Chùa Lò Gạch (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Ký ức về chùa Lò Gạch Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, từ những thập niên 40 (khoảng năm 1945), ở Hà Tiên có xuất hiện một ngôi tịnh xá đơn sơ, vách và mái lợp lá, có tên gọi là Tịnh Xá Chí Hòa. Đó là ngôi tịnh xá do thầy Thích Chí Hòa (thế danh là Nguyễn Văn Tịnh) trên đường du hành tìm Đạo, đã dừng chân tại mảnh đất Hà Tiên và dựng lên ngôi chùa nhỏ nầy. Tịnh xá tọa lạc tại phía đông bắc chân núi Bình San, Hà Tiên, tại đây kề bên tịnh xá còn có một cái lò gạch bỏ hoang từ rất lâu, ngôi tịnh xá cất kề sát với cái lò gạch nầy, vì thế thầy cho mở ra một lối vào lò gạch từ bên trong phía phải của tịnh xá để dùng làm chánh điện thờ các tượng Phật bên trong lò gạch, từ đó tịnh xá Chí Hòa còn có tên bình dân là Chùa Lò Gạch.

Ngôi chùa Lò Gạch rất quen thuộc với mình, vì ngay từ nhỏ mỗi khi qua mấy ngày Tết thì bà ngoại mình làm một chuyến đi cúng chùa quanh phố Hà Tiên, nào là chùa Bà Cửu Thiên, chùa Lò Gạch, chùa Phù Dung, chùa Phật Đường, chùa Tam Bảo,..v…v…. Lần nào bà ngoại cũng dẫn theo ba anh em mình (còn một cô em gái út nữa nhưng vì cô nầy còn rất nhỏ nên ít có dịp đi theo ba anh trai cúng chùa với bà ngoại). Phương tiện di chuyển là xe lôi đạp thùng (loại xe nầy chỉ có ở Hà Tiên, người ta còn gọi là xe « đầu mọt »,…không hiểu ý nghĩa ra sao ?!). Bà ngoại và ba đứa cháu nhỏ đi một chiếc xe lôi đạp là đủ rồi. Mỗi khi đến chùa nào phải dừng lại để vào cúng kiến thì chú đạp xe nằm trên xe nghỉ mát ngoài vệ đường, vì không khí và quang cảnh những nơi có chùa chiền ở Hà Tiên đều rất mát mẻ với nhiều cây xanh chung quanh.

Khi tới địa điểm chùa Lò Gạch thì bà ngoại dẫn ba đứa cháu vào chùa, giới thiệu với bà cô và « huynh Ba » là hai vị trụ trì trong chùa Lò Gạch mà mình biết ngay từ lúc nhỏ vì lần nào đi chùa Lò Gạch đều gặp hai vị nầy. Cho đến ngày nay, mình cũng chưa biết được bà cô và huynh Ba trụ trì là ai, tên họ là gì, có liên hệ họ hàng với nhau không ?? Chỉ biết là bà cô và huynh rất tử tế, nói chuyện với mấy anh em mình rất vui vẻ, hỏi thăm nhiều điều và thường cho ăn trái cây cúng trong chùa. Trong khi bà ngoại tiếp chuyện và tiến hành lễ cúng thì mấy anh em mình được cho lên bộ ván gỗ lớn ngay bên trái trong chùa để ngồi chơi. Từ bên ngoài bước vào chùa thì bên trái có bộ ván gỗ lớn, bên phải là cái cửa thông vào lò gạch là nơi chánh điện, ở giữa chùa cũng có bàn thờ, chắc thờ các vị Tổ và quý vị thần. Phía sau bàn thờ Tổ là hậu liêu, tức nhà sau của chùa, cũng có một cái cửa thông ra núi Bình San sau đó, hình như phía sau chùa, khi mình bước ra khỏi cửa sau thì có một cái nghĩa địa nhỏ, mình cũng có lần đi dự đám táng chôn cất của bạn quen biết tại đây, hình như là anh Đường Hùng Việt an nghỉ tại đây, bây giờ thì không biết cái nghĩa địa nầy có còn nữa không?.

Sở dĩ bà ngoại cho mấy anh em mình an vị trên bộ ván gỗ lớn là vì ngay bên vách tường chỗ kê bộ ván có một bức tranh rất to lớn, vẽ đủ hết tất cả các cảnh hình phạt ở dưới âm phủ, địa ngục do các quỷ sứ thực hành các hình phạt đó. Hồi đó mình rất thích xem toàn bộ các cảnh trong bức tranh to lớn nầy, bức tranh bằng vải trắng dầy, hình vẽ có sơn màu rất tinh vi…Mặc dù thích xem nhưng cũng hơi sợ các quang cảnh hình phạt trong bức tranh, có đủ hết các loại hình phạt: hình hai quỷ sứ đang kéo cưa, cưa làm hai một thân hình một người đàn ông, hình một quỷ sứ đang dùng cây kềm kéo lưỡi một người ra để cắt đứt lưỡi (vì người nầy trên trần gian phạm tội nói dối…, theo lời giãi thích của bà Cô), hình có một vạc dầu đang sôi nóng bỏng, có hai quỷ sứ đang đưa một người đàn bà vào trong vạc dầu sôi đó (vì trên trần gian người đàn bà nầy phạm tội…tà dâm…!!). Còn rất nhiều cảnh xử phạt khác nữa mà mình cũng hơi quên hết rồi, hồi đó mình hoàn toàn không có ý thức là tự thắc mắc ai đã vẽ ra bức tranh nầy, các sáng tạo nầy thật là hay, rất nghệ thuật, từ đâu mà có được bức tranh nầy ..?…Ngày nay khi nhớ lại mình vẫn còn rất thích bức tranh đó, thật sự bây giờ qua các biến đổi của tạo hóa và thời cuộc, qua các quá trình xây cất chùa tân thời và quy mô, bức tranh bằng vải nầy không biết đã ra sao, chắc chắn là đã bị hủy hoại, tan mất trong những đám vật dụng xưa cũ mà người ta không còn trân trọng nữa, thật là rất đáng tiếc, đó là một bức tranh tuy có tính chất tượng trưng nhưng đóng một vai trò giáo dục rất tốt, khi mình xem tranh với những cảnh tượng hình phạt người có tội trên trần gian như thế, mình sớm hiểu biết và tự nhũ sẽ không làm điều gì mắc tội như thế nữa…!!

Nhắc tới bức tranh quang cảnh âm phủ địa ngục như thế, mình và các bạn chắc chắn sẽ nhớ lại thời xưa, ở Hà Tiên có một lúc cũng có một chiếc xe hàng lớn, trong xe cũng có diễn ra quang cảnh âm phủ với đủ các hình phạt do quỷ sứ thực hành như vậy, nhưng bằng các mô hình người máy có cử động thật rất là hay, người ta muốn xem phải mua vé vào bên trong xe thùng nầy để xem, mình còn nhớ rỏ. Chiếc xe nầy đậu tại bùng binh trước dãy quán tiệm ở mé sông Hà Tiên, kế bên bót cảnh sát, bên hông chợ cá cũ Hà Tiên, người ta đi xem rất đông, bên trong xe là cảnh âm phủ rất đẹp có sơn màu và trình bày đủ các quỷ sứ bằng hình nộm cử động được (automates), các hình nộm quỷ sứ nầy diễn ra các hàng động cũng giống như trong bức tranh bằng vải treo trong chùa Lò Gạch ngày xưa, người Hà Tiên, nhất là con nít mua vé vào xem rất đông,…Chiếc xe hàng nầy chỉ lưu lại ở Hà Tiên một thời gian ngắn thôi, thường thường có thể là một hoặc hai tuần lễ, sau đó thì người ta chạy đi qua các nơi khác để tiếp tục hoạt động. Thời đó mà người ta làm được các cảnh người máy cử động như vậy thì thật là rất hay, rất kỹ thuật, tất cả đều « chạy » bằng điện do chiếc xe thùng lớn tự phát ra.

Trở lại kể tiếp việc cúng Phật ở chùa Lò Gạch. Đến giờ cúng, mình còn nhớ và còn hình dung ra được bà cô trụ trì chùa mặc vào bộ áo lễ Phật rất trang nghiêm và rất đẹp, y hệt như bộ áo mà ta thường thấy trong hình vẽ thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh. Trên đầu cũng có đội một cái mũ có nhiều miếng hình tam giác dựng đứng lên phía trên, bà cô cũng có một cây gậy, nhưng đó là cây gậy có tên « tích trượng », cây tích trượng bằng đồng hay sắt, phía trên đầu có rất nhiều khoen tròn gắn dính vào đầu cây…(giống như hình thầy Tam Tạng cầm cây tích trượng). Còn huynh Ba thì cũng mặc áo màu lam vào, trông rất đạo mạo và rất hiền từ. Các bạn Hà Tiên chắc biết và còn nhớ huynh Ba nầy,…không ai biết gốc tích hay tên tuổi của thầy, chỉ biết là người Hà Tiên thường kêu thầy là « huynh Ba », thầy không già, tuổi khoảng chừng 40 trở lên thôi, không biết là người ở đâu, theo tu ở chùa Lò Gạch khi nào, nhưng những lúc mình đến thăm chùa Lò Gạch đều gặp huynh Ba và cũng thường trò chuyện với huynh Ba, vì thầy đều biết mấy anh em mình. Cũng nói thêm về trường hợp của huynh Ba, hồi đó huynh bị nhiễm căn bệnh « cùi », những ngón tay của huynh đều mất hết đầu móng và có vẽ bóng nhẵn nhụi, tuy nhiên rất sạch sẽ không có điều gì xấu xa. Huynh lại là người tu hành, ăn chay nên căn bệnh cũng không phát triển thêm nhiều, có lẽ sau nầy huynh cũng mất vì căn bệnh như vậy. Khi đi hành đạo hoặc cúng kiến tại các tư gia, huynh thường có bộ dụng cụ như bình bát, muổng, ly và đủa riêng để dùng cho mình.

