Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Thầy cô và các bạn thân mến, bạn La Văn Cao là một người bạn thân trong nhóm những người bạn thân cùng đi chơi trong suốt thời gian còn là học trò của Trung Học Hà Tiên…Mình không biết ở các trường Trung Học khác thì ra sao, nhưng ở Hà Tiên, tình bạn bè chơi với nhau không phân biệt « đẳng cấp » thứ hạng…Có nghĩa là ta có thể kết bạn chơi thân với nhau mà không nhất thiết phải học cùng lớp…Đó là trường hợp của đa số bạn bè thời học trò ở Trung Học Hà Tiên…Mình có nhiều bạn thân học trên mình một lớp (đó là trường hợp bạn La Văn Cao, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…v..v…), ngược lại mình cũng chơi thân vói nhiều bạn học sau mình vài lớp (Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Hà Quốc Hưng, Trang Việt Thánh,….v..v….). Xin các bạn thân chưa có tên kể ra đây thứ lỗi vì mình vẫn nhớ nhưng chưa kể hết ra đây nhé…

Đi chơi nhiều với bạn Cao thì có rất nhiều chuyện vui buồn kỷ niệm, chuyện vui thì có cái khái niệm « ngồi đồng » mà Cao chính là « cha đẻ » của khái niệm nầy…Nói đến từ ngữ « ngồi đồng » thì dân Hà Tiên biết rành, vì ở Hà Tiên là nơi vốn có rất nhiều chùa chiền, cổ miếu, nơi mà hàng năm cứ đến ngày cúng vía thần thì sẽ có người « lên đồng » để cho bùa phép các con dân trong chợ, để phù hộ tránh các điều không may mắn…Tuy nhiên khái niệm « ngồi đồng » ở đây thì lại khác hẳn ý nghĩa đó, thầy cô và các bạn đọc bài của cây bút Dương Lê dưới đây sẽ rỏ thế nào là ngồi đồng,…Phải ngồi cho đến khi nào bạn Cao cho « thăng » thì hồn sẽ nhập trở lại xác và mọi xác đồng mới được ra về nhà thảnh thơi…Ngoài ra mình còn nhớ có một chuyện vui với Cao khi cả nhóm cùng ngồi uống cà phê tối ở quán Ti La, lúc đó có ai trong bàn nhắc một chuyện tình nào đó của « anh Mãnh », Dương nghe vậy nên lên tiếng:

– Chắc lúc nầy trái tim của anh Mãnh đập theo nhịp nhanh chóng đều…

Bạn Cao nghe vậy liền thốt lên :

– Ủa sao Dương lại biết từ ngữ nầy…(từ ngữ «nhanh chóng đều»…)

Sở dĩ bạn Cao nói như vậy là vì bạn hiện đang theo học ở Sài Gòn lớp Đệ Nhứt, mà ở lớp nầy thì có môn Vật Lý đang học về Cơ Học, nói về các chuyển động trong đó có chuyển động đều (tốc độ luôn bằng nhau và chuyển động nhanh chóng đều, tốc độ tăng đều đặn theo thời gian. Mình cũng không nhớ tại sao Lê Phước Dương biết được từ ngữ Cơ Học nầy…

Đặc biệt là trong chuyến đi Mỹ vừa qua để dự buổi họp mặt Hội Đồng Hương Hà Tiên, mình có dịp gặp lại người bạn thân đi chơi chung ngày xưa, đó là Bạn La Văn Cao, bạn Cao đã đến sớm dự buổi họp mặt Đồng Hương Hà Tiên để gặp lại bạn bè Hà Tiên, bạn bè hơn 40 năm qua tuy chỉ có liên lạc qua tin nhắn nhưng chưa được dịp gặp lại, nay đã gặp lại tận mặt bạn Cao, mình rất vui. Tuy rằng cuộc gặp gở chỉ gò bó trong khuôn khổ họp nhóm đông đúc, thiếu phần riêng tư giữa hai người bạn lâu năm gặp nhau, vì điều kiện không gian và thời gian hạn hẹp nhưng cuối cùng cũng được vui lòng, thỏa mãn vì được hội ngộ với nhau.

Thân mời thầy cô đọc bài về câu chuyện « ngồi đồng » do cây bút Dương Lê viết rất hay và vui sau đây.  (Paris, TVM viết lời giới thiệu, 20/05/2020)

Anh La Văn Cao, những ngày tháng cũ (Dương Lê)

Anh lớn hơn mình vài tuổi và vì có lần đổi tên là La Văn Tạnh nên mình không biết chính xác là sinh năm nào, anh có chiều cao từ 1,8 m trở lên, có lúc ảnh hưởng phong trào hippy của giới trẻ nên anh để tóc dài rất đẹp và lãng tử.

Đêm Noel năm 1970, sau khi lang thang viếng nhà Thờ rồi dạo chơi đường phố Hà Tiên, nhóm của mình gồm: Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hà Quốc Hưng, cùng ghé lại Quán Ti La thì lúc đó đã có bàn của bàn của anh Cao, anh Nguyên, Dõng, Mãnh…và vài người khác đã rất là rôm rả.

Lúc này anh Cao đang học ở Sài Gòn, nhân dịp Giáng Sinh nên về nhà chơi, nhà anh khá giả, ba anh có xe Lam chở hàng và khách lên xuống biên giới Kampuchia-Hà Tiên. mẹ anh mua bán lớn hàng Việt, Kam và Thái Lan. Tính tình anh rất hào sảng và rộng rãi nên khi thấy nhóm mình vào quán anh liền gọi cùng ngồi chung bàn cho vui. Thấy anh vui vẻ nên cả nhóm cùng kéo ghế ngồi chung, cùng hòa nhập chuyện trò tranh luận đấu lý… Chợt anh Cao lên tiếng đề nghị:

– Bây giờ Nguyên nói lên một câu ngắn rồi mình dịch ra tiếng Anh, Pháp, Miên, Tàu, các bạn thì phụ họa theo nghe!

Tất cả khoái chí và cùng đồng ý.

Anh Nguyên nói: Anh yêu em!

Cả bàn: Anh yêu em.

– Anh Dõng: I love you.

Cả bàn: I love you.

– Anh Mãnh: Je t’aime.

Cả bàn: Je t’aime.

– Anh Trung: Bon salanh ôl.

Cả bàn: Bon salanh ôl.

– Anh Cao: Úa ái lứ.

Cả bàn: Úa ái lứ.

…..

Càng về sau độ dịch càng khó và độ đồng hét càng lớn.

Khi đến 12g khuya thầy Hiển bước ra nói:

– Trò chơi này vui quá, mà thôi các em dừng lại cho Thầy dùm vì 12g khuya rồi.

Không ai bảo mà cả bàn cùng hô lớn:

– Dạ Thầy.

Anh Cao nói lớn với cả bàn:

– Đêm nay gặp được các bạn, các em…vui quá nên chầu nước này “Úa » trả khỏi phải hùn tiền…5g sáng sớm mai, Mãnh ra bến xe gặp anh để lấy tiền trả cho Thầy, nhớ tới sớm nghe.

Anh Mãnh nói:

– « Oui », mình sẽ vặn đồng hồ reo lúc 4g để được uống một ly xây nại nóng rồi tiễn bạn lên đường.

……

Cái câu chuyện uống nước và anh Cao sẽ trả tiền thì ở Hà Tiên nầy nó đã trở thành một huyền thoại, có một danh từ đặt tên cho huyền thoại đó, đó là từ “ngồi đồng”. Ở Hà Tiên lứa tuổi như mình hoặc nhỏ hơn vài tuổi đều từng được anh Cao cho ngồi đồng. Để mình giải thích cho các bạn biết ý nghĩa của từ “ngồi đồng” nầy.

Có lần, lúc anh La Văn Cao học lớp Đệ Tứ Trường Trung Học Hà Tiên, buổi sáng một hôm vào ngày nghỉ, anh chạy xe đạp chở mấy thùng đường đi giao cho người mua, khi gặp bạn, gặp đàn em là anh kêu:

– Lại quán chị Lệ cây me uống cà phê nghe, anh giao thùng đường này rồi anh lại ngay.

Không biết anh chở bao nhiêu thùng đường đi giao mà những khuôn mặt thân quen cứ lai rai lại quán ngồi đó, lớp nào theo lớp đó, điểm danh cũng được mười mấy em. Nhìn bộ dạng của mọi người thì chắc là ai cũng mong ngóng anh Cao thôi.

Ngày xưa, là học sinh, đa số chỉ có hai bộ đồ, túi rổng không, đi đâu cũng chỉ là « lô ca chân ». Có được chiếc xe đạp đã là may. Thế là cả đám, người đá bào đậu đỏ, kẻ cà phê đá, xịt xà thòn…rồi cùng ngồi đồng, ai đói bụng mà có tiền túi thì tự trả rồi về, ai không có tiền mà lở uống nước rồi thì ngồi đó…nhấp nha nhấp nhổm còn lại khoảng mười em, bụng đói meo cùng ngồi chịu trận tới 2g trưa thì anh Cao đạp xe tới và nói :

– “Úa” kẹt công chuyện, mấy “lứ” có uống gì nữa thì kêu đi!

Mọi người năn nỉ anh trả tiền để “giải đồng” rồi thì « thăng » và thất thểu đi về với cái bụng đói meo.
……..
Trở lại chuyện uống nước ở quán Ti La, buổi sáng hôm sau sự kiện đêm Noël ở quán Ti La, cả nhóm cùng gặp lại ở quán cà phê ngoài chợ và anh Mãnh đã kể lại như sau:

Tao về nhà vặn đồng hồ reo lúc 4g mà không biết sao khi giựt mình thức dậy là đã 5g hơn, tốc dậy không rửa mặt đánh răng chỉ mặc cái quần dài vào rồi bay ra bến xe, đến bến xe thì hởi ơi! Xe đã chạy rồi.

Có một bài hát tựa là: “Thúy đã đi rồi”, rất buồn mà nay thì: “Cao đã đi rồi” còn buồn hơn. Trở về nhà thì không có tiền trả cho Thầy Cô vì đã nhận nợ, biết ăn nói làm sao!

Bổng có anh xe ôm chờ khách lên tiếng hỏi:

– Tính đi đâu sớm vậy Mãnh?

– Chạy theo kịp xe Lộc Thành không?

– Chắc kịp mà!

– Vậy thì đi.

Lúc đó chạy xe ôm chỉ là chạy chiếc Honda SS67, chạy 40km/g đã là nhanh, ngoài ra còn bị đắp mô, còn mìn…..Bên Tô Châu có anh tên Dự, chạy xe ôm chở khách. đến chổ cây me gần Tà Săng, cán ngay trái mìn, mìn nổ và cả hai người đều bị nạn…..Thật là tâm trạng ngổn ngang, ruột rối như tơ vò, cái vụ uống nước thiếu chịu mấy trăm ngàn này mà tới tai bà ngoại , bà má thì không biết giải thích thế nào!

May mắn làm sao, xe ôm vừa qua cua quẹo Mũi Ông Cọp thì thấy xe Lộc Thành đang dừng lại bên ven đường, lơ xe đang thay vỏ, người đi xe thì không may mắn phải chờ khoảng 15, 20 phút, chỉ có Mãnh này là hên thôi.

Cao thì đang vươn tay xoạc chân làm động tác thể dục buổi sáng bên bờ biển gió lộng.

Mừng quá Mãnh ta gọi lớn:

– Cao ơi Mãnh nè!

Một nụ cười với hàm răng ám khói thuốc:

– Ngủ cho dữ, “Úa” tính Tết về trả luôn…Vừa nói Cao vừa móc túi lấy tiền đưa.

Mừng quá, Cao lên xe đò chạy đi, tao lên xe ôm về, không kịp chào nhau…trả tiền xe ôm, tiền quán còn dư được tô hủ tiếu và ly cà phê mà…hú hồn.

……

Anh La Văn Cao là như vậy, anh chơi với anh em là chơi bạc mạng, chơi hết tiền túi kiếm người quen mượn tiền chơi tiếp. Là con trai cả, anh em đông, có hiếu với cha mẹ, chơi là chơi mà học là học, anh học rất giỏi, Tú tài 1 đậu hạng Bình, Tú tài 2 hạng Binh thứ, thi vào Kỷ Sư Điện Phú Thọ, 2000 thí sinh lấy một khóa 50 người, anh đậu thứ 52 vì vậy bị động viên học khóa 4/72 TB Thủ Đức, anh chọn Pháo Binh học thêm 3 tháng về chuyên môn rồi ra trường về đơn vị đóng quân ở Huế, Vùng 1 Chiến Thuật.
……..

Hà Tiên, 14/5/2020, ghi lại để nhớ mãi về người anh: La Văn Cao.

Dương Lê

Bạn học cùng lớp Trung Học Hà Tiên xưa hội ngộ sau hơn 40 năm tại Californie (Mỹ 10/2017) nhân ngày hội đồng hương Hà Tiên: Tiền Hữu Minh, La Văn Cao và Trang Thanh Sơn

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 50 năm: Trần Văn Mãnh và bạn thân thời Trung Học, La Văn Cao (bạn Cao học chung lớp với anh Trần Văn Dõng), (06/2019, California)

Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, từ lâu mình có ý nghĩ là viết một bài về những người quen biết và những người bạn tuy không học chung cùng trường lớp Trung Học Hà Tiên xưa nhưng rất gần gũi nhau vì đó là những người quen biết và bạn bè thường hay tới lui giao thiệp vì cùng ở chung quanh khu chợ Hà Tiên (đây là nói về khu chợ rất xa xưa của Hà Tiên, khu có ngôi nhà lồng chợ ở giữa hai con đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt).

Mình sắp nói về những người quen biết và cũng là bạn bè hàng xóm, có người mình đã biết và có chơi qua lại từ rất lâu, ngay cả những ngày còn nhỏ thời trẻ nít, có người thì mình xem như đàn anh, nhưng cũng rất quen thuộc vì mỗi ngày đều có dịp gặp gở,..Trong số bạn bè người quen ở đây, một ít người thì đã ra người thiên cổ, ra đi đã lâu, có thể người Hà Tiên chúng ta đã quên rồi, vì thế mình muốn nhắc lại trong bài viết nầy, mong quý bà con, bạn bè còn ở Hà Tiên và những vị ở các nơi khác trên trái đất nầy, đọc bài và hãy suy tưởng nhớ lại, xem mình có quen biết người được nhắc đến ở đây hay không, tất cả đều là người quen biết và đều có thể được xem như là « những nhân vật quen thuộc » của đất Hà Tiên xa xưa.

