Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Publicités

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Tô Châu (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, khi thầy cô và các bạn nhìn thấy cái tựa bài với hai chữ tuy ngắn ngủi nhưng lại gợi cho chúng ta một ký ức rất quen thuộc … »Tô Châu »…..A nếu trong bối cảnh là Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì Tô Châu đây chính là bài viết về núi Tô Châu của Hà Tiên yêu dấu của chúng ta…Không thể nào khác đi được, Tô Châu chính là tên hai ngọn núi giữ vai trò cửa ngõ bước vào Hà Tiên đây…Tuy nhiên nếu ta chỉ viết đơn thuần hai chữ « Tô Châu » và không ở trong bối cảnh « Hà Tiên » thì từ ngữ nầy chắc chắn sẽ nhắc đến một thành phố xa xưa trong lịch sữ, đó là phố thị Tô Châu nằm ở hạ lưu sông Dương Tử, thuộc tỉnh Giang Tô bên Trung Quốc…!! Chẳng những đó là tên của một phố thị xưa bên Trung Quốc mà có thời Tô Châu lại là kinh đô của nước « Việt » trong khoảng năm 473 trước Công Nguyên…Thời đó Tô Châu cũng được gọi là Cô Tô, Câu Ngô…với sản phẩm tơ lụa nỗi tiếng…Tác giả bài viết dưới đây, bạn Quang Nguyên đã nhắc lại ở phần nhập đề bài viết « Tô Châu » về thành phố nầy, với bốn câu thơ chữ Hán miêu tả quang cảnh thơ mộng của Tô Châu đó….Tuy nhiên là người con muôn đời của Hà Tiên và cũng không muốn trở thành « chủ nghĩa dân tộc quá khích », chúng ta chỉ biết, nói và viết mãi về cái từ Tô Châu để chỉ núi Tô Châu của Hà Tiên của chúng ta, và cũng không phải chỉ có nhà thơ Trương Kế làm thơ ca ngợi cảnh phố Cô Tô của nước Trung Hoa mà may mắn thay, chúng ta cũng có nhiều bậc thi nhân xuất thân từ đất nhà Hà Tiên, làm thơ ca ngợi cảnh đẹp mây trời sắc nước của xóm núi Tô Châu, hãy đọc thơ của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mà hiểu ngay ra là cảnh Tây Hồ với Hàng Châu cũng chừng thế thôi…đâu có hơn Tô Châu với bến đò qua sông Giang Thành viếng phố Hà Tiên của chúng ta…

« Cận quách kê sơn hoành cổ độ
Đã trang kiều mộc đái tân yên »

Đò ghé bến xưa vờn bóng núi
Khói tuôn xóm mới khuất ngàn cây…
(Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội)

Khách đến chơi phố Hà Tiên hãy thong thả, đừng nóng ruột chờ đò qua sông, hãy dành vài khoảnh khắc nhìn lên hai ngọn núi Tô Châu, ngắm cảnh thiên nhiên núi, hồ, rồi lại không ngăn được ý muốn leo lên ngọn núi Tô Châu nầy, ngay tại bến đò với xóm nhà thơ mộng dưới chân núi,…vì khách cũng còn muốn dừng chân đứng lại đây, ngắm nhìn bốn bên biển hồ sông núi, nhìn cho thỏa ý rồi chợt tai nghe văng vẳng tiếng máy đò cặp bến, thôi mời khách xuống đò sang thăm chợ Hà Tiên,…thăm lăng Mạc Cửu, ở đó khách sẽ lại có thêm dịp ngắm nhìn thưởng ngoạn cảnh núi Tô Châu, một lần được khẳng định là quả thật hai ngọn núi Tô Châu giống y như hai con voi nằm phủ phục trước ngưởng cữa vào đất Hà Tiên…Đến đây mình viết hơi nhiều về đề tài núi Tô Châu nầy rồi, mời Thầy Cô và các bạn đi ngay vào bài của bạn Quang Nguyên, sẽ thấy rất thú vị với những kỷ niệm thời học trò mà bạn kể lại trong bài viết dưới đây…(TVM viết lời giới thiệu bài)

Tô Châu (Quang Nguyên)

Có một Tô Châu (còn gọi là Cô Tô) của Việt Vương Câu Tiễn với câu chuyện Tây Thi – Phạm Lãi mà ai cũng biết, và mọi người cũng biết Tô Châu ấy làm say ngất lòng người trong “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế – nhà thơ sống ở thế kỷ thứ tám:

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

Thuyền đêm đỗ bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Và có một bản dịch khác của một ông quan thời nhà Nguyễn cũng rất hay – ông Nguyễn Hàm Ninh dịch rằng:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(theo Wikipedia)

… Thời học trò luôn có những kỷ niệm trong sâu thẳm của từng người chúng ta, thỉnh thoảng một câu chuyện gì đó, hoặc gặp ai đó, hoặc không có lý do gì cụ thể – có thể chỉ là một giấc mộng đêm hè – với tiếng ve ra rả đánh thức những tiềm thức đã ngủ yên cả vài chục năm trước khi chúng ta còn ấu thơ… Mấy tháng trước tôi cũng đã có một đêm như vậy, không phải là tiếng ve gọi hè đánh thức đêm khuya mà chỉ đơn giản là thấy mình thời đi học, được đi chơi đến một nơi quen thuộc, lòng nhủ lòng sẽ viết về nó và gửi cho Mr. Mãnh để ông cất vào đâu đó trong những vùng đầy ắp những câu chuyện đẹp đẽ về thời học sinh của chúng ta.
Và không chỉ là một giấc mộng mị không đầu không đuôi của tôi, cũng khoảng thời gian ấy, có một hôm tôi nhận được một tin nhắn của bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên: “Sao bạn không viết về Tô Châu? Tôi thích Tô Châu vào hoàng hôn với hình ảnh “con voi phục” có những ánh đèn nhấp nháy của ngôi chùa trên đó như con mắt của chú voi…”. Ừ thì tôi sẽ viết và giờ tôi đang viết, chút nữa tôi sẽ nhắc lại vụ “mắt voi” này sau khi tôi viết một chút về tuổi học trò mà cái tên Tô Châu của chúng ta đã luôn “dính dáng”, một Tô Châu của người Hà Tiên cũng đặc biệt không kém Tô Châu xứ người…

….Ngày xưa chúng ta không có nhiều trò chơi để giải trí, nên « dã ngoại tự phát » cũng là cách mà học trò ngày ấy ưa thích, có những buổi nghỉ học bất ngờ vì giáo viên bệnh mà trường không sắp xếp thầy dạy thế được, ngay lập tức chúng tôi tổ chức đi chơi, nhưng đi đâu chỉ vài tiết học? Hà Tiên thì có nhiều chỗ cho học trò dã ngoại, nhưng do không có nhiều thời gian nên chúng tôi đã chọn núi Tô Châu. Quả thật, núi Tô Châu rất đẹp, nếu nó không đẹp sao người xưa có câu ca dao rằng:

“Hà Tiên có núi Tô Châu,
Có lăng Mạc Cửu, có chùa Phù Dung…”

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60.

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Nếu muốn biết Tô Châu đẹp thế nào, và nếu bạn có thời gian đi kèm với lòng can đảm, bạn phải lên Núi Lăng (Bình San), bạn phải đứng ngay trước sân quynh của lăng ông Mạc Cửu vào buổi chiều tà, nhìn qua bên kia sông của cửa biển Hà Tiên, chú tâm chỉ gói gọn trong khung ảnh cần khai thác (vì các cảnh vật khác ở lân cận, cảnh nào cũng đẹp khiến bạn phân tâm), bạn sẽ thấy núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu hiện ra rất đẹp trong khung cảnh hoàng hôn của một ngày nắng đẹp… Núi Đại là con voi mẹ đang nằm phủ phục đầu hướng ra biển và chúng ta thấy rõ cái gù trên đầu voi, khoảng lõm cổ voi, với chiếc vòi đang duỗi dài ra phía trước tựa hồ voi đang thư giãn ngắm hoàng hôn tuyệt vời trên biển Tây, nó thưởng ngoạn cái thời khắc đẹp đẽ mà gần như chỉ duy nhất Hà Tiên – Phú Quốc chúng ta mới có, bởi vị trí của xứ sở đặc biệt của chúng ta trên dãi đất hình chữ S này.
Nếu Núi Đại Tô Châu là con voi mẹ thì Núi Tiểu Tô Châu lại là con voi con với cái đầu nhỏ hơn và không có gù, nằm phủ phục như mẹ nhưng hình thể lại thấp hơn, nó rất biết vị thế để nằm lui về sau mẹ một chút, nó cũng “bắt chước” mẹ thưởng ngoạn hoàng hôn trên biển, nhưng chúng ta thừa biết rằng nó chỉ “làm bộ” vậy thôi chứ voi “trẻ trâu” làm sao có thể chiêm nghiệm được cái đẹp thâm trầm ý nhị của buổi chiều tà? Nó sẽ mãi mãi nằm đó, mãi mãi tuổi nhi đồng bên cạnh bà mẹ quý phái mãi mãi không thể già thêm được nữa…

Quang cảnh nhìn từ trên lăng Mạc Cửu về phía núi Tô Châu (Hà Tiên), phía đầu núi hướng ra biển. Hình: TVM 1994

Rồi bạn cứ đứng yên trước quynh lăng, chịu khó “ghìm” nỗi sợ mồ mả chung quanh trong buổi nhá nhem, cố đừng để ý đến ngoại cảnh sau lưng và hai bên tả hữu …, bạn sẽ nhìn thấy ánh vàng chiếu thẳng vào hai quả núi, khiến nền xanh lục của cây rừng như rõ hẳn lên, vàng và lục là hai màu kế nhau trong quang phổ ánh sáng trắng (đỏ-cam-vàng-lục-lam-chàm-tím), thế nên nó hài hòa một cách lạ kỳ, những vùng mà ánh sáng không chiếu được vào trở nên xanh thẫm, càng nổi bật khung cảnh tuyệt vời của buổi chiều tà trên hai ngọn Tô Châu xinh xắn của chúng ta mà người Hà Tiên quen đơn giản như tính cách của họ, họ gọi là núi Tiểu và núi Đại.
Họ tuyệt đối không bao giờ bỏ chữ “núi” đến tối giản để gọi là: “tiểu đại”!
Thế nhưng không như trong ký ức của người bạn của tôi là có “con mắt voi nhấp nháy…”, chúng ta sẽ phải chờ mãi đến tối mịt, khi mà mặt trời đã xuống hẳn, khi màn đêm bắt đầu lan đến cái không gian âm u tĩnh mịch của nơi bạn đang đứng, nơi mà – phía sau bạn là mồ mả, bên trái cũng là mộ phần, còn đường xuống dưới chân núi là bao nhiêu “căn hộ” của người đã khuất mà ta phải đi qua, tất cả đều đang nằm trong rừng cây âm u với những hình thù tranh tối tranh sáng quái dị… Mà cái điều đã giữ chân chúng ta đứng đó là chờ đợi con mắt của mẹ con voi nhấp nháy vẫn chưa được thỏa lòng. Nếu may ra được một lần trông thấy bà mẹ voi hay chú voi con mở mắt thì cũng đáng để chúng ta chôn chân trên “vùng đất linh hồn” này… Nào có ngọn đèn nào của ngôi chùa hay ngôi nhà nào nơi vị trí của mắt voi ấy? Nhưng chúng ta hãy kiên nhẫn mà chờ chút… Ô kìa! Đã có những ánh sáng nhấp nháy, nhiều nữa là khác, mà ở đằng kia, nơi vị trí tương ứng của cái … mông voi con!
Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi.
… Đám học trò chúng tôi đi lên núi Tiểu (Tô Châu) bằng con đường có bậc tam cấp bằng đất và đá tảng xếp thành, từ quốc lộ 80 cách đầu cầu nổi trứ danh của chúng ta chừng 200-300 mét về hướng Rạch Giá, vừa qua một khúc quanh nhẹ chúng ta đã thấy đường lên núi Tiểu là lối tam cấp đó, trước khi bước vào tam cấp chúng ta phải thấy một cái giếng nước có xây bao quanh một vòng tròn lớn mà theo trí nhớ của tôi ước chừng đến 4-5 mét, đi độ một phần tư đường lên đỉnh núi sẽ có một lối bên phải, đó là lối vào nhà bác Hai Dãnh.
       Xin lạc đề chút để nhắc về bác Hai.
Bác Hai trông rất cao, cao đến độ cái yên chiếc xe đạp bác chẳng cần bước chân qua, bác đạp xe trên đường là từ xa tôi đã nhận ra cái dáng cao kều của bác. Tương phản, bác gái lại là người nhỏ nhắn, có giọng nói rất nhẹ nhàng, bác gái hay mặc áo nâu và cả hai ông bà đều tu hành tại gia, trông người đức độ… Ngày xưa cha tôi thường sai tôi đi “trao đổi kiến thức” bằng cách cầm qua cho bác ấy những quyển sách mà cha tôi có, hoặc cầm về những quyển sách của bác đang có cho cha tôi mượn… Đôi khi kèm về tôi phải vác theo người quả mít, gói tiêu hạt, hay vài loại trái cây trong vườn nhà bác mà bác đã ân cần giấm dúi bắt tôi phải mang về. Một chút tình cảm của ngày xưa ấy tuy không dành cho đứa con nít như tôi, nhưng luôn luôn ấn tượng trong tôi về tình nghĩa của người xưa, hẵn đã rất ấm lòng cha tôi khi thời cuộc xoay vần khiến ông chỉ còn biết tìm vui trong sách vở với người tri kỷ…

« Bác Hai Dãnh » trong bài viết của Quang Nguyên. Đối với mình, đây là Hia Tư vì hia là chồng của chế Thìn chị bạn dì với mình. Tên của Hia Tư là Lý Văn Nhiên, tên của chế Thìn là Lê Thị Phượng. Đây là hình Hia Tư chụp trên núi Tiểu Tô Châu, ngay phía trước nhà của hia và chế, bên phải con đường đi lên tịnh xá Ngọc Đăng

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng:

Trên lối mòn đường núi trước nhà bác Hai, đám học trò chúng tôi đi theo hướng Thuận Yên, được một đoạn trống, nhìn xuống dưới Hà Tiên ẩn hiện nho nhỏ phố xá bên kia sông, cửa biển Hà Tiên xanh biếc mùa gió bấc, phố chợ nối với bờ bên Tô Châu là cây cầu nổi gió nước dập dềnh, đương nhiên trên núi Tiểu ta không thể thấy nó dập dềnh, nhưng thật sự nó vẫn dập dềnh như khẳng định của Galileo “dù sao thì trái đất vẫn quay!”. Bên kia con lộ 80 ngày ấy vốn còn là lộ đất đỏ, là khu rừng sác đầy dừa nước được đẩy ra tới ngang núi Pháo Đài bên kia sông, và mở rộng đầm lầy đó đến qua khỏi Eo Bà Má đến trước Trung Tâm. Chúng tôi còn nhìn thấy rõ một đoạn con lộ đỏ vượt đầm lầy, bắt đầu từ bên trái đầu cầu nổi chạy thẳng ra biển đến cái mái tôn trắng của nhà máy xay bột cá làm thức ăn gia súc, và đương nhiên phía bên phải đầu cầu nổi nhìn về Hà Tiên phải là phần còn lại của hãng nước mắm danh tiếng Bỉnh Ky đã “quốc hữu hóa », với hàng đống các tĩn mắm loại 5 lít bằng sành sơn vôi trắng chất hàng hàng lớp lớp cao ngất mà không có thứ cần chứa bên trong – cái chất nước làm nên quốc hồn quốc túy, được gìn giữ, được nghiên cứu, được mày mò bao thế hệ để ẩm thực Việt Nam không thể lạc điệu, hay lơ lớ lai căng với phần còn lại của thế giới.
Vì đã “quốc hữu hóa” nên hãng đã không còn. Đã có một thời lầm lẫn đáng tiếc nuối…
Trên núi Tiểu nhìn về Hà tiên thì bến Tô Châu thương thuyền cũng tấp nập, và có lẽ trước năm 1975 có thể tấp nập hơn chăng? Hà Tiên dạo ấy còn quạ, (những chú quạ đen gớm ghiếc với cái mỏ to đùng và tiếng kêu đầy đe dọa, chúng đậu trên những cây dừa trong vườn nhà ông Ba Lón trước nhà chúng tôi), cũng có thể có khách thương hồ đậu bến Tô Châu nửa đêm nghe tiếng quạ kêu sương mà tỉnh giấc, ngắm trăng in Đông Hồ, nghe tiếng chuông công phu phát xuất từ tịnh xá mà hứng khởi làm thơ chăng? Thế thì Tô Châu của chúng ta khác nào Cô Tô của Tây Thi và Ngô Phù Sai?

Một trong những cảnh đẹp của núi Tô Châu (Hà Tiên), góc nhìn của hình cho ta thấy cả hai ngọc núi Đại Tô Châu (phía bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa và bên phải). Trên sườn núi Tiểu Tô Châu ta thấy có « Tịnh Xá » Ngọc Tiên chiếm một khoảng rất lớn của sườn núi, điều nầy có làm giảm vẻ đẹp thiên nhiên của ngọn núi hay không ? Hình: Nguyễn Lệ Thủy, 2016

… Cũng trên đường mòn trên núi Tiểu về hướng Thuận Yên như đã nói, đi thêm đoạn nữa sau khi vẹt bao bụi gai hay dây rừng, chúng tôi chợt thấy hiện ra trước mặt có nhiều cây lạ, rất to, suông thẳng và có gân lớn, vỏ cây láng trắng xám, tuy lớn nhỏ không đều nhưng chúng giống nhau một cách lạ kỳ. Thoạt đầu chúng ta nghĩ chúng là một quần thể hội tụ nơi đây của cùng một giống, nhưng không phải, mà Trời ạ! Tất cả các gốc cây này chỉ xuất phát từ… một cây.
Đúng vậy! Đó là “Cây Da Bảy Gốc”.
Thật khó để mô tả nó một cách rõ ràng như thế nào, nhưng cái cách mà nó sinh tồn thật mãnh liệt, từ một cái gốc chính nó đã vươn cành nhánh ra chung quanh, rồi từ cành nhánh đó nó phát xuất thêm những gốc khác bằng cách “đâm” xuống đất, gốc to lên và vươn xa hơn… cái cách nó vươn ra ấn tượng làm sao, cứ như là nó biết “bò” vậy…
Cây Da Bảy Gốc là một điểm đến của học trò ngày ấy, không biết bây giờ nó còn tồn tại không hay “lâm tặc” đã “xử” nó rồi? Hơn bốn mươi năm trước trong trí nhớ của tôi nó đã to lắm, có những gốc đến mấy ôm, cũng đã ngần ấy thời gian rồi tôi đã không đến đó, giờ nếu nó còn chắc đã to hơn?
Đã có một cây da có đến mười ba gốc ở Hải Phòng, nó được định tuổi là 300 năm và được công nhận là “cây di sản” và được nhà nước bảo tồn và cho khách tham quan thưởng ngoạn, nhưng công tâm mà nói cây đó nhỏ hơn nhiều và có thể nó ít tuổi hơn Cây Da Bảy Gốc mà tôi biết từ năm xưa…
Trong ký ức của học trò Hà Tiên xa quê, Hà Tiên không chỉ có thập cảnh quá danh tiếng tặng kèm mười bài thơ “xướng” và hàng chục bài thơ “họa”, mà Hà Tiên còn bao cái lạ hơn xứ người: dừa ba ngọn, dừa bốn ngọn, dừa bảy ngọn, da bảy gốc… Biết đâu được năm xưa Sơn Tinh đi bắt voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao từ vùng đất này của chúng ta?

Và “ hai con voi phục” của bạn tôi thì vẫn nằm đó, vẫn ngắm hoàng hôn từ biển Tây, hàng đêm vẫn chớp mắt từ … mông, Tô Châu vẫn thơ mộng dù giờ có những bến phà Phú Quốc và du thuyền sang trọng, Hà Tiên qua bao năm tháng đã thay đổi nhiều, nhưng trong ký ức của người xa quê thì hình ảnh xưa vẫn chiếm ngự…
Tôi không dám đòi hỏi, nhưng tôi sẽ rất vui nếu bạn nào lứa chúng tôi mà “trẻ lại”, thử leo ngọn Tiểu Tô Châu, thăm cụ Bảy Gốc có còn khỏe chăng?
                                                                                            Quang Nguyên (07/2018)

                                                         Tác giả: Quang Nguyên                       

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Lệ Thủy, Rich Krebs , Quách Ngọc Bá, TuanVo

Thầy Hiệu Trưởng (Trương Thị Uyên My)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu ta lập một bảng liệt kê các thành tích và thể loại của môn « phá thầy cô » do các vị được xếp hạng thứ ba sau Quỷ và Ma thực hiện thì chắc không đủ giấy để kể ra hết…và nếu chỉ tính các thành tích do học trò trường Trung Học Hà Tiên thôi thì cũng đã khá dài  rồi…nào là rải « mắt mèo » trên ghế chổ thầy ngồi cho thầy bị ngứa, nào là « giận thầy » nên không chịu vào học giờ thầy phải để cho nhà trường đem việc lên tới ông Quận Trưởng để giải quyết,…., nào là chờ buổi tối thầy đi xuống « Nhà mát » đọc sách thì học trò rình phía trên đường liệng đá xuống sông cho nước văng lên nhát ma thầy,…, nào là kêu gọi tên thầy đang dạy học trên lớp phía bên kia đường để trêu ghẹo…thật là rất có tinh thần sáng tạo về các thể loại « phá thầy cô »….Các đàn anh đàn chị đã thế, thế hệ đàn em đi sau cũng không chịu thua kém,… Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta hôm nay được hân hạnh đăng thêm một bài do cây bút quen thuộc Trương Thị Uyên My đóng góp. Qua bài viết ta thấy cường độ « phá thầy cô » ngày càng nâng cao…Có một điều mà các đàn em tuy đi sau nhưng lại rất cao tay ở chổ là phá thầy cô như thế nào mà không ai khám phá ra được tác giả,…như vậy không có chuyện bị nhà trường phạt hay khuyến cáo gì cả…Vả lại nếu thầy cô nào qua một vụ « phiền hà » như thế mà không biết em nào hành động vi phạm kỷ luật thì cũng đành phải chịu « nín » luôn, nói ra cả trường, cả lớp biết thì cũng không giải quyết được….Tác giả kể lại khung cảnh trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên (trường tại đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên) của chúng ta qua một bối cảnh thời chiến tranh biên giới, học sinh vừa học vừa phải đào hầm hố tự phòng thủ bảo vệ…Rồi lại có cái môn « Lao Động », một môn rất thịnh hành vào thời kỳ ngay những năm sau 1975…Ngoài giờ học lý thuyết, học sinh được khuyến khích tham gia lao động…Lao động thời đó có nhiều hình thức, đào mương, đào đất, trồng lúa, gặt lúa,…Uyên My cũng như tất cả các bạn học sinh trường phổ thông Trung Học Hà Tiên vào thời đó, đã hăng hái tham gia phong trào và đã trải qua một kinh nghiệm lý thú tuy cũng có những nỗi nhọc nhằn trong sinh hoạt di chuyển, ăn uống hằng ngày trong thời gian đi lao động như vậy…Thế rồi học thì cứ học, làm lao động thì cứ làm nhưng các vị học sinh của chúng ta cũng không bao giờ quên được cái thú « phá thầy phá cô »…!! Câu chuyện phá thầy như thế nào mời thầy cô và các bạn đọc bài viết dưới đây để biết nhé,…(TVM 07/2018)

Thầy Hiệu Trưởng

Năm 1977, tình hình ven biên các tỉnh của Việt Nam giáp đường biên giới với Campuchia bắt đầu căng thẳng, ở Hà Tiên các lớp nhỏ thuộc trường Tiểu học (cấp I – lớp 1 đến lớp 5), Trung học cơ sở (cấp II – lớp 6 đến lớp 9) đã được di tản về Thuận Yên, Hòn Heo… các thầy cô giáo cũng sơ tán theo trường. Trường Phổ thông trung học (cấp III – lớp 10 đến lớp 12) không di tản, học sinh được thông báo sẽ học tập ở các phòng mượn tạm của trường tiểu học cũ. Trường cấp III lúc đó chỉ còn ba lớp 10 – 11 – 12 với sĩ số thấp, lớp 10 của tôi năm đó gồm các bạn từ Kiên Lương lên, dồn cả khối Pháp văn, Anh văn (từ lớp 9P & 9A) vào học chung cũng chưa đến 30 người, giờ sinh ngữ tách ra học riêng. Lớp 12 còn ít hơn, chỉ trên mười người. Vì sĩ số mỗi lớp ít, trường lại chỉ có ba lớp, hầu hết là người địa phương nên học sinh các lớp đều quen biết nhau cả. Đi học vào thời chiến có khác, ngoài giờ học chúng tôi phải đào hào trước cửa lớp học và làm hầm chống đạn bằng bao cát trong sân trường. Không lo lắng nghe ngóng tình hình chiến sự như người lớn, chúng tôi thoải mái vừa làm vừa chơi, móc sình bùn ném tung tóe khắp nơi rồi chọc phá trây trét vào nhau, kêu la chí chóe ỏm tỏi, vui quá xá. Chiếc hầm rồi cũng hoàn thành, chỉ có chất lượng và khả năng chống đạn của nó chưa được kiểm chứng. Quá may mắn là chúng tôi không có dịp sử dụng sản phẩm này!
Năm đó thầy Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Phổ thông Trung học Hà Tiên.
Thầy người miền Bắc Trung bộ, dáng cao nho nhã, thường mặc áo kaki màu vàng có nhiều túi.
Mỗi sáng thứ hai đầu tuần sau buổi chào cờ chúng tôi thường có buổi sinh hoạt chung, thầy hiệu trưởng sẽ có những nhắn nhủ, trao đổi với học sinh về kết quả hoạt động của toàn trường trong tuần trước, thông báo kế hoạch cho tuần sau, nhắc nhở học sinh nỗ lực học tập… Thầy cũng tham gia giảng dạy nhưng chỉ dạy môn chính trị. Vào giờ của thầy, học sinh cả ba lớp tập trung vào lớp 10 để học chung. Không biết các anh chị lớp 11 & 12 thế nào, riêng lớp 10 chúng tôi rất ngao ngán môn học khô khan chẳng có gì hấp dẫn này, chúng tôi thường hỏi nhau: “Học chính trị làm chi ha? Nó có ích lợi gì trong cuộc sống?”. Tuy vậy, theo thời khóa biểu đến môn chính trị chúng tôi vẫn vào học nghiêm chỉnh, dù rất ngán ngẩm.
Như một qui luật bất biến, khi học trò không thích môn học nào sẽ kéo theo hệ lụy là nó chán luôn ông thầy dạy môn đó. Mọi việc không có gì đáng nói cho đến một sáng thứ hai, như thường lệ tất cả học sinh vào phòng học của lớp 10 chào cờ và nghe thầy hiệu trưởng trao đổi nội dung sinh hoạt của cả trường trong tuần. Thầy bắt nhịp bài Quốc ca cho học sinh hát theo, dù không hẹn trước mà hôm đó chúng tôi hát được khoảng ba câu đã tắt tịt, tiếp theo là bầu không khí im lặng, im phăng phắc đến nghe được cả tiếng ruồi bay. Mặt thầy đỏ bừng giận dữ.
Dĩ nhiên là chúng tôi mất cả buổi sáng nghe thầy giáo huấn. Trong không gian nặng nề tiếng thầy vang lên sang sảng về trách nhiệm, về vai trò của thanh niên đối với tiền nhân và hậu thế, về những anh hùng liệt nữ đã nằm xuống vì bảo vệ màu cờ, bảo vệ Tổ quốc, về bài Quốc ca là biểu tượng tinh thần bất khuất của cả dân tôc, về việc không ai có thể chấp nhận học sinh cấp III không thuộc Quốc ca (thầy thừa biết chúng nó không thèm hát, làm gì có chuyện cả trường không thuộc Quốc ca). Bài thuyết giảng nghe đau đầu buốt óc, vậy mà khi thầy vừa xách cặp về văn phòng thì đám học trò quay ra tủm tỉm cười với nhau. Lớp 10 mừng rỡ ồn ào như vỡ chợ, đám Bùi Kiệm oang oang: “Ờ, việc gì cũng có cái giá của nó nha, chịu khó nghe thầy hiệu trưởng mắng mỏ mới thoát được 2 tiết toán chớ, toán cũng hắc ám chẳng kém gì môn chính trị mà.”
Tháng 10, lúa chín vàng đồng.
Với mục đích cho học sinh làm quen với lao động và cuộc sống đồng ruộng ở nông thôn, trường Trung học Hà Tiên tổ chức cho tất cả học sinh về Vĩnh Điều (xã Phú Mỹ) gặt lúa cho nông trường. Thời đó chưa có đường nhựa thông thoáng như bây giờ, từ Hà Tiên về Vĩnh Điều chúng tôi đi bằng ghe nhỏ (vỏ vọt loại lớn), sau đó xuống đi bộ theo bờ kênh vào nông trường. Chưa bao giờ chúng tôi được trường cho đi xa như vậy. Lớp 10 đông nhất nên cùng đi trên một ghe, lớp 11 & 12 đi trên ghe thứ hai. Chúng tôi hát hò, gọi nhau í ới. Thật vui.
(Bây giờ nghĩ lại thấy dễ sợ quá, tất cả thầy cô và học sinh đi trên ba chiếc vỏ vọt mong manh mà chẳng hề có chiếc áo phao nào).

Vị trí các xã Thuận Yên, xã Phú Mỹ, Vĩnh Điều so với thị xă Hà Tiên

Kênh Hà Giang, đoạn chảy qua xã Phú Mỹ thuộc huyện Giang Thành. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên

Trên đường vào nông trường, đang mò mẫm men theo bờ ruộng dọc con kênh chúng tôi bị một cơn mưa rào làm tất cả ướt loi ngoi. Bờ đất nhỏ, trơn trợt, chúng tôi đi hàng một bám lưng nhau để không bị té, vậy mà thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng “uỵch, uỵch” và những tiếng cười dòn dã rộn lên. Trong lúc bất cẩn tôi ngã trượt luôn xuống con kênh, không biết bơi nên ngay lúc đó tôi đã nghĩ “Mình chết chắc”. Tôi cảm nhận được khoảng trống ghê rợn bên dưới, chân tôi không chạm vào bất cứ vật gì để có thể bám vào, nước xộc vào mặt mũi, chung quanh tối sầm… Chợt mọi vật sáng bừng lên, có ai đó lôi tôi ra khỏi dòng kênh. Sau phút sặc sụa vì ngộp nước tôi hoàn hồn nhìn lên mới biết bạn Lâm Thanh Phong đi ngay sau lưng, thấy tôi rớt xuống kênh đã kịp lao theo nắm lấy mớ tóc còn bồng bềnh trong nước kéo lên.
(Bạn Lâm Thanh Phong là cháu gọi cô Lâm Xuân Cúc, Lâm Xuân Lý bằng cô, nhà đối diện với tiệm Đồng Xương)
Ơn trời! Nhờ mái tóc dài ngang lưng nên tôi còn sống đến giờ, nếu tóc ngắn thì … ôi thôi, hẳn tôi đã thành con ma chết trôi từ dạo ấy! Hú hồn.
Đến nông trường, chúng tôi được phân xuống 2 dãy nhà, nam riêng nữ riêng, mỗi lớp cử người sung vào đội nhà bếp tiếp các cô nấu cơm cho toàn trường, những học sinh khác sẽ cùng thầy cô ra đồng gặt lúa. Lớp 10 cử tôi và bạn Thúy vào đội “anh nuôi” lo việc cơm nước nên mang tiếng đi gặt lúa mà tôi chẳng có ngày nào bước chân xuống ruộng.
Từ 5h sáng, lúc các bạn còn say ngủ thì đội “tổng khậu” gồm 2 cô giáo và 4 nữ sinh đã thức dậy nấu cơm, 7h khi tất cả ăn xong lục tục ra đồng thì đội bếp núc tiếp tục chuẩn bị cho buổi trưa, sau đó lại lục đục nấu cơm cho buổi chiều. Trong lúc các bạn được sinh hoạt chung với nhau tưng bừng náo nhiệt thì chúng tôi ăn, ngủ trong khu vực dành cho giáo viên, làm gì cũng phải rón rén, ý tứ. Bực chưa!
Thầy trò ăn uống kham khổ, chỉ có bí ngô và cá khô, thỉnh thoảng được nông trường tiếp tế rau xanh, vậy mà lúc nào chung quanh cũng rộn rã tiếng cười. Một hôm, nông trường “cải thiện” cho chúng tôi món thịt chuột đồng rô ti, cả trường phấn chấn hẳn lên, đám con gái có phần e dè với món ăn này, phía con trai thì khỏi phải nói, hồ hởi phấn khởi chén sạch những gì được dọn ra. Riêng tôi, buổi cơm hôm đó không dám nhìn những miếng thịt chuột vàng rộm trong dĩa, đành ăn cá khô và canh bí đỏ như mọi khi. Tôi cũng chẳng để ý xem có thầy cô nào không hưởng ứng món rô ti, nhưng sau đó có lời xì xầm rằng thầy hiệu trưởng sợ thịt chuột đồng.
Trước khu vực nhà bếp và phòng nghỉ của các giáo viên có một cây me to tỏa bóng mát rượi, khi không bận bịu chuyện đồng áng thì thầy cô và các học sinh thường tụ tập dưới gốc me trò chuyện, chơi đùa. Sau khi cơm nước và nghỉ trưa xong, thầy hiệu trưởng sẽ hút một điếu thuốc, đứng chơi với các thầy cô và học sinh trước khi cùng nhau ra đồng. Như mọi khi, vừa nói cười vui vẻ, thầy vừa thò tay vào túi áo kaki phía trên bên trái để lấy điếu thuốc, chợt thầy im bặt, sắc mặt đang hồng hào bỗng chuyển sang xanh xám rồi tím tái, thầy vội vàng cởi bỏ cái áo kaki đang mặc, vất sang một bên rồi bước vội vào phòng. Quá bất ngờ, tôi nhìn chung quanh thì lạ thay, dưới bóng me râm mát vừa cách đó ít phút rất đông các nam sinh chuyện trò ồn ào rôm rả thì bây giờ vắng lặng không còn ai, mấy anh “tan hàng” cũng nhanh chóng như cách thầy vội vã bỏ đi. Tôi lo lắng nhìn chiếc áo của thầy nằm trên nền đất, hoang mang không biết việc gì đang xảy ra, tôi cũng không dám nhặt chiếc áo lên, đành ngơ ngác tìm đường rút lui khỏi “hiện trường”, mang theo hàng tá câu hỏi trong đầu.
Sau nhiều ngày nghe ngóng qua những thì thào to nhỏ và dõi theo những lời thì thầm với ánh mắt lấm lét ngó quanh, thì ra kẻ làm thầy hoảng hốt hôm đó là những chú chuột đồng mới đẻ đỏ hỏn được các anh hốt trọn ổ ngoài ruộng mang về, tranh thủ lúc thầy ngủ đã cho cả ổ chuột con lúc nhúc vào túi áo (khi nghỉ trưa thầy thường khoát áo kaki vào lưng ghế tựa, chỉ mặc chiếc áo thun trắng đi nằm). Tôi rùng mình, lạnh cả người khi nghĩ: “Việc gì sẽ xảy ra nếu là mình, bất chợt vô tình chộp vào đám chuột con mềm nhủn loi nhoi trong túi áo?”. Trời ạ, té xỉu tại chỗ chứ chẳng chơi!
Dù rất cố công tìm hiểu mà đến nay tôi vẫn không biết anh nào đã cả gan trêu thầy hiệu trưởng trò đùa tai quái đó. Tưởng thầy sẽ truy tìm thủ phạm và trút cơn thịnh nộ lên đầu bọn nghịch ngợm quái ác nhưng những ngày sau thầy vẫn sinh hoạt, nói cười bình thường, không hề nhắc gì đến chuyện kia. Hẳn thầy quá hiểu “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Chẳng biết sự việc có đúng như những xì xào truyền tai nhau giữa đám học trò hay không, chỉ thấy các nam sinh vẫn tụ tập dưới gốc me đùa giởn vô tư với các thầy cô như không có chuyện gì xảy ra…
Trải qua bao năm tháng, những kỷ niệm của thuở cắp sách đến trường ngày ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi như mới vừa hôm qua, nhắc lại để chúng ta cùng nhớ về một thời áo trắng dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa.

Tác giả bài viết: Trương Thị Uyên My

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Niên học đau buồn 1977-1978 (Quang Nguyên)

Niên học đau buồn 1977-1978.

Hà Tiên là vùng đất xung yếu đã quen với việc đao binh từ xưa lắm, trong ba thế kỷ trước cha ông ta đã phải đương đầu với việc quân Xiêm nhiều lần xâm lược nước Việt, mà bước chân đầu tiên của họ đặt trên đất chúng ta là Hà Tiên… Có thể nói, dân Hà Tiên rất “nhạy cảm” với giặc giã, việc này được người dân xứ  Hà Tiên “thấm nhuần” đến thành phản xạ, cứ một ai đó chỉ cần vừa chạy vừa la “tới rồi, tới rồi….!”, thì cả thị trấn rùng rùng bỏ chạy, bỏ cả chuyện làm ăn, chợ búa, sinh hoạt đời thường.…Gom đồ đạc hàng ngày bỏ lên xe cây để chạy khỏi Hà Tiên qua một cửa ngõ duy nhất là vượt cửa biển Hà Tiên qua đất Tô Châu.

Cũng có khi là “báo động giả”, và sau đó mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường, nhưng có một đêm nọ khi cả thị trấn nhỏ bé mà không bình yên này đang êm đềm trong giấc mộng, thì cái “loa phường” làm một công việc mà theo tôi là “ý nghĩa” nhất của sự tồn tại của nó, nó bắt đầu rột rẹt, rột rẹt… Vào tầm hai giờ sáng! Lần này thì không giả nữa rồi, cả cái mạng Ô-pạc-lưa (haut-parleur) mà chính quyền đã bố trí chỉ trong vài trăm mét đường kính có một cái, hàng chục cái “loa phường” ấy đã bất thần đồng loạt hoạt động, nó dựng tất cả người già, trẻ nhỏ, nam phụ lão ấu của xứ Hà Tiên thức giấc cùng một lúc để … di tản! Hàng ngàn con người rùng rùng kéo ra bến đò bằng đi bộ, xe đạp, xe gắn máy…v..v.. Những nhà có xe cây thì chất lên đấy những vật dụng cần thiết nhất để duy trì tối thiểu cuộc sống hàng ngày, riêng chiếc xe cây nhà tôi thì có thêm một bầy… ba bốn đứa con nít, vì chúng còn quá nhỏ để đi bộ trên con đường QL 80 mà ngày ấy còn nhiều đá cấp phối lô nhô lổ chỗ…

Cây cầu phao nổi tiếng của xứ Hà Tiên lúc ấy không còn nữa vì chuyện an ninh quốc gia, người Hà Tiên cũng quen với việc nhìn chính quyền làm gì với cây cầu mà dự báo chuyện sắp tới, hễ ngăn hai đầu cầu lại và rút một khúc ra là việc mở cầu cho tàu lớn qua lại hàng ngày, nhưng cây cầu này mà bị kéo đi đâu mất tiêu thì họ biết chắc là sẽ “có biến”… Dạo ấy cầu đã bị dỡ đi, toàn bộ người dân Hà tiên đã bị ngăn cách với đầu bên kia quốc lộ bởi con sông Giang Thành thơ mộng chảy ra cửa biển Hà Tiên mà chỗ hẹp nhất cũng vài trăm mét. Để giải quyết việc di tản qua sông thì chính quyền cho người dân qua lại bằng phà, mà phà thì chờ đợi hơi lâu nên người dân có thêm vài chiếc đò ngang được cải tiến từ ghe tam bản loại nhỏ thêm be và nâng sàn, gắn thêm mỏ bàn bằng cây ván để xe máy và xe cây có thể lên được…Tất cả các phương tiên khả dĩ đưa được người dân qua sông được trưng dụng tối đa.

Việc di tản từ khuya đó kéo dài đến vài hôm sau mà không có động tịnh gì, thế nhưng mọi sinh hoạt của người Hà Tiên bị xáo động từ hôm ấy…

Bọn học sinh chúng tôi ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông để tránh tầm pháo… Tôi nhớ không lầm thì học trò cấp một học ở các điểm Tô Châu, chùa Ông Bắc ở eo Bà Má. Học trò cấp hai thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, họ bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính lứa thầy trò học sinh của chúng tôi dọn trường này trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên mà Mr. Mãnh đã thân thương làm chủ đề Blog này)

Vị trí tương đối giữa Hà Tiên – Rạch Núi – Thuận Yên

Niên học đó như đã nói trên chúng tôi học tại điểm Rạch Núi cách Hà Tiên khoảng 4 km, việc học gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu bàn ghế và phòng học, thường xuyên phải nghỉ học vì thiếu giáo viên, môn ngoại ngữ là bỏ hẵn… Bọn học trò chúng tôi hễ cứ được nghỉ là sướng rân cả lên, đi chơi thoải mái, thời gian đó chúng tôi được học rất ít, việc bỏ tiết là chuyện rất bình thường, có khi trống tiết vì không có giáo viên, nhưng cũng có khi giáo viên vào trễ hay bệnh mà trường không biết được để thông báo, vì thực tế còn một số giáo viên còn bám trụ ở lại thị trấn Hà Tiên mà giao thông thì cách trở  còn phương tiện liên lạc thì không có gì…

Buổi sáng hôm ấy đã không như mọi buổi sáng bình thường bởi đêm hôm trước Miên đỏ pháo kích quá chừng, có những quả đạn pháo vượt qua cả núi Tiểu Tô Châu, có nghĩa vùng di tản này cũng không còn là an toàn … Trước đó, sau cái đêm “tản cư bắt buộc” đó, do thấy “êm êm” nên một số người dân quay về Hà Tiên dù chính quyền không khuyến khích, sáng nay vì vụ pháo kích đêm hôm nên thêm những dòng người “di tản tự nguyện” từ Hà Tiên chạy qua Thuận Yên mà theo họ – đêm hôm “Miên đỏ pháo như cơm sôi!…”. Để khẳng định cho điều họ nói là các xe hồng thập tự của quân đội, xe của người dân liên tục đưa người bị thương ở Hà Tiên qua Kiên Lương, hay gần trường tôi học là các trạm xá của quân đội và trạm y tế xã Thuận Yên cũng đã tiếp nhận nhiều ca dân sự thương vong …

Đám học trò chúng tôi bàng hoàng ngơ ngác vì nghe tin đồn có thầy cô bị thương trong trận đêm hôm, nhất là khối lớp tám (tôi đang học lớp bảy) bơ vơ như đàn gà không mẹ chạy tới lui nhớn nhác, vì đã đến giờ học mà không thấy cô Mai (dạy Sinh Vật) đến lớp? Có người báo cô Mai bị thương, nhưng tất cả chỉ nghe “tin đồn”, mà người dân Hà Tiên mình cũng “ác liệt” lắm, lời đồn thường được “thổi” lên quá đáng, thôi thì tạm tin “chắc không có gì đâu!”, có ai đó đã nói bâng quơ…

Cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy Sinh Vật) và thầy Trương Tự Cường (dạy Toán) là giáo viên từ Sài Gòn về (hình như vậy), thầy cô rất hiền, hai người có một đứa con nhỏ chừng hơn một tuổi, tôi còn nhớ cô Mai cao và to người, gương mặt buồn, khuôn trăng đầy đặn và tóc cắt ngắn… Cô cũng từng dạy thế cho lớp chúng tôi một vài lần, còn thầy Cường dạy Toán, thầy dạy lớp trên lớp chúng tôi… Gia đình thầy cô còn ở lại Hà Tiên, sống tạm trong một căn phòng học bên trường Tiểu Học, là căn phòng kế bên phòng Ban Giám Hiệu của trường Tiểu Học bấy giờ, hàng ngày thầy cô đạp xe qua Thuận Yên để dạy bọn học trò chúng tôi, để bảo đảm rằng trong mọi trường hợp dù chiến tranh bom đạn, thầy cô nói chung cũng không để chúng tôi bị dốt chữ…

Nghe cô Mai bị thương bọn học trò lo lắng, cả đám cùng các thầy cô ở trường cùng kéo nhau lên trạm y tế xã Thuận Yên, nhiều giờ trôi qua mà không thấy tin tức gì thêm, vì quân đội ngăn không cho vào khu cấp cứu quân y là một dãy lán trại mở tạm dọc theo bên hông trạm y tế, cạnh QL 80 mà đi về phía mé biển…Thế nhưng, chuyện tệ hơn thế nhiều, một người nào đó vào được và gặp thầy Cường, thầy Cường cũng bị thương nhẹ sau lưng, người ấy trở ra thấy nói chuyện gì đó với các thầy cô khác với gương mặt nghiêm trọng… Một đứa học trò nữ nghe lõm được câu chuyện chợt hét lên:

         –  “Cô Mai chết rồi tụi mày ơi!..”

Đám con gái nháo nhào, nhiều đứa bật khóc…

Nhưng đâu nào phải một mình cô Mai!! Đứa con duy nhất của thầy cô cũng chết cùng với mẹ, tuy nhiên phải đến khi thầy Cường tỉnh táo khi được cấp cứu, thầy mới cho hay rằng trong gia đình còn có đứa con nhỏ, thì cả buổi sau người ta mới tìm thấy đứa trẻ đã chết tự bao giờ với một vết thương không còn nhận ra gương mặt (chuyện về đứa bé tôi chỉ nghe kể lại)…

Đêm hôm ấy đám học trò chúng tôi và các thầy cô ở Thuận Yên (và các trường khác nữa) đến trạm xá để chia sẻ nỗi đau thương chất ngất của thầy Cường… Ngọn đèn điện trở vàng vọt tù mù được treo cao trên đòn dong nhà của lán trại quân y, mà ánh sáng của nó cứ lập lòe lên xuống theo vòng quay không ổn định của chiếc máy dầu Diesel nhỏ gắn cái dynamo tự chế, dưới ngọn đèn tù mù mà cứ lập lòe đó là hai chiếc quan tài tềnh toàng thời chiến được đóng vội vàng, một chiếc lớn một chiếc nhỏ có cắm mấy cây đèn cầy đỏ leo lét ở hai đầu, những dòng sáp đỏ chảy xuống như những dòng huyết lệ, cái thứ đó mau chóng khô quánh lại quyết bám chặt vào sự sống động duy nhất là ngọn lửa đong đưa phía trên của nó, còn chiếc đèn điện trở quái quỷ kia cứ chập chờn trên xà nhà làm cái bóng của hai chiếc quan tài mẹ con kê song song trên những “con ngựa gỗ” cao năm bảy tấc, hai cái bóng hình chữ nhật một đôi lớn nhỏ khi tỏ khi mờ cứ như bước tới bước lui trên nền nhà được đầm nén chặt bằng đất núi…

Khung cảnh vô cùng tang thương mà rờn rợn…

Cũng ngay đêm hôm đó có xe đưa cả gia đình thầy Cường về Sài Gòn, cho đến nay chúng tôi chưa một lần gặp thầy Cường trở lại…

Mong rằng ở đâu đó, nếu như thầy có đọc được câu chuyện này thì xin thầy hiểu cho rằng chúng em không phải muốn gợi lại đau thương của thầy, mà chúng em luôn nhớ về thầy cô những người đã hy sinh cả tinh thần, sức lực và thể xác cho tương lai của từng đứa hoc trò chúng em…

Bởi chúng ta hiểu, để ươm mầm và vun tưới cho rừng hoa kiến thức của lứa học trò chúng ta là máu của cô và nước mắt của thầy, chúng ta tuyệt đối không bao giờ được quên điều đó…

                    Quang Nguyên  (11/2017)                                                              

 

 

 

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên (thuộc Thị Xả Hà Tiên) 2014

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên (thuộc Thị Xả Hà Tiên) 2015

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên có khúc cặp mé biển

Hình ảnh: Trương Minh Quang Nguyên, Pham Bao Thanh Huyen, Nguyen Van Thuan, Thanh Kieu, sưu tầm trên mạng

Những khuôn mặt thân quen (Cô Dương Thị Minh Hoa)

Thầy Cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn học trường Tiểu học Hà Tiên, mình còn nhớ thầy Hà Phương Linh dạy lớp tiếp liên của mình có nói một câu rất hay khi một bạn học đem một tấm thiệp Xuân lên tặng thầy: « Ngày sau dù các em có ở những phương trời xa xôi như Paris hay New York thì cũng đừng quên Thầy Cô dạy các em nhé,…. ». Ngày nay dù ở nước Mỹ xa cách trường lớp của Hà Tiên, các bạn cùng Trường của chúng ta vẫn thực hiện lời căn dặn của thầy …Các bạn đã không ngại xa xôi tuy cùng ở nước Mỹ nhưng cũng túi xách lên đường đến thăm cô Dương Thị Minh Hoa và đã may mắn được cô đãi ăn một trái mít rât to lớn…làm cho cả nhóm nhớ lại những trái mít hái trộm của Ông Từ Ngươn trên Lăng Ông Mạc Cửu khi có những giờ vắng tiết học lên núi Lăng chơi…Mời thầy cô và các bạn xem bài cô viết về cuộc viếng thăm nầy nhé,..(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Những khuôn mặt thân quen…

Một cuộc hội ngộ bất ngờ của thầy trò chúng tôi nhân dịp các em đi đám cưới con của Sáu Bùi. Hơn 40 mươi năm mới gặp lại tôi tưởng rằng đã quên không dể gi nhận ra các em, nhưng không ngờ những khuôn mặt thân quen đó đã nằm sâu trong tiềm thức, tôi nhận ngay được những khuôn mặt quen thuộc không khác gì ngày xưa ngoài những nếp nhăn bị ghi dấu theo thời gian, chỉ có tên là nhớ hơi lộn xộn. Tất cả khoảng 60 tuổi nhưng các em còn rất trẻ, cô rất vui khi các em còn đủ sức la hét không khác gì khi còn học lớp sáu hoặc bảy, ông hàng xóm sát bên nhà tôi người Mỹ họ sống rất trầm lặng với một con chó và một con mèo, tôi nghĩ hôm đó ông ấy rất ngạc nhiên sao nhà tôi hôm nầy dậy sóng, đúng rồi !! sóng thần từ Hà Tiên đã tràn sang Cali.

Một niềm vui tràn ngập mà tôi không thể nào tưởng tượng nổi. Tôi quá cảm xúc, tôi đã hồi hộp từ trước đó mấy ngày trông gặp lại các em, huyết áp tôi lên 160 mmHg tôi cũng hơi lo và em Hạnh cũng lo cho tôi, em cứ hỏi thăm «Cô khoẻ không, cô đừng lo tổ chức gì để tụi em lo hết, cô lo mệt huyết áp lên tụi em tới thăm không gặp được cô», nhưng không ngờ gặp các em vui quá huyết áp tốt hơn bao giờ hết, chỉ hơi mệt thôi.

 Các em có ghé thăm cô mới cảm nhận được tình thầy trò thắm thiết hơn mình nghĩ, các em dễ thương quá, gần sáu mươi tuổi rồi vậy mà gặp lại cô giáo cũ, bạn cũ các em dường như trẻ lại quậy phá nhau la hét ầm ĩ và cũng theo nũng nịu với cô như ngày xưa thật là dễ thương, em nào cũng nói là « em thương cô nhất » làm cô cảm động, cô không ngờ các em thương cô nhiều đến như vậy, câu nói này là một món quà vô giá mà cô sẽ giữ nó đến cuối đời. Các em kể nhau nghe những chuyện ngày xưa qua 40 năm mà còn như mới, không quên một chi tiết nào từ những bức thư tình đến những lá thư hồi âm mà cả lớp cùng viết, làm cả đám cười vui, một niềm vui thật sự. Ông xã của cô lần này bị hạ knock out rồi, anh nhận là anh thua em vì học trò của anh không la lớn bằng học trò của em !!! Các em đến nhà cô chơi rất tự nhiên, xem như nhà của cha mẹ, thích món gì thì đòi món đó, may mắn cô đã chọn được trái mít thật ngon cho các em, cô cố tình chon trái mít lớn hơn trái mít mà Hoàng Thị Mình Liên đã đãi cô Loan, không biết có hơn không? Các em đã mang quà đến cho cô thật nhiều,mặc dù đi máy bay phải đóng gói kỹ lưỡng, phải có một tình cảm gắn bó lắm mới chịu khó như vậy.

Trái mít của Cô Dương Thị Minh Hoa đãi học trò đến thăm cô.

Bùi Văn Sáu, Đỗ Ngọc Giao, Cô Dương Thị Minh Hoa (áo tím), Tạ Văn Ba (phía sau), Trần Kim Mỹ, Hồ Thị Kim Phượng, Thanh (phía sau), Lâm Mỹ Nga, Tiền Ngọc Hương (mang kính đen), Hồ Thị Kim Hoàn, anh Nguyễn Văn Xuân, Mai Phạm, Phù Ngọc Liên, Tô Văn Hạnh

Hồ Thị Kim Phượng, Bùi Văn sáu, Cô Dương Thị Minh Hoa, Bùi Văn Bình, Tiền Ngọc Hương, Lâm Mỹ Nga

Hồ Thị Kim Phượng, Bùi Văn Sáu, Cô Dương Thị Minh Hoa,Tiền Ngọc Hương, Lâm Mỹ Nga, Thanh

Sáu Bùi xách cho cô giỏ quít khi gặp cô vừa cười vừa nói « em hái chỗ đậu xe nè cô », cô tuởng thật nghĩ trong đầu anh chàng nầy vẫn còn phá như hồi lớp sáu lớp bảy, nhưng đến khi em Hạnh nói quít này của Sáu Bùi trồng nè cô, nhà Sáu Bùi trồng nhiều quít lắm cô mới hay là mình bị lừa.

Quả thật dưới mắt cô các em vẫn còn bé nhỏ như hồi xưa và các em vẫn cười nói lung tung như ngày nào, có điều các em lớn biết lo cho cô hơn cứ sợ cô mệt không dám làm phiền. Thuở nhỏ cô có anh em đông mấy anh la hét tới đâu thì cô cũng theo tới đó, thích la nên khi dạy học có điều kiện cô dẫn khoảng 40 em học sinh (cô không nhớ lớp nào) đi ra bãi biển Thuận Yên chơi, có bày trò cho các em la, học sinh chia làm ba nhóm A B C, nhóm A nói, nhóm C nghe và nhóm B ở giữa có nhiệm vụ la, hét như thế nào để nhóm C không nghe được là thắng, rồi cứ đổi phiên nhau các em có dịp la thỏa thích, vui quá, làm gì còn có dịp như vậy nữa.

Đỗ Ngọc Giao, Tạ Văn Ba, Cô Dương Thị Minh Hoa, Tô văn Hạnh, Bùi Văn Sáu

Hồ Thị Kim Phượng, Lâm Mỹ Nga, Cô Dương Thị Minh Hoa, Tiền Ngọc Hương, Mai Phạm ….với trái mít đã được cắt ra từng miếng đãi học trò…

 Cô cảm ơn các em đã đến thăm cô và mang lại cho cô tình thầy trò nồng thắm làm cô vui trong cuối đời còn lại. Cô gửi lời thăm các bạn và tất cả học sinh Hà Tiện xưa, thăm em Tiền Ngoc Dung thường đến nhà trọ cô chơi ngày xưa và thăm Bùi Thị Dung. Cô rất tiếc là huyết áp cô cao nên không đủ sức kết friend đề liên lạc với các em, mong các em hiểu cho cô, lúc nào cô cũng nhớ các em, nhớ Hà Tiện, nhớ Việt Nam thân thương.

Dương Thị Minh Hoa (cựu giáo sư Trường Trung Học Hà Tiên)

Tái bút: Cám ơn Tô Văn Hạnh đã cung cấp chi tiết họ và tên các bạn trong hình.

Hình ảnh: Cô Dương Thị Minh Hoa

Trường xưa (Trương Thanh Hùng)

Trường xưa

Từ khi vô tình phát hiện trang “Trung học Hà Tiên xưa” trên mạng, hầu như ngày nào tôi cũng mở đọc, có ngày mở đến ba, bốn lần, đọc hết các bài viết, đọc những lời bình luận, trao đổi. Chỉ mới vài tháng thôi mà đã trở thành thói quen, gần như là “ghiền”. Đọc đi, đọc lại mãi vẫn không thấy chán. Những ký ức tưởng đã chìm vào dĩ vãng được tái hiện trong đầu và đó cũng là động lực thôi thúc tôi phải viết về ngôi trường của mình, về một phần cuộc đời mình gắn bó với quê hương Hà Tiên và ngôi trường nhỏ bé của chúng ta. Hết sức cám ơn anh Mãnh đã lập ra trang mạng này.

Dù không sinh ra ở Hà Tiên, nhưng Hà Tiên đã giúp tôi trưởng thành. Nói hơi cường điệu một chút là “Khí thiêng sông núi” và ngôi trường trung học Hà Tiên (trước đó là trường tiểu học Hà Tiên) đã nuôi dưỡng và đào tạo nên tôi của ngày hôm nay. Dĩ nhiên cũng đào tạo các bạn tôi có sự thành đạt như ngày hôm nay.

Nhớ khi thi tuyển vào trường Sư phạm Vĩnh Long, trong môn “Khả năng sư phạm”, thầy Võ Ngọc Bỉ hỏi tôi học trường nào. Như một sự vô thức, tôi trả lời ngay là học ở Hà Tiên, mặc dù tôi đã học ở trường Nguyễn Trung Trực năm cuối bậc trung học. Thầy Bỉ hình như có cảm tình ngay, hỏi tôi về Hà Tiên thập cảnh, bởi Thầy cũng từng đến Hà Tiên. Sau này, tôi có dịp đi nhiều nơi, bất cứ nơi nào, khi biết tôi là người Hà Tiên thì cũng đều dành cho cảm tình khá đặc biệt.

Hôm nay, gọi là khai bút đầu năm, tôi lại viết về Hà Tiên và ngôi trường thân thiết của mình. Lần này xin được kể một vài chuyện của lớp 11A năm học 1970-1971.

Hình như học sinh của nhiều trường có tập tục rất hay là “Họp bạn đầu năm”, có khi vào ngày mùng 2 tết (Mùng hai tết bạn), cũng có khi vào một ngày đầu năm nào đó thuận tiện. Riêng lớp chúng tôi thường họp vào mùng 2 hoặc mùng 4.

Hung_Hien_Hung_Trung_Chu_Kiet_THHTTrước lớp học Trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền, Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt

Trong lớp chúng tôi có bạn Lý Minh Chữ, nhà ở Bãi Nò, có lẽ là người gốc Hoa, rất hiền lành, lại học giỏi, sức khỏe rất tốt. Năm học chung với tôi ở lớp nhất, có lần cả lớp bị thầy bắt đánh mỗi đứa mấy roi, riêng Chữ thì không. Sang trung học, mỗi ngày Chữ đạp xe từ Bãi Nò đi học rất siêng năng, hình như bạn bè cùng lớp ai cũng mến Chữ. Sau này Lý Minh Chữ lập gia đình và sống ở Thuận Yên, hiện con cái đã thành đạt. Rất mừng. Nhưng Chữ thì hình như sức khỏe không được tốt lắm. Mỗi lần đi ngang qua Thuận Yên, tôi đều có ghé nhà Chữ uống một vài chai la ve rất vui.

Bãi biển « Bãi Nò » Hà Tiên ngày nay (hình Thontran)

Nhớ năm đó, bạn bè ra họp bạn ở nhà Lý Minh Chữ. Số người đi không đông, nhưng tôi chỉ nhớ có Dương Hà, Lâm Xuân Mỹ, Tăng Kim Sơn, Châu Ngọc Mỹ. . . và vài bạn khác. Lúc đang ở giữa đường từ ngoài lộ vào bãi biển, có người gánh một gánh nước thốt nốt bán. Chữ gọi lại mua mời bạn bè uống. Chữ nói: “Mời các bạn uống thứ nước của quê hương tôi”. Nước thốt nốt uống lần đầu mà nhấm nháp thì hơi khó bởi mùi hôi khói rất đặc trưng. Các chị nhấp một miếng rồi nói uống không được, Chữ hơi buồn. Đến phiên tôi cầm ly, biết là hơi khó uống vì mùi vị nên tôi nín thở ực một hơi hết ly không thèm nghe mùi. Lúc nín thở uống thì chỉ thưởng thức được vị, mà vị của nước thốt nốt thì ngon hơn nước mía xa lắc. Uống xong, thở ra thì đúng có mùi khói xông ống tre nhưng không chỏi lắm. Sau này tôi lại rất thích uống nước thốt nốt, và cái mùi ấy cũng thật dễ thương.

Maison_LXMY_4Lâm Xuân Mỹ trước ngôi nhà mới ngày nay

TruongThanhHung_NayTác giả Giá Khê Trương Thanh Hùng

Sau đó xuống mé biển Bãi Nò vui chơi, ăn uống. Tăng Kim Sơn “nổ” đủ thứ làm nhiều người cười no bụng. Có một lần cũng họp ở Bãi Nò tôi có mời Dương Văn Hiến theo, mà tài pha trò và ảo thuật của Hiến thật tuyệt. Anh em chọc Tăng Kim Sơn đã gặp phải đối thủ nên nín luôn.

TangKimSon (2) TangKimSon (3)

Tăng Kim Sơn trước ngôi nhà xưa (1970), ngôi nhà nầy nay không còn nữa thay vào đó là một công viên.

Tết năm 1975, anh em kéo vào nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ họp vào ban đêm cũng rất có ấn tượng.

DuongVanHienDương Văn Hiến ngày nay định cư ở thành phố Floride nước Mỹ (nay Hiến đổi tên mới là Hiếu)

Sau này cũng có nhiều lần họp bạn. Tuy đã “lớn” nhưng khi gặp nhau thì cũng giỡn hớt như thời còn đi học. Có một lần anh em họp vào ngày rằm tháng giêng ở quán Ti La, có chị Châu Ngọc Mỹ về, tôi lại bận việc không đến dự được, thật là tiếc. Có lẽ anh em cũng trách tôi nhưng cũng không biết làm sao vì lúc ấy tôi còn đang làm lễ trên đỉnh Núi Lăng.

Tôi cảm nhận tình bạn học có gì đó rất thiêng liêng nên cho dù sau này dù có cách xa, mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhưng khi gặp lại đều xem như một sự may mắn và dành cho nhau tình cảm như hồi còn đi học.

Ngày mai, mùng 2 tết, Trần Tuấn Kiệt và anh Hào có hẹn đến ăn tết với tôi ở Sài Gòn. Vui!.

Năm mới, chúc tất cả Thầy cô và các anh chị, bạn bè cùng học lời chúc tốt đẹp nhất.

                                           Giá Khê (Trương Thanh Hùng)

                                    Sài Gòn, ngày mùng một tết Bính Thân.

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Tăng Kim Sơn, Trương Thanh Hùng, Dương Văn Hiếu, Lâm Xuân Mỹ, Hà Mỹ Oanh