Thư Tình (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy Cô và các bạn thân mến, trong quảng đời học sinh chúng ta ai cũng có một lúc trao đổi thư « tình » qua lại với một người bạn khác phái,…Trao thư tình cũng có nhiều kỷ thuật, có bạn thì nhờ người bạn thân của đối tượng mình trao dùm vì là người tin cậy được, có bạn thì lén để vào học tủ bàn học của đối tượng mình muốn trao thư,…Không biết còn kỷ thuật nào nữa các bạn nhỉ…Riêng mình thì có kỷ thuật giãi toán cho đối tượng, như vậy mới có lý do để trao thư qua lại, nhưng kỷ thuật nầy không hiệu quả lắm vì trong thư chỉ toàn là đề toán không, tìm mãi cũng không thấy một chử « anh yêu… »…..Có lẻ trong thư của Duy gởi cho Kim Hoàn là hay lắm, lời lẻ đầy êm dịu nhẹ nhàng, phải chi Kim Hoàn cho chúng ta đọc một « bản sao » của lá thư đó thì mình học được thêm một cách viết thư tình bay bướm mặc dù chúng ta đã đi vào thời điểm « bốn mắt nhìn nhau mà nói chẳng nên lời… »…:-)…   (lời giớii thiệu: Trần Văn Mãnh)

THƯ TÌNH

Năm học đệ tứ, tôi 14 tuổi. Trong lớp chỉ có vài bạn sinh năm 1954. Bên nam có Trương Thanh Hùng, Trần Học Quang, Tô Vĩnh Tuấn. Nữ có tôi và Nguyễn Thị Thúy Vân. Mà tôi sinh tháng 11 nên được xem là nhỏ tuổi nhất. Cho nên “chàng” nói gởi thư tình cho “em” thì không sợ đám bạn nói rằng “cua” mấy “chị” cùng lớp.
Chúng tôi học chung từ năm đệ thất. Tôi gọi tên “chàng” là Duy cho tiện. Duy có giọng hát rất hay. Bài ruột của Duy là “Đêm buồn tỉnh lẻ”.
Không biết anh thích tôi từ lúc nào. Chỉ biết khi chiều xuống, anh hay quanh quẩn ở xóm nhà tôi. Giả vờ đi tìm Phan Thanh Tùng nhà kế bên, và thường đóng đô ở đấy, nên có khi Tùng cằn nhằn: “Nó nói tìm tao, nhưng mắt cứ nhìn miết qua nhà mày đó thôi.”
Một ngày đẹp trời nọ, khi tôi vừa vào lớp học thì chị Trần Quý Phụng ngồi cạnh tôi nói nhỏ:
– Có người nhờ chị đưa thư tình cho em nè.
– Ai vậy chị?
– Duy đó.
– Em không nhận đâu.
– Sao vậy?
– Em sợ lắm!
– Gì mà sợ. Tuổi học trò có thư tình là chuyện thường. Em thương người ta thì em hồi âm lại. Không, thì đọc xong mình xé bỏ.
– Vậy được sao?
– Chứ giữ đó rủi ba mẹ thấy là chết.
– Xé thư tình hở chị? Sao kỳ vậy?
Chị Quý Phụng dúi lá thư vào trong cặp của tôi. Châu Ngọc Mỹ ngồi kế chị Phụng liếc qua càu nhàu:
– Học hành không lo, lo thư với tình!
Vậy là suốt 2 giờ đầu, tôi chẳng nghe thầy giảng gì cả. Cái thư đang nằm yên trong cặp tôi. Chẳng hiểu sao tôi cứ hồi hộp, lo sợ như là có trái bom nổ chậm vậy.
– Ủa, Duy đâu rồi chị Phụng?
– Nó nghỉ giờ đầu, chắc… xao động quá, nên không vô học.
Ô, lạ thiệt! Trao thư tình cũng phải nghỉ học ư?
Hồi chuông vang lên. Tôi không ra chơi. Chắc tôi sợ mất lá thư? Tôi cũng tò mò muốn đọc ngay để biết Duy viết gì trong ấy? Nhưng lớp học đông thế này, làm sao mà đọc được?

htkhChân dung cô học trò 14 tuổi, học lớp đệ tứ, do dự không dám nhận thư tình của người bạn học trai…

Thình lình có tiếng la ó om xòm, tiếng vổ tay rầm rộ bên dãy nam sinh. Mọi người hướng mắt ra cửa lớp. Tôi cũng nhìn theo. Chao ơi, các bạn đang hoan nghinh sự xuất hiện của Duy. Duy ăn mặc chải chuốt, đầu tóc láng mướt, oai hùng bước vô lớp. Ánh mắt Duy ngó thẳng vào tôi cười toe toét. Tôi không bao giờ quên được nụ cười rạng ngời ấy của Duy.
Thì ra mọi người đều biết chuyện này? Tôi mắc cở quá đi thôi. Tôi không biết phải trốn ở đâu bây giờ, nên đành ngồi yên, cuối gầm mặt xuống.
Tan trường. Tôi cố ý nán lại, chờ bạn bè ra về hết, tôi mới bước ra cổng thì thấy Duy đang đứng đó, chắc anh đợi tôi về.
Sánh bước trên đường Mạc Công Du có hàng dương xanh rợp bóng. Tôi trách:
– Sao Duy làm vậy? Ai cũng biết hết.
– Thì Duy muốn cho mọi người biết Hoàn là của Duy mà, để đừng ai… cua Hoàn nữa.
Tôi ngạc nhiên, hỏi:
– Hoàn là của Duy?
– Ừa, phải!
Chời! Con bé ngày xưa cũng hết ý kiến luôn. Chẳng nhớ mình đã nói thêm những gì nữa?
Khi đi đến đường Tuần Phủ Đạt thì Duy chia tay:
-Thôi mình về nhe.
Đi được vài bước Duy quay lại:
– Hoàn có biết tại sao Duy cứ hát bài “Đêm buồn tỉnh lẻ” không? Tại vì có một câu mà Duy muốn nói với Hoàn: “Yêu, yêu em nhiều lắm nhưng tình ta vẫn chưa thành khi núi sông còn điêu linh…”
Quay đi vài bước, Duy lại gọi tôi, rồi anh hát: “ Thương em, thương nhiều lắm, em ơi biết cho chăng, tỉnh lẻ đêm buồn!”.
Giờ nhớ lại, thiệt là quá dễ thương!
Riêng tôi, mổi khi nghe bài hát đó, tôi không sao quên được Duy và lá thư tình đầu đời.
Cảm ơn Duy đã dành cho cô bạn học một tình cảm thơ ngây, một kỷ niệm đẹp của tuổi học trò dưới mái trường trung học Hà Tiên.

Hồ thị Kim Hoàn
(June 26, 2016)

dembuontinhle_adembuontinhle_b

dembuontinhle_cdembuontinhle_d

Hình ảnh: Hồ Thị Kim Hoàn, bìa nhạc Interrnet

Publicités

Tự bạch (Trương Thanh Hùng)

                                              TỰ BẠCH

Gia đình tôi về sống tại Hà Tiên từ năm 1963 khi ba tôi là thầy giáo Trương Tự Phát chuyển từ Tri Tôn (Hòn Đất) về dạy tại trường tiểu học Hà Tiên. Gia đình tôi ở trên đất của bà Đội Căn mà chúng tôi gọi là “Bà Cô”, địa chỉ tại số 6 đường Mạc Cửu, xéo xéo nhà Bác Tư Trượng (sau này gia đình Thúy Vân ở).

Về Hà Tiên, tôi học lớp nhì do Thầy Minh dạy, rồi Thầy Minh chuyển đi, tôi cùng với anh tôi là Trương Thanh Hào học với Thầy Hứa Văn Vàng, còn anh Trương Thái Minh thì học tiếp liên. Thầy Vàng đã để lại trong tôi dấu ấn khó quên là vì tôi viết chữ xấu, lại ẩu nên Thầy thường ngồi bên tôi, khi tôi viết ẩu, Thầy cho ngay một cây “bê”, không đau lắm, nhưng tiếng cây “bê” bằng cạc tông nghe rất sợ. Chính vì thế sau này tôi viết chữ không đến nỗi tệ, chỉ còn tật ẩu thì chừa chưa được.

Năm lớp nhất, tôi học với Thầy Phan Tấn Hoàng cùng với nhiều bạn sau này vào trung học như Lý Minh Chữ, Trần Phước An. . .

Thi vào đệ thất năm học 1965-1966 đậu hạng 47/50. Năm đó có 200 thí sinh thi vào đệ thất trường trung học Hà Tiên gồm 2 lớp nhất nam, 1 lớp nhất nữ của trường tiểu học Hà Tiên và 1 lớp nhất của trường Kiên Lương mà chỉ tuyển có 50 em, kể cũng ít.

Năm học đệ thất, tôi được học với cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, hình như trường trung học Hà Tiên những năm đó chỉ có cô Loan và cô Lành là người Hà Tiên, còn lại là thầy cô ở nơi khác đến dạy. Không nhớ hết các thầy cô dạy những năm đệ thất, đệ lục, nhưng còn nhớ thầy Đức Sinh dạy Anh văn. Trong giờ học Anh văn mà Thầy lại dạy hát 2 bài thánh ca, đến nay tôi còn thuộc. Năm này, thầy Lại Xuân Quất đã chuyển, thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng.

Trong những năm học từ đệ thất đến đệ tứ, tôi là một học sinh kém “toàn diện”, nhưng may mắn là không ở lại lớp, tuổi cũng nhỏ so với các bạn. Không hiểu sao tôi luôn có mặc cảm mình là người xấu trai, học dốt. Tôi luôn ngưỡng mộ các bạn học cùng lớp như Tô Vĩnh Tuấn, Tiền Thiên Lộc, Tiền Minh Quang, Lý Minh Chữ, Trần Tuấn Anh, Trần Học Quang, Trương Công Tước. . . dĩ nhiên là có cả anh Trương Thanh Hào của tôi. Các anh ở lớp trên cùng học với anh Trương Thái Minh của tôi có Trần Văn Mãnh, Trần Tiên, anh Trần Tấn Công (anh của Vân, nhà ở góc đường Phương Thành-Chi Lăng), anh Trần Văn Danh con Bác Ba Đen (ở xéo nhà tôi, góc đường Phương Thành-Mạc Cửu, sau đó anh Danh về Nhà Bàng ở không còn nghe tin tức), anh Nguyễn Ngọc Thanh (Thiếu úy), anh Lý Văn Tấn, Lý Cui. . . Kể cả ngưỡng mộ lớp đàn em như Hà Quốc Hưng, Quách Ngọc Điền ở khả năng văn nghệ. Còn nhiều anh chị và các bạn nữa nhưng tôi không thể kể hết ra đây. Hình như vì mặc cảm đó cùng với ba tôi rất khó nên tôi cũng ít đi chơi, nhưng những năm học đệ thất, đệ lục, tôi hay đi câu cá ở bờ Đông Hồ, bán cà rem nên có dịp dạo khắp đất Hà Tiên.

Học hết năm đệ tứ, có lẽ ba tôi thấy tôi học yếu nên cho đi học sửa máy ở tiệm của bác Năm Xuân Thạnh vào hè năm đó.

Năm Đệ Tam, tôi chơi khá thân với Hoàng Đức Trung vừa từ ở Kampuchia về. Hết năm đệ tứ, nhiều bạn trai phải đi lính, trong đó có Trần Tuấn Anh, Chung Lưỡng Tài, sau này anh Tài về ở Bãi Chà Và và đã mất khoảng 5 năm nay. Do đó lớp đệ tam còn rất ít bạn trai. Đến năm lớp 11 thì trong lớp chỉ còn 6 bạn trai mà thôi, vài bạn gái cũng đi Long Xuyên hay Sài Gòn học.

Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTTrương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt

HoangDucTrung_TruongThanhHungHoàng Đức Trung và Trương Thanh Hùng (ở trần leo cây không biết để làm gì ??)

Đậu tú tài 1 năm 1971, tôi ra trường Nguyễn Trung Trực học lớp 12, đậu tú tài 2 rồi đi học ở Sư phạm Vĩnh Long.

Năm 1974 về dạy trường sơ cấp Bãi Ớt, lúc này các bạn Lâm Thị Lan, Trần Yến Phượng, Thúy Phương cũng vào nghề giáo.

Cuộc đời đưa đẩy, năm 1977, tôi chuyển công tác rồi thành người viết lách cho đến hôm nay.

Năm 1987 tôi ra Rạch Giá công tác.

Năm 2013 nghỉ hưu về Sài Gòn sinh sống.

TruongThanhHung_DessinTrương Thanh Hùng qua nét vẻ của họa sĩ Huỳnh Phương Đông (2012)

Hiện tôi vẫn còn hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, chủ yếu là nghiên cứu, viết lách về lịch sử, văn hóa vùng đất Nam bộ, đặc biệt là Kiên Giang và Hà Tiên của chúng ta.

Qua trang “Trung học Hà Tiên xưa”, tôi rất mong được liên lạc với các Thầy cô, các bạn, các anh chị mà tôi hằng quí mến.

TruongThanhHung_Nay

                Sài Gòn 10-1-2016

               Trương Thanh Hùng

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Hoàng Thị Minh Liên