Anh Tây Đen:

Từ nhỏ đến giờ, mình không biết tên thật của anh, chỉ nghe mọi người gọi anh là « Tây Đen »,…Cho đến tháng 8 năm 2018 khi mình đăng một thông tin trên trang fb để hỏi thăm về anh thì các bạn có góp ý nên mình mới biết được tên thật của anh. Anh tên thật là Phan Văn Sinh, đó là tên do cha mẹ nuôi của anh đặt cho. Cha nuôi của anh tên là Phan Văn Anh (tự Mạnh). Theo nội dung của phần thông tin của mình đăng lên để hỏi tin tức về anh Sinh, mình có viết như sau: « Các bạn ở Hà Tiên ngày xưa và nhất là các bạn ở Kiên Lương cho mình hỏi thăm về một người: Người nầy hồi xưa ở Hà Tiên, có tên thật là Mạnh nhưng mọi người đều gọi là « Tây Đen » vì anh là người lai có lẽ cha anh là người Phi Châu …Lúc xa xưa trong những năm 1960 ở sát bên nhà mình, do hai ông bà VN nhận làm con nuôi, (căn nhà chính là ngay nhà chế Gái Đen ngày xưa), lúc đó còn là một dãy nhà ngói đối diện với biệt thự ông Bầy đường Bạch Đằng, sau đó căn nhà đó do vợ chồng ông Huống ở, ông Huống làm nghệ giặt ủi quần áo và bà Huống thì bán rau hành ngoài chợ đường Tham Tướng Sanh. Sau nầy anh bạn Tây Đen về Kiên Lương ở, có một lúc có mâu thuẩn theo kiểu tuổi trẻ muốn đánh nhau với nhóm học trò Trung Học Hà Tiên của mình. Trong thời gian ở Kiên Lương anh bạn Tây Đen đăng vào lính và bị thương phải cưa hết một chân nên anh chỉ có một chân phải chống nạn đi, anh Tây Đen tuy rất đen nhưng nói chung vẫn đẹp trai, mũi cao, thân mình cân đối, hơi ốm..Sau nầy không biết anh ấy sống chết thế nào, các bạn có biết tin không, nhất là các bạn thường sống ở Kiên Lương sau nầy ».

Sau khi thông tin nầy được đăng lên ngày 20/08/2018 thì có nhiều bạn quen biết ở Hà Tiên và Kiên Lương góp ý và cho mình nhiều tin tức về anh Sinh. Như mình đã viết trong phần trên, từ xưa đến giờ mình cứ ngở tên anh là Mạnh, hóa ra đó chính là tên thân mật của cha nuôi của anh. Trong thời trẻ con của mình, khoảng 9, 10 tuổi, nhà cha mẹ nuôi của anh Sinh ở sát bên phải nhà mình, chổ  mà ngày xưa là một dãy nhiều căn ngói, kết sát bên nhà mình đó là nhà cha mẹ anh Sinh, kế đến là nhà ông Sừng làm nghề sửa chữa máy móc, kế nữa nhà của gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, ….v..v…lúc xưa chưa có căn nhà lầu của chế Gái Đen.  Thời đó lối xóm có nhiều trẻ con, mình cũng thuộc loại trẻ con của xóm đó, mình thường thấy anh Tây Đen nầy chơi với thằng bé con trai của ông Sừng nhà kế đó, nghĩ cũng vui vì thời xưa đó chỉ nội cái xóm khu nhà mình ở cũng có hai ba loại tây lai, tây trắng cũng có, tây đen cũng có,…(đó là anh em nhà mình, rồi bác Tây Đô ba của bạn Kiệt, rồi anh Sinh Tây Đen…).

Đây là những chi tiết mà người ta biết về anh Sinh: anh rất đam mê tốc độ, anh chạy xe honda rất tài tình về kỹ thuật lạng lách,…Sau khi anh và gia đình dời về Kiên Lương sinh sống, có thời gian anh vào lính, anh lái xe cho ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng BĐQ. Mỗi lần có dịp hành quân về Kiên Lương thì anh Sinh phô diễn tài chạy xe jeep, với kỹ thuật lái xe chỉ chạy trên hai bánh vòng vòng khu chợ tròn khiến cho người dân đứng xem hai bên đường vỗ tay khen rầm trời… Thời gian sau anh không may mắn vì bị thương và phải bị mất một chân, anh trở về cuộc sống dân sự ở Kiên Lương, mình cũng có nhiều dịp gặp gở anh khi đi Kiên Lương thăm bà con anh chị làm việc ở đó. Sự liên hệ giữa cá nhân mình và anh Sinh không có gì đặc biệt, ngày xưa là bạn con nít lối xóm chơi chung với nhau, khi lớn lên thì gặp nhau chào hỏi và thân thiện không có mâu thuẩn gì cả…Chỉ có một thời gian khi anh về Kiên Lương sống và chưa vào lính thì không biết tại sao có lúc nhóm học trò trung học Hà Tiên và anh Sinh ở Kiên Lương có hiềm khích gì đó, hai bên khích nhau gần như muốn đánh lộn với nhau, lúc đó học sinh Hà Tiên cũng không dám xuống Kiên Lương chơi vì sợ anh Sinh kiếm chuyện,…chỉ vậy thôi nhưng trên thực tế thì chưa hề có việc đánh nhau thật sự, đó chỉ là những xích mích theo kiểu thời học sinh, chắc cũng là vì lý do muốn dành chiếm con tim của một hai người đẹp Hà Tiên hay Kiên Lương nào đó…

Có nguồn tin bạn cho hay sau nầy khi anh rời khỏi đời lính vì bị thương tật, anh về sống cuộc đời bình dị làm ăn với gia đình. Mình không biết được tin tức của anh nữa. Nghe các bạn thông tin là anh có đi buôn bán thuốc lá tuyến đường Hà Tiên-Kiên Lương, có lúc thì anh bán vé số, về sau không buôn bán nữa thì anh về xã Hòa Điền sống với vợ con và mất ở đó. Mình cũng không biết chính xác anh Sinh mất năm nào, chỉ mới biết tin do bạn bè chia sẻ cho biết mà thôi, nghĩ lại thấy rất tội nghiệp cho cuộc đời của anh, vì rốt cuộc anh cũng là một nạn nhân của thời chiến tranh tang tóc…phải chịu cảnh thương tật đến khi rời xa cuộc sống. Ngày xưa khi chào đời anh được cha mẹ nuôi nhận đem về sau khi mới sanh ra có 3 tiếng đồng hồ ở Vĩnh Long. Thời gian đi học ở Hà Tiên bậc Tiểu Học anh học chung với anh Tòng con dì Tám Tiền cũng ở gần nhà mình đường Bạch Đằng. Khi anh Phan Văn Sinh mất, gia đình chôn cất anh ở Hà Tiên.

Về gia đinh cha mẹ nuôi của anh Sinh, mình cũng không biết nhiều, chỉ còn nhớ cha của anh ngày thật xa xưa mình có gặp mặt vì là người lối xóm, nhưng hoàn toàn không biết gì về những người thân khác trong gia đình của anh Sinh. Sau nầy mới được bạn bè thông tin thêm cho biết là anh có một người chị trong gia đình tên là Phan Thị Lang, chị Lang hay lên xuống Hà Tiên đi buôn bán và chị cũng là bạn thân với chị Huỳnh Thị Huệ người chị bạn dì với mình sống ở Kiên Lương. Chị Phan Thị Lang ngày xưa cũng là một cô giáo dạy ở trường Tiểu Học An Bình, Kiên Lương, nhà chị ở khu chợ dài ở Kiên Lương.

Anh Phan Văn Sinh với chiếc nạn gỗ lúc anh bị thương tật ở chân.

Chị Phan Thị Lang và bức chân dung của người cha là ông Phan Văn Anh, cũng là cha nuôi của anh Phan Văn Sinh

Bìa trái hàng đứng: chị Phan Thị Lang (chị của anh Phan Văn Sinh), bìa trái hàng ngồi: bạn Lý Mạnh Thường.

Tái bút: Sau khi viết phần về anh Phan văn Sinh xong, đến ngày hôm nay 25/06/2020, mình có nhận được mail thông tin của người con gái lớn của anh Sinh, người con gái nầy có cho mình biết vài thông tin về gia đình của anh hiện tại. Anh có tất cả 4 người con, người con út là con trai vẫn còn độc thân, ba người con lớn thì đã có gia đình. Cuộc sống tất cả đều ổn định. Người vợ của anh vẫn còn sinh sống ở xã Hòa Điền tuy sức khỏe có phần yếu kém. Theo hình ảnh của thẻ căn cước ngày xưa của anh Sinh thì tên chánh thức trên giấy tờ của anh là PHAN VĂN XIN. Theo thông tin gia đình thì anh Phan Văn Xin mất ngày 18/05/2001. Mình xin cám ơn người con gái lớn của anh Xin về những thông tin nầy và về những tấm hình mà cô đã chia sẻ qua email.

Chân dung anh Phan Văn Xin trong giấy căn cước ngày xưa. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Giấy căn cước ngày xưa của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Chân dung của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Bạn Phách:

Tiếp tục kể chuyện hàng xóm đường Bạch Đằng, ngày xưa lúc mình còn nhỏ, mình thường chơi thân với bạn Phách, bạn bè khu chợ thường gọi bạn là Phách, nhưng tên chữ của Phách chính là Chung Nghiệp Phát. Ngày xưa mình với Phát chơi nhau rất thân, mình thường hay qua nhà Phát chơi, má của Phát rất tử tế, rất vui vẻ nói chuyện với mình tuy nhiều khi thì cũng rất nghiêm. Ba của Phát làm việc ở khách sạn Đại Tân phía sau nhà mình ở đường bến Trần Hầu. Gia đình ba má Phát có hai người con trai, Phát là lớn và có một em trai tên là Tài. Nhà của Phát ở sát bên phải căn biệt thự nổi tiếng ngày xưa của ông Bầy, ở đường Bạch Đằng. Ở chợ Hà Tiên, có nhiều gia đình người Hoa có tiệm buôn bán chung quanh chợ, thường là những người có quan hệ bà con với nhau. Má của bạn Phát chính là người chị của ông Thái Dũ (tên của ông là Huỳnh Diệc Hỹ, ở Hà Tiên ai cũng biết ông, vì gia đình ông có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Hà Tiên, nhất là trong những năm xưa 60-70, người dân Hà Tiên tiêu thụ xăng dầu do trạm cây xăng của gia đình ông cung cấp). Má của bạn Phát còn có một người chị lớn nữa chính là bà Thái Sầm, một trong những người cố cựu ở Hà Tiên và cũng là chủ của nhiều dãy phố chung quanh khu chợ Hà Tiên, bà Thái Sầm cũng là chủ nhân của khách sạn Tô Châu xưa ở bến tàu sông, góc đường bến Trần Hầu – Tô Châu.

Ngày xưa trước mặt căn biệt thự của ông Bầy có một lề đường tráng xi măng sạch sẽ, nhóm con nít khu xóm thường tụ  tập tại đó để chơi các trò chơi trẻ con. Trò chơi thì có rất nhiều loại, thay đổi tùy theo « mùa màng », mình cũng không biết ai là người có ảnh hưởng quyết định khi nào là mùa phải chơi trò chơi nào, nhưng rỏ ràng là theo nhóm chơi của trẻ nít xóm mình thì có khi có mùa chơi dây thun, có mùa chơi bao thuốc lá, có mùa chơi hình cắt nhỏ từng miếng, có mùa chơi nút ve chai nước ngọt, đặc biệt có mùa chơi « chẻ mía » rất hấp dẫn. Tất cả các trò chơi nầy được diễn ra ở hai bên lề đường Bạch Đằng ngay khu mình ở. Tham gia các trò chơi nầy đều có các bạn lối xóm của mình, dĩ nhiên là bạn Phát cũng có mặt trong các trò chơi nầy, thực ra mình cũng ít chơi trực tiếp, chỉ thích đứng xem cả buổi các bạn chơi với nhau xem ai ăn ai thua mà thôi. Ngay cả lúc căn biệt thự của ông Bầy cho người Mỹ mướn ở trong đợt những cố vấn Mỹ đầu tiên đến Hà Tiên, thì mình cũng qua nhà của Phát để xem họ dọn đồ đạc đến trong căn biệt thự, vì lúc đó, trẻ con thường hay theo các người Mỹ nầy để xin kẹo Chewing Gum và các lon nước ngọt…Có khi thấy thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương tình cờ chạy xe đạp ngang thì phải trốn dấu mặt vì sợ bị thầy kêu lên văn phòng rầy la ngày hôm sau…

Chơi với nhau nhiều năm sau đó thì bạn Phát đi qua nước Campuchia một thời gian, lúc đó có lẽ để tránh tình trạng chiến tranh ở Việt Nam, mình và Phát mất liên lạc nhiều năm trong thời gian đó. sau đó Phát cũng trở về nhà ở Hà Tiên sinh sống, mình và Phát gặp lại và cũng thường xuyên qua lại với nhau. Thời gian sau 1975 mình và Phát mất liên lạc vì mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Hiện nay mình và Phát đã « gặp » lại nhau trên mạng, Phát sống với gia đình ở nước Canada.

