Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 20/11 mỗi năm, giới nhà giáo và học sinh chúng ta lại có dịp tưởng nhớ, suy nghĩ về thầy cô và trường lớp, điều nầy không có nghĩa là mọi ngày bình thường khác chúng ta không nhớ đến thầy cô…Thật vậy nhân dịp ngày đặc biệt nầy, chúng ta thường có dịp viết về thầy cô, về trường lớp, có bạn lại qua mạng fb, gởi đến quý thầy cô ở phương xa một cánh thiệp chúc sức khỏe có hình trình bày rất đẹp, hoặc một bó hoa đầy màu sắc rực rở gởi đến cô giáo kính yêu ngày xưa,…mặc dù đó chỉ là một cánh thiệp hay một bó hoa « ảo »…Thời đại mới, thôi thì hãy sống theo phong cách hợp thời hơn, quan trọng là tấm lòng kính yêu thầy cô trong sâu kín của trái tim chúng ta vẫn còn mãi không thay đổi theo thời gian và phong cách mới…

Bạn Giá Khê (Trương Thanh Hùng) cũng không qua thông lệ đó, mặc dù ngày Nhà Giáo đã trôi qua, nhưng dư âm ngày lễ vẫn còn trong lòng bạn và bạn đã dành thời giờ tưởng nhớ và ghi lại trên giấy trắng mực đen, những suy nghĩ và hổi ức về ngày xưa, ngay từ thuở chập chửng vào nhà trường cho đến những ngày bồi hồi sắp sửa rời trường bước vào trường đời đầy thử thách…Có ai có đủ khả năng trí nhớ để nhớ và kể lại từng tên họ thầy cô đã giảng dạy mình qua từng thời gian, có ai có đủ khả năng trí nhớ để viết lại vài mẫu kỷ niệm vui buồn thời đi học,…Có lẽ chỉ có những tâm hồn mang nặng cưu mang về hồi ức thời tuổi trẻ còn trên ghế nhà trường mới có thể viết đầy đủ chi tiết như bạn Giá Khê, mặc dù trong chúng ta, ai cũng có một thời sống một dĩ vãng trường lớp rất phong phú,…Hãy đọc bài viết của bạn Giá Khê, để khơi lại trong mỗi chúng ta một ngôi trường, một lớp học thân yêu ngày xưa và nhất là cũng để trong trái tim sâu kín của chúng ta, nổi bật ra niềm kính yêu, tưởng nhớ những vị thầy cô, đã từng giảng dạy chúng ta ngay từ khi mới bước chân vào một lớp học vốn mang rất nhiều tên gọi theo từng thời kỳ; lớp Chót, lớp Năm, lớp Vỡ Lòng,….cho đến những vị thầy cô đã mang đến cho chúng ta những kiến thức cao hơn, cần thiết cho sự rèn luyện con người và khả năng làm việc ngoài đời sống, những kiến thức toán học, khoa học, sinh ngữ..v..v….(TVM Paris 21/11/2019)

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Hôm nay đã qua “Ngày nhà giáo Việt Nam” (Trước đây là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”), nhưng vẫn viết một số hồi ức về những người Thầy, Cô, những người đã trao truyền cho tôi kiến thức, hướng dẫn tôi về đạo đức, lối sống và nhân cách làm người.

Khi còn nhỏ, gia đình tôi ở Tân Bằng thuộc huyện Thới Bình khu vực U Minh Hạ. Năm đó, tôi mới 5 tuổi được cha mẹ cho vào học lớp “Năm B”, thời đó lớp Năm còn được chia thành Năm B và Năm A, lớp Năm B như là lớp vỡ lòng. Người thầy đầu tiên mà tôi được học là Thầy Luyến, nhưng vì còn nhỏ quá nên tôi không nhớ nhiều kỷ niệm về Thầy, chỉ còn nhớ là Thầy có vóc người thanh mảnh, dáng thư sinh. Năm đó, tôi có một lần trốn học nhưng không bị Thầy phạt hay méc lại với ba má tôi.

Năm 1960, gia đình tôi chuyển về sinh sống ở Tri Tôn, nay là thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất. Tôi vào học lớp Năm A với Cô Hoa, tôi cũng không còn nhớ kỷ niệm nào về Cô, chỉ nhớ năm ấy cô đã khá lớn tuổi có mấy người con trạc tuổi tôi và lớn hơn.

Sau đó tôi học lớp Tư với Cô Thủy. Cô khá đẹp người, hiền lành và mới kết hôn với Thầy Hải. Tôi rất quí Cô Thủy nên học hành rất ngoan ngoãn, khi Cô gõi lên trả bài tôi đều thuộc, nhưng tôi lại rất sợ Thầy Hải vì thấy Thầy quá nghiêm khắc. Những khi Cô Thủy bệnh, Thầy Hải dạy thế là tôi rất sợ, khi Thầy gọi lên trả bài là tôi quên hết bài vỡ dù mình đã thuộc rất kỹ. Qua năm sau, Thầy Hải dạy tôi lớp Ba, có lẽ vì sợ Thầy mà tôi học hành rất đàng hoàng. Trong kỳ thi lớp Ba lên lớp Nhì tôi đậu hạng nhất (cùng với bạn Sử). Năm lớp Nhì tôi học với Thầy Lê Kim Ích, Thầy rất dễ mến, tôi rất quý.

Giữa năm học 1963-1964 gia đình tôi chuyển về Hà Tiên, tôi học lớp Nhì ở trường Tiểu Học Hà Tiên với Thầy Minh, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì Thầy Minh phải đi lính, lớp tôi phải chia ra để học với 2 lớp khác, tôi được học lớp Nhì A với Thầy Hứa Văn Vàng. Thầy Vàng đã lớn tuổi và rất nghiêm khắc. Tôi có khuyết điểm là viết chữ xấu lại có tính cẩu thả, lười biếng. Trong những giờ viết chính tả, Thầy hay ngồi bên cạnh tôi, khi tôi viết chữ không ngay ngắn, không đúng theo khuôn mẫu là Thầy dùng một cây bê bằng các tông vố ngay cho tôi một phát; khi học không thuộc bài thì chủ nhật Thầy bắt về nhà Thầy học chừng nào thuộc mới cho về. Có lẽ nhờ Thầy Vàng mà tôi viết chữ đàng hoàng hơn. Sau này, khi tôi về làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên, Thầy đã kêu lại dặn rằng: “Đừng học theo tánh gà què ăn quẩn cối xay” bởi trường tôi lúc đó có vài cô giáo trẻ.

Năm học 1964-1965, tôi học lớp Nhất với Thầy Phan Tấn Hoàng, Thầy Hoàng rất vui tánh, nhưng cũng khá “dữ đòn”, em nào không thuộc bài là bị Thầy thưởng ngay vài roi vô mông, nhờ vậy, học trò lớp Nhất A của Thầy Hoàng được đánh giá khá cao, năm đó thi Đệ Thất, lớp tôi có nhiều người thi đậu hơn các lớp khác. Sau này, quan hệ thân thiết với nhau, Thầy Hoàng có nói với tôi đại ý “Khi làm một việc gì, mình phải sẵn sàng đón nhận kết quả tệ nhất, để khi có kết quả tốt hơn, dù không được như ý thì mình cũng thấy vui”, tôi cho đó là một câu nói chí lý.

Vào lớp Đệ Thất năm 1965 và sau đó là học tiếp các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ (Đệ Tứ Quốc tế), tôi được học với Cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Thầy Phan Văn Xuân, Thầy Trương Minh Hiển là người Hà Tiên và các thầy cô ở nơi khác về dạy gồm Thầy Bùi Văn Cầm, Thầy Nguyễn Phúc Hậu, Thầy Đức Sinh,Thầy Phan Văn Chiếu, Thầy Nguyễn Văn Út, Thầy Nguyễn Văn Nén, Thầy Nguyễn Văn Thành, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn. Sang đệ nhị cấp, lớp Đệ Tam, Đệ Nhị có thêm Cô Nguyễn Thị Rớt, Thầy Trần Văn Thuận. Còn nhiều Thầy Cô khác thì hình như không có dạy tôi (như Cô Dương Thị Minh Hoa, Cô Nguyễn Ngọc Oanh, cô Võ Kim Loan, Thầy Huỳnh Văn Xền, Thầy Nguyễn Thanh Liêm. . .). Tất cả các Thầy Cô ở trường Trung học Hà Tiên xưa từ năm 1965 đến 1971 đều để trong lòng tôi sự kính trọng và yêu mến, nhưng có những Thầy Cô làm cho tôi có nhiều ấn tượng, đó là:

