Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 20/11 mỗi năm, giới nhà giáo và học sinh chúng ta lại có dịp tưởng nhớ, suy nghĩ về thầy cô và trường lớp, điều nầy không có nghĩa là mọi ngày bình thường khác chúng ta không nhớ đến thầy cô…Thật vậy nhân dịp ngày đặc biệt nầy, chúng ta thường có dịp viết về thầy cô, về trường lớp, có bạn lại qua mạng fb, gởi đến quý thầy cô ở phương xa một cánh thiệp chúc sức khỏe có hình trình bày rất đẹp, hoặc một bó hoa đầy màu sắc rực rở gởi đến cô giáo kính yêu ngày xưa,…mặc dù đó chỉ là một cánh thiệp hay một bó hoa « ảo »…Thời đại mới, thôi thì hãy sống theo phong cách hợp thời hơn, quan trọng là tấm lòng kính yêu thầy cô trong sâu kín của trái tim chúng ta vẫn còn mãi không thay đổi theo thời gian và phong cách mới…

Bạn Giá Khê (Trương Thanh Hùng) cũng không qua thông lệ đó, mặc dù ngày Nhà Giáo đã trôi qua, nhưng dư âm ngày lễ vẫn còn trong lòng bạn và bạn đã dành thời giờ tưởng nhớ và ghi lại trên giấy trắng mực đen, những suy nghĩ và hổi ức về ngày xưa, ngay từ thuở chập chửng vào nhà trường cho đến những ngày bồi hồi sắp sửa rời trường bước vào trường đời đầy thử thách…Có ai có đủ khả năng trí nhớ để nhớ và kể lại từng tên họ thầy cô đã giảng dạy mình qua từng thời gian, có ai có đủ khả năng trí nhớ để viết lại vài mẫu kỷ niệm vui buồn thời đi học,…Có lẽ chỉ có những tâm hồn mang nặng cưu mang về hồi ức thời tuổi trẻ còn trên ghế nhà trường mới có thể viết đầy đủ chi tiết như bạn Giá Khê, mặc dù trong chúng ta, ai cũng có một thời sống một dĩ vãng trường lớp rất phong phú,…Hãy đọc bài viết của bạn Giá Khê, để khơi lại trong mỗi chúng ta một ngôi trường, một lớp học thân yêu ngày xưa và nhất là cũng để trong trái tim sâu kín của chúng ta, nổi bật ra niềm kính yêu, tưởng nhớ những vị thầy cô, đã từng giảng dạy chúng ta ngay từ khi mới bước chân vào một lớp học vốn mang rất nhiều tên gọi theo từng thời kỳ; lớp Chót, lớp Năm, lớp Vỡ Lòng,….cho đến những vị thầy cô đã mang đến cho chúng ta những kiến thức cao hơn, cần thiết cho sự rèn luyện con người và khả năng làm việc ngoài đời sống, những kiến thức toán học, khoa học, sinh ngữ..v..v….(TVM Paris 21/11/2019)

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Hôm nay đã qua “Ngày nhà giáo Việt Nam” (Trước đây là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”), nhưng vẫn viết một số hồi ức về những người Thầy, Cô, những người đã trao truyền cho tôi kiến thức, hướng dẫn tôi về đạo đức, lối sống và nhân cách làm người.

Khi còn nhỏ, gia đình tôi ở Tân Bằng thuộc huyện Thới Bình khu vực U Minh Hạ. Năm đó, tôi mới 5 tuổi được cha mẹ cho vào học lớp “Năm B”, thời đó lớp Năm còn được chia thành Năm B và Năm A, lớp Năm B như là lớp vỡ lòng. Người thầy đầu tiên mà tôi được học là Thầy Luyến, nhưng vì còn nhỏ quá nên tôi không nhớ nhiều kỷ niệm về Thầy, chỉ còn nhớ là Thầy có vóc người thanh mảnh, dáng thư sinh. Năm đó, tôi có một lần trốn học nhưng không bị Thầy phạt hay méc lại với ba má tôi.

Năm 1960, gia đình tôi chuyển về sinh sống ở Tri Tôn, nay là thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất. Tôi vào học lớp Năm A với Cô Hoa, tôi cũng không còn nhớ kỷ niệm nào về Cô, chỉ nhớ năm ấy cô đã khá lớn tuổi có mấy người con trạc tuổi tôi và lớn hơn.

Sau đó tôi học lớp Tư với Cô Thủy. Cô khá đẹp người, hiền lành và mới kết hôn với Thầy Hải. Tôi rất quí Cô Thủy nên học hành rất ngoan ngoãn, khi Cô gõi lên trả bài tôi đều thuộc, nhưng tôi lại rất sợ Thầy Hải vì thấy Thầy quá nghiêm khắc. Những khi Cô Thủy bệnh, Thầy Hải dạy thế là tôi rất sợ, khi Thầy gọi lên trả bài là tôi quên hết bài vỡ dù mình đã thuộc rất kỹ. Qua năm sau, Thầy Hải dạy tôi lớp Ba, có lẽ vì sợ Thầy mà tôi học hành rất đàng hoàng. Trong kỳ thi lớp Ba lên lớp Nhì tôi đậu hạng nhất (cùng với bạn Sử). Năm lớp Nhì tôi học với Thầy Lê Kim Ích, Thầy rất dễ mến, tôi rất quý.

Giữa năm học 1963-1964 gia đình tôi chuyển về Hà Tiên, tôi học lớp Nhì ở trường Tiểu Học Hà Tiên với Thầy Minh, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì Thầy Minh phải đi lính, lớp tôi phải chia ra để học với 2 lớp khác, tôi được học lớp Nhì A với Thầy Hứa Văn Vàng. Thầy Vàng đã lớn tuổi và rất nghiêm khắc. Tôi có khuyết điểm là viết chữ xấu lại có tính cẩu thả, lười biếng. Trong những giờ viết chính tả, Thầy hay ngồi bên cạnh tôi, khi tôi viết chữ không ngay ngắn, không đúng theo khuôn mẫu là Thầy dùng một cây bê bằng các tông vố ngay cho tôi một phát; khi học không thuộc bài thì chủ nhật Thầy bắt về nhà Thầy học chừng nào thuộc mới cho về. Có lẽ nhờ Thầy Vàng mà tôi viết chữ đàng hoàng hơn. Sau này, khi tôi về làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên, Thầy đã kêu lại dặn rằng: “Đừng học theo tánh gà què ăn quẩn cối xay” bởi trường tôi lúc đó có vài cô giáo trẻ.

Năm học 1964-1965, tôi học lớp Nhất với Thầy Phan Tấn Hoàng, Thầy Hoàng rất vui tánh, nhưng cũng khá “dữ đòn”, em nào không thuộc bài là bị Thầy thưởng ngay vài roi vô mông, nhờ vậy, học trò lớp Nhất A của Thầy Hoàng được đánh giá khá cao, năm đó thi Đệ Thất, lớp tôi có nhiều người thi đậu hơn các lớp khác. Sau này, quan hệ thân thiết với nhau, Thầy Hoàng có nói với tôi đại ý “Khi làm một việc gì, mình phải sẵn sàng đón nhận kết quả tệ nhất, để khi có kết quả tốt hơn, dù không được như ý thì mình cũng thấy vui”, tôi cho đó là một câu nói chí lý.

Vào lớp Đệ Thất năm 1965 và sau đó là học tiếp các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ (Đệ Tứ Quốc tế), tôi được học với Cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Thầy Phan Văn Xuân, Thầy Trương Minh Hiển là người Hà Tiên và các thầy cô ở nơi khác về dạy gồm Thầy Bùi Văn Cầm, Thầy Nguyễn Phước Hậu, Thầy Đức Sinh,Thầy Phan Văn Chiếu, Thầy Nguyễn Văn Út, Thầy Nguyễn Văn Nén, Thầy Nguyễn Văn Thành, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn. Sang đệ nhị cấp, lớp Đệ Tam, Đệ Nhị có thêm Cô Nguyễn Thị Rớt, Thầy Nguyễn Văn Thuận. Còn nhiều Thầy Cô khác thì hình như không có dạy tôi (như Cô Dương Thị Minh Hoa, Cô Nguyễn Ngọc Oanh, cô Võ Kim Loan, Thầy Huỳnh Văn Xền, Thầy Nguyễn Thanh Liêm. . .). Tất cả các Thầy Cô ở trường Trung học Hà Tiên xưa từ năm 1965 đến 1971 đều để trong lòng tôi sự kính trọng và yêu mến, nhưng có những Thầy Cô làm cho tôi có nhiều ấn tượng, đó là:

Cô Hà Thị Hồng Loan hiền lành dễ mến, Cô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn làm cho tôi nhớ mãi những bài thơ cả cổ văn và kim văn như các bài thơ của Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan, các bài « Khói Trắng » của nhà thơ Kiên Giang, bài « Xóm chợ chiều đông » của Bàng Bá Lân, « Chợ Tết » của Đoàn Văn Cừ. . .

Thầy Nguyễn Phước Hậu dạy tôi thổi sáo nên đến sau này tôi thổi sáo cũng không tệ lắm.

Thầy Đức Sinh dạy Anh Văn năm Đệ Thất (học ở phòng thí nghiệm), trong giờ học mà Thầy lại dạy các bài hát của đạo Thiên chúa như bài “Đêm Đông” (Không phải bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương), bài hang Bethléem mà đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.

Thầy Bùi Văn Cầm dạy Vạn vật, Thầy có vẻ hiền lành, vui vẻ, đến năm 1987 tôi ra Qui Nhơn thăm và được Thầy cô đón tiếp rất chu đáo.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa để lại trong tôi tình cảm khá đặc biệt. Tôi vốn là một học sinh kém (kém đều các môn), nhưng không hiểu sao năm học Đệ Tam, trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi được điểm cao nhất nên bạn bè bớt chê tôi. Đến khi tôi đi học Sư phạm ở Vĩnh Long, Thầy (lúc đó là hiệu trưởng trường trung học Bình Minh) vào nội trú tìm tôi bảo tôi dạy kèm toán, lý hóa cho 2 đứa em vợ của Thầy, giúp tôi bớt khó khăn trong những ngày học xa nhà.