Sở dĩ huynh Ba biết mấy anh em mình nhiều là vì khoảng vào năm 1963 ông ngoại mình mất, trong lúc làm lễ cúng những cái « thất » (tức là cúng những lần vào 7 ngày sau khi mất, cho đến lần cuối là 49 ngày), nhà mình thường thỉnh huynh Ba và thầy Nhật Quang (lúc đó thầy Nhật Quang trụ trì chùa của gia đình là chùa ông Yết Ma cũng gần chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, rồi sau đó nhiều năm thì thầy Nhật Quang trụ trì chùa Phù Dung) đến nhà mình tụng kinh trong lúc cúng « thất ». Hai thầy huynh Ba và Nhật Quang đến nhà mình trước một ngày để tối đó tụng kinh và ngày hôm sau là ngày chính để cúng « thất » cho ông ngoại, hai thầy ngủ lại trong nhà mình một đêm, cùng độ cơm chay ở nhà luôn, vì mỗi lần cúng cho ông ngoại, bà ngoại mình đều cúng cơm chay. Để cho hai thầy giải trí trong đêm đó, mình và anh hai Dõng thường tổ chức « chiếu bóng » cho hai thầy xem. Nói chiếu bóng, tức là thời đó mấy anh em mình đã « chế » ra được một cái « máy » chiếu bóng, đó là một cái hộp bằng carton dầy, bên trong có thiết kế chỗ để một bóng đèn thắp cháy bằng pin đi nhặt ở trại lính thành 18 Hà Tiên. Đối diện với bóng đèn là một cái lỗ trống được khoét thành hình vuông hoặc hình chữ nhật cho ánh sáng thoát ra. Phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn «phim» vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để «sản xuất» một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẽ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chữ nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình «cao bồi» cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh «sản xuất» phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có «phim màu» rồi đó các bạn…). Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chút để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…Hai thầy xem phim rất thích thú và cứ khen hai anh em mình hoài…Ngoài ra trong thời gian đó mình thường vẽ hình ông Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát và sơn bằng màu nước, lúc đó mình có vẽ một bức hình Địa Tạng Vương để tặng cho huynh Ba và thầy Nhật Quang dùng hình để tụng kinh mỗi khi có đi cúng ở nhà người dân.

Ngôi chùa Lò Gạch nằm ngay tại chân núi Bình San, xéo trước mặt chùa bên vệ đường có một cây bồ đề rất to lớn, không biết cây bồ đề nầy có từ bao giờ (chỉ được biết là đã có hơn 70 năm nay rồi), nhưng chắc chắn rằng tuổi của nó cao hơn ngôi chùa Là Gạch rồi. Đối với học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, cây bồ đề nầy là nơi có rất nhiều kỷ niệm. Ngày xưa khi mình vào lớp đệ thất trường Trung Học Hà Tiên, năm 1964, mình bắt đầu theo các bạn lên chơi ở núi Lăng (tức là núi Bình San, nơi có lăng tẩm của nhà họ Mạc). Thường thì trong những buổi đi học ở trường, nếu tình cờ có nghỉ hai giờ đầu hay hai giờ cuối thì nhóm bạn mình, trai có gái có, thường kéo nhau lên núi Lăng chơi để chờ đến giờ học kế tiếp thì kéo về trường vì từ trường đi lên núi Lăng, theo con đường Mạc Tử Hoàng, đi ngang nhà thờ rồi tiếp tục đi thẳng theo con đường mòn lên ngay cây bồ đề và chùa Lò Gạch. Mình còn nhớ rỏ lần đầu tiên theo các bạn lên núi Lăng, lúc đó không biết cây thanh trà là của ai trồng, có người nói đó là vườn thanh trà của ông Từ Ngươn (ông từ nầy giữ gìn lăng và miếu của họ Mạc thời đó) mà các bạn mình hái rất nhiều, cả một giỏ lớn, dĩ nhiên là hái trộm thôi vì rất sợ ông Từ ra bắt được…Sau đó cả nhóm leo lên gốc cây bồ đề trước chùa Lò Gạch để bày ra và bắt đầu ăn trái thanh trà, lúc hái trái thanh trà nầy chưa chín, vỏ còn xanh lè, ăn rất chua nhưng cả bọn vẫn ăn hết một giỏ lớn. Cây bồ đề ở trước chùa Lò Gạch nầy rất to lớn, rễ của cây phủ bao trùm cả một khoảng đất chung quanh gốc cây, tạo thành một bệ đất rất cao và vuông vức, đó là chỗ ngồi và tụ tập rất được nhóm học trò trung học Hà Tiên yêu thích, từ chỗ ngồi trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề, ta có thể ngắm nhìn xuống con đường chạy ngang chùa Lò gạch, đó là một con đường còn tráng đất, chạy từ trước các ao sen của Miếu ông Mạc Cửu cho đến ngang cây bồ đề chùa Lò gạch và tiếp nối qua đến chùa Phù Dung, ngày nay con đường nầy cũng được mang tên là đường Mạc Cửu vì là phần tiếp theo của đường Mạc Cửu từ khúc nhà thương Nguyễn Thần Hiến ngày xưa. Ngồi trên bệ rễ cây của cây bồ đề, ta cũng ngắm nhìn người dân chạy xe đạp qua lại bên dưới con đường và nói chuyện với nhau rất vui. Từ dưới đường nhìn lên cây bồ đề, phía bên trái phần đất do bệ rễ cây tạo nên, hồi lúc đó có một cái miếu nhỏ, bên trong miếu thấy có một pho tượng nhỏ, trên đầu pho tượng có quấn một chiếc khăn đỏ, lúc đó, các bạn học cùng lớp đi chơi trên núi Lăng với mình thường dặn dò là đừng có quấy phá cái miếu nầy, vì đó là ngôi miếu do bà ngoại (hay bà nội) của anh Long lập ra đó, nói anh Long tức là anh « Long bảy búa », nhà anh ở phía dưới xóm Cầu Câu, anh cũng là bậc đàn anh học cùng trường Trung Học Hà Tiên, anh có nghề võ Thiếu Lâm rất cao cường nên ai cũng nể sợ không dám quấy phá ngôi miếu nhỏ đó.

Còn một chuyện nầy nữa chắc các bạn Hà Tiên mình còn nhớ, mình kể luôn ra đây vì chuyện cũng thuộc về phần ký ức nhớ về ngôi chùa Lò gạch, nơi ngày xưa nhóm bạn học sinh của mình lui tới rất thường xuyên. Đó là chuyện về « Cậu Biệt » !!. Bên phía bên kia đường chạy ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch, đối diện với cây bồ đề là một căn nhà, trong căn nhà nầy có một người đàn bà cũng không còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 60 tuổi, bà là « xác » của Cậu Biệt, còn Cậu Biệt thì mình cũng không biết rỏ ngọn nguồn, chỉ biết đó là một người con trai chết khi còn rất trẻ, có lẽ tên là Biệt nên người Hà Tiên gọi một cách kính trọng là « Cậu Biệt »…Hồn Cậu Biệt về nhập vào xác người đàn bà ở căn nhà đối diện với cây bồ đề chùa Lò Gạch, người Hà Tiên lúc đó lên nhà của bà xem rất đông, vì Cậu Biệt « về » để nói chuyện tương lai hoặc để trị bệnh cho dân chúng nếu có ai yêu cầu xin hỏi cậu. Lúc đó mình có xem tận mắt, mình cũng nghe cậu « nói chuyện » thông qua người đàn bà đó, đó là chuyện có thật ở Hà Tiên trong những năm 60-70, còn về chuyện hồn người chết nầy về nhập vào xác người còn sống kia thì mình không thể nói là thật hay giả. Mình tin chắc là nếu các bạn cùng một thời với mình đều có nghe qua và biết rỏ chuyện Cậu Biệt nầy.

Ngay tại khu vườn đất nơi có ngôi chùa Lò Gạch và cây bồ đề mà mình vừa kể ở trên, nơi đó là cửa ngõ để lên núi Lăng. Thật vậy mỗi khi nhóm bạn học của mình lên núi Lăng chơi thì đi bằng ngõ nầy, từ chùa Lò Gạch ra mình quẹo qua bên phải và đi thẳng lên núi, trước hết ta gặp ngay ngôi mộ của ông Mạc Tử Hoàng, đi lên một chút nữa thì gặp ngôi mộ của ông Mạc Thiên Tích và đi thêm nữa sẽ gặp ngôi mộ ông Mạc Cửu. Khi đó bắt đầu đi vòng vòng chung quanh những ngôi mộ nầy sẽ có những luống khoai mì, có luôn những gốc cây mít rất to lớn, tất cả những nguồn cây ăn trái và củ nầy là của ông Từ Ngươn trồng và thu hoạch, vậy mà thời đó với cái đầu óc thiếu suy nghĩ và « vô tư » của nhóm học trò mình, chúng mình đã không ngần ngại đi hái trộm nào là mít, nào là bứt các dây củ khoai mì của ông Từ Ngươn để ăn chơi…thật là có tội nhiều quá, nhân đây xin chuộc tội bằng cách viết lại những kỷ niệm vui nầy để các đàn em sau tụi mình đọc, thông cảm, và hiểu để tránh các trò dù có vui thú nhưng cũng không tốt nầy nhé,…!!

