Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Publicités

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi thầy cô hay bạn bè chia tay nhau, mỗi người một ngả tìm phương định hướng tùy theo hoàn cảnh mỗi người, muốn liên lạc lại với nhau cũng hơi khó khăn…Ngày xưa chỉ có phương tiện viết thư cho nhau, trong thư ta cho biết tin tức, có khi kèm theo một vài tấm ảnh trên giấy trắng thật sự…Phương tiện liên lạc ít ỏi như vậy nhưng ta vẫn còn được biết tin nhau…Rồi thời gian trôi qua với biết bao biến cố, vì chiến tranh, vì di tản, vì những cuộc đi tìm một chân trời mới để sinh sống, chúng ta hoàn toàn mất tin nhau, có khi hơn cả vài chục năm không ai biết tin của ai…Những người còn ở lại Hà Tiên thì vẫn tiếp tục mưu sinh, đó là những con người rất thân yêu và rất đáng kính trọng…thầy cô, bạn bè còn đó tuy không còn lui tới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa nữa, nhưng thầy cô và các bạn đó vẫn là những con người rất can đảm, ngày đêm gắn bó với mảnh đất thân yêu Hà Tiên, xin mượn bài viết nầy để nêu lên tấm lòng ngưởng mộ, kính phục thầy cô và các bạn còn mãi mãi với đất Hà Tiên đó…Một số thầy cô và các bạn khác, hoặc là dời đi sinh sống ở các thành phố, tỉnh thành khác nhưng vẫn còn ở trong nước, một số lại lần lượt ra đi, phần lớn để đoàn tụ gia đình đã lập nghiệp ở các nước ngoài: Mỹ, Canada, Pháp, Úc,…Bây giờ tuy đã xa nhau thật sự hàng ngàn dặm nhưng khoa học và những phương tiện truyền thông hiện đại lại đưa chúng ta đến gần, trong một khoảnh khắc chúng ta có thể trao nhau một vài câu viết, cho nhau xem những tấm ảnh kỷ niệm xưa nay,..Thật là may mắn và huyền diệu thay…Mình thuộc vào thế hệ học sinh trung học Hà Tiên vào những năm 1960-1970…cũng như nhiều bạn khác cùng lứa, đã rời trường từ hơn 40 năm nay, phần lớn là để tiếp tục quá trình học vấn, hoặc đi làm việc, có bạn đi nhập ngủ vì con đường học vấn tạm dừng lại,..cũng có bạn lại không may mắn đã ra đi vĩnh viễn, vì một cơn bệnh ngặt nghèo hay càng không may hơn vì một biến cố giữa biển khơi, đành phơi mình trong lòng biển cả…Chứng ta là những người còn ở lại thế gian nầy, tuy xa cách qua không gian, nhưng may mắn được gần gủi nhau qua những trang Face Book, qua những bài viết nhắc nhau kỷ niệm xưa trên Blog,…Vậy chúng ta hãy xem lại hình ảnh của những cuộc hội ngộ nầy dù sau hơn 40 năm trôi qua, tình thầy cô trò, tình bạn vẫn không phai nhạt, diển tả được trên nét mặt, nụ cười trong những hình ảnh sau đây…..(còn nhiều cuộc hội ngộ khác hình ảnh và tin tức vẫn còn nhiều thiếu sót xin thầy cô và các bạn giúp bổ sung thêm nhé)

Xin thông báo thêm là Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên nếu có những cuộc lần đầu tiên hội ngộ lại sau nhiều năm xa cách nhau, xin gởi hình và nêu rỏ thời gian và nơi chốn gặp lại cho Blog  THHTX để đăng tin bổ sung vào trang nầy nhé, xin căm ơn.

Trần Học Quang (bên phải) và Trương Thanh Hào (bên trái) gặp lại nhau vào tháng 4 năm 2012 tại Sài Gòn nhân dịp Quang về thăm nhà Viêt Nam.

Trương Thái Minh và Trần Văn Mãnh (bạn học cùng lớp) gặp lại tại nhà Minh (Hà Tiên) tháng 6 năm 2012

Trương Thanh Hào và Trần Văn Mãnh gặp lại nhân một chuyến du ngoại của Hào tại Paris  tháng 5/2015

Bạn Trương Thanh Hào nhân một chuyến du hành ở nước Mỹ có ghé lại thăm thầy cô Nguyễn Hồng Ẩn (Connecticut, mùa đông 2013.)

Nhân một chuyến đi Mỹ kế tiếp (2016) bạn Trương Thanh Hào lại gặp lại các bạn Trung Học Hà Tiên: Phía trên: trái Hồ Thị Kim Hoàn, phải Trương Thanh Hào, phía dưới: trái Mai Thị Ngọc Minh, phải Trang Lệ Thủy

Năm 2016 cô Võ Kim Loan về thăm Việt Nam và hội ngộ cùng các học trò xưa tại Sài Gòn: Trái qua phải: Trương Thanh Hào, Trần Văn Dõng, Trần Phương Nhu, Hoàng Thị Minh Liên, Cô Võ Kim Loan, Lâm Thị Lan, Trần Tuấn Kiệt

Cũng trong chuyến về thăm Việt nam nầy (2016) hai trong « Tứ Đại Mỹ Nhân » của trung học Hà Tiên xưa gặp lại tại Sài Gòn: Cô Võ Kim Loan và cô Lâm Ngọc Mai

Cô Võ Kim Loan về thăm trường Hà Tiên xưa (2016) và gặp thầy Nguyễn Văn Nén cùng một số học trò xưa.

Tháng 5/2016 hai bạn Trương Thanh Hào và Hà Quốc Hưng gặp lại nhau (sau 40 năm) nhân một chuyến đi Los Angeles (Mỹ) của Hào, ngay vừa lúc Hưng vừa mất người vợ thân yêu…

Tháng 6/2016 nhân một chuyến đi qua Mỹ (Los Angeles), bạn Tiền Ngọc Dung đã có dịp gặp lại bạn Hà Quốc Hưng, người bạn cùng lớp cùng trường Trung Học Hà Tiên hơn 40 năm xưa.

Nhân một chuyến du hành Âu Châu (11/2016) Trang Thanh Sơn và Trần Văn Mãnh đã được gặp lại sau hơn 40 năm rời khỏi trường Hà Tiên xưa.

Nhân chuyến đi từ Âu Châu trở về Mỹ, bạn Trang Thanh Sơn ghé lại thành phố Stamford tiểu bang Connecticut thăm Thầy (Cô) Nguyễn Hồng Ẩn (11/2016)

Nhân một dịp tình cờ biết được địa chỉ của cô Hà Thị Hồng Loan, nhóm học trò xưa liền đến thăm cô sau hơn 40 năm rời trường lớp. (Hóc Môn, Sài Gòn 11/2016): Trương Thanh Hào, Trần Tuấn Kiệt, Cô Hà Thị Hồng Loan, Lâm Thị Lan, Lê Phước Dương.

Sau hơn 40 năm qua, anh Trần Văn Dõng được gặp lại cô Võ Thị Hồng Loan nhân một chuyến đến nhà thăm cô tại Hóc Môn (Sài Gòn, 11/2016)

Nhân một chuyến về thăm Hà Tiên (2017), cô Vương Thị Lành gặp gở các em học trò xưa: Học trò xưa đến mừng cô Vương Thị Lành về quê Hà Tiên. Trái qua phải: Trần Phương Nhu, Nguyễn Thúy Vân, cô Vương Thị Lành, Nguyễn Nguyệt Hồng, đứng: Trần Hoàng Trang, Cẩm Tiên, Tăng Thị Sáu

Sau hơn 40 năm rời trường, cô Dương Thị Minh Hoa gặp lại các học trò thân yêu tại Californie (Mỹ): Bùi Văn Sáu, Đỗ Ngọc Giao, Cô Dương Thị Minh Hoa (áo tím), Tạ Văn Ba (phía sau), Trần Kim Mỹ, Hồ Thị Kim Phượng, Thanh (phía sau), Lâm Mỹ Nga, Tiền Ngọc Hương (mang kính đen), Hồ Thị Kim Hoàn, anh Nguyễn Văn Xuân, Mai Phạm, Phù Ngọc Liên, Tô Văn Hạnh (07/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thanh Hào (Hào học sau anh Sơn hai lớp) hội ngộ tại Sài Gòn sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Đỗ Mùi hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trần Mỹ Quyên hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Lâm Hữu Quyền hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Bùi Văn Tư hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trương Trung Cang hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thái Minh (Minh học sau anh Sơn một lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Tăng Kim Sơn (T. K Sơn học sau anh T.T Sơn hai lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

Hình ảnh tuyệt vời của cuộc hội ngộ tại Hà Tiên bạn học Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm xa cách: Trang Thanh Sơn, Trương Trung Cang, Trương Thái Minh, Lâm Hữu Quyền, Bùi Văn Tư và Tăng Kim Sơn. (08/2017)

Tuy cùng ở nước Pháp nhưng hơn 40 năm qua Tiền Ngọc Dung và Trần Văn Mãnh (và bà xả là Nguyễn Ngọc Tiếng) vừa gặp lại nhân một chuyến đi Paris của Dung (09/2017).

Nhân dịp lên Sài Gòn để đưa gia đình Hoàng Thị Minh Liên đi định cư sang Mỹ, các học trò xưa gặp lại cô sau hơn 40 năm xa cách: Hoàng Thị Minh Liên, cô Lâm Ngọc Mai, Dương Mỹ Nữ, Lâm Nguyệt Hồng và Duyên. (02/10/2017)

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Tiền Hữu Minh

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Huynh Thị Chên

Trái: Ngô Ngọc Ánh, phải: Lê Ngọc Ngân. Hai bạn cùng học chung mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Ánh quê ở Tri Tôn, Ngân quê ở Kiên Lương. Tuy cùng học chung dưới mái trường Trung Học Hà Tiên nhưng hai bạn chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời, chỉ là bạn trên fb mà thôi vì cùng là học sinh Trung Học Hà Tiên cả nên làm quen với nhau qua mạng fb. Thế rồi vào tháng 12/2017 tuy mỗi người ở một nơi cách xa nhau trên cùng lục địa Úc Châu hiện nay, (Ánh ở Brisbane, Ngân ở Melbourne) nhân một chuyến đi xem văn nghệ  Thúy Nga Bynight, hai bạn gặp gở nhau thật bất ngờ và cũng rất lý thú…

Cuối năm 2017 gia đình Hoàng Thị Minh Liên xuất cảnh đi Hoa Kỳ, sau đó là cuộc hội ngộ với gia đình Hồ Thị Kim Hoàn, hai bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa: Minh Liên (trái) và Kim Hoàn (phải) đã được gặp lại nhau tháng 12/2017 tại Californie Hoa Kỳ.

Cuối năm 2017, anh Trần Hồng Khanh (áo xanh thứ nhì từ phải sang trái) có về thăm nhà Việt Nam và sẳn dịp có anh Lâm Hữu Dư (bìa phải) cũng về thăm nhà, hai anh có dịp gặp lại nhau và được hội ngộ với thầy Nguyễn Văn Nén (thứ ba từ phải sang trái). Thầy trò gặp lại nhau cũng hơn vài chục năm sau khi xa mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trần Hoàng Trang đứng trên (áo đỏ) cung cấp hình.

Nhân một chuyến đi ngao du sơn thũy trên đất nước cờ hoa, bạn Trương Thanh Hào tìm gặp lại những người bạn học thân mến năm xưa của Trường Trung Học Hà Tiên xưa, xa cách nhau cũng đã hơn vài chục năm, nay gặp lại chỉ biết nói: « Em ơi trái đất vẫn tròn, chúng mình 4 đứa vẫn còn gặp nhau..!! »
(Columbus,OHIO, Hoa Kỳ, tháng tư 2018) Trái qua phải: Hoàng Thanh Liêm, Hoàng Thu Bình, Trương Thanh Hào, Hoàng Đức Trung.

Sau hơn 40 năm từ lúc mỗi người rời Hà Tiên, hai bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa và cũng là bạn trong nhóm ca nhạc của thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70, Trần Văn Mãnh (trái) và Nguyễn Thị Kim Liễu (phải) đã gặp lại nhau nhân một chuyến đi Paris của gia đình Kim Liễu, mặc dù mỗi người đều đinh cư trên một tỉnh của nước Pháp (TVM: Paris, NTKL: Nantes) đã hơn 32 năm nay…

Tuy học chung một trường Trung Học Hà Tiên nhưng Lê Ngọc Ngân (trái) và Nguyễn Bích Thủy (phải) chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời…Nhân một dịp Ngọc Ngân về thăm Việt Nam, hai bạn đã gặp nhau sau hơn 35 năm xa trường Hà Tiên, (tháng 9 năm 2018).

Vừa rồi nhân dịp tìm gặp được fb của Thái Thanh Niên, một học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, Blog THHTX đã kết hợp lại được tình bạn ngày xưa của Thái Thanh Niên và Nguyễn Thị Điệp, hai bạn là hai thành viên trong nhóm Nguyễn Thị Điệp, Tô Mỵ Nương, Thái Thanh Niên, Mai Thị Ngọc Xuân, Tăng Thu Hồng, Trần Thị Như Liên. Đầu tháng 09/2018, hai bạn ngày xưa Niên và Điệp đã gặp lại tại Minh Lương (nơi Điệp ở) sau hơn 40 năm xa cách…

Bạn Lý Cảnh Tiên (đứng giữa) và chị Thái Cẩm Hà (bên phải) chẳng những là hai học sinh kỳ cựu của Trung Học Hà Tiên ngày xưa trong những năm 60-70, mà hai bạn lại còn là bạn láng giềng vì nhà hai bạn đối diện nhau trên đầu con đường Mạc Công Du. Hai bạn Lý Cảnh Tiên và Thái Cẩm Hà gặp lại nhau sau hơn 25 năm xa cách nhân dịp bạn Tiên về thăm Việt Nam vào tháng 9/2018. (Cảnh tại nhà bạn Lý Cảnh Tiên – Hà Tiên, bên trái là Kim, phu nhân bạn Tiên, phía sau là Lý Tòng Hiếu em của bạn Tiên).

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa (ngày xưa nhà gia đình Liễu ở ngay góc đường Phương Thành và Mạc Tử Hoàng, đối diện nhà thờ Hà Tiên) đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại thầy Nguyễn Văn Nén sau 46 năm rời xa trường lớp.

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Hoàng Trang sau 46 năm rời xa trường lớp.

Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Huỳnh Kim Châu sau 46 năm rời xa trường lớp.

Tháng tư năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Quý Nương sau 46 năm rời xa trường lớp.

Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan)

Thầy Cô và các bạn thân mến, thật là tình cờ và thú vị khi mình nhận được một tin nhắn của một đọc giả Blog THHTX của chúng ta, đó là tin của một em gái quê ở tỉnh Rạch Giá vì biết được tin buồn về Mạnh Thường và đồng thời cũng muốn hỏi thăm về đời sống hiện tại của bạn Hoàng Đức Trung…Khi đọc tin mình rất vui vì biết được nhờ có Blog THHTX mà từ từ các bạn có liên quan đến Trường Trung Học Hà Tiên đều thông qua Blog và tìm cách liên lạc lại với nhau. Trường hợp của bạn Bạch Loan cũng vậy,..Bạch Loan và gia đình có quen thân với bạn Lý Mạnh Thường và bạn Hoàng Đức Trung của chúng ta. Trường hợp quen với Mạnh Thường thì Thầy Cô và các bạn sẽ đọc bài viết đầy đủ dưới đây, trường hơp quen với Hoàng Đúc Trung thì có lời giãi thích của Bạch Loan như sau: « Anh Trung đi lính khóa 3/1972 sĩ quan Thủ Đức, đổi xuống quận Kiên-An, Kiên-Giang (quê nội của BL) và quen biết từ đó, anh Trung thường gọi BL là bé Loan, lần sau cùng gặp anh Trung là năm 1974, anh Trung ghé qua nhà BL ở Rạch-Giá. BL biết anh Trung qua Mỹ bình an cũng được rồi ». Qua bài viết về những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường do Bạch Loan nhớ lại và kể ra, chúng ta sẽ thấy nhớ rất nhiều về mảnh đất Hà Tiên với những ngôi chùa quen thuộc và các thắng cảnh không thể bỏ qua mà không thăm viếng đối với một du khách,..Bạch Loan có kể những lần đến chơi nhà bạn Mạnh Thường và có gặp ngay ban nhạc đang tập dợt nhạc và nhân tiện có cho Bạch Loan thưởng thức vài bài nhạc,…chắc là lúc đó có mình trong nhóm vì mình là tay đàn guitar cho nhóm, chắc đang đàn cho các bạn trong nhóm ca,..rất tiếc là mình không còn nhớ ra có gặp Bạch Loan lúc xưa hay không?? Thôi nếu đã là duyên thì trước sau cũng có hội ngộ, nay thì đã gặp lại đó tuy chỉ gặp trên Blog THHTX cũng là rất vui và rất cảm xúc…Thầy Cô và các bạn đọc bài của Bạch Loan viết và xem hình xem có bạn nào đã biết Bạch Loan từ xưa không nhé,…!!                                                                          (Trần Văn Mãnh)

Những kỷ niệm về anh Lý Mạnh Thường

loan_1973_ha_tienTác giả: Cái Thị Bạch Loan chụp trước bãi biển Mũi Nai Hà Tiên năm 1973

Gia đình tôi quen biết anh Lý Mạnh Thường qua người chị Hai. Năm 1967, chị hai tôi đi Hà Tiên chơi và ở chùa Tam Bảo vì có người bà con là cô Tư Thọ, một thành viên trong ban quản trị của chùa. Chị hai tôi gặp và làm quen với anh Thường và anh Ngọc (Nguyễn Văn Ngọc?) ở tại chùa. Anh Thường và anh Ngọc nhỏ hơn chị hai tôi vài tuổi nên cũng gọi bà chị của tôi là chị hai. Thấy chị em tâm đầu ý hợp nên hai anh tình nguyện làm người hướng dẫn cho chị hai tôi đi thăm những thắng cảnh của Hà Tiên. Nhớ lời anh Thường kể lại là mấy chị em rủ nhau đi qua biên giới Việt-Campuchia chơi. Vì mãi mê đi coi hàng hóa bên đó mà quên giờ biên giới Việt–Campuchia đóng cửa nên khi về tới biên giới thì họ nói đã đóng cửa không còn cho ai qua lại, làm mấy chị em rất là lo lắng. Thời may nhờ chị hai tôi biết vài câu tiếng Khmer, không biết chị năn nỉ với mấy ông lính Khmer thế nào mà cuối cùng rồi mấy chị em cũng được trở về nhà. Thiệt là hú hồn, hú vía, may mà đã thoát nạn!.

Vài tháng sau, anh Thường qua Rạch-Giá tìm đến nhà tôi. Chị hai tôi giới thiệu anh Thường cho cả nhà và  chị em tôi đón nhận anh Thường như người anh em trong nhà. Từ đó cho đến năm 1975, mỗi lần xuống Rạch-Giá là anh Thường ghé lại nhà tôi ở trọ 1 vài ngày. Tính tình anh Thường vui vẻ, hiền hòa, anh hát và ngâm thơ rất hay. Mỗi lần anh Thường tới nhà là chị em tôi hay có chương trình nhạc yêu cầu với anh Thường. Tôi rất thích anh thường ngâm bài thơ “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” của thi sĩ Kiên-Giạng. Thỉnh thoảng anh Thường mua những món quà làm bằng đồi mồi, đặc biệt của xứ Hà Tiên như kẹp hay vòng đeo tay tặng cho mấy chị em tôi. Tới bây giờ tôi vẫn còn giữ chiếc vòng đồi mồi của anh Thường trao tăng.

Tháng 8, năm 1973, tôi theo phái đoàn chùa Tịnh Xá Ngọc Sơn đi Kiên Lương và Hà Tiên chơi, nhờ dịp nầy tôi mới biết được hòn Chông, chùa Hang, hòn Phụ Tử ở Kiên-Lương. Sau đó qua Hà Tiên đi núi Đá Dựng, Thạch Động, chùa Phù Dung, lăng Mạc Cữu và qua biên giới Việt-Campuchia nữa. Tối thì về chùa Tam Bảo, Hà Tiên tá túc. Tôi không còn nhớ liên lạc với anh Thường bằng cách nào, chỉ nhớ là anh Thường đến đón tôi từ chùa Tam Bảo tới nhà của anh ở số 1 đường Mạc Công Du. Lúc đó trời cũng về chiều, đến nhà chào Ba Má của anh Thường xong, anh giới thiệu tôi với vài người bạn của anh đang quanh quẩn trước hiên nhà. Hình như ở đâu có anh Thường là ở đó có đờn ca; các anh cho tôi thưởng thức vài màn văn nghệ rồi đưa tôi đi ăn yogurt ở quán Ti-La. Mấy anh em vui vẻ trò chuyện xong, anh Thường đưa tôi trở lại chùa Tam Bảo. Một chuyến đi chơi với nhiều kỷ niệm.

Anh Thường đi học ở viện đại học Hòa Hảo, Long Xuyên. Khoảng tháng Tư, năm 1974  anh cùng các sinh viên của trường đại học Hòa Hảo qua trường trung học Nguyễn Trung Trực, Kiên-Giang tổ chức buổi văn nghệ, hát và quảng cáo cho trường đại học Hòa Hảo. Tôi rủ mấy đứa bạn đi coi và khoe với bạn bè là có ông anh của tôi hát hay lắm. Hôm đó anh Thường trình diễn bài “Lý quạ kêu”, cả hội trường tán thưởng nhiệt liệt.

Chân dung Lý Mạnh Thường vào năm 1968 (bức ảnh tặng Trần Văn Mãnh)LyManhThuong_1968

Sau 1975, gia đình tôi và anh Thường không còn gặp nhau nữa, vì gia đình tôi lần lần di tản qua Mỹ. Bận lo miếng cơm manh áo ở xứ lạ quê người, đành gác lại mọi chuyện về kỷ niệm ở VN qua một bên, mặc dù tâm tư tôi vẫn luôn ấp ủ những hình bóng quê nhà. Chỉ cần một cơn mưa dầm hay một buỗi nắng trưa hè cũng làm xao xuyến lòng tôi . Đầu năm 2015, một người bạn của tôi cho hay sẽ về VN ăn tết. Biết bạn có người thân ở Hà Tiên nên tôi cho địa chỉ và nhờ tìm dùm anh Lý Mạnh Thường. Ít hôm sau bạn tôi cho biết là anh Thường đã qua đời vì bạo bệnh. Ôi, thật tiếc thương cho ông anh vắn số! Tôi buồn ngẩn ngơ rồi lang thang vào internet để tìm coi có ai viết gì về anh Thường. May mắn thay, trang website “Trung Học Hà Tiên Xưa” có anh Trần Văn Mãnh viết rất đầLyManhThuong_ay đủ về anh Thường.

Trong niềm luyến tiếc, tôi xin viết ra bao kỷ niệm để tưởng nhớ đến anh Thường. Nguyện cầu cho linh hồn anh Thường luôn được bình an nơi cõi vĩnh hằng.

 Xin kính chào vĩnh Biệt !

 Bạch-Loan  (Virginia, Mỹ)

ha-tien-chua-tam-bao

Ngôi chùa mang tên « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » (Hà Tiên)

DSC_0021Ngôi nhà của bạn Lý Mạnh Thường, nơi xem như trung tâm văn nghệ thường xuyên có nhóm bạn tập dợt ca hát trong những năm ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » hoạt động mạnh.

Tái bút của Bạch Loan sau khi đọc bài viết trên:

Bạch Loan đã thấy anh Mãnh post bài viết của Bạch Loan vào Blog THHTX rồi, chắc không có ai biết Bạch Loan ngoại trừ anh Trung. Bạch Loan nhớ ra còn có quen với anh Huỳnh Văn Bé là em của anh Huỳnh Văn Quang, anh Bé qua Rạch-Giá đi học trường Nguyễn Trung Trực cùng lớp với người chị thứ 5 của Bạch Loan, thỉnh thoảng anh Bé có đến nhà Bạch Loan chơi. Bây giờ anh Quang và anh Bé đang ở California, anh Quang có tiệm Bakery (tiệm bánh mì).

Lúc qua Hà Tiên, anh Thường có đưa Bạch Loan tới nhà của Dì Tư, gặp anh Lý Tòng Hiếu 1 lần, chắc anh Hiếu không còn nhớ Bạch Loan đâu. Tuổi đời giờ xế bóng, hồi tưởng lại những kỷ niệm xưa cũng vui vui …(CTBL)

hvb_lth

 Bạch Loan chú thích tên của Lý Tòng Hiếu và Huỳnh Văn Bé trong hình

Hình ảnh: Cái Thị Bạch Loan, Trần Văn Mãnh, Ngoc Doly, Võ Kim Loan, Hoàng Phương (Internet)                            

Nhớ Bạn Mong Đức Hưng (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

NHỚ BẠN
MONG ĐỨC HƯNG

Trong thời gian học ở trường Trung học Hà Tiên (1965-1971), tôi chơi khá thân và có những người bạn để lại trong tôi ấn tượng khó quên, trong đó có Mong Đức Hưng.
Mong Đức Hưng là con bác Mong Tỷ, nhà ở khúc ngả quanh khỏi Nhà thờ trên đường đi Thạch Động. Tôi học chung với Hưng từ năm lớp nhì đến hết năm đệ tam. Khi thi đệ thất, trong lớp nhất của chúng tôi (do thầy Phan Tấn Hoàng dạy) có nhiều bạn học khá giỏi, theo tôi thì Hưng không phải khá hơn các bạn khác, nhưng lại đậu đệ thất. Lúc ấy tôi có hỏi thầy Hoàng là tại sao Lê Phước Dương học giỏi hơn lại không đậu mà Hưng đậu. Thầy nói Hưng chắc hơn, còn Dương thì hơi ẩu.

Không biết tôi với Hưng thân nhau lúc nào, nhưng có lần tôi đến nhà Hưng chơi thì thấy bạn đang rang cà phê. Có một lần thấy Hưng đang làm gà, Hưng dạy cho tôi cách nhúng nước sôi nhổ lông gà nhanh. Mà Hưng làm nhanh thật. Một lần Hưng mời tôi vào quán cà phê của gia đình (Quán gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ, tên quán là gì tôi quên mất), Hưng gọi: “Cho hai ly xịt xà thoòng đừng để dĩa”, chúng tôi cười ồ vì “không để dĩa” tức là không tính tiền. Hồi đó các quán cà phê ở Hà Tiên đều nhìn loại dĩa mà tính tiền, loại dĩa nào là bao nhiêu tiến, không cần phải hỏi khách dùng gì.

Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTTrương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt

Nhưng nhớ nhất là Hưng dạy tôi uống rượu. Hôm ấy có giờ trống, Hưng mua một xị rượu đế và một chai xá xị pha chung với nhau gọi là “xị nầy xị nọ” (rượu và xá xị mua ở quán Thái Thanh ngang Nhà thờ, đầu đường vô chùa Lò Gạch) rồi rủ mấy anh em lên núi Lăng ngồi trước mộ cụ Mạc Thiên Tích uống. Hưng ra vẻ rất thành thạo chuyện uống rượu, cởi áo, ngồi xếp bằng rồi rót rượu ra ly bắt mỗi người uống một hớp rất giống người lớn. Uống xong, mấy anh em kéo về trường thì cũng vừa hết giờ trống, anh em vô lớp cứ cười với nhau vì miệng còn hôi (thơm) rượu.
Hiện nay nghe tin các bạn cho biết Mong Đức Hưng định cư ở thành phố San Jose (Mỹ) và thỉnh thoảng có về Việt nam thăm bạn bè (do hai bạn Tăng Kim Sơn và Trang Lệ Thủy cho tin, cám ơn Sơn và Thủy nhiều nhé…)
                                                             Giá Khê  Trương Thanh Hùng. (09/2016)

Kể về kỹ niệm với nhóm Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Hoàng Đức Trung,…Mong Đức Hưng…thì mình (Trần Văn Mãnh) cũng có một thời gian đi chơi rất thân với nhóm bạn nầy. Mời Thầy Cô và các bạn xem thêm một chuyện vui nhỏ có liên quan đến bạn Mong Đức Hưng sau đây:

Đi bụi….

Sau khi cả nhóm gồm: Lê Phước Dương, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Hà Quốc Hưng (vừa đi Long Xuyên thi Tú Tài 1 và đi bụi lên tận Sài Gòn), Trần Văn Mãnh (vừa thi Tú Tài 2 xong)..đi bụi nhiều ngày từ Long Xuyên, Sài Gòn…, về tới Rạch Giá, tiền bạc sạch túi, cả 5 không còn một cắc bạc,..Sau khi móc hết túi trả tiền phòng ngủ khách sạn, sáng ra đi lang thang định đi bộ về tới Hà Tiên…May mắn thay lại gặp Thầy Trương Minh Hiển tại Rạch Giá…!! Thầy Hiển hỏi thăm xong thấy tình hình thầy hiểu ngay, liền cho cả nhóm vào quán cơm và gọi mỗi người một phần cơm, còn kêu thêm cho mỗi em một chén cơm đầy vung thêm….Ăn uống no nê xong sau khi từ giả thầy, lại tiếp tục đi bộ về phía Hà Tiên,….(chắc là đi bộ luôn tới Hà Tiên vì đâu còn tiền nữa,…). Tới gần đầu cầu may thay gặp xe Hồng Thập Tự từ Hà Tiên sang Kiên Giang lảnh thuốc…Lại may mắn nữa là trên xe có Bác Năm Dần Ba của Hà Quốc Hưng, lập tức Bác cho phép cả bọn lên xe có giang về Hà Tiên…Hà Quốc Hưng được ưu tiên ngồi phía trước với Ba Hưng, kế người lái xe, còn 4 tay bụi: Mãnh, Hưng (Mong), Trung và Dương thì nằm trên các thùng thuốc phía sau…xe chạy hơi dằn nhưng cuối cùng cũng được về tới quê hường xứ sở Hà Tiên sau mấy ngày đi bụi….

(trích trong bài « Lớp Lê Phước Dương chơi trò lên đồng »do Lê Phước Dương kể)

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/12/05/lop-le-phuoc-duong-choi-tro-len-dong/

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên

Bốn chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Hà Tiên (Hà Hưng Quốc)

1/ NGƯỜI THẦY DẠY TÔI GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHẢN BIỆN

Tôi gặp lại thầy Trương Minh Hiển lần thứ nhì vào năm 2007 (?) tại Sài Gòn. Lúc đó thầy đang dạy ở Đại Học Văn Lang. Thầy trò đã kéo nhau vào Bình Quới ăn trưa và tâm sự suốt mấy tiếng đồng hồ rồi sau đó kéo về căn chung cư chật hẹp của thầy ở Quận 4. Tại đây thầy Hiển trao cho tôi ba quyển sách: cuốn tiểu thuyết huyền sử Bà Chúa Xứ do thầy Hiển sáng tác, cuốn Địa Đàng ở Phương Đông của Dr. Oppenheimer do thầy Hiển dịch bản nháp bìa đóng bằng giấy thùng cạt tông, và cuốn Việt Điện U Linh Tập đã ngã màu. Nhờ lần gặp nhau đó mà tôi mới biết được tôi với thầy có một tương thích là đang nghiên cứu về cội nguồn đích thực của dân tộc. Đó là lần sau cùng tôi gặp thầy và vĩnh viễn không còn một cơ hội nào nữa.

            Lúc xưa thầy Hiển rất năng động và thích chính trường. Tôi nhớ là đám học sinh Trung Học Hà Tiên của chúng tôi đã từng đi khắp Hà Tiên vận động tranh cử cho thầy Hiển. Nhưng giấc mơ trở thành một nghị viên dân cử đã không thành. Người đã giúp khai phóng khả năng và giúp tôi tin vào giá trị của sự phản biện không ai khác hơn là thầy Trương Minh Hiển.

Thay_TruongMinhHienTrái: Thầy Trương Minh Hiển

            Tôi học quốc văn với thầy Hiển vào năm Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ. Ngoài việc giúp học trò chúng tôi tiếp thu kiến thức căn bản chiếu theo giáo án ấn định, thầy Hiển còn bỏ nhiều thời gian dạy chúng tôi làm thơ, viết văn, phân tích, tổng hợp, lý luận, phản biện, phỏng vấn, khảo sát thực địa, thí dụ như thầy đã từng đưa chúng tôi đến nhà ông Năm Bùn là một nhân vật trong truyện Cánh Buồm Đen của của Sơn Nam để phỏng vấn hoặc là đến nhà của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã từng cư ngụ để tìm lại dấu vết xưa. Ngay cả việc nhờ học trò chúng tôi đi vận động tranh cử, tuy thực sự là cần chúng tôi giúp đỡ nhưng đồng thời cũng là một phương pháp đào tạo của thầy qua hoạt động thực tiễn cho đám học trò của mình. Nếu chưa nhìn ra điều này thì chưa thực sự hiểu thầy. Những kinh nghiệm như vậy, cũng là những kỷ niệm không quên, là món quà vô giá mà thầy Hiển đã trao tặng cho chúng tôi năm xưa. Nhìn lại, tôi thật sự khâm phục thầy Hiển và phải tự nhận là sở dĩ tôi có được khả năng cầm bút ngày hôm nay một phần lớn là do thầy Hiển đã bỏ công sức uốn nắn lúc trước. Cảm ơn thầy, vị thầy kính yêu của con. Cảm ơn mớ hành trang vô giá mà thầy đã trao tặng mỗi đứa để giúp chúng con bước xuống cuộc đời một cách đầy tự tin và dùng năng lực đó để làm ấm những mảnh đời chung quanh.

2/ BƯỚC XUỐNG CUỘC ĐỜI

Cụm chữ « Bước xuống cuộc đời » làm cho tôi nghĩ tới một người. Một ngày của năm nào đó trong quá khứ, ba đứa chúng tôi đã bước ra khỏi cửa nhà của Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh để đi vòng vòng như mọi ngày. « Theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say, theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau, cho em . . . », Mãnh vừa đi vừa huýt gió một đoạn trong bản tình ca Vũng Lầy Của Chúng Ta mà chúng tôi rất ưa thích thời đó. Một đứa trong chúng tôi bước xuống lề và vô ý giẫm mạnh lên vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt đường làm nước bẩn văng trúng quần chúng tôi. Anh Dõng đã khựng lại nhìn xuống chỗ dính dơ trên quần của mình rồi lầm bầm trong miệng: « Tại sao là bước xuống cuộc đời mà không là bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời? » Đúng là ngớ ngẩn. Chẳng ăn nhập gì với vũng nước và cái quần bị làm dơ. Nhưng lại là thứ ngớ ngẩn bất chợt lóe lên trong tâm thức của một triết gia ở khoảnh khắc của một hiện tượng phát sinh và biến mất mà chỉ có hắn mới bắt kịp, kéo nó lại và treo nó lơ lửng, như bắt lấy một frame của video, và khám phá diện mạo rất mới của một hình ảnh cũ mèm nhạt nhẽo. Đó là anh bạn Dõng của tôi mà tôi biết. Và cái ngớ ngẩn thoát ra từ cửa miệng của anh ấy, dầu rất khẽ, đã bám theo tôi cho tới ngày hôm nay. Thú thật tôi vẫn chưa có câu trả lời là mình đã bước xuống cuộc đời, bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời. Anh có câu trả lời chưa vậy anh Dõng?  

TranvanDong1972TranvanManh1970

            Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Văn Mãnh

Dõng Mãnh tuy là hai anh em ruột nhưng bản chất hoàn toàn trái ngược. Anh Mãnh là mẫu người sống động, hào nhoáng, trẻ trung, thích vui, đam mê âm nhạc và có thiên khiếu chơi đàn guitar. Còn anh Dõng là mẫu người trầm lặng, sống nhiều với nội tâm, ăn nói nhỏ nhẹ, thích triết học, có khả năng tư duy cao, giỏi toán, rất mẫn cảm nhưng khéo che dấu cảm xúc và chỉ khi nào anh uống rượu thật say thì mới để lộ, không thích đấu khẩu tào lao nhưng khi cần tranh luận thì luôn tranh luận cho vị thế ngược với chỗ đứng của anh để giúp anh cũng cố thêm cho chỗ đứng của mình. Có lẽ vì vậy mà chưa bao giờ thấy anh nổi giận với ai. Người ta càng công kích mạnh mẽ chỗ đứng A của anh đưa ra thì anh càng cười khoái chí vì trong bụng anh biết rõ là anh không tin vào chỗ đứng A nên mượn người đối diện giúp anh phản biện để anh có cơ hội xác định giá trị của chỗ đứng B, ở đó mới thật là chọn lựa của anh. Rất thông minh. Và tôi đã áp dụng kỹ năng này trong vai trò quản trị công ty rất thuần thục. Trường học không có dạy nó. Tôi học từ anh Dõng năm xưa khi tôi có dịp quan sát anh tranh luận với các bạn khác. Cảm ơn món quà của anh nhé anh Dõng, anh bạn thân quí của tôi.

            Anh Dõng ít khi đi chơi riêng với tôi. Anh không có nhiều thì giờ để đi chơi vì bận học, vã lại anh cũng không mấy thích lang thang cả ngày như tôi. Trong những lần hiếm hoi cùng nhau ngồi uống cà phê hay trà đá ở quán cô Năm Lèo hoặc ở quán thương phế binh gần bờ sông thì hai anh em chúng tôi thích tán gẫu về triết học. Chia sẽ với nhau suy nghĩ của mình về những tác phẩm lớn của một thời như « Đôi Bạn Chân Tình » của nhà văn Thụy Sĩ gốc Đức Hermann Karl Hesse, « Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết » của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, « Kẻ Xa Lạ » của triết gia Pháp Albert Camus, « Buồn Ơi Chào Mi » của nhà văn Pháp Françoise Sagan, « Ngư Ông Và Biển Cả » của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, vân vân và vân vân. Chẳng biết lúc đó chúng tôi lĩnh hội được bao nhiêu, phê bình đúng hay sai, và sự hiểu biết có phủ đầy lá mít hay không nhưng một điều chắc chắn là lúc đó tôi rất nể ông anh triết gia (bởi bản chất) Trần Văn Dõng của trường Trung Học Hà Tiên.

3/ MỘ GIÓ

Bây giờ đang là những ngày đầu năm âm lịch năm Bính Thân 2016. Hội chợ Tết của người Việt ở Mile Square Park của Quận Cam được tổ chức thật đình đám. Nghe người ta nói là rất đông và vui. Tôi không có mặt ở đó vì bận đi thăm mộ bà nhạc mẫu. Ngồi lặng lẽ ở nghĩa trang suốt mấy tiếng đồng hồ, nhìn những mộ bia thẳng tấp nằm sát mặt đất phủ cỏ xanh, tôi liên tưởng đến những người bạn đã ngã xuống ngày xưa ấy….

NguyenNgocThanhTrái: Nguyễn Ngọc Thanh

            Rồi nghĩ tới những thằng bạn thời trung học. Lại nhớ tới một cái Tết nào đó năm xưa, vào ngày mùng 5 âm lịch thì phải, anh Nguyễn Ngọc Thanh đã lấy ghe chở cả đám ra đầu gành Bãi Nò ăn tiệc mừng năm mới. Hình như là có anh La Văn Cao, Anh Trần Văn Dõng, anh Nguyễn Đình Nguyên, anh Trần Văn Mãnh, anh Lê Phước Hải, anh Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Trang Việt Thánh và vài người nữa không nhớ hết, tuyệt nhiên không có lấy một bóng nữ. Chúng tôi bưng theo nào là bánh tét, nào là dưa hấu, nào là gà luộc và dĩ nhiên không thiếu bia rượu. Cả đám mặc tình mà tiệc tùng và nỗ như pháo xuân. Được một lúc thì ba thằng Dương, Kiệt, Thánh (?) lặng lẽ biến mất. Chừng nửa giờ sau thì một thằng trở về, đứng ờ một khoảng cách khá xa vừa gọi vừa quay đi « có chuyện lớn rồi đi tới đây nhanh lên. » Thế là cả bọn đi theo nó. Đến một góc núi, mũi ông Đốc Nhơn, thì thấy hai thằng quỷ kia đang xì xụp khấn vái trước một ngôi mộ, và trên mộ bia ghi « Tiến Sỹ Hà Quốc Hưng Chi Mộ ». Vừa vái vừa réo « Hưng ơi là là Hưng ơi sao mày đành lòng bỏ đi sớm vậy Hưng ơi là Hưng ơi ». Thiệt tình là tôi muốn nhào vô đá cho mỗi thằng một cái. Chơi chi mà ác nhơn. Mới đầu năm đầu tháng không chúc lành thì thôi có đâu lại trù cho mình chết yểu. Mà biết đâu mình sẽ quảnh củ tỏi sớm cũng không chừng. Ông thầy bói cà chớn nào đó đã nói là mình sẽ không sống qua 26 tuổi mà. Cả bọn ôm bụng cười với trò lí lắc này nhưng riêng tôi thì rất quạu. Mấy mươi năm qua rồi bây giờ nghĩ lại thấy vui vui. Biết đâu nhờ tụi nó khai tử tôi lúc đó mà tôi còn sống tới bây giờ với cái tên mới Hà Hưng Quốc sau khi qua Mỹ. Và biết đâu cũng nhờ lời tiên tri của tụi nó mà tôi đã học hành tới nơi tới chốn. Chỉ có trời biết, đất biết và tụi nó biết thôi.

4/ BỐN CHÀNG NGỰ LÂM PHÁO THỦ CỦA HÀ TIÊN

Kiệt, Thánh, Dương và tôi học cùng lớp. Bốn đứa chơi chung với nhau rất thân. Chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi dưới gốc cây da Chùa Lò Gạch đấu khẩu về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, có khi đấu khẩu đến cả tiếng đồng hồ, đến xùi cả bọt mép. Thường là tôi với Dương đứng về một phía của trận chiến tranh luận còn Kiệt với Thánh ở phía bên kia. Thời đó chúng tôi đã sớm có những quan tâm đến vấn đề chính trị và xã hội. Và có lẽ sự chọn lựa hướng đi của tương lai cũng đã định hình từ những ngày đó. Dầu đấu khẩu có gay gắt đến đâu thì cuối cùng chúng tôi vẫn là một nhóm bạn keo sơn. Nhiều khi keo sơn quá mức. Keo sơn đến độ cả bốn đứa đều cùng trồng cây si trước nhà của một giai nhân đất Hà. Cũng may là chỉ cạnh tranh nhau để giành sự chú ý của người đẹp ở mức độ vừa phải chứ chưa đến nổi phải oán ghét nhau. Tôi tin rằng tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ bị sức mẽ (có đúng không vậy quí cụ?). Cho đến ngay cả sau khi Thánh và Kiệt rời trường Trung Học Hà Tiên chuyển về Sài Gòn tiếp tục việc học thì sự gắn bó đó cũng vẫn không thay đổi.

TrangVietThanhTrái: Trang Việt Thánh

            Trong bốn đứa có lẽ Thánh là người suy nghĩ sâu sắc và chững chạc hơn cả. Có lẽ do suy nghĩ quá nhiều và nếm đủ hương vị mật đắng của tình yêu đầu đời quá sớm mà đầu Thánh đã lưa thưa tóc bạc từ khi còn đi học. Thánh có thói quen chỉ ngón tay cái lên trời hoặc xòe ngửa cả bàn tay ra phía trước lắc lắc lúc lý luận. Khi suy nghĩ lung lắm thì hay dùng ngón tay giữa gãy trên đỉnh đầu. Còn lúc bối rối hay muốn che dấu cảm xúc thì dùng một ngón tay của bàn tay trái khều khều chân tóc trước trán. Sau mấy mươi năm không biết Thánh đã thay đổi quán tánh đó chưa hay vẫn như vậy. Thánh giỏi toán, giỏi lý luận, đặc biệt là tam đoạn luận, và giỏi cả phản biện. Sau này nhờ Dương nói mà tôi mới biết thêm là Thánh còn có tài làm thơ với bút hiệu là Hoài Nhân.

« Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sỹ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông
Thuyền ai đó chơi vơi trôi dưới Nguyệt
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không. »
(Ngày Về -1970)

« Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!. »
                              (Dấu Tình -1969)

Đọc những dòng thơ của Thánh sáng tác từ thời trung học mà thấy lòng mình chơi vơi (và chới với) . Nếu tôi là « người ấy » thì chắc chắn tôi đã ngã gục trước những con chữ có linh hồn của hắn ngay. (Tuy nhiên, có một câu chắc chắn đã bị nàng trừ điểm là câu « dại dột yêu em nên chết cả đời« . Thánh ơi thằng con trai biết yêu sớm là thằng khôn trước tuổi. Yêu đúng đối tượng đáng yêu và nhờ đó mà mình có thể vắt máu trái tim ra viết những dòng thơ thì rõ là thằng con trai đó cực kỳ thông minh và sáng tạo chứ sao cho là dại dột. Ngày hôm nay khả năng cảm nhận, nắm lấy và diễn đạt những thứ xuất phát từ trái tim người ta gọi là « emotional intelligence » đó bạn. Tình yêu đích thực phải là « no return, no refund » nghe bạn).    

            Ngoài tài năng nổi trội, Thánh còn là người hào phóng và hết lòng với bạn. Có những lần Dương và tôi lang thang ở Sài Gòn phải nhờ đến sự giúp đỡ, Thánh đã không ngần ngại đem cầm cả dây chuyền vàng mẹ cho để cứu nguy bạn bè. Hiếm có. Cảm ơn nghe ông bạn.  

Trái: Trần Tuấn KiệtTranTuanKiet

                        Kiệt đẹp trai nhất trong bốn đứa lại thông minh. Thầy Hiển luôn khẳng định như vậy. Kiệt vui tính và hay làm trò. Phá phách cũng một cây xanh rờn. Bình thường thì có dáng vẽ rất thư sinh nhưng một khi đã nổi nóng thì dám chơi tới bến, bất kể hậu quả. Da của Kiệt rất trắng. Mỗi khi da cổ bắt đầu nổi lấm chấm đỏ là lúc Kiệt bắt đầu quạu. Và khi Kiệt đã thiệt quạu thì mặt đỏ gay. Lúc đó phải coi chừng. Sau này Kiệt lên Sài Gòn tiếp tục việc học ở trường Hưng Đạo nằm trên đường Cống Quỳnh rồi vào học kỹ thuật Phú Thọ (?). Khỏi cần giới thiệu thì cũng đủ biết Kiệt là một trong những học sinh ưu tú thời đó. Có vài lần ghé qua thăm Kiệt, hình như là nhà ở trong hẻm Bùi Viện (?), rồi cùng nhau lội bộ đi qua nhà Thánh. Bây giờ thì chẳng còn nhớ nhà Thánh nằm ở đường nào. Chỉ nhớ là có một lần đi ngang qua cầu Ông Lãnh bị chị em ta chọc ghẹo, và họ chỉ nhắm vào Kiệt vì cái tội đẹp trai, đã làm cho Kiệt lúng túng thấy rõ. Thì ra Trần Tuấn Kiệt không sợ trời không sợ đất lại sợ quí cô nương cầu Ông Lãnh.   Lần sau cùng gặp lại, sau bao nhiêu năm xa cách, Kiệt vẫn là Kiệt « quậy » của năm nào. Chỉ có điều là tóc đã muối tiêu và hình như có nhiều mỏi mệt. Duy có một điều không mỏi mệt sau ngần ấy năm là việc nhắc tên của một người. Còn ai khác nếu không phải là nàng, giai nhân của đất Hà.    

   LePhuocDuong     Trái: Lê Phước Dương

            Dương với tôi là cặp bài trùng. Tôi gọi má của Dương là Chị Hai từ khi tôi biết Dương. Má của Dương bảo tôi gọi như thế vì chị gọi ba tôi là Cậu Năm, hình như là bà con xa chi đó (?). Tôi ăn ở nhà Dương. Tôi ngũ ở nhà Dương. Đôi khi tôi mặc cả quần áo của Dương. Tôi đã từng nói đùa với Dương là tôi lớn lên nhờ chén cơm phiếu mẫu. Nhưng nói như vậy là không đúng và không biết quí ân tình của Chị Hai bởi vì phiếu mẫu cho cơm Hàn Tín là bố thí, vã lại tôi không phải là Hàn Tín, còn những bữa cơm của Chị Hai là những bữa cơm trộn cả thương yêu vào đó đối với cả hai đứa tôi chứ không phải bố thí. Chị Hai rất thương Dương và vì là cặp bài trùng nên Chị Hai cũng coi tôi như con trong nhà. Nhà Dương có một bộ phản gỗ đặt ở phòng khách cạnh cửa sổ. Trên chiếc phản gỗ đó tôi đã có không biết bao nhiêu giấc ngũ trưa. Nói tóm lại, tôi gần gũi với Dương nhiều hơn là gần gũi với anh em ruột của mình.

            Dương rất trực tính. Ngay trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Dương vẫn thường xài thanh long đao của Quan Công hoặc cặp búa lớn của Trình Giảo Kim. Tuy nghe giọng điệu có vẽ táo tợn nhưng Dương lại là một người rất mẫn cảm, yêu thơ văn và có khả năng sáng tác, lại rất thủy chung. Dương lưu trữ từng sự kiện ở quá khứ của bốn đứa trong bộ nhớ. Dương có thể đọc vanh vách từng bài thơ của bạn bè đã sáng tác. Dương cưu mang từng kỷ niệm trên lưng với tất cả tự hào và với tất cả sự trân trọng. Nghe đâu Dương cũng rất can đảm trên chiến trường. May là gãy súng sớm chứ nếu không thì đã leo cao hoặc lên bàn thờ ngồi từ lâu.

            Dương ví tôi giống như Dương Quá si mê Cô Long nhưng thiếu thủy chung của gã. Đúng quá. Để đáp lại, tôi muốn tặng Dương một bài thơ ngắn của sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh.

« Dòng sông không chảy hai lần
 Ai hay giọt nước tần ngần không trôi
Luyến lưu là chuyện nực cười
Tử sinh bám siết ngàn đời biết sao. »

Dương cũng ví tôi như Lệnh Hồ Xung hai đạo hắc bạch đều chơi, chánh tà đều chẳng cần phân biệt. Đúng luôn. Dương thường nói « sinh ra Dương là cha mẹ còn hiểu Dương chỉ có một mình Hưng, và ngược lại. » Chẳng sai. Nhưng riêng góc khuất tâm linh thì tôi e rằng Dương chưa thật thấy hết. Có lẽ bây giờ là cơ hội tốt để tôi mở luôn cánh cửa cuối cùng để cho thằng bạn thân nhìn thấy, thông qua những dòng thơ tôi sáng tác hơn 40 năm trước khi hai đứa vẫn còn ngồi chung dưới một mái trường,

« Khói cay và cỏ lã
Còn em no bóng tối
Còn anh no hẹn hò
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi anh
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi em
Còn Ta
Tiếng im từ lòng thẳm
Không có màu thời gian
Bến đậu vô cùng
No xót xa?
No hy vọng?
Gì?

Anh cuối xuống ngực em màu sữa
Tiếng thở em
Và tiếng thở anh
Hòa quyện
Như loài rắn ân cần làm tình trong đêm tối
Ta đến gần
Ôm mặt trời trong tay
Mặt trời lạnh trong tay
Lạnh thủy tinh
Giữ một mình
Nơi miền của miền
Anh im lặng
Em nụ cười ngu ngơ
Ta bỏ đi, lành lạnh
Em nghe không
Tiếng thở dài nơi anh?

Mở con mắt tre gai
Nhìn nhau qua ngục tối
Môi tìm môi âm thầm
Tay tìm tay vòng rắn
Tiếng động nào tháng năm. »

(Đơn Điệu – 1970)

Cánh cửa đã mở xong. Bên sau cánh cửa vừa mở đó, ai mới là Hưng?

HaQuocHung (2)Trái: Hà Quốc Hưng

            Tuy là đôi bạn chân tình nhưng Govinda đã chọn theo chân đức Phật để trú ngụ dưới cây dù giới hạnh và hưỡng sự an lạc của một đời sống phạm hạnh trong khi Siddhartha thì đã chọn con đường trãi nghiệm của bản thân để khám phá chính mình và khám phá sự vận hành của pháp giới. Và trên hành trình đó Siddhartha đã từng đi đến tột cùng của những trụy lạc. Tuy sa đọa đến vậy nhưng tiếng « OM » linh thiêng vẫn chưa bao giờ rời bỏ tâm thức Siddhartha. Người chèo đò Vasudeva đã phải chờ ở trên dòng sông cho đến khi Siddartha giác ngộ. (« Câu Chuyện Dòng Sông » – Hermann Hesse). Có thấy ra thực tướng của thằng bạn chưa vậy Dương?

            Vì tri ân bạn bè cũ chung trường nên hồi tưởng lại cho vui. Có khi tất cả chỉ là hư cấu. Thánh ơi, hãy lôi cổ thằng Dương ra gõ một cái vào đầu nó thật đau và nói cho nó biết thế nào là:

« Một con sông chảy, một con sông
Một hạt nước trôi ngay giữa dòng
Đến đi như thế là như thế
Cần gì phải hỏi đục hay trong.
Một mùa đông lạnh, một mùa đông
Một hạt nước bay giữa tuyết bông
Đến đi như thế là như thế
Lưu dấu làm chi giữa hư không.
Một cơn mưa qua, một cơn mưa
Một hạt nước rơi chạm lá thưa
Đến đi như thế là như thế
Tưởng chi âm điệu dứt hay chưa. »

                                            (Hà Hưng Quốc – Tết 2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng, Hoàng Thị Minh Liên

Tự bạch (Trương Thanh Hùng)

                                              TỰ BẠCH

Gia đình tôi về sống tại Hà Tiên từ năm 1963 khi ba tôi là thầy giáo Trương Tự Phát chuyển từ Tri Tôn (Hòn Đất) về dạy tại trường tiểu học Hà Tiên. Gia đình tôi ở trên đất của bà Đội Căn mà chúng tôi gọi là “Bà Cô”, địa chỉ tại số 6 đường Mạc Cửu, xéo xéo nhà Bác Tư Trượng (sau này gia đình Thúy Vân ở).

Về Hà Tiên, tôi học lớp nhì do Thầy Minh dạy, rồi Thầy Minh chuyển đi, tôi cùng với anh tôi là Trương Thanh Hào học với Thầy Hứa Văn Vàng, còn anh Trương Thái Minh thì học tiếp liên. Thầy Vàng đã để lại trong tôi dấu ấn khó quên là vì tôi viết chữ xấu, lại ẩu nên Thầy thường ngồi bên tôi, khi tôi viết ẩu, Thầy cho ngay một cây “bê”, không đau lắm, nhưng tiếng cây “bê” bằng cạc tông nghe rất sợ. Chính vì thế sau này tôi viết chữ không đến nỗi tệ, chỉ còn tật ẩu thì chừa chưa được.

Năm lớp nhất, tôi học với Thầy Phan Tấn Hoàng cùng với nhiều bạn sau này vào trung học như Lý Minh Chữ, Trần Phước An. . .

Thi vào đệ thất năm học 1965-1966 đậu hạng 47/50. Năm đó có 200 thí sinh thi vào đệ thất trường trung học Hà Tiên gồm 2 lớp nhất nam, 1 lớp nhất nữ của trường tiểu học Hà Tiên và 1 lớp nhất của trường Kiên Lương mà chỉ tuyển có 50 em, kể cũng ít.

Năm học đệ thất, tôi được học với cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, hình như trường trung học Hà Tiên những năm đó chỉ có cô Loan và cô Lành là người Hà Tiên, còn lại là thầy cô ở nơi khác đến dạy. Không nhớ hết các thầy cô dạy những năm đệ thất, đệ lục, nhưng còn nhớ thầy Đức Sinh dạy Anh văn. Trong giờ học Anh văn mà Thầy lại dạy hát 2 bài thánh ca, đến nay tôi còn thuộc. Năm này, thầy Lại Xuân Quất đã chuyển, thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng.

Trong những năm học từ đệ thất đến đệ tứ, tôi là một học sinh kém “toàn diện”, nhưng may mắn là không ở lại lớp, tuổi cũng nhỏ so với các bạn. Không hiểu sao tôi luôn có mặc cảm mình là người xấu trai, học dốt. Tôi luôn ngưỡng mộ các bạn học cùng lớp như Tô Vĩnh Tuấn, Tiền Thiên Lộc, Tiền Minh Quang, Lý Minh Chữ, Trần Tuấn Anh, Trần Học Quang, Trương Công Tước. . . dĩ nhiên là có cả anh Trương Thanh Hào của tôi. Các anh ở lớp trên cùng học với anh Trương Thái Minh của tôi có Trần Văn Mãnh, Trần Tiên, anh Trần Tấn Công (anh của Vân, nhà ở góc đường Phương Thành-Chi Lăng), anh Trần Văn Danh con Bác Ba Đen (ở xéo nhà tôi, góc đường Phương Thành-Mạc Cửu, sau đó anh Danh về Nhà Bàng ở không còn nghe tin tức), anh Nguyễn Ngọc Thanh (Thiếu úy), anh Lý Văn Tấn, Lý Cui. . . Kể cả ngưỡng mộ lớp đàn em như Hà Quốc Hưng, Quách Ngọc Điền ở khả năng văn nghệ. Còn nhiều anh chị và các bạn nữa nhưng tôi không thể kể hết ra đây. Hình như vì mặc cảm đó cùng với ba tôi rất khó nên tôi cũng ít đi chơi, nhưng những năm học đệ thất, đệ lục, tôi hay đi câu cá ở bờ Đông Hồ, bán cà rem nên có dịp dạo khắp đất Hà Tiên.

Học hết năm đệ tứ, có lẽ ba tôi thấy tôi học yếu nên cho đi học sửa máy ở tiệm của bác Năm Xuân Thạnh vào hè năm đó.

Năm Đệ Tam, tôi chơi khá thân với Hoàng Đức Trung vừa từ ở Kampuchia về. Hết năm đệ tứ, nhiều bạn trai phải đi lính, trong đó có Trần Tuấn Anh, Chung Lưỡng Tài, sau này anh Tài về ở Bãi Chà Và và đã mất khoảng 5 năm nay. Do đó lớp đệ tam còn rất ít bạn trai. Đến năm lớp 11 thì trong lớp chỉ còn 6 bạn trai mà thôi, vài bạn gái cũng đi Long Xuyên hay Sài Gòn học.

Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTTrương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt

HoangDucTrung_TruongThanhHungHoàng Đức Trung và Trương Thanh Hùng (ở trần leo cây không biết để làm gì ??)

Đậu tú tài 1 năm 1971, tôi ra trường Nguyễn Trung Trực học lớp 12, đậu tú tài 2 rồi đi học ở Sư phạm Vĩnh Long.

Năm 1974 về dạy trường sơ cấp Bãi Ớt, lúc này các bạn Lâm Thị Lan, Trần Yến Phượng, Thúy Phương cũng vào nghề giáo.

Cuộc đời đưa đẩy, năm 1977, tôi chuyển công tác rồi thành người viết lách cho đến hôm nay.

Năm 1987 tôi ra Rạch Giá công tác.

Năm 2013 nghỉ hưu về Sài Gòn sinh sống.

TruongThanhHung_DessinTrương Thanh Hùng qua nét vẻ của họa sĩ Huỳnh Phương Đông (2012)

Hiện tôi vẫn còn hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, chủ yếu là nghiên cứu, viết lách về lịch sử, văn hóa vùng đất Nam bộ, đặc biệt là Kiên Giang và Hà Tiên của chúng ta.

Qua trang “Trung học Hà Tiên xưa”, tôi rất mong được liên lạc với các Thầy cô, các bạn, các anh chị mà tôi hằng quí mến.

TruongThanhHung_Nay

                Sài Gòn 10-1-2016

               Trương Thanh Hùng

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Hoàng Thị Minh Liên