Thầy Trương Minh Hiển dạy Quốc văn năm Đệ Tứ. Tôi yêu văn chương bắt đầu từ Thầy Hiển. Nhớ có một buổi học, Thầy đọc bài thơ “Thăm động Hương Tích” của Chu Mạnh Trinh, đọc suốt bài thơ với giọng hào sảng và gần như không lấy hơi làm cho tôi và các bạn say mê. Năm đó, không hiểu tôi phạm lỗi gì mà

Thầy bắt tôi vào văn phòng để cho tôi mấy roi mây, tôi nghĩ là mình bị đòn oan, nhưng tôi rất nể trọng Thầy Hiển nên không dám có ý kiến gì. Sau này, tôi và Thầy Hiển rất quí nhau, có khá nhiều ấn tượng (như trong bài viết trước đây về Thầy Hiển).

Thầy Trần Văn Thuận dạy quốc văn năm Đệ Tam (lớp 10) cũng là người truyền thêm cho tôi tình yêu văn chương. Thầy Thuận bị tai nạn gì đó mà một bên mặt (bên phải) bị thẹo, nên khi giảng bài, Thầy thường bước tới rồi bước lui không quay lại để học trò không nhìn thấy thẹo mặt của Thầy. Thầy dạy tác phẩm « Chinh phụ ngâm » rất hay làm cho tôi say mê. Năm đó, Thầy bảo lớp chúng tôi viết thơ hoặc văn để in, Thầy gợi ý nên đặt tên cho tập thơ văn đó là “Lửa Lựu”, lấy hai từ trong câu thơ “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”, nhưng sau đó chúng tôi đặt tên cho tập văn thơ này là “Suối mơ”, tập tác phẩm này in khá đẹp, tiếc rằng hiện nay tôi không còn, không biết bạn bè có ai còn giữ không?.

Còn những Thầy Cô khác, tôi đã có viết và được anh Mãnh đưa lên trang “Trung Học Hà Tiên Xưa” của chúng ta rồi nên không nhắc lại. các bạn nếu thích đọc xin vui lòng tìm lại trên các trang của Blog nhé,…

Lan man nhớ về Trung học Hà Tiên xưa, nhớ Thầy Cô, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, xin ghi lại ít dòng chia sẻ với Thầy Cô và các bạn đồng học trong những ngày cuối năm.

  21/11/2019 Giá Khê Trương Thanh Hùng

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên). Hình: Trương Thanh Hùng, năm 2017

Tác giả Giá Khê Trương Thanh Hùng (bên phải) đến thăm thầy Phan Văn Xuân (bên trái) nhân ngày Nhà Giáo năm nay 20/11/2019 tại tư gia thầy ở Hà Tiên. Hình: Trương Thanh Hùng.

Vài nét về địa danh Giang Thành

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi mình còn là một học sinh trung học ở Hà Tiên, thường thì chỉ biết lo học, đi chơi với các bạn và cũng biết … »thương yêu » chút chút kiểu « tình yêu học trò »…chứ chưa biết suy nghĩ, tìm hiểu về những cái hay cái đẹp của quê hương… Thật vậy ngày nay nhờ có những quyển sách nghiên cứu sâu đậm về mảnh đất Hà Tiên và họ Mạc của nhà Hà Tiên học thầy Trương Minh Đạt, mình mới bắt đầu chú ý đến tất cả những gì có liên quan đến Hà Tiên…Hồi xưa mình cũng không biết đến cái tên núi Phù Dung, không nghe ai nói núi Phù Dung cả, chỉ biết có một ngôi chùa tên là Phù Dung mà thôi, mà lại cũng không biết có đến hai ngôi chùa Phù Dung, một chùa xưa (ở núi Phù Dung, tức núi Đề Liêm, đã mất) và một chùa nay (ở núi Bình San, còn hiện tại), hoàn toàn không biết gì về ngôi chùa Phù Dung xưa. Còn về cuộc đời và sự nghiệp của các quan tướng đời họ Mạc: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích,…v..v…mình chỉ biết mơ hồ, mông lung, chỉ biết nghe những câu chuyện truyền thuyết mà thôi. Về các danh từ chỉ địa danh như: Cừ Đứt, Trà Phô, Phú Mỹ, Giang Thành,…v..v..thì lại càng mông lung hơn nữa, chỉ biết tất cả những địa danh đó là ở phía xa xa về hướng Đông Hồ trở vô sâu theo con sông về phía kênh Vĩnh Tế…Hồi xưa cũng thường nghe nói những vùng mang tên đó đều không được an ninh lắm, thỉnh thoảng nghe nói có « đụng độ » với « mấy ảnh »…và thường có ghe tàu Hải Quân PCF, Hải Thuyền thường hành quân về phía các sông rạch đó…nên cả một quảng đời mình sống ở Hà Tiên không có lúc nào dám phiêu lưu mạo hiểm đi về phía các vùng đó…Hồi đó chỉ biết là vào buổi sáng thường có ghe đò từ trong Cừ Đứt, Trà Phô chở hành khách ra chợ Hà Tiên, người dân trong vùng đó thường ra chợ Hà Tiên mua sắm hay đem các máy móc radio, truyền hình ra sửa chữa…

Bây giờ tuổi đã hơn lục tuần, nơi ở thì cách xa quê hương Hà Tiên hơn 10000 km, muốn tìm hiểu nơi chốn địa phương thực tế cũng không còn thuận tiện như xưa, chỉ có cách tìm tòi, lục lạo trong sách vở và trên mạng…Tuy thế, nhưng lại được cái đam mê tìm hiểu, do đó mình rất thích viết về những gì liên quan đến Hà Tiên, về kỷ niệm bạn bè, thầy cô xưa, về hình ảnh địa danh cũ,…v..v…Tuy nhiên vì không được mắt thấy tai nghe tận chỗ nên các bài viết chắc chắn sẽ có nhiều sai lầm, thiếu sót…mong thầy cô và các bạn thông cảm, mình chỉ mong được quý độc giả góp ý và chỉnh sửa, bổ sung thêm, đó là điều mình rất hoan nghinh và rất cảm ơn quý vị.

Bây giờ nói về địa danh Giang Thành và con sông Giang Thành. Ngay cả tên sông Giang Thành, hồi xưa mình cũng không có dùng, chỉ nói là sông Hà Tiên mà thôi,…con sông chảy ngay qua phố thị Hà Tiên mà không ngày nào là mình không nhìn thấy…Trước khi vào phần phát triển bài viết, mình cũng xin đính chánh là đây không phải là một bài khảo cứu khoa học có tính chất Địa Lý về địa danh Giang Thành, đây chỉ là những góp nhặt các tài liệu, các thông tin tuy phần lớn từ các nguồn đúng đắn và giá trị những cũng còn cần phải truy cứu, so sánh và kiểm tra lại dưới con mắt của quý độc giả, mục đich chỉ để phổ biến phần nào các kiến thức thông dụng trong chúng ta mà thôi, hoàn toàn không có tính chất cao cấp của một bài viết trong giới nghiên cứu.

A/ HUYỆN GIANG THÀNH:

Thời Pháp thuộc Giang Thành là một quận thuộc tỉnh Hà Tiên, tuy nhiên dần dần vì chiến tranh, dân cư thưa thớt, quận Giang Thành bị giải thể, tỉnh Hà Tiên cũng xuống bậc trở thành quận, Giang Thành lại thuộc về quận Hà Tiên. Cho đến năm 2009, Giang Thành được chính thức lập thành huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang và có 5 xã như sau:

1/Phú Mỹ
2/ Phú Lợi
3/ Tân Khánh Hòa
4/ Vĩnh Điều
5/ Vĩnh Phú

1/ Xã Phú Mỹ: gần Hà Tiên nhất vì giáp với phường Đông Hồ, phường Tô Châu và xã Thuận Yên. xã Phú Mỹ gồm có các ấp: Kinh Mới, Rạch Dừa, Thuận Án, Trần Thệ, Trà Phô, Trà Phọt. (Như vậy khi đọc đến đây thầy cô và các bạn xác định được ngôi thứ của các từ Trà Phô, Phú Mỹ (Trà Phô là một ẤP thuộc xã Phú Mỹ và Phú Mỹ là một XÃ thuộc HUYỆN Giang Thành). Riêng danh từ « Trà Phọt » hồi xưa mình không nghe nói tới…

2/ Xã Phú Lợi: Giáp với xã Phú Mỹ về hướng nam, giáp biên giới Cambodge về hướng tây bắc,  gồm có các ấp: Cả Ngay, Cỏ Quen, Giồng Kè, Rạch Gỗ, Tà Teng (ta lại thấy xuất hiện từ « Tà Teng », đó là tên gọi một ấp cư dân cổ, người Khmer gọi là « Tà Teng », người Việt sau đó gọi là « Trà Tiên », Trà Tiên có thời là một xã nhưng sau đó lại trở thành ấp, tên hiện tại là « Tà Teng »).

3/ Xã Tân Khánh Hòa: Giáp với xã Phú Lợi về hướng tây nam, giáp biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Hòa Khánh, Khánh Hòa, Tân Thạnh, Tiên Khánh, (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tân Tiến và Khánh Tân, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào). Chính trong xã Tân Khánh Hòa nầy là chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau tại ấp Hòa Khánh. Địa danh « Đầm Chít » nằm trong xã Tân Khánh Hòa.

4/ Xã Vĩnh Điều: Giáp với xã Tân Khánh Hòa về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Cống Cả, Đồng Cừ, Nha Sáp, Vĩnh Lợi. (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tà Êm và Tràm Trổi, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào).

5/ Xã Vĩnh Phú: Giáp với xã Vĩnh Điều về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Đồng Cơ, Mẹt Lung, Ấp Mới, Ấp T4, Ấp T5.

Trong lãnh thổ ba xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều và Vĩnh Phú đều có con kênh Vĩnh Tế chạy qua.

Vị trí huyện Giang Thành và 5 xã:1/ Phú Mỹ, 2/ Phú Lợi, 3/ Tân Khánh Hòa, 4/ Vĩnh Điều và 5/ Vĩnh Phú.

B/ SÔNG GIANG THÀNH:

Nói đến tên sông Giang Thành ta thường nghe nhắc đến tựa bài thơ « Giang Thành dạ cổ » của nhà thơ Mạc Thiên Tích (là bài thứ tư trong 10 bài thơ « Hà Tiên Thập Vịnh »).  Chính từ bài thơ nầy ta hiểu là Mạc Thiên Tích đã đặt tên cho con sông là sông Giang Thành, trước đó người Khmer gọi con sông nầy là Prêk Ten. Sông Giang Thành bắt nguồn từ nước Cambodge, ở tỉnh Kampot (tỉnh Kampot rất rộng lớn), tại đây có hai nguồn nước chảy về phía sông Giang Thành Việt Nam.