Thời gian trôi qua, từ từ mình và các bạn lên các lớp học cao hơn, phải học bài, dò bài nhiều hơn, từ từ cũng bớt rũ nhau đi lên núi Lăng vui chơi…Cây bồ đề vẫn còn đứng vững theo năm tháng, ngôi chùa Lò Gạch với cái tên chánh thức « Tịnh Xá Chí Hòa » vẫn còn đó dù cho quý vị trụ trì đã thay đổi…Có một lúc người ta xây bậc đá khối chung quanh dưới bệ gốc cây, che và chôn dấu đi những thân rễ cây ngoằn nghèo quen thuộc của ngày xưa (trước năm 1992). Kế thân cây người ta cho dựng lên một pho tượng Phật Thích Ca màu trắng, ngay chỗ ngày xưa tụi mình thường ngồi chơi và ăn trái cây hái trộm…, ngôi miếu nhỏ của bà ngoại hay nội của anh Long không còn nữa,…, trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề thì chắc bây giờ không ai được phép leo lên ngồi chơi như kiểu ngày xưa thời chúng mình rồi…Phía trước mặt pho tượng Phật Thích Ca, một thời gian sau đó người ta có đặt một cái lư hương lớn, cốt yếu chỉ để trang trí khung cảnh cây bồ đề và Đức Phật. Ngôi chùa Lò Gạch bắt đầu thay đổi hình dạng, ngôi chùa gỗ ngày xưa quen thuộc của nhóm học trò Trung Học Hà Tiên không còn nữa, người ta thay thế vào đó một ngôi chùa gạch, xi măng, sang trang, nhưng cũng không kém phần xa lạ với những người xưa như chúng mình,…Ngôi chánh điện là cái lò gạch may mắn thay vẫn còn đó, người ta không nở phá bỏ cái lò gạch nầy, thay vào đó người ta xây cất lại , mở thêm một cái cửa ra vào phía ngoài, phía trên nóc của cái lò gạch thì người ta cho dựng lên nhiều pho tượng Phật. Hình như cũng còn chưa đủ tính chất phát triển lớn mạnh của khu nầy, người ta cho cất thêm một ngôi chùa lớn chắn ngay tại cửa ngõ lên núi Lăng mà mình đã kể ở trên, sau đó lại cho xây tường rào bao quang toàn bộ khu vực chùa chiền nầy, ngôi chùa Lò Gạch ngày nay đã rất to lớn, quy mô với tường rào, cửa cổng và nhiều pho tường rải rác chung quanh chùa, tất cả tạo thành một khu chùa với tên gọi mới là Chùa Phật Đà, cái bệ gạch với xi măng bao kín khối rễ cây bồ đề thì đã mất đi, nhường chỗ cho các rễ cây hiện rỏ ra như ngày xưa, có lẽ người ta sợ bịt quá kín khối rễ cây nầy bằng xi măng thì cây sẽ chết đi…, vậy cũng tốt.. Mình cũng có dịp may mắn viếng ngôi chùa Phật Đà ngay lúc còn đang được phát triển và xây cất, trên chòm lá to rộng phủ cả một vòm trời của cây bồ đề, người ta cho treo đèn, kết hoa để ban đêm chiếu sáng toàn cả chòm cây, trông rất đẹp mắt, nhưng thử hỏi với nhu cầu tu hành ta có cần những dấu hiệu như vậy hay không, thôi mỗi thế hệ có cái cơ duyên của nó, thế hệ vui chơi vô tưu lự trong không gian tỉnh lặng và đơn giản của tịnh xá Chí Hòa của nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên đã qua rồi, hãy nhường lại cho thế hệ hiện tại với cái trang trí mới mẻ và hiện đại của nó…!!

Hình ảnh xưa nhất về chùa Lò Gạch và cây bồ đề, phía bên phải chính là tịnh xá Chí Hòa (Hà Tiên), người trong hình là Trần Hoàng Trang, học sinh Trung Học Hà Tiên. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

Hình ảnh nguyên thủy của chùa Lò Gạch (Tinh xá Chí Hòa, Hà Tiên) bên trái là một phần chùm rễ của cây bồ đề trước chùa, bên phải (không nhìn thấy trong hình) chính là vị trí của lò gạch xưa. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Lò Gạch:

Vào năm 1954 hòa thượng Thích Chí Hòa (thế danh Nguyễn Văn Tịnh) ) cho xây dựng một ngôi tịnh xá bằng cây, lá với tên gọi là tịnh xá Chí Hoà. Do chánh điện của tịnh xá tọa lạc trong một lò gạch bỏ hoang nên người dân địa phương còn gọi là chùa Lò Gạch.

Năm 1949, hoà thượng Chí Hoà cùng một số đệ tử sang Campuchia hoằng pháp và năm sau trở về quê hương Việt Nam. Một trong những đệ tử thời đó là sư cô Chí Hảo 8 (thế danh Đường Minh Hòa) trở về chùa cũ, xây dựng một căn nhà gần đó. Đến năm 1954, hòa thượng Chí Hòa viên tịch tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kế thế trụ trì tịnh xá Chí Hoà là hoà thượng Thích Quảng Tấn – không rõ thế danh, gốc gác. Sau khi hoà thượng Quảng Tấn viên tịch, trụ trì chùa là bà Dương Thị Thoàn (pháp danh Diệu Trí). Sau đó nhiều năm vì hế cuộc thăng trầm, chiến tranh loạn lạc, ngôi tịnh xá cổ kính rêu phong chịu đựng với phong sương tuế nguyệt, tình trạng đã hư hao rất nhiều.

Đến năm 1993, Hội Phật giáo tỉnh Kiên Giang đổi tên tịnh xá Chí Hoà thành chùa Phật Đà và đồng thời bổ nhiệm đại đức Thích Huệ Tâm (thế danh Nguyễn Phước Thành) về trụ trì và vào tháng 9 năm 1993, thầy trụ trì chùa cho khởi công xây cất mới lại ngôi chùa đạo tràng, đến năm 2009 thì toàn bộ khu chùa Phật Đà đã hoàn thành với nhiều công trình trang trí gồm nhiều pho tượng, khối đá và tường bao quanh với hai cổng chánh cho đến nay. Thầy Thích Huệ Tâm về vùng đất Hà Tiên này như để phục nghiệp chốn Tổ, tiếp nối truyền thống phổ hệ truyền thừa dòng Lâm Tế Chánh Tông.

Cây bồ đề và tượng Phật Thích Ca trước chùa Lò Gạch cũ, bên trái là một phần lò gạch dùng làm chánh điện ngày xưa, trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: dpa picture alliance 2AK333D (alamystockphoto), khoảng trước năm 2000

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Bên phải hình là cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa (ngôi tịnh xá lúc nầy đã bị phá hủy, bên trái hình là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới cất), trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: TVM, 1994

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Phía sau là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới xây cất. Hình: TVM, năm 1994

Cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa kể từ năm 1954 cho đến những năm đầu thập niên 90. Bên trong ta còn thấy có bàn thờ Phật và có một vị sư đang ngồi niệm Phật. Lúc nầy mái lò gạch còn lợp bằng một tấm thiếc lớn, ngôi tịnh xá Chí Hòa kề sát với lò gạch thì đã bị phá hủy. Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trinh bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Hình phía trên nóc của chánh điện lò gạch, miếng thiếc lợp nóc lò gạch đã bị tháo ra, chuẩn bị xây nóc và mái mới trên lò gạch nầy để phù hợp với chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trình bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn học Trung Học Hà Tiên, ngồi bên phải) đang đàm đạo với thầy trụ trì THích Huệ Tâm chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Di ảnh thân mẫu của bạn Nguyễn Đình Nguyên thờ ở tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch xưa) sau đó chuyển qua thờ trong chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Con đường nối liền đường Mạc Cửu chạy từ trước đền thờ Mạc Cửu đi ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch. Bên trái và dưới hình là đền thờ Mạc Cửu, bên phải và dưới hình là bờ ao sen trên. Đầu con đường phía trên trong hình là đi tới chùa Lò gạch và thẳng góc với con đường mòn nối liền đường Mạc Tử Hoàng. Con đường trong hình nầy giờ cũng mang tên là đường Mạc Cửu. Hình: TVM, năm 1999

Phần bên trái của toàn khu gồm nhiều ngôi chùa nối liền nhau tạo thành chùa Phật Đà (Hà Tiên), hậu thân của chùa Lò Gạch. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Ngày xưa trong thập niên 60-70, đây là cửa ngõ mà nhóm bạn học Trung Học Hà Tiên của mình theo phía nầy để lên núi Lăng. Hình: TVM, năm 1999

Toàn bộ ngôi chùa Phật Đà (Hà Tiên) được xây cất vào ngay khu đất có nhiều cây xanh ngày xưa nơi có chùa Lò Gạch (chùa Lò Gạch xưa tức là tịnh xá Chí Hòa lúc nầy đã bị phá hủy, vị trí ngày xưa là bên phải, phía sau cây bồ đề). Bên phải hình là cây bồ đề với tượng Phật Thích Ca vừa mới đặt thêm trên bệ rễ cây trong những năm đầu thập niên 90. Hình: TVM, năm 1999

Từ phía dưới con đường chạy ngang cây bồ đề nhìn lên khu chùa mới cất (chùa Phật Đà, Hà Tiên). Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Hình: TVM, năm 1999

Phía trên cao, trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên) nhìn xuống dưới con đường chạy ngang qua cây bồ đề. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh và bệ gốc rễ cây bồ đề đã được tháo bỏ lớp xi măng và gạch xây bít kín trước đó (khoảng 1992). Hình: TVM, năm 1999

Cây bồ đề trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên), góc nhìn từ phía chùa ra ngoài đường. Hình: TVM, năm 1999

Khu chùa Lò Gạch xưa (từ năm 1993 đã đổi tên là chùa Phật Đà, Hà Tiên), trước năm 2010 đã bắt đầy xây tường gạch và cổng lớn bao quanh.