Anh Thái và bạn Khuôn:

Kế căn biệt thự của ông Bầy về bên trái thì có căn nhà ngói do gia đình ông Trương Thái Phong mua cho ông ở riêng trong căn nhà nầy, sau đó có em Huỳnh là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Kim Ô ở căn nhà nầy. Kế căn nhà ông Trương Thái Phong về bên trái là nhà của một gia đình rất đông người ở. Đó là gia đình của anh Thái, anh Thái họ Tạ, tên đầy đủ là Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà nầy, đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Lúc xưa trong căn nhà đó có hai gia đình cùng ở chung, cũng đều là bà con ruột với nhau. Trong gia đình bạn Thái thì phía anh chị lớn có anh Hạo (là bạn với anh Lê Quang Chánh, anh bạn dì với mình), rồi chị Khiếm (chồng chị Khiếm là anh Ngoán, lúc xưa làm việc lái xe cho ông quận trưởng Hà Tiên, hai anh chị có con trai và gái, người con trai tên Tùng, cháu Tùng thường qua nhà mình ngồi ở hàng ba trước nhà mình xem mình đàn guitare vì Tùng rất thích chơi đàn nầy). Kế đến là anh Thái, sau anh Thái còn có nhiều em trai và gái nữa, trong số đó có ba người con gái, có cô tên Kim là phu nhân của anh Lý Cảnh Tiên (anh Tiên là anh của bạn học mình là Lý Mạnh Thường). Vì là lối xóm ngày ngày hai bên nhà nhìn qua nhìn lại, nhất là những buổi chiều gió mát nhà anh Thái thường hay trải chiếu ngoài hàng ba và cả nhà quây quần ngồi chơi nói chuyện rất vui. Thông thường thì hằng ngày ba anh Thái thường đan lưới trước nhà vì cả gia đình làm nghề đánh bắt cá, có tàu lớn ra vào ngoài cửa biển Pháo Đài. Vì anh Thái lớn tuổi hơn mình, là đàn anh nên mình không có học chung lớp với anh, chỉ có một người nữa trong nhà, hồi xưa mình chỉ biết tên bạn là Khôn (nhưng sau nầy xem tin tức của anh Thái mới biết tên đúng là Khuôn), bạn có tên đầy đủ là Lâm Mậu Khuôn, là anh em cô cậu với anh Thái, ngày xưa hồi học Tiểu Học, mình học chung lớp với bạn Khuôn, bạn Khuôn có một đặc điểm là bạn bị cận thị rất nặng, mà hồi rất xưa ở Hà Tiên, cũng không có việc phải đi khám mắt và mang kính cận nên bạn Khuôn không có đeo kính, trong lớp học mỗi lần muốn đọc một tờ giấy gì mình thấy bạn Khuôn đưa tờ giấy gần sát trên mắt để đọc… Một thời gian sau đó, cha mẹ bạn Khuôn, dọn nhà ở riêng ở phía dưới đường Trần Hầu, mình cũng biết căn nhà nầy vì có nhiều lần đi chơi ngang nhà. Ngày xưa lúc còn nhỏ chơi với nhau khá thân nên lúc Khuôn dọn nhà đi xuống xóm đường Trần Hầu thì mình cũng hơi buồn vì không gặp lại bạn thường xuyên. Từ lúc Khuôn dọn nhà đi thì mình và bạn ít có dịp tiếp xúc nhau, cho đến khi sau nầy có phong trào vượt biên đi ra nước ngoài, Khuôn cũng theo gia đình đi  nên không còn biết tin tức nhau. Cho đến lúc gần đây, nhìn hình ảnh anh Thái về Việt Nam đi thanh minh ở Hà Tiên, có chụp hình chung với bạn Khuôn, mình nhìn hình và nhận ra ngay Khuôn, mặc dù là đã xa nhau có hơn trên 50 năm…Hiện nay, anh Tạ Hữu Thái sinh sống ở nước Úc, còn bạn Lâm Mậu Khuôn thì ở nước Mỹ.

Từ trái sang phải: bạn Chung Nghiệp Phát, anh Tạ Hữu Thái và bạn Lâm Mậu Khuôn. Những người bạn ngày xưa nhà ở cùng đường Bạch Đằng, Hà Tiên.

 Anh Trần Bình:

Ngày xưa khi còn học bậc Tiểu Học, mình có học chung lớp với anh Trần Bình, anh Trần Bình người khá cao, nét mặt rất đẹp trai, nhà anh ở ngay góc đường Lam Sơn-Bach Đằng, gần như đối diện với nhà mình (ngày nay chính là quán bán mì của anh Cáo Di và chị Hoa). Gia đình anh Trần Bình rất quen thuộc với nhà mình, má của anh thì quen biết nhiều với má và ông bà của mình, còn ba của anh thì thường hay qua nhà mình hút thuốc phiện với ông ngoại mình…Ở Hà Tiên ngày xưa có rất nhiều bậc ông cha có tên là Tỹ, đó là một tên quen thuộc của người Việt gốc Hoa, ông ngoại mình tên là Trần Đệ, vì ông rất cao lớn, lưng lại hơi tôm nên người ta gọi ông là ông Tỹ Tôm, còn ba của anh Trần Bình người cũng cao lớn, người ta gọi tên là ông Tỹ « Cọn », đó là tên theo phát âm chữ Hoa ra tiếng Việt nên mình viết ra đây cũng không chính xác.

Có một kỷ niệm lúc ba của anh Trần Bình qua nhà mình, ông đi bằng cửa sau, từ phía mặt đình Thần Thành Hoàng về phía nhà mình, vì ông thường qua nhà mình chơi với ông ngoại mình nên cũng rất dè dặt, kin đáo nên thường đi theo cửa phía sau nhà. Lúc đó sân phía sau nhà mình còn đất rộng cây cỏ mọc nhiều, anh em mình đang chơi trò phóng một mũi tên nhọn qua lại, lúc anh mình phóng mũi tên nhọn về phía mình, nghĩ lúc đó sao mình cũng ngu dại thật, mình đưa ngay bàn chân phải ra đón mũi tên, ai dè mũi tên cấm phập ngay trên bàn chân, chắc cũng đau lắm, nhưng cũng không sao, không có chảy máu, ngay lúc đó thì ba anh Trần Bình vừa đến ngay cửa sau, khi thấy kiểu chơi như vậy, ông nói: « Mấy đứa tụi bây chơi gì mà nguy hiểm quá vậy… »

Ngày còn con nít, anh em nhà mình chơi rất thân với anh Trần Bình, lúc đó mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về các nội dung truyện Tàu, loại truyện hồi xưa tiệm thuốc Tây Thanh Bình ở dưới chợ cá cũ cho mướn sách để đọc. Mình đọc gần như hết tất cả các truyện Tàu có trong tiệm Thanh Bình nên chịu ảnh hưởng nặng nề về nội dung các câu chuyện nầy, nhất là truyện Tàu Tề Thiên Đại Thánh, Thái Tử Na Tra lóc thịt, các câu chuyện Thần Tiên về Đông Du bát tiên hay Phong Thần…Lúc anh Trần Bình qua nhà mình chơi, mình thường hay dừng màn trướng làm như trong gánh hát, rồi chơi trò theo các câu chuyện trong truyện Tàu, anh Trần Bình lấy cái thùng giấy sửa ông Thọ và phía mặt ngoài có vẽ hình các bông sen, rồi cầm thùng giấy đó đưa lên ngang ngực mình ngay chỗ mình đứng giống như là mình đang ngồi trên tòa bông sen theo kiểu các hình Bồ Tát, Đức Phật ngồi trên tòa sen…Hồi thời đó, anh Trần Bình có tài vẽ hình rất hay, anh thường vẽ hình các vị Phật, vẽ hình ông Lý Tịnh trên tay cầm bửu tháp, cha của Na Tra, theo kiểu nội dung thần tiên trong truyện Tàu. Vì ngôi nhà anh ngay trước mặt nhà mình, chỉ cách con đường Bạch Đằng, nhà lại có một tầng lầu và các cửa sổ lầu nhà anh cũng ngó sang nhà mình nên thường khi anh ở trên lầu, mình cũng thấy được anh Trần Bình ngồi vẽ trên đó và hai bên cũng liên lạc nói chuyện với nhau được mặc dù cách nhau một con dường và có độ cao khác nhau…

Lúc còn học chung ở Tiểu Học, mình và anh Trần Bình còn có một người bạn chung tên là Thành, Thành hơi nhỏ con, là con trai của một gia đình công chức sống trong cư xá của Ty Quan Thuế thời đó (tức là khu nhà ở sau Ty Quan Thuế nhìn ra đường Trần Hầu, khoảng có cầu đoan quan thuế ở bến sông Hà Tiên). Có lần anh Trần Bình có mua một số đồ chơi bằng nhựa mủ, các đồ chơi nầy là mô hình các người lính, các chiếc xe nho nhỏ rất xinh đẹp mà mình cũng rất thích nhưng thời đó không có tiền túi nhiều để mua chơi, một lúc thời gian sau, khi anh sắp lên Sài Gòn tiếp tục học thì anh Trần Bình cho bạn Thành đó tất cả các món đồ chơi đó.

Khi mình bắt đầu lên Trung Học thì mình và anh Trần Bình ít có dịp chơi với nhau, vì có lúc anh lên Sài Gòn ở, bạn bè ít liên lạc với nhau. Anh lập gia đình với người Hà Tiên và từ đó về sau mình không có tin tức gì về anh nữa. Sau nầy qua con gái của anh, mình biết được là anh đã qua đời vì bệnh từ lâu. Anh Trần Bình mất năm 2016, gia dình chôn cất ở trên cao, ngay đỉnh núi Đề Liêm Hà Tiên.

Anh Trần Bình, rất đẹp trai, vừa là bạn thân lúc còn nhỏ, vừa là bạn lối xóm.

Bạn Sện, hai anh em bạn Đệ và Úi:

Một trong những người bạn trong khu chợ tuy không có lúc nào học chung trường lớp nhưng có nhiều thời gian chơi khá thân với nhau là bạn Sện, người Hà Tiên gọi bạn bằng tên thân mật là Sện nhưng tên thật của bạn là Huỳnh Vạn Tường. Bạn Huỳnh Vạn Tường là con trai của một gia đình người Việt gốc Hoa có tiệm làm ăn ở đường Tham Tướng Sanh, bên hông ngôi chợ Hà Tiên xưa. Tiệm của gia đình bạn Tường có hiệu là Phục Hưng, ba của bạn Tường làm nghề trồng răng và má của bạn thì có nghề uốn tóc. Không biết từ lý do gì mà mình và bạn Tường chơi thân với nhau và từ lúc nào, chỉ biết là má của Tường rất mộ Đạo Phật nên thường hay lui tới nhà mình để tham gia việc cúng kiến quý thầy tu, và mỗi lần có người em của bà ngoại mình (bà ngoại mình thứ chín, có hai người em tu trong chùa ở Châu Đốc nên mấy đứa cháu như mình thường kêu là bà Mười lớn và bà Mười nhỏ), bà Mười nhỏ thỉnh thoảng vào Hà Tiên thăm bà ngoại mình, lần nào má của Tường nghe tin cũng đến nhà mình để tiếp xúc với bà Mười nhỏ về việc tu hành. Tường thường kể cho mình nghe về việc bạn học nghề võ, hình như là học với anh Hà Văn Long (anh Hà Văn Long là cháu ngoại của bà Cô Tư có thời gian trụ trì nhiều năm ở chùa Lò gạch ngày xưa, người Hà Tiên thường gọi anh Long bằng biệt danh « Long bảy búa », anh Hà Văn Long nay đã mất). Tường thường kể là học theo võ bùa, mỗi lần có bùa nhập vào là đánh võ rất hay và mạnh. Ở nhà của bạn Tường có một sân thượng phía sau nhà, đứng trên sân thượng nầy có thể nhìn thấy phía bên đường Bạch Đằng, và mặt tiền khu nhà đường Lam Sơn, Tường thường hay dẫn mình lên sân thượng sau nhà nầy và biểu diễn múa võ cho mình xem…

Hồi xưa lúc chơi với nhau, Tường cũng rất thích về môn đàn guitare và nghe nhạc hòa tấu đàn điện do nhóm The Shadows chơi. Bạn Tường thường dẫn mình đến nhà hai bạn Đệ và Úi, dó là hai anh em nhà ở đầu đường Lam Sơn – Tham Tướng Sanh, ngay phía trước nhà có một gốc cây me rất to lớn và phía trước đó cũng là chỗ thường xuyên của chiếc xe bánh mì « pa tê » rất nổi tiếng ở Hà Tiên, đó là chỗ bán của bà bán bánh mì « pa-tê », bà cũng có bán kèm theo vài trái mít rất to lớn.  Vì nhà của anh em Đệ và Úi có một cái máy hát dỉa loại xưa, hát bằng dỉa đá lớn màu đen, loại 78 vòng, có một dỉa đặc biệt về các bài hòa tấu của nhóm The Shadows, thường là nghe các bài Apache, FBI, Kon-Tiki,…Hồi xưa mình và các bạn đó rất mê nghe các bài hòa tấu guitare điện nầy nên nhóm bạn ở khu chợ nầy thường tụ họp ở nhà của hai bạn Đệ và Úi để nghe các bài nầy, nhiều khi cứ nghe đi nghe lại rất nhiều lần, lúc nào cũng thấy thật hay, mà vào thời đó ai cũng mê các bài hòa tấu đàn điện nầy của nhóm The Shadows, thường là các bài nầy được hát ở những rạp chiếu bóng ở Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ trong khi chờ vào giờ chiếu phim. Thời đó mình rất mê đàn guitare, nhất là mê tiếng đàn guitare điện, nhưng đâu có được đàn điện mà chơi, chỉ chơi bằng loại đàn kêu là đàn thùng (guitare acoustique) và thường là nghe bập bởm âm điệu của các bài của The Shadows rồi cứ đàn theo trí nhớ lại, chỉ biết được tên của hai bài chánh là Apache và FBI, còn nhiều bài khác thì biết nghe, ghiền nghe nhưng hoàn toàn không biết tựa bài là gì.

