẫn muốn nằm cuộn tròn trong chăn ấm. Thời tiết lạnh quá, phải can đảm lắm mới có thể tung chăn bước ra khỏi giường, chuẩn bị  đến trường. Trời vẫn còn lạnh, nhưng khi nhìn qua cánh cửa sổ hé mở, tôi thấy bên ngoài cảnh vật luôn chan hòa dưới ánh nắng ấm áp ban mai, báo hiệu một ngày mới tươi đẹp, một luồng sinh khí mới bắt đầu và trong lòng tôi cảm thấy phấn khởi biết bao.

           Bước xuống từ các bậc thềm quen thuộc hằng ngày sau nhà hậu Tổ và bắt đầu đi ra khỏi chùa, tôi thấy lạnh cóng, phải cho tay vào hai túi quần. Trước sân chùa, phía cánh trái sát đường lộ, có một cái ao hình chữ nhật. Người dân chung quanh thường đến đây gánh nước mang về nhà dùng. Hằng ngày, đi ngang qua đây, tôi thấy nước ao có một màu trong xanh, trên mặt nước có phủ một ít cánh bèo hoa sen nổi lềnh bềnh và chao đảo qua lại theo làn gió thoảng nhẹ. Màu xanh của nước và màu trắng của ánh sáng mặt trời phản chiếu làm cho mặt hồ lấp lánh muôn vàn tia sáng kỳ ảo. Cảnh vật dưới ánh nắng ban mai đẹp tựa như một bức tranh, càng đẹp biết mấy khi ngửng lên trời, bâng khuâng nhìn mây bay thiên hình vạn trạng, cứ trôi mãi vào hư không.

           Sáng hôm đó, lúc đi đến gần ao, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy một số người tụ tập trên bờ ao và nhìn xuống mặt nước, để làm gì? Trong khi bên ngoài, trời lạnh đến nổi mặt hồ bốc lên hơi nước  phảng phất qua lại giống như làn khói sương mong manh mờ đục. Hóa ra, trời lạnh làm ảnh hưởng đến hồ nước và không ai ngờ  dưới đáy hồ có những con rùa to lớn bằng cái thúng phải trồi đầu lên khỏi mặt nước và bơi qua lại dọc theo chiều dài mặt hồ. Tôi đứng lại, say mê nhìn những con rùa to lớn khác thường bơi sát mặt nước. Đây là hình ảnh kỳ lạ nhất mà tôi được thấy lần đầu tại Hà Tiên. Tôi mãi đứng nhìn cho đến khi màn sương tan dần phơi bày 4 cạnh bờ ao bằng đá đóng rêu xanh. Chân bước đi đến trường mà tâm trí tôi vẫn lảng đảng mơ màng trong sương khói về những con rùa to lớn dị thường vừa nhìn thấy.

