Anh Hào, anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời xa xưa ở nơi Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta, ai ai cũng biết nhau, nhất là đối với những bạn bè và người quen biết trong khu phố chợ Hà Tiên. Mình muốn nhắc đến những cặp anh em sinh đôi mà ít nhiều có « tiếng tăm » ở Hà Tiên… Thứ nhất là cặp sinh đôi mà chính mình là một trong hai: Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh, rồi cặp Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt (gia đình có tiệm thuốc tây Thanh Bình ở phía dưới chợ cá cũ), cặp Phật Tử ở chùa Tam Bảo ngày xưa Khưu Thiên Phước, Khưu Thiên Lộc,…v…v….., và còn nhiều nữa mà mình không nhớ ra tên. Ngoài ra ở Hà Tiên còn có những cặp sanh đôi nữ nữa…Bây giờ nói trở lại cặp anh em sanh đôi Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt: đó là hai người bạn thân của anh em mình ngay từ thời còn học trường Tiểu Học. Hào, Kiệt, Dõng, Mãnh đều học chung một lớp ở bậc Tiểu Học. Mình còn nhớ nhiều kỷ niệm với Hào Kiệt lúc còn ở Tiểu Học, nhất là lúc học lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Pho. Nhớ có năm học lớp Nhứt đó, thầy Pho cho làm thủ công, mỗi học trò trong lớp phải làm một cái nhà nhỏ bằng giấy carton. Mình và Lâm Tấn Hào đem vào lớp mỗi đứa một cái nhà bằng giấy rất đẹp, có bạn làm một căn nhà tuy rất đẹp nhưng rất giống loại nhà người ta đốt khi cúng cho người chết, thầy Pho nhìn cười và nói sao giống « nhà táng » quá…!! Ngoài sinh hoạt ở lớp học ra, mỗi buổi chiều hai anh em mình thường đến nhà hai bạn Hào, Kiệt ở đường Mạc Công Du để rủ đi chơi. Lần nào cũng vậy, hai bạn Hào và Kiệt nói chờ tắm xong sẽ đi, vì là con nhà giàu nên chiều nào cũng tắm rửa sạch sẽ trước khi đi chơi…Lúc đi chơi thì cả nhóm kéo tới các băng đá ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, ngồi nhìn ra mé sông, và nói đủ thứ chuyện, dĩ nhiên là không thiếu chuyện con gái…Lúc đó còn có bạn Khoa (mình quên họ rồi, hình như là Châu Văn Khoa) con của chủ tiệm cơm Xuân Thạnh cũng đi chơi chung, và có một người bạn mang kiếng cận con của chú phát thơ làm ở Bưu Điện thời đó, cũng có hai anh em bạn Túc con của nhà Mã Chính Yên ở phía Đông Hồ trước bến tàu đi Rạch Giá….Cuối năm học lớp Nhứt, phải chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất, năm đó đề ra về môn toán rất khó, còn đề môn Văn thì phải bình luận câu « Dùng hàng nội hóa là yêu nước »…Mình cũng làm xong bài về hai môn nầy nhưng kết quả ra là minh, Hào và Kiệt đều rớt hết, cả ba đều ở lại lớp Nhứt, chỉ có anh Trần Văn Dõng thi đậu lên lớp Đệ Thất , thế là sau cả quá trình học ở bậc Tiều Học, hai anh em đều học chung lớp nhưng khi lên bậc Trung học thì người học năm trước, người học năm sau..Năm đó mình ở lại và vào lớp Tiếp Liên của thầy Hà Phương Linh dạy, ngày xưa thầy Linh dạy rất nổi tiếng về lớp Tiếp Liên, tức là lớp chuyển tiếp từ bậc Tiểu Học lên bậc Trung Học, năm đó được thầy Linh luyện cho mình tất cả các loại toán về động tử (hai người khởi hành trước sau vài giờ, chạy cùng chiều hay ngược chiều rồi hỏi vào lúc nào hai người gặp nhau…), vòi nước chảy (có hai vòi nước chảy cùng lúc hay trước sau, lưu lượng chảy khác nhau, hỏi khi nào thì vòi nào chảy đầy bồn nước,..). Những loại toán nầy rất khó đối với các học sinh còn non mới lên lớp Nhứt nên rất khó làm được môn toán khi thi vào Đệ Thất…Còn hai anh em Hào và Kiệt thì gia đình cho lên Sài Gòn học trường Pháp La San Taberd, rồi sau đó nghe nói Hào và Kiệt có học thêm môn võ thuật Thái Cực Đạo và đạt được đến huyền đai….Từ đó thì bạn bè rất ít khi gặp nhau vì cả năm đều xa nhau theo niên khóa học, chỉ có dịp mỗi cuối năm thì những học sinh lên Sài Gòn học đều kéo trở về nhà Hà Tiên để ăn Tết cùng với gia đình, đó là lúc rất vui cho tất cả bạn bè quen biết, vì lúc gần Tết, mỗi người đều trông tin là bạn nầy đã về, bạn kia đã về nên bạn bè họp mặt lại rất vui. Mặc dù xa nhau khá lâu cả năm nhưng tình cảm bạn bè cũng còn duy trì tuy đã kém phần ngây thơ mặn nồng như lúc tuổi thơ, trong đời sống mỗi người đã có hướng đi riêng của mình…Cho đến một ngày nào đó mình lại hay tin Kiệt đã đi được đến bến bờ bình an còn bạn Hào thì không may mắn đã lìa xa vĩnh viển chúng ta…Rất thương nhớ bạn Lâm Tấn Hào, đó là một người bạn rất trầm và rất tốt trong tình giao lưu bạn bè…

Ngở rằng thời cuộc đã chia cắt tình bạn của những năm xưa thời Tiều Học, thế rồi sau một quyết định làm một chuyến đi Californie để họp mặt lại với bạn bè ngày xưa của Hà Tiên, mình đã được gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Kiệt cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nếu có thay đổi nhưng cũng không đủ để cho mình không nhận ra Kiệt, vì Kiệt vẫn còn giữ nét mặt thon gầy giống như kiểu gương mặt của mình,…Ngày nay Kiệt đã vui với cuộc sống hiện tại, quên đi những mất mát nhọc nhằn của thời khó khăn, bên cạnh Kiệt đã có một người vợ hiền Minh Nguyệt cùng chia sẻ vui buồn và những buổi văn nghệ hát hò, những chuyến đi du hành trên nhiều miền của đất nước Hoa Kỳ, mong rằng cái gia đình nhỏ bé đầy ấm cúng của Kiệt và bà xã sẽ luôn có đầy hạnh phút, đầy niềm vui trong văn nghệ ca hát và rong chơi…

Mình cũng nói thêm là Lâm Ánh Nguyệt, người em gái của hai bạn Hào và Kiệt cũng chính là bạn gái học chung lớp với mình ngay từ lớp Đệ Thất…Nguyệt rất hiền, ít nói và cũng rất chăm chỉ trong công việc học hành…Lâm Ánh Nguyệt cũng đã rời xa chúng ta về cỏi vĩnh hằng từ rất lâu rồi. Bây giờ xin giới thiệu với thầy cô và các bạn bài viết của cây bút Hồ Thị Kim Hoàn, một cây bút quen thuộc trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta, Kim Hoàn sẽ tiếp tục kể cho chúng ta nghe giai đoạn sinh hoạt với các bạn Hào, Kiệt trong thời gian đi học ở Sài Gòn những năm 70…    Paris, 28/10/2019, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

Anh Hào, Anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Đó là hai anh sinh đôi Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt mà tôi luôn xem như là anh trai của mình.

Ba tôi và bác Hai Bình (ba của hai anh) là bạn thân. Từ khi lên Trung Học tôi đã thích tung bay ra phương trời rộng, nên viện cớ muốn lên Sài Gòn học hè, sẵn có nhà bác Hai ở Sài Gòn, có các cô, chú đang trọ học, nên “đơn xin” của tôi dễ dàng được chấp thuận từ mọi phía.

Mùa hè luôn tuyệt vời đối với tôi, vì tôi được xa nhà, học thì ít mà chơi thì nhiều. Nơi căn nhà đó, các cô chú cũng đang là học sinh, sinh viên. Anh Hào, anh Kiệt lớn hơn tôi 4 tuổi, coi như anh. Thường thì năm nào cũng có tôi và Tô Vĩnh Tuấn là nhỏ nhất, nên rất được nuông chìu.

Tôi đã có biết bao kỷ niệm êm đềm, nhưng tôi chỉ xin nhắc tới anh Hào, anh Kiệt trong bài viết này.

Thuở nhỏ, niềm mơ ước của tôi là có anh trai. Tôi thấy bạn bè có anh thật sướng, được anh chỉ dẫn bài vở, được anh bảo bọc chở che, và anh đem bạn trai về nhà…   

Bên mấy anh hoài, ít được rong chơi nên cũng hơi chán. Thỉnh thoảng có chị Lâm Ánh Nguyệt là em gái của hai anh lên chơi khiến tôi vui hơn, có thêm tiết mục ăn hàng rong, đi bát phố… 

Một buổi tối tôi rủ chị Nguyệt vô quán cà phê ca nhạc. Mọi người trong quán nhìn hai đứa bé “vị thành niên”, khoảng 13, 14 tuổi, với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi cũng kêu cà phê uống và thả hồn theo những bài hát trữ tình đến nỗi quên thời gian.

Đường phố đã vắng tanh, bấy giờ hai chị em mới biết lo sợ. Quả như chị Nguyệt nói, anh Kiệt đã chờ sẵn trước cửa nhà, anh đi qua đi lại, vẻ nôn nóng lắm. Thế mà thấy mặt hai đứa em, anh chẳng mừng, còn la cho một trận:

– Có biết giờ này mấy giờ không? Con gái gì mới bây lớn vô quán nhạc uống cà phê là sao? Lần này thôi nhe, không có lần sau nghe hông!

Chị Nguyệt kéo tôi đi nhanh:

– Vô nhà mau em, ở đây ảnh đánh bây giờ!

Ảnh có đai đen Thái Cực Đạo, ảnh mà đánh, chắc… chết không kịp ngáp!

Úi chao, tôi nào biết có anh trai… dễ sợ như vậy chứ!

Khi tôi giã từ trường “Trung học Hà Tiên” để lên Sài Gòn học lớp 11 thì ba tôi đã mua một căn nhà nhỏ, tôi ở đó với hai anh, lúc ấy anh đã đi làm. Trong hai năm học liên tiếp, tôi muốn đi bộ đến trường nhưng anh không cho. Anh Hào đưa tôi đi học và anh Kiệt đón tôi tan trường về. Các bạn tôi thường trầm trồ:

– Mi sướng quá, anh tao đời nào chịu đưa rước tao.

Lúc đó tôi đã lớn, nên khi có dịp tiệc tùng nhà bạn, anh thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi là em gái. Bạn bè cứ tưởng chúng tôi là anh em ruột.

Tôi nhớ có lần anh Hào đưa tôi ra bến xe “xa cảng miền tây” để về Hà Tiên nghỉ hè sau kỳ thi. Anh lo cho tôi lên ngồi trên xe đò xong, tưởng anh đã về, nhưng tôi chợt nghe giọng anh nói với người ngồi ngoài sau tôi:

– Nhờ anh dùm ngó chừng em gái tôi nhé, nó đi xe hay bị ói, có gì xin anh giúp đỡ dùm.

Tôi thấy xúc động ngập tràn! Ôi, anh của tôi lo cho em gái thế này! Tôi trấn an anh:

– Em đi được mà, anh đừng lo. 

Anh quay bước, ánh mắt nhìn tôi vừa lo âu, vừa thương mến. Nói thế nhưng chuyến đi nào mà tôi không bị ói! Anh quân nhân ngồi sau cứ chồm lên thăm hỏi :

– Cô thế nào rồi? Có sao không? Tại anh cô kêu tôi… dòm ngó cô đó mà.

Trên xe, tôi thấy đa số là ông già bà cả, phụ nữ, con nít… mà anh lại chọn ông thanh niên… hùng mạnh này để gởi gắm em gái, anh hay thiệt!

Nhớ ngày sinh nhật thứ 16 của tôi, anh Hào đã đem về cho tôi một bức tượng thiếu nữ, đúc bằng thạch cao trắng:

– Anh thấy tượng này giống Hoàn quá!