Cô Hà Thị Hồng Loan hiền lành dễ mến, Cô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn làm cho tôi nhớ mãi những bài thơ cả cổ văn và kim văn như các bài thơ của Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan, các bài « Khói Trắng » của nhà thơ Kiên Giang, bài « Xóm chợ chiều đông » của Bàng Bá Lân, « Chợ Tết » của Đoàn Văn Cừ. . .

Thầy Nguyễn Phúc Hậu dạy tôi thổi sáo nên đến sau này tôi thổi sáo cũng không tệ lắm.

Thầy Đức Sinh dạy Anh Văn năm Đệ Thất (học ở phòng thí nghiệm), trong giờ học mà Thầy lại dạy các bài hát của đạo Thiên chúa như bài “Đêm Đông” (Không phải bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương), bài hang Bethléem mà đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.

Thầy Bùi Văn Cầm dạy Vạn vật, Thầy có vẻ hiền lành, vui vẻ, đến năm 1987 tôi ra Qui Nhơn thăm và được Thầy cô đón tiếp rất chu đáo.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa để lại trong tôi tình cảm khá đặc biệt. Tôi vốn là một học sinh kém (kém đều các môn), nhưng không hiểu sao năm học Đệ Tam, trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi được điểm cao nhất nên bạn bè bớt chê tôi. Đến khi tôi đi học Sư phạm ở Vĩnh Long, Thầy (lúc đó là hiệu trưởng trường trung học Bình Minh) vào nội trú tìm tôi bảo tôi dạy kèm toán, lý hóa cho 2 đứa em vợ của Thầy, giúp tôi bớt khó khăn trong những ngày học xa nhà.

Thầy Trương Minh Hiển dạy Quốc văn năm Đệ Tứ. Tôi yêu văn chương bắt đầu từ Thầy Hiển. Nhớ có một buổi học, Thầy đọc bài thơ “Thăm động Hương Tích” của Chu Mạnh Trinh, đọc suốt bài thơ với giọng hào sảng và gần như không lấy hơi làm cho tôi và các bạn say mê. Năm đó, không hiểu tôi phạm lỗi gì mà

Thầy bắt tôi vào văn phòng để cho tôi mấy roi mây, tôi nghĩ là mình bị đòn oan, nhưng tôi rất nể trọng Thầy Hiển nên không dám có ý kiến gì. Sau này, tôi và Thầy Hiển rất quí nhau, có khá nhiều ấn tượng (như trong bài viết trước đây về Thầy Hiển).

Thầy Trần Văn Thuận dạy quốc văn năm Đệ Tam (lớp 10) cũng là người truyền thêm cho tôi tình yêu văn chương. Thầy Thuận bị tai nạn gì đó mà một bên mặt (bên phải) bị thẹo, nên khi giảng bài, Thầy thường bước tới rồi bước lui không quay lại để học trò không nhìn thấy thẹo mặt của Thầy. Thầy dạy tác phẩm « Chinh phụ ngâm » rất hay làm cho tôi say mê. Năm đó, Thầy bảo lớp chúng tôi viết thơ hoặc văn để in, Thầy gợi ý nên đặt tên cho tập thơ văn đó là “Lửa Lựu”, lấy hai từ trong câu thơ “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”, nhưng sau đó chúng tôi đặt tên cho tập văn thơ này là “Suối mơ”, tập tác phẩm này in khá đẹp, tiếc rằng hiện nay tôi không còn, không biết bạn bè có ai còn giữ không?.

Còn những Thầy Cô khác, tôi đã có viết và được anh Mãnh đưa lên trang “Trung Học Hà Tiên Xưa” của chúng ta rồi nên không nhắc lại. các bạn nếu thích đọc xin vui lòng tìm lại trên các trang của Blog nhé,…

Lan man nhớ về Trung học Hà Tiên xưa, nhớ Thầy Cô, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, xin ghi lại ít dòng chia sẻ với Thầy Cô và các bạn đồng học trong những ngày cuối năm.

  21/11/2019 Giá Khê Trương Thanh Hùng

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên). Hình: Trương Thanh Hùng, năm 2017

Tác giả Giá Khê Trương Thanh Hùng (bên phải) đến thăm thầy Phan Văn Xuân (bên trái) nhân ngày Nhà Giáo năm nay 20/11/2019 tại tư gia thầy ở Hà Tiên. Hình: Trương Thanh Hùng.

Ban biên tập Blog « Tống Phước Hiệp-Vĩnh Long » tiếp đón Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa »

Thầy Cô và các bạn thân mến, anh Lương Minh chủ bút Blog « Tống Phước Hiệp-Vĩnh Long » (TPH-VL một Blog dành cho cựu học sinh Trung Học TPH-VL mà trong đó có cây bút của Thầy Nguyễn Hồng Ẩn và mình tham dự viết bài) có nhả ý giới thiệu Blog THHTX của chúng ta trên trang nhà TPH-VL của anh. Thay mặt Blog THHTX, mình xin thành thật cám ơn Lương Minh và mong rằng hai trang nhà THHTX và TPH-VL tiếp tục kết nối giao lưu, trao đổi bài vở, đọc giả để chúng ta có dịp thưởng thức những bài viết đặc sắc, vui tươi và tràn đầy kỹ niệm thời học trò…

Sau đây mình xin trích một số nhận xét của các bạn biên tập viên của trang Blog TPH-VL nhân dịp đọc bài giới thiệu của anh Lương Minh về Blog THHTX của chúng ta. Các bạn đã đón tiếp nồng nhiệt trang nhà của chúng ta và đã có ít nhiều kỹ niệm gắn bó với mãnh đất Hà Tiên. Trong số biên tập viên của trang Blog TPH-VL, có bạn Neang Phi Rom, chính là người bạn học cùng Trường Đại Học Khoa Học Cần Thơ với mình trong những năm đầu của thập niên 70. Phi Rom học ban Khoa Học Tự Nhiên còn mình ban Toán Lý Hóa.. Cả hai ra trường và trở thành thầy cô giáo của các tình Châu Đốc, An Giang. Sau năm 1975, nhân dịp thầy cô giáo tụ họp về Long Xuyên để học tập chánh trị, mình và Phi Rom có dịp gặp lại nhau và cùng học chung lớp chánh trị, ngoài giờ học cũng có tham gia văn nghệ giúp vui cho lớp rất hào hứng. Qua vài chục năm không liên lạc với nhau, nhờ có face book và trang Blog TPH-VL, mình có gặp lại bạn Phi Rom và tiếp tục liên lạc lại với nhau với một tình bạn bền vửng. Sau đây xin chia sẻ với Thầy Cô và các bạn vài nhận xét được trích ra từ trang Blog TPH-VL. (Trần Văn Mãnh)

phi_rom_2 phi_rom_1

Bạn Neang Phi Rom (2011)

 

Lời giới thiệu Blog « Trung Học hà Tiên Xưa » của anh Lương Minh và các nhận xét của các bạn trong ban biên tập trang Blog TPH-VL.

Trang Trung Học Hà Tiên xưa do Trần Văn Mãnh thiết lập nhằm thông tin hiện tại của các cựu học sinh (CHS) Trung Học Hà Tiên. Anh Mãnh là học trò ngày xưa của anh Nguyễn Hồng Ẩn (NHA), anh cũng từng là cộng tác viên (CTV) của trang nhà. Mục đích của trang là để CHS Hà Tiên có một nơi để đến và dừng lại vài giây phút nhớ về những kỹ niệm xưa, nhắc lại cho nhau những nỗi vui, buồn và cho nhau nhìn ngắm lại những gương mặt quen thuộc, những hình ảnh đầy quyến luyến của khung trời xưa cũ. Trang được thành lập cuối năm 2015, nhưng mới được anh Mãnh cho biết. Trang nhà, chúc mừng trang Trung Học Hà Tiên xưa, mong đây là địa chỉ thường đến của anh chị em đất Phương Thành cũ. Để xem trang xin vào:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/luong_minh                                       Thay mặt Blog Tống Phước Hiệp–Vĩnh Long

   Lương Minh (09/2016)

hao_phirom_luongminh_2011Trái sang phải: bạn Trương Thanh Hào (cũng là một cộng tác viên của hai Blog THHTX và TPH-VL), bạn Neang Phi Rom và anh Lương Minh (hình chụp năm 2011, trông « tùa hia » vẻ hơi ốm !!)

Các nhận xét:

Trần Văn Mãnh: 14/09/2016 at 7:01 chiều

Xin thân chào anh Lương Minh, rất cám ơn anh đã chiếu cố và giới thiệu trang Blog “Trung Học Hà Tiên Xưa” trên trang nhà  “Tống Phước Hiệp Vĩnh Long”. Thân chúc anh và tòan ban biên tập trang nhà TPH-VL được bình an, vui khỏe và tiếp tục phục vụ trang nhà mạnh mẻ nhé,..(Trần Văn Mãnh)

Nhân tiện mình cũng có giới thiệu trang Blog “Tống Phước Hiệp-Vĩnh Long” trên trang Blog THHTX trong phần “Liên kết” để được phổ biến rộng rải các bài viết trên trang Blog của anh Lương Minh.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2016/02/17/lien-ket/

Luong Minh: 14/09/2016 at 11:12 chiều

Các trang của cựu học sinh (CHS) đều là nơi vui chơi của người lớn tuổi. Tôi nghĩ nó sống nhiều lắm là 25 năm nữa. Nếu các thành viên chưa đi về bên kia thế giời thì số người còn lại không là bao, không còn người viết và người đọc cũng không còn nhu cầu. Thế nên, còn vui với nhau ngày nào, hãy tích cực. Tiếc là anh Mãnh ở nước ngoài, trong nước CHS TH Hà Tiên có nhóm nào không? Nếu có, chúng ta giao lưu, thăm viếng lẫn nhau, trao đổi hiểu biết thì thật là quý.

NHA : 14/09/2016 at 8:07 chiều

Bấy lâu tôi muốn giới thiệu trang Trung học Hà Tiên Xưa của Mãnh (https://trunghochatienxua.wordpress.com), vốn là đồng nghiệp của Phi Rôm với anh chị em Trang Nhà tongphuochiep-vinhlong.com nhưng…. không dám (hi hi), nay được SOS giới thiệu thì hay quá. Cá nhân NHA ( và có lẽ cả các em chs Trung học Hà Tiên xưa cũng muốn) xin cám ơn  LM thật nhiều.

Trần Văn Mãnh: 14/09/2016 at 8:41 chiều

Dạ, em cám ơn Thầy nhiều nhé, nếu có dịp Thầy cứ tự nhiên quảng cáo cho trang nhà THHTX của Thầy trò mình nhé, không có chi ngại cả Thầy ơi. Anh Lương Minh cũng rất vui vẻ và tử tế cho mình được xuất hiện bên cạnh các anh em Tống Phước Hiệp Vĩnh Long…Xin thành thật cám ơn tất cả nhé,…TVM

Neang Phi Rom: 14/09/2016 at 8:34 chiều

Mừng trang Trung học Hà Tiên xưa của bạn Trần Văn Mãnh (người bạn đồng nghiệp của tôi lúc dạy học tại tỉnh An Giang, cũng là bạn học cùng trường Đại Học Cần Thơ). Chúc trang blog của bạn ngày một lớn mạnh, tin tức, bài vở thật phong phú, thu hút nhiều độc giả. Chúc bạn cùng tất cả anh chị em dồi dào sức khỏe. Phi Rom.

Trần Văn Mãnh: 14/09/2016 at 8:45 chiều

Hello Phi Rom, rất vui mừng khi thấy bạn ủng hộ mình,…bạn đồng hành sách vở của trường Đại Học Khoa Học Cần Thơ, bạn đồng nghiệp An Giang và cũng là thành viên trong nhóm TPH-VL với Thầy Nguyễn Hồng Ẩn và anh Lương Minh, cám ơn Phi Rom nhiều nhe và thân chúc bạn vui khỏe, viết văn mạnh cho trang nhà TPH-VL đồng thời hưởng nhàn bên con cháu nhé,…Thân. TVM

Neang Phi Rom: 15/09/2016 at 7:54 sáng

Nhớ lúc mới ra trường, bạn Mãnh về dạy trường cấp 2-3 huyện An Phú, còn mình thì về dạy trường cấp 2-3 Huyện 7 Núi, mỗi kỳ hè tập trung học chính trị tại Long Xuyên, lại chung một tổ thảo luận nữa chứ, đi học chính trị mỗi kỳ hè vậy mà vui vì lâu lâu đi tỉnh thoát khỏi vùng khỉ ho, nhớ nhất mỗi giờ giải lao có phục vụ văn nghệ, mình và bạn có lên song ca bài ”Con kênh xanh xanh”…hihi…

Trần Văn Mãnh: 15/09/2016 at 2:08 chiều

Phi Rom nhớ hay quá nhỉ,…đúng như là Phi Rom nói, ngày xưa mỗi lần học chính trị, thầy cô giáo tập trung về Long Xuyên, học tại trường Phụng Sự và mỗi giờ học đều có văn nghệ giúp vui,…Nhóm mình gồm có Long (Anh văn), Hùng (Tóan), Mãnh (Tóan), Lý (Anh văn), đó là nhóm thầy giáo trường An Phú về LX học tập…thường hay lên ca giúp vui trong những giờ học chính trị tại trường Phụng Sự….Nhớ lúc đó ở trọ tại nhà chị Ái Lan, gồm có: Hồng và Phi Rom nữa…..Bốn bạn mỗi ngày từ nhà chị Ái Lan đi học rất vui và ở cùng chung một căn hộ của chị, do nhả ý của chị muốn giúp chúng ta có chổ ăn ở thoải mái trong thời gian học tập tại LX. rất cảm kích và mang ơn chị Ái Lan rất nhiều. Nếu Phi Rom muốn liên lạc với chị Ái Lan thì vào fb kết bạn, chị hiện đang ở Mỹ và đã lập gia đình khác. Chị lấy tên là Elizabeth Truong.

My Nguyen: 15/09/2016 at 9:17 sáng

Chào anh Trần Văn Mãnh! MN là một CHS của TPH, một giáo viên đã nghỉ hưu. Ngoài niềm vui với gia đình thì niềm vui lớn của mình hiện nay là tìm hiểu và giao lưu với các trang mạng, đặc biệt là rất gắn bó với trang tongphuochiepvinhlong. Nay MN rất vui khi được anh LM giới thiệu trang Blog “Trung học Hà Tiên xưa”. Xem như mình vừa có thêm một người bạn vậy. Chúc anh luôn khỏe và thành công với công việc của mình.

Hoành Châu: 15/09/2016 at 12:38 chiều

Chúc mừng Trang Trung học Hà Tiên xưa, Hà Tiên là nơi mình sinh ra 1953    nhưng gốc  người  Vĩnh  Long     ,,, Năm 1980, được  điều   về dạy ở  Trường Cấp 3  Bình Minh,  mình được gia đình  phụ  huynh  mời tham quan  Hà  Tiên 5 ngày ( vì biết mình được  sinh  tại  Hà  Tiên  )  ,,, thăm chợ Tròn, chợ dài, Bãi Nò, qua Phà Tô Châu, thăm  cửa  hiệu  gồm  các   đăc  sản chế  biến  từ  mai  đồi  mồi (cà rá, vòng, lược cài,  trâm, hộp  đựng  nữ  trang, quạt..)  thăm nhà máy Xi măng Hà Tiên, Thăm Thạch Động ,,, và ăn nhiều Hải sản  ở  đấy, nhất  là  ghẹ, mực, cá Bốp, và nhiều  loại  cá  khác, nay  quên  tên  hết  rồi, còn   ngày  về  quà tặng  là 1 thùng  rau câu, rong  biển  và ghẹ luộc  sẵn  ở  nhà (trước  khi  xuất  khẩu  về  Vĩnh  Long), nhớ lại  ngày ấy vui và ý  nghĩa  quá! Có dịp  nào  chúng  ta  tổ  chức   tham  quan Hà Tiên các  bạn nhé  !