           Tan học, dùng cơm trưa xong trở về chùa, tôi liền tìm Bà Cô để thưa hỏi về chuyện những con rùa trước ao. Bà Cô biết rất rõ nguồn gốc của những con rùa này từ lúc Bà Cô còn trẻ. Đã mấy chục năm qua, những con rùa này vẫn không thay đổi kích thước,  chúng nặng khoảng 40kg/con. Những con rùa này chả khác mấy với rùa ở hồ Hoàn Kiếm hoặc trên đảo Galapagos (Nam Mỹ) mà ta thường thấy trên TiVi. Rùa ở Hà Tiên có cùng một giống với rùa ở hồ Hoàn Kiếm, nó thuộc loại rùa nước . Rùa trên đảo Galapagos  là rùa đất. Chúng khác nhau ở chỗ rùa nước có hình dáng dẹp hơn để dễ bơi và dễ lạn lách trong nước. Rùa đất đi bằng 4 chân, nó có chiếc mai tròn, gọn và cao hơn rùa nước . Những con rùa này có tuổi thọ lên đến cả trăm năm, thậm chí vài trăm năm là chuyện bình thường. Tôi còn dạy học ở Hà Tiên thêm 2 năm nữa, nhưng không thấy những con rùa này xuất hiện. Bà Cô cho biết, chúng thường xuyên di chuyển qua lại trong các ao hồ chạy dài lên tận Ao Sen dưới chân núi Bình San. Chúng di chuyển lặng lẽ ban đêm, không ai thấy. Chùa Tam Bảo Hà Tiên lúc đó (1964) rất thanh vắng do đường bộ lưu thông thường xuyên bị gián đoạn và cũng do hoàn cảnh chiến tranh, kinh tế địa phương khó phát trển và khách hành hương vì thế mà cũng ít vãng lai tới chùa. Trong chùa lúc đó chỉ có ba vị thường trú : Thầy Trụ Trì nghỉ dưới Hậu Liêu, Bà Cô ở trong một cái phòng nhỏ cạnh nhà bếp, Thầy Thiện Tường (Thầy mù) nghỉ tại nhà hậu Tổ, về sau (1962) có thêm tôi cũng ở tại nhà hậu Tổ là bốn người tất cả. Thường, khóa lễ chiều kết thúc khoảng 5giờ, Bà Cô vẫn mặc chiếc áo tràng màu lam, xuống ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ đặt nơi hành lang nhà Khách và tiếp tục lần chuỗi hạt niệm Phật. Tôi hay lân la đến ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh chân Bà Cô và ân cần thưa hỏi về những chuyện có liên quan tới Hà Tiên năm xưa. Đặc biệt, những chuyện linh hiển của Bà Cố Năm Hà Tiên, tôi nghe cũng đã nhiều, nhưng có một chuyện linh diệu mà tôi chỉ được nghe Bà Cô kể lại, ngoài ra chưa từng nghe ai nói đến bao giờ, có lẽ do tôi ít giao du cũng nên. Tôi chưa dám đánh giá câu chuyện đó thực, hư thế nào, chỉ cần nhớ lại thái độ nghiêm chỉnh cộng với ánh mắt trung hậu của một nhà tu hành chân chính lâu năm như Bà Cô đang nhìn vào tôi lúc kể chuyện, vì năm đó Bà Cô cũng đã gần 80 tuổi. Bà Cô còn nói thêm một câu mà tôi cứ nhớ mãi cho tới bây giờ hầu như nguyên văn « đây là chuyện linh thiêng mầu nhiệm của Bà Cố Năm Hà Tiên mà Bà Cô đã tận mắt chứng kiến lúc còn con gái từng đi theo ghe thương hồ để buôn bán trái cây dọc các bến, chớ không nghe ai kể lại ». Đã gần 50 năm trôi qua, chuyện kể của Bà Cô luôn đọng mãi trong ký ức tôi và tôi tin rằng chuyện kể đó đáng được «tin cậy». Những chuyện linh thiêng hiển hiện ra như thế này, ta cứ xem như «truyền thuyết dân gian» mà ở địa phương nào cũng có, nó càng làm phong phú thêm những nét sinh hoạt văn hóa tâm linh của mỗi vùng và dù muốn hay không, nó vẫn in sâu vào tâm thức của nhiều thế hệ tiền bố, nên đáng được trân trọng bảo tồn (đầu năm 2012, tôi có nhờ cô học trò cũ chuyển chút ít phần công đức gởi tới ban vận động kinh phí mở rộng khu lăng mộ Bà Cố Năm Hà Tiên từ lâu đã được Bộ Văn Hóa-Thông Tin công nhận là Di Tích Lịch Sử. Tôi thấy, đây là việc cần làm, vì lúc còn dạy học ở Hà Tiên năm 1962, tôi thấy khu vực này quá vắng vẻ, cây cỏ hoang dại mọc um tùm, khó mà lần ra dấu vết). Do tính hiếu kỳ, nên đã nhiều lần tôi thử đi ngược lên phía Ao Sen vào những lúc chiều tà để ngắm nhìn sen nở, thưởng thức hương thơm và hy vọng được thấy rùa trồi lên mặt nước, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì cả, ngoài một cái ao sen rộng lớn nở đầy hoa, mùi thơm dịu dàng. Ao sen chạy dài phía trước Miếu Ông Lịnh (Mạc Cửu),  tôn nghiêm và lặng lẽ. Ngồi lại một mình trên bờ ao, nhìn cảnh người người lần lượt đến ao gánh nước khi mặt trời vừa xế bóng và hoàng hôn đang trải dài trên khắp mặt hồ, tôi mới thấy được giá trị của nước tiêu dùng đối với người dân Hà Tiên từ bao đời nay . Cái ao sen này đã cung cấp nước cho toàn thị xã Hà Tiên, nhưng chỉ để rửa ráy, giặt giũ là chính. Tại Hà Tiên lúc bấy giờ nhà nào cũng có sẳn lu chậu để trữ nước mưa dùng trong việc nấu ăn. Nước sạch là thứ quý hiếm, cho nên hầu như nhà nào cũng xây thêm hồ chứa nước mưa trong sân nhà đủ dùng quanh năm. Viết dến đây, tôi chợt nhớ tới một thiên tình sử khá lâm ly khiến không ít người đã phải ngậm ngùi khi được nghe kể lại. Ở Hà Tiên, người ta thường dùng cái chậu  lớn bằng đất nung để chứa nước mưa. Thời đó có nhiều chậu được sử dụng trong chùa  Phù Dung, nơi đây khi xưa là trụ sở của Hội Thi Văn Đoàn Chiêu Anh Các.  Vào mùa nắng, người ta úp chậu lại nhằm tránh bụi bặm, rác rưởi. Đến khi trời chuyển mưa, người ta đến lật  chậu ra và phát hiện “Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp”  .Có lẻ do chán cảnh đời dâu bể, khổ sở trăm bề nơi chốn hoàng cung và cũng không muốn vương vấn  thêm mùi tục lụy nơi cõi phù trầm mộng ảo, nàng ái cơ của vị tiểu vương đã tìm đến nương nhờ cửa Phật. Càng xót xa cho số phận “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” bao nhiêu thì tôi càng kính nể vị tiểu vương bấy nhiêu, vì ông  chẳng dùng đến quyền uy của một đấng “thiên tử” để bắt ép nàng ái phi phải xuất thế. Ông quý trọng nàng, vẫn một lòng chung thủy với nàng, chịu khó cưỡi ngựa lặng lẽ tới trước cổng chùa, âm thầm đưa mắt nhìn vào bên trong sân chùa, mong tìm một hình bóng giai nhân. Thì ra, ông luôn dành cho nàng ái thiếp một góc nhỏ trong trái tim, ở nơi đó ông tôn thờ nàng. Với cương vị Tông Đức Hầu, thừa kế chức Tổng binh, oai trấn lừng lẫy cả một vùng, thế mà tình cảm của đấng quân vương này sao mà chẳng khác mấy so với tâm hồn của kẻ thứ dân bình thường đến thế! Thảo nào, ông còn được giới văn nghệ sĩ thời đó tại địa phương ưu ái tôn vinh như một thủ lĩnh khả kính của nhóm Tao Đàn Chiêu Anh Các. Thi Văn Đàn Chiêu Anh Các đã cho ra đời nhiều áng văn tuyệt tác và cũng  đã làm rạng rỡ nền văn học đất Hà Tiên một dạo, đó là điểm son trong nền văn học VN nói chung. Riêng 10 bài “Hà Tiên Thập Vịnh”có thể nói, đó là những bức tranh thủy mặc chấm phá, bút pháp tả cảnh đơn sơ cho thấy thi nhân là những họa sĩ tài ba, trong thơ có họa (thi trung hữu họa), áp dụng lối tả cảnh bằng kỹ thuật ấn tượng. Kẻ hậu sinh không biết nói gì hơn là vô cùng ngưỡng mộ cũng như tôn kính ông như một bậc minh quân chan chứa tâm hồn nghệ sĩ đầy ắp tinh thần nhân văn sâu sắc, thấm đậm tình người, ông  xứng đáng là nhà  Mạnh Thường Quân hào hiệp và trên hết,  ông còn là nhà “bảo trợ văn học nghệ thuật” (protecteur des lettres et des arts) có một không hai trong lịch sử văn học VN phía Đàng Trong hồi thế kỷ 18. Ngoài ra,  tôi cũng hết sức mến mộ tài nghệ của soạn giả Viễn Châu, vì ông đã khéo hư cấu (création imaginaire) câu chuyện tình  xảy ra tại một vùng hẻo lánh thành vỡ tuồng cải lương,  tựa đề: “Áo Cưới Trước Cổng Chùa” từng làm say mê hàng vạn khán thính giả miền Nam trong nhiều thập niên trước đây.

