Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một thời gian bận rộn với công việc làm, cây bút quen thuộc Quang Nguyên đã trở lại với Blog chúng ta vẫn với một phong cách tả chân, hiện thực và vui nhộn…Dù cho đề tài viết về sự mất mát một người bạn, một người anh thân thuộc, nhưng tác giả vẫn giữ một phong cách tích cực để nói về sự mất mát đó,…Có lẽ đó là một cách tốt đẹp nhất để vinh danh và tưởng nhớ về anh bạn đã ra đi…Đầu bài viết tác giả có nói là « mắc nợ » mình về lời hứa sẽ viết một bài về anh Nguyễn Đình Nguyên (nhân về sự chia tay vĩnh viển gần đây của anh Nguyên đối với chúng ta), nếu ai cũng « sốt sắng » « trả nợ » theo kiểu như Quang Nguyên thì Blog của chúng ta rất phong phú bài vở,…Nói cho vui chứ mình đâu dám kèo nài thầy cô và các bạn để có bài vở đóng góp, chỉ khuyến khích và mong mỏi rằng do niềm hứng khởi và nỗi lòng nhớ trường lớp, bạn bè thầy cô mà ngày chúng ta sẽ có nhiều thêm những bài viết nói về đề tài đó…

Ngày xưa ở Hà Tiên thầy cô và các bạn đều biết là mình và Nguyễn Đình Nguyên tuy không học chung một lớp nhưng hai người là bạn rất thân, mỗi chiều hai đứa đều tản bộ đi vòng vòng Hà Tiên và cuối cùng là dừng chân bên các băng đá Đài Kỷ Niệm để hóng gió…Vì thế khi chưa rời ghế nhà trường Hà Tiên, mình đã biết Đình Nguyên dưới hai khả năng có thể nói là « rất cao cấp », đó là tài ca hát và tài hội họa của anh. Ai cũng biết là bạn Đình Nguyên có một giọng ca rất hay, trầm ấm ngân nga, nhất là các bài hát « ruột » của anh: Giọt mưa thu, Ngủ đi em, …Còn về tài vẽ hình thì như mình đã viết trong nhiều bài về bạn Nguyễn Đình Nguyên, bạn có tài vẽ chân dung rất hay, thường dùng khói đèn để chấm phá các nét đậm, lợt…vì thế có một thời Đình Nguyên đã là nơi đặt hàng của biết bao cô gái đi buôn bán ở Hà Tiên, muốn có một tấm hình chân dung bằng hình vẽ…

Về ngành chụp ảnh, mình cũng đã có từng thấy Đình Nguyên hoạt động rồi, đó là vào thời kỳ những năm đầu của thập niên 90, khi mình có dịp lần đầu tiên trở về thăm quê nhà Hà Tiên sau 8 năm rời VN. Lúc đó mình gặp Đình Nguyên tại bãi biển Mũi Nai, vai đeo máy ảnh như tác giả Quang Nguyên đã viết trong bài…Đình Nguyên cũng có chụp cho nhóm mình nhiều bức ảnh tại biển Mũi Nai…Tuy nhiên quả thật mình không hề biết các hoạt động về việc giao hình cho khách…Mình cũng không tưởng tượng ra là muốn giao hình đến nơi cho khách lại phải bôn ba đi xe đò đến tận nơi những chỗ ở của từng người khách để giao hình và nhận tiền thù lao…Hôm nay đọc bài bạn Quang Nguyên viết mình mới thấy cái khó nhọc và kiên nhẫn, hay ho của đôi tay nghề « Đình Nguyên và Quang Nguyên »…Thật vậy, phải có một lòng kiên nhẫn, sự tính toán đầy tính chất « kế toán thương mại » và sự quyết tâm vượt khó khăn để « xoay trở » trong những lúc khó khăn về kinh tế như vậy, hai bạn Đình Nguyên và Quang Nguyên mới có đủ sức mạnh và ý chí để hoạt động trong ngành chụp và giao ảnh…Về cách thức bám theo khách, chìu khách và cố vấn cho khách để chụp được nhiều ảnh cho khách thì mình cũng đã hiểu phần nào, nhưng các hoạt động về sự giao hình cho khách thì mình quả thật mới biết qua bài viết mô tả chi tiết của Quang Nguyên…Mình cũng không thể tưởng tượng là phải lên đường, đi từng tỉnh từng quận để tìm ra nhà các khách đã từng có chụp hình với nhiếp ảnh gia Đình Nguyên, để rồi lại phải thuyết phục là hình rất đẹp, nhân vật trong ảnh rất có duyên, người quá « ăn ảnh »… »nếu cô, chị, anh bạn không lấy các tấm hình nầy thì rất uổng công đến Hà Tiên »,….v…v….Càng lại không thể tưởng tượng được hơn khi mà ta muốn giao ảnh mà lại không có địa chỉ của khách để đi giao !!??  Người giao ảnh Quang Nguyên lại phải trổ tài trinh thám tư để tìm ra cho được từng chi tiết nhỏ có liên quan đến địa chỉ của khách như đã viết trong bài…Đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, mình quả thật rất phục và nể tác giả, đúng như vậy khi ta muốn thành công và đạt được mục đích, không phải cái kết quả tốt đẹp nó tự động đến với mình mà mình phải ra tay thực hiện, phải đối đầu với mọi khó khăn, không nản chí thì mới đạt được mục đích…Có lẽ tất cả những đức tính hay đó Quang Nguyên đã tự trau dồi, tự trang bị cho mình ngay từ khi có những bước khó khăn đầu đời, ngay cả khi còn ở ghế nhà trường, nên sau đó ngay lúc mà giai đoạn « giao hình » trong đời sống đã qua đi, tác giả Quang Nguyên vẫn còn hưởng được những ảnh hưởng tốt đẹp, có lợi của những đức tính nói trên…Đó là điều mà mình thán phục nhất về Quang Nguyên, và có lẽ cũng nên lấy đó học hỏi cho bản thân mình, nếu từ rày về sau, trong cuộc đời có gặp nhiều khó khăn đến đâu, hãy cố gắng khắc phục và đối đầu với những khó khăn đó hơn là chùng bước hay than phiền…Bây giờ nghĩ lại mình mới hiểu là tại sao trong giờ phút hiện tại nầy, cương vị của tác giả Quang Nguyên được tốt đẹp như hôm nay……Xin kết thúc phần viết lời giới thiệu bài viết của tác giả Quang Nguyên về người anh, người bạn quá cố Nguyễn Đình Nguyên bằng một vài nét tích cực như vậy…(TVM, viết xong ngày 04/10/2019)