Bây giờ nói thêm về hai anh em bạn Đệ và Úi, bạn Đệ tên thật là Liêu Thọ Hoa, Đệ người cân đối, nhỏ con, cũng khá đẹp trai, rất hiền, còn Úi tên thật là Liêu Thọ Vĩ. Hai anh em Đệ và Úi còn có một người anh trai lớn nữa, lúc đến nhà chơi mình cũng có gặp người anh lớn nầy. Hàng ba trước nhà của hai anh em Đệ và Úi ngày xưa có cho ông thợ hàn thiếc mướn để hành nghề, hồi xưa mình cũng thường hay đến đây ngồi xem ông thợ nầy làm việc, mình rất mê xem ông cắt từng miếng thiếc, rồi đập, uốn, hàn thành những dụng cụ như bình tưới nước có cái búp sen ở đầu vòi hoặc máng xối hứng nước..v..v..Lúc ngồi xem ông làm việc thì cũng có vài người bạn của ông đến chơi và nói chuyện vui với nhau, thời đó có một ông làm thợ uốn tóc ở tiệm của nhà bạn Tường, mấy ông nầy thường có thú vui là cá độ với nhau số kiến thiết xổ ra là số mấy (loại số xổ trước hết gồm hai con số, người dân Hà Tiên thời đó dùng kết quả số nầy để chơi số đuôi, còn gọi là đánh số đề), mấy ông nầy chia 100 con số ra làm bốn phần (phần một từ số 01 đến số 25, phần hai từ số 26 đến số 50, phần ba từ số 51 đến số 75, phần bốn từ số 76 đến số 00 (tức số 100), mỗi ông cá vào một trong bốn phần nói trên nên khi số xổ ra đều có người trúng …Đó là cách chơi cá xổ số của mấy ông mà mình vẫn còn nhớ đến bây giờ. Về sau nầy, khi ông thợ hàn thiếc không còn mướn phía trước nhà của anh em bạn Đệ, Úi nữa thì có chị Lâm Thủ Điệp, phu nhân của bạn Lý Cui (bạn Lý Cui học chung lớp với mình trong thời Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ từ lớp đệ thất đến hết bậc Trung Học Hà Tiên) mướn để làm tiệm may y phục phụ nữ.

Nhắc lại thêm vài chi tiết vui ngày xưa với bạn Tường, ngày xưa ở Hà Tiên có thông lệ là nếu có một người bạn quen phải đi Rạch Giá vì có công việc riêng hay đi học hoặc đi trình diện đi lính thì sáng sớm hôm đó thường có bạn bè đi đưa người lên đường ra bến tàu, xe, và để thưởng công cho người đi đưa phải thức sớm, người sắp đi sẽ mời bạn ăn sáng một tô mì và một ly cà phê đá, thường là ngay tại quán Quảng Phát vì quán nầy ở gần bến tàu, xe nên rất tiện cho việc lên đường. Nhiều lần bạn Tường cũng rủ mình thức sớm ra đưa Tường đi Rạch Giá hay Sài Gòn như vậy, lần nào thì Tường cũng khao mình một tô mì và ly cà phê đá và dĩ nhiên là do bạn Tường trả tiền. Không những thế, ngay cả vào những ngày bình thường, bạn Tường thường hay có thói quen là thỉnh thoảng vào buổi trưa hay ăn một tô mì hay hủ tiếu ở quán ông Phan trong nhà lồng chợ, gần nhà của Tường, nếu trước đó bạn Tường đang ở nhà mình chơi đàn hay ngồi nói chuyện ở trước hàng ba mái hiên nhà mình thì Tường cũng rủ mình ra ăn luôn với Tường cho vui, lần nào bạn Tường cũng chiêu đãi trả tiền, vì thời xưa còn học sinh, mình cũng không có tiền túi dư để khao bạn bè ăn hủ tiếu thịnh soạn như vậy, tóm lại nếu nói nợ nần thì mình cũng đã nợ bạn Tường rất nhiều về những lần được khao ăn mì, hủ tiếu như vậy…

Sau nầy khi mình đi dạy học thì ít về Hà Tiên nên ít có dịp gặp lại các bạn cùng xóm chợ. Về sau khi có chiến tranh biên giới 1977-78, đa số người Hà Tiên đều tản cư đi các nơi khác, bạn Huỳnh Vạn Tường qua Rạch Giá và có mở tiệm hành nghề trồng răng tiếp nối nghề gia đình. Hiện nay Tường đã trở lại Hà Tiên sinh sống và thỉnh thoảng cũng có làm việc. Bạn Đệ (Liêu Thọ Hoa) thì định cư ở nước Mý, còn bạn Úi (Liêu Thọ Vĩ) thì vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hồ:

Mình quen biết với bạn Hồ qua sự trung gian của bạn Huỳnh Vạn Tường, nói chung Hồ, Sện và Phách đều là quen biết và bà con với nhau cả. Bạn Hồ tên chánh thức là Huỳnh Minh Hà, con trai của ông Thái Dũ mình đã có dịp nói ở trên, vì thế bạn Chung Nghiệp Phát và bạn Huỳnh Minh Hà là hai anh em cô cậu (má của Phát là chị của ba của Hồ). Trong thời gian mình và Tường chơi đàn guitare thì Tường có giới thiệu mình với Hồ để có dịp chơi đàn chung với nhau. Bạn Hồ người cao ráo, thanh nhả và cũng rất đẹp trai. Hồ nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng tôn trọng bạn bè. Tường và Hồ cũng thường đến nhà mình chơi buổi trưa và như đã kể ra ở trên, sau đó hai bạn thường rủ mình ra quán ông Phan ăn hủ tiếu, khi thì Tường khao, khi thì bạn Hồ khao…Vì không thể chấp nhận đi hoài nhiều lần phải để cho hai bạn trả tiền cho mình nên thỉnh thoảng mình cũng từ chối, viện cớ nầy nọ…Thời xa xưa đó cuộc sống học trò thì đâu có dư tiền túi, trong khi đó các bạn ở quanh chợ thì nhà khá giả nên có phương tiện chi tiêu rộng rải…

Vì bạn Hồ rất thích chơi đàn guitare nên có thời gian trước đó Hồ có chánh thức học đàn với anh Mẫn. Mình nói thêm về anh Mẫn, ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển. Mình còn nhớ có vài lần đầu gặp Hồ, mình và Tường, Hồ cùng nhau ngồi chơi trước hàng ba nhà mình, bạn Hồ có đàn cho mình nghe vài âm điệu, khi nghe Hồ đàn một lúc, tiếng đàn rất phong phú, lúc thì theo hợp âm đô trưởng (C), lúc thì theo hợp âm la thứ (Am), vừa có tiếng đàn trầm giử nhịp (basse), vửa có nhiều âm thanh cùng phát ra một lúc theo kiểu đàn nhạc cổ điển, mình giựt mình vì nhận thấy Hồ đàn rất hay và rất căn bản, hỏi ra mới biết đó là bài tập thứ nhất do anh Mẫn mới dạy cho Hồ tập đàn. Đó là bài N°1 Valze, nhịp 6/8 trong quyển sách học đàn « Méthode complète pour Guitare » của tác giả Ferdinando Carulli. Thời đó nghe tiếng ai mà học đàn theo quyển sách đó thì đó là tay chơi đàn gạo cội rồi đó…Nếu muốn chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển, ai cũng phải qua quyển sách đó, trong sách có 56 bài tập (exercices) và sau khi tập xong 56 bài tập đó thì phần cuối sách có 6 bài trình độ cao (études). Không biết anh Mẫn có chơi hết các bài trong quyển sách nầy hay không, vì thời đó rất khó mà có được quyển sách nầy. Sau nầy khi đi dạy học ở Mỹ Luông, mình gặp một người bạn đồng nghiệp tên Lê Việt Ánh, người Huế, dạy môn Anh văn, Ánh chơi đàn cổ điển rất hay, lúc đó mình mới bắt đầu đi vào phương pháp đàn guitare cổ điển, tập được hết 56 bài tập và 6 bài études của quyển sách Carulli nầy. Đến thời gian khi qua Pháp định cư, mình cũng tìm mua được quyển sách Carulli nầy, bản gốc theo tiếng Pháp để giữ đó làm kỷ niệm nhớ lại thời chơi đàn ở Việt Nam.

Sau năm 1975, đa số các gia đình người buôn bán chung quanh chợ Hà Tiên đều có phương tiện đỉ nước ngoài bằng tàu ghe, bạn Hồ cũng ra đi cùng với gia đình rất sớm, từ đó mình mất liên lạc với Hồ. Sau nhiều năm sau nầy, khi mình bắt đầu hay sưu tầm, tìm tòi các hình ảnh xưa về Hà Tiên, vào năm 2006, tình cờ mình thấy được một bức hình do một người lính hải quân Mỹ chụp tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp các em trẻ nít người Hà Tiên, có lẽ do người lính Mỹ kêu tập họp lại để anh chụp hình cho vui, đó là vào năm 1965, người lính Mỹ nầy tên là Cliff Rocheleau, khi thấy được bức hình nầy mình rất mừng và rất thú vị, vì trong hình thấy rỏ cảnh Đài Kỷ niệm với một phần chợ cá cũ của Hà Tiên, nhất là bên phải hình mình nhìn ra rỏ ràng có mặt bạn Hồ đang đứng trong đó. Hình được mang tên « vn0146 » trong một bộ tập hình về Việt Nam do anh Cliff Rocheleau đăng trên trang web của anh mang tên « Coast Guard Warriors » (Chiến binh bảo vệ bờ biển), dưới bức hình chụp trẻ em tại Đài Kỷ niệm Hà Tiên (1965) anh có chú thích « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien. » (Những đứa trẻ luôn bị thu hút bởi những chiếc tàu thuyền mỗi khi tàu thuyền dừng chân ở Hà Tiên).

Sau nầy trên mạng face book mình có « gặp » lại bạn Hồ, mới biết bạn tên là Huỳnh Minh Hà, mình rất vui tìm lại được bạn bè thời xưa ở Hà Tiên. Bạn Huỳnh Minh Hà hiện định cư ở nước Úc và thường xuyên đi du lịch với niềm đam mê là chụp hình phong cảnh đẹp khắp nơi.

 Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, bạn Hồ đứng bìa phải. « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien ». Cliff Rocheleau (1965)

Từ trái sang phải: Bạn Huỳnh Vạn Tường, bạn Huỳnh Minh Hà và bạn Liêu Thọ Hoa. Những người bạn ngày xưa cùng xóm chợ Hà Tiên.

Bạn Mạnh, bạn Sáu và bạn Hủi:

Bạn Mạnh, tên đầy đủ là Hồ Văn Mạnh, người hơi nhỏ con giống như mình, nhà bạn ở đường Đống Đa, Hà Tiên, phía khúc gần mặt sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Mạnh là con của bác Phụng Đài, (chắc tên là Hồ Phụng Đài, mình không nhớ rỏ), bác Phụng Đài (còn gọi là bác Tư Đài) là một họa sĩ tài danh của Hà Tiên, ở Hà Tiên ai cũng biết ông. Chính ông là tác giả của hai bức tường dựng ở hai bên cầu bắc Hà Tiên, nơi có ghi những địa chỉ buôn bán, quán ăn, khách sạn, tiệm bán vật kỷ niệm cho du khách đến Hà Tiên tham khảo, đó là khoảng những năm 60-65, sau nầy có hia của mình là hia Phón (tên thật là Thái Văn Bằng) tiếp tục vẽ thêm bổ túc cho hai bức tường nầy. Hồi lúc học bậc Tiểu Học, vì bạn Mạnh có vừa tên vừa họ cũng gần y như tên họ của mình, chỉ khác dấu thôi (một người dấu nặng, một người dấu ngã) nên mỗi lần có sắp xếp chỗ ngồi để thi (thi trong lớp hay thi lên lớp đệ thất) là Mạnh và mình thường ngồi kế nhau.  Có một lần mình còn nhớ là Mạnh chắc cũng muốn kiếm thêm chút tiền bỏ túi nên lãnh phần sơn mấy tấm sáo treo trước hai căn nhà lầu của chế Gái Đen sát nhà mình, bạn Mạnh đang đứng trên ghế cao sơn thì có ba của bạn chạy xe đạp ngang, ông không vừa lòng chút nào khi thấy bạn Mạnh đi sơn như vậy nên rầy la bạn Mạnh, mình còn nhớ lúc đó đang ở mái hiên nhà mình và nghe ông rầy như thế nầy:  » Ba muốn con học làm họa sĩ có danh tiếng chớ đâu có muốn con làm thợ sơn nhà như vậy!! ».

Về sau nầy, bạn Mạnh có dọn nhà về ở đường Bạch Đằng, lập gia đình, có vợ có con. Nhà ở sát căn nhà của anh em tên là Ba và Tư, con người thợ máy. Mạnh cùng bà xã làm ăn theo nghề mua bắt tôm, cá bán sỉ lại cho các người bạn hàng ngoài chợ cá Hà Tiên. hai vợ chồng làm ăn rất khá. Một thời gian sau, hai vợ chồng cất nhà lầu đúc rất tốt đẹp, cũng ở trên con đường Bạch Đằng. Hiện nay không biết bạn Mạnh có dọn đi đâu không, tuy nhiên vẫn sinh sống ở Hà Tiên.

Bạn Hồ Văn Mạnh, hình lúc còn học lớp nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963

Bạn Sáu, tên đầy đủ là Đỗ Văn Sáu, không biết tại sao bạn bè hay người Hà Tiên thường đặt cho bạn cái biệt danh không hay chút nào là « Sáu Bò » !! Vì là bạn học cùng chung ở thời Tiểu Học, mình và bạn Sáu rất hiểu biết nhau nên mình không bao giờ gọi bạn bằng cái biệt danh như vậy. Sáu rất đàng hoàng, nói chuyện lịch sự, lúc nào cũng gọi mình bằng tên rất thân mật. Nhà bạn Sáu ở trên con đường Tuần Phủ Đạt, gần như đối diện với rạp chiếu bóng Phát Minh sau nầy. Bạn Sáu là con trai trong một gia đình kỳ cựu Hà Tiên, rất đông anh em. Có người anh lớn là anh Đỗ Bảo Khén (hoặc Đỗ Bổ Khén) mình biết mặt nhưng không quen vì anh thuộc bậc đàn anh học chung lớp thời anh Tùng Phương, anh Huỳnh Hữu Điền,…(ba người anh kể tên đây cũng đã qua đời lâu rồi). Sáu có hai người em gái mà một trong hai người đó chính là phu nhân của bạn Trần Bình. Trong gia đình bạn Sáu, có một người anh nữa tên Đỗ Bảo Yến, hình như hồi xưa cũng có học bậc Tiểu Học cùng trường với mình. Ở Hà Tiên người ta thường gọi anh Yến là anh « Be Be »…không biết tại sao. Chỉ biết anh Yến có mang một căn bệnh rất nặng là bệnh kinh phong, mình cũng đã có nhiều lần thấy cơn giựt kinh phong nỗi lên, lúc đó cặp mắt như nhìn ngược lên phía trên, miệng thì có bọt trào ra, rất là tội nghiệp. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường anh Yến không khuấy phá ai cả. có một lần chính mình thấy tận mắt mà mình còn nhớ đến bây giờ, chuyện xảy ra rất lâu rồi, lúc đó mình còn nhỏ, mới ở nhà đi ra chợ trên con đường Lam Sơn, thì thấy anh Yến đang bồng trên tay một em bé gái, mình bị ướt sủng và có khói bốc lên, mặt anh Yến thì rất nghiêm trọng, không nói tiếng nào, sau đó mới biết đó là em Kim Hoàng, con gái của hai ông bà bác Ba Nhan ở sát nhà mình, và Kim Hoàng vửa bị phỏng nước sôi nên anh Yến đã kịp thời mang em đi thẳng về nhà bác Ba Nhan để thông báo cho hay tin…Đó là một việc làm rất tốt đẹp, anh đã cứu em bé gái kịp thời không bị phỏng cháy trong nước sôi như vậy…Anh Đỗ Bảo Yến đã mất khoảng năm 1985 hay 1986, hiện tro cốt còn thờ trong chùa Phật Lớn ở Hà Tiên.