1/ Ở hữu ngạn sông (tức phía bên phải của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là cao nguyên Banteay Meas, có một nhánh sông tên Touk Meas River, sông nầy chảy vào sông Prêk Tonhon Chas (tức là tên của sông Giang Thành phần còn trong lãnh vực của nước Cambodge hiện nay).

2/ Ở tả ngạn sông (tức phía bên trái của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là khu có núi Linh Quỳnh (một cụm núi bên nước Cambodge), có một nhánh sông chảy vào phần sông sông Prêk Tonhon Chas.

Hai nhánh sông nầy cùng chảy vào sông Prêk Tonhon Chas và chảy vào khu vực nước Việt Nam, từ đây con sông mang tên là sông Giang Thành, toàn bộ khúc sông Giang Thành trên lãnh thổ Việt Nam dài 23 km và chảy ra cửa biển Hà Tiên sau khi đổ vào đầm Đông Hồ ở ngay Hà Tiên, tại đây chiều rộng cửa sông có trên 200 m.

Vào năm 1824 khi kênh Vĩnh Tế được hoàn thành dưới thời vua Minh Mạng, kênh Vĩnh Tế được nối liền với sông Giang Thành, chỗ giáp nối giữa kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành gọi là ngả ba Giang Thành, thuộc ấp Hòa Khánh, xã Tân Khánh Hòa. Trên lãnh thổ xã Tân Khánh Hòa của huyện Giang Thành, có một phần kênh Vĩnh Tế nằm rất sát biên giới, chạy từ ấp Khánh Hòa (Đầm Chít) về phía ấp Hòa Khánh để đổ vào sông Giang Thành, đoạn kênh nầy dài 5,4 km, và cặp rất sát biên giới, chỉ cách có 300 m. Còn khúc kênh Vĩnh Tế từ Đầm Chít trở đi về phía Châu Đốc thì con kênh cặp theo con đường Quốc lộ N1 chạy cho đến Nhà Bàng thuộc Châu Đốc, trên đoạn nầy con kênh Vĩnh Tế cách biên giới khoảng hơn 1 km.

Sông Giang Thành bắt nguồn từ hai nơi: cao nguyên Banteay Meas và khu núi Linh Quỳnh trong tỉnh Kampot, nước Cambodge. Kể từ năm 1824, sông Giang Thành có thêm một nguồn nước thứ ba là kênh Vĩnh Tế, kênh đổ vào sông tại điểm A. Đoạn kênh Vĩnh Tế AB là đoạn gần sát biên giới Cambodge-Việt Nam nhất, đoạn nầy dài 5,4 km và chỉ cách biên giới dưới 300m. Từ điểm B trở đi về phía phải hình (về phía Châu Đốc, kênh Vĩnh Tế cách hơi xa biên giới, khoảng trên 1 km và cặp theo con đường Quốc lộ N1.

C/ SÔNG GIANG THÀNH TRÊN ĐỊA PHẬN HÀ TIÊN:

Sông Giang Thành chảy vào địa phận Hà Tiên và trước khi đổ ra cửa biển, sông chảy ngay vào đầm Đông Hồ (một đầm nước mặn đã thành hình từ trên 6000 năm về trước…). Vì tính chất phù sa mỗi năm tụ động nên dòng sông Giang Thành ngay tại khúc trước khi vào Đông Hồ, khúc sông nầy thường có nhiều cồn cát. Ngày xưa người Pháp đóng cừ thành hai hàng để tạo lối di chuyển cho tàu bè trong thời gian nạo vét lòng sông, có chỗ cừ đóng không chắc, gặp dòng nước chảy mạnh nên cừ bị gảy, phần đất nạo vét bị cuốn trôi đi, còn phần đất nạo tụ lại có cây cỏ mọc lên thành vùng đất, người ta cất nhà tụ họp sinh sống ở đó, do đó vùng đất đó có tên « Cừ Đứt ». Vậy danh từ « Cừ Đứt » để chỉ tên một vùng đất trên sông Giang Thành mà thôi.

Sông Giang Thành từ phía bắc đổ vào đầm Đông Hồ, trong khoảng sông nầy có nhiều cồn cát và có một phần đất có tên là « Cừ Đứt ».

Sông Giang Thành góp phần rất lớn vào việc hình thành và phát triển thương cảng Hà Tiên từ thời Mạc Cửu cho đến đầu thế kỷ thứ 19, lúc đó cảng Hà Tiên mới bị suy thoái vì nhiều lý do. Trong những năm 20 của thế kỷ thứ 18, cảng Hà Tiên chẳng những đã được nhiều nước trong vùng biết đến, mà các thương nhân Âu Châu cũng biết tiếng thương cảng Hà Tiên. Trong thời gian đó hàng hóa xuất khẩu của Hà Tiên luôn bằng đường biển, xuất phát tại thương cảng Hà Tiên, gồm có các mặt hàng: muối, gạo, tổ ong, sáp ong, lông chim, gỗ, ngà voi,..v..v..

Tuy nhiên vào đầu thế kỷ thứ 19, Hà Tiên đi vào một giai đoạn khó khăn, cảng Hà Tiên bắt đầy suy tàn vì nhiều nguyên nhân:

  •  Sự tàn phá của chiến tranh: nhiều nhóm quân dân, hải tặc phản loạn gây chiến với họ Mạc: 1767, 1769, 1770, tuy nhiên Mạc Thiên Tích đều cầm quân dẹp tan các nhóm nầy. Tiếp đến sự dòm ngó của quân Xiêm mà trận tấn công năm 1771 đã tàn phá Hà Tiên nặng nề, thương cảng Hà Tiên trở nên bế tắc…Đến năm 1773 nhà Nguyễn giúp quân khôi phục lại Hà Tiên, tuy nhiên cảng Hà Tiên đã không còn phục hồi lại như xưa. năm 1777 quân Tây Sơn chiếm Hà Tiên và đã đánh tan quân Xiêm vào năm 1785 (trận Rạch Gầm – Xoài Mút). Tuy nhiên đến năm 1833 có giặc loạn Lê Văn Khôi chiếm Hà Tiên, rồi các năm 1842, 1845 quân Xiêm lại tấn công Hà Tiên, Sau các biến cô nầy Hà Tiên và thương cảng cũng bị tàn lụi theo không còn khả năng phục hồi như xưa.
  • Sự thay đổi về tình hình chánh trị kinh tế của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19: Mạc Thiên Tích mất tại Vọng cát (1780), Hà Tiên không còn thủ lãnh, trong khi đó Tây Sơn và nhà Nguyễn tranh chấp gây chiến tranh liên tục…Tiếp đến nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chánh sách « bế quan tỏa cảng », hạn chế việc ngoại thương, đến thời Minh Mạng thì triệt để ngăn cấm không cho các tàu buôn các nơi được cập bến cảng Hà Tiên, các biến cố nầy dần dần gây chấm dứt vai trò quan trọng của cảng Hà Tiên.
  • Sự thay đổi con đường thương mại đông tây: Từ xưa các nhà thương thuyền phương tây đã phát triển con đường thương mại hàng hải từ phương tây sang phương đông (thế kỷ 15 và 16). Tiếp đến các nhà buôn bán phương đông cũng dương buồm tiến qua trời tây (thế kỷ 17 và 18), trong bối cảnh đó thương cảng Hà Tiên trở nên phát triển tột độ. Tuy nhiên qua đầu thế kỷ 19, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, người ta không còn phụ thuộc vào những con đường đã vạch sẳn, các tàu lớn có khả năng vượt biển thật xa, không cần phải chạy theo ven biển, không cần ghé khu vịnh Thái Lan. Thêm các yếu tố chánh trị khiến cho đại đa số các tàu phương tây đều không được ghé bến các nước phương đông vì bị ngăn cấm hay vì sự quá dè dặt của triều đình nhà Nguyễn, nên các thương cảng sầm uất của phương đông dần dần biến mất, đó là một lý do khách quan mà thương cảng Hà Tiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề.

Nói tóm lại chúng ta là người Hà Tiên, ngày ngày đều nhìn ngắm con sông Giang Thành chảy lững lờ trước mặt, có mấy ai tự đặt vài câu hỏi con sông bắt nguồn từ đâu, nguồn nào cung cấp nước cho sông, tại sao có tên Giang Thành,…Cho đến bây giờ, đầu đã bắt đầu trắng, mình mới bỏ chút thời giờ tìm hiểu về quê hương đất nước, với vốn hiểu biết hạn hẹp, điều kiện thực tế lại không có, mình vẫn muốn cố gắng để biết được phần nào các câu trả lời các câu hỏi trên, tuy biết rằng sẽ có rất nhiều sai lầm, thiếu thốn nhưng mong sao cho bài viết được đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc tìm hiểu về quê hương mà thầy cô và các bạn muốn tìm đọc, mong tất cả vui lòng trợ giúp, góp ý để bài được chỉnh sửa, bổ sung đầy đủ và chính xác hơn nhé,.