Tôi ngơ ngẩn hỏi anh:

– Em đẹp được như vầy hay sao?

Chao ơi, chắc niềm thương mến trong lòng anh đã làm anh… hoa cả mắt! 

Cuộc họp nào cũng tới lúc phải chia tay. Rồi chúng tôi có gia đình riêng. Rồi tôi đến Mỹ năm 1978. Khoảng thời gian đó, anh Hào cũng vượt biển, nhưng anh không bao giờ đến bến bờ tự do. Tôi buồn lắm, tôi thương nhớ anh và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Giờ còn lại anh Kiệt. Có thời gian anh bệnh nặng, cô đơn, buồn bã. Anh hay gọi tôi và kể tôi nghe đủ chuyện, có khi tôi giật mình hỏi anh:

– Chuyện bí mật này có ai biết không?

– Không.

– Vậy sao anh nói với em?

– Vì em là người trong gia đình mà.

– Anh không sợ em nói cho người khác biết sao?

Anh cười vang:

– Bộ anh không hiểu tính của em hay sao chứ!

Được anh tin tưởng như vậy, tôi quả thật vui sướng!

Anh ở cách tôi một tiếng lái xe, khi có dịp là chúng tôi hẹn gặp nhau. Tôi cảm động vì anh chưa từng từ chối mỗi khi tôi ngỏ ý muốn gặp anh.

Càng ngày tôi càng thấy anh yêu đời, phong độ hơn, bởi anh đã có một người vợ tuyệt vời đi bên cạnh. Tôi mừng cho anh tôi và thầm cảm ơn chị Minh Nguyệt đã mang đến cho anh niềm tin yêu và hạnh phúc trong cuộc đời!

Californie, tháng 10, 2019 Hồ thị Kim Hoàn

Trái qua phải: Lâm Tấn Hào, Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Ánh Nguyệt và Lâm Tấn Kiệt . (Hình xưa: Hồ Thị Kim Hoàn)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Hồ Thị Kim Hoàn và Lâm Tấn Kiệt (hình hiện tại, Hồ Thị Kim Hoàn)

Lâm Tấn Kiệt và phu nhân Minh Nguyệt trong cuộc sống hiện tại ở nước Mỹ. (Hình: Hồ Thị Kim Hoàn)

Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)

*

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Còn nợ Thầy một lời hứa (Huỳnh Kim Nguyệt)

Còn nợ Thầy một lời hứa

Khi tôi biết có Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa» chủ bút là anh Trần Văn Mãnh, trong lòng tôi ấp ủ một ý định phải viết về một người Thầy đã dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên và cũng đã qua đời, đó là Thầy Nguyễn Văn Hùng.

Vào năm tôi học lớp 10 (niên khóa 1974-1975) Thầy dạy môn Toán. Thầy rất vui tính và giảng bài rất hay, rất dể hiểu. Khi giảng bài Thầy hay dùng từ « Nếu và chỉ nếu » (thí dụ như Thầy nói : « Nếu và chỉ nếu A+B =AB thì ta có…v…v.. ». Thầy rất cởi mở, vui vẻ …Khi chứng minh một bài toán hay là làm một chuyện gì đó, Thầy thường hỏi « Các em chịu chưa? », thì « đám » con gái trong lớp traả lời thật lớn: « Dạ em chịu Thầy », mà tiếng « chịu » kéo dài đến tận Mũi Cà Mau. Lúc đó Thầy đứng trên bục giảng chỉ cười trừ (thật là nhất quỷ, nhì ma thứ ba học trò, phải hông các bạn?!). Đến lúc tôi nghỉ học thì tôi đã được học với Thầy một năm rưởi rồi, khi gặp Thầy vẫn chào hỏi cung kính. Đến đầu năm 1982 tôi được Thầy kêu đến họp mặt bạn cùng lớp tại văn phòng trường vào buổi tối, vì có các bạn học ở xa về thăm trường, các bạn tôi lúc nầy có bạn đã là Nhà Giáo, Dược Sĩ, Nha Sĩ, Y Sĩ, có bạn là công nhân viên chức, còn tôi là kế toán của một ngành kinh doanh. Buổi họp mặt rất vui, Thầy kể đủ thứ chuyện, đó là buổi họp mặt đầu tiên của lớp 10B. Rồi đến năm 1983 tôi lảnh nhiệm vụ phụ trách một ngành, lúc đó đi hội họp thương xuyên và gặp Thầy nhiều hơn (Thầy giờ là Trưởng Phòng Giáo Dục). Mặc dù là Thầy trò nhưng là Trưởng Ban ngành với nhau nên lúc nầy tôi mới có dịp nói chuyện với Thầy nhiều hơn. Thầy thường kể chuyện cho tôi nghe và Thầy cũng tâm sự về người yêu của Thầy (vì người yêu của Thầy là bạn của tôi ). Đến năm 1984 tôi đang học Đại Học tại chức ở Rạch Giá, Thầy đi họp ở Sở Giáo Dục, Thầy trò có dịp gặp lại nhau. Thầy buồn buồn kể là Thầy và người yêu có chút chuyện nên đã chia tay (nhưng tôi đã biết nguyên nhân sự chia tay vì người yêu của Thầy đã kể cho tôi nghe rồi), tôi không nói gì chỉ an ủi và chia sẻ nỗi buồn cùng Thầy. Thầy trò ngồi buồn hiu ! Rồi bổng nhiên Thầy chuyển đề tài, Thầy hỏi tôi : « Em hay gì hông ? » Tôi cũng ngạc nhiên hỏi : » Gì hả Thầy? « …..Lúc đó thì Thầy trở lại là Ông Thầy vui tính mà tôi từng biết ngày xưa, Thầy nói:  » Trong lớp học, tổ thảo luận của em có người để ý em, nhờ làm mai hỏi cưới em đó! ». Thầy nói và Thầy cười « chọc quê » tôi quá trời luôn. Vì trong tổ thảo luận có 5 nữ, 4 cô chưa chồng mà không chọn, mà lại chọn nhầm tôi đứa đã có chồng có con mà hỏi cưới! Là vì tôi đã lập gia đình rồi, bởi vậy Thầy mới cười và « chọc quê » tôi là vậy đấy!

Thầy Nguyễn Văn Hùng cùng các em học trò (Từ trái qua phải : Trương Ngọc Nữ, Lương, Nguyễn Yến Hương và Lâm Mỹ Tiên)

Đến năm 1985, nhà Ba tôi có ghe cào và Ba tôi « vượt biển » …Tôi bị kỷ luật lây (vì đi vượt biên là không yêu nước), tôi đang học khóa Đại Học thì bị cho nghỉ học luôn, buồn !!!

Thời gian nầy Thầy hay nói chuyện với tôi nhiều hơn, tôi nhớ có một kỳ họp rất đông ở hội trường, đang họp thì trời đổ cơn mưa, tôi lơ đểnh nhìn ngoài trời mưa và Thầy đã nhìn thấy. Đến giờ giải lao Thầy lại ngồi chung bàn với tôi, Thầy hỏi: «Sao buồn vậy, đừng thèm buồn em!» Lúc đó tôi mới nói với Thầy: «Thầy xem em có được học như các bạn đâu, em toàn là học khóa ngắn hạn nghiệp vụ thôi, mà giờ còn bị cho nghỉ học». Thầy ân cần khuyên tôi: « Học ở trường đâu bằng học ở ngoài đời, những gì em va chạm với đời em sẽ linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh thực tế hay hơn, hiện giờ em rất giỏi mà ». Tôi có giỏi gì đâu! Thầy chỉ động viên cô học trò ngày xưa mà thôi, tôi biết vậy nên cười cho Thầy vui. Đến khi Thầy lập gia đình, rồi Thầy giả từ Hà Tiên về quê Thầy……

Từ đó, thỉnh thoảng tôi gặp lại Thầy vài lần ở Sài Gòn. Đến năm 1993 tôi đi Sài Gòn để khám bệnh, rồi tình cờ gặp Thầy, Thầy trò vào quán càfê nói chuyện rất lâu. Nhà Thầy ở bên Thủ Thiêm, đến lúc chia tay Thầy kêu tôi phải đến nhà Thầy, rồi Thầy dặn đi dặn lại… «Em nhớ đến nhà nghe » và tôi đã hứa với Thầy là tôi sẽ đến …!. Nhưng Thầy đâu có biết, ngày gặp Thầy nói chuyện với Thầy đó, là ngày mai tôi phải nhập viện để chờ mổ ! Tôi dấu chuyện nầy với Thầy, tôi đâu dám nói là tôi đang bệnh, tôi sợ Thầy lo và sợ làm phiền Thầy đến bệnh viện để thăm tôi. Thầy đâu có biết người ta nằm viện 7 – 10 ngày là xong về nhà, còn tôi phải kéo dài nằm viện gần cả tháng trời, sức khỏe yếu khi ra viện tôi phải về quê tịnh dưởng, nên tôi mãi nợ Thầy một lời đã hứa… !

Học trò đến thăm thầy Nguyễn Văn Hùng, phía sau là phu nhân của thầy Hùng. (Củ Chi)

Thầy Nguyễn Văn Hùng

Rồi khi ở fb kết nối với các bạn và người đồng hương…tôi mới biết Thầy đã ra đi vĩnh viễn rồi … !!! Đối với Thầy tôi không phải là người vô tâm đâu, vì cuộc sống của tôi có quá nhiều biến cố và cuộc đời tôi có quá nhiều bước thăng trầm nên tôi không đến nhà Thầy được như đã hứa. Hôm nay cũng gần tới ngày Tri Ân Thầy Cô rồi, tôi viết về người Thầy yêu quý luôn động viên tôi trên bước đường đời khi tôi vấp ngã…để bây giờ biết tin Thầy đã mất, tôi không còn cơ hội gặp Thầy. Nơi cõi vĩnh hằng đó, tôi biết Thầy tha thứ cho tôi vì Thầy luôn là vậy cơ mà! Giờ đây tôi viết những dòng chữ nầy cho Thầy, tôi mới vơi đi nỗi ray rức trong lòng và tôi xin gởi bài viết vào Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa», để mãi nhớ về người Thầy đã từng dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên, nơi quê hương Hà Tiên mến yêu …!

Thưa Thầy ! Thầy có rất nhiều học trò của Thầy ở Hà Tiên nầy đó Thầy à! Chúng em luôn kính nhớ về Thầy !!!

Huỳnh Kim Nguyệt (tháng 11/2017)

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: Huỳnh Kim Nguyệt tuổi học trò.

Hình phải: Huỳnh Kim Nguyệt tuổi vào đời làm việc.

Hình ảnh: Huỳnh Kim Nguyệt, Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Yến Hương, Hàng Phụng Linh

 

 

 

 

Học trò Hà Tiên thăm Cô Hà Thị Hồng Loan nhân ngày 20/11/2016

Thầy Cô và các bạn thân mến, thật là vui và cảm động sau khi có được tin tức và địa chỉ chổ ở của Cô Hà Thị Hồng Loan, một nhóm bạn học của Trung Học Hà Tiên xưa gồm có: Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào đã không ngại đường xá xa xôi, có bạn từ tận đất quê hương Hà Tiên lặn lội đi xe đò lên Sài Gòn, hẹn gặp nhau và lại chạy xe Honda lên vùng Hóc Môn theo đúng địa chỉ đã có để thăm Cô cho đúng ngay ngày « Tri Ân Thầy Cô Giáo 20/11 »,…Theo lời bạn Phước Dương kể lại, Cô rất vui và cảm động, Cô ôm từng đứa học trò xưa và rưng rưng nước mắt,..Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, mình xin gởi lời cám ơn tất cả các bạn đã có lòng nghĩ đến người Cô yêu thương ngày xưa đã từng giãng dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, đó cũng là một chút gì an ủi và đem lại niềm tin lớn lao cho những người theo ngành nhà giáo, còn tin rằng có rất nhiều những người học trò luôn biết và nhớ đến công ơn của Thầy Cô giáo dạy mình,..Thât là cao quý cho nghiã cử của các bạn.

Riêng bạn Lê Phước Dương thì có nhắc lại một kỹ niệm ngày xưa trong giờ Cô Hà Thị Hồng Loan giãng dạy môn Văn như sau: « Ngày xưa lúc năm Đệ thất mình học Giảng văn với Cô. Vào một buổi chiều lúc Cô đang giảng một đoạn trong Bích Câu Kỳ Ngộ… giọng Cô trong trẻo , nhưng không lớn … cả lớp ồn ào Cô ráng sức nói lớn cho cả lớp cùng nghe … mặt Cô đỏ lên, 2 cộng gân cổ Cô nổi lên…. Cô bắt đầu giận lên và rồi Cô ngừng giảng, rồi Cô bước xuống chổ 2 tên học trò ngổ ngáo đang giỡn môt tay Cô nắm lổ tai Le Phước Dương một tay Cô nắm lổ tai Trương kỳ Huỳnh kéo ra cửa lớp rồi Cô nói :
– Hai em đi chơi cho đến hết giờ Cô dạy đi rồi vào học tiếp…
Mình và Huỳnh, 2 thằng ra vườn dừa bà Năm bắn cu li cho đến hết giờ của cô.
Vậy đó , mà Cô không cho điểm xấu vào sổ vào học bạ…
Hôm nay em nhắc lại chuyện xưa để gửi đến Cô:
Cô ơi , cho em xin lỗi của em ngày xưa Cô nhé..

hathihongloan_7Cô Hà Thị Hông Loan ngày xưa của Trường Trung Học Hà Tiên (60-70)

hathihongloan_20_11-12bHình nầy lúc Cô Hà Thị Hồng Loan đi du lịch Đà lạt (năm 69 tuổi)

hathihongloan_20_11-5Cô Hà Thị Hồng Loan tại tư gia Hóc Môn (Sài Gòn) ngày nay (75 tuổi).

hathihongloan_20_11-9Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Lê Phước Dương (từ Hà Tiên lên thăm Cô)

hathihongloan_20_11-8Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Trần Tuấn Kiệt

hathihongloan_20_11-1Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Trần Tuấn Kiệt

hathihongloan_20_11-7Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Lâm Thị Lan

hathihongloan_20_11-4Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Trương Thanh Hào (Tùa Hia trong nhóm học trò..)

hathihongloan_20_11-6Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Trương Thanh Hào và Lâm Thị Lan (thấy hình như có giỏ quà có bông hoa trên bàn…)

hathihongloan_20_11-2Cô Hà Thị Hồng Loan và học trò Trương Thanh Hào

hathihongloan_20_11-3Ngôi nhà nhỏ khang trang nơi Cô Hà Thị Hồng Loan sinh sống (Hóc Môn – Sài Gòn)

hathihongloan_20_11-10

Video do bạn Lê Phước Dương cung cấp.

Cũng xin thông báo thêm là các học trò còn ở tại Hà Tiên cũng không quên ơn Thầy Cô ngày xưa, các bạn Trần Hoàng Trang, Trần Văn Phi, Lâm Xuân Lý…cũng đã đến thăm Thầy Nguyễn Văn Nén còn ở tại Hà Tiên, bạn Hoàng Trang đã cung cấp hình ảnh ngày vui đó như sau:

nguyenvannen_20_11-1 nguyenvannen_20_11-4nguyenvannen_20_11-2nguyenvannen_20_11-3 Các bạn học trò xưa Trung Học Hà Tiên thăm và chúc mừng Thầy Nguyễn Văn Nén nhân ngày 20/11/2016

Bổ túc tin tức: Nhân dịp Tết Đinh Dậu, học trò Hà Tiên có đến nhà Cô Hà Thị Hồng Loan để chúc Tết, khi ra về các bạn còn được Cô lì xì cho mỗi người một phong bì đỏ…

tham_co_hthloan_1 tham_co_hthloan_2

Jpeg

Jpeg

Trần Thị Phương Nhu, Lâm Thị Lan và Trương Thanh Hào đến thăm và chúc Tết cô Hà Thị Hồng Loan

Hình ảnh: Hình ảnh đều do các bạn Lê Phước Dương, Trương Thanh Hào, Trần Tuấn Kiệt, Lâm Thị Lan, Trần Hoàng Trang độc quyền cung cấp, xin cám ơn các bạn rất nhiều.