Trở lại chuyện về bạn Sáu, có một lần vì công chuyện làm ăn, bạn Sáu có ra Long Xuyên mua vật liệu máy móc, bạn có đến nhà kiếm mình và hai người kéo nhau ra mấy cái quán ăn ở cạnh bờ sông Long Xuyên, dọc mé cầu Hoàng Diệu để vừa lai rai mồi vừa uống chút đỉnh vừa nói chuyện xưa. Sáu cứ nhắc mình : »Dùng đi Mãnh, dùng đi! » (tức là kêu mình ăn mồi đi!!). Đó là lần mình gặp lại bạn Sáu, vì sau đó tuy mình có về Hà Tiên vài lần nhưng cũng ít khi gặp lại mấy người bạn năm xưa. Hiện nay thì bạn Đỗ Văn Sáu cũng vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hủi tên đầy đủ là La Văn Hủi, là bạn học chung các lớp ở bậc Tiểu Học với mình. Nhà của bạn Hủi ở ngay đầu đường Phương Thành và Lam Sơn, hồi nhỏ mình cũng có vài lần tới nhà bạn Hủi chơi. Trong bức hình chụp nguyên lớp Nhứt do thầy Nguyễn Văn Pho dạy, có hình bạn Hủi trong đó. Bạn Hủi ăn mặc thanh lịch, nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng kêu mình bằng tên rất thân mật. Bạn Hủi có người em trai tên La Văn Gồi là bạn học cùng lớp ở bậc Trung Học với em Trần Văn Phi của mình. Mình không hiểu tại sao có nhiều bạn cùng thời ở chung quanh chợ Hà Tiên, cùng học với mình bậc Tiểu Học, nhưng sau đó khi qua bậc Trung Học thì không gặp lại ở trường lớp nữa, một phần các bạn đó không tiếp tục học, một phần thì lại qua bên trường Hoa học theo chương trình tiếng Hoa, một phần nữa chắc theo học trên Sài Gòn. Vì thế sau khi xong bậc Tiểu Học thì mình và Hủi không còn học chung nữa, hình như Hủi lên Sài Gòn tiếp tục học, thỉnh thoảng mỗi dịp Tết thì có về Hà Tiên ăn Tết thì lại gặp nhau. Sau đó Hủi lập gia đình, phu nhân của Hủi là em gái của bạn Trần Bình, ở ngay trước nhà mình. Hiện nay cũng nhờ qua mạng face book, mình cũng đã « gặp » lại bạn La Văn Hủi, hiên bạn định cư cùng với gia đình ở nước Mỹ.

Bên trái: bạn Đỗ Văn Sáu, bên phải: bạn La Văn Hủi

Những bạn quen biết chung quanh chợ Hà Tiên:

Ngoài các bạn mình đã kể trên, có nhiều quan hệ về tính chất bạn bè, mình còn quen biết một số bạn khác, cũng cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, gặp nhau thì quen biết, chào hỏi, thỉnh thoảng cũng có nhóm bạn đi chơi chung nhau thông qua những người bạn chung. Trong số người nầy có anh Nhiều, lúc xưa có tiệm chụp hình Tô Châu trên đường Chi lăng. Ba má anh Nhiều có tiệm bán cà phê ở ngay trong nhà lồng chợ Hà Tiên. Mình cũng có vài kỷ niệm với anh Nhiều, lúc đó, có một người bạn của anh Nhiều ở bên Campuchia  (hay ở Hong Kong mình không nhớ chính xác) qua chơi với anh Nhiều, hình như anh nầy ở bên nhà máy nước đá Triều Quang gần đó. Có nhiều lần anh Nhiều, cùng với anh bạn nầy và mình đi chơi chung, uống cà phê nói chuyện về phim ảnh Hong Kong, và anh đó có kể nhiều về chuyện đi nhảy đầm vì anh nói anh rất mê nhảy đầm. Một kỷ niệm khác với anh Nhiều, khi Hà Tiên làm lễ khánh thành chùa Bà Mã Châu ở phía trên bên trái núi Lăng, ngay ngả ba đường Lam Sơn, một bên phải thì về phía lăng ông Mạc Cửu, một bên trái thì đi ra Mũi Nai, chùa Bà cất ngay gần chùa Giải Thoát. Hai bên cánh của chùa Bà được hia Phón của mình (Thái Văn Bằng) vẽ hình hai vị thần canh gát cửa, đó là hai vị thần có tên là Thần Đồ, Uất Lũy, hia Phón vẽ rất đẹp, rất linh động. Vì lúc đó mình thường hay theo chơi với mấy người bạn gốc Hoa ở chợ nên mình cũng theo cả nhóm lên chùa để tham dự việc khánh thành. Lúc đó anh Nhiều lãnh phần chụp hình, chụp tất cả các hoạt động trong buổi lễ, gồm có đi rước kiệu Bà, bài vị, lư hường từ xóm bên Tô Châu về chùa bên Hà Tiên, rồi làm lễ cúng kiến ngay tại chùa mới nầy. Lúc đó mình tuy còn nhỏ nhưng cũng khoái muốn giựt le nên nói với anh Nhiều là khi nào anh mệt thì đưa máy cho mình « chụp tiếp » cho, tuy nhiên lúc đó mình chưa hề biết chụp hình nhà nghề như thế nào và dĩ nhiên là anh Nhiều đâu có phó thác việc chụp hình phóng sự quan trọng như vậy cho tay trơn như mình được…Hiện nay mình cũng có liên lạc lại được với anh Nhiều qua face book. Anh Nhiều hiện đinh cư ở nước Mỹ.

Anh Nhiều, tiệm chụp hình Tô Châu, đường Chi Lăng, Hà Tiên ngày xưa.

Một vài người quen biết khác cũng ở chung quanh chợ Hà Tiên là anh em của anh Huỳnh Lâm, cháu nội ông Thái Sơn, có tiệm hiệu Thái Sơn ở đường Tham Tướng Sanh cùng dãy với các tiệm Phục Hưng, Hòa Hiệp,…Anh Huỳnh Lâm thì mình chỉ biết nhưng không có chơi chung, có mấy người em của anh, tên Huỳnh Phát (người Hà Tiên kêu là « cá lốc », không biết tại sao), và một người em nữa tên là Huỳnh Lợi (tên thân mật là Sài), Huỳnh Lợi sau nầy đi không quân, có lần mình đi dám cưới anh Trần Văn Dõng (khoảng những năm đầu thập niên 80) cùng với cả nhà lên thành phố cao nguyên Bảo Lộc, khi ra chợ Bảo Lộc thì có gặp Sài tại đây. Sau đó Sài tức Huỳnh Lợi đã mất vì bệnh. Trong nhà còn có một người em trai nhỏ nữa tên là Huỳnh Xuân, thời còn ở Hà Tiên thì mình không biết Xuân vì Xuân lúc đó còn rất nhỏ. Sau nầy khi sang Pháp có một lúc đi làm về trên xe lửa, tình cờ gặp nhóm người Việt nam nói chuyện, mình bắt chuyện làm quen thì không ngờ toàn là nói chuyện ở Hà Tiên, hỏi ra ai cũng biết người nầy người nọ ở chợ Hà Tiên, hóa ra một người trong nhóm đó chính là Huỳnh Xuân, em sau cùng của các anh em cháu nội ông Thái Sơn. Từ đó về sau và ngay cả đến hiện tại, mình vẫn thường liên lạc vói Huỳnh Xuân, vì Xuân cũng ở gần nhà mình ở ngoại ô Paris, nhiều khi cùng đi chùa chung xe, cùng đi ăn nhà hàng và nghe nhạc ở ngoài quận 13 Paris. Lúc còn đi làm thỉnh thoảng tình cờ mình và Xuân gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa, lần nào cũng nói chuyện về Hà Tiên không bao giờ cạn nguồn, cho tới khi đến trạm cả hai đều cùng ra khỏi xe ai về nhà nấy, mình rất thích những lần gặp Xuân trên đường về nhà như vậy vì được nói chuyện về Hà Tiên rất vui.

Trần Văn Mãnh và Huỳnh Xuân (em của anh Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, cháu nội ông Thái Sơn ở Hà Tiên), đi chùa nhân lúc Lễ Phật Đản tháng 05/2011 tại ngoại ô Paris.

Có hai anh em người quen cũng trạc độ tuổi như mình, nhà ở trên đường Lam Sơn, gần nhà tiệm bánh mì Tân Thái, người anh tên là Quý, người em tên Chiêu, mình cũng quen biết và thường hay chào hỏi nói chuyện vui chơi. Nhớ ở Hà Tiên hay có tập tục là dù có đi đâu rời xa Hà Tiên nhưng khi gần Tết thì phải về Hà Tiên ăn Tết. Vì thế, có mấy lúc vào dịp gần Tết thì các bạn bè ở Hà Tiên thường hay trông ngóng các bạn năm xưa đã rời Hà Tiên lên Sài Gòn học, trở về nhà ăn Tết, mình cũng còn nhớ có lúc thì bạn bè phóng tin cho nhau hay, « Quý mới về hôm qua »,….Sau nầy nghe tin là hai anh em Quý và Chiêu cũng đã mất cả rồi… Nếu bạn nào còn nhớ và biết được tên họ đầy đủ của hai anh em Quý và Chiêu thì xin thông tin cho mình biết để bổ túc nhé.

Mình cũng nhắc lại ở đây ba anh em nhà ở phía bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá, đường Trần Hầu, kế bên khách sạn Tô Châu ngày xưa. Đó là ba anh em tên Toản, Túc và Tiêu. Mình không biết tên họ đầy đủ của mấy anh em nầy, chỉ biết hồi xưa lúc thường đi ra Đài Kỷ Niệm tụ họp ở các băng đá và nói chuyện chơi, thường có các bạn Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm), anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt, ..v..v..thì có hai bạn Toản và Túc đến chơi. Ngày xưa mình có người bạn ở ngoài Hòn vào Hà Tiên học, ở trọ nhà của các anh em Toản, Túc và Tiêu, đó là bạn Trần Văn Yến, khi mình đến nhà chơi với Yến thì thường gặp ba anh em nầy, em trai nhỏ là Tiêu rất lịch sự, thường chào hỏi các bạn của mấy anh lớn và nói chuyện rất đàng hoàng. Ba anh em nhà nầy là con của một gia đình mà người cha tên là Mã Chính Yên (tên mình chỉ nghe phát âm nên có thể viết không chính xác), còn người mẹ trong nhà thì có bệnh về tâm thần, tuy nhiên chỉ ngồi yên một chỗ và thường thì chỉ nhìn mọi người chung quanh và hơi mỉm cười mà thôi chứ bà không có khó khăn gì cả. Thường lúc mình đến nhà, ra tận nhà sau, có gặp bà thì mình cuối đầu chào bà, trong bụng mình cũng hơi sợ nhưng không có việc gì cả.  Toản là anh lớn, đeo kính cận, người có vẻ thông minh, trí thức và cũng cư xử rất đàng hoàng. Túc là em trai giữa, Túc hơi có da ngâm nhưng cũng rất đẹp trai, mặt thon, còn người em sau tên là Tiêu như đã nói, chỉ là em út không có giao thiệp với các bạn của anh trai mình, tuy nhiên Tiêu chào hỏi các bạn của anh mình rất lịch sự.

Theo tin tức của bạn bè cho hay thì lúc đi vượt biển với người vợ là Nguyễn Kim Tuyến (Kim Tuyến là người Việt kiều từ Campuchia về Hà Tiên định cư và theo học tại trường Trung Học Hà Tiên, và cũng là bạn học của nhóm bạn mình Lê Phước Dương), hai vợ chồng bạn Túc và Kim Tuyến đều bị tai nạn và đã mất tích. Toản còn ở Việt Nam sinh sống, Tiêu thì hồi xưa qua Mỹ định cư, nhưng sau nầy cũng thường về Việt Nam ở dài hạn.

Tác giả xin cám ơn tất cả các bạn học, các bạn quen biết và các em con cháu của những bạn đã được nhắc nhở tên trong bài viết nầy về sự đóng góp thông tin, chi tiết tên họ và các sự kiện. Ngoài ra cũng xin mạn phép trích đăng hình một số bạn trên đây, xin quý vị thứ lỗi và thông cảm nhé. Chắc chắn là mình còn quen biết với một số bạn nữa cũng ở ngay tại khu chợ Hà Tiên, nhưng tạm thời không thể nhớ ra hết, vậy nếu các bạn quen biết nào còn nhớ mình mà mình chưa kể tên và nhắc kỷ niệm xưa ra đây thì cho mình xin lỗi nhé, khi nào có thông tin thêm thì sẽ bổ túc vào bài.