Lê Thân Hồng Khanh: 15/09/2016 at 5:17 chiều

”Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của nữ sỹ Mộng Tuyết Thất tiểu Muội mà tôi đã đọc một cách say mê, thích thú khi còn nhỏ mặc dù đây là một câu chuyện thương tâm có dính líu đến “án mạng” vì ghen tuông trong giới quan quyền của Hà Tiên thuở xa xưa (tôi đã xem lén cuốn truyện này).

Nhà thơ Đông Hồ và vợ là nữ sỹ Mộng Tuyết là hai nhà thơ nổi tiếng của đất Hà Tiên, được nhiều người trong nước biết đến.

Rất vui khi thấy có sự liên kết giữa hai trang TPH-VL và Trang Trung học Hà Tiên xưa, ý kiến hay và tốt đẹp giữa Lương Minh và Trần Văn Mãnh đã đưa cựu học sinh của hai trường đến gần nhau hơn, hiện tại và trong cả tương lai.

Trần Văn Mãnh: 15/09/2016 at 8:49 chiều

Thành thật cám ơn cô Lê Thân Hồng Khanh,các bạn My Nguyên, Hoành Châu đã ủng hộ trang Blog THHTX….Nói chung thì giữa chúng ta cũng có nhiều liên hệ đồng nghiệp, đồng quê, đông ý thích,…..Xin nói rỏ thêm để các bạn dể xem trang Blog: Trong Blog mình có phân ra nhiều tiết mục như: “Thầy Cô”, “Bạn Học Cùng Trường”, “Chuyện vui buồn ngày xưa”, “Hình ảnh sinh họat xưa”,…….”Những người đã ra đi”..
Các bạn chỉ cần nhấn chuột vào một trong những tiết mục nầy thì sẽ có một trang mới hiện ra có đầy đủ danh sách các bài viết trong mục đó, và sau đó nhấn vào tựa mỗi bài viết sẽ có bài và hình ảnh hiện ra. (Nói nhỏ: Trong mục “Chuyện vui buồn ngày xưa” có rất nhiều bài hay viết về kỹ niệm học trò với những mối tình học sinh rất ngây thơ nhưng không kém phần nồng nàn,….!! )

Neang Phi Rom: 15/09/2016 at 9:28 chiều

Mãnh ui! bạn quên kể anh Hòa (văn) tổ trưởng tổ thảo luận chính trị, mình không nhớ năm nào anh Hòa chuyển về dạy trường C3 Tri Tôn, sau đó ảnh qua đời do bệnh lao khi tuổi còn quá trẻ, thật tội nghiệp, vì năm 1979, Sở GD rút PR về công tác tại phòng Phổ thông, lúc công tác ở Sở mình ở nhà Ái Lan, hiện PR vẫn liên lạc với Ái Lan qua face book, hai chị em thường xuyên nói chuyện, nhắc nhở chuyện hồi nẫm vui lắm…hihi…cám ơn Mãnh thật nhều

Trần Văn Mãnh: 16/09/2016 at 12:52 chiều

Đúng rồi Phi Rom, hồi đó nhóm Trung Học An Phú còn có Huỳnh Ngọc Hòa (Văn)  và Trần Đình Khương (Lý Hóa) nữa. Đây là hai giáo sư rất nỗi tiếng của Trung Học Châu Đốc thời trước, sau đó hai bạn đều đổi về Trung Học An Phú dạy chung với mình và Võ Hùng. Anh Hòa sau đó cưới vợ cũng là người gốc An Phú, mình và Võ Hùng đều biết vợ anh Hòa. Lúc về Long Xuyên, Hòa mua một căn nhà ở “xóm nhà cháy”, mình và Võ Hùng có đến thăm nhà mới của bạn Hòa. Hai vợ chồng có một cháu trai nhỏ lúc đó Hòa thường hay chở cháu bé ngồi phía trước của xe đạp…Anh Hòa, mình và Võ Hùng thời đó rất thân, chuyện gì cũng kể cho nhau nghe cả kể cả chuyện bí mật bồ bịch trai gái…hi..hi…Tội nghiệp bạn Hòa sao số vắn quá nhỉ. Không biết vợ và con trai của anh sau nầy ra sao.