Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, không có gì trân trọng và cao quý cho bằng một người học trò viết lời ca tụng người thầy, người cô của mình, lại cũng một niềm trân trọng và đáng quý đó khi một người con viết lời cảm kích, tri ân, ngưởng mộ và ca tụng người cha, người mẹ của mình…Ở đây, tác giả bài viết, Trương Thị Uyên My, đã có đủ vị trí để làm hai việc cao quý đó,…thật là hay và đáng phục thay…

Đối với mình, Uyên My vẫn là một cô gái bé nhỏ hằng ngày đạp chiếc xe đạp chạy ngang nhà mình đường Bạch Đằng, sắp sửa quẹo ra đường Lam Sơn để đi ra chợ…Thật vậy, ngày xưa mình thường có thới quen ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường, ngay ở góc đường Bach Đằng – Lam Sơn Hà Tiên và dỏi mắt ngóng nhìn những người đi đường qua lại,…Khi thì thấy Nguyễn Thị Anh Đào, một người bạn gái cùng lớp xách giỏ đi chợ về cùng với bà mẹ, hai mẹ con cùng đi bộ trên vỉa hè đối diện nhà mình,…Khi thì thấy cô bé Uyên My, con gái đầu lòng của thầy cô Đạt – Liên đạp xe đi chợ như đã nói ở trên…

Rồi thời gian cứ như vậy trôi đi, như Uyên My sắp sửa kể ra trong bài viết dưới đây, học trò đến quán cafe của thầy cô để uống cafe, thưởng thức âm nhạc chọn lọc và « …lại ngoài Ti La »…… Cuộc sống tưởng chừng như vẫn êm đềm trôi qua…không ai vướng bận chuyện sinh kế khó khăn…Nhưng rồi trong đời sống ai cũng có những giai đoạn khác nhau,..Gia đình Uyên My chuyển sang một giai đoạn khó khăn, mọi người đồng tâm đồng lực, cha, mẹ, anh em cùng nhau góp sức để vượt lên, đương đầu với hoàn cảnh…Mình có đọc qua bài viết của cô Nguyễn Phước Thị Liên về giai đoạn đời sống nầy, đó là bài « Vươn lên từ đời chợ », cái tựa quả là một câu châm ngôn để làm chỉ tiêu cho cuộc sống. Chúng ta đã có lúc học ở trường lớp, thâu thập kiến thức, có bằng cấp để ra đời đi làm việc, nhưng chúng ta còn phải học hỏi và vươn lên ở trường đời, mà trường đời là ở đâu, có phải đó là cái chợ mà chúng ta thường lui tới, tiếp xúc, học hỏi với mọi người…Trong bài viết nầy cô có nhắc đến đoạn hai cháu đi bán bánh mì ban đêm, tiếng rao bánh nghe vang dội giữa đêm khuya..Một người quen mới hỏi: “Nghe thằng con thím rao bánh mì, tui hỏi nó sao con không rao bánh mì nóng giòn đây như mấy đứa kia mà rao bánh mì đây, vậy thì ai muốn mua. Thím biết nó trả lời sao không? Nó nói: bánh ra lò hồi bốn giờ sáng, bây giờ đã hơn sáu giờ, con lại không có đồ ủ nóng thì làm sao nóng giòn được. Con rao như vậy mới đúng sự thật. Tội nghiệp thằng nhỏ, lại thấy thím dạy con giỏi quá. Tui mua cho nó một hơi bốn năm ổ bánh”. Quả thật con nhà gia giáo có khác…

Chưa bao giờ câu nói như vầy lại đúng hơn mọi lúc: « Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời »…hoặc câu: « Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai »…Thời gian trôi qua, với sức sống không ngừng nghỉ, cả nhà đều vượt qua các nỗi khó khăn vì các con đã khôn lớn và học tập thành tài, mỗi người đều có cương vị, đời sống ổn định cho mình, vì vậy bậc cha mẹ cũng được hưởng tuổi nhàn một cách xứng đáng, giống như Ông Trời đã chủ định như vậy, người nào có công tạo dựng thì người đó được hưởng phúc về sau..Cũng giống như câu kết luận của cô Liên viết cho bài « Vươn lên từ đời chợ », câu kết luận nầy mình cũng xin mượn để kết luận cho phần viết lời giới thiệu bài của Trương Thị Uyên My: « Đời chợ giúp tôi ổn định cuộc sống, nuôi mấy đứa con ăn học thành tài. Từ chợ vươn lên, các con tôi bây giờ đứa nào cũng có cuộc sống tốt, biết giúp đời, giúp người. Chồng tôi vì thế cũng có phần đóng góp cho quê hương trong công trình nghiên cứu. Tuy thế, cứ mỗi lần nhắc đến “chợ”, cả nhà tôi không ai ngăn nổi cảm xúc nhớ lại từng khuôn mặt, vóc dáng người bán hàng, bán quán, rồi bà bán cá, chị bán thịt, bán rau, cả những người bây giờ không còn nữa. Rồi là từng mét đường đi vào chợ nằm giữa hai dãy quán “kề vai sát cánh” trong chợ nhà lồng; cái nhớp nháp ở chợ cá; mùi nồng thơm ở chợ rau, v.v…Giờ đây tôi không còn nhọc công đi chợ lo hai bữa ăn, chỉ dạo chợ mua sắm khi có bạn bè theo các “tua” du lịch về đây. Vào chợ, gặp lại người xưa cũ, ai cũng hỏi thăm chồng và các con tôi. Tôi trả lời đến ríu cả lưỡi. Có người còn hỏi: “Cô có khỏe không? Sao lâu quá không thấy cô đi chợ?”. Liền có người cười, nói: “Lúc này cô bỏ chợ, chỉ đi chùa…”. Tôi cười chào, chớp lia đôi mắt lão, tưởng mình không ngăn nổi cảm xúc ».

Xin giới thiệu đến thầy cô và các bạn bài tự thuật của Trương Thị Uyên My, một em học trò, một người con gái, con của thầy cô Đạt – Liên mà cũng là một người con của mảnh đất Hà Tiên mến yêu. (Trần Văn Mãnh, viết giới thiệu)

Trương Minh Đạt, một người thầy quê Hà Tiên

BA TÔI – Chuyện giờ mới kể. (Trương Thị Uyên My)

Ba tôi là người Hà Tiên cố cựu. Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Yên, học Trung học ở Sài Gòn, sau khi ra trường về làm việc ở Hà Tiên. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm như phần lớn những người đã sống trong thời kỳ đất nước phân chia. Ông đi qua chiến tranh với một phần thân thể bị mất mát, ông làm việc cật lực để nuôi gia đình với 8 đứa con đang tuổi lớn trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, ông dạy con dù đói nghèo cũng không được làm mất đi phẩm cách con người, ông truyền cho con nhận thức về tính thẩm mỹ trong thơ – ca – nhạc – họa. Ông là TRƯƠNG MINH ĐẠT, người đã xin giấy phép thành lập trường Trung học Hà Tiên, là thầy giáo trường Trung học Hà Tiên xưa.

Trong nhận xét non nớt của tôi ngày ấy và cho đến tận bây giờ thì ba tôi là người lãng mạn, tài hoa. Ông không ham làm giàu. Là công chức với đồng lương cố định, để trang trải thêm cho cuộc sống gia đình, ba má tôi mở một quán café trong sân vườn tại nhà. Thời đó (khoảng năm 1970) mà ông sắm sửa cho quán của mình một dàn loa Pionner lớn, ampli và đầu phát băng cối AKAI, chỉ để phát nhạc bán café mấy tiếng đồng hồ mỗi tối. Khách đến quán là nam thanh nữ tú của Hà Tiên lúc đó, là các cô chú, anh chị lớp lớn của trường Trung học Hà Tiên xưa. Quán kén khách vì nhạc của ba tôi mở kén người nghe. Tôi chưa bao giờ nghe ông hát câu nào, nhưng nhạc ông chọn mở trong quán là những tuyệt tác. Tám tuổi tôi đã nghe Fantom of the Opera, For Elise, Autumn leaves, Le beau Danube bleu, Serenade, La vie en rose, Hội Trùng Dương, Con đường cái quan, Nụ tầm xuân, Buồn tàn thu, Gửi gió cho mây ngàn bay … dần dần tôi tự phân biệt được nhạc thính phòng, nhạc tiền chiến và dòng nhạc thời trang.

Ba tôi đặt tên quán cũng lạ đời – TI LA – nghe cứ như tiếng nước ngoài, nhưng đó là ông trích dẫn từ tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ “Nhà lan sum họp bạn mai. Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA”. Hóa ra, TI LA là dây tơ hồng. Về sau, tôi được biết có nhiều cô chú, anh chị… đã thành đôi lứa sau những lần tới lui, hẹn hò bên ly café của quán.

Ba tôi vẽ đẹp. Tôi đã đứng hàng giờ xem ông vẽ bằng sơn nước lên các bức tường trang trí chung quanh quán. Dưới nét cọ của ông lần lượt hiện ra những cánh cò bé nhỏ chập chờn chao lượn, những áng mây trắng lãng đãng trôi qua mặt trăng to thẫm. Ông gọi Cò trăng. Chỗ khác là thảm cỏ non điểm ít hoa dại với mấy chú nai vàng, con thì ngơ ngác ngó quanh, con đang thảnh thơi uống nước bên dòng suối. Ông gọi Suối nai… Bàn café đặt tại đây cũng được gọi tên theo các bức họa đó.

Ba tôi là người của gia đình, ông thích trang trí nhà cửa. Cứ khoảng 4 – 5 tháng ông lại xê dịch bàn ghế, giường tủ trong nhà. Hết xoay ngang lại xoay dọc. Lúc dựa tường, lúc kéo về gần cửa sổ. Dời cái nọ đổi cái kia. Tôi rất sợ những lần di chuyển đồ đạc đó, vì chúng tôi phải dọn dẹp tất cả sách vở, quần áo, đồ dùng… Tủ nhẹ đi ba tôi mới dễ dời đổi chúng. Đến nay, đã có nhà riêng tôi mới hiểu được chủ ý của ba tôi khi làm việc đó, ông muốn tạo không gian mới lạ cho sinh hoạt vốn đã quá quen thuộc, để cuộc sống gia đình không trở thành nhàm chán. Tôi còn nhớ những lần đi Sài Gòn mua băng nhạc mới cho quán, ba tôi không quên mang về những xấp vải đẹp để má tôi may áo dài, ông cũng lựa mua giày cho má. Có lần cùng ba tôi đi SG, vào tiệm giày lựa chọn chán chê ông hỏi: “Con thấy má mang đôi giày này đẹp không?”. Tôi mới 11 tuổi, chẳng biết gì về thời trang, cũng gật đầu “Dạ, đẹp”. Thế là ông mua luôn. Đôi giày hơi cao, má tôi vốn đã cao nên nếu mang đôi giày đó đi cạnh thì ba tôi thấp hơn hẳn. Bây giờ tôi đã hiểu ra, giày cao gót làm dáng đi nhẹ nhàng, thanh thoát, ba tôi sẳn lòng chịu thấp hơn để má tôi có dáng đi đẹp. Má tôi thật là người phụ nữ may mắn khi có được người chồng tinh tế như ông.

Trương Thị Uyên My hình chụp lúc còn nhỏ tuổi tại quán nhà Ti La (Hà Tiên)

Chúng tôi lớn thêm một chút, ba tôi vào bếp dạy nấu cơm. Tám chị em chúng tôi gồm 2 gái 6 trai, đứa nào cũng biết làm cơm là nhờ ba tôi cả. Ông dạy chúng tôi cách thổi lửa (ngày đó chỉ có than, củi, nhà ai sang chút thì nấu bằng dầu hôi, làm gì có bếp gas, lò điện như bây giờ), cơm sôi cạn nước phải gạn lửa như thế nào, làm cá, làm gà, làm thịt… ra sao. Kho cá, chiên cá, kho thịt heo nước dừa, khìa thịt vịt… lúc nào cần lửa to, lúc nào phải để lửa liu riu. Mọi việc bếp núc chúng tôi đều học hỏi từ ba tôi. Nấu món gì, nêm nếm ra sao, mặn ngọt thế nào… đều từ ba tôi mà ra. Lạ chưa!

Thầy Trương Minh Đạt ảnh năm 1968

Má tôi người Huế, lại là Huế cung đình, lẽ ra việc nấu nướng thì má phải chỉ dạy cho con, đằng này ngược lại. Má tôi thêu thùa – may vá – đan móc rất khéo, bà may đồ cho cả nhà mặc mà không qua một lớp dạy cắt may nào. Áo len bà đan hoa văn đa dạng sắc sảo, phối màu đẹp, đặc biệt má tôi đan áo không cần đo mà mặc vào vẫn vừa vặn, nhưng còn nấu ăn thì ôi thôi!

Trương Thị Uyên My vào tuổi học lớp sáu Trường Trung Học Hà Tiên

Năm 1975 là bước ngoặt của gia đình tôi. Quán café đóng cửa. Ba tôi do có thời gian làm sĩ quan nên dù đã giải ngũ vẫn phải đi cải tạo tập trung. Thời gian ông vắng nhà má tôi gồng gánh nuôi tám đứa con như tám cái tàu há mồm lúc nào cũng trong trạng thái đói. Má tôi ngoài việc đi dạy ở trường Tiểu học về là tất bật đan, móc, làm những sản phẩm thủ công để kiếm tiền mua gạo đổ vào đám tàu há mồm. Chúng tôi đang tuổi lớn, ăn không no, lo chưa tới nhưng cũng biết thân phận gia đình mình để phụ tiếp má tôi mọi việc trong ngoài. Những năm tháng khó khăn đó nhà tôi ăn cháo thường xuyên. Nhà đông con, mỗi lần nấu cháo là đong 3 lon gạo (lon sữa bò) nấu kèm với khoai lang, khoai mì thành một nồi cháo khổng lồ, ai nhìn thấy cũng hết hồn. Chúng tôi chỉ ăn cháo với muối trắng. Đồng tiền ít ỏi má tôi kiếm được còn dành để mua chất đốt và các thứ khác, không chỉ dành riêng cho thức ăn. Trong cái khó thường ló cái khôn, tôi thường lảng vảng chỗ bán khoai, ở đó khách lựa mua ngắt bỏ 2 đầu hoặc những củ nhỏ bám trên củ khoai (những củ nhỏ bị bỏ đi này chỉ bằng ngón tay cái hoặc bằng ngón chân, gọi là dái khoai), tôi lượm dái khoai mang về gọt sạch cho vào nấu, cũng thành nồi cháo ngon lành mà không tốn tiền mua khoai.

Ba tôi đi không biết bao giờ mới được về. Má tôi quay quắt một mình với tám đứa con. Nhà đói nghèo, con nheo nhóc. Má tôi chỉ có một niềm vui duy nhất là chị em tôi đứa nào cũng học khá, dù chúng tôi cũng bị cuốn vào vòng xoáy của cơm áo gạo tiền, không có nhiều thời gian dành cho học tập như trước.

Một ngày, thằng em chín tuổi chạy về xin má tôi cho đi bán bánh mì để phụ giúp gia đình. Không có tiền ứng trước mua bánh nên má tôi dẫn thằng con đến gặp ông chủ lò bánh mì Tân Thái xin ông giao bánh trước, bán được sẽ hoàn lại tiền bánh sau. Ông thương cảnh nhà tôi cơ cực đã đồng ý, còn cho phép nếu không bán hết thì phần bánh thừa ông sẽ nhận lại, hoa hồng bán bánh được mang về cho má tôi.

Năm đó, em tôi một đứa 9 tuổi, một đứa 10 tuổi đi bán bánh mì, tiếng rao vang vang khắp các ngõ đường, về nhà nó nói chuyện khào khào không ra tiếng.  Hà Tiên thời khốn khó không có điện, mỗi tối tôi và má cắm cúi đan áo bên ngọn đèn dầu tù mù đến nửa đêm. Đôi khi nghe tiếng con bán bánh mì ở những đường gần nhà, tiếng rao lanh lảnh trong đêm, má tôi khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, không một lời ta thán.

Ba tôi về. Cả nhà vui mừng quá đỗi.

Thời đó Hà Tiên không có nước máy, cả phố chợ trông chờ vào nước ngọt của 3 cái ao sen. Ba tôi mượn tiền mua một chiếc xe cây và một cái thùng phuy để lấy nước từ ao sen về đổi cho các gia đình ở chợ. Kéo chiếc xe cây với thùng phuy đầy nước đi cả chục cây số trên các con đường lồi lỏm ổ gà, đá nhọn, sau đó chuyển nước từ thùng phuy vào nhà người mua bằng 2 thùng nước nặng 25kg/thùng trên hai tay, ba tôi làm công việc nặng nhọc đó mỗi ngày. Người quen và học trò của ba tôi nhiều lắm, họ thương ông nên đặt lấy nước thường xuyên. Ba tôi mới ra xe nước mà đã có nhiều mối đặt hàng rồi. Hai đứa em ngoài giờ học và bán bánh mì cũng theo phụ tiếp ba tôi đẩy nước.

Đời sống quá khó khăn, người ta phải tìm hướng đi cho cuộc sống mới. Hà Tiên có bờ biển dài nên thuận lợi cho những chuyến đi biển. Cứ mỗi đêm qua, sáng ra vào trường là tôi vắng đi 1 – 2 người bạn, chúng nó theo gia đình đi vượt biên. Thời đó đi vượt biên là chấp nhận việc may-rủi sống-chết. Nếu may mắn đi thoát thì sống mà đường về với gia đình hầu như không có, nếu xui rủi gặp bão tố hoặc tai nạn trên biển thì xem như cầm chắc cái chết, chưa kể nếu bị bắt lại sẽ phải chịu cảnh tù đày. Ba tôi giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh nên có mấy người học trò đến nhà thì thào to nhỏ cho ông vượt biển theo ghe miễn phí, ông đều từ chối. Ba tôi không sợ việc sống-chết mà ông lo má tôi không đủ sức chèo chống để nuôi tám đứa con. Trên tất cả, ông có niềm tin tâm linh mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng hơn trên quê hương.

Chiến sự ở biên giới Tây Nam. Râm ran những tiếng xì xào, đồn đoán về việc quân Khmer Đỏ quấy nhiễu vùng ven biên. Một ngày, chính quyền địa phương mời dân cư đi họp để nghe trao đổi về tình trạng căng thẳng đang diễn ra phức tạp ở vùng biên giới và yêu cầu dân chúng di tản khỏi thành phố. Bằng khả năng phán đoán tình hình của một người đã đi qua chiến tranh, ba tôi nhanh chóng tập họp con cái và đóng gói đồ đạc đưa gia đình sơ tán. Chiếc xe cây đẩy nước mỗi ngày giờ càng tỏ ra hữu dụng, mấy đứa con nhỏ cùng những đồ dùng thiết yếu của gia đình được chất lên xe. Cả nhà tôi đi di tản ngay trong đợt đầu tiên.

Gia đình chúng tôi về sống trên đất vườn của ông bà ở Thuận Yên. Khó khăn chồng thêm khó khăn. Trường Trung học Hà Tiên dời về Kiên Lương, tôi nghỉ học để bớt gánh nặng cho gia đình. Má tôi vẫn đi dạy theo trường sơ tán nhưng em tôi không bán bánh mì, ba tôi không còn đẩy xe nước cũng là mất nguồn thu nhập chính. Ông quay sang trồng rau, trồng khoai, trồng lúa. Trong lúc chờ thu hoạch các loại nông sản chúng tôi sống lây lất với đồng lương giáo viên của má tôi. Học trò của ba tôi lại ra tay giúp thầy, các chú có ghe đánh cá gọi em tôi: “Buổi sáng xuống biển chờ ghe vô, bán cá xong thì những loại cá nhỏ chú sẽ cho con mang về cho nhà”. Nhờ vậy chúng tôi cũng đắp đổi qua ngày.

Vị trí xả Thuận Yên so với thị xả Hà Tiên

Cầu Rạch Vược thuộc Ấp Rạch Vược xả Thuận Yên Hà Tiên ngày xưa (quê nội của tác giả bài viết).

Ba tôi mua một chiếc xuồng, ông tập chèo xuồng trong kênh rạch và tập chài lưới đánh cá để có thêm thực phẩm cho gia đình. Về Thuận Yên tôi mới biết ba tôi có nhiều người bạn học, chơi với nhau từ thuở lớp 1 trường làng, những người này cũng thương ba tôi, họ đến giúp ông dựng mái nhà lá để cả nhà có chỗ trú ngụ. Trước khi mùa mưa đến, các chú bàn với ba tôi về kế hoạch trồng lúa nước ở Lò Bôm (xã Phú Mỹ). Họ tranh thủ mùa nắng đốt đồng, trỉa lúa, tro đốt đồng nằm lại sẽ làm phân bón cho lúa khi mưa về. Họ chọn giống lúa nước để khi có mưa nước cao đến đâu lúa cũng vươn cao đến đó.  4g sáng má tôi thức dậy kho cá, nấu cơm sẳn, 5g tôi cùng ba tôi và hai đứa em trai ăn cơm xong lên xuồng chèo vào Lò Bôm. Đến nơi khoảng 8g sáng, đồng không mông quạnh không một bóng cây, ba tôi tìm được một cái chòi lá ở giữa đồng, mấy cha con kéo đồ đạc vào đó. Trước đây ba tôi đã đốt đồng rồi nên lúc chị em tôi vào là tiếp ông trỉa lúa. Ông cầm cái cây dài, nặng và tròn, đường kính bằng cái ly lớn, ông đứng phía trên gõ cây xuống lớp tro bên dưới tạo thành những cái lỗ tròn tròn với khoảng cách đều nhau, chúng tôi đi theo rải các hạt lúa giống vào những cái lỗ đó và lấp lại để không bị chim ăn. Nói nghe dễ dàng vậy nhưng không dễ chút nào, vì phải khom lưng ngẩng lên cúi xuống cả ngày nên chị em tôi đứa nào cũng đau lưng ghê gớm mà chẳng dám hó hé gì. Các chú bạn của ba tôi cũng trỉa lúa gần đó. Tối đến, đám con nít mệt quá ngủ sớm thì mấy người lớn vẫn còn trò chuyện với nhau. Sau đợt trỉa lúa, mùa mưa đến, ba tôi thường chèo xuồng vào thăm đồng một mình.

Cuối vụ, các chú bạn của ba tôi ai cũng tròn xoe mắt ngạc nhiên vì cùng trên một vùng đất, cùng đốt đồng, cùng kỹ thuật xuống giống, cùng giống lúa, thậm chí các chú là những nông dân chính hiệu đã hướng dẫn lại cách làm lúa nước cho ba tôi – kinh nghiệm làm ruộng như tờ giấy trắng – mà mảnh ruộng của ba tôi trúng mùa hơn hẳn. Lúa chín đều, vàng ươm, hạt thóc to, đầy trĩu cả ngọn. Ba tôi cười tít mắt. Ông về gọi má tôi vào ruộng xem lúa chín. Má tôi giảy nảy:

– Thôi, tui còn đi dạy, còn cả đống bài của học trò chưa chấm, còn áo nhận đan cho người ta không giao kịp ngày hẹn.

Ba tôi vẫn nài nỉ má tôi cùng vào thăm đồng với ông. Ông nói má tôi không cần làm gì cả, chỉ vào đó để xem lúa chín vàng đồng, để thấy ngọn lúa trĩu hạt đong đưa trong gió. Cho rằng việc đó không thiết thực, mất thời gian làm việc, má tôi từ chối. Rốt cuộc hai ông bà to tiếng với nhau vì ai cũng cố giữ ý kiến riêng.

Ngày đó tôi chưa đủ lớn để phân định đúng sai vì thấy cả ba và má tôi ai cũng có lý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy lẽ ra má tôi nên sắp xếp thời gian vào thăm đồng cùng ba tôi lúc đó. Sau những ngày làm lụng cực nhọc trên đồng, sau những giọt mồ hôi đổ xuống ruộng nương, ông chỉ muốn được tự tay chèo xuồng đưa vợ vào xem đồng lúa chín, là thành quả lao động cật lực của mình. Ông chỉ muốn cùng má tôi ngồi trên bờ ruộng nhìn hạt lúa căng tròn, vàng rộm trên cành rung rinh trước gió, chứ không phải là hạt thóc khi trút vào bồ hay là hạt gạo khi đổ vào nồi.

Ngày gặt, ba tôi nâng niu từng gốc lúa, sợ làm mạnh tay thì bông lúa rụng đi. Trong khi các thửa ruộng chung quanh của những người bạn đã thu hoạch gần xong thì trên phần ruộng của ba tôi vẫn còn ngút ngàn lúa là lúa. Mấy chú kêu í ới

– Anh Sáu ơi, gặt nhanh lên không thôi lúa chín quá nó rụng hết.

Ba tôi có tăng tốc lên được một chút, rồi đâu lại vào đó, chúng tôi tiếp ông gặt lúa mà làm nhanh hoặc mạnh tay còn bị ông la vì sợ lúa rơi rớt. Sau khi gặt hết số lúa trên phần ruộng của mình, mấy chú bạn của ba tôi nhìn ông thấy “ứa gan, gai mắt quá” nên chạy qua làm tiếp. Đúng là nông dân chuyên nghiệp có khác, mấy chú làm rào rào, trong vòng 3 ngày đã thu hoạch xong cả ruộng lúa lớn, dọn dẹp sạch đẹp, trả lại đồng trống như cũ. Mấy chú lắc đầu, chép miệng:

– Để ba mày làm một mình thì cả tháng nữa cũng không xong.

Gian khổ rồi cũng qua. Giờ đây, mỗi đứa con đã có thể tự trang trải cho cuộc sống riêng.

Khi nỗi lo cơm áo gạo tiền vơi đi là lúc ba tôi quay về với đam mê của mình. Ông không hút thuốc, không rượu chè nhậu nhẹt, không cờ bạc trai gái, không đàn đúm bạn bè, không đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp, ông chỉ mê mỗi một thứ, ba tôi mê sách. Ông dành dụm từng đồng có được để mua sách. Sách xưa, quí hiếm ở đâu ông cũng tìm mua bằng được. Sách của ba tôi tràn ngập từ chân cầu thang lên đến trên gác, từ trong phòng ngủ ra đến phòng thờ ông bà. Tôi thường nói vui với ông

– Đến ngày trăm tuổi chắc ba không nhắm mắt được vì còn mấy cuốn sách chẳng biết giao cho ai.

Ông giao sách là người nhận tự hiểu sẽ tiếp tục các công trình còn dang dỡ của ông, là phải biết chắt lọc kiến thức từ sách vở để làm ra những gì thiết thực ích lợi cho mọi người, không đơn giản chỉ là người quản thủ thư viện.

May quá, trong bầy con tám đứa ông có “một đứa con ruột”. Nhà nó cũng ngập tràn sách là sách. Nó làm ra bao nhiêu là đổ vào sách. Sách từ trên lầu xuống đến chân cầu thang, sách từ phòng khách vô đến phòng ngủ, sách leo cả lên phòng trên sân thượng. Nó cũng đã có những dự án, sản phẩm… được giới chuyên môn công nhận. May hơn nữa, khi ba tôi ướm hỏi việc giữ sách lúc ông trăm tuổi, nó vui vẻ nhận lời.

Hú hồn! Tôi chỉ sợ nó từ chối thì ba tôi khó lòng mà nhắm mắt.

Từ tủ sách quí sưu tầm được, lúc đọc và phát hiện những sai biệt, ba tôi tìm tòi thêm từ nhiều nguồn sách khác nên dần trở thành người nghiên cứu. Ông đối chiếu tư liệu trong sách cổ, so sánh thực tế và phản biện những ý kiến chủ quan của các bài viết không qua nghiên cứu, làm sai lệch lịch sử. Với tấm lòng yêu quê hương và mong muốn sự thật của lịch sử được trả về đúng bản chất, ông nghiên cứu về lịch sử đất Hà Tiên. Oái oăm thay, thời đó các bài viết của ba tôi về vùng đất Hà Tiên được báo Khoa học Xã hội của Tp. HCM, các tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTạp chí Hán Nôm của Hà Nội công nhận giá trị cao, trong khi tại địa phương hầu như chẳng mấy ai quan tâm.

Khi ba tôi có nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách thì ông cũng được nhiều người biết đến. Các Đài truyền hình chuyên giới thiệu chương trình Đất nước con người các vùng miền khi đến Hà Tiên làm phóng sự thường ghé thăm ông để lấy tư liệu. Các trường Đại học cũng gửi giáo sư và sinh viên đến gặp ông để được hướng dẫn sử liệu. Trường Đại học này lại giới thiệu cho Đại học khác về kho tư liệu sống ở xứ Hà Tiên xa xôi. Ba tôi có một kỹ năng mà đến giờ chúng tôi vẫn còn kinh ngạc, khi nói về lịch sử ông không nói suông mà đều có dẫn chứng, nội dung đang đề cập nằm ở sách nào, trang nào, cuốn số mấy…  ông đều nhớ rõ, rồi ông lụm cụm đến tủ sách – cả mấy ngàn cuốn – lấy ra đúng y cuốn sách cần tìm. Đứng trước tủ sách, ông chỉ cần liếc sơ là biết đang mất cuốn nào, chúng tôi có mượn xem thì liệu hồn mà trả lại sớm, đúng nơi, đúng chỗ.

Học trò của ba tôi thuộc các thế hệ đầu của trường Trung học Hà Tiên xưa, đến nay người còn người mất, có người đi xa ở nước ngoài. Thỉnh thoảng các bạn cũ hay học trò xưa đến thăm, trò chuyện chơi với ba tôi, tuy nhiên cũng có người vì e ngại hay vì lý do riêng tư không thấy ghé qua…Ông có buồn không? Tôi không dám hỏi, còn ba tôi thì chẳng bao giờ đề cập đến chuyện này. Ông vẫn duy trì tình bằng hữu, tình thầy trò, nhắc nhau những kỷ niệm xưa khi có người quen cũ đến thăm.

Thầy Trương Minh Đạt ảnh hiện nay

Mặc thế thái nhân tình, mặc kẻ ghét người thương, ở tuổi 82 ông vẫn miệt mài lặng lẽ làm cái việc âm thầm của người nghiên cứu sử.

Mọi người gọi ba tôi bằng những danh xưng hoa mỹ: Nhà Hà Tiên học, Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà nghiên cứu văn hóa…

Với tôi, ông là người thầy, là nhà giáo. Một nhà giáo có nhân cách lớn.

Trương Thị Uyên My (02/2018)

Trương Thị Uyên My ảnh hiện nay.

Hình ảnh: Trương Thị Uyên My, Trương Minh Quang Nguyên, hình sưu tầm trên mạng Internet

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…