Trần Văn Mãnh (Paris 09/10/2019)

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và đầm Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh đầm Đông Hồ. Phần giữa dưới hình là núi Tiểu và Đại Tô Châu, hình vuông nhỏ màu vàng là trại Biệt Kích Tô Châu. Hình: Ken-Fillmore 1970-71

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một thời gian bận rộn với công việc làm, cây bút quen thuộc Quang Nguyên đã trở lại với Blog chúng ta vẫn với một phong cách tả chân, hiện thực và vui nhộn…Dù cho đề tài viết về sự mất mát một người bạn, một người anh thân thuộc, nhưng tác giả vẫn giữ một phong cách tích cực để nói về sự mất mát đó,…Có lẽ đó là một cách tốt đẹp nhất để vinh danh và tưởng nhớ về anh bạn đã ra đi…Đầu bài viết tác giả có nói là « mắc nợ » mình về lời hứa sẽ viết một bài về anh Nguyễn Đình Nguyên (nhân về sự chia tay vĩnh viển gần đây của anh Nguyên đối với chúng ta), nếu ai cũng « sốt sắng » « trả nợ » theo kiểu như Quang Nguyên thì Blog của chúng ta rất phong phú bài vở,…Nói cho vui chứ mình đâu dám kèo nài thầy cô và các bạn để có bài vở đóng góp, chỉ khuyến khích và mong mỏi rằng do niềm hứng khởi và nỗi lòng nhớ trường lớp, bạn bè thầy cô mà ngày chúng ta sẽ có nhiều thêm những bài viết nói về đề tài đó…

Ngày xưa ở Hà Tiên thầy cô và các bạn đều biết là mình và Nguyễn Đình Nguyên tuy không học chung một lớp nhưng hai người là bạn rất thân, mỗi chiều hai đứa đều tản bộ đi vòng vòng Hà Tiên và cuối cùng là dừng chân bên các băng đá Đài Kỷ Niệm để hóng gió…Vì thế khi chưa rời ghế nhà trường Hà Tiên, mình đã biết Đình Nguyên dưới hai khả năng có thể nói là « rất cao cấp », đó là tài ca hát và tài hội họa của anh. Ai cũng biết là bạn Đình Nguyên có một giọng ca rất hay, trầm ấm ngân nga, nhất là các bài hát « ruột » của anh: Giọt mưa thu, Ngủ đi em, …Còn về tài vẽ hình thì như mình đã viết trong nhiều bài về bạn Nguyễn Đình Nguyên, bạn có tài vẽ chân dung rất hay, thường dùng khói đèn để chấm phá các nét đậm, lợt…vì thế có một thời Đình Nguyên đã là nơi đặt hàng của biết bao cô gái đi buôn bán ở Hà Tiên, muốn có một tấm hình chân dung bằng hình vẽ…

Về ngành chụp ảnh, mình cũng đã có từng thấy Đình Nguyên hoạt động rồi, đó là vào thời kỳ những năm đầu của thập niên 90, khi mình có dịp lần đầu tiên trở về thăm quê nhà Hà Tiên sau 8 năm rời VN. Lúc đó mình gặp Đình Nguyên tại bãi biển Mũi Nai, vai đeo máy ảnh như tác giả Quang Nguyên đã viết trong bài…Đình Nguyên cũng có chụp cho nhóm mình nhiều bức ảnh tại biển Mũi Nai…Tuy nhiên quả thật mình không hề biết các hoạt động về việc giao hình cho khách…Mình cũng không tưởng tượng ra là muốn giao hình đến nơi cho khách lại phải bôn ba đi xe đò đến tận nơi những chỗ ở của từng người khách để giao hình và nhận tiền thù lao…Hôm nay đọc bài bạn Quang Nguyên viết mình mới thấy cái khó nhọc và kiên nhẫn, hay ho của đôi tay nghề « Đình Nguyên và Quang Nguyên »…Thật vậy, phải có một lòng kiên nhẫn, sự tính toán đầy tính chất « kế toán thương mại » và sự quyết tâm vượt khó khăn để « xoay trở » trong những lúc khó khăn về kinh tế như vậy, hai bạn Đình Nguyên và Quang Nguyên mới có đủ sức mạnh và ý chí để hoạt động trong ngành chụp và giao ảnh…Về cách thức bám theo khách, chìu khách và cố vấn cho khách để chụp được nhiều ảnh cho khách thì mình cũng đã hiểu phần nào, nhưng các hoạt động về sự giao hình cho khách thì mình quả thật mới biết qua bài viết mô tả chi tiết của Quang Nguyên…Mình cũng không thể tưởng tượng là phải lên đường, đi từng tỉnh từng quận để tìm ra nhà các khách đã từng có chụp hình với nhiếp ảnh gia Đình Nguyên, để rồi lại phải thuyết phục là hình rất đẹp, nhân vật trong ảnh rất có duyên, người quá « ăn ảnh »… »nếu cô, chị, anh bạn không lấy các tấm hình nầy thì rất uổng công đến Hà Tiên »,….v…v….Càng lại không thể tưởng tượng được hơn khi mà ta muốn giao ảnh mà lại không có địa chỉ của khách để đi giao !!??  Người giao ảnh Quang Nguyên lại phải trổ tài trinh thám tư để tìm ra cho được từng chi tiết nhỏ có liên quan đến địa chỉ của khách như đã viết trong bài…Đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, mình quả thật rất phục và nể tác giả, đúng như vậy khi ta muốn thành công và đạt được mục đích, không phải cái kết quả tốt đẹp nó tự động đến với mình mà mình phải ra tay thực hiện, phải đối đầu với mọi khó khăn, không nản chí thì mới đạt được mục đích…Có lẽ tất cả những đức tính hay đó Quang Nguyên đã tự trau dồi, tự trang bị cho mình ngay từ khi có những bước khó khăn đầu đời, ngay cả khi còn ở ghế nhà trường, nên sau đó ngay lúc mà giai đoạn « giao hình » trong đời sống đã qua đi, tác giả Quang Nguyên vẫn còn hưởng được những ảnh hưởng tốt đẹp, có lợi của những đức tính nói trên…Đó là điều mà mình thán phục nhất về Quang Nguyên, và có lẽ cũng nên lấy đó học hỏi cho bản thân mình, nếu từ rày về sau, trong cuộc đời có gặp nhiều khó khăn đến đâu, hãy cố gắng khắc phục và đối đầu với những khó khăn đó hơn là chùng bước hay than phiền…Bây giờ nghĩ lại mình mới hiểu là tại sao trong giờ phút hiện tại nầy, cương vị của tác giả Quang Nguyên được tốt đẹp như hôm nay……Xin kết thúc phần viết lời giới thiệu bài viết của tác giả Quang Nguyên về người anh, người bạn quá cố Nguyễn Đình Nguyên bằng một vài nét tích cực như vậy…(TVM, viết xong ngày 04/10/2019)