           Nhìn mãi không biết chán những đóa sen hồng pha lẫn sắc trắng đang ngã nghiêng  theo làn gió chiều thoảng nhẹ và mùi hương của hoa phảng phất dịu dàng trong khoảng không gian lồng lộng  cảnh trời nước bao la, bất giác tôi nhớ lại bài thơ : “Hái Sen” mà tôi đã học hồi còn lớp đệ Lục (lớp 7) chương trình Pháp. Bài thơ được chọn dịch ra Pháp văn trong chương trình học chuẩn bị thi bằng Brevet du premier cycle (bằng tốt nghiệp lớp 9). Nội dung bài thơ như sau:

Hái sen,
(gởi chị Ngọc Hoa)
Em nhớ mùa sen nở,
Em cùng chị ra ao…
Chị bảo em bưng rổ,
Chị đi trước, em sau.

Hôm sau, lúc ra chợ
Để bán rổ hoa sen.
Rằng: “chị ơi, hãy nhớ !
Mua em bánh với kèn ! “

Đến nay. Mùa sen nở
Chỉ mình em hái sen !
Và chẳng ai ra chợ
Để mua em, bánh kèn !

Bên đầm sen đã nở
Nhưng chị đã theo chồng…
Em bâng khuâng hồi nhớ
Thửa cùng chị bẻ bông…
Tác giả: Trần Văn Hai

  Thật là giản dị, tươi sáng và trong trẻo như nước từ nguồn chảy ra. Bài thơ diễn tả một thời thơ ấu đã trôi lắng vào quá khứ êm đềm xa xưa, nhưng không khỏi cho chúng ta cái cảm giác buồn thấm thía dường như vẫn còn bàng bạc đâu đây. Bài thơ đã hay, nhưng khi được Giáo Sư Pierre Darriville dạy trường Marie Curie lúc đó dịch ra Pháp văn vẫn hay không kém (4 câu cuối):

Cueillir les lotus,
………………………………….
Dans l’étang, les lotus ont fleuri,
Cependant, tu as suivi ton mari !
Et tristement, me revient le souvenir
Des fleurs qu’avec toi j’allais cueillir.

Vẫn ngồi lặng lẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp thanh nhã của hoa sen, tôi suy gẫm và nhận ra được là ở trên thế gian này có 3 thứ được xem là đẹp hơn cả: Hoa, Trăng và Mỹ nhân. Thường, hoa đẹp thì không thơm. Tìm được một đóa hoa vừa đẹp vừa thơm, có lẽ không ngoài hoa sen.  Hoa sen không sắc sảo, nhưng mặn mà; không rực rỡ, nhưng sáng sủa; không kiêu kỳ, nhưng lại có nét quý phái kiêu sa, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Bất luận, chỗ nào có hoa là có bướm; có giai nhân là có tài tử, không chạy đâu sai. Cuộc đời thế mới có ý nghĩa.

            Ngoài ra, Tạo hóa cũng rất công bằng, hễ cái gì đẹp là không thủ đắc lâu dài. Có nghĩa là, vì có hoa đẹp nên người ta lo sợ gió mưa vùi dập làm tan tác cành hoa; vì có trăng sáng nên người ta ngại sẽ bị mây mờ che phủ và cũng vì có mỹ nhân nên người ta e rằng mệnh bạc như một thi sĩ thời tiền chiến đã cảm nhận:

“Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.”

           Ba thứ đẹp tuyệt trần trên đây nếu được hội ngộ cùng lúc quả là khó. Chẳng hạn, dưới ánh sáng trăng huyền ảo mà được ngồi tâm sự cùng mỹ nhân bên cạnh ao sen sực nức hương thơm như thế này, chuyện tưởng chừng như chỉ có trong “hồn bướm mơ tiên”. Ở thế kỷ trước, hẹn hò một chuyện như thế này xem ra không khó lắm, vì dân số thế giới lúc đó chỉ khoảng 2 tỷ 7 người, mọi chuyện đều đơn giản. Nay, chưa quá 70 năm mà dân số toàn cầu tăng gần 7 tỷ, trong khi diện tích trái đất vẫn y nguyên. Có thể nói, Trời sinh quá nhiều Voi mà không sinh thêm Cỏ, nên phải giành ăn. Đến đây, ta đã biết nguyên nhân chiến tranh là gì. Rất đơn giản, một nước quá giàu luôn thu hút sự thèm muốn ghê gớm của các nước khác, đó là nguyên nhân của chiến tranh. Đại chiến thế giới thứ Nhất (1914-1918) và thứ Hai (1939-1945) thực chất là sự “giành ăn” giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Cũng giống như vậy, hồi thế kỷ 18, Hà Tiên là hải cảng quốc tế rất hưng thịnh và giàu có nhất nhì đông nam Á. Chính vì thế mà quân Xiêm ở cận kề bắt đầu dòm ngó một cách thèm thuồng. Những  cuộc xâm lăng đầu tiên của quân Xiêm đến từ phía Mũi Nai đều lần lượt bị đẩy lùi. Lần sau cùng là năm 1771, lần này quân Xiêm đi ra xa ngoài biển khơi nhằm tránh hỏa lực phòng ngự đặt trên mũi Pháo đài, rồi bất thần đổ bộ vào làng Thuận Yên, tràn xuống chiếm cứ đỉnh cao núi Tô Châu, tập trung  hỏa lực của súng thần công nã xuống khu dân cư, đốt cháy kho đạn, hủy hoại phố xá. Chính quyền và dân chúng chạy tán loạn theo sông Giang Thành về phía Châu Đốc. Quân Xiêm  tràn vào Hà Tiên mặc sức giết chóc, tàn phá, tha hồ cướp bóc rồi chất đầy vàng bạc, châu báu cùng đồ tế nhuyển lên trên 2 chiếc ghe lớn chuyển về nước. Cuộc  xâm lăng cướp phá tơi bời của quân Xiêm đã làm cho Hà Tiên trở thành chiến địa hoang tàn và Hà Tiên bắt đầu suy sụp không sao cứu vãn nỗi. Sứ mạng lịch sử của Hà Tiên chấm dứt kể từ đó. Tuy nhiên, số phận Hà Tiên thực sự trở nên bi đát hơn, tức là bị thu hẹp đất đai, còn lại chưa quá 1/50 như hiện nay kể từ lúc quân Pháp thôn tính phần đất Nam Kỳ để làm thuộc địa. Trong 3 tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ dưới thời phong kiến, Hà Tiên là tỉnh lớn nhất trong Nam Kỳ Lục Tỉnh. Địa danh Hà Tiên trước kia gồm 7 xã, trải rộng ra đến Phú Quốc, Cà Mau, Rạch Giá và lan qua tận Kompong Som, Ream, Kampot của vương quốc Cambot  (Royaume du Cambodge), chợ Hà Tiên hiện nay là xã thứ 7. Thực dân (dân đi kiếm ăn) Pháp sau khi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông, quay sang chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ làm đảo lộn tận gốc rể các hệ thống tổ chức đơn vị hành chính và địa giới. Hà Tiên là nơi đặt trụ sở cao nhất của tỉnh, do đó Pháp phải đánh chiếm Hà Tiên bất cứ giá nào. Tuy nhiên, nhờ có văn bản đầu hàng vô điều kiện của kinh lược sứ Phan Thanh Giản, nên quân Pháp vào tiếp thu Hà Tiên không tốn một viên đạn. Trước kia, quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên bằng con đường Mũi Nai và Thuận Yên, nay quân Pháp lấy Hà Tiên bằng con đường nào? Dưới sự chỉ huy của đại tá Galley, đội pháo thuyền gồm có pháo hạm La Flamberge do đại úy Benoit làm hạm trưởng, 1 chiếc chaloupe (ca-nô) làm nhiệm vụ trinh sát, 20 chiến thuyền lớn nhỏ chở đầy lính Pháp và lính tập. Hạm đội Pháp khởi đi từ Châu Đốc lúc 12 giờ trưa ngày 23/6/1867, vượt qua kinh Vĩnh Tế, nhắm thẳng hướng Hà Tiên, đi được ¾ đường thì bị mắc cạn. Lúc bấy giờ, con kinh này chỉ là cái mương rộng lớn được đào ở giữa bưng lầy, nối liền kinh Vĩnh Tế để thông thương với các tỉnh Hậu Giang. Đoàn tàu chiến đến Hà Tiên vào lúc 9 giờ sáng hôm sau, chậm trễ hơn kế hoạch dự trù do con kinh Vĩnh Tế khi vào đến cửa Hà Tiên có rất nhiều cồn cát, người ta phải đẩy, hoạc kéo tàu vượt qua từng chiếc một, hoặc đợi lúc nước lớn.  Khi vào đồn, quân Pháp tiếp thu sổ sách và mọi chuyện đều êm xuôi. Tiếp nhận đầu hàng xong, quân Pháp bố trí đại úy Dauvergne ở lại giữ gìn an ninh trật tự. Theo ký sự tài liệu mô tả lúc bấy giờ, cảnh trí Hà Tiên rất đẹp, nằm cao hơn mặt biển vài ba mét. Một cái đồn xơ xác (có lẽ mũi Pháo Đài), không có sự sống ở đó, đồn nằm trên mũi nhọn nhô ra biển. Ở đây, chỉ có vài họng đại bác hư hỏng. Khi nước thủy triều dâng  cao, cái đồn này nỗi lên đơn độc như một hòn đảo nhỏ. Ở cạnh đó là một làng ngư dân nghèo khổ nằm kề bên một hàng rào vuông vức lớn. Phía bên trong hàng rào là nơi cư trú của các viên thư lại (công chức) và những người chỉ huy lính tráng tùng sự tại dinh tổng đốc (không biết ở đâu). Đến mùa nắng, người ta thấy toàn là nước mặn vây quanh, không tìm đâu ra một giọt nước ngọt. Thời đó, rất khó mà tuyển dụng các viên chức người địa phương, phải nhờ bên Châu Đốc và Vĩnh Long chi viện. Chủ quyền VN coi như mất hẳn kể từ lúc Hà Tiên là tỉnh cuối cùng  rơi vào tay quân Pháp, đất nước chìm đắm trong tang thương:

“Bến nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
( Nguyễn Đình Chiểu )

          Và cụm  từ Đông Dương Thuộc Pháp (Indochine française) là niềm kiêu hãnh của kẻ  thống trị được phổ biến mãi cho tới trăm năm sau.. Lần đầu tiên, trong điều kiện hùng mạnh nhất của chế độ thực dân thời cận đại, bất chấp mọi vũ khí tối tân vô địch của kẻ đi xâm lăng, binh pháp phương Đông đã đập tan xác và chiến thắng vẻ vang binh pháp phương Tây trong một cuộc đụng độ lịch sử long trời lỡ đất tại mặt trận Điện Biên Phủ (ĐBP), kết thúc ngày 7/5/1954, làm tan rã toàn bộ hệ thống cai trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên khắp thế giới. Đúng như câu nói của nhà mưu lược quân sự vĩ đại Tôn Tử:  “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” (tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng). Nhờ khống chế được vị trí trên cao, dựa vào “thế ỷ giốc”, mạnh như “chẻ tre” (băng cao thị lực như thế phá trúc), quân kháng chiến đã dồn hết hỏa lực của các loại đại pháo hạng nặng lên trên đó, rồi đồng loạt tung hỏa lực xuống một cái “lòng chảo” nằm yên, bất động, chịu trận đến tê liệt. Toàn căn cứ điểm ĐBP bốc cháy như một biển lửa mênh mông. Thế là trận Xích Bích Hỏa Công năm xưa, đốt cháy quân Tào Tháo được tái hiện một cách sinh động chưa từng thấy. Sự sai lầm về chiến lược của bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã dẫn tới thất bại nặng nề về chiến thuật làm sụp đổ nhanh chóng toàn bộ căn cứ ĐBP. Cả thế giới lần đầu tiên đã phải sửng sốt khi nhìn thấy trên màn ảnh một đoàn tù binh Pháp gồm mười ngàn người, lôi thôi, lếch thếch, rồng rắn bước đi từng bước, cố gắng lê lết về phía trại tập trung tù binh. Thế là nổi nhục mất nước của người VN đã được rửa sạch và nếu như không có trận ĐBP thì các nước thuộc địa ở Bắc Phi, Châu Phi da đen,  Châu Mỹ La Tinh, châu Đại Dương…có lẽ còn sống mãi trong những đêm dài đen tối của chủ nghĩa thực dân cũ, ta nên khách quan công nhận điều đó.

            Lúc tôi đến đây dạy học năm 1962, Hà Tiên đã thực sự thu hẹp  trong một vùng lặng lẽ và khiêm tốn về mặt địa lý, thậm chí quá nhỏ bé, chỉ từ Hòn Chông đến biên giới Campuchia cách chợ Hà Tiên chưa tới vài ngàn mét. Toàn thị xã lúc đó cũng chỉ ước tính rộng bằng mặt nước  Đông Hồ, không hơn. Tôi rất tự hào là được dạy học cũng như sinh sống một dạo tại Hà Tiên và như đã nói ở đoạn trước, tôi  rất say mê bước đi trên những con đường cũ kỹ của một thời xa vắng với một tâm trạng tuyệt vời khó tả. Nơi đây, còn lưu lại dấu vết của các bậc tiền nhân đã đổ ra biết bao công sức để giữ gìn một cõi biên thùy xa xăm, làm phong phú thêm  lãnh thổ cho Tổ quốc. Mỗi bước đi dạo của tôi trên đường xưa lối cũ này dường như là để được hầu chuyện với anh linh của những người đã khuất bóng muôn thuở, lòng tôi luôn hướng về các bậc tiền bối mà tôi rất mực tôn kính với một sự biết ơn vô hạn. Bởi lẽ, xã thứ 7 của Hà Tiên (tức chợ Hà Tiên bây giờ) còn tồn tại cho đến hôm nay cộng thêm những địa danh như Phú Quốc, Cà Mau, Rạch Giá mà cách đây hàng ngàn năm là đất của vương quốc Phù Nam, thủy tổ của người Campuchia hiện nay là do công lao của Mạc Cửu. Ngày nay, ta phải ghi nhớ công sức của họ Mạc đã giúp người VN hoàn thành cuộc Nam Tiến và nới rộng biên cương của Tổ quốc đến tận vịnh Xiêm La  (Riêng 3 tỉnh thành ở Cao Miên là đất mà nhà vua của họ dã dâng hiến cho Mạc Cửu đã bị thiếu tướng Lagrandière, tư lệnh quân viễn chinh Pháp buộc trả lại cho Miên hoàng Norodom do ông ta đã nhanh chóng chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ngay từ đầu chiến cuộc). Việc mở mang bờ cõi này ít tốn hao xương máu hơn so với cuộc Nam Tiến đánh dẹp quân Chiêm Thành trong mấy thế kỷ trước, rất vất vã. Phải chăng, đây là “định mệnh lịch sử”(déterminisme historique) có lợi cho VN sau này. Đành rằng “cờ tới tay ai nấy phất”, nhưng nếu nó rơi vào tay người khác thì sao. Công lao của Mạc Cửu kể ra không nhỏ.

           Trở lại với những con rùa có tuổi thọ phi thường, người ta tự hỏi. tại sao rùa lại sống lâu hơn các loài động vật khác, kể cả vượt quá tuổi thọ của con người rất xa? Để biết được vấn đề xem ra khúc mắc nay, ta thử tìm hiểu qua pháp môn Yoga. Trước hết, Yoga không phải là tôn giáo như đã hiểu lầm mà là một môn khoa học vũ trụ có tác dụng đến Thân và Tâm (psychosomatique), nó khác với môn thể dục, thể thao, chỉ làm phát triển cơ thể, cơ bắp là chính. Yoga có nguồn gốc từ Ấn Độ cổ xưa và đã có lịch sử ra đời 7.000 năm trước đây.

           Trong pháp môn Yoga, các vị Tổ chú trọng hơn hết đến sự Hô Hấp. Bình thường mỗi người trong chúng ta hít thở với số nhịp 21.000 lần/ngày. Thở trên con số đó là nhanh, vì nó làm gia tăng nhịp đập của tim, đưa đến xáo trộn sự tuần hoàn của máu, làm mất quân bình Âm/Dương trong cơ thể và bệnh tật phát sinh. Sự hô hấp chậm rải, dài hơi, đều đặn và có sự kiểm soát của ý thức là bí quyết để làm tăng cường sức khỏe, chậm lão hóa và kéo dài sự sống. Ta có  thể kiểm chứng bằng những ví dụ sau: con voi thở  chậm nên sống lâu hơn loài trâu bò. Con rắn thở rất chậm nên đời sống của nó kéo dài hơn loài chó trong nhà. Ta thấy, một người sống đời sống êm đềm thọ lâu hơn người sống vội vã. Người sống hấp tấp thở sai nhịp điệu, hơi thở của họ biến đổi tùy theo hoàn cảnh, hoặc tùy theo trạng thái tâm lý tinh thần. Do vậy, họ thường xuyên chịu những sự bất cập trong cuộc sống. Người thực hành theo pháp môn Yoga không tính cuộc đời bằng số tuổi mà bằng hơi thở. Theo triết học Ấn Độ, một người chỉ có thể dành cho cuộc đời mình một số lượng hơi thở nhất định. Kẻ nào thở hối hả thì không thọ, vì kẻ đó xem như đã tiêu xài hoang phí số lượng hơi thở đã được dành sẳn cho họ.

           Bây giờ, ta thử tìm hiểu tại sao loài rùa lại có tuổi thọ cao hơn các sinh vật khác. Đây là sự thắc mắc khá lý thú mà ta có thể làm sáng tỏ những bí ẩn này bằng những lý giải hoàn toàn dựa trên căn bản khoa học. Trước hết, rùa ăn toàn thực vật (cơ thể tinh khiết), hoạt động của nó rất chậm chạp (tiết kiệm được năng lượng), lặn sâu và nín thở lâu dài (vô tình trích trữ được nhiều khí lực trong cơ thể như pháp môn Yoga chủ trương). Những yếu tố đó mặc nhiên giúp nó kéo dái sự sống theo bản năng thiên phú.

          Đừng quên rằng, trên thế gian này có rất nhiều pháp thuật «trường sinh» áp dụng cho mọi sinh vật để được sống lâu dài, sống trường thọ như loài rùa chẳng hạn. Bên Trung Quốc có tất cả 25 giống rùa nước ngọt, trong đó có một con đã sống đến 400 năm (đài SVTV 12 có giới thiệu trong một chuyên đề du lịch tháng 11/2011). Thế nhưng, sự «bất tử» là chuyện không bao giờ có thật trên cõi đời này, vì lẽ cái thể xác hữu hình hữu hoại này dù sao vẫn phải chịu chi phối bởi định luật Sinh Lão Bệnh Tử, không sinh vật nào tránh khỏi. Việc Tần Thủy Hoàng phái người đi tìm thuốc trường sinh bất tử khắp miền Đông Hải là chuyện ảo tưởng. Hoặc bên phương Tây cũng có những thuật sĩ đã khổ công bào chế một loại rượu trường sinh (elixir de la longue vie) dành cho các vua chúa là chuyện hoang đường. Thuật trường sinh không do tác động từ bên ngoài mà chính là do «nội lực tự sinh», tiêu biểu là pháp môn Yoga, Thiền, Khí công . . .

            Mới đó mà đã gần nữa thế kỷ trôi qua nhanh. Vì lý do thời cuộc, tôi đã phải rời xa  Hà Tiên và ra đi biền biệt suốt mấy mươi Thu đằng đẳng, tự vùi mình trong cát bụi kinh thành ngột ngạt, lăn lộn với sóng gió của cuộc đời trong cõi nhân sinh đầy phong ba phiền lụy mà chưa có dịp một lần trở lại viếng thăm cảnh cũ người xưa.

           Năm tháng cứ lặng lẽ trôi qua một cách hững hờ. Nay, hồi tưởng lại thời gian dạy học ở Hà Tiên, tôi thấy khắc khoải trong lòng nỗi nhớ cồn cào về một miền đất yên bình mà lúc bấy giờ được xem như: “tiểu thiên đường” hạ giới. Thêm vào đó, Hà Tiên còn được mệnh danh là “đất đẹp ngàn lời”. Bởi lẽ, nơi đây có 10 danh lam thắng cảnh ngoạn mục, thơ mộng và kiều diễm nhất miền Nam, dễ làm say mê những ai dã một lần đến đây chiêm ngưỡng đất nước này.

           Vẻ đẹp liên hệ tới con người và cảnh sắc của miền đất Hà Tiên đã được nhạc sĩ Y Vân (tác giả bài hát nổi tiếng Lòng Mẹ) ca ngợi trong một bản nhac tựa đề : “Em Gái Hà Tiên”. Ông viết nhạc phẩm này năm 1957 sau khi đã viếng thăm Hà Tiên cách đây 55 năm. Trong bài hát, ông đã khéo “nhân cách hóa” (personnifier) một địa danh thơ mộng qua hình ảnh một người «em gái Hà Tiên» rất khả ái, vừa xinh đẹp, vừa duyên dáng ở một nơi nổi tiếng có nhiều phong cảnh hữu tình dễ làm cho ta ngây ngất bàng hoàng và dã khiến cho du khách lưu luyến mãi không muốn rời xa đất nước này.. Bài hát đã diễn tả được tính nghệ thuật với nhạc điệu êm đềm, đôi lúc thì thầm. Lời ca thật tình tứ, tha thiết, bài hát vừa hay, vừa hấp dẫn,  nó còn vượt xa cả không gian và thời gian để sống mãi trong lòng  những người yêu mến Hà Tiên. Bài hát có những đoạn đã làm say đắm lòng người nghe như sau:  «Hà Tiên ơi…đất đẹp ngàn lời…sớm chiều vào cuộc đời…sống yên vui. Về quê em…xóm làng dịu hiền…bổng giờ đẹp một miền…đất Hà Tiên. Một chiều tôi đến nơi…ngập ngừng em đón tôi…ngại ngùng tia nắng chưa chìm khuất sau chân đồi. Đừng nhìn nhau quá lâu…sợ rồi thương nhớ nhau…chỉ cần quen biết thôi, tình chớ nên tìm sâu. Dù xa em…cách biệt ngàn trùng…vẫn còn lại một niềm …nhớ Hà Tiên ».               

          Về phần tôi, tôi còn lưu giữ biết bao kỷ niệm thắm thiết khó quên tại miền đất Hà Tiên thân yêu này. Những kỷ niệm êm đẹp đó luôn ẩn giấu tận đáy lòng và lắng đọng mãi trong tâm tư tình cảm đến hôm nay vẫn không phai nhòa trong ký ức của tôi. Hà Tiên ơi ! những thước phim ký ức về người «em gái Hà Tiên» trong tâm thức tôi mãi là những hình ảnh đẹp nhất  và dù cho năm tháng có đi qua nhanh, màu sắc trong phim vẫn luôn tươi đẹp trong trái tim tôi. Ngoài ra, dù có nghìn trùng xa cách đến đâu chăng nữa, hình ảnh Hà Tiên mến yêu vẫn luôn tồn tại trong chốn thâm sâu của lòng tôi với biết bao xúc cảm thầm lặng không ngớt cuộn trào. Ôi nhớ quá! Nhưng thật khó mà tìm lại chốn Thiên Thai một khi đã lạc bước trần gian:

“Cửa động, đầu non, đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”
(Tản Đà)

           Giờ đây, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời và ngồi lặng lẽ một mình để mà có dịp hồi tưởng lại những tháng, năm của tuổi thanh xuân đã vụt trôi đi nhanh như «Bóng Ngày Qua», tôi chợt giật mình khi nghĩ tới Thời Gian. Ôi, Thời gian! Thời gian cứ âm thầm lướt tới nhẹ nhàng nhưng lúc nào cũng khẩn trương. Bước tiến của Thời gian tuy vô hình, nhưng nó không bao giờ dừng lại. Thời gian lạnh lùng giẫm đạp, tàn phá lên tất cả sự vật hữu hình và đưa đẩy mọi sinh vật sớm muộn cũng phải đặt chân đến ngưỡng cửa hư vô.

           Nghĩ lại mới thấy, trong khoảng trời đất bao la mà chúng ta đang sống, tất cả đều thoáng qua nhanh như một giấc mộng; tất cả đều lần lượt chìm vào dĩ vãng không để lại dấu vết gì; tất cả đều là cảnh tượng phù du đến kinh ngạc, xét ra chẳng khác nào như sự việc đầu hôm, sớm mai vậy.. Đúng là “phù sinh trong một giấc chiêm bao” (thơ Mạc Thiên Tích), hoặc như thi hào Tô Đông Pha đã cảm tác: “Đời trôi qua như giấc mộng Xuân, không lưu lại một dấu vết nào cả” (sự như Xuân mộng liễu vô ngấn).

          Và hôm nay, có ai còn nhớ những con vật dễ thương từng “vang bóng một thời” như đã nói trên, đặc biệt những con rùa có tuổi thọ lâu năm, những con rùa từng tiêu biểu cho những nét sinh hoạt lịch sử văn hóa lâu đời tại một miền đất Hà Tiên năm xưa, bây giờ chúng ra sao?

          Thật ra, không có gì tồn tại mãi với thời gian theo quy luật Thành Trụ Hoại Không của Tạo Hóa.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên:  từ trái qua phải,  Hàng 1 (5 Thầy Cô): Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn), Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm nhạc), Cô Lý Ngọc Mai (Nữ công), Thầy Lê Trung Hoàn (Hiệu Trưởng), Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn).

 Hàng 2 (1 thầy áo đen): Thầy Vũ Quang Vinh (Văn)

 Hàng 3 trên cao (7 Thầy): Thầy Lê Văn Triệu (Toán), Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn vật), Thầy Võ Thành Tài (Anh văn), Thầy Hồ Quang Điệp (Anh văn), Ông Nguyễn Văn Thân (Thư ký)
Chùa Tam Bảo Hà Tiên trong những năm 1960, lúc thầy Nguyễn Lê Hùng ở trọ để dạy học ở Hà Tiên

Trích: “ Bóng Ngày Qua”(Tập ký ức thời gian, có 25 bài viết về thời kỳ dạy học ở Hà Tiên).

Nguyễn Lê Hùng (Nguyên giáo sư sinh ngữ Pháp trường trung học Hà Tiên, 1962-1965. Nguyên Trưởng phòng Hồ Sơ Phim Tư Liệu, 1975-2001, Cục Điện Ảnh,  Bộ Văn Hóa-Thông Tin, nghỉ hưu).

Tái bút: 1/ Em Nguyễn Thị Điệp, một học sinh Trung Học Hà Tiên cho biết thêm về một số chi tiết về Thầy Nguyễn Lê Hùng (nhà Ba Má Điệp nấu cơm tháng cho thầy ăn): « Em chẳng biết nhiều về thầy vì không ỡ gần và thầy rất ít nói nhưng sống rất tình cảm. Mỗi khi thầy đến nhà ăn cơm không có ai trước nhà thầy không bao giờ kêu cứ ngồi đợi đến khi nào có ai ra, những lần như vậy tụi em bị má rầy và dặn đến giờ ăn nhớ chờ thầy tới là cho má hay. Lúc thầy rời Hà Tiên đổi đi nơi khác thầy có tặng cho nhà 1 tấm ảnh chụp ỡ Hòn Phụ Tử nhưng vì chiến tranh nên không giữ được lúc từ giã thầy buồn lắm em chỉ có chút kỷ niệm với thầy như vậy. »

2/ Em Huỳnh Thị Sáu (Jennie Huynh) cho biết tin như sau : Thầy Nguyễn Lê Hùng mất vào tháng 5, năm 2014 tại Sài Gòn. Thầy Hùng có một người con trai tên Huy hiện là kỷ sư tại phi trường Tân Sơn Nhất SG. (thay mặt Blog THHTX, xin cám ơn em Sáu).