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Tôi đã “mắc nợ” Mr. Mãnh về một bài viết về một người quen thuộc của Hà Tiên chúng ta vừa mới rời xa cuộc đời… Thời gian gần đây “quỹ thời gian” của tôi bị thâm thụt trầm trọng nên không có “số dư” để “trả” cho Mr. Mãnh, dù tôi cũng thích viết lách kiểu “văn nghệ” để tự thư giãn, tự cân bằng tâm thần cho cuộc sống bon chen mà mình lỡ xuất hiện trên cuộc đời này để rồi tự dính dáng vào như mắc phải cái bẫy keo dính chuột!
Thỉnh thoảng chúng ta nghe tin một người quen biết cũ mất đi, dù chỉ sơ giao nhưng lại mang đến cho chúng ta những cảm giác lạ kỳ rất thật, giật mình bàng hoàng hay một cảm giác hoang mang mơ hồ khiến chúng ta phải nghĩ “thật hay không?”, rồi cố nhớ rằng lần gần nhất mình gặp họ khi nào, để làm gì khi ấy, và mình đã trao đổi những gì trong cái quá khứ đôi khi là rất xa ấy…?
Hôm nọ tôi nghe tin anh Đình Nguyên mất, thật sự cũng như bao nhiêu lần mình nghe một ai đó mình có quen biết mà mất đi thì cảm giác tiếc thương luôn ập đến… Đó cũng là chuyện bình thường mà? Cái không bình thường khiến ai cũng nao lòng là anh ấy đã rời xa chúng ta thật lặng lẽ, thật riêng tư, thật kỳ lạ và “bình yên” như khi anh ấy sống, anh đã chọn cho mình một cách dấn thân vào cuộc đời rất “cá nhân”, một cách đối diện bình thản có chút rụt rè và tồn tại độc lập trong vạn sự quay cuồng trộn lẫn lộn xộn của thời cuộc…
Tôi rất nhỏ so với tuổi tác của anh Đình Nguyên, ngày còn nhỏ tôi vẫn thường gọi “chú Nguyên!” dù anh ấy là bạn của chị tôi, tôi vẫn nhớ mái tóc chải chuốt thẳng nếp, cái dáng đi nhẹ nhàng đôi khi anh nhìn xuống chân mình như để xem đủ chỉnh chu chưa? Và anh hay đi bộ, bước đi khoan thai của loài mèo mà như anh Phước Dương đã kể rằng đó là những con “thú cưng” mà anh rất thích. Thỉnh thoảng đang bước trên đường anh tự “điểm xuyết” thêm cho cái riêng – đã rất riêng – ấy của anh bằng việc nắm hờ bàn tay đưa lên miệng che nhẹ nhàng tiếng “tằng hắng” thoát ra dù không đủ lớn để phiền mọi người. Gặp người quen đi qua đối diện sẽ có một nụ cười xả giao vừa đủ nở trên gương mặt đăm chiêu của anh và rồi nó vội vụt tắt như cái kiểu mà nó xuất hiện, để rồi tiếp tục đăm chiêu mà anh bước tiếp, trông anh lúc nào cũng đang suy tư về một việc gì đó …
Người Hà Tiên gọi anh là “Nguyên họa sĩ” dù không có mấy người tên Nguyên trong xứ sở này? Nhưng tên gọi đó cũng là cách mà cộng đồng công nhận một khả năng hay tài năng của anh, tôi không hiểu biết về hội họa nhưng tôi đã từng hàng giờ ngồi xem tại nhà anh, anh vẽ truyền thần một bức ảnh chụp để thờ tự mà ai đó đã đặt anh vẽ, bức vẽ rất sống động, rất trung thực dù chỉ bằng bột than bút chì, muội đèn với kỹ thuật đậm – nhạt – bóng – sáng… Tên “Nguyên họa sĩ” theo tôi hợp với anh nhất và có lẽ nó thể hiện được tố chất của anh, bởi cái chất “nghệ sĩ” của anh lộ ra từ cách ăn mặc, đầu tóc, dáng đi và vẻ ưu tư mà ta luôn bắt gặp trên gương mặt anh.
Thế nhưng, tôi còn biết một Đình Nguyên khác mà mọi người đã ít nhắc đến – Đình Nguyên – phó nhòm!
Chắc mọi người không quên vào những năm 90 của thế kỷ trước, Hà Tiên chúng ta có một đội ngũ đông đúc hành nghề chụp ảnh dạo, đội quân ấy với áo gilet ký giả nhiều túi, nón vải rộng vành, tay xách nách mang túi đựng máy chụp hình… Họ tụ tập hai đầu cầu nổi, sau đó phóng Honda vù vù ra những tụ điểm du lịch tự nhiên mà tạo hóa ban cho người dân xứ sở này, đó là khi họ đã “bắt” được những chiếc xe đò chở khách thập phương vừa bò chậm chạp qua chiếc cầu phao nổi tiếng của Hà Tiên chúng ta.
Nghề nghiệp này cũng tự phát, mạnh ai nấy làm, không có nghiệp đoàn chi cả mà chỉ dựa vào tính “phải quấy, biết điều với nhau…”, cứ xử sự với nhau theo nguyên tắc tôn trọng và thấu tình đạt lý mà anh em cùng tồn tại, bởi thiên nhiên đã biếu không cho người dân xứ sở này các danh lam thắng cảnh mà không đòi hỏi điều gì vậy cớ gì người Hà Tiên với nhau không nương tựa nhau dựa vào sự ưu ái đó mà sống tốt? Đình Nguyên tự nguyện làm một “chiến sĩ” trong đội quân đó sau khi anh có được chiếc máy ảnh từ thế giới tư bản của người anh mang về tặng anh, chiếc máy ảnh tư bản của Đình Nguyên thời gian đó là giấc mơ của nhiều anh phó nhòm xứ này bởi Zenit của Liên Xô và Leica của Đức đang làm mưa làm gió giới gilet nhiều túi của Hà Tiên.
Mà hành nghề phó nhòm ở Hà Tiên cũng lắm công phu, phải “đu đeo” theo các chiếc xe hành hương du lịch, mà hiểu theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đều đúng trong trường hợp này, anh nào theo chiếc nào là phải đeo theo suốt trong hành trình du lịch của họ, khi thì đi bằng Honda tự có, lúc phải “đeo” càng “đu” cửa theo chính chiếc xe đó trôi dạt lúc thì Mũi Nai khi Thạch Động, rồi lăng Mạc Cửu, Chùa Phù Dung, vào Mo So, ra Hang Cá Sấu, ghé Chùa Hang, ra Hòn Phụ tử… Họ phải “xuất” đủ mọi “chiêu” để chiêu dụ khách chụp hình, chụp càng nhiều càng tốt, miệng càng “dẽo” càng tốt… Còn về khách du lịch cũng đa dạng phong cách, người thì thích lưu lấy cảnh, kẻ thích lưu lấy hình ảnh của mình. Lắm cô Chung Vô Diệm tưởng mình là Điêu Thuyền nên ưng diễn, lượn tới lượn lui, nghiêng đầu ở hốc hang này, cong mông trên tảng đá khác… chụp quá trời quá đất! Đủ mọi tư thế nằm ngồi, lắm kiểu bùng xòe áo xống mà không thể nào đẹp lên chút được. Trong khi đó nhiều cô đẹp như Tây Thi thì lại không chịu chụp ảnh, sợ tốn tiền, chỉ chụp vài kiểu (pose), nhưng các anh phó nhòm không cưỡng lại được cái ống (kính) của mình, lén chụp thêm vài pose “vụng dại” đẹp mê hồn!
Bởi có một nguyên tắc là chưa giao hình thì chưa lấy tiền, hình đẹp mới lấy tiền, chụp hình xong các anh thợ phải chờ tráng rọi, tráng rọi thì mất thời gian mà đoàn du lịch thì người ta không chờ được, nên hầu hết các anh thợ không trực tiếp giao hình mà việc giao hình phải có người khác đảm trách giao sau… Có mấy anh phó nhòm ranh như ma, cứ dụ người ta chụp thật nhiều pose hình để sau đó bán lại (film chưa tráng rọi) cho các người giao hình với hình thức “khoán” 34-35 pose cho một cuồn film 36 pose kèm với địa chỉ của khách. Với giá 1.300 đồng/pose, người giao hình sẽ tự đi tráng rọi, trả tiền tráng rọi khoảng 750 đ/ pose, người giao hình sẽ thu 2.500 đ/pose, trừ chi phí tráng rọi sẽ được hưởng 500 đ/pose, nhưng thật không dễ kiếm 500 đồng bởi các anh thợ chụp ảnh đã chụp cốt sao được càng nhiều càng tốt để bán “buông đuôi” như đã nói trên, khách có thể từ chối nhận hình vì những kiểu chụp mà người ta không thuận tình…
Và tôi là một kẻ giao hình chuyên nghiệp, tôi mua lại film cuộn đen của các anh em thợ chụp ảnh, đem đi Sài Gòn tráng rọi trong các Lab, sau đó giao hình và mua sỉ film Kodak và Konica mỗi lần hàng ngàn cuộn để về bỏ lại cho các anh em thợ. Tôi đã đi khắp các tỉnh miền Đông miền Tây, vào bưng biền xa xôi hẻo lánh, lên Tây Nguyên rừng sâu nước độc… Nơi nào có người đi Hà Tiên chơi và có chụp hình là tôi phải giao cho bằng được để thu tiền về, bởi mình đã đầu tư tiền bạc vào đấy, mỗi chuyến đi tôi phải xử lý trên 5000 poses ảnh.
Và thật không dễ để tôi giao những tấm ảnh của anh Đình Nguyên bởi sự “đặc biệt” của nó, phải thuyết phục khách rằng “hình của cá nhân mình thì dễ kiếm còn cảnh vật đẹp thì khó tìm…” để người ta chịu trả 2.500 đ cho một pose hình du lịch mà cảnh vật thì bao trùm còn người trả tiền thì … bé xíu! Tôi hiểu rằng khi Đình Nguyên nhấc ống kính lên thì cảnh vật tuyệt vời của xứ sở Hà Tiên đã làm anh quên luôn “vật chủ” là khách hàng, kẻ sẽ nuôi sống anh trong những ngày sắp tới…
Theo tôi, anh có thể có những bức ảnh đẹp, nghệ thuật, đầy chiều sâu … Nhưng anh không thể là một anh phó nhòm thành công được bởi cái sự xô bồ, ồn ào, lắm mưu nhiều kế, chiêu trò, mánh lới ..v..v., của nghề chụp hình xứ du lịch. Để thành công anh phải “biến hóa”, mà tôi thì không thấy điều đó từ anh.
Lại có ngày anh rụt rè giao tôi những cuồn film chưa tráng rọi mà không một dòng địa chỉ, không hiểu có cái chi đó cuốn hút anh đến độ anh quên mất việc ghi lại địa chỉ của những người khách thập phương mà anh đã bỏ ra mấy ngày “đu đeo” theo họ? Và tôi đã thật sự rất khó khăn để làm hoàn thành việc mà anh đang dang dở, ngày ấy dù rất hoang mang vì không biết sẽ giao thế nào, tôi cũng phải tốn mớ tiền để tráng rọi hàng trăm kiểu hình mà anh đã giao, rồi xem ảnh từng người cụ thể, tôi đã cố tìm một manh mối quan trọng để xác định đoàn này của tỉnh nào, có “chung đụng” với đoàn nào khác mà tôi đang có ảnh có địa chỉ của các anh thợ khác để hòng tìm những manh mối có thể có để mình truy tìm…
May mắn cho song Nguyên (Đình Nguyên và Quang Nguyên), tôi nhìn thấy số xe của xe khách ở Sài Gòn, từ cái bản số xe tôi vào Xa cảng Miền Tây để hỏi tìm chủ xe, tìm ra chủ xe tôi tìm ra trưởng đoàn, tìm ra trưởng đoàn tôi tìm ra từng người và giao hết số hình, sau khi tôi lại phải “múa mỏ” để thuyết phục khách nhận hình vì cái bố cục ảnh “rất riêng” của anh… Mô Phật!
Vậy đó, anh hay “đãng trí” kiểu vậy, anh không là bác học để mắc bệnh đãng trí, Đình Nguyên họa sĩ và Đình Nguyên chụp ảnh vẫn là một, là cái tính cách nghệ sĩ đứng ngoài những điều bình thường của người bình thường với cuộc đời bình thường như mọi cuộc đời khác. Anh lãng đãng một cách lạ lùng thú vị với những ai đã biết và có khi chỉ một vài lần hay một khoảng thời gian ngắn ngủi “dính dáng” tới anh, anh “rất riêng” mà không thể hòa trộn cho dù cuộc đời đã cố gắng lôi anh vào vòng xoáy của nó, tôi luôn có ý nghĩ như vậy khi được nhắc nhớ về anh…
Giờ anh đã về nơi chín suối, ở nơi đó với cái chất rất riêng đó của anh, hẵn anh vẫn là Đình Nguyên mà mọi người từng biết, tôi tin vậy. Bởi trần đời đầy những trói buộc mà anh vẫn tự do thể hiện cái “chất” của mình thì thiên đường đâu có gì làm anh thay đổi?
Tưởng nhớ anh Nguyễn Đình Nguyên… (10/2019)