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Con đường hiên nay mang tên Mạc Cửu chạy từ trước miếu Mạc Cửu ngang qua cây bồ đề chùa Phật Đà hiện nay (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh phía bên trong tường gạch chung quanh chùa Phật Đà (Hà Tiên), ta thấy cái lò gạch chánh điện ngày xưa đã được chỉnh trang lại với một lối vào mới và nóc lò gạch được xây gạch hình chỏm cầu, phía trên có an vị nhiều tượng Phật trên nóc. Hình: TVM, năm 2012

Phía trên nóc lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tượng Phật từ năm 2009.

Toàn cảnh lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tường Phật từ năm 2009.

Tượng Phật mới và trang trí bên trong lò gạch từ năm 2009, phía trên nóc đã xây gạch hình chỏm cầu.

Paris, viết xong ngày 18/01/2020 Trần Văn Mãnh

Tái bút:

1/ Đặc biệt tác giả trân trọng cám ơn em Trần Hoàng Trang, một cựu học sinh Trung Học Hà Tiên trong những năm 70, đã chia sẻ tấm hình về ngôi tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch ngày xưa) rất hiếm và quý.

2/ Theo tin các bạn người Hà Tiên cho biết về cái nghĩa địa nhỏ bên phải chùa Lò Gạch xưa: Bên phải lò gạch là phần đất chôn người chết …dài qua tới chùa ông Yết Ma, sau này vì nhu cầu cần đất cho người ở nên dần dần người ta cải táng di dời đi nơi khác…Chùa Phật Đà đã mua lại một số đất liền kề về phía chùa Phù Dung để mở rộng khu chùa. Trong phần đất nầy ngày xưa có mồ mả của gia đình bạn Trần Phước An, đó là mồ mả của ông bà Yết Ma, nay đã dời đi hết cả. Phần đất nầy dành cho sự xây dựng Viện Dưỡng Lão, hiện sắp hoàn thành.

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Cầu Bắc Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, qua phong trào thành lập các trang đặc biệt trên mạng xả hội face book về Hà Tiên (ngay cả có các trang về Kiên Lương, Kiên Giang), càng ngày chúng ta càng thấy các hình ảnh xa xưa về các thành phố nầy (đặc biệt là Hà Tiên) xuất hiện trên các trang đó. Gần đây có một vài hình ảnh về chiếc Cầu Bắc (Cầu Phà hay Bến Bắc,…) xuất hiện trên fb, mình xin mạn phép góp nhặt các hình ảnh đó để lập ra một bài đặc biệt về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên, mục đích để giới thiệu hình ảnh Cầu Bắc qua các giai đoạn thời gian, từ những năm 1950 xa xưa đến thời 1960, 1970 và hiện nay để ghi lại một nơi chốn đầy kỷ niệm của tuổi trẻ Hà Tiên. Trước hết xin xác định vị trí của chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên: Cầu Bắc Hà Tiên nằm ở đầu đường Bạch Đằng, phía giao nhau với đường Bến Trần Hầu như trong hình dưới đây rất rỏ ràng:

Cầu Bắc Hà Tiên (hướng nhìn từ dưới Cầu Bắc nhìn lên phố chợ Hà Tiên, con đường chạy ngang trước mặt phố là đường Bến Trần Hầu. Hình ảnh: Hồ Anh Dũng, thời gian trong hình có lẻ là trong khoảng thập niên 1960-1970.

A/ Những hình ảnh về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên trong những năm 1950 dưới thời Pháp đóng quân ở Hà Tiên.

Đây là hình chiếc Cầu Bắc rất xưa ở Hà Tiên, vị trí cũng ở ngay bờ sông đường Bến Trần Hầu nhưng có lẻ không phải vị trí của chiếc Cầu Bắc trong những năm 60-70. Bên kia sông ta thấy núi Tô Châu., ngay ở đầu cầu có một chiếc tàu Hải Quân treo cờ Pháp. Hình nầy do một trong những người lính Hải Quân Pháp cung cấp, ông tên là Rolland Drosson, ông nầy đã từng đóng quân ở Hà Tiên trong những năm 1950 và trong đơn vị Hải Quân.

Hình ảnh có trên forum: http://www.anciens-cols-bleus.net/t23368p850-operations-de-guerre-indochine-tome-7

Hình Cầu Bắc Hà Tiên do ông Rolland Drosson cung cấp ( trước năm 1952). Vị trí của chiếc Cầu Bắc nầy không phải là chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên trong những năm 1960 vì phía sau chiếc Cầu Bắc ta thấy khách sạn Tô Châu bên phải và một phần khách sạn Đại Tân bên trái. (Trong khi đó thì chiếc Cầu Bắc mà chúng ta biết trong những năm 1960 thì lại ở ngay đầu đường Bạch Đằng Hà Tiên).

Hình chiếc Cầu Bắc ở Hà Tiên do ông Rolland Drosson cung cấp. Hình chụp khoảng trong những năm trước 1952. Chiếc Cầu Bắc trong ba tấm hình nầy có thể là một và có vào những năm 1950, chắc chắn là không phải chiếc Cầu Bắc Hà Tiên có trong hình Hồ Anh Dũng phía trên.

Trước khi có Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng năm 1957 – 1960), đây là nhà vệ sinh công cộng ở mé sông, sau đó đổi thành nhà bán vé phà qua sông. Hình ảnh: Trần Phương Nhu

B/ Những hình ảnh về chiếc Cầu Bắc Hà Tiên trong những năm 1960-1970 dưới thời Mỹ đóng quân ở Hà Tiên.

Hình ảnh chiếc Cầu Bắc Hà Tiên mà chúng ta đều biết trong thời gian còn hoạt động chạy Phà qua sông Hà Tiên. Hình nầy nhìn qua núi Tô Châu. (Hình ảnh: Truman_Library 1961)

Hình ảnh chiếc Cầu Bắc Hà Tiên mà chúng ta đều biết trong thời gian còn hoạt động chạy Phà qua sông Hà Tiên. Hình nầy nhìn lên phố Hà Tiên. (Hình ảnh: Hồ Anh Dũng, thập niên 1960-1970)

Ponton của chiếc Cầu bắc ở Hà Tiên, dành cho sự đổi hướng của xe hơi một khi chạy xuống đậu trên ponton nầy, các nhân viên Cầu Bắc xuống các vị trí lổ trống (gồm có 3 phần theo chu vi của phần hình tròn ở giữa ngay chổ xe đậu) để đẩy xoay tròn cho  hướng xe đổi đúng theo phần cửa chạy vào chiếc phà. Hình do một người lính Mỹ tên Truman Richey chụp vào những năm 1960.

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình do Nguyễn Bích Thủy cung cấp.

Quang cảnh cầu bắc Hà Tiên ở hai bên bờ sông Giang Thành, hình chụp từ phía bên bờ Tô Châu nhìn qua chợ Hà Tiên (1960-1970). Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên ».

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên trên đầu một chiếc phao nổi của chiếc cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) vào năm 1972. Phía xa trong hình là chiếc Cầu Bắc quen thuộc của chúng ta. Hình ảnh: Trần Hoàng Trang

Ngày nay chiếc Cầu Bắc không còn nữa, khu nầy đã được lấp bằng thêm và biến thành một công viên rộng lớn theo bờ sông dọc đường Trần Hầu, phần đất liền ngày xưa đã được nới rộng ra thêm chiếm một phần lòng sông Hà Tiên, phần công viên trên đất liền thì nới rộng ra còn lòng con sông thì nhỏ hẹp lại.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

                                                                         Trần Văn Mãnh  (05/2018)

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Ở Hà Tiên chúng ta ai cũng biết Lầu Ba (còn được gọi là Lầu Ông Chánh). Lầu Ba được xây cất trên một ngọn đồi có tên là « Đồi Ngũ Hổ ». Tất cả các học sinh học trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đều biết Lầu Ba vì trường chúng ta nằm dưới chân đồi, tính từ trường đến đồi Ngũ Hổ thì qua một sân trường, một cái ao xà lách và một dảy phòng gọi là Phòng Thí Nghiệm, ngày xưa là phòng thí nghiệm của Trường Trung Học và có trang bị rất nhiều dụng cụ để thực tập Vật Lý và Hóa Học, sau đó dảy phòng thí nghiệm được dùng làm phòng học phụ thêm khi có chia lớp học sinh ngữ. Rất ít người được lên trên Lầu Ba vì từ ngay ngày xưa đã là căn cứ đóng quân của Địa Phương Quân Hà Tiên, sau đó là căn cứ Ban Chỉ Huy quân sự của chính quyền thị xả Hà Tiên. Có một lần mình được dịp lên Lầu Ba, lúc đó mình còn là một học sinh, vì có chơi văn nghệ đàn ca, nên có Đại Úy Thơ lúc đó chỉ huy quân đóng trên Lầu Ba, Đại Úy Thơ mời mình cùng một vài học sinh trong ban văn nghệ (trong đó có Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Ngọc Thanh) xách đàn lên Lầu Ba (đi từ ngả trường Trung Học, qua phòng thí nghiệm có một con đường nhỏ dẫn lên Lầu Ba). Lúc đó có một vài cố vấn Mỹ, vì Đại Úy Thơ muốn giới thiệu nhóm văn nghệ trường với các lính Mỹ nầy để cùng nhau đàn, hát một chút cho vui. Lúc đó mình còn nhớ có một người lính Mỹ da đen, có ca một bài và cùng lúc đệm đàn rất lướt mướt….

Bạn Trương Thanh Hùng (bút hiệu Giá Khê) có viết một bài về sự tích năm con cọp trên Đồi Ngũ Hổ, bài nầy có đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432 ngày 22/12/2016 (các bạn có thể tìm xem trên mạng). Sau đây xin đăng lại bài viết đó để chúng ta biết được một sự tích dân gian hay của Hà Tiên. (Trần Văn Mãnh viết lời nhập)

Sự tích Đồi Ngũ Hổ (tác giả: Giá Khê)

Về Hà Tiên, chúng ta sẽ nghe nói đến đồi Ngũ Hổ, hiện nay Ban chỉ huy Quân sự thị xã Hà Tiên đóng trên đồi, bên cạnh doanh trại có một ngôi miếu và tượng của 5 con hổ (4 con bằng gốm, một con bằng xi măng). Vào thời Pháp thuộc, viên chánh chủ tỉnh cất công thự ở trên đồi này nên có câu ca dao:

Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông
Thương em từ thuở má bồng
Bây giờ em lớn em lấy chồng bỏ anh.

Truyền thuyết kể lại rằng:

Ngày xưa, Hà Tiên còn khá hoang sơ, nhưng cửa biển Hà Tiên là nơi tránh sóng gió rất tốt nên thuyền buôn từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á qua lại thường ghé vào neo đậu tránh gió, đồng thời để lấy thêm nước ngọt.

Vào mùa khô, khi nước biển lấn vào Đông Hồ, nước ngọt từ sông Giang Thành không thể chảy xuống át nước mặn được, người dân địa phương phải dùng nước ao, nước giếng đào. Gần bên Đông Hồ có một ngọn đồi nhỏ và một ao nước ngọt cung cấp nước cho người dân tại chỗ khi đã hết mùa mưa. Từ đó có những người chuyên làm nghề gánh nước mướn đổi cho các ghe thuyền qua lại và dân mua bán.

Hôm nọ có một ông lão gánh nước mướn quảy đôi thùng với cây đòn gánh bằng gỗ mun đen bóng đến bên đồi lấy nước. Đang mùa khô nên thú rừng cũng phải tìm nước uống (lúc ấy rừng còn đến khu vực này) và chúng cũng hay đến đây uống nước. Khi ông lão đến gần ao nước thì có 4 con cọp vừa đến uống nước. Tấn thối lưỡng nan, ông lão không thể bỏ về mà không có nước cho người cần dùng; cũng không thể nhường cho lũ cọp nguồn nước quí giá này, ông quyết định đi tới ao nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu lũ cọp định làm hại ông.

Bốn con cọp thấy có người tranh giành nguồn nước, chúng gầm gừ dọa nạt. Thấy ông lão cứ đến, chúng bèn dàn trận đánh ông.

Ông lão để cặp thùng xuống, thủ cây đòn gánh trên tay, con cọp đầu tiên vừa nhào đến, ông liền ra đòn rất mạnh và rất hiểm đánh hất con cọp văng ra. Ông cũng định dọa cho chúng lui thôi, nhưng bầy cọp hung hãn quyết ăn thua đủ với ông, chúng cùng nhào vô đánh với ông. Biết không thể nhịn được, ông dùng những thế võ cực hiểm đánh trả làm cho chúng bị thương rất nặng nhưng chúng cũng không chịu rút lui, sau gần một buổi chiến đấu, buộc lòng ông phải hạ dần từng con cho đến khi chúng kiệt sức và chết hết.

Ông lão chống cây đòn gánh nhìn xác 4 con cọp rồi ông cũng trút hơi thở sau cùng vì quá kiệt sức.

Những người cần nước chờ ông lâu quá nên kéo nhau đến đồi thúc hối. Khi đến nơi, họ mới phát hiện ông lão đã chết giữa 4 con cọp, dáng dấp rất uy nghi.

Người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và 4 con cọp, cũng từ đó ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ.

Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống. Về Hà Tiên, lên đồi Ngũ Hổ thắp nén nhang tưởng nhớ người xưa cũng là một việc làm thú vị.

Hiện nay, vì cơ quan quân sự đóng trên đồi nên Ban chỉ huy có làm một con đường phía sau cho dân lên chiêm bái. (Giá Khê, theo bài đăng ngày 22/12/2016 Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432)

Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ)…Trung Học Hà Tiên những năm 60′. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, ngồi trên ở giữa: Lý Cui, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy,..Hà Tiên…60′. Phía sau cột cờ ta thấy phòng thí nghiệm (bên phải) và xa nữa là Lầu Ba.

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1960-1970)

Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (Phía sau ta thấy phòng thí nghiệm bên phải và xa nữa là Lầu Ba.)

Dương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu BaDương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu Ba

Đồi Ngũ Hổ với Lầu Ba ở giữa hình, bên trái Lầu Ba là dảy Phòng Thí Nghiệm, phía dưới Lầu Ba là dảy nhà thiếc: căn cứ Duyên Đoàn 44 Hãi Quân thời 1970, bên phải dảy nhà thiếc là sân vận động cũ của Hà Tiên. Phía dưới hình là một phần của Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ, phía xa là núi Đề Liêm, phía dưới là Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Học sinh của một lớp học Trung Học Hà Tiên chụp hình tại sân trường, phía sau ta thấy rỏ Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Trần Quyết Tới (con của Chú Tư Thiên tiệm hớt tóc Tư Thiên Hà Tiên), hình chụp năm 1981 trên Đồi Ngũ Hổ, phía sau Lầu Ba, sau lưng là cây cổ thụ Bao Báp (BaoBab Africain)

Quang cảnh Lầu Ba trên Đồi Ngũ Hổ chụp từ phía núi Tô Châu. Photo: Trương Minh Quang Nguyên 2012

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên) , du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên), du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Bàn thờ bên trong đền thờ Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ hiện nay (Hà Tiên 2017)

Chi tiết chữ viết trên bia thờ trên bàn thờ đền Ngũ Hổ (phía sau Lầu Ba) trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên 2017)

Lầu Ba hiện nay (ngôi nhà bên phải cột antenne và dưới Thạch Động). Hà Tiên. 2018

 

Chú thích hình:

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Dương Thị Phương Hà, Trần Hoàng Trang, Trần Quyết Tới, Rich Krebs, Lâm Lan, Minh Đức Dương

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Trung Học Hà Tiên xưa: Những cuộc hội ngộ sau hơn 40 năm qua

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi thầy cô hay bạn bè chia tay nhau, mỗi người một ngả tìm phương định hướng tùy theo hoàn cảnh mỗi người, muốn liên lạc lại với nhau cũng hơi khó khăn…Ngày xưa chỉ có phương tiện viết thư cho nhau, trong thư ta cho biết tin tức, có khi kèm theo một vài tấm ảnh trên giấy trắng thật sự…Phương tiện liên lạc ít ỏi như vậy nhưng ta vẫn còn được biết tin nhau…Rồi thời gian trôi qua với biết bao biến cố, vì chiến tranh, vì di tản, vì những cuộc đi tìm một chân trời mới để sinh sống, chúng ta hoàn toàn mất tin nhau, có khi hơn cả vài chục năm không ai biết tin của ai…Những người còn ở lại Hà Tiên thì vẫn tiếp tục mưu sinh, đó là những con người rất thân yêu và rất đáng kính trọng…thầy cô, bạn bè còn đó tuy không còn lui tới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa nữa, nhưng thầy cô và các bạn đó vẫn là những con người rất can đảm, ngày đêm gắn bó với mảnh đất thân yêu Hà Tiên, xin mượn bài viết nầy để nêu lên tấm lòng ngưởng mộ, kính phục thầy cô và các bạn còn mãi mãi với đất Hà Tiên đó…Một số thầy cô và các bạn khác, hoặc là dời đi sinh sống ở các thành phố, tỉnh thành khác nhưng vẫn còn ở trong nước, một số lại lần lượt ra đi, phần lớn để đoàn tụ gia đình đã lập nghiệp ở các nước ngoài: Mỹ, Canada, Pháp, Úc,…Bây giờ tuy đã xa nhau thật sự hàng ngàn dặm nhưng khoa học và những phương tiện truyền thông hiện đại lại đưa chúng ta đến gần, trong một khoảnh khắc chúng ta có thể trao nhau một vài câu viết, cho nhau xem những tấm ảnh kỷ niệm xưa nay,..Thật là may mắn và huyền diệu thay…Mình thuộc vào thế hệ học sinh trung học Hà Tiên vào những năm 1960-1970…cũng như nhiều bạn khác cùng lứa, đã rời trường từ hơn 40 năm nay, phần lớn là để tiếp tục quá trình học vấn, hoặc đi làm việc, có bạn đi nhập ngủ vì con đường học vấn tạm dừng lại,..cũng có bạn lại không may mắn đã ra đi vĩnh viễn, vì một cơn bệnh ngặt nghèo hay càng không may hơn vì một biến cố giữa biển khơi, đành phơi mình trong lòng biển cả…Chứng ta là những người còn ở lại thế gian nầy, tuy xa cách qua không gian, nhưng may mắn được gần gủi nhau qua những trang Face Book, qua những bài viết nhắc nhau kỷ niệm xưa trên Blog,…Vậy chúng ta hãy xem lại hình ảnh của những cuộc hội ngộ nầy dù sau hơn 40 năm trôi qua, tình thầy cô trò, tình bạn vẫn không phai nhạt, diển tả được trên nét mặt, nụ cười trong những hình ảnh sau đây…..(còn nhiều cuộc hội ngộ khác hình ảnh và tin tức vẫn còn nhiều thiếu sót xin thầy cô và các bạn giúp bổ sung thêm nhé)

Xin thông báo thêm là Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên nếu có những cuộc lần đầu tiên hội ngộ lại sau nhiều năm xa cách nhau, xin gởi hình và nêu rỏ thời gian và nơi chốn gặp lại cho Blog  THHTX để đăng tin bổ sung vào trang nầy nhé, xin căm ơn.

1/ Trần Học Quang (bên phải) và Trương Thanh Hào (bên trái) gặp lại nhau vào tháng 4 năm 2012 tại Sài Gòn nhân dịp Quang về thăm nhà Viêt Nam.

2/ Trương Thái Minh và Trần Văn Mãnh (bạn học cùng lớp) gặp lại tại nhà Minh (Hà Tiên) tháng 6 năm 2012

3/ Trương Thanh Hào và Trần Văn Mãnh gặp lại nhân một chuyến du ngoại của Hào tại Paris  tháng 5/2015

4/ Bạn Trương Thanh Hào nhân một chuyến du hành ở nước Mỹ có ghé lại thăm thầy cô Nguyễn Hồng Ẩn (Connecticut, mùa đông 2013.)

5/ Nhân một chuyến đi Mỹ kế tiếp (2016) bạn Trương Thanh Hào lại gặp lại các bạn Trung Học Hà Tiên: Phía trên: trái Hồ Thị Kim Hoàn, phải Trương Thanh Hào, phía dưới: trái Mai Thị Ngọc Minh, phải Trang Lệ Thủy

6/ Năm 2016 cô Võ Kim Loan về thăm Việt Nam và hội ngộ cùng các học trò xưa tại Sài Gòn: Trái qua phải: Trương Thanh Hào, Trần Văn Dõng, Trần Phương Nhu, Hoàng Thị Minh Liên, Cô Võ Kim Loan, Lâm Thị Lan, Trần Tuấn Kiệt

7/ Cũng trong chuyến về thăm Việt nam nầy (2016) hai trong « Tứ Đại Mỹ Nhân » của trung học Hà Tiên xưa gặp lại tại Sài Gòn: Cô Võ Kim Loan và cô Lâm Ngọc Mai

8/ Cô Võ Kim Loan về thăm trường Hà Tiên xưa (2016) và gặp thầy Nguyễn Văn Nén cùng một số học trò xưa.

9/ Tháng 5/2016 hai bạn Trương Thanh Hào và Hà Quốc Hưng gặp lại nhau (sau 40 năm) nhân một chuyến đi Los Angeles (Mỹ) của Hào, ngay vừa lúc Hưng vừa mất người vợ thân yêu…

10/ Tháng 6/2016 nhân một chuyến đi qua Mỹ (Los Angeles), bạn Tiền Ngọc Dung đã có dịp gặp lại bạn Hà Quốc Hưng, người bạn cùng lớp cùng trường Trung Học Hà Tiên hơn 40 năm xưa.

11/ Nhân một chuyến du hành Âu Châu (11/2016) Trang Thanh Sơn và Trần Văn Mãnh đã được gặp lại sau hơn 40 năm rời khỏi trường Hà Tiên xưa.

12/ Nhân chuyến đi từ Âu Châu trở về Mỹ, bạn Trang Thanh Sơn ghé lại thành phố Stamford tiểu bang Connecticut thăm Thầy (Cô) Nguyễn Hồng Ẩn (11/2016)

13/ Nhân một dịp tình cờ biết được địa chỉ của cô Hà Thị Hồng Loan, nhóm học trò xưa liền đến thăm cô sau hơn 40 năm rời trường lớp. (Hóc Môn, Sài Gòn 11/2016): Trương Thanh Hào, Trần Tuấn Kiệt, Cô Hà Thị Hồng Loan, Lâm Thị Lan, Lê Phước Dương.

14/ Sau hơn 40 năm qua, anh Trần Văn Dõng được gặp lại cô Võ Thị Hồng Loan nhân một chuyến đến nhà thăm cô tại Hóc Môn (Sài Gòn, 11/2016)

15/ Nhân một chuyến về thăm Hà Tiên (2017), cô Vương Thị Lành gặp gở các em học trò xưa: Học trò xưa đến mừng cô Vương Thị Lành về quê Hà Tiên. Trái qua phải: Trần Phương Nhu, Nguyễn Thúy Vân, cô Vương Thị Lành, Nguyễn Nguyệt Hồng, đứng: Trần Hoàng Trang, Cẩm Tiên, Tăng Thị Sáu

16/ Sau hơn 40 năm rời trường, cô Dương Thị Minh Hoa gặp lại các học trò thân yêu tại Californie (Mỹ): Bùi Văn Sáu, Đỗ Ngọc Giao, Cô Dương Thị Minh Hoa (áo tím), Tạ Văn Ba (phía sau), Trần Kim Mỹ, Hồ Thị Kim Phượng, Thanh (phía sau), Lâm Mỹ Nga, Tiền Ngọc Hương (mang kính đen), Hồ Thị Kim Hoàn, anh Nguyễn Văn Xuân, Mai Phạm, Phù Ngọc Liên, Tô Văn Hạnh (07/2017)

17/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thanh Hào (Hào học sau anh Sơn hai lớp) hội ngộ tại Sài Gòn sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

18/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Đỗ Mùi hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

19/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trần Mỹ Quyên hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

20/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Lâm Hữu Quyền hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

21/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Bùi Văn Tư hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

22/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng lớp là Trương Trung Cang hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

23/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Trương Thái Minh (Minh học sau anh Sơn một lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

24/ Anh Trang Thanh Sơn và bạn cùng trường là Tăng Kim Sơn (T. K Sơn học sau anh T.T Sơn hai lớp) hội ngộ tại Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường Hà Tiên (nhân chuyến về thăm Việt Nam của gia đình anh Sơn 08/2017)

25/ Hình ảnh tuyệt vời của cuộc hội ngộ tại Hà Tiên bạn học Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm xa cách: Trang Thanh Sơn, Trương Trung Cang, Trương Thái Minh, Lâm Hữu Quyền, Bùi Văn Tư và Tăng Kim Sơn. (08/2017)

26/ Tuy cùng ở nước Pháp nhưng hơn 40 năm qua Tiền Ngọc Dung và Trần Văn Mãnh (và bà xả là Nguyễn Ngọc Tiếng) vừa gặp lại nhân một chuyến đi Paris của Dung (09/2017).

27/ Nhân dịp lên Sài Gòn để đưa gia đình Hoàng Thị Minh Liên đi định cư sang Mỹ, các học trò xưa gặp lại cô sau hơn 40 năm xa cách: Hoàng Thị Minh Liên, cô Lâm Ngọc Mai, Dương Mỹ Nữ, Lâm Nguyệt Hồng và Duyên. (02/10/2017)

28/ Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Tiền Hữu Minh

29/ Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

30/ Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Trang Thanh Sơn và Huỳnh Ái Chên

31/ Trái: Ngô Ngọc Ánh, phải: Lê Ngọc Ngân. Hai bạn cùng học chung mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Ánh quê ở Tri Tôn, Ngân quê ở Kiên Lương. Tuy cùng học chung dưới mái trường Trung Học Hà Tiên nhưng hai bạn chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời, chỉ là bạn trên fb mà thôi vì cùng là học sinh Trung Học Hà Tiên cả nên làm quen với nhau qua mạng fb. Thế rồi vào tháng 12/2017 tuy mỗi người ở một nơi cách xa nhau trên cùng lục địa Úc Châu hiện nay, (Ánh ở Brisbane, Ngân ở Melbourne) nhân một chuyến đi xem văn nghệ  Thúy Nga By Night, hai bạn gặp gở nhau thật bất ngờ và cũng rất lý thú…

32/ Cuối năm 2017 gia đình Hoàng Thị Minh Liên xuất cảnh đi Hoa Kỳ, sau đó là cuộc hội ngộ với gia đình Hồ Thị Kim Hoàn, hai bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa: Minh Liên (trái) và Kim Hoàn (phải) đã được gặp lại nhau tháng 12/2017 tại Californie Hoa Kỳ.

33/ Cuối năm 2017, anh Trần Hồng Khanh (áo xanh thứ nhì từ phải sang trái) có về thăm nhà Việt Nam và sẳn dịp có anh Lâm Hữu Dư (bìa phải) cũng về thăm nhà, hai anh có dịp gặp lại nhau và được hội ngộ với thầy Nguyễn Văn Nén (thứ ba từ phải sang trái). Thầy trò gặp lại nhau cũng hơn vài chục năm sau khi xa mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trần Hoàng Trang đứng trên (áo đỏ) cung cấp hình.

34/ Nhân một chuyến đi ngao du sơn thũy trên đất nước cờ hoa, bạn Trương Thanh Hào tìm gặp lại những người bạn học thân mến năm xưa của Trường Trung Học Hà Tiên xưa, xa cách nhau cũng đã hơn vài chục năm, nay gặp lại chỉ biết nói: « Em ơi trái đất vẫn tròn, chúng mình 4 đứa vẫn còn gặp nhau..!! »
(Columbus,OHIO, Hoa Kỳ, tháng tư 2018) Trái qua phải: Hoàng Thanh Liêm, Hoàng Thu Bình, Trương Thanh Hào, Hoàng Đức Trung.

35/ Sau hơn 40 năm từ lúc mỗi người rời Hà Tiên, hai bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên xưa và cũng là bạn trong nhóm ca nhạc của thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70, Trần Văn Mãnh (trái) và Nguyễn Thị Kim Liễu (phải) đã gặp lại nhau nhân một chuyến đi Paris của gia đình Kim Liễu, mặc dù mỗi người đều đinh cư trên một tỉnh của nước Pháp (TVM: Paris, NTKL: Nantes) đã hơn 32 năm nay…

36/ Tuy học chung một trường Trung Học Hà Tiên nhưng Lê Ngọc Ngân (trái) và Nguyễn Bích Thủy (phải) chưa bao giờ gặp nhau thật sự ngoài đời…Nhân một dịp Ngọc Ngân về thăm Việt Nam, hai bạn đã gặp nhau sau hơn 35 năm xa trường Hà Tiên, (tháng 9 năm 2018).

37/ Vừa rồi nhân dịp tìm gặp được fb của Thái Thanh Niên, một học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, Blog THHTX đã kết hợp lại được tình bạn ngày xưa của Thái Thanh Niên và Nguyễn Thị Điệp, hai bạn là hai thành viên trong nhóm Nguyễn Thị Điệp, Tô Mỵ Nương, Thái Thanh Niên, Mai Thị Ngọc Xuân, Tăng Thu Hồng, Trần Thị Như Liên. Đầu tháng 09/2018, hai bạn ngày xưa Niên và Điệp đã gặp lại tại Minh Lương (nơi Điệp ở) sau hơn 40 năm xa cách…

38/ Bạn Lý Cảnh Tiên (đứng giữa) và chị Thái Cẩm Hà (bên phải) chẳng những là hai học sinh kỳ cựu của Trung Học Hà Tiên ngày xưa trong những năm 60-70, mà hai bạn lại còn là bạn láng giềng vì nhà hai bạn đối diện nhau trên đầu con đường Mạc Công Du. Hai bạn Lý Cảnh Tiên và Thái Cẩm Hà gặp lại nhau sau hơn 25 năm xa cách nhân dịp bạn Tiên về thăm Việt Nam vào tháng 9/2018. (Cảnh tại nhà bạn Lý Cảnh Tiên – Hà Tiên, bên trái là Kim, phu nhân bạn Tiên, phía sau là Lý Tòng Hiếu em của bạn Tiên).

39/ Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa (ngày xưa nhà gia đình Liễu ở ngay góc đường Phương Thành và Mạc Tử Hoàng, đối diện nhà thờ Hà Tiên) đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại thầy Nguyễn Văn Nén sau 46 năm rời xa trường lớp.

40/ Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Hoàng Trang sau 46 năm rời xa trường lớp.

41/ Đầu tháng ba năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa  đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Huỳnh Kim Châu sau 46 năm rời xa trường lớp.

42/ Tháng tư năm 2019, Thái Thanh Liễu, học trò Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã trở về Hà Tiên và đã gặp lại bạn cùng lớp Trần Quý Nương sau 46 năm rời xa trường lớp.

43/ Riêng đối với mình (Trần Văn Mãnh), mình rất vui vì đã thực hiện được chuyến đi Mỹ (California) để tham dự họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên vào tháng 06/2019, trong dịp nầy mình đã gặp lại quý thầy cô và các bạn cùng lớp, cùng trường TRung Học Hà Tiên sau hơn 40 năm rời trường. Buổi họp mặt hội ngộ nầy được viết lại trong bài viết sau đây:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2019/07/02/hoi-ngo-trung-hoc-ha-tien-xua-qua-buoi-hop-hoi-dong-huong-ha-tien/

44/ Vào tháng 7/2019, chị Tô Thanh Phượng vốn đã đinh cư ở ngoại ô Paris, nước Pháp từ lâu, nhưng vì không có liên lạc nhau nên không biết tin tức. Sau khi xem qua hình ảnh buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên vào tháng 06/2019 vừa qua, mình và chị Phượng đã liên lạc được với nhau và như vậy là đã có cuộ hội ngộ « Trung Học Hà Tiên Xưa » với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm xa trường Hà Tiên. Buổi hội ngộ nầy được viết lại qua bài viết sau đây:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2019/07/17/hoi-ngo-trung-hoc-ha-tien-xua-voi-chi-to-thanh-phuong-sau-hon-40-nam/

 

45/ Chuyện vui hội ngộ « Trung Học Hà Tiên Xưa », bạn học cùng lớp Hoàng Đức Trung và Hồ Thị Kim Hoàn sau gần 50 năm: Ngày 7/9/2019 vợ chồng Hoàng Đức Trung ở Ohio hội ngộ vợ chồng Nguyễn Kim Hoàn tại nhà Duy Yên ( con gái đầu lòng của Minh Liên) Bakersfield CALIFORNIA .
Trái qua phải: Hoàng Đức Trung, Phạm Thị Loan (phu nhân của Hoàng Đức Trung), Hồ Thị Kim Hoàn và phu quân là anh Xuân.

46/ Sau khi có bài viết về Thầy Trần Văn Thuận, một vị thầy đã có thời dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa trong những năm 1970-1972, hai bạn Trương Thanh Hùng và Trương Thanh Hào có theo địa chỉ thông tin của thầy và đã đến viếng thăm thầy tại TP HCM, đó là một buổi hội ngộ của « Trung Học Hà Tiên Xưa » sau gần 50 năm thầy trò xa cách. sau đây là ghi nhận của bạn Hùng: « Ghé thăm Thầy Trần Văn Thuận vào sáng thứ bảy ngày 22 tháng 2 năm 2020. Thầy đã dạy chúng tôi lớp đệ tam (lớp 10) ở Hà Tiên năm 1970. Hiện thầy rất khỏe và minh mẫn, kể lại nhiều kỷ niệm khi ở Hà Tiên, lại được Thầy tặng khá nhiều tác phẩm của Thầy. Một buổi sáng thật nhiều ý nghĩa. »

Hai bạn Trương Thanh Hùng và Trương Thanh hào đến viếng thăm thầy Trần Văn THuận ngày thứ bảy 22/02/2020 sau gần 50 năm thầy trò xa ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Cầu nổi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu được thiết lập khoảng tháng 4 năm 1970 do một bộ phận công binh (9ème Divison) quân đội Việt Nam ngày xưa nhằm mục đích hổ trợ cho các cuộc hành quân sáng biên giới Việt Nam-Cambodge. Tuy nhiên chiếc cầu nầy cũng phục vụ miển phí cho sự đi lại của dân chúng Hà Tiên và cho các tuyến đường xe đò từ Hà Tiên đi Sài Gòn và các tỉnh. Chiếc cầu được nâng đở bằng nhiều phao nổi vì thế cầu thường di động theo sóng nhấp nhô và thường xuyên được bảo trì để luôn giữ mức độ an toàn. 

Có một điều lý thú mà mình nghĩ là các bạn người Hà Tiên lại có thể chưa biết qua chi tiết nầy, đó là người xây dựng chiếc cầu nầy chính là người con rể của đất nước Hà Tiên. Như trên đã viết, cầu nổi Tô Châu do công binh thực hiên, đó chính là Tiểu Đoàn 40 Công Binh đặt căn cứ tại Cần Thơ. Người Tiểu Đoàn Trưởng có trách nhiệm chỉ huy xây dựng cầu nổi Tô Châu nầy tên là Đại Tá Trịnh Văn Anh, ông nầy chính là con rể của Ông Đốc Lý Văn Nhơn (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Nhơn), phu nhân của Đại Tá Trịnh Văn Anh tên là bà Lý Tiểu Uyển (con gái của ông Đốc Nhơn). Khi khởi công lắp ráp cầu nổi Tô Châu, ông Trịnh Văn Anh có nói với những người thân là ông muốn để lại một kỷ niệm cho quê hương của người vợ ông. Sau năm 1975, Đại Tá Trịnh Văn Anh đi học tập hơn 10 năm và sau đó ông qua đời vào khoảng năm 1992 tại Cần Thơ. Các bạn Hà Tiên hãy nhớ và trân trọng một người đã để lại một kỷ niệm vừa đẹp vừa rất thực tiễn cho đất nước Hà Tiên chúng ta, mặc dù ngày nay chiếc cầu nổi Tô Châu không còn lý do hiện hữu nữa.  (viết theo chi tiết đóng góp của bạn Therese Tran, xin cám ơn Therese rất nhiều nhé)

Cố Đại Tá Trịnh Văn Anh, con rể của đất Hà Tiên, người đã chỉ huy Tiểu Đoàn 40 Công Binh ngày xưa xây dựng chiếc cầu nổi Tô Châu vào năm 1970. (Hình chụp vào năm 1991, Therese Tran cung cấp)

Trong những năm 1960-1970, trước khi có cầu nổi Tô Châu, Hà Tiên có vài chiếc bắc để đưa các xe đò lớn qua lại bên sông và cũng có đò nhỏ đưa khách qua sông một cách nhanh và tiện. Photo: Nguyễn Bích Thủy (theo một phim hình xưa)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) được thiết lập khoảng tháng 4 năm 1970 do công binh quân đội Việt Nam ngày xưa nhằm chủ yếu phục vụ cho các công tác quân đội. Photo: Trần Văn Dõng

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên trên chiếc cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) vào năm 1972. Photo: Trần Hoàng Trang

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên trên chiếc cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) vào năm 1972. Photo: Trần Hoàng Trang

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên trên đầu một chiếc phao nổi của chiếc cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) vào năm 1972. Photo: Trần Hoàng Trang

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1993. Photo; Daanj

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1994. Photo: Trần Văn Mãnh

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1994. Photo: Trần Văn Mãnh

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1994. Photo: Trần Văn Mãnh

Toàn cảnh cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1995. Photo: Hoàng Nguyên

Xe khách qua cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên). Photo: Hồ Thị Kim Nga

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm cuối thập niên 90. (nguồn hình: sách Hà Tiên thập cảnh – Thăm Đảo Phú Quốc, Đông Hồ & Mộng Tuyết, nhà xuất bản Văn Hóa)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên), photo: Bronson Ha

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 1998. Photo: Hoàng Nguyên

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2006. Photo: Herman Hermanson

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2006. Photo: QuanNgoMinh

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên).