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Tôi đã “mắc nợ” Mr. Mãnh về một bài viết về một người quen thuộc của Hà Tiên chúng ta vừa mới rời xa cuộc đời… Thời gian gần đây “quỹ thời gian” của tôi bị thâm thụt trầm trọng nên không có “số dư” để “trả” cho Mr. Mãnh, dù tôi cũng thích viết lách kiểu “văn nghệ” để tự thư giãn, tự cân bằng tâm thần cho cuộc sống bon chen mà mình lỡ xuất hiện trên cuộc đời này để rồi tự dính dáng vào như mắc phải cái bẫy keo dính chuột!
Thỉnh thoảng chúng ta nghe tin một người quen biết cũ mất đi, dù chỉ sơ giao nhưng lại mang đến cho chúng ta những cảm giác lạ kỳ rất thật, giật mình bàng hoàng hay một cảm giác hoang mang mơ hồ khiến chúng ta phải nghĩ “thật hay không?”, rồi cố nhớ rằng lần gần nhất mình gặp họ khi nào, để làm gì khi ấy, và mình đã trao đổi những gì trong cái quá khứ đôi khi là rất xa ấy…?
Hôm nọ tôi nghe tin anh Đình Nguyên mất, thật sự cũng như bao nhiêu lần mình nghe một ai đó mình có quen biết mà mất đi thì cảm giác tiếc thương luôn ập đến… Đó cũng là chuyện bình thường mà? Cái không bình thường khiến ai cũng nao lòng là anh ấy đã rời xa chúng ta thật lặng lẽ, thật riêng tư, thật kỳ lạ và “bình yên” như khi anh ấy sống, anh đã chọn cho mình một cách dấn thân vào cuộc đời rất “cá nhân”, một cách đối diện bình thản có chút rụt rè và tồn tại độc lập trong vạn sự quay cuồng trộn lẫn lộn xộn của thời cuộc…
Tôi rất nhỏ so với tuổi tác của anh Đình Nguyên, ngày còn nhỏ tôi vẫn thường gọi “chú Nguyên!” dù anh ấy là bạn của chị tôi, tôi vẫn nhớ mái tóc chải chuốt thẳng nếp, cái dáng đi nhẹ nhàng đôi khi anh nhìn xuống chân mình như để xem đủ chỉnh chu chưa? Và anh hay đi bộ, bước đi khoan thai của loài mèo mà như anh Phước Dương đã kể rằng đó là những con “thú cưng” mà anh rất thích. Thỉnh thoảng đang bước trên đường anh tự “điểm xuyết” thêm cho cái riêng – đã rất riêng – ấy của anh bằng việc nắm hờ bàn tay đưa lên miệng che nhẹ nhàng tiếng “tằng hắng” thoát ra dù không đủ lớn để phiền mọi người. Gặp người quen đi qua đối diện sẽ có một nụ cười xả giao vừa đủ nở trên gương mặt đăm chiêu của anh và rồi nó vội vụt tắt như cái kiểu mà nó xuất hiện, để rồi tiếp tục đăm chiêu mà anh bước tiếp, trông anh lúc nào cũng đang suy tư về một việc gì đó …
Người Hà Tiên gọi anh là “Nguyên họa sĩ” dù không có mấy người tên Nguyên trong xứ sở này? Nhưng tên gọi đó cũng là cách mà cộng đồng công nhận một khả năng hay tài năng của anh, tôi không hiểu biết về hội họa nhưng tôi đã từng hàng giờ ngồi xem tại nhà anh, anh vẽ truyền thần một bức ảnh chụp để thờ tự mà ai đó đã đặt anh vẽ, bức vẽ rất sống động, rất trung thực dù chỉ bằng bột than bút chì, muội đèn với kỹ thuật đậm – nhạt – bóng – sáng… Tên “Nguyên họa sĩ” theo tôi hợp với anh nhất và có lẽ nó thể hiện được tố chất của anh, bởi cái chất “nghệ sĩ” của anh lộ ra từ cách ăn mặc, đầu tóc, dáng đi và vẻ ưu tư mà ta luôn bắt gặp trên gương mặt anh.
Thế nhưng, tôi còn biết một Đình Nguyên khác mà mọi người đã ít nhắc đến – Đình Nguyên – phó nhòm!
Chắc mọi người không quên vào những năm 90 của thế kỷ trước, Hà Tiên chúng ta có một đội ngũ đông đúc hành nghề chụp ảnh dạo, đội quân ấy với áo gilet ký giả nhiều túi, nón vải rộng vành, tay xách nách mang túi đựng máy chụp hình… Họ tụ tập hai đầu cầu nổi, sau đó phóng Honda vù vù ra những tụ điểm du lịch tự nhiên mà tạo hóa ban cho người dân xứ sở này, đó là khi họ đã “bắt” được những chiếc xe đò chở khách thập phương vừa bò chậm chạp qua chiếc cầu phao nổi tiếng của Hà Tiên chúng ta.
Nghề nghiệp này cũng tự phát, mạnh ai nấy làm, không có nghiệp đoàn chi cả mà chỉ dựa vào tính “phải quấy, biết điều với nhau…”, cứ xử sự với nhau theo nguyên tắc tôn trọng và thấu tình đạt lý mà anh em cùng tồn tại, bởi thiên nhiên đã biếu không cho người dân xứ sở này các danh lam thắng cảnh mà không đòi hỏi điều gì vậy cớ gì người Hà Tiên với nhau không nương tựa nhau dựa vào sự ưu ái đó mà sống tốt? Đình Nguyên tự nguyện làm một “chiến sĩ” trong đội quân đó sau khi anh có được chiếc máy ảnh từ thế giới tư bản của người anh mang về tặng anh, chiếc máy ảnh tư bản của Đình Nguyên thời gian đó là giấc mơ của nhiều anh phó nhòm xứ này bởi Zenit của Liên Xô và Leica của Đức đang làm mưa làm gió giới gilet nhiều túi của Hà Tiên.
Mà hành nghề phó nhòm ở Hà Tiên cũng lắm công phu, phải “đu đeo” theo các chiếc xe hành hương du lịch, mà hiểu theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đều đúng trong trường hợp này, anh nào theo chiếc nào là phải đeo theo suốt trong hành trình du lịch của họ, khi thì đi bằng Honda tự có, lúc phải “đeo” càng “đu” cửa theo chính chiếc xe đó trôi dạt lúc thì Mũi Nai khi Thạch Động, rồi lăng Mạc Cửu, Chùa Phù Dung, vào Mo So, ra Hang Cá Sấu, ghé Chùa Hang, ra Hòn Phụ tử… Họ phải “xuất” đủ mọi “chiêu” để chiêu dụ khách chụp hình, chụp càng nhiều càng tốt, miệng càng “dẽo” càng tốt… Còn về khách du lịch cũng đa dạng phong cách, người thì thích lưu lấy cảnh, kẻ thích lưu lấy hình ảnh của mình. Lắm cô Chung Vô Diệm tưởng mình là Điêu Thuyền nên ưng diễn, lượn tới lượn lui, nghiêng đầu ở hốc hang này, cong mông trên tảng đá khác… chụp quá trời quá đất! Đủ mọi tư thế nằm ngồi, lắm kiểu bùng xòe áo xống mà không thể nào đẹp lên chút được. Trong khi đó nhiều cô đẹp như Tây Thi thì lại không chịu chụp ảnh, sợ tốn tiền, chỉ chụp vài kiểu (pose), nhưng các anh phó nhòm không cưỡng lại được cái ống (kính) của mình, lén chụp thêm vài pose “vụng dại” đẹp mê hồn!
Bởi có một nguyên tắc là chưa giao hình thì chưa lấy tiền, hình đẹp mới lấy tiền, chụp hình xong các anh thợ phải chờ tráng rọi, tráng rọi thì mất thời gian mà đoàn du lịch thì người ta không chờ được, nên hầu hết các anh thợ không trực tiếp giao hình mà việc giao hình phải có người khác đảm trách giao sau… Có mấy anh phó nhòm ranh như ma, cứ dụ người ta chụp thật nhiều pose hình để sau đó bán lại (film chưa tráng rọi) cho các người giao hình với hình thức “khoán” 34-35 pose cho một cuồn film 36 pose kèm với địa chỉ của khách. Với giá 1.300 đồng/pose, người giao hình sẽ tự đi tráng rọi, trả tiền tráng rọi khoảng 750 đ/ pose, người giao hình sẽ thu 2.500 đ/pose, trừ chi phí tráng rọi sẽ được hưởng 500 đ/pose, nhưng thật không dễ kiếm 500 đồng bởi các anh thợ chụp ảnh đã chụp cốt sao được càng nhiều càng tốt để bán “buông đuôi” như đã nói trên, khách có thể từ chối nhận hình vì những kiểu chụp mà người ta không thuận tình…
Và tôi là một kẻ giao hình chuyên nghiệp, tôi mua lại film cuộn đen của các anh em thợ chụp ảnh, đem đi Sài Gòn tráng rọi trong các Lab, sau đó giao hình và mua sỉ film Kodak và Konica mỗi lần hàng ngàn cuộn để về bỏ lại cho các anh em thợ. Tôi đã đi khắp các tỉnh miền Đông miền Tây, vào bưng biền xa xôi hẻo lánh, lên Tây Nguyên rừng sâu nước độc… Nơi nào có người đi Hà Tiên chơi và có chụp hình là tôi phải giao cho bằng được để thu tiền về, bởi mình đã đầu tư tiền bạc vào đấy, mỗi chuyến đi tôi phải xử lý trên 5000 poses ảnh.
Và thật không dễ để tôi giao những tấm ảnh của anh Đình Nguyên bởi sự “đặc biệt” của nó, phải thuyết phục khách rằng “hình của cá nhân mình thì dễ kiếm còn cảnh vật đẹp thì khó tìm…” để người ta chịu trả 2.500 đ cho một pose hình du lịch mà cảnh vật thì bao trùm còn người trả tiền thì … bé xíu! Tôi hiểu rằng khi Đình Nguyên nhấc ống kính lên thì cảnh vật tuyệt vời của xứ sở Hà Tiên đã làm anh quên luôn “vật chủ” là khách hàng, kẻ sẽ nuôi sống anh trong những ngày sắp tới…
Theo tôi, anh có thể có những bức ảnh đẹp, nghệ thuật, đầy chiều sâu … Nhưng anh không thể là một anh phó nhòm thành công được bởi cái sự xô bồ, ồn ào, lắm mưu nhiều kế, chiêu trò, mánh lới ..v..v., của nghề chụp hình xứ du lịch. Để thành công anh phải “biến hóa”, mà tôi thì không thấy điều đó từ anh.
Lại có ngày anh rụt rè giao tôi những cuồn film chưa tráng rọi mà không một dòng địa chỉ, không hiểu có cái chi đó cuốn hút anh đến độ anh quên mất việc ghi lại địa chỉ của những người khách thập phương mà anh đã bỏ ra mấy ngày “đu đeo” theo họ? Và tôi đã thật sự rất khó khăn để làm hoàn thành việc mà anh đang dang dở, ngày ấy dù rất hoang mang vì không biết sẽ giao thế nào, tôi cũng phải tốn mớ tiền để tráng rọi hàng trăm kiểu hình mà anh đã giao, rồi xem ảnh từng người cụ thể, tôi đã cố tìm một manh mối quan trọng để xác định đoàn này của tỉnh nào, có “chung đụng” với đoàn nào khác mà tôi đang có ảnh có địa chỉ của các anh thợ khác để hòng tìm những manh mối có thể có để mình truy tìm…
May mắn cho song Nguyên (Đình Nguyên và Quang Nguyên), tôi nhìn thấy số xe của xe khách ở Sài Gòn, từ cái bản số xe tôi vào Xa cảng Miền Tây để hỏi tìm chủ xe, tìm ra chủ xe tôi tìm ra trưởng đoàn, tìm ra trưởng đoàn tôi tìm ra từng người và giao hết số hình, sau khi tôi lại phải “múa mỏ” để thuyết phục khách nhận hình vì cái bố cục ảnh “rất riêng” của anh… Mô Phật!
Vậy đó, anh hay “đãng trí” kiểu vậy, anh không là bác học để mắc bệnh đãng trí, Đình Nguyên họa sĩ và Đình Nguyên chụp ảnh vẫn là một, là cái tính cách nghệ sĩ đứng ngoài những điều bình thường của người bình thường với cuộc đời bình thường như mọi cuộc đời khác. Anh lãng đãng một cách lạ lùng thú vị với những ai đã biết và có khi chỉ một vài lần hay một khoảng thời gian ngắn ngủi “dính dáng” tới anh, anh “rất riêng” mà không thể hòa trộn cho dù cuộc đời đã cố gắng lôi anh vào vòng xoáy của nó, tôi luôn có ý nghĩ như vậy khi được nhắc nhớ về anh…
Giờ anh đã về nơi chín suối, ở nơi đó với cái chất rất riêng đó của anh, hẵn anh vẫn là Đình Nguyên mà mọi người từng biết, tôi tin vậy. Bởi trần đời đầy những trói buộc mà anh vẫn tự do thể hiện cái “chất” của mình thì thiên đường đâu có gì làm anh thay đổi?
Tưởng nhớ anh Nguyễn Đình Nguyên… (10/2019)

TruongMinhQuangNguyen_2

Tác giả bài viết: Quang Nguyên

NguyenDinhNguyen_2002

Bức chân dung tự vẽ của họa sĩ Duyên Đình (tức Nguyễn Đình Nguyên). Trên góc phải có ghi « 35 tuổi », dưới góc trái có ghi « Hà Tiên năm 2002 », dưới góc phải có ghi « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo ». (Có nghĩa là năm 2002 bạn Nguyên tự vẽ chân dung mình vào lúc 35 tuổi, và có một điều lạ là tại sao bạn lại chú thích là « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo », theo mình nghĩ có lẽ bạn muốn chấm dứt giai đoạn làm họa sĩ và để bước qua giai đoạn làm nhiếp ảnh viên ??)

