Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Cô Dương Hồng Châu

Thầy cô và các bạn thân mến, khi còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên các bạn đã có học qua với rất nhiều thầy cô đáng kính yêu, quý thầy cô đã tận tâm vỡ lòng cho chúng ta khi vào lớp năm (xưa còn gọi là lớp chót, bây giờ gọi là lớp một), rồi theo những năm tháng trôi qua, các bạn và mình tuần tự leo lên từng lớp một: lớp tư, lớp ba,…lớp nhì, lớp nhất…Lại lo học tập ráo riết để chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất để được vô trường Trung Học Hà Tiên phía bên kia đường Mạc Tử Hoàng,…Dù cho có thi không thành công, lại còn được đưa vào lớp « Tiếp Liên », một lớp rất đăc biệt do thầy Hà Phương Linh đảm trách để dợt toán cho nhuần nhuyển và lo thi lại năm sau để theo kịp các bạn đã đi vào bậc Trung Học trước mình…

Các bạn đã ghi nhớ tên từng thầy, từng cô, những thầy cô kính mến đã theo các bạn từng năm tháng dài trong thời gian học bậc Tiểu Học…Trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta ở đây đã có nhiều bạn viết bài ghi nhớ hình ảnh và công lao của quý thầy cô bậc Tiểu Học: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Cô Nguyễn Ngọc Mai..v..v…Còn rất nhiều thầy cô mà chúng ta phải có bổn phận viết bài để ca tụng và ghi nhớ, mình không ngừng mong mỏi một ngày nào đó, các bạn sẽ tiếp tục gởi bài viết về quý thầy cô để mục ghi nhớ công ơn thầy cô của chúng ta ngày càng phong phú…May mắn thay, có một người cô giáo rất quen thuộc với chúng ta, một nhà giáo cũng như đa số quý thầy cô của chúng ta ngày xưa, quê quán gốc gác ngay tại Hà Tiên….Nói quê quán hay gốc gác ngay tại Hà Tiên không phải nói quá đáng, vì nếu như một số quý thầy cô dạy chúng ta không phải là người sanh ra tại Hà Tiên thì cũng có rất nhiều liên hệ rất mật thiết với mảnh đất Hà Tiên….Người thì có phu quân là người Hà Tiên, người thì có phu nhân ở Hà Tiên, người thì có quê ngoại, quê nội tại Hà Tiên,…Chính vì những liên hệ như vậy, các liên hệ đó đã níu giữ quý thầy cô ở lại đất Hà Tiên của chúng ta và quý thầy cô đã chọn nơi nầy làm quê hương cho ngàn đời… 

Hôm nay như đã viết phía trên, có một người cô giáo rất quen thuộc với đại đa số học sinh Hà Tiên chúng ta, cô đã không ngần ngại nhận lời viết bài đóng góp cho Blog của chúng ta, xin thay mặt tất cả cây bút của Blog, các đọc giả, được gởi lời cám ơn đến cô và cũng như tên của cô đã được nêu lên trên tựa bài, xin được giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài viết về cô giáo Dương Hồng Châu, cô giáo mà riêng mình thay vì gọi bằng « cô » thì mình cũng được hân hạnh và vinh dự gọi bằng « chị », vì mình xem chị Châu như một người chị đáng quý mến, nếu là bạn học cùng trường của em thì mình xem chị của bạn cũng là chị của mình là hợp lý rồi, phải không thầy cô và các bạn…!!

Nhà cô Dương Hồng Châu ở ngay góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo (Hà Tiên)…Con đường Lam Sơn là con đường rất quen thuộc với mình, vì mình rất thường đi dạo trên con đường nầy mỗi buổi chiều sau khi cơm nước ở nhà xong, thường là đi đến nhà các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài,….để gặp gở cùng dạo chơi buổi tối hay chơi đàn ca nhạc với các bạn…

Ngày xưa mình cũng có nhiều dịp đến nhà cô Dương Hồng Châu, lúc thì cùng dợt nhạc với chị Đào, lúc thì viếng thăm chị Nguyệt hay Hồng Minh, em út của gia đình…Mỗi lần đến như vậy má của cô Châu, cũng là một cô giáo đáng kính của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, thường tiếp đải mình rất tốt, mình rất cảm kích tấm lòng của má của cô Châu. Nhớ có lần biết cô Châu là người yêu thích thơ văn, mình cũng có cho cô Châu xem tập thơ viết tay của mình hồi xưa (hồi xưa mình cũng có viết văn làm thơ lai rai, không biết có hay không nhưng cũng để diễn tả những tình cảm sơ khai thời học sinh)…xem tập thơ của mình cô Châu không có nói gì về nội dung thơ nhưng có khen là tập thơ trình bày rất đẹp…(vì trên mỗi đầu bài thơ mình hay vẻ cảnh nhà quê với những cây dừa, sông núi và ánh trằng….)

Cô Dương Hồng Châu có một hành trình học vấn rất phong phú (tiếp theo sau lời giới thiệu nầy thầy cô và các bạn sẽ đọc bài tự thuật của cô và sẽ thấy rỏ…,) ở đây mình xin nói vắn tắt là cô Châu đã từng theo học trường Nữ Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn ngày xưa, đó là trường Nữ Trung Học Gia Long, sau đó cô đi vào ngành Giáo Dục mà theo lời cô kể cũng do một sự tình cờ…Mình nhớ rất rỏ ngày xưa cô Châu thường chạy xe đạp song song trên các đường phố Hà Tiên với người cô giáo rất quen thuộc với mình, đó là cô Hà Thị Hồng Loan, thật vậy cô Hồng Châu và cô Hồng Loan là hai người bạn rất thân..

Ngày tháng trôi qua, một vài thế hệ học trò của Hà Tiên đã xuất thân ra đời, trong đó có mình,…Thời chinh chiến ngày xưa, người thì vì thi hỏng nên vào lính (như vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã viết: « Ta hỏng tú tài…Ta hụt tình yêu…Thi hỏng mất rồi…Ta đợi ngày đi… » !!), người thì còn bon chen trên con đường học vấn, người thì ra đời tiếp tục như quý thầy cô của mình, yêu và chọn nghề dạy học…Trong khi đó, như cô Dương Hồng Châu viết, cô vẫn còn giữ trường giữ lớp, từ ngôi vị nhà giáo, cô tiếp tục đảm nhiệm vai trò người Hiệu Phó, rồi Hiệu Trưởng,…Sự nghiệp của cô tiếp tục và cũng vẫn gắn liền với ngôi trường Tiểu Học thân yêu của chúng ta ngày xưa…Có thể nói cô Dương Hồng Châu, cũng như đa số quý thầy cô khác ở Hà Tiên, là một trong những người chiến sĩ dùng viên phấn, cây bút để giữ vững thành trì giáo dục và văn hóa của miền đát Hà Tiên, miền đất vốn đã có một truyền thống lâu đời về văn chương, nghệ thuật…Xin mời thầy cô và các bạn, có thể là đã biết ít nhiều về thân thế sự nghiệp của cô Dương Hồng Châu, vì cô là một trong những gương mặt rất quen thuộc của trường Tiểu Học Hà Tiên, nhưng hãy đọc tiếp bài tự thuật dưới đây mà cô đã có nhã ý viết đóng góp cho chúng ta được dịp tìm hiểu thêm quá trình tiến thân của một nhà giáo đã từng được xem như là nhà giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang… (Paris, 22/01/2019, TVM viết lời giới thiệu)

CÔ DƯƠNG HỒNG CHÂU

Cô Dương Hồng Châu, hình ảnh lúc học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn năm 1965 và lúc học trường Sư Phạm Vĩnh Long (1965-1967)

Vài dòng tâm sự

Viết về bản thân là một điều rất khó khăn đối với mình. Có lẽ mình sinh ra trên cõi đời dưới một ngôi sao xấu ! Mình đang theo học lớp 3 tại Trường Tiểu Học Tôn Thọ Tường (ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn) thì ba mình mất ! Quê nội mình ở Cái Bè (Tiền Giang). Cả gia đình mình gồm 5 mẹ con (một mẹ và 4 chị em gái), đứa lớn nhất 7 tuổi và đứa bé nhất 5 tháng được ông ngoại và một người chị họ (chị bạn dì) « hộ tống » đưa về quê ngoại ở Hà Tiên. Từ Sài Gòn – Rạch Giá thì đi bằng xe đò và đi ghe bầu Rạch Giá – Hà Tiên theo đường biển. Mình còn nhớ tên ghe là Hòa Phát. Năm 1954, lúc đó chưa có đường bộ Rạch Giá-Hà Tiên. Trên đường về quê ngoại, chẳng may ghe gặp phải cơn bão giữa biển khơi ! Thật là một chuyến đi sinh tử và ghe phải núp vào hòn Tre Kiên Hải hai ngày. Sau cùng thì cũng về được đến quê nhà !

Mẹ mình tiếp tục đi dạy học như lúc hồi còn con gái. Mình thì vào học lớp 4 tại Trường Tiểu Học Thái Lập Thành Hà Tiên. Sau đó lại tiếp tục học Trường Trung Học Hà Tiên và đến năm 1962 thì lại về nội trú trường Nữ Trung Học Gia Long Sài Gòn. Vì nhà xa, xa quê hương, xa gia đình và yêu thích môn Văn nên làm vài bài thơ cho…vui cửa vui nhà ! Những bài thơ nầy đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Kế tiếp mình đưa chị bạn từ Sài Gòn xuống Trường Sư Phạm Vĩnh Long thi. Chị bạn viết đơn và giả chữ ký của mình. Xuống đến Vĩnh Long mình mới vỡ lẽ vì có phiếu báo danh. Thi chơi mà đậu thiệt, bỏ thì uổng !

Các nam sinh của Đại Học Cần Thơ qua đây thi đông lắm vì nếu thi đậu thì họ được hoãn dịch 2 năm !

Năm 1967 ra trường – là giáo học bổ túc – được về quê nhà dạy học cùng trường với mẹ mình, ngôi trường mà mình đã theo học khi còn nhỏ ! Mình theo nghề dạy học là như thế đó !

Năm học 1978-1979, trong khi chiến tranh biên giới Tây Nam tiếp diễn, mình được bổ nhiệm lên Hiệu Phó và theo học 1 năm tại Trường Bồi Dưỡng Cán Bộ quản lý giáo dục tỉnh Kiên Giang trong khi cả gia đình đang tản cư ở Sài Gòn.

Chiến tranh đi qua, năm 1981 mình về Hà Tiên làm Hiệu Phó chuyên môn cấp 1 của Trường PTCS Thị Trấn Hà Tiên (nay là Trường Tiểu Học Đông Hồ) và đưa nhà trường đi lên là lá cờ đầu của ngành Giáo Dục tỉnh Kiên Giang vào năm 1982. Đến năm 1990, mình được Hội Đồng Nhà Nước (nay là Chánh Phủ) phong tặng danh hiệu Nhà Giáo ưu tú và cũng là Nhà Giáo ưu tú đầu tiên của tỉnh Kiên Giang. Sau đó mình được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng. Công việc quá bận rộn nên không có thì giờ để viết văn làm thơ. Nói các bạn đừng cười nha, viết văn làm thơ còn dễ hơn làm Hiệu Trưởng !!

Mãi 16 năm nghỉ hưu trôi qua, quỹ thời gian còn quá ít, bây giờ mình đã 75 tuổi rồi ! Hơn nữa vì nhàn nhã ở không nên đầu óc chậm phát triển, mình lại thấy tiếc thời gian êm ả cứ trôi dần qua theo qui luật tuần hoàn của thiên nhiên nên lại cầm cây viết trên tay, mong các bạn bỏ qua cho nếu có chi lầm lỗi.

Các tác phẩm đã in:

  • Hoa gạo ven sông (2018)
  • Thương nhớ quê nhà (2018)
  • 12 tháng tôi yêu (Thơ – 2018)
  • Quê hương (Thơ – 2018)
  • Mùa xuân gọi (Thơ – 2019)

Chúc các bạn nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống !!

Tác giả Dương Hồng Châu (Hà Tiên 20/01/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Lý Mũi Liềm (em chị Lắc), Cẩm Vân, Tiên, Lâm Mỹ Dung (chị thầy Quyền), thầy Võ Thành Tường, Nguyễn Thị Xuân Lan, Túy Tâm, Dương Hồng Châu, Hồ Thu Hà (con ông Thanh tra Hồ Văn Chiếu)
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên, trái sang phải: Tiên, Dương Hồng Châu, Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Lý Mũi Liềm
Nữ sinh Trung Học Hà Tiên chụp hình với Thầy Võ Thành Tường (Pháp văn): Từ trái sáng phải: Cẩm Vân, Lâm Mỹ Dung, Dương Hồng Châu, Lý Mũi Liềm, Tiên, Thầy Võ Thành Tường (ngồi)

Cô Dương Hồng Châu nhân ngày nhà giáo 20/11.

Cô Dương Hồng Châu vẫn còn giữ nét mặt quen thuộc ngày xưa dù thời gian có trôi nhanh…

Hình ảnh: Cô Dương Hồng Châu