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên). Photo: dht

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2006. Photo: Schweidler

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2006. Photo: HoangDongDuong

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2008. Photo: NguyenVu

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2008. Photo: NguyenVu

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên) khoảng năm 2010. Photo: Philthoi

Cầu nổi Hà Tiên trước năm 2010

Cầu nổi Hà Tiên đã bị tháo gở đi, ngay đầu cầu bên Hà Tiên trở thành bến đò Cừ Đứt. Ảnh: CHNproduction, khoảng 2012

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Cầu nổi Tô Châu (Hà Tiên)

Một vài năm sau khi chiếc cầu đúc xi măng mang tên Tô Châu ra đời nối liền cửa sông Giang Thành – Hà Tiên ngay chân đồi pháo Đài (khởi công 2000, hoàn thành 2009), chiếc cầu nổi Tô Châu đã bị tháo gở không còn trên sông nữa. (Cầu nổi bi tháo gở vào tháng 5 / 2010 và vĩnh viễn biến mất trên sông Hà Tiên)

Chiếc cầu xi măng nối liền dưới chân Pháo Đài và đầu ngọn núi Tô Châu (Hà Tiên) đang được xây dựng (2000 – 2009). Photo : Đăng Định 2002

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Cô Vương Thị Lành

Thầy Cô và các bạn thân mến, Cô Vương Thị Lành là một vị giáo sư trong những vị giáo sư gốc gác người Hà Tiên và đã phục vụ tại Trường Trung Học Hà Tiên ngay tại quê hương mình nhiều năm (ngoài ra còn có Cô Hà Thị Hồng Loan, Tiền Ngọc Thanh)…Cô Vương Thị Lành dạy môn chính là Quốc Văn, ngoài ra cô còn phụ trách các môn như Công Dân, Nữ Công nữa. Mình học với Cô Lành vào năm Đệ Ngũ (1966-1967).

Kỹ niệm học với Cô Lành cũng rất nhiều, nhưng mình nhớ nhứt là kỹ niệm sau đây: Vào năm Đệ Ngũ, trường có tổ chức cho các lớp làm « Bích Báo » (Bích: tường, Báo: tờ báo…) Bích Báo là một tờ báo mà các bài vở thơ, văn, chuyện ngắn được viết lên trên một tờ giấy cứng màu trắng rất lớn và sau đó được treo lên vách tường trước cữa mỗi lớp theo hành lang các lớp, học trò vào giờ chơi sẽ đứng đọc báo…). Lớp Đệ Ngũ của mình cũng có làm một tờ Bích Báo, và đặt tên báo là « Đất Mẹ »,…Chữ « Đất Mẹ » được mình viết bằng mực Tàu đen và theo kiểu chữ Nho như trong hình.

bich_bao_dat_meTờ Bích Báo (nguyên gốc ngày xưa được chụp hình lại) với tên Đất Mẹ viết theo kiểu chữ Nho)

Toàn bộ tờ Bích Báo gồm nhiều bài vở như Thầy Cô và các bạn thấy trong hình (có một bài không biết chủ đề là gì nhưng có vẻ hình nhà thờ Đức Bà Paris) đều do chính mình trình bày về vẻ hình và trang trí, còn bài vở thơ, văn, chuyện ngắn thì cũng chỉ do ba tác giả phụ trách mà thôi: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Văn tài và Trương Thái Minh. Mình còn nhớ lúc vẻ hình, chép bài lên báo là ngay tại nhà bạn Trương Thái Minh (nhà ngày xưa ở đường Mạc Cữu). Khi tờ Bích Báo được treo lên trước hành lang của lớp mình thì có lúc đến giờ Quốc Văn của Cô Lành, trước khi vào lớp Cô nhìn qua tờ báo và khi vào lớp trước khi giãng bài cô hỏi cả lớp mình: « Mấy em viết chữ Nho có hỏi ai không, để viết cho đúng…? »..Cả lớp mình hô lớn lên: » Đâu có cô, đâu có viết chữ Nho, đó là chữ Việt đó cô ơi, cô xem kỹ lại xem…Đó là chữ « Đất Mẹ » đó cô… ». Cô nói: « Ủa vậy sao, để cô ra xem lại… ». Sau đó cô ra xem kỹ lại và gật gù khen báo làm đẹp và phong phú quá…

vuongthilanhCô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn Trường Trung Học Hà Tiên

Cô Vương Thị Lành còn có người em gái tên là Liên học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, chị Liên hiện cũng còn ở tại Hà Tiên. Thắm thoát cô Lành dạy cho đến những năm cuối 69-70 thì cô đổi về Sài Gòn dạy, còn mình thì cũng qua Rạch Giá học tiếp và lên Cần Thơ học nên cũng mất dần tin tức của cô. Ngày nay cô đã định cư ở nước Mỹ, có gia đình và có con, thỉnh thoãng cô có liên lạc qua điện thoại với cô Hà Thị Hồng Loan ở Hốc Môn (Sài Gòn).

Nhân dịp mấy ngày nay cô Lành có về Việt Nam và ghé thăm lại quê hương Hà Tiên yêu dấu, các bạn học cùng trường ngày xưa: Trần Hoàng Trang, Trần Phương Nhu, Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Nguyệt Hồng,…có đến thăm cô và có cung cấp cho mình một số hình ảnh, nhìn cô hơi lạ nhưng vẫn còn nét như ngày xưa…Xin cám ơn các bạn nhiều nhé,..

Anh Hai Trần Văn Dõng lúc trước có liên lạc được với cô Lành qua điện thoại, sau một lúc bở ngở thì cô nhớ lại hai học trò Mãnh và Dõng (theo cô nói thì do hai đứa mình là hai học trò tương đối đặc biệt, có lẽ là do sinh đôi, « tây lai», «học cũng được»….).Cô nói cô lớn tuổi rồi, trí nhớ cũng suy giảm nhiều, nhiều khi bấm số tel còn nhầm do nhiều số quá, cô không xài mạng Internet, con cái cuối tuần mới về thăm. Cô có về thăm lại Hà Tiên năm 2002, từ đó đến nay, dù rất nhớ Hà Tiên nhưng cô nói lớn tuổi đi đứng khó khăn, cô sợ không dám đi đâu dù rất muốn về thăm nữa. Cô nói giửa cô và cô Hà Thị Hồng Loan cũng có quan hệ bà con, vẫn thỉnh thoảng có liên hệ qua tel. Cô cũng còn một người anh ở Mỹ nhưng khác chỗ ở. Cô nói cũng buồn vì nhớ Hà Tiên quê hương.

Ngày nay thì học trò và cô cũng rất được an ủi vì đã có ngày cô trò gặp lại sau bao nhiêu năm xa cách…Chúng em xin kính chúc Cô Vương Thị Lành mọi sự như ý, sức khỏe tốt đẹp và vạn an trong cuộc sống. Kính chúc cô hoàn thành chuyến về thăm quê hương thật tốt đẹp, mọi sự đều may mắn và thành công. (14/02/2017)

                                     Trần Văn Mãnh (theo tin do Trần Hoàng Trang thông báo)

ha_thi_hong_loan-3Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

hathihongloan_5Trái qua phải: Cô Hà Thị Hồng Loan, cô Nguyễn Minh Nguyệt, cô Vương Thị Lành tại trường Trung Học Hà Tiên

hathihongloan_6Cô Hà Thị Hồng Loan và cô Vương Thị Lành trước Thạch Động (Hà Tiên)

TVM_THHT_3Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ)…Trung Học Hà Tiên những năm 60′. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời,..) Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình,…

vuongthilanh_hatien-5Cô Vương Thị Lành hiện nay đang về thăm quê Hà Tiên (02/2017)

vuongthilanh_hatien-7Học trò xưa đến mừng cô Vương Thị Lành về quê Hà Tiên. Trái qua phải: Trần Phương Nhu, Nguyễn Thúy Vân, cô Vương Thị Lành, Nguyễn Nguyệt Hồng, đứng: Trần Hoàng Trang, Cẩm Tiên, Tăng Thị Sáu

vuongthilanh_hatien-1Học trò xưa đến mừng cô Vương Thị Lành về quê Hà Tiên. Trái qua phải: Trần Phương Nhu, Nguyễn Thúy Vân, cô Vương Thị Lành, Nguyễn Nguyệt Hồng, tăng Thị Sáu, đứng: Nguyễn Bích Thủy, Trần Hoàng Trang, Cẩm Tiên.

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Khiet Nha Huynh, Trần Hoàng Trang, Trần Phương Nhu…(cám ơn các bạn Hoàng Trang, Phương Nhu đã cung cấp hình ảnh và thông tin)