NguyenDinhNguyen_Photographer

NguyenDinhNguyen_Photographer_b

nguyendinhnguyen_muinai.jpg

Bạn Nguyễn Đình Nguyên trong giai đoạn làm thợ chụp hình ở bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên), hay nói cách khác Nguyễn Đình Nguyên với danh xưng là nhiếp ảnh gia. (những năm 90)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Sai lầm (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã có một khối lượng học sinh tuy không to lớn lắm nhưng cũng đủ để trải dài qua nhiều thập niên, từ khi được thành lập vào những năm đầu thập niên 50 cho đến những năm đầu của thiên niên 2000, kể ra cũng đã được hơn 50, 60 năm…Từ các bậc đàn anh, đàn chị của những lớp đầu tiên của ngôi trường: quý anh Trần Phình Chu, Phù Thọ Phương, Đoàn Kim Minh, Huỳnh Hữu Điền, quý chị Lý Thị Lắc, (cô) Hà Thị Hồng Loan,…cho đến quý anh chị bậc trước sau hay cùng thời với mình như Thái Nam Đệ, Trần Hồng Khanh, Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Trương Thái Minh, Lý Mạnh Thường, Lâm Xuân Cúc, Trần Học Quang, Lê Phước Hải, Trường Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan,…và các bạn tuy đi sau nhưng cũng có liên hệ tình bạn thân thiết như Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương, Phạm Thị Kim Loan, Trần Thị Như Liên, Nguyễn Thị Điệp,..rồi các bạn của thời gian hơi xa  xa phía sau như Huỳnh Thị Sáu, Huỳnh Ngọc Tuyết, Trần Mỹ Hạnh, Lê Thị Tám,….rồi đến những niên học thật xa sau nữa thì mình không còn biết được các bạn, các em đi sau đó,…Tuy nhiên với những trang viết kể chuyện học trò, chuyện trường lớp, các kỷ niệm thời học sinh đó đã đưa chúng ta từ những anh chị cả của những thập niên 50 cho đến các em xa xa sau nầy, chúng ta lại hiểu được phần nào sinh hoạt học đường của tất cả…Từ các câu chuyện chơi văn nghệ rất xa xưa cho đến câu chuyện theo bạn năn nỉ học đánh trống gần gần sau nầy, tất cả đều cho chúng ta thấy những hoạt động liên hệ bạn bè, vui chơi của cả một khung trời của Trung Học Hà Tiên…Kỷ niệm có rất nhiều, kỷ niệm rất vui rất nhộn, nhưng cũng có những kỷ niệm hơi đau buồn, hơi luyến tiếc của một thời học sinh tuổi còn rất trẻ, ngôn từ, hành động cử chỉ không biết đo lường, suy tư, để rồi đi đến một điều gì đó gây muộn phiền cho mình, có khi sự muộn phiền đó theo đuổi, gặm nhấm tâm hồn mình cho đến nhiều năm dai dẳng sau nầy,..Chính bản thân mình cũng có trải qua kinh nghiệm sống nầy, đôi khi mình gây ra buồn phiền cho một người bạn trong quảng thời gian xa xưa, rồi vì một lý do nào đó, tự ái, sự bồng bột háo thắng, sự tự kỷ, sự co rút của mình tất cả những đặc tính đó làm cho mình không can đảm nói lên một lời dịu ngọt để làm cho tan biến sự giận hờn, buồn phiền, hiểu lầm trong tình bạn năm xưa,…Nếu một ngày nào đó với cuộc sống chính chắn của một người trưởng thành, mình được có một dịp may gặp lại và nói lên lời giải tỏa cho khúc mắc năm xưa thì thật là hay và đó cũng là dịp để ta vui mừng gặp lại bạn năm xưa và cùng nhau nhắc lại kỷ niệm xưa với một tình thần thật thanh thản thoải mái,..Nhưng dòng đời nhiều khi cũng đưa đến cho chúng ta nhiều bất ngờ, nhiều éo le, có khi gặp lại bạn rồi nhưng chưa nói lên được những gì thông cảm nhau thì thời gian lại khắc nghiệt không cho phép ta kéo dài thêm nổi vui hội ngộ,…Cây bút Quang Nguyên hôm nay cống hiến cho chúng ta một câu chuyện, chuyện thật hay, thật nhẹ vì cách hành văn trẻ trung, vui nhộn, nhưng chuyện cũng đượm một vẻ buồn vì cái kết thúc đau thương…và cái hối tiếc vẫn còn vấn vương đâu đó trong tâm hồn bạn,..Tựa bài là hai chữ « Sai lầm »,…chúng ta sẽ đặt câu hỏi « Sai lầm » của ai, ai đã phạm sai lầm ??? Và sự sai lầm nầy có thể được sửa chữa không ?? Rất khó mà phán quyết về sự kiện xảy ra trong câu chuyện, có sai lầm không khi ta không kịp nói lên lời phân giải với bạn, để nổi khúc mắc quá lâu với thời gian, có sai lầm không khi mình chọn một cách sống đi ra ngoài chuẩn mực của xã hội, có sai lầm không khi sự giáo dục của gia đình hơi buông lơi vì mọi thứ ràng buộc chung quanh, và có sai lầm không khi ta lại nhắc chuyện xưa mà thời gian gần như chôn lấp đi rồi…?? Nói tóm lại khi đọc câu chuyện mỗi người trong chúng ta sẽ tự phân tích và tự tìm hiểu cái thông điệp mà tác giả Quang Nguyên muốn gửi gắm qua bài viết nầy..Có một điều mà riêng mình nghĩ là sẽ không có gì sai lầm khi ta vẫn còn nhớ về bạn, về trường cũ năm xưa…!!.(Paris tháng 4, 2019, TVM viết vài hàng giới thiệu bài của Quang Nguyên)

Sai lầm  (Quang Nguyên)

Ai cũng từng trải tuổi thanh thiếu niên, ắt hẵn cũng thấy tình bạn trong tuổi học trò nó đáng quý thế nào, bởi từ tuổi học trò này đến mãi về sau, chúng ta có rất nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều người tốt kẻ xấu lần lượt bước vào và bước ra khỏi cuộc đời bạn, nhưng có một góc tủ riêng trong mỗi con người mà ở đó họ sắp đặt ngăn nắp những câu chuyện cũ thời học trò như những báu vật giá trị, thỉnh thoảng họ lại lấy các báu vật ra lau chùi, ngắm nhìn… rồi họ cảm giác hạnh phúc vì có nó. Những kỷ niệm của tuổi học trò là những báu vật, những người bạn của chúng ta vẫn ở mãi trong đó với mối thâm tình trân trọng keo sơn cùng đi với chúng ta đôi khi hết cả cuộc đời mình.

… Có một hôm tôi đi làm về khuya, mở đài FM tần số 99.9 Mhz hay 104,5 Mhz chi đó để làm ngắn đi quãng  đường vài chục ki lo mét về nhà, tôi chợt nghe một ca sĩ nào đó mà chất lượng giọng hát thoạt nghe chỉ có thể “té ghế” chứ không thể xoay ghế như The Voice được, lời bài hát quen thuộc được “đọc” bởi một ca sĩ lạ hoắc:  « … Bây giờ còn nhớ hay quên? Ngày xưa hè đến, phượng hồng nở hoa… »,  giọng ca đó nó không làm tôi có chút cảm hứng nào để tiếp tuc nghe, nhưng vô tình nó gợi nhớ một thằng bạn rất thân từ nhỏ học cùng lớp cũng hay nghêu ngao hát bài hát này. Ngày xưa, khi nghe bạn hát tôi rất bực, tôi bực không phải vì bạn tôi có giọng hát hay hơn tôi, mà tôi bực vì lời bài hát không phù hợp chút nào với lứa học trò lớp bảy, lớp tám của bọn tôi, nhưng bực là bực thế thôi chứ cái thằng tôi (dù còn rất nhỏ) cũng hiểu đó là sở thích của bạn và anh ta có quyền tự do mà?

H là « con nhà giàu, đẹp trai, và… viết chữ bự! ». Thật ra H thân với anh Q của tôi hơn, nhưng vì tôi luôn cặp kè với anh Q nên tui cũng thân với H bởi cả ba cùng học chung một lớp… Cũng có thể là tôi tự ngộ nhận về mức độ “thân” này.

Anh Q của tôi không cần nói thì mọi người đều biết là rất đạo mạo và rất chi là nghiêm túc, lại già dặn hơn tuổi rất nhiều. tôi thường thấy anh ấy và H tâm sự với nhau về những “ câu chuyện học trò”,  nhiều khi tôi rất muốn tham gia vì tôi cũng để ý đứa này đứa kia chứ bộ? Thế nhưng H và anh tôi thường hay lãng tránh và một cách công khai nói rằng sợ tôi “bép xép” (mà cái này thì đúng là anh tôi không sai – vì quả thật tôi rất “nhiều chuyện” – một cái tính không thể chấp nhận có trong một thằng cu !).

H học cũng khá giỏi, lại viết chữ đẹp và hát hay, vẽ thì cực đẹp…H hay cùng Q làm báo tường và trang trí cho sân khấu hay những tiết mục văn nghệ của trường. Trường Trung Học Hà Tiên năm xưa có tay trống lừng danh Nguyễn Kha Ly, H chơi với Kha Ly và trở thành môt tay trống giỏi, năm hoc 1977-1978 Miên Đỏ đánh sang biên giới, anh Kha Ly di tản đi đâu đó thì H nghiễm nhiên trở thành tay trống của trường, Trường Trung Học Hà Tiên có dàn trống jazz hồi nào không rõ, chỉ là một dàn trống căn bản cho học trò gồm có: Bass, Snare, hai cái Tom, một cái chập chã đôi Hi-hat và một cái “chiêng” Cymbal, chỉ là vậy thôi nhưng ngồi vào đó là “oai” lắm. Hằng ngày sau khi học xong H hay tìm đến dàn trống ấy, nó được đặt trong cái phòng sau lưng Ban Giám Hiệu sát mé núi của điểm trường Rạch Núi mà bọn học trò Trung Học Hà Tiên chúng tôi đã được chia bớt về đây, và tôi thì quyết không bỏ qua cơ hội để tiếp cận cái dàn trống này.

Cuối cùng, sau những đòi hỏi nhây nhưa lầy lội của một thằng bẻm mép như tôi, H cũng trở thành « thầy » dạy tôi đánh trống (nhờ vậy nên sau này khi lên đại học tôi có thêm một nghề là đánh trống thuê kiếm tiền ăn sáng uống cà phê, cũng có khi được tiền nhiều bao cả bạn bè cả một bàn cà phê sữa đá cùng gói thuốc thơm Samit và mấy lượt bình trà Thái Đức cùng nhau ngồi đồng!…). Trong trường thì có nhiều con mắt mơ màng của mấy nàng nhìn ngắm anh chàng này, H có dáng vẻ “bất cần” trộn chút kiêu hãnh, lại con nhà giàu, luôn ăn mặc đẹp, vẽ đẹp hát hay, có tài chơi trống…, thế là quá dư để trở nên nổi trội.