3/ Chị Nguyễn Thị Nhung (phu nhân của thầy Hà Phương Linh lúc xưa thầy Linh dạy lớp Tiếp Liên trường Tiểu Học Hà Tiên) có bổ túc cho chúng ta một bức ảnh thầy cô Nguyễn Lê Hùng và quý chị học trò xưa của thầy lúc thầy dạy ở Hà Tiên, hình chujhp năm 2011 và chị Nhung có viết thông tin như sau:

« Hôm nay chị vừa đọc bài hồi ký của thầy Nguyễn Lê Hùng thật cảm động, chị gởi cho em tấm ảnh nầy là lúc chị về Việt nam năm 2011. Chị Lắc, Nga và chị đến thăm thầy tại Sài Gòn, thầy và cô rất mừng khi gặp lại ba đứa học trò ngày xưa dưới mái trường Trung Học Hà Tiên. Thầy yêu mến đất Hà Tiên cùng người Hà Tiên lắm em ơi. Lúc bấy giờ trông thầy hơi già nhiều nếp nhăn mà niềm vui không khuất lấp. Từ giả thầy ra về ba chị tay trong tay siết mạnh thương thầy quá em ơi. Hai năm sau nghe tin thầy mất vì bệnh gan, chị Lắc và Nga có đưa đám tang thầy. Thầy có gủi cho chị một tập hồi ký tiếng Việt và một bản tiếng Pháp. Trong ảnh thầy cô, Nga (đứng trên) kế là chị Nhung (chị Lắc chụp ảnh) Gủi ảnh nầy để lưu niệm ảnh người thầy đáng kính. Chúng ta không bao giờ quên. »

Trái qua phải: Thầy và cô Nguyễn Lê Hùng, chị Nguyễn Thị Nhung, người đứng phía sau: chị Nga (Chị Lý Thị Lắc chụp hình, năm 2011, hình: chị Nguyễn Thị Nhung)

 

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, KimLy, Nguyễn Thị Nhung

Giới thiệu clip: Em Gái Hà Tiên (Y Vân – Mạnh Thường)

 

Cô Tiền Ngọc Thanh

Cô Tiền Ngọc Thanh

Thầy Cô và các bạn thân mến, Hà Tiên của chúng ta không thiếu nhân tài, nhất là trong ngành Giáo Dục…Tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,trong những năm 60-70, không thiếu gì các Thầy Cô xuất thân ngay tại quê nhà Hà Tiên..Thầy Trương Minh Hiển, Trương Minh Đạt, Hứa Văn Vàng, Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Lâm Ngọc Mai,…và còn rất nhiều nữa…hôm nay trong danh sách quý Thầy Cô của Trường Trung Học Hà Tiên xưa, không thể thiếu tên cô Tiền Ngọc Thanh…

Cô Tiền Ngọc Thanh xuất thân ngay tại quê nhà Hà Tiên, nhà Cô ở trên đường Phương Thành…Hầu như ở Hà Tiên ai cũng biết gia đình của Ba Mẹ cô..Cô Thanh cũng có nhiều anh em trai và gái cũng đều là cựu học sinh của Trung Học Hà Tiên…Nầy nhé, anh Tiền Hữu Lộc (học lớp rất xưa), Tiển Hữu Phát (học chung lớp với chị Huỳnh Thị Kim nhà mình), Tiền Hữu Minh (học chung lớp với anh Trần Văn Dõng nhà mình), em Tiền Ngọc Dung (học chung lớp với các bạn Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….), em Tiền Ngọc Hương (học các lớp sau nầy của Trung Học Hà Tiên)….Riêng với cô Tiền Ngọc Thanh, mình được hân hạnh học với cô vào năm lớp Đệ Tứ 1967-1968, cô dạy các môn Công Dân và Vạn Vật. Môn Công Dân mình được xếp hạng 17 (kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt) và hạng 3 (kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt), còn môn Vạn Vật thì được xếp hạng 2 (kỳ thi đệ nhất lục các nguyệt) và hạng 1 (kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt)..Tuy nhiên mình không phải là dân học bài tủ thuộc lòng,…chỉ thiên về các môn Toán và Khoa Học mà thôi…Chắc nhờ cô nương tay trong lúc chấm bài mình…xin cám ơn cô nhiều nhé,…

Sở dĩ có bài viết và hình để giới thiệu cô Tiền Ngọc Thanh hôm nay, đó là nhờ sự nhiệt tình tham gia Blog THHTX của bạn Lâm Thị Lan, bạn Lan đã không ngần ngại tiếp xúc với Cô trên mạng fb và xin cô gởi cho một vài tấm hình xưa để chúng ta còn có dịp chiêm ngưởng dung nhan rất đẹp, rất khả ái và rất nhân từ của cô, thay mặt tất cả xin cám ơn cô yêu quý Tiền Ngọc Thanh và bạn Lâm Thị Lan nhé,..Chẳng những cung cấp hình cho Blog, bạn Lan còn nhả bút viết một bài thơ ngắn ca tụng cô Tiền Ngọc Thanh của chúng ta, mời Thầy Cô và các bạn thưởng thức nhé,…

(viết lời giới thiệu Trần văn Mãnh)

Ngày xửa ,ngày xưa
Gần nửa thế kỉ
Hôm nay mới gặp
Cô giáo ngày xưa
Cô đẹp có duyên
Tóc chấm bờ vai
Dáng người thanh tao
Môi cười chúm chím
Trông thật có duyên
Má lúm đồng tiền
Giọng cô thanh tao
Truyền dạy kiến thức
Cho đàn em nhỏ
Đến giờ mới gặp
Đó là cô tôi😍
Cô Tiền Ngọc Thanh
Bút danh facebook
Thanh Luu tên người
Các bạn mình ơi!
Tìm được cô rồi
Cùng nhau lướt web
Với cô bạn ui!
🌹🌹🌹🌹
Hoa hồng tặng cô
Chúc cô vui khoẻ

                                                   Tác giả: Lâm Thị Lan  (22/09/2017)

Cô Tiền Ngọc Thanh với chiếc áo dài trắng của ngày xưa

Cô Tiền Ngọc Thanh với chiếc áo dài trắng của ngày xưa

Cô Tiền Ngọc Thanh ngày nay (đang đinh cư ở nước Mỹ), vẫn giữ nét xinh đẹp, thanh tao, quý phái và rất trẻ…

Cô Tiền Ngọc Thanh ngày nay (đang đinh cư ở nước Mỹ), vẫn giữ nét xinh đẹp, thanh tao, quý phái và rất trẻ…(có lẻ cô đang trình bày một nhạc phẩm nào đó,..;trong một buổi họp mặt thân hữu… 🙂 !!   )

Hình ảnh: Cô Tiền Ngọc Thanh (do bạn Lâm Thị Lan chuyển đến)