Paris, viết xong ngày 13/05/2020, Patrice Tran (Trần Văn Mãnh)

 

Thầy Trần Văn Thuận

Thầy cô và các bạn thân mến, tất cả bắt đầu từ một câu hỏi của một người bạn face book của thầy Nguyễn Hồng Ẩn, người bạn đó hỏi thầy Ẩn có biết một đồng nghiệp cũng có một thời dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, người thầy đó dạy môn chính là Việt Văn và tên là Trần Văn Thuận…Sau đó có em Lý Minh Thuận, em của bạn Lý Mạnh Thường có nhắc mình nên viết bài giới thiệu hai thầy đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên một thời gian, đó là thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa và thầy Trần Văn Thuận dạy môn Văn. Thầy Nguyễn Long Hồ thì mình biết, tuy nhiên trong thời gian từ năm 1970 trở đi thì mình qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Trung Trực, thỉnh thoảng có về Hà Tiên nghỉ hè và được biết thầy Nguyễn Long Hồ vì thầy Hồ thường đến nhà bạn Lý Mạnh Thường chơi và mình có gặp thầy Hồ tại đó. Còn trường hợp thầy Trần Văn Thuận thì hình như ngay lúc em Lý Minh Thuận và sau đó là thầy Nguyễn Hồng Ẩn có nhắc cho mình về thầy Trần Văn Thuận thì mình  không nhớ ra thầy Thuận. Sau một thời gian tìm hiểu và đọc các lời viết ngắn gọn của các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên nhắc về thầy Trần Văn Thuận thì mình nghĩ là có thể mình đã biết hoặc có nghe nói qua về quảng thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên…Theo lời các bạn có học qua với thầy Trần Văn Thuận trong thời gian ngắn thầy dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, thì thầy Thuận thường chạy chiếc xe Vespa rất đẹp, thầy có gia đình và ở căn nhà thuê phía trước nhà của anh Phan Văn Hữu khúc dưới xóm Cầu Câu. Thầy Thuận để tóc dài, mái tóc thường cong gắn vào hai tai rất nghệ sĩ. Thầy có tài làm thơ, thầy có làm một bài thơ trong đó kể ra hết tất cả tên của các học trò trong lớp. Chẳng những thế, thầy còn làm thơ bằng chữ Hán, ý nghĩa rất hay. Thầy biết chơi đàn guitare thùng. Có một chi tiết bạn học còn nhớ là thầy không thích nhạc Bảo Thu, Vinh Sử…cũng không thích giọng ca Chế Linh, Giang Tử, Thanh Phong,…v…v…Có thêm một chi tiết quan trọng nữa là thầy Trần Văn Thuận rất được học trò Hà Tiên quý mến, nhất là rất được các em nữ sinh ái mộ …!!

Vài nét để giới thiệu thầy Trần Văn Thuận mà mình tìm hiểu trên trang của thầy: Thầy Trần Văn Thuận người gốc Bình Thuận (làng Tân Lý, thị xã La Gi). Sau khi học xong bậc Trung Học, thầy Thuận có ý chí muốn trở thành kiến trúc sư nên có theo học ngành kiến trúc ở Sài Gòn, đồng thời thầy cũng ghi danh theo học các chứng chỉ ngành Văn Khoa. Vì lý do sức khỏe thầy không tiếp tục theo ngành kiến trúc nên quyết đinh theo đuổi ngành sư phạm ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ngành Viêt Văn. Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trở thành giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ban Văn, thầy Thuận đã thực hành nghề giáo rất nhiều năm bằng cách dạy tư ở các trường Tư Thục, dạy kèm cá nhân tại Sài Gòn..v..v..

Khoảng đầu năm 1970 thầy Trần Văn Thuận về dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, môn Việt Văn. Trong thời gian nầy, thầy Thuận viết bút ký rất nhiều, thầy viết để ghi lại những kỷ niệm, ký ức ngay cả trong những năm còn đi học lớp Đệ Thất ở quê thầy, thầy cũng có nhiều thời gian rỗi rảnh để dịch những bài thơ trong tập Đường Thi bằng chữ Hán sang tiếng Việt. Các tập hồi ký nầy có một phần được các bạn hữu sưu tầm và được phép xuất bản thành sách hiện nay, một số thì bị thất lạc mất.

Đến tháng 10 năm 1972, thầy Trần Văn Thuận được công lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển về trường Bình Tuy dạy môn Anh Văn vì trong quá trình kiến thức của thầy, thầy cũng có văn bằng về môn Anh Văn. Thế là thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên không dài, chỉ vỏn vẹn hai, ba năm, tuy nhiên, theo thầy viết lại trong các bài tự thuật thì trong lúc giảng dạy ở Hà Tiên, thầy có rất nhiều kỷ niệm với các bạn và học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975, thầy Trần Văn Thuận cũng được đề nghị tiếp tục dạy học và quản trị các trường lớp mặc dù ý thầy nhất định rời ngành dạy học để đi vào ngành xây dựng vì đó cũng là kiến thức mà thầy thu thập được khi còn học ngành kiến trúc ngày trước. Thầy Thuận có lúc làm Hiệu phó trường Phổ Thông Cấp 3 Hàm Tân, làm hiệu trưởng trường Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Đến năm 2007, thầy Trần Văn Thuận về nghỉ hưu tại phường Thảo Điền, thuộc quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.

Trong suốt quá trình viết văn, làm thơ, thầy Trần Văn Thuận ký nhiều bút hiệu như: Cát Sỹ, Thoại Băng, Trần Thuận…và bút hiệu chính thầy vẫn dùng là Đoàn Thuận.

Một số tác phẩm của thầy Trần Văn Thuận đã được xuất bản chính thức hiện nay:

Thơ Tự do:
Năm 1994, nhóm thân hữu Tuổi Trẻ sưu tầm những bài thơ thầy Trần Văn Thuận làm trong thời gian thầy giảng dạy ở Hà Tiên biên tập thành “Mùa bấc biển, thơ Đoàn Thuận” do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép xuất bản năm 1994.
La Gi ngàn xanh (NXB Trẻ 1997)
Lửa đêm mưa (NXB Trẻ, 1998)
Khoảng lặng của hoa (NXB Trẻ, 2001)
Tượng (NXB Trẻ, 2002)
Đời sậy (NXB Trẻ, 2003)
Sắc phượng (Hội VHNT Bình Thuận, 2006)
Rong chơi cùng cát bụi (NXB Văn Học, 2012)
Mái xưa (NXB Văn học, 2013)
Dưới hoa (NXB Văn Học 2013)

Thơ lục bát:
Lời chiều (lục bát tứ tuyệt) (NXB Trẻ, 1996)
Lửa đầu non (lục bát trường thiên) (NXB Trẻ, 1999)
Tạ ơn đời (lục bát tam cú) (NXB Văn học, 2013)
Đường Thi (thơ dịch) (NXB Văn Học, 2012)
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch) (NXB Thời Đại, 2014)

Bút Ký:
Những mảng vỡ thời gian
Những miền đất trọ

Paris 14/02/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu theo ý của các bài trên trang của thầy Trần Văn Thuận, và sự đóng góp của các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trân trọng cám ơn Ông Trần Cát Trường, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, các bạn Lý Minh Thuận, Lê Phước Dương,…

Sau đây xin giới thiệu một vài bài viết tự thuật của thầy Trần Văn Thuận viết khi thầy còn ở Hà Tiên:

Thầy Trần Văn Thuận (Hình thầy TVT)

Tôi đi dạy ở Hà Tiên (Trần Văn Thuận)

Khi thi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, bài làm về chữ Nôm không đủ điểm, tôi phải thi lại. Trong khi các anh chị tốt nghiệp kỳ 1 đã đến nhiệm sở mới, tôi ở lại Saigon ôn tập để thi kỳ 2. Rất may mắn, tôi cũng được tốt nghiệp, và theo thứ hạng, tôi có thể chọn nhiệm sở Gò Công. Nhưng anh Nguyễn Chí Thành lại cần về đây, còn tôi nơi nào cũng được, miễn có chỗ dạy chính ngạch, vì tôi thuộc loại yếu về tay nghề sư phạm.
Tôi đến thăm Thầy Đông Hồ, tức thi sỹ Đông Hồ, Thầy khuyên tôi nên về Hà Tiên, quê của Thầy, cũng là nơi sinh ra hệ văn chương Chiêu Anh Các.Tôi quyết định chọn nhiệm sở Hà Tiên, dù cách xa Lagi, quê Mẹ tôi, trên sáu trăm cây số.
Biết tôi xuống Hả Tiên, nơi có nhiều người Minh Hương sinh sống, Thầy Giản Chi tặng tôi bộ Đường Thi viết tay trên giấy dó, và dặn dò tôi cách dịch ra tiếng Việt. Thầy cũng đặt tên tự Cát Sỹ cho tôi. Tự hứa với chính mình, tôi sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong mỏi của quí Thầy Cô.

Tại trung học Hà Tiên, thầy cô phần lớn là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nên tôi chỉ dạy Việt văn vài lớp đệ tam, đệ nhị, giờ trống còn nhiều. Tôi giết thời gian bằng cách chú tâm vào việc sắp xếp những trang tùy bút tôi đã có từ thời học đệ thất, và dịch Đường Thi sang tiếng Việt.

Đầu năm 1970, tôi kết được năm tập “bút ký” khá dày. Mỗi tập trên ngàn trang bản thảo, chằng chịt chữ viết lẫn những bức ký họa và thư pháp. Tôi giữ nguyên những tờ giấy cũ, mang dấu ấn thời gian, dù nhiều trang đã nhòe màu mực. Tập 1 và 2 có tên “Miền đất trọ”. Tập 3, 4 và 5 có tên “Mảng vỡ thời gian”. Đây không phải là trang sáng tác, đúng hơn là trang “tùy bút”, ghi lại những gì nghe thấy trên đường đời, “thấy sao viết vậy”, “nghe gì ghi nấy”; có khi ghi bằng “văn vần” khi bằng “văn xuôi”. Phần lớn, những bài văn vần ngắn gọn nằm trong “lưu bút” hay “nhật ký” của những người bạn quen thân, trong thời đi học đi dạy. Tôi dự định lưu trữ, chờ khi có điều kiện, sẽ biên tập thành sách.

Đầu năm 1972, tôi dịch xong tập Đường Thi của thầy Giản Chi tặng, dưới mỗi bài dịch tôi đề tên Cát Sỹ. Trong đó, có hai phần tách riêng dưới nhan đề “Thơ thiền Vương Duy” và “Ánh trăng Lý Bạch”.

Ngày mới xuống Hà Tiên, tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều người để tìm hiểu về Chiêu Anh Các, nhưng ít người biết rõ, ngoài “Hà Tiên thập cảnh”. Do đó, sau khi tổ chức lễ giỗ Thi sỹ Đông Hồ, tôi dừng lại việc nghiên cứu về hệ văn chương Chiêu Anh Các, như lời gợi ý của Thầy, năm tôi học chứng chi Văn Chương Quốc Âm.

Trong ba năm, tôi dạy học ở đây, gần như không quen thân với ai trong ngành giáo dục, trừ Trần Cao Thu, người ở chung nhà trọ nhưng không chung trường, vì Thầy dạy ở trường Nông Lâm Súc. Cao Thu và tôi cùng họ Trần, nhưng không biết gì về hoàn cảnh của nhau, dù gặp mặt hằng ngày. Tôi chỉ dạy đủ giờ chuẩn, ít khi vào trường, nên xa lạ trước nhiều thầy cô. Có lẽ, do tôi quen thói sống khép kín.
Thời cuộc càng ngày càng nhiều biến động. Đường Hà Tiên sang Rạch giá bị đắp mô, đi lại rất khó khăn, thường xuyên tôi ở lại nhà trọ một mình, kể cả ngày Tết. Dù nhóm bạn học của Lý Tòng Hiếu quanh quẩn bên tôi, giúp tôi bớt buồn, nhưng tôi vẫn rất nhớ Mẹ nhớ nhà, khi mùa Gió Chướng thổi qua….

Tuy vậy, một số phụ huynh dần dà kết thân với tôi, đặc biệt là nhóm Ba Lá. Nhóm thường thả xuồng Ba Lá ngắm trăng trên hồ Đông. Uống rượu đế với tép rang và đọt so đũa. Khi thì kể một câu chuyện đau buồn của người nghèo khổ. Khi thì vổ mạn xuồng hát điệu lam thôn dân dã, boléro miền Nam. Khi thì đọc một câu thơ tự chế. Trình độ học vấn của nhóm không bao nhiêu, nhưng sự hiểu biết về cuộc sống thăng trầm luân hồi nhân quả thì quá nhiều. Tôi thầm cám ơn nhóm thân hữu Ba Lá, vì đã giúp tôi nhận ra nhiều điều không có trong sách vở, suốt thời đi học. .

Hà Tiên, đối với tôi, là “miền đất trọ” thơ mộng thân yêu, nơi tôi dạy học với tư cách giáo sư trung học đệ nhị cấp chính ngạch.

Ra trường, tôi chuyển đến Hà Tiên.
Cuối trời đất nước biệt một miền.
Kiên Lương Rạch Giá, vùng oanh kích.
Lênh đênh kênh rạch một đêm thuyền.
.
Hai chiếc va li một cây đàn,
đôi ba quyển sách làm hành trang.
La Gi quê mẹ xa ngàn dặm.
Châu thổ sông dài trời mênh mang.
.
Đất nước chiến tranh lắm đoạn trường .
Tôi vì cơm áo lại tha phương .
Những mong gửi gắm lòng thương nước
vào đàn em nhỏ của quê hương.
.
Cứ ngỡ tôi như cụ đồ già,
bụi đường mưa gió tóc sương pha,
bút nghiên khăn gói dăm ba chữ,
về ngồi dạy trẻ « miệt vườn » xa.
.
Hà Tiên,1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Khoảng lặng không tên (Trần Văn Thuận)

Tôi đến Hà Tiên trình sự vụ lệnh dạy học vào một buổi chiều. Sắc chiều còn lại ở chân trời là những áng mây trắng, che dần ráng đỏ, trôi vào đêm. .

Quán cốc cuối đường qua bãi Thuận Yên đã thưa khách, chỉ còn ba người đàn ông đang lai rai mấy chén rượu đế. Phố Hà Tiên nằm bên kia hồ, mờ mờ trong bóng chiều. Những ngọn đèn đỏ quạch. Vài ngọn dừa cao trên mái nhà ngói cổ. Phố im lìm dù mới chớm đêm. Hồ Đông như một vòng cung ôm trọn khu phố. Nhìn từ bên này Thuận Yên, phố nhỏ nhưng rất thơ mộng. .