Bọn con trẻ tụi tôi chơi với nhau vô tư không phân biệt giàu nghèo hay hoàn cảnh của gia đình, gia đình H giàu có và có tiệm vàng ở Hà Tiên, H vô tư trong bản chất một đứa trẻ thiếu niên, trong khi anh em tụi tôi quá nghèo, hôm nào vào lớp cũng phải kèm thêm bao bánh mì bán cho các bạn trong giờ ra chơi và đầu óc ngoài chuyện học chỉ quay quanh cơm gạo, chúng tôi không có cả một chiếc quần Tây để đi học, việc đó khiến má tôi vì thương con nên tìm cách có được cái quần cho hai thằng nhóc, bà lấy vải bao cát xanh của Mỹ (loại làm công sự) mà may thành cái quần đùi cho hai thằng cu của bà có cái mặc mà đến lớp, tuy thô ráp nhưng được cái rất bền và … rất mát! Nó thưa đến nổi khi ra nắng thì ôi thôi – hai thằng anh em tôi trở nên nổi tiếng là sexy boys nhất trường làng… Sự khác nhau về “đẳng cấp” xã hội nó không khiến cho tình cảm của chúng tôi có sự “tách lớp” như nước và dầu, chúng tôi cùng chơi, cùng học và cùng trao đổi những điều thú vị trong cái nhãn quan nhỏ nhoi mà bọn trẻ góp nhặt được chung quanh đời sống thường nhật, chưa bao giờ vì sự cách biệt đó mà H không chơi với chúng tôi.

Tuy nhiên – bao giờ cũng có “tuy nhiên” trong một vấn đề mà người ta tưởng chừng như chân lý.

H luôn xem tôi là một đứa “trẻ trâu” (là nói theo ngôn ngữ thời thượng bây giờ), là một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch, mặc dù anh ta chỉ hơn tôi một tuổi, “nhưng mình học chung lớp mà? Cũng là bạn bè nhau sao phân biệt đối xử với mình vậy?”, tôi thường đem suy nghĩ này ra để lằng nhằng với bạn bởi tính tôi thô thiển và “ruột ngựa”, “phổi bò” trong thân xác “trẻ trâu” như đã nói. Cái sự trẻ con rách việc của tôi đến một lúc nào đó thì nó cũng gây ra chuyện… Một hôm, vì chịu không nổi một thằng bạn thuộc họ móng guốc này đã làm một chuyện gì đó tệ hại đến độ làm tổn thương H, H đã rất lịch sự và không tuyên bố chi cả, đơn giản chỉ âm thầm nghỉ chơi với tôi.

Nhưng bạn vẫn « nồng ấm” với anh tôi thế mới ức chứ? 

Tôi đau khổ vì chuyện này cho tới rất nhiều năm sau mỗi khi nhớ lại …Tôi không hiểu tại sao bạn H không có cả một nụ cười với tôi nữa, lẽ ra phải tha thứ cho tôi khi nghĩ rằng đó là thằng con nít? Thế nhưng mãi mãi từ hôm ấy cho đến tận sau này bạn không bao giờ nói chuyện với tôi, không nhìn tôi, mặc dù tôi làm đủ mọi cách để làm hòa mà không có tác dụng, tôi chỉ còn biết tự trách mình.

Năm học lớp 8 (1978-1979) đột nhiên H bỏ học, tôi rất buồn vì năm này rất nhiều bạn bỏ học, đám học sinh sơ tán của Trung Học Hà Tiên nay vắng rất nhiều bóng dáng thân quen…

Bẳng đi khoảng năm năm chúng tôi không thấy H đâu, tôi rất nhớ bạn cùng với nỗi buồn gặm nhấm…

Rồi sau đó hai anh em tôi đi học Đại Học, gia đình vẫn đang còn rất khó khăn, hàng ngày các em tôi vẫn phải xe nước mướn, nên mùa hè là thời gian mà tôi và anh Q phải gánh vác cho các em được “thư giãn”… Một hôm, khi hai anh em đang kéo nước thì thấy H xuất hiện, trổ mã đẹp trai như một thiên thần và nhoẻn miệng cười với… anh của tôi, dừng chiếc xe đạp, bạn hỏi thăm anh tôi, trao đổi với anh Q nhiều câu chuyện, trong khi tôi đứng sát một bên mà tuyệt nhiên không hỏi tôi dù nửa câu. 

Ngày đó tôi đau khổ hơn những ngày khác nhiều lần, giá như ngày ấy chỉ cần bạn cười với tôi một cái, có thể hôm đó tôi sẽ dư sức kéo được gấp đôi số xe nước của mọi ngày…

Không lâu sau H đi nghĩa vụ quân sự, thỉnh thoảng tôi vẫn gặp bạn “cách xa” trong một cự ly rất gần, rất gần nhưng rất xa… Tôi thích ngắm nhìn H trong bộ đồ lễ phục của quân đội được ủi đàng hoàng thẳng thóm, bạn hiện diện trong đội quân duyệt qua lễ đài trong những ngày lễ (ngày xưa chính quyền hay bắt người dân đi mít – ting), hình ảnh bạn tôi quân phục chỉnh tề đứng trong hàng quân vuông vức làm tôi xúc động.

Rồi sau đó bạn ra quân rồi về làm việc bên Văn Hoá Thông Tin của thị trấn, H rất có hoa tay, tôi thích ngắm những bức tranh cổ động mà H vẽ, bạn vẽ cho các áp-phích của rạp xi-nê Phát Minh trông rất ấn tượng và hấp dẫn, quả là bạn ấy vẽ rất có hồn, các chùa chiền ở Hà Tiên cũng thuê bạn tô vẽ tượng Phật trong những đợt trùng tu hay làm mới lại các pho tượng… Có điều, bức tượng của H trở nên trẻ trung lạ lẫm hơn so với trước, bạn gửi gắm tâm hồn mình vào trong đó, các tượng Phật đã không còn tẻ nhạt, không còn bí hiểm, các gương mặt Đức Phật trở nên tươi trẻ khoẻ khoắn, gần gũi lạ thường, nó dễ khiến chúng ta có cảm tình mà dễ đến với đấng từ bi hơn…

Hóa ra bạn H của tôi có bí quyết đem “đời” vào chùa nhiều hơn!

Thời gian trôi nhanh….

Năm 2006 trong một bữa giỗ ở gia đình tôi, cả đại gia đình nhà tôi đang đông đủ, tôi nhìn ra ngoài đường phía trước nhà thấy một ông già hành khất rách rưới, ốm đói và bộ dạng thật tệ hại ngồi cách nhà tôi độ mươi bước chân, ông ta không già vì tuổi tác, mà già vì bộ dạng…. Tôi nhìn thật lâu và nhận ra H, tôi hoảng hồn, đau khổ, chết lặng…Rồi bao nhiêu kỷ niệm về người bạn thiếu thời quay về ngay lập tức, kể cả những câu hỏi thời con nít còn đang chưa được trả lời…

Tôi gọi anh Q ra và xúi anh mời H vào buổi tiệc đang đông đủ bà con, (cũng như hồi còn nhỏ, tôi hay xúi anh tôi những chuyện mà tôi không dám làm, tôi rất yếu đuối, thật vậy!). H rất vui và còn nhớ chuyện bạn bè, nhắc tên đứa này đứa kia… Và Trời ạ! H cũng nhắc và nhớ “thằng Nguyên” mặc dù bây giờ mắt anh ta đã lòa không nhận ra “thằng tôi” đứng cạnh bên, tình cảnh đó khiến thằng trung niên bốn mươi tuổi dạn dày sương gió cuộc đời chực trào nước mắt…

Hậu quả của rượu làm H trở nên như vậy, đôi mắt nhãn quan nghệ sĩ của anh đã bị lòa, bàn tay tài hoa của anh cũng bị liệt, H bị bại liệt bán thân.

H bây giờ vô gia cư sống đầu đường xó chợ, vợ con bỏ rơi, sống nhờ sự bố thí của bà con cô bác trong địa phương “Đất Phật Người Hiền” của chúng ta, người cho bạn cơm, kẻ cho bạn tiền… Cứ thế bạn sống cho qua ngày đoạn tháng, bạn đã không còn ý chí và sức lực để làm lại cuộc đời, và có đồng nào H xiêu vẹo ngật ngưỡng mua rượu uống hết để quên đi quá khứ vàng son, sự thất chí đã đẩy H đến tận cùng của sự kiệt quệ, H không than thân trách phận, không mượn rượu quậy phá chửi rủa ai hay chửi đời đông đổng theo kiểu Chí Phèo của Nam Cao… Ngày cũng như đêm, bạn chỉ lặng lẽ đâu đó trong những góc tối của thị trấn bé nhỏ này …

Chính tôi “xúi” anh tôi đưa bạn vào nhà, nhưng tôi không đủ can đảm để nói chuyện với bạn, tôi viết một tờ giấy nhỏ (mà không chắc H còn có thể đọc được) đại ý nói rằng – « … ông cầm tiền này ra mua rượu uống cho thỏa chí đi, vì tôi biết đó là niềm vui của ông, là bạn bè không gì vui hơn khi thấy bạn vui… ». Em gái tôi nói rằng:  « anh cho tiền ảnh là ảnh sẽ đi nhậu hết ngay trong một đêm! », tôi không trả lời em tôi nhưng tôi hình dung ra nụ cười sảng khoái của bạn vì đêm nay chắc chắn bạn sẽ say nhiều hơn mọi ngày khác…

Đó là điều tốt nhất cho H, theo tôi nghĩ vậy.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được vì mãi chiêm nghiệm về cuộc đời… Mới ngày nào hình ảnh H còn phơi phới, rạng rỡ như thiên thần vậy mà giờ đây ám ảnh trong tâm trí tôi đó là một H thiểu nảo thân xác tả tơi xiêu vẹo lên xuống nhấp nhô với cái bóng đổ dài xiên xẹo trong buổi chiều tà hôm ấy, cái bóng đong đưa qua lại gập ghềnh trên đôi nạng gỗ, dịch chuyển đều đều xa dần trông như quả lắc đồng hồ đếm ngược vội vàng thời gian còn lại theo từng bước chân mà H đã thật khó nhọc mới nhấc được cơ thể mình giữa  hai cây nạng…

Tôi cứ mãi trách mình, sao mình không nói chuyện với bạn ấy?

Mãi mãi tôi không còn cơ hội để nói chuyện với bạn, vì H đã đem theo xuống mồ cái lý do đã giận tôi suốt mấy mươi năm (cũng có khi H còn không nhớ được)… Mùa đông gió bấc năm 2007 (nếu tôi nhớ không lầm?), trong sân một ngôi chùa lớn ở thị trấn yên tĩnh này, người ta tìm thấy H nằm chết co ro dưới chân ngôi tượng Phật mà tự tay H đã tô vẽ nên… Khung cảnh đó, hình ảnh đó, với cái xác người tả tơi, ốm yếu, khẳng khiu xơ xác và co quắp đen đủi, bên cạnh là chiếc nạng gỗ nằm dưới một góc… Thật chẳng khác chữ ký của một nghệ nhân bên tuyệt tác của mình.

Và có lẽ bạn còn đủ tỉnh táo trong phút cuối của cuộc đời, bạn đã đến dưới chân bồ tát để ra đi thanh thản với niềm tin vào sự cứu rỗi của Đức Từ Bi.

Còn tôi khi nhớ về bạn, tôi luôn nhớ về các điều sai lầm: sai lầm đầu tiên là tôi đã để mất bạn từ năm xa xưa ấy, gần ba mươi năm sau tôi đã có cơ hội để sửa sai nhưng tôi đã không làm và điều này là thêm một sai lầm. Còn H, bạn đã mắc phải sai lầm nào để cuộc đời bạn rả nát tan hoang?  

Và rồi, hôm nay tôi kể lại chuyện này có thể đây lại thêm một sai lầm nữa? Cũng có thể lắm!. »

 (Để tưởng nhớ về bạn tôi– D.S.H)

Quang Nguyên.

04/2019.

Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Cầu Cơ (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, cái lớp Đệ Tứ Quốc Tế nầy quả thật có rất nhiều câu chuyện để kể ra cho chúng ta nghe….Nào là chuyện phá thầy, phá lớp rồi đến chuyện con trai thì lên núi lén uống rượu, hái trộm dừa, con gái thì kể chuyện thư tình do con trai viết tỏ tình đưa thư…., mà cũng nhờ cái lớp quá đặc biệt nầy mà ngày nay chúng ta mới có một nghìn lẻ một câu chuyện được các bạn lần lượt kể ra cho bạn đọc « Trung Học Hà Tiên Xưa » nghe…Hôm nay, sau khi đã kể các câu chuyện rất lãng mạn và đẹp như thơ của ngày xưa (« Thư tình », « Em yêu Thầy »,…v…v…), cây bút quen thuộc Hồ Thị Kim Hoàn sẽ cho chúng ta biết một phương pháp lạ để khai thác tâm hồn, nhất là để tìm hiểu ai yêu ai, ai không thương ai…..!! Trong giới học trò ngày xưa của chúng ta, chúng ta đã thử qua hết mọi trò chơi, không từ một trò chơi nào cả, trong  các hoạt động đó, có một thú chơi có cái tên rất « tâm linh » là môn « Cầu Cơ » !!! Nói thật với thầy cô và các bạn, cái gì mà có ma, có hồn trong đó thì không có mình vô rồi đấy, vì ngày xưa bản chất của mình là rất sợ ma…(đến ngày nay đã quá lục tuần rồi mà vẫn còn sợ « con ma »…kể cả ma có móng tay dài và nhéo rất đau…!!).  Hồi xưa mình cũng có nghe nói là muốn Cầu Cơ thì phải kiếm cho được một miếng ván hòm, mà phải là loại hòm đã dùng rồi để chôn người chết, nếu vậy thì chỉ có đào mả người ta mới có thứ ván hòm nầy thôi…Lại nhắc lại hồi xưa, đã có hàng trăm lần bọn học trò mình lên núi Lăng chơi, lúc thì hái trộm trái « Sơn Trà » của Ông Từ Ngươn, lúc thì đào khoai mì để nướng ăn (cũng của Ông Từ Ngươn)…, trong những lúc lên núi chơi nầy mình cũng còn nhớ mơ hồ là có bạn nào đó có chỉ một cái mả nào đó bị sụp đất và để lòi cái hòm ra ngoài, ai muốn lấy ván để làm Cầu Cơ thì tới đó khẻ một miếng…Lúc đó quả thật là mình không dám bén mảng đến đó…

Nếu nói đến chuyện Cầu Cơ một cách nghiêm túc thì mình có đọc sách về lịch sử Đạo Cao Đài, thì có đọc đến đoạn ngày xưa có ông Ngô Văn Chiêu, khi ông còn làm việc ở Hà Tiên, ông thường lên Thạch Động cầu cơ với các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu, có khi cầu cơ tại nhà ông Lâm Tấn Đức ( hiệu Hữu Lân, là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ)…thường là có Tiên về cho cơ các bài thơ về Đạo Pháp…(1920-1926)…

Thôi trở lại trò Cầu Cơ của nhóm học trò, học trò thì chỉ tò mò muốn biết người học trò con gái mà mình đang chú ý có thương yêu mình không, nên bày ra chuyện Cầu Cơ để cho rỏ…đó là nội dung của câu chuyện do Kim Hoàn kể ra dưới đây, bảo đảm là tất cả những chuyện được kể trong Blog THHTX nầy đềy là sự thật nên câu chuyện Cầu Cơ của Kim Hoàn nầy sẽ rất lý thú, mời thầy cô và các bạn đọc qua nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, 02/2019)

Cầu cơ (Hồ Thị Kim Hoàn)

Khoảng năm tôi học đệ ngũ, đệ tứ, trò chơi “cầu cơ” rất thịnh hành trong giới học trò chúng tôi. Chẳng biết làm thế nào mà bạn tôi kiếm được 1 mảnh ván hòm thứ thiệt, cắt thành hình trái tim nhỏ xíu, vừa đủ đặt lên 2 ngón tay. Rồi cùng nhau khấn vái:

Cơ huyền diệu lạy trời xoay thấu
Kiếp phù sinh kết cấu loài người
Còn đâu tiếng hát câu cười
Còn đâu mà niệm cuộc đời tối tăm
Đêm giá lạnh đìu hiu gió bấc
Chốn nào đây phảng phất mùi hương
Hồn ai lai vảng bên đường
Cho ta hỏi chút chuyện lòng người ơi!
Hồn ở bờ sông bờ suối
Hay hồn ở ngọn núi cành đa…

Tôi chưa hề tin dị đoan, nhưng tôi tò mò muốn biết mấy bạn của tôi có tự tay đẩy tấm ván hòm theo ý của mình không, nên nhiều lần tôi đã xung phong “cầm cơ”. Quả thật kỳ lạ, có 1 sức đẩy vô hình khiến tay tôi nhanh chóng xoay vòng theo từng mẫu tự, để mọi người cùng đọc được những gì mà thánh thần hay ma quỷ trả lời. Đa số những câu trả lời đều đúng chính xác, khiến lũ học trò mê mẩn với trò chơi này, mặc dầu biết có nhiều người đã bị “ma nhập” tới nỗi ngẩn ngơ như kẻ hồn phi phách tán.

Có một lần cùng bạn bè tụ họp vui chơi xong, khi ra về thấy trời còn sớm nên chúng tôi kéo nhau tới nhà Ngọc Lê để cầu cơ. Hôm ấy tôi không “cầm cơ”, tôi ngồi nghe các bạn hỏi “thần cơ” đủ thứ chuyện. Một anh bạn chợt hỏi:

          – Hồn có biết Phong nó đang yêu ai không?

          – Biết!

Tôi muốn đứng tim, vì chuyện này tôi biết rõ hơn ai hết. Lạy trời cho Thánh thần đừng có khai ra.

          – Phong yêu ai?

          – Yêu Hoàn.

Tên bạn không chịu ngưng, hắn hỏi thêm:

          – Vậy Hoàn có yêu Phong không?

          – Không!

          – Vậy chứ Hoàn yêu ai?

          – Chưa yêu ai hết!

Ui chu choa! Tôi vừa thấy… nhẹ nhõm, vừa len lén đưa mắt nhìn Phong. Anh cũng đang nhìn tôi, ánh mắt tình tha thiết. Ánh mắt yêu thương đó đã dành cho tôi hơn năm nay, cùng với nhiều lá thư tình ướt át, đắm say của tuổi học trò. Đêm ấy, tôi đọc được trong ánh mắt Phong nỗi xót xa, buồn bã! Tôi cúi mặt như kẻ phạm tội, mặc dầu tôi chẳng có lỗi chi.

Trời đã khuya, bọn chúng tôi chia tay. Trên đường về nhà, vẫn là mấy người bạn trai thân thiết đưa tôi về. Hình như có Phong, Thanh Hào, Phước An, Vĩnh Tuấn. Thấy không khí ngột ngạt vì bộ mặt như đưa đám của Phong, nên An cố đùa vui:

          – Bữa nay đi chơi về khuya quá, Lại đi với một đám con trai, coi chừng về nhà em bị đòn đó nhe.

Thấy im lặng quá, An đùa thêm:

          – Chừng nào có bị đòn, để tui chịu đòn thế cho nhé.

Không ai cười hết!
Mấy anh bạn biết điều, cố ý đi nhanh chân, để cho Phong đi sau với tôi. Tôi muốn an ủi Phong, và tôi đã nói một câu… vô duyên:

          – Ai biểu cầu cơ làm chi!

Phong im lặng. Chúng tôi đã từng nói với nhau những gì muốn nói. Tôi 14 tuổi, tôi chưa biết yêu, tôi thích học, tôi mê sách vở, nên tôi đã không đáp lại tình yêu của Phong.

Lúc ấy tôi nghĩ thế, nhưng sau này tôi mới hiểu tình yêu không thể muốn hay không muốn, mà tình yêu hiện diện ngoài sự tham dự của lý trí.

Chúng tôi đi dọc theo đường Bến Trần Hầu. Tiếng sóng biển êm êm rì rào. Làn gió nhẹ mơn man lùa vào mái tóc. Tôi cảm nhận được hồn tôi xao xuyến lâng lâng. Được yêu! Đó là một món quà của Thượng Đế. Mãi mãi là một nỗi hạnh phúc vô biên!

Hồ thị Kim Hoàn (02/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Hoàn trong những năm cuối thập niên 60. Hậu cảnh là Đá Dựng Hà Tiên, hình HTKH

Một bảng cầu cơ hiện đại và quả tim bằng cây của người Tây Phương dùng trong việc Cầu Cơ

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu