Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Publicités

Những « Con đường xưa ta đi » của Hà Tiên

Thầy Cô và các bạn thân mến, thành phố Hà Tiên ngày xưa không to lắm, chỉ đủ để chúng ta chiều chiều khi cơm nước xong, rủ nhau thả bộ đi vòng vòng quanh phố, đi cho đến khuya, có hôm thì kéo nhau vào quán Ti La uống cafe nghe nhạc và nói chuyện với quý thầy cô…Hà Tiên là như thế, đã hiện hữu qua bao nhiêu năm dưới ánh mắt của chúng ta, lúc nào cũng dể thương, quen thuộc, mộc mạc nhưng không kém phần quyến rũ…

Tuy nhiên mọi vật trên trái đất nầy đều phải chịu tuân theo luật biến hóa, Hà Tiên cũng thế, mỗi ngày một đổi mới tốt đẹp thêm cũng có, hơi lố lăng một tí cũng có…Để nhớ lại mỗi con đường ngày xưa của Hà Tiên, những con đường mà các bạn đã từng dìu một người em gái nữ sinh Trung Học Hà Tiên nào đó, đi qua trong một buổi chiều …, để nhớ lại và hồi niệm cho một thời mà chúng ta tự xem như là « chủ » của đường phố Hà Tiên xưa…, xin mời thầy cô và các bạn duyệt qua một số con đường xưa của phố Hà Tiên, vì chỉ nói về những con đường hiện hữu của ngày xưa nên chỉ có một số ít thôi, còn Hà Tiên ngày nay đã quá phát triển, có những con đường còn tự trồi lên trên mặt của lớp đất bằng lấp đi một phần của con sông xinh đẹp và êm đềm ngày xưa,…dường như đường sá đã tự có từ ngàn xưa cũng không đủ để ngày nay người ta  lưu thông,…Hà Tiên đã phát triển tột độ, xin chúc mừng cho thành phố quê hương của chúng ta và cũng xin ngậm ngùi cho một phố Hà Tiên của những con đường tuy vắng khách « ngựa xe » qua lại dập dìu như hiện nay, nhưng lại rất tình tự và đầy ấp kỷ niệm học trò…

Những đường phố chánh của Hà Tiên ngày xưa

1/ Đường Mạc Công Du: Đường Mạc Công Du được người Pháp xây dựng đầu tiên vào năm 1871 và lúc đó tên đường là Avenue Inspection (Đại lộ Tham Biện), đường nầy được xây dựng cùng một lúc với Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ (dinh Ông Chánh Tham Biện). Đường Mạc Công Du chạy dài từ dưới chân đồi Ngũ Hổ thẳng tới ra bờ sông ngay cầu tàu Quan Thuế (xưa tên là Pont de Douane). Về sau trong những năm 50, đường được đặt tên chánh thức là đường Mạc Công Du (con trai của Mạc Tử Hoàng và cháu nội của Mạc Thiên Tích). Chúng ta quen gọi là đường Hàng Dương. Đây chính là « Con đường xưa em đi »…!! Vì con đường nầy đã chứng kiến rất nhiều những tà áo dài trắng của nữ sinh trung học Hà Tiên khi tan trường về và nối theo là những chiếc áo trắng quần tây xanh của những chàng trai nam sinh cùng về chung đường…

Trên đường Mạc Công Du một bên là trường Tiểu Học Hà Tiên, một bên là bên hông của trại lính « Thành 18 », tiếp theo là dảy nhà cư xá của quý thầy cô có tên là Học Đường Viên: thầy Hiệu Trưởng Hùng, thầy Thất, thầy Trịnh Học Ký, và thầy Nguyễn Đức Sơn…

Ngày xưa ngay trên con đường Mạc Công Du nầy có nhà của các bạn: Mai Thị Ngọc Minh, Lâm Tấn Hào – Kiệt, Huỳnh Văn Năm, Huỳnh Thị Sáu, Thái Cẩm Hà, Lý Mạnh Thường, …

Nam sinh trung học Hà Tiên trên đường tan học về nhà đường Mạc Công Du Hà Tiên trong những năm 60. (Hình: TVM)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên trước những năm 2000 ngay ngả tư Mạc Công Du-Mạc Cửu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên sau những năm 2000, ngay ngả tư Mạc Công Du-Lam Sơn (Hình: Lê Phước Dương)

Ngả ba đường Mạc Công Du (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là Chi Quan Thuế, bên phải là quán Ông Năm bán nem nướng. (Hình: TVM 2012)

2/ Đường Chi Lăng: Đường Chi Lăng ngày xưa có tên là Đường Lớn, người Pháp lúc xây dựng đường nầy đặt tên là Rue de Mui Nai. Đường Chi Lăng chạy dài từ mé sông Đông Hồ lên đến ngang qua đường Mạc Thiên Tích và tiếp tục thẳng lên bên phải là khu Lăng Mạc Cửu, quẹo trái là đường ra bãi biển Mũi Nai. Trên đường Chi Lăng nếu tính từ mé sông Đông Hồ thẳng lên thì lần lượt có nhà gia đình Quách Ngọc Sơn, Quách Ngọc Lâm ở đầu đường, Nguyễn Thanh Hà, thầy Nguyễn Văn Nén, Lâm Mỹ Nhung, Hà Mỹ Oanh, Phạm Kim Loan, nhà cô Vương Thị Lành, Trần Anh Kiệt, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Thúy Vân, Nguyễn Thị Điệp, Nguyễn Nguyệt Hồng,..v…v…

Khúc đường Chi Lăng Hà Tiên về phía núi Lăng, bên phải có chùa Phật Đường (Hình: TVM 2012)

Đường Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

3/ Đại Lộ Mạc Thiên Tích: Đại lộ Mạc Thiên Tích rất dài, nối liền Đồi Ngũ Hổ thẳng xuống đồi Pháo Đài, có tên xưa là đường Pháo Đài, người Pháp đặt tên là Boulevard Phao Dai. Vào năm 1952 tỉnh trưởng Hà Tiên là ông Lê Văn An đặt tên là Đại lộ Mạc Thiên Tích (con trai của Mạc Cửu và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến lịch sử văn học Hà Tiên). Con đường Mạc Thiên Tích ngày xưa lúc mình còn học vẫn chưa tráng nhựa, còn là đường sỏi đá, mình thường đi theo con đường nầy để xuống chơi nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh và Lý Văn Tấn. Đường nầy đi ngang qua cổng chính của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa.Tính từ ngay dưới chân đồi Ngũ Hổ về phía Pháo Đài thì trên con đường nầy có nhà các bạn: Tống Châu Thành (ngay xéo xéo bên phải cổng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên), La Tấn Lực, Lâm Thị Lan, Bùi Văn Tư, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh..v..v..

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên (khúc cắt đường Mạc Cửu). (Hình: TVM 2012)

Một góc đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên, khúc Ngả Sáu Điện Lực. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

4/ Đường Bạch Đằng: Người Pháp đặt tên cho đường Bạch Đằng là Rue des Cocotiers, ta quen gọi là đường Hàng Dừa. Từ năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Bạch Đằng. Đây là con đường quen thuộc của mình, trên con đường nầy có trại lính (thành 18), có cây dừa ba ngọn nỗi tiếng của Hà Tiên, mời xem bài:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Đường Bạch Đằng thẳng góc với đường Chi Lăng, phía trên giới hạn bởi đường Mạc Tử Hoàng và phía dưới chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay Cầu Bắc ngày xưa. Trên đường Bạch Đằng có Chi Thú Y, mặt nhà sau Thầy Trương Minh Đạt, nhà ông Ký Cụi, chùa Phước Thiện, thầy Lâm Văn Núi, anh Chư, thầy La Từ Sự, Tạ Em Sợi, Trần Tuấn Khanh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Thu Oanh, nhà mình (Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh), Lê Phước Hải, Huỳnh Văn Bền, Huỳnh Văn Bé, Trần Hồng Khanh, Chị Lệ, Chị Liễu..v..v…

Đường Bạch Đằng Hà Tiên ngày xưa trong những năm 70, nhìn về phía Cầu Bắc, bên trái là tiệm Cafe Quảng Phát, bên trái là quán cafe nhạc Khai, kế đó là nhà anh Trần Hồng Khanh. Trong hình: Trần Văn Phi (Hình: TVM)

Góc đường Bạch Đằng – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, nhà có cửa sắt xanh dương là nhà ông Minh Thái Phong. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên phải là khúc có tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên trái là biệt thự Ông Bầy ngày xưa có cửa sắt xanh dương đậm. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, hướng nhìn ra phía sông. (Hình: TVM 2012)

Ngả ba đường Bạch Đằng (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là tiệm Đồi Mồi Lê Minh, bên phải là tiệm Billard nhà bạn Trần Bình. (Hinh: TVM 2012)

5/ Đường Tô Châu: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Tô Châu là Rue de la Poste (đường Bưu Điện) vì đường nầy chạy ngang qua nhà Bưu Điện xưa (sau nầy đổi là Chi Bưu Điện mặt trước nhìn ra đường Tô Châu, mặt sau nhìn ra bờ Đông Hồ). Đường Tô Châu chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay tại mé sông có cầu phao nổi ngày xưa, phía trên thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng. Đường Tô Châu thời chiến tranh trong những thập niên 1960-1670 có một đoạn chạy ngang Chi Cảnh Sát và dinh Ông Quận Trưởng nên khúc đường nầy có lính gát và giới hạn sự đi lại. Trên đường Tô Châu tính từ đầu đường Mạc Tử Hoàng đi xuống mé sông là có: Dinh Quận Trưởng (lúc ông Thiếu Tá Hoa làm quận trưởng, là ba của bạn Trần Văn Minh gọi là « Minh Còi » học chung lớp với mình thời Trung Học), Chi Cảnh Sát (lúc trước có gia đình bạn Nguyễn Hoàng Nhi con ông Cảnh Sát trưởng học chung lớp với mình), trường Mẫu Giáo, Chi Bưu Điện có gia đình bạn Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Anh Khanh, Nguyễn Thị Anh Đào học chung lớp, có sân đánh bóng chuyền, thầy Hứa Văn Vàng, mặt sau vườn nhà ông Ký Cụi, nhà chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, Huỳnh Hồng Quang (anh chị em bạn dì với mình), gia đình Kiều Dũng, dãy nhà Ông Phán Cơ thường cho giáo sư ở trọ, mặt hông của Đình Thần Hoàng, thầy Trần Văn Tường, bạn Trần Thanh Tuyên, Chùa Bà Mã Châu, bên hông khách sạn Tô Châu và khách sạn Đại Tân…v…v…

Trần Văn Mãnh trong những năm 60, phía sau bên phải là Trường Mẫu Giáo Hà Tiên nằm trên đường Tô Châu. (Hình: TVM)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên phải là chùa Bà Mã Châu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên trái là chùa Bà Mã Châu, đầu đường phía xa là khách sạn Tô Châu. (Hình: HungCuongPC)

Một góc đường Tô Châu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

6/ Đường Phương Thành: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Phương Thành là Rue de Kampot vì đường nầy chạy thẳng lên phía biên giới Việt – Cambodge, giáp giới với tỉnh Kampot bên kia. Đường Phương Thành chạy xuống mé sông Hà Tiên ngay đường Trần Hầu. Có một nơi ba con đường giao nhau: Phương Thành, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tạo thành ngả sáu, bây giờ người ta gọi là Ngả Sáu Điện Lực (vì ngay đó có nhà đèn điện lực). Con đường Phương Thành là một con đường rất quen thuộc với giới trẻ học sinh Hà Tiên ngày xưa vì mỗi chiều các bạn trẻ thường hay chạy xe Honda, chở nhau từ ngay khu chợ theo con đường Phương Thành ra phía nhà thờ, qua Ấp Chiến Lược, thẳng ra Thạch Động và lên phía biên giới, đó là một khúc đường để phóng xe Honda 67 với tốc độ nhanh mà không bị phiền phức vì sự lưu thông nhờ đường hay vắng xe,…Mình còn nhớ rất nhiều kỷ niệm trên con đường nầy với các bạn Lương Cường, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm,..v..v..(đó là các cao thủ chạy xe Honda ngày xưa mà mình rất sợ khi ngồi phía sau cho các bạn nầy chở ra Thạch Động vì khi chạy ngang qua Ấp Chiến Lược là có một khúc quanh để các bạn đó « lạng » xe rất hấp dẩn, nhưng mà mình ở phía sau thì lại rất sợ…). Kể từ phía mé sông đường Trần Hầu đi lên thì trên con đường Phương Thành có rất nhiều nhà bạn học ngày xưa: Khách sạn Lâm Văn Cao, thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương ba của bạn Trần Đại Thắng, Trần Mỹ Quyên, Trần Mỹ Ngân, Lâm Hữu Quyền, anh em Vương Đình Phước, Vương Đình Lộc, nhà bạn tên Nguyệt em cô Tuyết con ông Chín Nhà Đèn, cô Tiền Ngọc Thanh, Tiền Ngọc Dung, ngang qua chùa Tam Bảo, nhà hai chị em Thanh Niên, Thanh Nữ, mặt hông nhà thờ, nhà máy xay lúa gia đình chị Lâm Xuân Cúc, nhà bạn Lâm Nhi Tôn, có chùa (Miếu) Bà Cửu Thiên,  rồi dài dài ra phía Ấp Chiến Lược, phía Thach Động có nhà bạn Quách Thị Chol học chung lớp với mình, còn nhiều nhưng mình không nhớ để kể ra…v…v…(Sau nầy khúc đường Phương Thành qua khỏi Ấp Chiến Lược ngày xưa khúc có chùa Phù Dung, đường có tên khác là đường Phù Dung chạy ra xa tới Thạch Động và biên giới).

Đường Phương Thành Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 ngay góc khách sạn Lâm Văn Cao đổi tên là Phương Thành. (Hình: HungCuongPC)

Đường Phương Thành Hà Tiên ngay khách sạn Phương Thành và khách sạn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên, nhìn về phía Nhà Thờ. (Hình: TVM 2012)

7/ Đường Mạc Cửu: Người Pháp đặt tên là Rue Mac Cuu, đường nầy chạy song song với đường Chi Lăng. Đường Mạc Cửu (để tưởng nhớ vị quan khai khẩn ra đất Hà Tiên là Mạc Cửu) chạy ngang qua khu lăng của gia đình họ Mạc, thẳng tới chùa Lò Gạch thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng và trở ra đụng đường Phương Thành. Từ ngày xưa đã lâu có một cái ao nước trước đền thờ Ông Mạc Cửu, sau nầy người Pháp khai thác đất đai nên đào thêm hai cái ao nằm hai bên đường Mạc Cửu nầy, ta quen gọi chung ba cái ao đó là khu Ao Sen. Chính ba cái Ao Sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Đầu kia của đường Mạc Cửu chạy thẳng ra bờ sông Đông Hồ, khúc phía sau dảy nhà cư xá cho nhân viên bưu điện viễn thông ngày xưa. Tính từ đầu đường bờ sông Đông Hồ chạy thẳng lên khu Lăng Mạc Cửu và chùa Lò Gạch thì lần lượt trên đường Mạc Cửu có bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, bên hông cư xá của Nhà Bảo Sanh (gia đình bạn Lê Mai Hoa, chị Lê Mỹ Hồng, chị Lê Mai Hương ngày xưa ở đó). Lần lượt tới nhà Lý Tòng Hiếu, Trương Thái Minh, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trần Văn Danh, Phạm Thúy Phượng…và thẳng qua khu Ao Sen,…Trong những năm 1970-1974 cô Võ Kim Loan lúc dạy văn trường Trung Học Hà Tiên ở tại căn nhà đối diện với nhà Lý Tòng Hiếu trên con đường Mạc Cửu nầy.

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, trước 1975 có Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến, sau 1975 đổi tên là Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau 2011 bệnh viện đã bi phá hủy nhường chổ cho Quảng Trường. (Hình: PhungAnhKiet)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ. (Hình TVM 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía cây đa chùa Lò Gạch. (Hình TVM, 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, khúc trước Ao Sen. (Hình: TVM 1999)

Ngả ba đường Mạc Cửu – Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu khúc giáp với đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, bên phải là Nhà Bảo Sanh ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

8/ Bến Trần Hầu: Bắt đầu vào năm 1889, người Pháp lấp vùng sình lầy bờ sông và cho đấp đá dọc theo mé sông từ cầu Quan Thuế lên tới Pháo Đài. Người Pháp cũng cấm không cho xây cất nhà cửa dọc theo mé sông nầy và thành lập một bến sông đặt tên là Quai Doceul (tên của viên Chánh Tham Biện Hà Tiên từ năm 1889-1890). Sau nầy con đường được đổi tên là Bến Trần Hầu ngày nay thì đề là Đường Trần Hầu (tên ông Trần Đại Lực có chức là Lực Tài Hầu). Con đường Trần Hầu là một một trong những con đường chánh của Hà Tiên, có thể xem như là mặt tiền của Hà Tiên. Thời xưa đường đó cũng nằm trong lộ trình chạy xe Honda mỗi buổi chiều du ngoạn của giới học sinh Hà Tiên. Trên mặt tiền nầy có rất nhiều khách sạn nhìn ra bờ sông: khách sạn Tô Châu, Đại Tân, Vân Tiên, Lâm Văn Cao,…(tất cả các khách sạn nầy ngày nay hầu như đã thay hình đổi dạng và đã đổi luôn tên…:Đại Tân thành Đông Hồ, Vân Tiên thành Hà Tiên, Lâm Văn Cao thành Phương Thành….). Trên đường Trần Hầu còn có bến đò, chợ cá, Đài Kỷ Niệm, Thánh Thất Cao Đài,…và có nhà của các bạn: Trịnh Công Tước, Phan Thị Liên Phương, Trịnh Xuân Tài, Đình Quận, Trần Phương Nhu, Dương Văn Hiếu, …v…v…

Bến Trần Hầu nhìn từ phía Cầu Bắc Hà Tiên trước 1975. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Một khúc đường Bến Trần Hầu Hà Tiên vào khoảng năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Bến Trần Hầu (Hà Tiên) ngày xưa, bên trái là Đài Kỷ Niệm, bên phải là dảy phố buôn bán có tiệm nước mắm của gia đình Tiền Thành Ký. (Photo: Bronson Ha)

Đường Trần Hầu ngày xưa, nhìn qua khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

Đường Trần Hầu Hà Tiên năm 1994. (Hình: Trần Văn Mãnh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: Chánh Thái Minh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên ban đêm, bên trái là phố Tứ Diện và tiệm Xuân Thạnh, bên phải là chợ tạp hóa. (Hình: Hoàng Nguyên 1998)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Khúc đường Trần Hầu có nhà Thầy Phan Thanh Trì, ba của Phan Thị Liên Phương. (Hình: AaronGeddes 2012)

Góc đường Trần Hầu – Nhật Tảo Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Trần Hầu – Tuần Phủ Đạt Hà Tiên sau những năm 2000

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng (Hà Tiên), bên phải là tiệm Billard ngày xưa của gia đình bạn Trần Bình.

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Trần Hầu Hà Tiên nhìn từ trên cao, bên trái là khách sạn Phương Thành. (Hình: TVM 2012)

9/ Đường Đống Đa: Thời Pháp đường Đống Đa có tên là Rue de l’Ecole vì ngày xưa người Pháp xây trường học quay mặt ra đường nầy. Đến năm 1947 trường mới quay mặt chánh ra đường Mạc Công Du, cổng sau trường nhìn ra đường Đống Đa. Năm 1952 tên đường chánh thức đổi thành đường Đống Đa. Dân Hà Tiên của chúng ta rất quen thuộc với đường Đống Đa vì ngày xưa lúc còn học trường Tiểu Học lúc nào cũng có lui tới trên con đường nầy. Vì nằm ở cổng sau của trường Tiểu Học nên ngày xưa khúc nầy có rất nhiều gian hàng bán bánh trái cho học sinh ra chơi mua ăn…Đường Đống Đa thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng ngay tại điểm giao với đại lộ Mạc Tiên Tích, chạy dài ra phía chợ đường Đống Đa thẳng góc với đường Lam Sơn và ngưng lại nơi đó. Trên đường Đống Đa nầy mình cũng có rất nhiều kỷ niệm vì trên đường nầy là có nhà của bạn Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên. Mỗi khi đi chơi về khuya, mình thường đưa Nguyên và Hưởng về tới khúc đường Đống Đa nầy (khoảng đối diện với Chi Thanh Niên và sân quần vợt ngày xưa). Nhiều lúc Hưởng thường lén lấy cắp một chiếc dép của mình nên mình phải đi theo Hưởng về tới khúc đường nầy, vừa đi vừa năn nỉ Hưởng để được trả dép lại rồi mình mới về nhà được…Ngoài ra trên đường Đống Đa nầy còn có nhà bạn Trương Kim Ô học chung với mình, Trần Yến Phượng, Trần Tuấn Anh..v…v…

Ngả tư đường Dống Đa – Mạc Cửu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Đống Đa Hà Tiên giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn. Bên phải ngay các chậu kiểng là nhà bạn Trương Kim Ô (học chung lớp với Trần Văn Mãnh). (Hình: TVM 2012)

10/ Đường Lam Sơn: Người Pháp lúc đầu đặt tên cho đường Lam Sơn là Rue de la Pagode vì trên đường nầy có chùa Ông Bổn (đúng ra là Miếu) thờ ông Bổn Đầu Công tên là Trịnh Hòa. Năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Lam Sơn. Đường Lam Sơn là con đường hàng ngày mình đi chợ, đến nhà bạn Lý Mạnh Thường, đến nhà các bạn Nguyễn Văn Tài, Lý Cui,…và cũng là đường để đi ra bãi biển Mũi Nai ngày xưa. Đường Lam Sơn một đầu thẳng góc với đường Bạch Đàng nhà mình, đầu kia chạy dài lên khúc ngọn núi có chùa Giải Thoát và khi quẹo trái là đi ra Mũi Nai. Đường Lam Sơn chạy ngang chợ Hà Tiên xưa, tiệm Sanh Hoạt bạn Lương Cường, nhà chị Lâm Xuân Cúc, Trần Ý Hui, cô Lý Ánh Nguyệt, tiệm bánh mì Tân Thái, Dương Thị Phương Hà, Đỗ Minh Quang, Lý Kiến Tân, Dương Hồng Minh, Trần Hoàng Phượng, Trần Hoàng Trang, Trần Học Quang, Trần Mỹ Hạnh, phía trên nữa là nhà bạn Lý Cui, nhà chị Hai Mùi vợ anh Lê Quang Chỉnh (anh bạn dì với mình). Ngày xưa mình thường thả bộ trên con đường Lam Sơn nầy để lên nhà Lý Cui mỗi chiều để chơi đàn chơi nhạc trong nhóm Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Tống Châu Thành, Trần Văn Yến,…

Ngả tư đường Lam Sơn – Phương Thành ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là mặt tiền ngôi chợ ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, nhìn về phía đường Bạch Đằng. ngôi nhà ngói ngay ngả ba Lam Sơn-Bạch Đằng là nhà Huỳnh Văn Bé. (Hình HungCuongPC 1997)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là tiệm (lò bánh mì) Tân Thái nhà Dương Phương Hà, bên phải là đầu đường Đống Đa.

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên phải có ngôi nhà đầu đường là Tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hinh: HuynhNT)

Đướng Lam Sơn Hà Tiên, hướng từ đường Bach Đằng nhìn ra phía chợ ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ cũ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Ngả tư Lam Sơn – Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, hướng nhìn về phía đường Nhật Tảo và Cầu Câu, bên lề đường trái ngay chổ người đang đi bộ là nhà chị Dương Hồng Châu. (Hình: TVM 2012)

11/ Đường Mạc Tử Hoàng: Tên thời Pháp là Rue de l’Appontement, tức là đường Cầu Tàu vì một đầu đường Mạc Tử Hoàng ra tới bến tàu ngày xưa ở sông Đông Hồ. Đầu kia chạy tới đường Phương Thành ngay chổ Nhà Thờ. Đến năm 1952 ông Tỉnh trưởng Hà Tiên Lê Văn An đặt tên là đường Mạc Tử Hoàng (con trai của ông Mạc Thiên Tích). Đường Mạc Tử Hoàng là con đường quan trọng về phương diện chiến lược và hành chánh ngày xưa vì trên đường nầy tính từ mé sông thì có Sân Vận Động (sân đá banh) ngày xưa, khu Chi Công Chánh, dinh của ông Phó Quận (ngày xưa gia đình của bạn Lê Mai Hoa cũng có lúc ở trong khu dinh thự nầy), đối diện bên nầy là cổng chánh của trại lính Thành 18, tiếp đến là Tòa Bố tức là nơi làm việc của ông Quận Trưởng, một bên là cổng sau của ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, một bên là cổng sau của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, nhà của các em Lành, Tuyết (con của Bà Năm), kế nhà nầy ở ngay góc đường, là nhà của một bạn tên Thu bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, phía trước nhà có ao rau muống, ngày xưa mình rất sợ cái ao rau muống nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo chân mình xuống ao…). Đến Nhà Thờ là hết đường Mạc Tử Hoàng. Ngày nay đường Mạc Tử Hoàng còn được nối dài lên con đường đất nhỏ ngày xưa đi lên tới chùa Lò Gạch và gặp ngay đường Mạc Cửu. Khúc đường Mạc Tử Hoàng từ Nhà Thờ lên đến chùa Lò Gạch nầy là rất quen thuộc với học sinh trung học ngày xưa vì mỗi khi có giờ học trống thì cả nhóm kéo nhau lên núi Lăng bằng con đường đất nhỏ nầy (trên con đường nhỏ nầy bên trái có nhà của chị Trần Diệu Châu và cô Trần Diệu Hiền thơ ký và giám thị của trường chúng ta ngày xưa).

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, bên phải là Nhà Thờ. (Hình TVM 2012)

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, nhìn về phía dinh Quận ngày xưa. (Hình TVM 2012)

Góc đường Mạc Tử Hoàng (trái) – Phương Thành (phải) có nhà thờ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

12/ Đường Tuần Phủ Đạt và đường Tham Tướng Sanh: Hai con đường nầy được xây dựng khi ngôi chợ Hà Tiên ngày xưa làm xong, lúc đầu chưa có tên. Đến năm 1952 hai con đường song song hai bên hông chợ Hà Tiên nầy mới được ông Nguyễn Văn Hải đặt tên: Tuần Phủ Đạt tức là Ông Tuần Phủ Huỳnh Mẫn Đạt, Tham Tướng Sanh tức là Tham Tướng Mạc Tử Sanh con của ông Mạc Thiên Tích. Vì hai con đường nầy ở ngay vị trí hai bên chợ Hà Tiên nên rất tấp nập, có nhiều tiệm buôn, cửa hàng. Mỗi buổi sáng trên đường Tuần Phủ Đạt thì có họp chợ bánh trái, đủ thứ bánh trái cho người Hà Tiên ăn điểm tâm: bún chả giò, hủ tiếu hấp, bánh tầm bì, cháo đậu đỏ, xôi hột gà, xôi tôm khô, chè đậu trắng, chè hột me,…., Đường Tuần Phủ Đạt khúc trên gặp đường Chi Lăng, khúc dưới thì ra đến chợ cá ngày xưa. Ngay khúc trước Phố Tứ Diện tiệm văn phòng phẩm nhà Minh Thái Phong, ngay trước đó là khoảng đất dành cho má của bạn Lý Cui bán gạo. Ngày xưa khi cuối tuần không có giờ học nhóm mình thường hay ra ngay khu bán gạo của má bạn Lý Cui để nói chuyện chơi, gồm có Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến,..v..v..Cả bọn nhóm lại phía sau quầy hàng gạo và nói chuyện với Lý Cui, khi có khách mua gạo, đong gạo xong, Lý Cui phải chở bao gạo phía sau yên xe đạp để giao đến tận nhà cho khách, lúc đó cả bọn cũng còn lai rai ở đó chờ cho Lý Cui giao gạo xong nói chuyện tiếp…Phía bên kia đường tính từ khúc trên đường Chi Lăng dài xuống thì có nhà các bạn: Rạp chiếu bóng Phát Minh (cất lúc sau nầy) Lương Cường, Hồ Anh Dũng, Hồ Thị Kim Hoàn, Hồ Thị Kim Nga,…, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm, Phù Ngọc Anh, Phù Ngọc Liên, Trần Tiên,….

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa, bên phải có khoảng đất trống sau nầy có rạp ciné Phát Minh, giữa hình là nhà Hồ Thị Kim Hoàn. (Photo: Dave Kathy Crawford 1966)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn có ba căn phố đối diện với mặt bắc của chợ Hà Tiên: Tiệm Ông Tàu Lái, Tiệm Sanh Hoạt và Tiệm cafe Dũ Long. (Photo: Fred Abery)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa trước năm 1975, nhìn về vườn Ông Ba Lón. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên.

Đường Tuần Phủ Đạt ngay khu chợ Hà Tiên xưa trước năm 2000. (Hinh: HungCuongPC)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, khúc giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn (Hình: Hồ Anh Dũng)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, giáp với Đường Trần Hầu. (Hình TVM 2012)

Đường Tham Tướng Sanh thì dài hơn đường Tuần Phủ Đạt vì khúc trên gặp ngay trước bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, khúc dưới cũng ra tới chợ cá ngày xưa. Ngày xưa người Pháp đặt tên là Rue de l’Hôpital (đường Bệnh Viện). Đến năm 1952 được đổi tên là đường Tham Tướng Sanh. Trên đường Tham Tướng Sanh bắt đầu là Nhà Bảo Sanh (nơi mà mình sinh ra ở đó…cùng lúc với anh Trần Văn Dõng và hầu như tất cả các bạn cùng trạc tuổi mình đều được sanh ra ở Nhà Bảo Sanh nầy), tiếp là mặt sau Chi Thú Y, mặt trước nhà thầy Trương Minh Đạt (quán Ti La), bên hông vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn, nhà bạn La Văn Cao, gia đình ông Lâm Văn Cao, dài xuống nhà Trịnh Tố Chinh (tiệm Hiệp Lợi), nhà chị Đỗ Mùi,…ra tới tiệm cơm Xuân Thạnh. Nếu bên đường Tuần Phủ Đạt buổi sáng có hàng bánh trái điểm tâm thì bên đường Tham Tướng Sanh bên nầy là chợ rau cải và tạp hóa, chợ họp ngay từ đầu đường Lam Sơn chạy dài xuống đụng Bót Cảnh Sát ngay chợ cá. Phía bên đường Tham Tướng Sanh thì mình ít đi buổi sáng vì người ta bán toàn là rau cải, tạp hóa, dành cho các bà nội trợ đi chợ mua thực phẩm về nấu cơm trưa chiều, mình chỉ quanh quẩn bên phía chợ bánh trái bên đường Tuần Phủ Đạt để ăn hàng vặt mỗi sáng…!!

Góc đường Tham Tướng Sanh – Lam Sơn Hà Tiên. Tiệm Hoàng Sơn là ngay chổ tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

Đường Tham Tướng Sanh Hà Tiên, ngay bên hông chợ Hà Tiên xưa. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tham Tướng Sanh – Trần Hầu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

13/ Đường Cầu Câu, đường Nhật Tảo và đường Nguyễn Thần Hiến: Ba con đường nầy song song với nhau và giới hạn một đầu là đường Chi Lăng, đầu kia là đường Trần Hầu. Đây là ba con đường ngày xưa mình cũng rất thích đi dạo một mình vì trên mỗi đường đều có nhà các bạn quen thuộc. Người Pháp quy hoạch ba con đường nầy cùng một lúc với ngôi chợ, bệnh viện. Lúc đầu chưa có tên, đến năm 1952 do ông tỉnh trường Hà Tiên đặt tên. Trên đường Cầu Câu có nhà của các bạn: Phan Văn Hữu, Nguyễn Ngọc Lê, Hà Thu Hương, Nguyễn Minh Hùng (Hùng Hynos), chị Nguyễn Thị Hoa cùng các em Nguyễn Thị Lan, Liên, Liễu, Lệ (Thủy)…Đầu đường Cầu Câu và Trần Hầu có nhà Ông Đốc Hà Văn Điền là ba của cô Hà Thị Hồng Loan. Đầu đường Cầu Câu và Lam Sơn có nhà anh Độ, khoảng đường nầy ngày xưa mình cũng rất thường hay đi qua đi lại…!!!

Đường Cầu Câu Hà Tiên. (Photo: Axel.R.D 2011)

Góc đường Cầu Câu – Trần Hầu. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Cầu Câu – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nhật Tảo thì có một ngôi nhà rất nổi tiếng đó là nhà Bà Bảy Tiếu, ngôi nhà dành cho quý thầy thường ở trọ thời đi dạy Trung Học ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970: thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Phúc Hậu,…Gần đầu đường phía Trần Hầu thì có nhà bạn Hà Quốc Hưng, nhà của Tòng cũng trên con đường nầy (Hưng và Tòng là anh em cô cậu ruột…)

Góc đường Nhật Tảo – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Nhật Tảo Hà Tiên góc có chùa Ông Bổn, phía dưới hình là đường Lam Sơn, phía xa là đường Chi Lăng. (Photo: AdriaanCastermans)

Đường Nhật Tảo Hà Tiên, giữa đường Lam Sơn và Chi Lăng. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nguyễn Thần Hiến có nhà các chị Huỳnh Ánh Tuyết, Phan Thu Hường, cô Ngọc Lan, cô Sồ…v..v…Khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng thì có nhà của bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên, Trần văn Hữu (Mạnh). Con đường Nguyễn Thần Hiến rất êm đềm và bình lặng, ngày xưa mình rất thích đi bộ qua con đường nầy. Ngoài ra còn có nhà của Phan Kim Chi ngày xưa mỗi khi đến ngày cúng sao thường gặp Kim Chi trên chùa Phật Đường, lúc đó còn nhỏ Bà Ngoại mình thường dắt lên chùa Phật Đường cúng sao và chờ khi cúng xong được ăn chè, Kim Chi cũng theo ông bà đi chùa.

Góc đường Nguyễn Thần Hiến – Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đến đây cũng gần như chấm dứt nhắc lại chuyện xưa về đường phố Hà Tiên, những con đường mà ngày xưa mình đã đi qua rất nhiều, khi thì để đến nhà các bạn thân để chờ rủ nhau đi chơi, khi thì để nhìn thoáng qua một hình bóng nào đó ẩn hiện trong nhà…Ngoài ra còn một con đường đất nhỏ lúc đó hình như chưa có tên nay có tên là đường Phạm Văn Ký (không biết tên đường đặt ra từ thời nào, đường nầy thẳng góc với đường Lam Sơn về phía trên), con đường nầy mình cũng thường đi vào những buổi chiều khi cơm nước xong, đó là đi để đến nhà bạn Lê Phước Dương và Lê Phước Hải. Ngày xưa căn nhà nhỏ của Hải và Dương gọn gàng xinh xắn (bây giờ thì đã cất phát triển thêm rộng lớn) chỉ có ba mẹ con ở, những lúc mình đến chơi mẹ của Dương và Hải tiếp đón tận tình rất tử tế, trong nhà có chiếc bàn học cạnh cửa sổ và cũng như thường lệ thời đó, có một cây đàn guitare để đàn hát cho vui…Ngày nay nghĩ lại bạn Phước Hải đã lâm vào cơn bệnh tai biến, ăn nói hành động khó khăn, mình rất buồn và cảm thương cho số phận của một người bạn chẳng những học cùng trường trung học Hà Tiên mà còn là người bạn văn nghệ từng cùng nhau đi trình diển rất nhiều nơi tại Hà Tiên. Lê Phước Dương là một thành phần trong nhóm có tên « Gói Pall Mall chịu » vì nhóm nầy của mình ngày xưa thường hút thuốc Pall Mall nhưng hay mua chịu!!!. Vài hàng viết xong xin kết thúc phần tưởng nhớ những con đường xưa của Hà Tiên, xin mời các bạn đọc qua và góp ý thêm nhất là xin nhắc lại nhà của từng bạn trên con đường nào để mình bổ sung vào bài viết cho đầy đủ nhé, xin cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cận tết Mậu Tuất 11/02/2018 Trần Văn Mãnh viết theo tài liệu của Nhà nghiên cứu Hà Tiên Thầy Trương Minh Đạt. (xin mời thầy cô và các bạn tìm đọc quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên tập 2 » của thầy Trương Minh Đạt sẽ biết rỏ nhiều chi tiết hơn về những con đường của phố Hà Tiên)

Bổ túc: sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm về hai con đường nhỏ không có tên nhưng rất quen thuộc đối với những người Hà Tiên xưa:

Hai con đường không tên, cùng thẳng góc với đường Bạch Đằng và Tô Châu.

Sẳn bài của Trần Văn Mãnh viết về các con đường ở Hà Tiên xưa, mình xin góp vài phụ lục « ngoài lề » cho vui. Nói là phụ vì đây không phải công trình nghiên cứu, sưu tầm gì cả mà chỉ là nhận xét của một người con đất Hà sống ở thời đó. Chuyện là như vầy: Ở Hà Tiên thời đó có hai con đường ngắn nhất, cả hai đều không (chưa) có tên và trên hai con đường nầy tuyệt không có ngôi nhà dân cư nào cả. Các bạn có biết hai đường nầy không?
1/ Đường thứ nhứt là con đường từ Chi Thú Y ngày trước đâm thẳng ra Chi Bưu Điện, giới hạn giữa đường Bạch Đằng và đường Tô Châu. Hồi đó đường nầy chỉ là đường rải đá. Một bên là bên hông khu vườn nhà ông Ký Cuội, còn bên kia là khu đất trống trải, không có nhà, chỉ có vài cây dừa, một cây sứ cổ thụ và một sân bóng chuyền dã chiến của các anh hùng, hảo hán cầu thủ thuở đó của đất Hà Tiên (đội bóng nầy do đó được đặt tên là đội cây Sứ (hay bông Sứ). Theo trí nhớ của mình thì gồm các nhân vật sau (bây giờ chắc nhiều người đã vắng bóng): các Ông Năm Nghép, Sáu Lỹ, Tư Chuộn (cà phê Dũ Long), Ông NHUM (đồi mồi Lâm Văn Cao), Lê Minh (đồi mồi), hia Phón, anh Bún (con ông Tư Hiếm), Ông Bảy Kính, ông Đức Quang chụp hình, thỉnh thoảng có Ông Sáu Quang (ba của Trần Văn Hữu), Ông Âu Tư (bánh Kẹo), Vạn Ích Đường (thuốc bắc), anh Lô Sến, có lúc có Ông Điệp (ba Kim Hoàn cũng vô chơi)…Còn vài ông nữa nhưng mình quên tên rồi.
2/ Con đường thứ hai cũng là đường đất đá, không tráng nhựa, cũng giới hạn bởi đường Bạch Đằng và đường Tô Châu, nhưng chạy sát trước cửa đình Thần Thành Hoàng. Đường nầy chỉ duy nhất có ngôi đình một bên, còn bên kia là hông nhà ông Bái (ba của Tạ Em Sợi), xong tới khoảng trống trước cửa đình, xong tới hông dãy nhà kho 3 căn (của gia đình Ông Thái Dũ hay ai đó).
Hai con đường nầy ngày xưa chắc được xem là hẻm, vả lại không có nhà dân, nên chưa cần đặt tên, chưa kể nó quá ngắn. Luu ý thời đó chưa có mạng Internet nên nhà cửa cần có địa chỉ rỏ ràng để nhận thư từ gởi qua Bưu Điện.
Còn một vài điều thú vị về đường phố Hà Tiên xưa lúc nào vui mình kể tiếp.

                                                  (Trần Văn Dõng)

DinhThanThanhHoang_HaTien_TrungLyHuu_2018

Con đường trước đình Thần Thành Hoàng ngày nay đã được tráng xi măng. (Hinh: Trung Lý Hữu 2018)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, bên phải hình là đường Mạc Công Du, ta thấy một phần mái ngói của Trại Gia Binh (Thành 18) ngày xưa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1970.

Vị trí Thành Mười Tám sau khi bị san bằng để chuẩn bị xây dựng Quảng Trường Hà Tiên. Hinh: IvanQuach 2015

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham, Nguyễn Hữu Tâm

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Pháo Đài qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Theo tài liệu do nhà chụp hình nỗi tiếng ở Hà Tiên ngày xưa, ông Quách Ngọc Bá viết trong quyển sách du lịch « HATIEN PHOTO »: Pháo Đài là một trái núi nhỏ ở ngay cửa sông Hà Tiên, cách chợ 600 m. Từ hồi Nam Triều đến thời Pháp thuộc vẫn là cứ điểm quân sự trấn giử biển cả, trên có bố trí trọng pháo nên tên gọi là Pháo Đài.

Pháo Đài của thời xưa là những trang lịch sử oai hùng, từng làm kinh khủng giặc Thái Lan bằng những thần công, đại bác, đã phá kỷ lục tên tre lẩy nỏ.

Thời họ Mạc, vị trí Pháo Đài ở ngay giữa hải cảng Hà Tiên, ngó ra vịnh Thái Lan, hình thể ví như cửa thành thiên nhiên để che chở nội địa. Mạc Thiên Tích đã so sánh với nhiệm vụ, với địa vị mình là tướng lảnh trọng yếu trấn giử biên cương qua bài thơ « Kim Dự Lan Đào » (Kim: vàng, Dự: hòn đảo nhỏ, Lan: ngăn chận, Đào: sóng to, « Kim Dự Lan Đào: Hòn đảo vàng nhỏ ngăn chận sóng to):

Kim Dự nầy là núi chốt then,
Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên,
Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẩy,
Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng,
Thế vững kình càng trên Bắc hải,
Công cao đồ sộ giữa Nam thiên,
Nước an chẳng chút lông thu động,
Rộng bủa nhơn xa tiếp bá xuyên.

(Trích Thơ Nôm của Mạc Thiên Tích)

Cách đây hơn một thế kỷ, hòn đảo Pháo Đài còn tách rời khỏi đất liền. Do có thủy triều lên cao thấp, nước lớn nước rồng, khoảng cách giữa hòn đảo nầy và đất liền xa gần khác nhau nên dân gian có đặt truyền thuyết là hòn Kim Dự là một hòn đảo nổi trôi ra trôi vô theo con nước….Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng Kim Dự là một hòn đảo nổi, dưới hòn đảo đó có một con Giao Long nằm ẩn mình tu lâu đời. Thỉnh thoảng con Giao Long cựa mình thì làm cho hòn đảo lay chuyển, khi trôi ra xa, khi dạt vào gần bờ. Trong thời Pháp chiếm Hà Tiên, do công sức của các tù nhân, họ xây đắp một con đường nối liền đảo Pháo Đài với chợ Hà Tiên, gọi là đường Cầu Đá, dần dần con đường trở thành đường đất, rộng rải đủ cho xe cộ lưu thông. Bây giờ con đường trở thành một đại lộ đã tráng nhựa. Con đường nầy nối từ khu Chùa Quan Thánh (tên đúng là Miếu Quan Thánh Đế) chạy thẳng đến dưới chân núi Pháo Đài, ngày nay chính là đại lộ Mạc Thiên Tích. Xóm nhà hai bên con đường nầy còn có tên là xóm Cầu Đá.

Về địa hình, trên đỉnh Pháo Đài có dạng trái xoan, có công sự phòng thủ hình chữ U, chu vi khoảng 84,5 m và cao gần 3 m, công sự phòng thủ nầy được xây dựng trên đỉnh núi Pháo Đài (còn gọi là núi Đại Kim Dự), núi cao khoảng 25 m. Thời vua Minh Mạng thứ 15 (1834) Pháo Đài được thành lập để trở thành căn cứ quân sự phòng thủ, nhà Nguyễn cho đắp đồn lũy trên đồi, đặt súng thần công nên từ đó có tên là Pháo Đài. Ngày nay tên Pháo Đài cũng được dùng để đặt tên cho Phường Pháo Đài thuộc thị xả Hà Tiên. Thời Pháp chiếm Hà Tiên trên Pháo Đài có lập một ngọn Hải Đăng và có nhân viên người Pháp quản lý. Trong thời kỳ chiến tranh 1960 -1970 ngọc Hải Đăng bị bỏ hoang phế, ngày nay đã được phục hồi. Trong thời gian Hà Tiên chưa có bệnh viện, người Pháp dùng mặt bằng trên Pháo Đài để làm trạm y tế. Đến khi bệnh viện Hà Tiên được cất lên, người Pháp xây dựng một nhà nghỉ mát trên mặt bằng Pháo Đài, gọi là Bungalow. Suốt những năm chiến tranh 60 – 70 Pháo Đài trở thành căn cứ quân sự, dân chúng không được lui tới. Hiện nay Pháo Đài đã được phát triển thành một nơi ngắm cảnh, nghỉ ngơi, có khách sạn, hồ bơi, hoàn toàn được xem như một nơi tự do du lịch và dạo chơi rất lý thú. (TVM 06/2018)

Tài liệu tham khảo:
Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) Trương Minh Đạt 2016.
Hà Tiên, đất nước&con người: Nhóm biên soạn Hà Tiên 1999.
Hà Tiên thập cảnh: Đông Hồ&Mộng Tuyết 1996.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời lính Pháp đóng quân tại Hà Tiên (trước năm 1953). Photo: Rolland Drosson

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp từ chiếc tàu Point Garnet đậu tại cầu quan thuế Hà Tiên năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford

Mặt bằng trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh năm 1966-1967. Photo: Don Griffin

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh năm 1969. Photo: Stephane Moutin Luyat

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp từ tàu biển nhìn vào, phía xa là Thạch Động, năm 1969. Photo: Tom Lefavour.

Một căn cứ Hãi Quân Mỹ dưới chân Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Tom Lefavour 1969

Một phần mặt bằng trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, phía trên là một phần núi Tô Châu nhìn ra cửa biển. Photo: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Phía sau Pháo Đài (Hà Tiên) nhìn về phía núi Đèn Mũi Nai, thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, Photo: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Một căn cứ Hãi Quân Mỹ dưới chân Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Steve Bingham (1968-1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa. Photo: HL Serra (trước năm 1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa, ảnh mặt trước: SSC Bryant.(1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa, ảnh mặt sau: SSC Bryant.(1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh. Photo: Fred McCarthy

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Rich Krebs 1968-1970

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Rich Krebs 1968-1970

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Dave Stevenson (1970)

Dưới chân đồi Pháo Đài (thời chiến tranh). Photo: HL Serra 1970

Pháo Đài (Hà Tiên) nhìn từ núi Tô Châu. Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phạm Duy Thảo (2007)

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phat Austin Tran 2015

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: 2015

 Di tích hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) còn sót lại hình chụp năm 2016. Photo: Asienreisender

Vị trí hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên)

Trên mặt bằng Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay có khách sạn Pháo Đài (2015)

Đường xe chạy lên núi Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay (1916). Photo: Lâm Thị Lan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đường xe chạy lên núi Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay (2016). Photo: Lâm Thi Lan

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay chụp từ cầu Tô Châu. Photo: Nguyễn Hồng Thu (2017)

Một trong những bức ảnh đẹp nhất chụp Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay. Photo: Nguyễn Hải Đăng (2017)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.(TVM)

Photo: Trần Văn Mãnh tổng hợp từ face book

Commentaires:

Đảo Điên: Tấm không ảnh này thật là quý! Merci anh Mãnh!
Lâm Lan: Dưới chân núi Pháo Đài thì đúng hiện trạng ngày xưa . Còn trên núi đến bây giờ LL chưa một lần được lên trên ngọn núi Pháo Đài.
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:24
Alain Buis
Alain Buis: Hay quá, Hà Tiên mình có cảm tưởng là 1 bán đảo ?
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:35
Thu Ha Duong
Thu Ha Duong: Em có ở khách sạn Pháo Đài vào năm 2012. Khách sạn lớn, đẹp, do nhà nước quản lý, nhưng không có nước nóng, gặp trời tháng bảy mưa tầm tã, tắm lạnh run và có rất nhiều muỗi, vì cửa sổ không có lưới, tuy nhiên trước mặt khách sạn có một công viên nhỏ, mỗi buổi sáng ra công viên ngồi nhìn ra biển, hít thở không khí trong lành, và mát lạnh, thật tuyệt vời. Đó là lý đó em chọn khách sạn này để nghỉ ngơi khi về HT đó chị Lan. Bây giờ có lẽ đã có nước nóng để khách thuê phòng tắm rồi.
J’aime
· Répondre ·
· 12 mai, 09:46
Lâm Lan
Lâm Lan: Chị biết về sau này nơi đó kinh doanh khách sạn. Các bạn Hà Tiên của chị có dịp sẽ họp bạn trên đỉnh Kim Dữ lan đào trong ngày gần đây đó em gái.😍😃
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:54
Thu Ha Duong
Thu Ha Duong: Em thấy nơi đó thật là nơi lý tưởng để họp mặt đó chị, phong cảnh đẹp, không khí trong lành, rộng rãi và rất yên tĩnh.
J’aime
· Répondre ·
· 12 mai, 10:03
Hoa Nguyễn
Hoa Nguyễn: Ngày xưa Pháo đài là khu quân sự!
Bây giờ đã đổi mới là khách sạn rất lich sư và thân thiện để khách du lịch đến nghỉ ngơi rất là lý tưởng ! Hãy đến và về với quê hương Hà Tiên dấu yêu của chúng ta các bạn nhé !
J’aime
· 12 mai, 10:35
Phan Văn Hữu
Phan Văn Hữu: đường chữ U lên đĩnh pháo đài, đuôi chữ Y ra ngọn hãi đăng thuộc khu vực sân bay trực thăng vả bến đậu PCF của hải Quân, còn trên đồi thuộc tiễu đoản 528 đóng, Đại úy Thiệt Tiễu đoản trưỡng, thởi điểm nầy quân đội choãng nhau lia chia.
J’aime
· 12 mai, 11:05
Nguyen le Thuy
Nguyen le Thuy: Trần Văn Thiệt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 528 địa phương quân
J’aime
· Répondre · 12 mai, 12:02
Viet Anh Le
Viet Anh Le: Mai mốt ra thăm mới được.
J’aime
· Répondre · 12 mai, 16:20
Tran Hong Khang Truong
Tran Hong Khang Truong: Cám ơn các em, đã post lên cho các bạn thưởng thức …
Đảo Điên: Núi non hùng vĩ, sông nước hữu tình! Hà Tiên quê hương tôi!
Còn đâu Kim Dự cá chim quanh
Đảo vàng ngăn sóng đã tan tành
Giao long giờ đã xa xa mãi
Tưởng để muôn đời lại mất danh!
J’aime
Hoàng Thị Minh Liên: Những hình ảnh nầy chỉ còn lại trong ký ức…hoài niệm về một Hà Tiên xứ thơ !
J’aime
Patrice Tran: Đây là hình ảnh của Dũng? Rất hay và quý. Xin Dũng cho thêm chi tiết hình chụp vào khoảng năm nào nhé, anh sẽ cho vào bộ sưu tập… cám ơn Dũng Hồ… 🙂
J’aime
Dũng Hồ: Khoãng năm 68-69.
Patrice Tran
Patrice Tran: OK merci Dũng Hồ…
J’aime

Thầy Trương Minh Đạt

Thầy Cô và các bạn thân mến, từ lâu rồi sau khi viết bài giới thiệu Thầy Trương Minh Hiển, mình đã có ý viết luôn bài giới thiệu Thầy Trương Minh Đạt (người em song sinh với Thầy Hiển). Chần chờ bấy lâu không phải vì thiếu nhiệt tình nhưng vẫn mong một bạn cùng trường nào đó khởi bút viết lên cho bài được phong phú và đầy đủ chi tiết hơn so với dự án bài viết của mình. May mắn thay, có nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật tỉnh Kiên Giang Giá Khê Trương Thanh Hùng vốn cũng là cựu học sinh Trường Trung Học Hà Tiên và là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Thái Minh đã gởi bài viết rất đầy đủ về Thầy Trương Minh Đạt.

Thầy Trương Minh Đạt có một thời gian giảng dạy ở Trường Trung Học Hà Tiên, nhưng mình không có cái duyên học với thầy vì Thầy dạy vào những năm mà mình còn chưa vào Trung Học….Sau một thời gian khá lâu sau, Thầy vào quân đội và chuyển về Hà Tiên làm việc, lúc đó qua sự liên hệ với Thầy Hiển, mình mới có dịp quen biết và tới lui rất nhiều với Thầy Đạt. Lần đầu tiên mình thấy Thầy Đạt là lúc Thầy mặc bộ quân phục với đôi kính đen rất đẹp và oai nghiêm, lúc đó Thầy ngồi trong quán cafe Dũ Long….Qua sự thành lập quán cafe nhạc Ti La của Thầy Đạt, mình và các bạn học Trường Trung Học Hà Tiên lại có dịp mỗi tối đều đến quán Ti La uống cafe và nghe nhạc tới khuya. Sự quan hệ không phải chỉ đơn thuần là khách đến quán thưởng thức cafe nghe nhạc mà là sự quan hệ Thầy trò của nhóm học trò có thể nói là « ruột » của Thầy Hiển và Thầy Đạt. Qua sự phổ biến những bài nhạc rất hay và có giá trị của các nhạc sĩ ngày xưa: Trịnh Công Sơn, Phạm Duy … , qua các cuộn băng nhạc quý giá do Thầy Đạt và phu nhân là Cô Liên sưu tầm, trình độ hiểu biết và thưởng thức về nhạc của mình nói riêng và của cả nhóm học trò nói chung rất nâng cao, đó là một điều mà chúng ta rất mang ơn Thầy Cô Đạt…Xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn bài viết dưới đây của bạn Trương Thanh Hùng.  (Lời giới thiệu Trần Văn Mãnh)

Thầy Trương Minh Đạt cùng các con. Rạch Giá năm 1968

Trần Văn Mãnh chụp hình với Thầy Trương Minh Đạt vào năm 1994 (nhân dịp mình lần đầu tiên trở về thăm Hà Tiên sau khi đinh cư ở Pháp từ năm 1986)

Bài viết của Trương Thanh Hùng:

 Kha khá lâu rồi, vì bận việc riêng nên tôi không viết cho trang Trung học Hà Tiên xưa của chúng ta, nay xin được viết giới thiệu đôi dòng về thầy Trương Minh Đạt, một trong những người thầy đầu tiên của trường Trung học Hà Tiên vào thời điểm trường mới được thành lập.

Trước đây, tôi đã có nói đến thầy Trương Minh Đạt, thầy ra trường Sư Phạm Sài Gòn năm 1954 và về Hà Tiên dạy Trường Tiểu Học, khi Trường Trung Học được thành lập, thầy được bổ sung dạy Trung Học, Thầy dạy đủ các môn khoa học, Toán, Vật Lý, Hóa Học… mà những học sinh đầu tiên của Thầy cũng đã trở thành nhà giáo như là Thầy Trần Phình Chu, Cô Lâm Ánh Tuyết, sau đó là anh Lâm Quang Rằm. . . Thầy Đạt là em song sinh của Thầy Trương Minh Hiển. Gia đình Thầy có thể được xem là gia đình có truyền thống văn chương, người anh cả (anh hai) là Trương Văn Em có bút danh Lư Khê, một nhà văn, nhà báo có tiếng, chồng của nhà thơ Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm), người hoạt động khá nổi tiếng trong phong trào cổ vũ cho thơ mới những năm 1932-1939. Nhà báo Lư Khê bị ám sát chết ở Sài Gòn vào những năm 1950. Người anh thứ ba là Thầy Trương Văn Vinh, từng là ủy viên giáo dục của ủy ban khởi nghĩa chống phát xít Nhật năm 1945, sau đó là trưởng ty giáo dục tỉnh Hà Tiên của chính quyền Việt Minh. Sau năm 1954, Thầy tập kết ra Bắc, sau năm 1975, Thầy về công tác ở trường Đại Học tại Sài Gòn, bị bệnh tai biến và đã mất. Thầy Trương Minh Hiển thì chúng ta đã biết nhiều. Khoảng năm 1956, vì lý do riêng Thầy Trương Minh Đạt  thuyên chuyển ra ngoài Phan Thiết dạy học, rồi động viên vào lính. Từ đó, Thầy không còn dạy học. Khoảng năm 1970, Thầy được thuyên chuyển về Hà Tiên với cấp bậc đại úy. Dù mang cấp bậc đại úy, nhưng Thầy vẫn mở lớp dạy tư tại nhà (anh Trương Thái Minh của tôi từng đến học thêm với Thầy). Sau đó, Thầy bị tai nạn mất hết 1 con mắt và giải ngũ.

Sau năm 1975, Thầy đi học tập cải tạo một thời gian rồi về lao động kiếm sống bằng nghề “xe nước”, đồng thời nghiên cứu Phật học, Thiền học và nghiên cứu về lịch sử Hà Tiên. Có thể nói, Thầy cũng có một thời gian khá vất vả về cuộc mưu sinh, nhưng tình yêu quê hương Hà Tiên đã thôi thúc Thầy nghiên cứu và nổi tiếng, trở thành một nhà sử học, nhà nghiên cứu mà nhiều người hoạt động trên lĩnh vực sử học và văn hóa trên cả nước biết đến.

Ngày 14 tháng Giêng năm nay (Đinh Dậu), Thầy có tổ chức ra mắt quyển “Nghiên cứu Hà Tiên” tập II vì trước đó khá lâu đã có tập I. Những bài viết trong quyển sách này rất công phu cho người đọc cái nhìn chân thật hơn về lịch sử và văn hóa Hà Tiên, đồng thời cũng phản bác những nhận định, đánh giá sai lầm về lịch sử, địa danh cũng như các nhân vật lịch sử, văn hóa của Hà Tiên. Quyển sách được giới chuyên môn đánh giá rất cao.

Về dự buổi ra mắt này có một nhân vật khá đặc biệt, đó là thầy Trần Văn Bân, cũng tốt nghiệpSư Phạm Sài Gòn về dạy Tiểu học Hà Tiên năm 1952, là bạn, là đàn anh của thầy Đạt, hiện đang sinh sống ở Cái Bè (Tiền Giang). Thầy Bân đã phát biểu khá nhiều kỷ niệm cảm động đối với Hà Tiên. Những người học trò của Thầy ngày xưa như anh Rằm, anh Tùng (con Thầy Ký). . . rất quyến luyến Thầy. Ngoài ra còn có khoảng 40 người là học trò, thân hữu của Thầy Đạt đến dự rất thân mật, đầm ấm. Đến buổi chiều, chính quyền thị xã Hà Tiên có tổ chức đoàn đến chúc mừng.

Tôi không được học với thầy Đạt nhưng cũng khá đậm tình văn chương nên cũng được Thầy mời về dự, nay viết vài dòng để Thầy Cô và anh chị, bạn bè cùng biết, chia vui với gia đình Thầy.

                                                                          Trương Thanh Hùng  (04/2017)

Thầy Trương Minh Đạt hiện nay

Thầy Trương Minh Đạt và các cựu học sinh Trung Học Hà Tiên (Nguyễn Thúy Vân, Trương Thanh Hùng)

Buổi lễ ra mắt sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Thầy Trần Văn Bân (nhà giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên vào những năm 1952…

Quang cảnh quán cafe Ti La hiện nay (đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 1 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 1 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Giới thiệu sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Bìa sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » tập 2 (tác giả Thầy Trương Minh Đạt)

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trương An Nhu, Trương Minh Đạt, Trương Minh Quang Nguyên.

Nhớ Trường Trung Học Hà Tiên xưa (Trương Thanh Hùng)

                             NHỚ TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀ TIÊN XƯA

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta được thành lập từ khoảng năm 1955-1956, lúc đầu còn mượn cơ sở của trường Tiểu Học, theo thầy Trương Minh Đạt, đến năm 1956 mới bắt đầu xây dựng cơ sở mới gồm 4 phòng học trên đường Mạc Thiên Tích (cổng chính) và phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba.

DuongThiDiemHa (5)DuongThiPhuongHa (10)

Học trò chụp hình trong sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa (giữa hình là « Ao xà lách », phía xa là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba)

Tôi vào học đệ thất năm 1965, lúc đó trường đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì 1 môn phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng đến năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có thêm 1 lớp 6 và phân ra 6A (Anh văn), 6P (Pháp văn) mà chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học cho 1 lớp 6, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích. Sau đó tôi đi Rạch Giá học nên không biết phát triển thế nào.

Khoảng cách từ dãy phòng học chính và phòng thí nghiệm khá xa, chính giữa có 1 cái ao nước ngọt được gọi là “Ao xà lách” vì trước đây ao nước này vừa cung cấp nước dùng cho xóm dân dưới chân Lầu Ba, đồng thời cũng là ao nước tưới cho vườn rau xung quanh nên mới có tên là Ao xà lách.

TH_HaTien_1968Thầy Cô giáo và nhân viên Trường Trung Học Hà Tiên xưa

Theo cảm nhận của tôi, trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, sau này thêm từ “Công lập” là một ngôi trường nhỏ êm đềm nằm trong một thị trấn cũng êm đềm, bởi Hà Tiên là nơi “Đất Phật, người hiền”. Bạn học tôi, các lớp đàn anh cũng như những lớp học sau đều hiền lành, dễ thương và rất gắn bó với nhau. Các anh Trần Tấn Công, Trần Văn Danh, Trần Tiên, Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Cui, Lý Văn Tấn, Huỳnh Văn Năm. . . học chung với anh Trương Thái Minh của tôi đều rất dễ thương và gần gũi. Đặc biệt có anh Trần Tấn Công hay chở tôi trên chiếc xe đạp của anh đi rong trong thị trấn. Khoảng năm các anh học đệ tứ làm bích báo, tôi rất thích và học theo làm cho lớp mình. Trong lớp tôi có Trần Tuấn Anh (ở nhà tên Quới), anh của Trần Yến Phượng vẽ khá hay, hai anh em tôi cũng ra sức “o” cho tờ bích báo của lớp mình. Còn lớp sau cũng có bích báo đăng thơ của Quách Ngọc Điền mà tôi rất phục. Thú thật, còn với anh Mãnh thì tôi chỉ ngưỡng mộ từ xa mà thôi chứ ít gần.

TranVanManh_Hippy10TranVanManh_Hippy7

Phải: Gốc cây Bàng trước sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa. Trái: Ao xà lách và trại lính bên hông Trường.

Tuy nhiên, “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, hình như anh em chúng ta phá phách cũng không ít, mà chủ yếu là lên Núi Lăng giởn hớt, bẻ dừa, xoài, mít ăn. . . Ông Từ Nguơn hình như cũng dung túng cho sự phá phách đó. Có lần ông nói đại khái: « Tụi bây bẻ mít rồi dấu, tới khi mít chín thơm thì tao nghe mùi ra đem về, bắt chi mất công ». Mà thật như vậy.

TVM_ClasseTrái: Học trò chụp hình trước sân ngay tại cột cờ nhà Trường (Trần Tấn Công ở hàng trên bên trái)

Có lần tôi theo đàn anh lên Núi Lăng chơi trò rượt bắt rồi đến vườn xoài phía sau mộ Mạc Cửu hái trộm khá nhiều mang đến dưới gốc cây đa trước chùa Lò Gạch ăn. Đổ mồ hôi, khát nước, cắn miếng xoài thanh ca chua nó ngon ngọt làm sao. Tôi ăn hết 2 trái. Nhưng rồi nó ê răng, mấy ngày sau ăn cơm cũng còn bị ê. Tởn luôn.

Đến năm học đệ ngũ, lớp lớn nhất của buổi chiều, lại thêm tâm, sinh lý thay đổi nên hầu hết các bạn đệ ngũ đều có chút tự hào là lớp đàn anh nên có phần “lên mặt”, quậy nhiều hơn một chút. Nhiều bạn “có bồ” làm tôi cũng bắt chước, nhưng vì không có duyên nên sớm bị bỏ rơi !!!

Tôi nhớ năm này trường tổ chức cắm trại bên Thất Cao Đài với nhiều sinh hoạt rất vui. Lại có một lần tàu hải quân (hình như số hiệu HQ607) chở học sinh ra Hòn Nghệ tắm biển, chui vào hang đầu hòn rồi ăn tôm nhúng nước dừa tươi rất ngon. Khi về hầu hết anh em bị say sóng ói tùm lum, vào cả phòng hạm trưởng nằm la liệt.

P1190191 P1190192Một vài kỷ niệm nhỏ với trường Trung Học Hà Tiên xưa viết ra để Thầy Cô và các bạn đọc cho vui. Hẹn sẽ viết tiếp nếu các bạn không chê và anh Mãnh cho phép.

                                                                          TruongThanhHung

Giá Khê Trương Thanh Hùng 

(Sài Gòn 24-1-2016)                     



Đóng góp của bạn Trương Thanh Hùng

Thầy Cô và các bạn thân mến, Trương Thanh Hùng là một học sinh kỳ cựu của Trường Trung Học Hà Tiên chúng ta ngày xưa,..Hùng là em của bạn Trương Thanh Hào và bạn Trương Thái Minh (Minh là bạn học thân của Trần Văn Mãnh suốt những năm Trung Học Hà Tiên và cả năm Đệ Nhất Nguyễn Trung Trực Rạch Giá nữa). Bạn Hùng đã theo dỏi và đọc rất thường xuyên những bài viết xuất hiện trên trang Blog THHTX của chúng ta. Chẳng những thế mà bạn Hùng còn thả bút viết rất nhiều nhận xét cho từng bài, các nhận xét của bạn Hùng chủ yếu là nhắc lại chuyện vui ngày xưa còn đi học, chuyện Thầy trò, trường lớp,…Rất tiếc nếu mình để các lời viết nhận xét nầy dưới dạng « comments » vì có một số bạn sẽ không để ý và không có dịp đọc qua. Vì vậy hôm nay mình gom góp lại và sắp xếp thành một bài viết theo nhiều chủ đề rất phong phú, xin mời Thầy Cô và các bạn xem qua nhé, nhân đây mình cũng xin cám ơn bạn Hùng rất nhiều và mong rằng bạn sẽ tiếp tục theo dỏi bài mới trên Blog và đóng góp cho trang Blog của chúng ta thêm phong phú nhé,.. (TVM)

 15 décembre 2015 à 22 h 44 min, Trương Thanh Hùng:

1/ Một vài ấn tượng đối với Thầy Trương Minh Hiển

Hình như tất cả các thầy cô đã dạy tôi từ Đệ Thất đến Đệ Nhị (năm 1970 đã gọi là lớp 11) ở Trung học Hà Tiên đều để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, trong đó, thầy Trương Minh Hiển là người đã đem lại cho tôi lòng yêu văn chương để tôi theo nghiệp viết lách đến ngày hôm nay.
Tôi nhớ năm học lớp Đệ Tứ, Thầy đọc bài thơ « Chơi động Hương Sơn » của Chu Mạnh Trinh cho cả lớp cùng nghe. Thầy đọc một hơi, gần như « không lấy hơi tiếp », giọng đọc lôi cuốn lạ lùng làm cho tôi say mê và sau này đi theo cái nghiệp văn chương. Hết sức cám ơn Thầy.
Lại còn có một chuyện. Không biết năm đó tôi mắc lỗi gì mà Thầy bắt tôi lên văn phòng đánh cho mấy roi. Một việc làm mà hình như bất cứ thầy cô nào cũng không làm khi dạy trung học.

Tuy bị Thầy đánh, nhưng tôi lại càng yêu Thầy hơn.
Có lần, lúc tôi đang học ở trường Sư phạm Vĩnh Long, Thầy cùng anh Trần Văn Dõng sang thăm, Thầy cho tiền bảo anh Dõng cùng tôi đi chơi. Anh Dõng và tôi đến bắc Mỹ Thuận uống nước. Đó cũng là một kỷ niệm đẹp.
Sau này, tôi cùng một số bạn bè tiếp Thầy cùng cô Loan tại cơ quan Ban Tuyên Giáo huyện Hà Tiên. Buổi gặp mặt hết sức vui vẻ. Tôi tin là Thầy cùng các bạn khó quên.
Khi Thầy viết và xuất bản quyển tiểu thuyết « Thành phố bị chôn vùi 15 thế kỷ », Thầy có đến nhà tôi ở Rạch Giá ngủ 1 đêm.

Còn nhiều chTruongMinhHienuyện khác nữa, khi có dịp sẽ nhắc lại để các anh chị và bè bạn nghe chơi.      (Trương Thanh Hùng)

HoangDucTrung_TruongThanhHung Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTHình trên: Trương Thanh Hùng (bên phải); hình dưới: Trương Thanh Hùng (bìa trái)

Sach_TMHBìa quyển sách tiểu thuyết do Thầy Hiển viết.

 

27 décembre 2015 à 22 h 09 min, Trương Thanh Hùng:

2/ Trường Trung Học Hà Tiên

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta có lịch sử khá hay và đẹp. Trường được thành lập vào sau năm 1954, lúc đó còn mượn tạm cơ sở của trường tiểu học (Trường Nam), một trong những người Thầy đầu tiên là thầy Trương Minh Đạt (em song sinh của thầy Trương Minh Hiển), lớp học trò đầu tiên có Trần Phình Chu, Lâm Thị Ánh Tuyết (Cả hai người này sau đều tham gia nghề giáo). Đặc biệt có nhà văn Doãn Quốc Sĩ từng làm hiệu trưởng của trường (Doãn Quốc Sĩ có xuất bản cuốn « Vào Thiền » rất hay). Tôi sẽ cố gắng sưu tầm về lịch sử của Trường để chúng ta cùng tham khảo
Trương Thanh Hùng.

TruongMinhDat_Manh_LangMacCuu_1994Thầy Trương Minh Đạt và Trần Văn Mãnh năm 1994

27 décembre 2015 à 0 h 08 min, Trương Thanh Hùng:

3/ Kỷ niệm với Thầy Nguyễn Hồng Ẩn

Trong đời học sinh, hình như thầy cô nào cũng để lại những ấn tượng đẹp trong tôi, nhưng có thầy ghi dấu ấn đậm đà hơn, trong những vị đó, tôi luôn nhớ đến thầy Nguyễn Hồng Ẩn.
Năm học 1969-1970, tôi đang học lớp Đệ Tam (Năm này đổi cách gọi lại là lớp 10). Từ năm Đệ Thất, tôi là một học sinh được vinh dự đứng trong tốp 10 từ dưới đếm lên. Nhưng không hiểu sao, năm Đệ Tam, trong môn Lý-Hóa do Thầy Ẩn dạy tôi lại được số điểm cao nhất trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt. Từ đó tôi học khá lên và thi đậu tú tài 1.
Năm 1972, tôi vào học trường Sư phạm Vĩnh Long, lúc này Thầy Ẩn về dạy tại trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ).
Một hôm, tôi đang ở nội trú, Thầy Ẩn vào tìm tôi, hình như Thầy biết tôi học Sư phạm Vĩnh Long là do chị Nguyễn Ngọc Lan và chị Hứa Nguyệt Quang lúc ấy học khóa 10, trên tôi 1 khóa cho Thầy biết, Thầy gọi ra quán nước, tôi còn nhớ hôm ấy tôi uống một ly sữa đậu nành. Thầy bảo tôi về dạy kèm toán-lý-hóa cho hai đứa em vợ của Thầy là Nguyễn Hồng Tuấn và Nguyễn Hồng Châu. Cũng năm này, Thầy được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Bình Minh.
Tôi hết sức bất ngờ và cảm động vì một người Thầy mà lại vào tận nội trú để tìm một đứa học trò tạm gọi là vô danh tiểu tốt lúc bấy giờ. Tình của tôi đối với Thầy càng đậm thêm.
Sau này, tôi có liên lạc với Thầy qua văn chương. Hình như Thầy vẫn còn dành cho tôi tình cảm của năm xưa.
Trên trang Web này, tôi xin cám ơn Thầy Nguyễn Hồng Ẩn vì những gì Thầy đã làm cho tôi để tôi vững bước vào đời.
Cũng cám ơn anh Mãnh đã lập trang Web này để những người đã từng sống dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa có dịp ôn lại những kỷ niệm đẹp, êm đềm
                                                                           Trương Thanh Hùng.

NguyenHongAn_Toronto_1987Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp tại Toronto (Canada) 1987

 1 janvier 2016 à 0 h 25 min, Trương Thanh Hùng:

4/ Núi Lăng

Trong số học sinh Trung học Hà Tiên xưa, ít có người nào không một lần lên Núi Lăng cùng bè bạn vui chơi. Tôi cũng vậy, nhất là vào những năm học Đệ Tứ đến lớp 11.
Năm học Đệ Tam, vào những giờ trống (Thầy cô bận việc cho nghỉ), anh em chúng tôi hay rủ nhau lên Núi Lăng phá phách. Trong lớp có Mong Đức Hưng ra vẻ là người sành điệu, rủ nhau đến quán của gia đình Thái Thanh Niên ở đầu đường vào chùa Lò Gạch (ngang nhà thờ) mua 1 xị rượu trắng pha với 1 chai nước cam rồi mang lên núi, thường đến ngồi ở mộ Mạc Thiên Tích, mỗi đứa uống vài hớp rồi trở về trường học tiếp. Tôi thường nói với bạn bè rằng tôi biết uống rượu từ năm 1970 là vậy.
Năm học Đệ Tứ, lúc Thầy Hậu, Thầy Chiếu, Cô Hoa về dạy, anh em cũng hay lên Núi Lăng chơi trò « Cầu cơ ». Tôi nhớ hình như Hà Quốc Hưng học sau tôi 1 lớp có 1 cây cơ hình trái tim đàng hoàng, rất láng nói rằng lấy ván hòm (cải táng) làm nên rất linh.
Trước đó, hình như lúc tôi đang học đệ lục, đệ ngũ thì phải, có một lần tôi cùng Trần Phước An (con ông Yết Ma, nhà ở chùa Phù Dung) cùng Dương Văn Hiến lên núi ăn cắp dừa. Tôi là đứa vụng về nên chỉ theo chầu rìa. Trần Phước An leo lên cây dừa ở gần mộ Mạc Thiên Tích bẻ, Hiến đứng ở dưới chụp vì sợ có tiếng động ông Từ Nguơn ra bắt. Hiến đứng dưới gốc dừa tè còn đang gài nút quần (lúc đó còn mặc quần khá chật, lại gài nút chứ chưa xài phẹcmơtuy). Ở trên An hỏi « Rồi chưa? », Hiến trả lời « Rồi » ngửa mặt lên mà tay còn gài nút quần, An thả trái dừa xuống ngay mặt Hiến. Môi Hiến sưng vù lên nhưng cũng ráng chụp thêm hai trái, rồi ba đứa đến mộ Mạc Thiên Tích đập, xé vỏ dừa, đập gáo uống nước. Hiến bây giờ ở Mỹ, còn An thì vẫn ở nhà cũ gần chùa Phù Dung.
Hơn 45 năm đã qua, nhưng những kỷ niệm ấy vẫn còn mãi trong tôi.  (Trương Thanh Hùng)

                        HaTien_LangMacCuu_1994_h             Cảnh Núi Lăng và những cây dừa nhiều trái hấp dẩn cho nhóm học sinh nghỉ học đến hái trộm,…             

Hình ảnh: Trần văn Mãnh, Trần văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Nguyễn Hồng Ẩn