TruongMinhQuangNguyen_2

Tác giả bài viết: Quang Nguyên

NguyenDinhNguyen_2002

Bức chân dung tự vẽ của họa sĩ Duyên Đình (tức Nguyễn Đình Nguyên). Trên góc phải có ghi « 35 tuổi », dưới góc trái có ghi « Hà Tiên năm 2002 », dưới góc phải có ghi « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo ». (Có nghĩa là năm 2002 bạn Nguyên tự vẽ chân dung mình vào lúc 35 tuổi, và có một điều lạ là tại sao bạn lại chú thích là « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo », theo mình nghĩ có lẽ bạn muốn chấm dứt giai đoạn làm họa sĩ và để bước qua giai đoạn làm nhiếp ảnh viên ??)

NguyenDinhNguyen_Photographer

NguyenDinhNguyen_Photographer_b

nguyendinhnguyen_muinai.jpg

Bạn Nguyễn Đình Nguyên trong giai đoạn làm thợ chụp hình ở bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên), hay nói cách khác Nguyễn Đình Nguyên với danh xưng là nhiếp ảnh gia. (những năm 90)

Publicités

Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…

 

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ một câu chuyện thời học sinh ở Hà Tiên nữa, xin kể ra đây cho thầy cô và các bạn nghe qua…

Lúc đó vào khoảng thời gian mình học lớp đệ ngũ, niên khóa 1966-1967, mình thường đi chơi thân với các bạn Nguyễn Văn Tài (Tài người không cao lắm, nhà ở ngay góc đường Cầu Câu – Lam Sơn, nhà Tài đối diện với bên hông chùa Ông Bổn, phía có Trường Hoa Liên, ba má của Tài người ta thường gọi là Ông Tư bà Tư, ba Tài bán kẹo kéo chung quanh các trường học ở Hà Tiên. Một bạn thân nữa trong thời kỳ nầy là Lương Cường, con của ông bà có tiệm bán thuốc Bắc ngay trước mặt bắc của ngôi chợ Hà Tiên xưa, đó là tiệm Sanh Hoạt, tiệm Sanh Hoạt nầy ngày xưa mình rất thường lui tới nào là để mua bóng đèn nhỏ để chơi pin đèn, nào là mua « xí muội » hoặc « trái táo » khô về để ngậm trong những ngày bị bệnh…Cả hai gia đình của bạn Nguyễn Văn Tài và Lương Cường đều biết mình và ba má của hai bạn cũng rất tử tế đối với mình.

Buổi chiều đó như mọi hôm, mình thả bộ trên con đường Lam Sơn để đến nhà Tài chơi, sau khi gặp nhau thì có bạn Lương Cường chạy xe Honda ghé đến (kiểu xe Honda đàn ông đời 1967). Vào thời gian nầy ở Hà Tiên cũng đã bắt đầu có nhiều xe Honda kiểu đàn ông, đàn bà (Honda Dame) xuất hiện, các nhà buôn khá giả chung quanh chợ đều có trang bị xe Honda cho con cái trong nhà để chiều chiều chạy xe dạo chơi trên các đường phố Hà Tiên. Bạn Lương Cường vừa ghé nhà Nguyễn Văn Tài với chiếc xe Honda 67 màu đen, có hai loại xe Honda đàn ông thời nầy, trước nhất là loại xe Honda 67 với tay cầm thẳng ngang và rất ngắn, sau đó có loại với tay cầm hình theo kiểu chữ V rộng ra, đó chính là kiểu xe của bạn Lương Cường thời đó. Cường rủ mình và Tài lên xe làm vài vòng buổi chiều hóng gió mát. Thế là cả ba thượng lên chiếc Honda 67 của Cường, Cường cầm tay lái ngồi phía trước, Tài nhỏ người ngồi giữa và mình ngồi phía sau cùng. Thầy cô và các bạn cũng biết là ngày xưa luật giao thông cũng hơi lỏng lẻo, chỉ một chiếc xe Honda mà người ta muốn chở trên đó mấy người cũng được, miển là các hành khách ngồi được vững vàng và ngay ngắn là tài xế chạy được, có người chở vợ phía sau và ba bốn đứa con ngồi đủ cả che kín chiếc bình xăng phía trước cũng lái xe chạy bình thường…

Ở Hà Tiên thời kỳ nầy có một vòng các đường phố mà chiều nào các anh em học sinh Hà Tiên đều « lượn » xe Honda không sót một khúc nào, nhiều khi còn phải làm lại hàng ba, bốn lần cái « circuit » nầy, giống như chạy theo kiểu thi đua theo môn thể thao « Công thức 1 » (forrmule 1) của quốc tế vậy…Chẳng những chạy xe Honda vòng vòng theo các con đường nầy mà còn tự động tập trung các xe Honda của các bạn khác, nam nữ đều có đủ, hợp lại cùng chạy chung một hướng rất là ngoạn mục…Đó là con đường bắt đầu từ đường « Bến Trần Hầu », chạy vòng qua đường Phương Thành, chạy thẳng ra phía Ấp Chiến Lược ngày xưa, quẹo qua phía núi Đề Liêm, chạy thẳng ra đường đi Thạch Động và …quẹo về…Đặc biệt là ngay khúc có Ấp Chiến Lược ngày xưa, có một khúc quanh rất đẹp mắt, đường kính khúc quanh vừa rộng rải để cho người lái xe cặp khúc quanh nầy, không bị quẹo gắt lắm…Ngày xưa có hai bạn Phan Thanh Tùng và Phan Thanh Liêm (Tùng và Liêm là hai anh em, con của bác Ba Phan Văn Thân có tiệm bán sản phẩm kỷ niệm đồi mồi ở ngay góc đường Lam Sơn-Tuần Phủ Đạt), bạn Tùng học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ,..v..v..Còn bạn Liêm thì học chung lớp với mình. Tới đây xin mở ngoặc nói về Tùng và Liêm: có một lúc mình cũng đi chơi thân với bạn Phan Thanh Tùng, đó là lần Tùng rủ mình cùng đi qua Sa Đéc để thăm anh của Tùng, lúc đó anh ấy đang đóng quân ở Sa Đéc và ở trong một căn nhà nhỏ với người vợ, mình và Tùng đến nhà anh thăm cả hai người, hai đứa ở lại vài ngày rồi mới kéo nhau qua Cần Thơ, mình còn nhớ hình như lúc đi bộ từ phà bắc lên đường xe, mình có gặp thầy Nguyễn Hồng Ẩn tại đây, lâu quá không biết có nhớ chính xác không…Còn nói về Phan Thanh Liêm, Liêm thì ít nói, rất hiền, nhưng Liêm có tài chạy xe Honda lạng lách rất hay, nhiều lần Liêm chở mình trên chiếc xe Honda 67 có tay cầm hình chữ V (đúng là mode tay cầm xe Honda thời đó…), chạy nhanh ra phía Ấp Chiến Lược đường Phương Thành, ra phía Thạch Động, Liêm nghiêng mình lạng chiếc xe Honda rất lành nghề và chiếc xe và mặt đường làm thành hình chữ V rất đẹp, tuy nhiên mỗi lần Liêm chở mình ngồi phía sau và lạng qua cua như vậy, mình rất sợ, hót bụng và nhắm mắt cho qua giai đoạn đó…

Trở lại câu chuyện bạn Lương Cường chở mình và Nguyễn Văn Tài chạy ra phía Thạch Động chơi. Khi chạy gần tới Thạch Động thì cũng xin nhắc lại là trong thời xưa Hà Tiên tuy không có chiến tranh trực tiếp ngay ở thành thị nhưng những nơi chiến lược như Thạch Động, Đá Dựng, đồi Ngũ Hổ đều có quân đội Nghĩa Quân và Địa Phương Quân đóng ở đó và dân chúng không được tới lui viếng cảnh như vào thời bình. Vì thế, ngay ở dưới chân núi Thạch Động lúc đó, có một cái cổng chắn ngang và có một người lính trẻ đang đứng gát ở đó, khi nào có xe cộ thường là xe đạp và xe gắn máy muốn chạy ngang qua thì người lính mở cổng lên cho xe chạy qua (cổng chắn ngang là một thanh cây nằm ngang, một đầu có treo một đối trọng nặng để cây được nâng lên dể dàng và đầu kia thì móc vào một cái móc để giữ cho thanh cây nằm ngang khi ở vị trí chắn ngang. Trước khi xe của bọn mình chạy tới cổng chắn ngang thì có một chiếc xe chạy phía trước và đã được người lính gát cổng mở cổng lên cho xe đó chạy qua, bạn Lương Cường thấy vậy nên nghĩ là anh ta cũng giữ cổng mở lên cao cho mình qua luôn nên cũng tiếp tục chạy qua không dừng lại, tuy nhiên anh lính gát cổng nầy có lẻ hơi « không mấy thích » mấy anh chàng học sinh chạy xe Honda đi chơi như bọn mình nên thình lình anh cho cổng quay xuống để chận đường lại, khổ thay lúc đó đã quá trể xe của Cường vừa lao tới, lại bị cây chắn ngang cản ngang mình, nên cả ba đều bị té xuống ngay liền, còn chiếc xe Honda thì vì quán tính nên tiếp tục chạy về phía trước không có người trên đó và bị mất thăng bằng xe ngả luôn xuống đường, hình như cái đèn vàng « signal » phía trước tay lái cũng bị bể văng tung ra…

Lúc đó ngay cả anh chàng lính gát cũng nhận thấy tình hình hơi nghiêm trọng vì đã làm cho bọn mình bị té xe, nên anh ta làm ra mặt nghiêm muốn bắt lỗi bọn mình tại sao không dừng xe lại ngay trạm gát mà chạy luôn như vậy, bọn mình thì cả ba đang lò mò đứng dậy, nhìn chung quanh mình xem có bị thương tích gì không và cũng muốn « cự » lại anh ta tại sao anh lại hạ cổng chận ngang xe như vậy,…Rốt cuộc anh lính gát phải gọi điện lên phía trên Thạch Động chỗ đóng quân để báo cáo tình hình và xin cấp trên xuống can thiệp xem sao. Bọn mình cả ba phải dựng xe đứng lại và phải chờ giải quyết…Tới đây xin phép được nói thêm về tình hình đóng quân ở Thạch Động thời đó. Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người bạn gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Múi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ…

Trở lại câu chuyện bọn mình bị té xe Honda ở ngay dưới chân núi Thạch Động và đang chờ cấp trên xuống giải quyết. Chờ một lúc có một người lính đi bộ từ trên núi Thạch Động xuống ngay chỗ có cổng gát để hỏi chuyện, mình cũng đang lo sợ vì không biết có bị bắt bớ gì không trong vụ nầy…đến khi thấy người lính xuống để giải quyết công việc thì mình cũng bớt lo vì người lính nầy chính là anh hạ sĩ (hay trung sĩ mình không nhớ rỏ) tên là Tòng. Nói về hạ sĩ Tòng, ở Hà Tiên thời đó chắc ai cũng biết hạ sĩ Tòng nầy, vì anh bị thương trong một vụ đụng độ và bị một viên đạn trúng ngay trên đầu, làm bể một phần xương sọ, tuy nhiên anh cũng thoát nạn sau khi được chữa trị, chỉ có điều là trên tráng của anh có một chổ bên phải bị móp vô và chỉ có da bọc bên ngoài lại, anh vẫn sinh hoạt hằng ngày như thường lệ miển là đừng đụng vô chổ tráng bị móp vô thôi. Sở dĩ mình biết hạ sĩ Tòng hay còn hơn nữa là quen với anh nữa là vì lúc đó hạ sĩ Tòng có mướn một khu đất nhỏ phía bên phải nhà của má Hai của mình (nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, bà con anh chị em bạn dì với mình), nhà ở đường Tô Châu, ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng. hạ sĩ Tòng cất một căn nhà lá nhỏ ở đó để sinh sống với vợ con. Thường ngày khi mình đến nhà chị Kim (nhà Má Hai) để chơi thì gặp anh Tòng rất thường và trở thành quen biết, anh Tòng xem mình như mấy em trong nhà. Do đó rất là may mắn, khi hạ sĩ Tòng xuống đến chỗ có cổng gát và sau khi anh chàng lính gát cổng chào hạ sĩ Tòng rất nghiêm trang kiểu nhà binh, thì anh ta báo cáo lại tình hình té xe như vậy, hạ sĩ Tòng nhìn thấy có mình trong nhóm chạy xe Honda nên anh cũng rất tử tế bỏ qua câu chuyện nầy và cho phép bọn mình lên xe chạy về nhà…Cả bọn cám ơn anh hạ sĩ Tòng và sau đó cũng mất hết hứng thú nên không tiếp tục đi chơi nữa mà trở lại về chợ Hà Tiên và đi uống cafe để nói chuyện chơi cho vui…Đó là một kỷ niệm cũng vui vui, rốt cuộc thì cũng thoát nạn, nghĩ lại bây giờ thời thanh bình ai muốn đi thăm viếng thắng cảnh nào cũng được và đi chơi tới những chỗ mà ngày xưa hoàn toàn là dành cho nhà binh dân thường không được bén mảng tới. Đến đây là hết chuyện kể xin hẹn với thầy cô và các bạn một dịp khác nhé, cũng xin nhắc lại là sau khi học xong trường trung học Hà Tiên, bạn bè mỗi người đi một ngả, sau 1975 bạn Lương Cường cùng gia đình đi định cư ở nước ngoài, bạn Nguyễn Văn Tài từ trước năm 1975 đã nhập ngủ theo ngành chuyên viên kỷ thuật không quân, đóng tại Cần Thơ, trong những năm mình học Đại Học Sư Phạm ở Cần Thơ rất thường xuyên gặp lại Tài. Sau 1975 nghe nói Tài vẫn còn ở tại Cần Thơ, mình không có dịp gặp lại nữa.

Paris ngày 12/11/2018 Trần Văn Mãnh

Từ trái sang phải: Lương Cường, Nguyễn Văn Tài, Trần Văn Mãnh (hình: Trần Văn Mãnh năm 1966)

Anh Đường Hùng Việt, chân dung lúc còn học sinh trường Trung Học Hà Tiên, sau nầy anh vào quân đội với cấp bậc Trung Sĩ và hy sinh ngay tại quê nhà Hà Tiên. Hình Nguyệt Đường

Bên trái: Phan Thanh Tùng, bên phải: Phan Thanh Liêm. Hình: Hoàng Thị Minh Liên, năm 2014

Một trong những kiểu xe Honda 67 với tay cầm ngang và ngắn. Hình: tuannguyen959

Trên đường đi ngang Thạch Động, phía dưới chân Thạch Động ngay lề đường ngày xưa có một cổng gát chắn ngang đường. Hình: Herman Hermanson 2006

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn

Thầy Cô và các bạn thân mến, bài viết nầy phần lớn dựa trên trí nhớ, một số tài liệu và hình ảnh xưa, và nhất là cũng dựa trên sự phỏng đoán chủ quan của mình, vì thế những điều viết trong bài cũng có thể là một sự kết luận chủ định sai với quá trình quá khứ, nhất là về địa chí nơi chốn của căn nhà sẽ nói trong bài…Tuy nhiên mình cũng hy vọng rằng bài viết sẽ đúng phần nào, mong thầy cô và các bạn, nhất là các bậc học giả đi trước, người kỳ cựu Hà Tiên đọc và chỉ giáo những sai lầm nếu có,..xin thành thật cảm tạ quý vị.

Ngày xưa trong những năm 60-70, lúc còn là học sinh của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, mình thường đi chơi thân với một số bạn cùng lớp, đúng là các bạn cùng lớp, vì với nhóm bạn nầy mình đã chơi thân ngay từ lúc vào lớp Đệ Thất (niên khóa 1964-1965) cho tới lúc năm lớp cuối của trường là năm học lớp Đệ Nhị (1969-1970)…Nhớm bạn đó gồm: Lý Cui (thường làm lớp trưởng), Lý Văn Tấn (Tấn Lý), Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài,…v….v…. Còn nhiều bạn nữa…Những năm đầu học bậc Trung Học, mình thường chơi đàn cùng với các bạn: Lý Cui, Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến…hay nói đúng hơn là mình theo học đàn guitare với bạn Lý Cui vì trong những năm 60 đó, phong trào chơi nhạc và chơi đàn rất thịnh hành trong giới học sinh.

Bạn Lý Văn Tấn có hai căn nhà mà nhóm bạn chúng mình rất thường lui tới chơi, căn nhà thứ nhất là của Ông Ngoại bạn Tấn, nhà ở ngay tại mé sông Đông Hồ, kế trụ sở xả Mỹ Đức, nếu từ dảy nhà ngủ Tô Châu đi về phía Đông Hồ thì sẽ gặp nhà Ông Ngoại bạn Tấn trước rồi sau đó là trụ sở xả Mý Đức. Xéo xéo trước nhà Ông Ngoại bạn Tấn bên mé sông chính là nhà vệ sinh, cất trên sông và có bắc cầu bằng cây đi ra…Nói đến đây phải giãi thích một sự kiện nầy cho các đàn em và người đến Hà Tiên ở sau nầy rỏ: ngày xưa nói đến xả Mỹ Đức tức là nói phường Đông Hồ, phường Pháo Đài và phường Bình San bây giờ…Vì ngày xưa Hà Tiên là Quận lỵ nên chia thành nhiều xả, ngay tại chợ Hà Tiên đó là xả Mỹ Đức, tất cả người nào sinh sống ở chợ Hà Tiên đều thuộc về hành chánh xả Mỹ Đức. Chính mình trong khai sanh ghi là nơi sanh: Xả Mỹ Đức. Người ở chợ Hà Tiên rất gắn liền với xả Mỹ Đức, mỗi khi phải thị thực chử ký trên bản sao là phải xuống trụ sở xả Mỹ Đức để xin chử ký của ông Xả Trưởng. Có nhiều đời Ông Xả trưởng xả Mỹ Đức, nhưng ấn tượng nhiều nhất là Bác Hai Hồ Văn Điệp (người cùng tuổi thì thường kêu là Anh Hai, người con cháu thì thường kêu Chú Hai). Còn người tiếp nhận giấy tờ để trình lên Ông Xả Trưởng ký tên thì có một thời là chị Nguyễn Thị Hoa, cô thơ ký ở Xả Mỹ Đức, người đã giúp ích rất nhiều cho chúng ta lúc phải đi thị thực chử ký ở dưới Xả Mỹ Đức…Mình còn nhớ hồi đó ở xả Mỹ Đức thì có chị Hoa còn cô thơ ký trên văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên thì là chị Trần Ý Chinh, chị của Trần Ý Hui học cùng lớp với mình…Có một lúc mình cũng phải đem giấy tờ bản sao lên tới trên Quận đưa cho chị Ý Chinh để xin chử ký thị thực của Ông Quận Trưởng, đúng hơn là chính Ông Quận Phó thường ký tên,…Mình vẫn còn giữ một số giấy tờ bản sao do Ông Phó Quận ký tên: Lê Văn Ca (là ba của bạn Lê Mai Hoa học cùng lớp Đệ Thất với mình). Hiện nay vì Hà Tiên lên bậc Thị Xả nên xếp thành phường và xả Mỹ Đức bây giờ là xả ở ngay tại khu Thạch Động bây giờ (trong khi hồi xưa thì lại kêu là Ấp Thạch Động…).

Bạn Lý Văn Tấn, hình ảnh thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 60-70

Trở lại nói về ngôi nhà thứ hai của bạn Tấn Lý, như trên đã nói ngôi nhà ở dưới Đông Hồ là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý, còn ngôi nhà chính của ba má bạn Tấn Lý thì ở đường Mạc Thiên Tích dưới xóm Cầu Câu ngày xưa. Nếu từ chợ đi theo con đường Lam Sơn ra phía đường đi Mũi Nai, các bạn sẽ gặp ngả tư Lam Sơn-Mạc Thiên Tích, quẹo bên trái để đi theo con đường Mạc Thiên Tích về hướng Pháo Đài một lúc bạn sẽ gặp nhà của bạn Tấn Lý, nhà bên tay trái, trước khi đến nhà bạn Tấn Lý bạn sẽ gặp nhà của bạn Bùi Văn Tư xéo xéo bên tay phải. Còn nếu tiếp tục đi theo đường Mạc Thiên Tích một lúc nữa cũng về phía Pháo Đài thì sẽ gặp nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh bên phải.  Căn nhà của ba má bạn Tấn Lý đó rất rộng lớn, lợp « tôn », và rất dài từ trước ra tới phía sau. Hồi xưa người ta thường kêu ba của bạn Tấn Lý là Chú Tư, má của bạn Tấn Lý thường đi theo ghe bán hàng Hà Tiên -Rạch Giá, và cũng thường tới lui nhà mình giao thiệp với hia Tư chị Tư của mình (hia tư tên ở nhà là Hia Dảnh, tên giấy tờ là Lý Văn Nhiên, chị Tư bạn dì với mình tên ở nhà là chế Thìn, tên giấy tờ là Lê Thị Phượng, hai vợ chồng không có con, có tiệm may quần áo ngay ở nhà mình và thường qua núi Tô Châu theo học đạo với các nhà tu sĩ theo môn phái Khuất Thực, vì thế má của bạn Tấn Lý cũng theo anh Tư, chị Tư để qua Tô Châu học đạo với các nhà sư).

Hồi xưa đó, nhà của bạn Tấn Lý đường Mạc Thiên Tích nầy cũng là trụ sở của nhóm chơi dợt nhạc của mình, gồm có Lý Cui, Lý Văn Tịnh, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Trần văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh. Tuy nhà mình ở ngay đường Bạch Đằng tại chợ Hà Tiên đi tới nhà bạn Tấn Lý cũng khá xa nhưng ngày xưa mình thường hay thả bộ từ nhà mình tới nhà Tấn Lý để họp bạn chơi nhạc, và ngay cả cũng thường lội bộ cho tới nhà của bạn rất thân là Nguyễn Ngọc Thanh để rủ Thanh đi chơi…

Đã định xong vị trí nơi chốn của hai căn nhà của bạn Tấn Lý rồi bây giờ mình xin vô đề tài chính là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở xóm Đông Hồ. Ngày xưa nhóm bạn mình cũng thường kéo nhau tới nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở Đông Hồ đó để nhóm bạn nói chuyện chơi và cũng để chơi nhạc đàn ca…Ông Ngoại bạn Tấn Lý lúc đó cũng đã khá cao tuổi rồi, chiều chiều ông thường đem một túi xách nhỏ bày hàng bán trên vỉa hè trước tiệm cơm Xuân Thạnh, nhìn ra phía đường Bến Trần Hầu. Hàng bán của ông là một số ống « pipe » hút thuốc, ngày xưa Hà Tiên thường có nhiều người bán ống « pipe » hút thuốc làm bằng một loại cây dưới biển có màu đen huyền rất đẹp. Ống « pipe » hút thuốc tức là loại ống để mình gắn một điếu thuốc lá vào đầu ống và ngậm đầu kia mà hút, ngày xưa cách hút thuốc lá bằng ống « pipe » đó rất thịnh hành, có nhiều ống « pipe » làm bằng rể cây dưới biển có hình thù cong quẹo rất lại và đẹp mắt…Mấy ông bán hàng nầy thường trải một chiếc khăn tay vuông vắn ngay trên lề đường Trần Hầu và bày các ống « pipe » ra xắp xếp rất thứ tự đẹp mắt, lủ nhóc con như mình thời đó thường hay ngồi trước mặt gian hàng của mấy ông để nhìn ngắm và xem người ta đến hỏi mua, kèo kỳ giá cả…Sau một thời gian bán ống « pipe », Ông Ngoại bạn Tấn Lý chuyển sáng nghề cho quay số để bán đồ chơi trẻ nít. Mình cũng thường là bạn hàng của ông trong món hàng nầy, Ông thường nói với nhóm con nít mình thường đứng bu xung quanh ông: « Trật thì ăn kẹo, trúng lấy hết cái nầy nè..!! »…

Thao tài liệu sách vở và ngay chính ngày xưa khi nhóm bạn học trò mình tới chơi nhà Ông Ngoại của bạn Tấn Lý, mình đã có nghe nói căn nhà nầy ngày xưa nữa chính là nhà của thi sĩ Đông Hồ, ngay chính căn nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý là cứ điểm của « Trí Đức Học Xá » một loại trường học do Ông Đông Hồ sáng lập ra. Lúc đó chi nghe nói như vậy thôi, trí tò mò cũng dừng lại ở điểm đó chỉ biết là ừ nhà nầy hồi xưa là nhà của Ông Đông Hồ,…không ai hỏi thêm chi tiết tại sao Ông Đông Hồ không giữ lại căn nhà nầy hay không ai hỏi gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà của Ông Đông Hồ trong hoàn cảnh nào…??!! Tuy nhiên tất cả các bạn trong nhóm cũng lấy làm thú vị vì hiện mình đang tới lui chơi căn nhà xưa của Ông Đông Hồ…

Bây giờ tình cờ đọc bài bản nghiên cứu trên mạng mình được biết thêm nhiều chi tiết như sau: Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) sinh ra tại Hà Tiên, có một thời xưa ở Hà Tiên, ba mẹ mất sớm nên có người Bác ruột nuôi ông. Người Bác tên là Lâm Tấn Đức (hiệu là Hữu Lân 1866-1934), là người anh ruột của Ông Lâm Tấn Thoại cha của thi sĩ Đông Hồ. Ngôi nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý đầu tiên chính là căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức. Thời đó có một bậc Tiền Bối tên là Ngô Văn Chiêu là một học giả cao kiến, vào năm 1920 đổi về tình Hà Tiên làm việc, Ông Ngô Văn Chiêu thường lui tới nhà ông Lâm Tấn Đức để nói chuyện đạo và cầu cơ, ngoài ra ông Chiêu cũng thường lên đến Thạch Động để cầu cơ. Cơ về cho ông nhiều bài thơ và trong thơ có ý khuyên ông đi tu. Về sau ông Ngô Văn Chiêu đi tu đắc đạo và lập ra đạo Cao Đài, chính ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)  là một bậc tiền bối đầu tiên của đạo Cao Đài.

Vì thi sĩ Đông Hồ ở với người Bác nên ở ngay tại căn nhà của ông Bác dưới bờ sông Đông Hồ, cho đến năm 1926-1934 ông Đông Hồ lập ra Trí Đức Học Xá trụ sở ở ngay tại căn nhà của ông đang ở…Về sau thi sĩ Đông Hồ về Sài Gòn viết sách, làm báo và được mời giảng dạy ở trường Đại Học Sài Gòn…Không biết từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào căn nhà của Bác ông Đông Hồ, (sau là nhà của ông Đông Hồ) lại trở thành nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý, tức là gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà đó từ lúc nào thì mình không được biết rỏ…

Vậy là từ lúc những năm 1960-1970, mình cùng nhóm bạn học với bạn Lý Văn Tấn tới lui căn nhà Ông Ngoại bạn Tấn đó, cũng biết là đây là nhà xưa lúc trước của ông Đông Hồ nhưng không tìm hiểu gì thêm về lịch sữ căn nhà nầy…

Vài lời về bạn Lý Văn Tấn: Tấn Lý học chung lớp với mình suốt cả thời gian học Trung Học Hà Tiên. Bạn Tấn người cao lớn, rất vui tính, khi nói chuyện bạn Tấn thường hay cười to vui vẻ. Ngày xưa lúc còn đi học Tấn Lý có để ý một cô thiếu nữ người xóm Đông Hồ, tên là Diệu. Diệu là một cô gái dáng thon cao, tóc dài rất đẹp…Nhà Diệu ở xóm Đông Hồ đường Chi Lăng. nếu tính từ ngả tư Tô Châu- Chi Lăng đí về phía mé sông Đông Hồ thì nhà Diệu ở bên tay phải, đối diện với nhà Má Hai của mình ngày xưa (tức là nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, sau đó nhà Má Hai bán đi và mua qua căn nhà đường Tô Châu ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng, sau nữa nhà nầy do gia đình ông Quách Ngọc Bá mua lại). Cuối cùng thì bạn Tấn Lý cũng cưới được cô gái xóm Đông Hồ  tên là Diệu đó, hai người thành vợ chồng đến ngày nay..

Rốt cuộc các bạn biết sao không, mình cũng không rỏ tình tiết nhưng về sau nầy, rất xa sau năm 1975, người vợ cuối cùng của ông Đông Hồ là bà Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội từ Sài Gòn và sau khi ông Đông Hồ mất đi, vào năm 1995 bà trở về Hà Tiên mua chuộc lại căn nhà xưa và xin phép cất lại thành « Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ »…thật là kỳ diệu thay, thế là căn nhà xưa bao nhiêu năm về trước của người Bác chồng là Ông Lâm Tấn Đức đã hoàn trở lại thành nhà lưu niệm để tưởng nhớ thi sĩ Đông Hồ, người mà thời nhỏ cũng đă từng ở trong căn nhà nầy…Tất cả những tài liệu, tình tiết, chi tiết về những biến chuyển nầy các bạn nếu tò mò muốn tìm hiểu , mời các bạn tra cứu trên mạng sẽ được đọc rỏ hết cả, ở đây mình không nói hết chi tiết ra chỉ cốt yếu nói về căn nhà của một người bạn học cùng lớp ngày xưa, căn nhà mà mình và nhóm bạn mình rất thường lui tới một thời trẻ tuổi, để vui chơi đàn ca văn nghệ…

Tóm lại mình viết bài nầy vì mình đã bị ấn tượng rất mạnh khi tìm hiểu được lai lịch căn nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý và nhất là khi mình thấy được bức hình căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức đăng trong một bài báo về lịch sữ ông Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra Đạo Cao Đài, khi nhìn thấy hình căn nhà trong bài viết và có chú thích là nhà của Ông Đông Hồ từng ở ngày xưa, mình rất hoang mang đồng thời cũng rất thú vị và cũng không kém phần xúc động.. vì căn nhà đó là nơi mà mình và các bạn đã một thời lui tới vui chơi. Nếu không may những điều mình quả quyết và kế ra đi là không đúng sự thật thì cũng rất buồn nhưng mình cũng sẽ chấp nhận sự sai lệch của mình, mong các bạn và các bậc học giả cao tuổi có kinh nghiệm sống ở Hà Tiên vui lòng chỉ bảo cho thêm nhé,..Xin thành thật cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cuối đông 08/01/2018

Trần Văn Mãnh

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940.

Ông Lâm Tấn Đức (hiệu Hữu Lân 1866-1934) là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ và là chủ căn nhà trên

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp phía trước trụ sở xả Mỹ Đức, đường Đông Hồ, gần nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ngày xưa.

Nhà vệ sinh cất trên sông Hà Tiên xéo xéo đối diện với trụ sở xả Mỹ Đức ngày xưa.

Bạn Lý Cui (cầm đàn) đang đệm nhạc cho bạn Lý Văn Tịnh ca bài « Giữa Lòng Đất Mẹ » tại nhà của bạn Lý Văn Tấn trên đường Mạc Thiên Tích ngày xưa

Nhóm bạn đi chơi bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên). Lý Văn Tấn đứng trên cao bìa phải (khoảng những năm 1960-1970)

Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bạn Lý Văn Tấn hiện nay (bên phải và bạn Lâm Hữu Quyền bên trái)

Mặt trong của « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ » ngày nay do nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, vợ của Ông Đông Hồ cất lại trên nền nhà xưa của ông Đông Hồ (cũng là ngay nhà xưa mà Ông Ngoại bạn Tấn Lý có một thời gian ở đó)

Toàn cảnh mặt ngoài  « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ « ngày nay

Hình ảnh: Huệ Nhẫn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Bui Thi Đao Nguyên, B.C,

Tái bút: Được tin em Huỳnh Thị Sáu (học trò Hà Tiên xưa) bổ túc thêm chi tiết như sau: Ngôi nhà của gia đình ông Đông Hồ vẫn thuộc về của ông, trong thời gian ông Đông Hồ đi dạy học ở Sài Gòn thì cho người mướn lại để ở trong căn nhà đó, vì thế ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ở trong căn nhà đó là lúc mướn nhà để ở chớ không phải mua lại. Cám ơn em Sáu đã giúp thêm chi tiết nầy.

Hà Tiên tuổi học trò (Trang Lệ Thủy)

Hà Tiên tuổi học trò (Trang Lệ Thủy)

Dù đã xa Hà Tiên và xa ngay cả đất nước Việt Nam thân yêu từ lâu, nhưng một người học trò ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên vẫn còn nhớ nhiều kỷ niệm xưa, nhớ từng con đường, bãi biển, ghềnh đá, hang động, hồ đêm, ao nước, núi non của mảnh đất Hà Tiên…Người học trò đó chính là một cây bút quen thuộc với Blog chúng ta, Trang Lệ Thủy của lớp học 11A niên khóa 1970-1971…Mời thầy cô và các bạn thưởng thức một bài thơ diển tả nỗi nhớ Hà Tiên , nhớ trường lớp và những giờ bỏ quên bút mực để rong chơi với phong cảnh hữu tình của đất Hà Tiên.  (TVM viết giới thiệu)

Cùng các bạn đi chơi biển nhân một dịp về Hà Tiên năm 1996 : từ trái sang phải : Loan, Nguyễn Ngọc Lê, Trần Yến Phượng, Phạm Thúy Phượng, Lâm Xuân Mỹ, Tuyết, Trang Lệ Thủy

Hà Tiên tuổi học trò

Lâu lắm xa rồi, Hà Tiên nhớ,
Trăng nước Đông Hồ gợi‎ ý thơ,
Phù Dung soi bóng buồn muôn thuở,
Ngẩn mặt Tô Châu vạn kiếp chờ.

Thạch Động u hoài đứng chơ vơ,
Sương khói thời gian phủ bóng mờ,
Chiêm bao mộng mị hồn cứ ngở,
Dạo bước hồ sen dạ thẩn thờ.

Mũi Nai biển rộng trời thương nhớ,
Nhớ tuổi học trò lắm mộng mơ,
Cuối tuần quên hết chồng sách vở,
Thả hồn bàng bạc Bãi Nò mơ.

Lăng Ông Mạc Cửu còn ghi nhớ,
Khai phá hoang sơ mở cõi bờ.
Bao năm lưu lạc rời xứ sở,
Nhớ mãi Hà Tiên mắt lệ mờ!

Trang Lệ Thủy
(Tháng tám, 2017)

Những cảnh đẹp Hà Tiên ngày xưa mà Trang Lệ Thủy đã nhắc đến trong bài thơ

Hình ảnh : Trang Lệ Thủy, Trần Văn Phi, Trần Văn Dõng

Thầy Nguyễn Văn Tiêu

 

Thầy Nguyễn Văn Tiêu.

Trước tiên tôi xin cảm ơn ý tưởng quá xá hay (chứ không còn là “rất hay”) của một cựu học sinh Trung học Hà Tiên – Mr. Trần Văn Mãnh, ông đã mở trang một Blog về ngôi trường trung học mà khi tất cả chúng ta trải qua đều cảm nhận rằng đó là thời gian đẹp nhất, thời gian đáng nhớ nhất của một đời người, tuy dài theo tiếng đếm của nhịp đồng hồ nhưng rất ngắn với kiếp nhân sinh… Đó là thời gian mà chúng ta “mở mắt” với  cuộc đời  một cách “bài bản” được hướng dẫn và dìu dắt bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp, là các nhà khoa học mà chúng ta thân thương gọi là thầy cô (xưa nữa, đối với giao viên trung học người ta phân biệt bằng danh xưng “giáo sư” – professeur).  Đó là lúc chúng ta bước qua một không gian học tập mới, với một tinh thần mới mang tính khám phá một góc thế giới nhỏ bé với đôi mắt trong suốt và trí tuệ đang trong tình trạng “trong vắt”… Đó là lúc chúng ta không còn “mài đũng quần” theo kiểu làm theo và bắt chước thời tiểu học mà chúng ta đã trưởng thành hơn một bậc, để rồi tất cả những gì mà chúng ta được truyền đạt và hướng dẫn bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp đó sẽ làm hành trang cho tất cả chúng ta bước vào cuộc đời một cách tự tin hơn…

Hưởng ứng với tác giả trang Blog này “viết về các thầy cô đã từng dạy tại Trung Học Hà Tiên”,  tôi xin nhắc đến một người thầy – thầy Tiêu dạy môn Sinh Vật. Tôi không nhớ rõ đủ cả tên họ của thầy, nói ra mà không đúng thì thật là bất kính. Về điểm này xin các anh chị hay bạn bè góp ý cho tôi.

Thầy về trường trung học Hà Tiên khoảng năm 1975-1977, khi tôi vào trường niên học 1976-1977 thì đã có thầy rồi, có lẽ thầy về cùng lúc với thầy Bùi Đăng Trường (đã quá cố), cô Châu (dạy Pháp Văn), cô Vũ Thị Thêm… Tất cả các thầy cô đều được điều động từ nơi khác đến dạy tại trường của chúng ta.

Thầy  Tiêu trong ký ức của tôi là một người cao ráo, với mái tóc loăn xoăn mà mỗi khi đi ra gió thì cái mớ tóc ấy của thầy bị gió thốc tung lên, rồi một khi ngọn gió đã đi qua thì để lại “trên đỉnh phù vân” của thầy một … Cái tổ quạ!

Tôi xin dừng lại đôi chút vì tôi chợt nghĩ: “cái kiểu viết này sẽ gây sốc cho nhiều người…”, tuy nhiên xin mọi người đừng hiểu lầm rằng thế này là một sự bất kính, bởi sự kính trọng nó nằm trong tâm tưởng của một người, nó có một trọng lượng tinh thần đáng kể chứ không phải cố gồng mình thể hiện ra ngoài mà thực tâm trống rỗng… Hơn nữa, thầy cô cũng như chúng ta, cũng có những cung bậc cảm xúc, những phút giây tếu táo và những hành động bộc phát táo bạo “rất con người” mà không hề được môi trường sư phạm khuyến khích.

… Thầy đã dẫn một nhóm nhỏ lớp chúng tôi đi Thạch Động, thầy rất thích và thầy nói rằng vùng đất và con người nơi đây rất cuốn hút thầy… Sau khi đi khắp hang động tìm chàng Thạch Sanh để hỏi cách “cứu mỹ nhân” bởi thầy còn “rất độc thân”. Đương nhiên nào có Thạch Sanh? Chỉ có nàng công chúa nhỏ xíu vận tà áo dài rêu phong với mái tóc dài màu đen được tạo bởi một miếng đá vôi đậm màu hơn chút. Nàng được Thạch Sanh “dấu lộ thiên” bằng cách treo nàng lơ lửng trên hốc của một vách đá cheo leo để chẳng ai được đụng đến nàng… Quả thật việc làm của Thạch Sanh đã rất hiệu quả, đến nỗi ngày nay muốn tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ đó, chúng ta phải dùng một cây sào dài mà chỉ gãi gãi được tà áo rêu phong của nàng mà thôi. Thầy Tiêu “rất độc thân” của tôi chỉ đứng trầm ngâm lặng lẽ lắc đầu tiếc nuối và ngao ngán…

Sau khi không thể tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ kia, thầy cũng nhanh chóng trở về thực tại, thầy đưa lũ nhóc chúng tôi leo mấy chục bậc thang lên một cái hốc trống hoác ở rìa phía Tây của Thạch Động, rồi sau khi đến được mép của hốc đá này chúng tôi cảm thấy lạnh cả người và sống lưng vì chợt thấy rằng mình đang ở lưng chừng vách đá mà nhìn xuống con đường QL 80 với người ta nhỏ xíu bên dưới… Ở đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt nhìn hết cánh đồng Xà Xía, đường Bà Lý về Núi Đèn Mũi Nai và cả Lục Sơn bên đất Cambodge… Chợt tôi nhìn thấy thầy rùng mình và nhanh chân tụt xuống các bậc thang, mau chóng rời khỏi nơi có cái tầm mắt thu trọn cảnh vật tuyệt vời có một không hai đó một cách lãng phí, không nói không rằng thầy chỉ lên trên vòm hang, cái thứ gì làm cho thầy quá sợ? Một tảng đá to cỡ chiếc xe hơi, chắc nặng cũng chục tấn đang lơ lửng giữa không trung, nó bị kẹt giữa hai khối đá to hơn hai bên, tảng đá ấy như chực hờ rơi xuống cái đám trẻ con và một ông thầy cũng còn đang rất trẻ này…

Hôm sau vào lớp thầy đọc cho chúng tôi một đoạn thơ vì tức cảnh mà sinh tình hôm trước:

“ Hùng vỹ quá! Thạch động nơi ta đến
Thăm một lần rồi khiếp sợ bao đêm.
Nhỡ chiều nào sóng gió chẳng êm
Nó sụp đổ, hỡi đường mô ta chạy?”

Thach Đông nhìn từ QL80, cách trung tâm thị xả Hà Tiên khoảng 3 km. (Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2011)

Một vị trí trên Thạch Đông để ngắm toàn cảnh phía dưới. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Toàn cảnh ruộng lúa từ trên Thạch Động nhìn xuống. (Photo: Trần Văn Mãnh 1994)

Một lối thoát « lên Trời » nhìn từ bên trong Thạch Động

… Hà Tiên trong ký ức của nhiều người trung niên và cao niên, có một nhu cầu tối cần thiết của con người mà Hà tiên của chúng ta luôn đối mặt hàng năm đó là: Nước!

Nhu cầu nước của vùng đất này luôn nhiều hơn khả năng cung cấp của tất cả những gì người ta có thể, ngày xưa họ Mạc đã cho đào ao to chứa nước, các chùa chiền đều có ao chứa nước, nhà dân có đất rộng cũng đào ao chứa nước ngọt, dùng lu hoặc xây bồn hứng triệt để nước mưa, hoặc đào thêm giếng để có nước rửa nhằm tiết kiệm nước ngọt để nấu ăn và nấu nước uống… (Tuy nhiên, có mấy ai biết được là nấu cháo bằng nước giếng lờ lợ sẽ rất ngon và rất béo…)

Hàng ngày người ta phải lên Ao Sen lấy nước, ba cái ao đó không bao giờ đủ cho nhu cầu của người Hà Tiên dù chính quyền xa xưa đã tăng từ một ao lên đến ba như ngày nay… Mùa hạn, cả ba ao đều cạn khô, người ta phải vét nước moi đầy bùn sét từ đáy ao bằng cách đào lỗ chỗ các miệng giếng nhỏ, nhìn đáy ao như vừa qua một trận bom rải thảm thu nhỏ… Các ao nhà dân và ao chùa cũng cạn, người ta phải đi xa hơn để lấy nước trên Giếng Tượng núi Tam Phu Nhơn, hay các giếng khoan “vùng đất linh hồn” núi Đề Liêm mà không một ai nghĩ tới nước giếng khoan đó ngấm cả những phần tử hửu cơ được phân hủy từ nghĩa trang bao đời ngay đó… Rồi sau khi hết tất cả nước của xứ sở giàu tình mà nghèo nước này thì… Ghe nước về.

Ghe nước mang nước từ dòng Vĩnh Tế, là nước ngọt của dòng Bassac của Campuchia chia xẻ cho chúng ta khi trôi về hạ nguồn, nơi ấy nước mặn không xâm nhập, ghe thương hồ thay vì đi chở hàng, nay vì nhu cầu nước của xứ Hà Tiên nên họ đã cải tạo chiếc ghe chút ít để khả dĩ chứa được nước ngọt bơm thẳng vào lòng ghe chứ không chứa đựng vào đâu cả… Nước ghe về thì bến Đông Hồ vui như hội, hàng trăm chiếc xe cây chở nước (bằng thùng phuy hay thùng tôn hàn) xếp dài dọc theo con đường cập theo đó, hết chiếc này được bơm đầy nước sông trắng bạc thì lần lượt đến chiếc khác, “văn hóa xếp hàng” được tôn trọng tuyệt đối nơi đây…

Thầy Tiêu cũng phải tự đi lấy nước và phải xếp hàng trong đó dù ông là … Thầy.

Trải qua mùa hạn đầu tiên của năm 1976-1977 thầy đã thật sự ngao ngán mà thốt lên rằng”

… “Hà Tiên ơi! Cỏ cháy!
Hà Tiên ơi! Người khô.
Ta ngồi đây im lặng
Nhìn mặt nước Đông Hồ
Xót xa…Toàn nước mặn!”

Thầy không ở Hà Tiên đủ lâu để hiểu là người Hà tiên không hề khô, và biết đâu có thể con người của xứ sở này sẽ xoá cái thế “rất độc thân” của thầy mà không có một đòi hỏi gì khác ngoài chuyện – phải yêu xứ sở đó! Và có lẻ, thầy Tiêu còn nhiều thơ về Hà Tiên nữa vì thầy thích làm thơ và có khả năng “xuất khẩu thành thơ”, tuy nhiên tôi đã không còn nhớ…

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước lớn (Photo: Ngọc Viên)

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước cạn. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Nay tôi không biết thầy đang sống nơi đâu, vì năm 1977 Hà tiên bị Khmer đỏ đánh ác liệt, các thầy cô sơ tán, một số thầy cô đã thuyên chuyển đi và không bao giờ quay lại, trong đó có thầy Tiêu.

Tôi cũng mong muốn rằng nhờ Blog này giúp sức, chúng ta sẽ lan tỏa thông tin để tìm kiếm lại những thầy cô bạn bè và đã từng đến gắn với ngôi trường Trung học Hà Tiên, để cùng ôn lại những kỷ niệm thời cắp sách đến trường, để chúng ta còn lưu được những điều đẹp đẽ nhất.

TruongMinhQuangNguyen_1Quang Nguyên (Việt Nam)

10/2017

 

 

 

 

 

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trương Minh Quang Nguyên

Tái bút:

Cô Lâm Ngọc Mai chị của bạn Lâm Thị Lan cho chúng ta biết là thầy tên nguyên họ là Nguyễn Văn Tiêu và môn thầy dạy là môn Sinh Vật. Xin cám ơn cô Mai và bạn Lan nhiều. (dỉ nhiên là một người thầy trên bậc Trung Học có thể dạy nhiều môn khác nhau tùy theo tình hình thiếu giáo sư trong trường nên có thể là thầy Nguyễn Văn Tiêu ngoài môn Sinh Vật, còn dạy môn Địa Lý cho lớp của bạn Quang Nguyên (tác giả bài viết trên)

Bạn Hồ Anh Dũng có thông tin cho biết thêm là thầy Nguyễn Văn Tiêu về dạy trường TRung Học Hà Tiên trước năm 1975, cô Nguyễn Thị Bình dạy môn Anh văn tại Trung Học Hà Tiên (niên khóa 1974-1975) là vợ của Thầy Tiêu lúc đó..

Cô Võ Kim Loan có thông tin thêm là hiện thầy Nguyễn Văn Tiêu định cư ở Sydney Úc Châu, thầy Tiêu có thông tin tìm người quen trên mạng (Blog Tha Hương, thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá), địa chỉ e-Mail của Thầy Tiêu như sau:

tuannguyenaus1@yahoo.com.au

Thông tin tìm người quen của thầy Nguyễn Văn Tiêu đăng trên Blog Tha Hương (thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá)