Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Thầy Hiệu Trưởng (Trương Thị Uyên My)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu ta lập một bảng liệt kê các thành tích và thể loại của môn « phá thầy cô » do các vị được xếp hạng thứ ba sau Quỷ và Ma thực hiện thì chắc không đủ giấy để kể ra hết…và nếu chỉ tính các thành tích do học trò trường Trung Học Hà Tiên thôi thì cũng đã khá dài  rồi…nào là rải « mắt mèo » trên ghế chổ thầy ngồi cho thầy bị ngứa, nào là « giận thầy » nên không chịu vào học giờ thầy phải để cho nhà trường đem việc lên tới ông Quận Trưởng để giải quyết,…., nào là chờ buổi tối thầy đi xuống « Nhà mát » đọc sách thì học trò rình phía trên đường liệng đá xuống sông cho nước văng lên nhát ma thầy,…, nào là kêu gọi tên thầy đang dạy học trên lớp phía bên kia đường để trêu ghẹo…thật là rất có tinh thần sáng tạo về các thể loại « phá thầy cô »….Các đàn anh đàn chị đã thế, thế hệ đàn em đi sau cũng không chịu thua kém,… Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta hôm nay được hân hạnh đăng thêm một bài do cây bút quen thuộc Trương Thị Uyên My đóng góp. Qua bài viết ta thấy cường độ « phá thầy cô » ngày càng nâng cao…Có một điều mà các đàn em tuy đi sau nhưng lại rất cao tay ở chổ là phá thầy cô như thế nào mà không ai khám phá ra được tác giả,…như vậy không có chuyện bị nhà trường phạt hay khuyến cáo gì cả…Vả lại nếu thầy cô nào qua một vụ « phiền hà » như thế mà không biết em nào hành động vi phạm kỷ luật thì cũng đành phải chịu « nín » luôn, nói ra cả trường, cả lớp biết thì cũng không giải quyết được….Tác giả kể lại khung cảnh trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên (trường tại đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên) của chúng ta qua một bối cảnh thời chiến tranh biên giới, học sinh vừa học vừa phải đào hầm hố tự phòng thủ bảo vệ…Rồi lại có cái môn « Lao Động », một môn rất thịnh hành vào thời kỳ ngay những năm sau 1975…Ngoài giờ học lý thuyết, học sinh được khuyến khích tham gia lao động…Lao động thời đó có nhiều hình thức, đào mương, đào đất, trồng lúa, gặt lúa,…Uyên My cũng như tất cả các bạn học sinh trường phổ thông Trung Học Hà Tiên vào thời đó, đã hăng hái tham gia phong trào và đã trải qua một kinh nghiệm lý thú tuy cũng có những nỗi nhọc nhằn trong sinh hoạt di chuyển, ăn uống hằng ngày trong thời gian đi lao động như vậy…Thế rồi học thì cứ học, làm lao động thì cứ làm nhưng các vị học sinh của chúng ta cũng không bao giờ quên được cái thú « phá thầy phá cô »…!! Câu chuyện phá thầy như thế nào mời thầy cô và các bạn đọc bài viết dưới đây để biết nhé,…(TVM 07/2018)

Thầy Hiệu Trưởng

Năm 1977, tình hình ven biên các tỉnh của Việt Nam giáp đường biên giới với Campuchia bắt đầu căng thẳng, ở Hà Tiên các lớp nhỏ thuộc trường Tiểu học (cấp I – lớp 1 đến lớp 5), Trung học cơ sở (cấp II – lớp 6 đến lớp 9) đã được di tản về Thuận Yên, Hòn Heo… các thầy cô giáo cũng sơ tán theo trường. Trường Phổ thông trung học (cấp III – lớp 10 đến lớp 12) không di tản, học sinh được thông báo sẽ học tập ở các phòng mượn tạm của trường tiểu học cũ. Trường cấp III lúc đó chỉ còn ba lớp 10 – 11 – 12 với sĩ số thấp, lớp 10 của tôi năm đó gồm các bạn từ Kiên Lương lên, dồn cả khối Pháp văn, Anh văn (từ lớp 9P & 9A) vào học chung cũng chưa đến 30 người, giờ sinh ngữ tách ra học riêng. Lớp 12 còn ít hơn, chỉ trên mười người. Vì sĩ số mỗi lớp ít, trường lại chỉ có ba lớp, hầu hết là người địa phương nên học sinh các lớp đều quen biết nhau cả. Đi học vào thời chiến có khác, ngoài giờ học chúng tôi phải đào hào trước cửa lớp học và làm hầm chống đạn bằng bao cát trong sân trường. Không lo lắng nghe ngóng tình hình chiến sự như người lớn, chúng tôi thoải mái vừa làm vừa chơi, móc sình bùn ném tung tóe khắp nơi rồi chọc phá trây trét vào nhau, kêu la chí chóe ỏm tỏi, vui quá xá. Chiếc hầm rồi cũng hoàn thành, chỉ có chất lượng và khả năng chống đạn của nó chưa được kiểm chứng. Quá may mắn là chúng tôi không có dịp sử dụng sản phẩm này!
Năm đó thầy Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Phổ thông Trung học Hà Tiên.
Thầy người miền Bắc Trung bộ, dáng cao nho nhã, thường mặc áo kaki màu vàng có nhiều túi.
Mỗi sáng thứ hai đầu tuần sau buổi chào cờ chúng tôi thường có buổi sinh hoạt chung, thầy hiệu trưởng sẽ có những nhắn nhủ, trao đổi với học sinh về kết quả hoạt động của toàn trường trong tuần trước, thông báo kế hoạch cho tuần sau, nhắc nhở học sinh nỗ lực học tập… Thầy cũng tham gia giảng dạy nhưng chỉ dạy môn chính trị. Vào giờ của thầy, học sinh cả ba lớp tập trung vào lớp 10 để học chung. Không biết các anh chị lớp 11 & 12 thế nào, riêng lớp 10 chúng tôi rất ngao ngán môn học khô khan chẳng có gì hấp dẫn này, chúng tôi thường hỏi nhau: “Học chính trị làm chi ha? Nó có ích lợi gì trong cuộc sống?”. Tuy vậy, theo thời khóa biểu đến môn chính trị chúng tôi vẫn vào học nghiêm chỉnh, dù rất ngán ngẩm.
Như một qui luật bất biến, khi học trò không thích môn học nào sẽ kéo theo hệ lụy là nó chán luôn ông thầy dạy môn đó. Mọi việc không có gì đáng nói cho đến một sáng thứ hai, như thường lệ tất cả học sinh vào phòng học của lớp 10 chào cờ và nghe thầy hiệu trưởng trao đổi nội dung sinh hoạt của cả trường trong tuần. Thầy bắt nhịp bài Quốc ca cho học sinh hát theo, dù không hẹn trước mà hôm đó chúng tôi hát được khoảng ba câu đã tắt tịt, tiếp theo là bầu không khí im lặng, im phăng phắc đến nghe được cả tiếng ruồi bay. Mặt thầy đỏ bừng giận dữ.
Dĩ nhiên là chúng tôi mất cả buổi sáng nghe thầy giáo huấn. Trong không gian nặng nề tiếng thầy vang lên sang sảng về trách nhiệm, về vai trò của thanh niên đối với tiền nhân và hậu thế, về những anh hùng liệt nữ đã nằm xuống vì bảo vệ màu cờ, bảo vệ Tổ quốc, về bài Quốc ca là biểu tượng tinh thần bất khuất của cả dân tôc, về việc không ai có thể chấp nhận học sinh cấp III không thuộc Quốc ca (thầy thừa biết chúng nó không thèm hát, làm gì có chuyện cả trường không thuộc Quốc ca). Bài thuyết giảng nghe đau đầu buốt óc, vậy mà khi thầy vừa xách cặp về văn phòng thì đám học trò quay ra tủm tỉm cười với nhau. Lớp 10 mừng rỡ ồn ào như vỡ chợ, đám Bùi Kiệm oang oang: “Ờ, việc gì cũng có cái giá của nó nha, chịu khó nghe thầy hiệu trưởng mắng mỏ mới thoát được 2 tiết toán chớ, toán cũng hắc ám chẳng kém gì môn chính trị mà.”
Tháng 10, lúa chín vàng đồng.
Với mục đích cho học sinh làm quen với lao động và cuộc sống đồng ruộng ở nông thôn, trường Trung học Hà Tiên tổ chức cho tất cả học sinh về Vĩnh Điều (xã Phú Mỹ) gặt lúa cho nông trường. Thời đó chưa có đường nhựa thông thoáng như bây giờ, từ Hà Tiên về Vĩnh Điều chúng tôi đi bằng ghe nhỏ (vỏ vọt loại lớn), sau đó xuống đi bộ theo bờ kênh vào nông trường. Chưa bao giờ chúng tôi được trường cho đi xa như vậy. Lớp 10 đông nhất nên cùng đi trên một ghe, lớp 11 & 12 đi trên ghe thứ hai. Chúng tôi hát hò, gọi nhau í ới. Thật vui.
(Bây giờ nghĩ lại thấy dễ sợ quá, tất cả thầy cô và học sinh đi trên ba chiếc vỏ vọt mong manh mà chẳng hề có chiếc áo phao nào).

Vị trí các xã Thuận Yên, xã Phú Mỹ, Vĩnh Điều so với thị xă Hà Tiên

Kênh Hà Giang, đoạn chảy qua xã Phú Mỹ thuộc huyện Giang Thành. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên

Trên đường vào nông trường, đang mò mẫm men theo bờ ruộng dọc con kênh chúng tôi bị một cơn mưa rào làm tất cả ướt loi ngoi. Bờ đất nhỏ, trơn trợt, chúng tôi đi hàng một bám lưng nhau để không bị té, vậy mà thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng “uỵch, uỵch” và những tiếng cười dòn dã rộn lên. Trong lúc bất cẩn tôi ngã trượt luôn xuống con kênh, không biết bơi nên ngay lúc đó tôi đã nghĩ “Mình chết chắc”. Tôi cảm nhận được khoảng trống ghê rợn bên dưới, chân tôi không chạm vào bất cứ vật gì để có thể bám vào, nước xộc vào mặt mũi, chung quanh tối sầm… Chợt mọi vật sáng bừng lên, có ai đó lôi tôi ra khỏi dòng kênh. Sau phút sặc sụa vì ngộp nước tôi hoàn hồn nhìn lên mới biết bạn Lâm Thanh Phong đi ngay sau lưng, thấy tôi rớt xuống kênh đã kịp lao theo nắm lấy mớ tóc còn bồng bềnh trong nước kéo lên.
(Bạn Lâm Thanh Phong là cháu gọi cô Lâm Xuân Cúc, Lâm Xuân Lý bằng cô, nhà đối diện với tiệm Đồng Xương)
Ơn trời! Nhờ mái tóc dài ngang lưng nên tôi còn sống đến giờ, nếu tóc ngắn thì … ôi thôi, hẳn tôi đã thành con ma chết trôi từ dạo ấy! Hú hồn.
Đến nông trường, chúng tôi được phân xuống 2 dãy nhà, nam riêng nữ riêng, mỗi lớp cử người sung vào đội nhà bếp tiếp các cô nấu cơm cho toàn trường, những học sinh khác sẽ cùng thầy cô ra đồng gặt lúa. Lớp 10 cử tôi và bạn Thúy vào đội “anh nuôi” lo việc cơm nước nên mang tiếng đi gặt lúa mà tôi chẳng có ngày nào bước chân xuống ruộng.
Từ 5h sáng, lúc các bạn còn say ngủ thì đội “tổng khậu” gồm 2 cô giáo và 4 nữ sinh đã thức dậy nấu cơm, 7h khi tất cả ăn xong lục tục ra đồng thì đội bếp núc tiếp tục chuẩn bị cho buổi trưa, sau đó lại lục đục nấu cơm cho buổi chiều. Trong lúc các bạn được sinh hoạt chung với nhau tưng bừng náo nhiệt thì chúng tôi ăn, ngủ trong khu vực dành cho giáo viên, làm gì cũng phải rón rén, ý tứ. Bực chưa!
Thầy trò ăn uống kham khổ, chỉ có bí ngô và cá khô, thỉnh thoảng được nông trường tiếp tế rau xanh, vậy mà lúc nào chung quanh cũng rộn rã tiếng cười. Một hôm, nông trường “cải thiện” cho chúng tôi món thịt chuột đồng rô ti, cả trường phấn chấn hẳn lên, đám con gái có phần e dè với món ăn này, phía con trai thì khỏi phải nói, hồ hởi phấn khởi chén sạch những gì được dọn ra. Riêng tôi, buổi cơm hôm đó không dám nhìn những miếng thịt chuột vàng rộm trong dĩa, đành ăn cá khô và canh bí đỏ như mọi khi. Tôi cũng chẳng để ý xem có thầy cô nào không hưởng ứng món rô ti, nhưng sau đó có lời xì xầm rằng thầy hiệu trưởng sợ thịt chuột đồng.
Trước khu vực nhà bếp và phòng nghỉ của các giáo viên có một cây me to tỏa bóng mát rượi, khi không bận bịu chuyện đồng áng thì thầy cô và các học sinh thường tụ tập dưới gốc me trò chuyện, chơi đùa. Sau khi cơm nước và nghỉ trưa xong, thầy hiệu trưởng sẽ hút một điếu thuốc, đứng chơi với các thầy cô và học sinh trước khi cùng nhau ra đồng. Như mọi khi, vừa nói cười vui vẻ, thầy vừa thò tay vào túi áo kaki phía trên bên trái để lấy điếu thuốc, chợt thầy im bặt, sắc mặt đang hồng hào bỗng chuyển sang xanh xám rồi tím tái, thầy vội vàng cởi bỏ cái áo kaki đang mặc, vất sang một bên rồi bước vội vào phòng. Quá bất ngờ, tôi nhìn chung quanh thì lạ thay, dưới bóng me râm mát vừa cách đó ít phút rất đông các nam sinh chuyện trò ồn ào rôm rả thì bây giờ vắng lặng không còn ai, mấy anh “tan hàng” cũng nhanh chóng như cách thầy vội vã bỏ đi. Tôi lo lắng nhìn chiếc áo của thầy nằm trên nền đất, hoang mang không biết việc gì đang xảy ra, tôi cũng không dám nhặt chiếc áo lên, đành ngơ ngác tìm đường rút lui khỏi “hiện trường”, mang theo hàng tá câu hỏi trong đầu.
Sau nhiều ngày nghe ngóng qua những thì thào to nhỏ và dõi theo những lời thì thầm với ánh mắt lấm lét ngó quanh, thì ra kẻ làm thầy hoảng hốt hôm đó là những chú chuột đồng mới đẻ đỏ hỏn được các anh hốt trọn ổ ngoài ruộng mang về, tranh thủ lúc thầy ngủ đã cho cả ổ chuột con lúc nhúc vào túi áo (khi nghỉ trưa thầy thường khoát áo kaki vào lưng ghế tựa, chỉ mặc chiếc áo thun trắng đi nằm). Tôi rùng mình, lạnh cả người khi nghĩ: “Việc gì sẽ xảy ra nếu là mình, bất chợt vô tình chộp vào đám chuột con mềm nhủn loi nhoi trong túi áo?”. Trời ạ, té xỉu tại chỗ chứ chẳng chơi!
Dù rất cố công tìm hiểu mà đến nay tôi vẫn không biết anh nào đã cả gan trêu thầy hiệu trưởng trò đùa tai quái đó. Tưởng thầy sẽ truy tìm thủ phạm và trút cơn thịnh nộ lên đầu bọn nghịch ngợm quái ác nhưng những ngày sau thầy vẫn sinh hoạt, nói cười bình thường, không hề nhắc gì đến chuyện kia. Hẳn thầy quá hiểu “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Chẳng biết sự việc có đúng như những xì xào truyền tai nhau giữa đám học trò hay không, chỉ thấy các nam sinh vẫn tụ tập dưới gốc me đùa giởn vô tư với các thầy cô như không có chuyện gì xảy ra…
Trải qua bao năm tháng, những kỷ niệm của thuở cắp sách đến trường ngày ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi như mới vừa hôm qua, nhắc lại để chúng ta cùng nhớ về một thời áo trắng dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa.

Tác giả bài viết: Trương Thị Uyên My