Bụi đường phủ đỏ trên tóc trên vai áo, trên chiếc túi xách hành trang. Đã nhiều chuyến đò qua bờ bên kia và trở lại cắm sào bên pong-tông cầu xi-măng. Tôi ngồi bên quán nhỏ mà tưởng mình như kẻ giang hồ lữ thứ bao đời. Một cốc rượu trắng uống hoài không cạn. Phố cách một chuyến đò ngang mà tôi chưa muốn sang, vì không quen biết ai. Hà Tiên là quê hương của thi sỹ Đông Hồ, với tôi, như một nơi lưu biệt xa lạ. Con đò nhỏ vẫn nằm im bên bờ vắng, chờ đưa người khách lạ sang sông. Ánh đèn dầu le lói soi bóng thuyền nhạt nhòa trên dòng nước. Phố nhỏ chìm dần vào giấc ngủ khuya, khi con đò neo lạnh dưới bến. .

Một mái hiên nhỏ ở đầu quán, nơi khách đi đường trọ lại qua đêm. Con đường Kiên Giang Hà Tiên thường bị đấp mô, nên khách có thể lênh đênh trên kênh một ngày dài, cũng có thể đi vội trên xe Honda ôm, cũng có thể dừng lại nơi đây chờ chuyến đi thích hợp. Trên một chiếc ghế xếp, tôi nhìn ra hàng cây dương liễu dưới bóng trăng mờ, tưởng nhớ miên man đến quê nhà La Gi. Khi tôi vừa đốt thuốc, định nhờ đốm lửa xua đi nỗi buồn trong đêm quạnh quẽ, một Honda ôm dừng lại trước mặt. Một phụ nữ vào quán và một thanh niên vội vã lên xe Honda ôm, chạy về phía Kiên Lương. Trong quán, tiếng ly tách chạm, lẫn với giọng nói lè nhè của người say rượu. Theo ánh đèn, hé qua cánh cửa, bà chủ quán gọi người phụ nữ là cô Hậu và chỉ chiếc ghế trống bên cạnh tôi. Cửa khép lại. Một không gian yên tịnh, mờ ảo, dưới sao khuya.

Trong bóng đêm, chị Hậu nằm hút thuốc liên tục như thao thức với một tâm sự riêng. Tôi cũng lặng thầm thao thức nhớ nhà, qua hương tóc bay của chị. Bổng nhiên chị đưa tôi gói thuốc Caraven A như mời tôi hút, tôi đưa cho chị gói Pall Mall. Chị rút một điếu, bật lửa đốt và đặt vào môi tôi điếu thuốc chị đang hút. Tôi rít một hơi dài, thầm hưởng mùi thơm rất dịu. Tàn điếu Pall Mall, kề sát vào tai, chị hỏi nhỏ tên tôi. Tôi trả lời nhưng chị đưa một ngón tay lên môi, nhìn tôi rất buồn. Một khoảng lặng không tên giữa chị và tôi. .

Sáng hôm sau, xuống đò qua phố, chị đưa tôi đến cuối đường Tô Châu, giới thiệu tôi với một người quen, để tôi ở trọ. Chị từ giã sang Nam Vang, còn lại trong tôi sự vỗ về dịu êm cùng đôi điều suy nghĩ, dù chị và tôi chỉ bên nhau một đoạn đường ngắn.

Hà Tiên, 1/1970
Đoàn Thuận

Tết xa nhà (Trần Văn Thuận)

Một lần nữa, tôi lại ăn tết nơi quê người.

Liêm, Hồ, Hài đã sang Phú Quốc đi máy bay về quê tuần trước. Thầy Trần Cao Thu và tôi đã ba lần trốn dưới đò xuôi kênh đều bị giử lại, vì đường bộ sang Rạch Giá vẫn bị đắp mô. Nghèo khó và chiến tranh buộc tôi ở lại Hà Tiên, ăn Tết xa nhà.
Nhà Bác Tám nhộn nhịp, con cháu về chuẩn bị đón xuân. Tôi nằm riêng trong phòng đọc sách. Nhóm bạn của Tòng Hiếu đến thăm và tặng quà tết với một cây thuốc con mèo đỏ, bánh lạt, beurre, café, bốn đòn bánh. Điền cho năm búp huệ trắng, rất thơm. Thật ra, trong thập niên 60, đôi lần tôi ở lại gác trọ một mình chờ năm cũ trôi qua. Giờ đây, tuy tôi ăn nhờ ở đậu trong nhà, nhưng Bác Tám coi tôi như người thân, hơn nữa, những “thư sinh” hồn nhiên luôn quay quần bên tôi, lại có Cao Thu cùng chung cảnh ngộ. Xuân như nhiên vẫn đến, dù xa nhà. .

Cao Thu đề nghị một cuộc dạo chơi cuối năm trên núi. Chúng tôi đi bộ qua rừng dâu Thuận Yên lên núi Voi. Thiếu mai vàng, nhưng hoa thơm, cỏ mượt rất nhiều. Từ một gộp đá nhìn ra biển, Cao Thu như một bức tượng lặng câm. Tôi bắt gặp một điều gì vấn vương trong gió. Bấc tháng giêng chăng? Nhà tôi xa tít phía chân trời. Tôi cũng nhớ đôi điều về Sài Gòn đầy ắp kỷ niệm của một thời sinh viên, của những mùa xuân lưu lạc. Chiều xuống đã lâu. Chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển về lại Thuận Yên, trong tiếng pháo nhà ai nổ dòn. .

Chiều mồng Một, nhóm thân hữu Ba Lá đến chúc Tết và mời tôi đi thăm nhà thi sỹ Đông Hồ, rồi cùng nhau thả thuyền lênh đênh về kênh Vĩnh Tế, mừng Bác Hẹ tròn tám mươi tuổi. Xuồng “ba lá” lắc lư theo điệu Boléro, muỗng nhịp trên chén rượu nếp trắng, nhóm chúng tôi đón xuân sang nơi quê hương thơ mộng Hà Tiên. Một mùa xuân tha phương, còn mãi trong ký ức tôi. .

Hà Tiên, 1971
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Chú thích: Trong bài ký sự nầy thầy Trần Văn Thuận có nhắc đến quý thầy: Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Long Hồ, Nguyễn Văn Hài và thầy cũng có nhắc đến các học sinh như Lý Tòng Hiếu, Quách Ngọc Điền…..

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình Thai Manh Hoai)

Một vài bài thơ thầy Trần Văn Thuận viết có liên quan đến Hà Tiên:

Bên bến Tô Châu

Dừng chân bên bến Tô Châu.
Bờ cây bến đá quánh màu gió sương.
Ô đèn thắp bóng con đường.
Mấy ngôi nhà cổ, mấy tường rêu phong.
.
Dừng chân phố thị bên sông.
Lửa thuyền đêm lạnh giữa mông mênh mùa.
Tiếng người khuất dưới lau thưa.
Ngờ như lời cổ thi vừa bay qua.
.
Hà Tiên, 1970
CÁT SỸ

Đêm thức Hà Tiên

Góc trời đêm lạnh Hà Tiên
Gió bờ dương liễu Thuận Yên ru sầu.
Sóng vùi cát bãi đêm thâu
Vết chân chim dẫm nát nhầu bóng ai.
.
Nằm nghe sông núi thở dài
Nghe ta giữa thế kỷ hai mươi buồn.
Hồ Đông in bóng trăng suông
Một dòng sông cũ nhớ nguồn xa xôi.
.
Đảo hoang cây cỏ bổi hồi,
Áo xưa bụi phủ một thời đau thương.
Mãi lo mãi khổ đôi đường
Trên quê hương lại tha phương mịt mù.
.
Nữa đời già cỗi tiếp thu.
Lửa nhân sinh đốt khói rù khe tim.
Tô Châu phố ngủ im lìm.
Ta ôm nỗi xót xa tìm vào quên.
.
Hà Tiên, 1970.
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Hình ảnh thầy Trần Văn Thuận trong sân trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1966. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận hiện nay đã cao tuổi và đang nghỉ hưu tại nhà riêng ở TP HCM. (Hình thầy TVT)

Tái bút: Thầy Trần Văn Thuận cũng có đăng về chi tiết của thầy nếu bạn nào muốn liên lạc với thầy:

Qui vị có thể liên lạc qua: .
+ đtdđ: 0907 497 529 . .
+ email: doanthuancs@gmail.com .
+ nhà: 80/12/48A đường Dương Quảng Hàm,
p5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Một vài ngôi nhà xưa với kiến trúc đẹp ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, Hà Tiên ngày nay đang trên đà phát triển tột độ, Đa số nhà cửa xưa cũng đã được tu bổ, sửa chữa lại, hoặc không còn tồn tại nữa. Vì nhu cầu hoàn thiện, đổi mới nên một số phố xá nhà cửa cũng đã bị phá bỏ và thay vào đó là đường xá, công viên, vườn hoa mới và đẹp. Ngay cả dọc theo bờ sông Giang Thành (ta thường gọi là sông Hà Tiên) cảnh vật cũng không còn như xưa. Mặt sông cũng đã bị đất liền nới chiếm, người ta lấp bờ sông, bồi đất để mở thêm diện tích làm công viên, thậm chí còn tạo thêm một vùng có thêm nhiều con đường mới như khúc chợ mới ở Hà Tiên. Ngày nay con đường ngày xưa ta gọi là « Bến Trần Hầu » không còn là con đường có gió mát thổi và có hàng dừa ngay bến sông…Bên mé sông của con đường nầy đã được dựng lên nhà cửa, phố xá, tiệm buôn, khách sạn che khuất cả mặt tiền nhìn ra hướng sông, muổn ra đứng bờ sông ngắm cảnh trời mây non nước, ta phải đi ra khỏi con đường Trần Hầu về phía bờ sông, vì nơi đây còn thêm một khoảng đất được nới rộng ra, có công viên cây xanh đẹp mắt…

Thêm vào đó chung quanh núi Tô Châu, núi Bình San và núi Phù Dung (Phù Dung là tên chánh thức của ngọn núi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi tên là Đề Liêm), nhà cửa được xây cất tấp nập, phần cây xanh của những ngọn núi nầy đã bị giảm bớt rất nhiều. Trong phố thị Hà Tiên, chỗ nào còn sân hoặc thửa đất trống cũng đã « được » trưng dụng để xây cất thêm nhà cửa, cao ốc dùng trong việc thiết lập ngân hàng, khách sạn…v…v…Nếu ta có thể đặt hai cái bản đồ có vạch rỏ các vùng nhà cửa, cây xanh, mặt sông ngày xưa và hiện nay nhập vào nhau thì ta sẽ thấy các phần cây xanh, phần mặt sông đã bị xâm chiếm nhiều, diện tích giảm đi rỏ rệt, ngươc lại phần nhà ở, dinh thự thì tăng lên rất nhiều…Ngoài ra nếu ta quan sát hình dạng và cung cách quy mô của những ngôi chùa ở Hà Tiên xưa và nay, ta cũng thấy rỏ sự phát triển, sự « xi măng hóa » rất mạnh mẻ và rỏ rệt của những nơi nầy..Một trường hợp điển hình là trên sườn cây xanh của núi Tô Châu, ngày nay, từ bên phía công viên Hà Tiên nhìn qua bên núi Tiểu Tô Châu, ta sẽ thấy sườn núi có một vết « nhân tạo hóa » rất lớn và rất rỏ, không nói ra bạn đọc cũng hiểu đó là ngay chỗ những tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên…!! . Về phía chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, Tịnh Xá Ngọc Hồ ngày xưa những ngôi chùa nầy rất kính cẩn, trang nghiêm, đơn giản và rất hài hòa phù hợp với quang cảnh đồi núi, cây xanh chung quanh. Ngày nay, những ngôi chùa nầy đã được xây cất phát triển quá to lớn, lại có cả tường, cổng xây bằng gach chắc chắn chung quanh, ta không còn thấy rỏ nét cổ kính thanh đạm của ngôi chùa ngày xưa mà nhu cầu tu hành kinh kệ không nhất thiết phải có đủ quy mô vật chất như hiện nay… Âu đó cũng là nhu cầu thiết yếu của một khía cạnh khác, của sự kinh tế, hoạt động du lịch cần được phát triển và cải tổ cho phù hợp với làn sóng người đi thăm viếng cảnh đẹp Hà Tiên. Hy vọng rằng Hà Tiên sẽ tiếp tục phát triển và phát triển một cách hợp lý, hài hòa với nhiều khía cạnh khác nhau trong một kết quả tổng hợp được mọi nhu cầu để cái đẹp, cái cổ xưa, nét thanh tao và nhã nhặn của một nền kiến trúc cân bằng được chú ý đến…

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài ngôi nhà cổ xưa, với một nét kiến trúc đẹp, có ngôi nhà thì vẫn còn được bảo tồn, có ngôi nhà thì vì nhiều lý do khách và chủ quan, không còn được chăm sóc bảo quản, đó cũng là điều đáng tiếc, vì thế nếu một mai thực tế có biến mất đi, ta chỉ còn lại vài bức hình để nhớ và luyến tiếc….

1/ Ngôi nhà A:

Ngôi nhà A: Đây là một ngôi nhà xưa với lối kiến trúc rất đẹp, mặt tiền nhà được sơn phết lại rất hài hòa. Hình chụp vào năm 2013, do một người du khách tên Adriaan Castermans chụp.

2/ Ngôi nhà B:

Bên phải tấm hình ngôi nhà A trên đây, có một ngôi nhà (tạm gọi là ngôi nhà B) cũng thuộc diện cổ với kiến trúc đẹp, người du khách Adriaan Castermans cũng có chụp một bức hình vào năm 2013 như sau:

Ngôi nhà B: Tọa lạc bên phải ngôi nhà A và cùng trên một con đường. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Trong bức hình nầy, ta thấy rỏ vị trí của hai ngôi nhà A và B (A bên trái và B bên phải), tuy nhiên hai ngôi nhà trong thời điểm nầy rất cũ kỷ, chưa được sơn phết tu chỉnh mặt tiền. Hình: Monique NG, năm 2006

Trong bức hình nầy ta cũng thấy rỏ ngôi nhà A với mặt tiền nhà cũng bắt đầu cũ kỷ, cây xanh trước hiên nhà cũng đã giảm bớt. Hình : Cashonly77, năm 2006

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. Thời gian chụp hình có lẻ sau năm 2000

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Sonia Maclean, năm 2018

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái (một phần nhỏ) và B ngay giữa hình, hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

3/ Ngôi nhà C:

Xin giới thiệu thêm một ngôi nhà nữa, tạm gọi là ngôi nhà C, cũng tọa lạc trên cùng một con đường và cùng một dãy với hai ngôi nhà A và B nói trên. Ngôi nhà C nầy có lối kiến trúc rất đẹp, tuy hiện nay không có người ở nhưng vẫn còn người sở hữu ngôi nhà cổ xưa nầy.

Ngôi nhà C rất xinh đẹp, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Tuoi Tran, năm 2019

Vị trí và thông tin về ba ngôi nhà A,B và C:

Ba ngôi nhà A,B và C đều tọa lạc trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên, cùng thuộc về một dãy phía bên trái con đường Cầu Câu nếu ta nhìn từ đường Lam Sơn về phía đường Trần Hầu. Ngôi nhà A và B liền nhau, còn ngôi nhà C thì cách hai ngôi nầy vài căn nhà khác. Theo thông tin của các bạn ở Hà Tiên thì ngôi nhà A là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Bà Giáo Lễ. Ngôi nhà B là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Ông Hai Mỹ. Hiện nay đều có người trong các gia đình nầy trú ngụ tại hai ngôi nhà nầy. Còn ngôi nhà C cũng là ngôi nhà rất xưa, có gốc gác là nhà của Bà Xã Huê, tuy không có người chăm sóc hiện nay nhưng vẫn còn sở hữu riêng tư.  Thêm một chi tiết nữa là nếu ta tính liên tục hai ngôi nhà A rồi B thì đến căn nhà của Ông Giáo Ngọt (tức là thầy Hà Văn Thành).

Vị trí ba ngôi nhà cổ xưa kiến trúc đẹp: A, B và C trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên nằm trong phần giới hạn giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu.

4/ Ngôi nhà D:

Trên con đuòng Chi Lăng (Hà Tiên) cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà D), thiếu sự chăm sóc, tuy nhiên nhà có lối kiến trúc cũng khá đẹp, nhất là mái hiên mặt tiền nhà. Hiện không biết thông tin về sở hữu và tình trạng người ở trong ngôi nhà nầy.

Ngôi nhà D cổ xưa ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Hình sưu tầm, không rỏ năm.

5/ Ngôi nhà E xưa nhiều kỷ niệm đường Nhật Tảo:

Ở đường Nhật Tảo Hà Tiên, có một ngôi nhà xưa rất đẹp, sạch sẽ và rất khang trang, (tạm gọi là ngôi nhà E), ngôi nhà chứa rất nhiều kỷ niệm đối với riêng mình. Thời xưa những năm 60, trước khi quý thầy dạy Trung Học Hà Tiên đến ở ngôi nhà nầy trong thời gian dạy học ở Hà Tiên thì có các bạn Hồ Văn Quân và hai người em của Quân là Hồ Văn Nhân và Hồ Văn Đạo từ Kiên Lương lên Hà Tiên ở trọ nhà nầy để theo học bậc Tiểu Học Hà Tiên. Vì Quân là bạn học cùng lớp với mình ở Tiểu Học nên thường ngày mình hay đến ngôi nhà nầy chơi với Quân. Sau đó khi lên bậc Trung Học, quý thầy dạy bậc Trung Học ở trọ căn nhà nầy trong thời gian đi dạy ở Hà Tiên. Học trò thường đến căn nhà nầy vào những buổi chiều, tối để sinh hoạt vui chơi với quý thầy, đó là quý thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Văn Thành,…v…v…Ngay cả có một đêm mình và anh Trần Văn Dõng ngủ lại trong căn nhà nầy để tiếp tục vui chơi với bạn và thầy, lúc đó có Trần Anh Kiệt, Phan Văn Hữu, Bùi Văn Tư, Tòng….v..v….cùng tham dự.

Ngôi nhà E tọa lạc tại đường Nhật Tảo, Hà Tiên, có nét kiến trúc và mặt tiền rất đẹp, hiện vẫn được tu bổ tốt. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

6/ Ngôi nhà F:

Ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà F), được duy trì rất khang trang, mặt tiền rất đẹp, nhìn ra đường Lam Sơn. Đó là ngôi nhà của gia đình anh Lý Đại Độ, Lý Tuấn Kiệt,…

Ngôi nhà F ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo, mặt tiền nhìn ra đường Lam Sơn. Kiến trúc rất đẹp, ta thấy một số nhà kể phía trên (A,B,C,….) đều có cách thiết lập mặt tiền gần giống nhau. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

7/ Ngôi nhà G:

Trên con đường Bạch Đằng Hà Tiên cũng có vài ngôi nhà tuy nhỏ, chen lẫn với một hàng dãy nhà liên tục, không có sân rộng như các trường hợp trên, nhưng cũng có mặt tiền trình bày rất đẹp.  Đầu tiên xin giới thiệu ngôi nhà G, bên lề phải đường Bạch Đằng nếu ta tính từ ngả tư đường Chi Lăng-Bạch Đằng nhìn về phía sông Hà Tiên. Đó là ngôi nhà ngày xưa thầy La Từ Sự sinh sống ở đó, phía trước nhà ngày xưa có đặt nhiều chậu hoa, cây xanh tạo thành một mặt tiền nhà rất hài hòa và đẹp. Hiện nay, không hiểu vì lý do gì các cửa sổ và cửa chánh của ngôi nhà đã bị xây bít lại, có thể là nhà bỏ trống, không người ở.

Ngôi nhà G, trên đường Bạch Đằng Hà Tiên, tuy nhỏ nhưng mặt tiền trình bày các vòng cung rất đẹp. Hình: HuynhNT, không rỏ năm.

8/ Ngôi nhà H:

Cũng trên con đường Bạch Đằng, Hà Tiên, khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu, bên lề phải của đường Bạch Đằng nếu ta nhìn từ đường Trần Hầu trở lên về phía đường Lam Sơn, ta sẽ thấy có một ngôi nhà gồm hai căn liền nhau và mặt tiền có lối kiến trúc trình bày y hệt nhau (tạm gọi là ngôi nhà H). Căn nhà bên trái ngày xưa chính là quán cafe Quảng Phát mà cả quảng đời ngày xưa mình thường xuyên lui tới uống cafe với các bạn. Trong những năm 60-70, đây là tiệm cafe có luôn cả thức ăn điểm tâm mà người dân Hà Tiên rất ưu chuộng, có cả giới chánh quyền, nhân viên hành chánh, sĩ quan, học sinh lui tới mỗi ngày để ăn uống và trò chuyện rất đông đúc. Còn căn nhà bên phải thuộc về một gia đình người Hoa, nhà thường đóng cửa luôn…Không có thông tin về tình trạng sở hữu và người ở trong hai căn nhà nầy hiện nay.

Con đường ở giữa hình theo chiều đứng là con đường Lam Sơn, Hà Tiên. Theo chiều ngang trong hình ta có con đường Bạch Đằng chạy ngang thẳng góc với đường Lam Sơn và theo chiều dãy nhà ngang trong hình. Phía trên bên phải chính là ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998

Ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Từ phía dưới đường Trần Hầu (con đường nằm ngang phía cạnh dưới hình) ta nhìn lên dọc theo đường Bạch Đằng thì ngôi nhà hai căn nầy nằm bên phải ở giữa hình. Hình: TVM, năm 2012

Tuy nhiên theo bức hình nầy, ta thấy ngôi nhà H gồm hai căn đã có thay đổi: mặt tiền căn nhà bên trái đã được sơn màu xanh dương và phần trang trí phía trên cao đã biến mất. Căn nhà bên phải vẫn còn giữ theo xưa. Hình nầy chụp khoảng sau năm 2012, nguồn HuynhNT

Vị trí ngôi nhà G ngày xưa thầy La Từ Sự ở và ngôi nhà H gồm hai căn trong đó căn bên trái là tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa trên đường Bạch Đằng.

Tái bút:

1/ Bạn đọc có thể xem thêm bài và hình dưới đây để biết thêm một vài căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên ngày xưa.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/10/18/nhung-ngoi-nha-va-ngoi-truong-ngay-nay/

2/ Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị và tất cả các bạn gốc Hà Tiên đã tham gia ủng hộ, góp ý, trao đổi thông tin, hình ảnh và trả lời thắc mắc của mình để bài viết nầy được thêm phần chính xác và phong phú.

Trần Văn Mãnh Paris 04/01/2020

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 1)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

1/ Nhà cô Muối: góc đường Lam Sơn – Phương Thành, (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998)

Đây là góc đường Lam Sơn (bên trái) và Phương Thành (bên phải). Căn nhà bìa mở cửa trong hình là nhà cô Muối, kế bên là nhà củ Cang, kế nữa là nhà Hia Bấu, chế Mũm. Đối diện là nhà bạn La Văn Hủi, La Văn Gồi , Huỳnh Kim Châu. Căn nhà lầu là nhà chế Mũm, có con gái tên là Lâm Kim Hoa, học trường Hoa có tên kêu là Mỹ Anh. Cô Muối là chị của bạn Vương Bình Phước, Vương Đình Lộc. Cô dạy trường Tiều Học Hà Tiên, là phu nhân của thầy Lê Phước Lộc dạy môn Thể Dục. Mình không biết thời gian chụp bức hình nầy.

2/ Đường Bạch Đằng nhìn lên phía nhà lầu anh Cáo Di (Hà Tiên)


(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Đường Bạch Đằng, bên trái hình chổ vài căn nhà ngói cũ kỷ, khúc trên là nhà anh Trần Hồng Khanh, kế đó về phía bến Trần Hầu là nhà Bác Cang hồi xưa hay bán vé xe đò Liên Trung, Lộc Thành, ba của hai chị Lệ và Liểu. Xuống hết đầu đường là tiệm đồi mồi Lê Minh. Còn đầu đường trên là miếng đất trống, hồi xưa có căn nhà ngói rất xưa của gia đình anh Khai, anh Tòng. Sau đó nhà ngói bị phá bỏ và anh Khai mở tiệm cafe cơm tấm hiệu là Lan Chi . Đối diện tiệm anh Khai bên nầy đường là biệt thự của cô Hiền, xuống một chút là tiệm cafe hủ tiếu Quãng Phát, rồi kế là một căn nhà hay đóng cửa hoài, nhà của chế Lêm may quần áo con của Ông Èm Sen. Sau cùng là phía nhà sau của ba má anh Trần Binh mặt trước là tiệm cho đánh billard …Còn căn nhà đúc đầu đường có bốn cửa sổ cong cong đó là nhà anh Cáo Di, nhà nầy hồi xưa còn là nhà ngói đời trước là của ba má anh Trần Bình …

3/ Đường vô Thánh Thất Cao Đài bên xóm Tô Châu (Hà Tiên)

(Hình: Axel Drainville, năm 2011)

Con đường nầy lúc đầu rất khó nhận ra, nhưng nhờ nhiều ý kiến đóng gớp mới biết đó là con đường dọc theo mé biển dưới chân núi Tiểu Tô Châu. Ngày xưa khi đi qua cây cầu nổi, tới bên kia xóm Tô Châu, quẹo trái là ngay con đường nầy. Bên phải là bến xe đò cũ. Đầu con đường nầy là hảng nước Mắm Bỉnh Ky. Ngày xưa khúc đường vừa qua cầu nổi bên trái có một quán nước có chiếu video ăn tiền cho khách xem. Trên con đường nầy có Thánh Thất cao Đài, và phía trên núi thì có Tịnh xá Ngọc Tiên, nếu đi sâu vào cuối đường thì ra sông rạch đi Phú Mỹ, Giang Thành.

4/ Đường Trần Hầu nhìn qua Ty Quan Thuế và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Con đường Trần Hầu hơn 30 năm về trước. Bên phải là khu có tiệm cây xăng của gia đình Ông Thái Dũ, xa hơn nữa là Đài Kỷ Niệm và chợ cá Hà Tiên. Bên trái hình là khách san Vân Tiên, sau đổi tên là khách sạn Hà Tiên, trước năm 1975 thuộc về gia đình bạn Trần Văn Hữu. Chú ý là có một cây cột sắt màu trắng, đó là cột đèn hải đăng ngày xưa. Phía trên là khu nhà làm việc và nhà ở của Ty Quan Thuế. Qua bên đường Mạc Công Du là quán nem nướng của gia đình bạn Nguyễn Thúy Vân, tiếp theo là nhà dì Loan má của bạn Tô Vĩnh Tuấn, kế nữa là tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm và nhà của bạn Trần Ngọc Sương… Đặc biệt phía bên phải hình hơi xa ta thấy có mái ngói của một căn nhà, có rất nhiều ý kiến về căn nhà nầy: lúc xưa là chợ cá, do công ty Thủy Sản xây dựng, sau đó làm cơ quan cho đội quản lý chợ. Còn người đẹp áo tím trên xe đạp thì không biết là ai, chắc giờ nầy đã lên chức bà nội, bà ngoại rồi…

5/ Nhà Hiến Binh xưa tại ngả tư đường Mạc Công Du – Mạc Cửu (Hà Tiên)

(Hình: HungCuongPC, năm ?)

Căn nhà trong hình thời xa xưa là tòa án, sau đó để cho Hiến Binh ở, rồi sau nữa là nhà cho cảnh sát ở, trong đó có nhà của gia đình chú Ba Sanh ở. Con đường trước mặt căn nhà là đường Mạc Công Du, đường bên hông bên phải là đường Mạc Cửu. Đối diện với căn nhà nầy là phía sau khu vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn. Qua bên nầy đường Mạc Cửu, bên phải là nhà cô giáo Điệp vợ của anh Ba Mẩn, rồi tới khu Học Đường Viên cho gia đinh quý thầy cô ở, ngày xưa có nhà thầy Trịnh Học Ký, Nguyễn Văn Thất, Trần Hòa Hùng,..v..v… và lên nữa là ngay trường Tiều Học Hà Tiên. Phía trái căn nhà nầy trên đường Mạc Công Du về phía chợ là sân đánh quần vợt ngày xưa, trong sân nầy có một cây trâm rất lớn; ai đi chơi tối về ngang qua khu cây trâm nầy rất sợ ma…Về phía chợ nữa là căn nhà của gia đình Ông Kiều, ba của bạn Dzung Tran.

(Còn tiếp phần 2)

 

Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông từ Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia đường Bạch Đằng (Thu Oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Có lẽ đây là tấm hình xưa nhất về Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức ngày xưa ở Hà Tiên. Hình sưu tầm do người Pháp chụp, năm 1890

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…