Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Niên học đau buồn 1977-1978 (Quang Nguyên)

Niên học đau buồn 1977-1978.

Hà Tiên là vùng đất xung yếu đã quen với việc đao binh từ xưa lắm, trong ba thế kỷ trước cha ông ta đã phải đương đầu với việc quân Xiêm nhiều lần xâm lược nước Việt, mà bước chân đầu tiên của họ đặt trên đất chúng ta là Hà Tiên… Có thể nói, dân Hà Tiên rất “nhạy cảm” với giặc giã, việc này được người dân xứ  Hà Tiên “thấm nhuần” đến thành phản xạ, cứ một ai đó chỉ cần vừa chạy vừa la “tới rồi, tới rồi….!”, thì cả thị trấn rùng rùng bỏ chạy, bỏ cả chuyện làm ăn, chợ búa, sinh hoạt đời thường.…Gom đồ đạc hàng ngày bỏ lên xe cây để chạy khỏi Hà Tiên qua một cửa ngõ duy nhất là vượt cửa biển Hà Tiên qua đất Tô Châu.

Cũng có khi là “báo động giả”, và sau đó mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường, nhưng có một đêm nọ khi cả thị trấn nhỏ bé mà không bình yên này đang êm đềm trong giấc mộng, thì cái “loa phường” làm một công việc mà theo tôi là “ý nghĩa” nhất của sự tồn tại của nó, nó bắt đầu rột rẹt, rột rẹt… Vào tầm hai giờ sáng! Lần này thì không giả nữa rồi, cả cái mạng Ô-pạc-lưa (haut-parleur) mà chính quyền đã bố trí chỉ trong vài trăm mét đường kính có một cái, hàng chục cái “loa phường” ấy đã bất thần đồng loạt hoạt động, nó dựng tất cả người già, trẻ nhỏ, nam phụ lão ấu của xứ Hà Tiên thức giấc cùng một lúc để … di tản! Hàng ngàn con người rùng rùng kéo ra bến đò bằng đi bộ, xe đạp, xe gắn máy…v..v.. Những nhà có xe cây thì chất lên đấy những vật dụng cần thiết nhất để duy trì tối thiểu cuộc sống hàng ngày, riêng chiếc xe cây nhà tôi thì có thêm một bầy… ba bốn đứa con nít, vì chúng còn quá nhỏ để đi bộ trên con đường QL 80 mà ngày ấy còn nhiều đá cấp phối lô nhô lổ chỗ…

Cây cầu phao nổi tiếng của xứ Hà Tiên lúc ấy không còn nữa vì chuyện an ninh quốc gia, người Hà Tiên cũng quen với việc nhìn chính quyền làm gì với cây cầu mà dự báo chuyện sắp tới, hễ ngăn hai đầu cầu lại và rút một khúc ra là việc mở cầu cho tàu lớn qua lại hàng ngày, nhưng cây cầu này mà bị kéo đi đâu mất tiêu thì họ biết chắc là sẽ “có biến”… Dạo ấy cầu đã bị dỡ đi, toàn bộ người dân Hà tiên đã bị ngăn cách với đầu bên kia quốc lộ bởi con sông Giang Thành thơ mộng chảy ra cửa biển Hà Tiên mà chỗ hẹp nhất cũng vài trăm mét. Để giải quyết việc di tản qua sông thì chính quyền cho người dân qua lại bằng phà, mà phà thì chờ đợi hơi lâu nên người dân có thêm vài chiếc đò ngang được cải tiến từ ghe tam bản loại nhỏ thêm be và nâng sàn, gắn thêm mỏ bàn bằng cây ván để xe máy và xe cây có thể lên được…Tất cả các phương tiên khả dĩ đưa được người dân qua sông được trưng dụng tối đa.

Việc di tản từ khuya đó kéo dài đến vài hôm sau mà không có động tịnh gì, thế nhưng mọi sinh hoạt của người Hà Tiên bị xáo động từ hôm ấy…

Bọn học sinh chúng tôi ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông để tránh tầm pháo… Tôi nhớ không lầm thì học trò cấp một học ở các điểm Tô Châu, chùa Ông Bắc ở eo Bà Má. Học trò cấp hai thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, họ bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính lứa thầy trò học sinh của chúng tôi dọn trường này trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên mà Mr. Mãnh đã thân thương làm chủ đề Blog này)

Vị trí tương đối giữa Hà Tiên – Rạch Núi – Thuận Yên

Niên học đó như đã nói trên chúng tôi học tại điểm Rạch Núi cách Hà Tiên khoảng 4 km, việc học gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu bàn ghế và phòng học, thường xuyên phải nghỉ học vì thiếu giáo viên, môn ngoại ngữ là bỏ hẵn… Bọn học trò chúng tôi hễ cứ được nghỉ là sướng rân cả lên, đi chơi thoải mái, thời gian đó chúng tôi được học rất ít, việc bỏ tiết là chuyện rất bình thường, có khi trống tiết vì không có giáo viên, nhưng cũng có khi giáo viên vào trễ hay bệnh mà trường không biết được để thông báo, vì thực tế còn một số giáo viên còn bám trụ ở lại thị trấn Hà Tiên mà giao thông thì cách trở  còn phương tiện liên lạc thì không có gì…

Buổi sáng hôm ấy đã không như mọi buổi sáng bình thường bởi đêm hôm trước Miên đỏ pháo kích quá chừng, có những quả đạn pháo vượt qua cả núi Tiểu Tô Châu, có nghĩa vùng di tản này cũng không còn là an toàn … Trước đó, sau cái đêm “tản cư bắt buộc” đó, do thấy “êm êm” nên một số người dân quay về Hà Tiên dù chính quyền không khuyến khích, sáng nay vì vụ pháo kích đêm hôm nên thêm những dòng người “di tản tự nguyện” từ Hà Tiên chạy qua Thuận Yên mà theo họ – đêm hôm “Miên đỏ pháo như cơm sôi!…”. Để khẳng định cho điều họ nói là các xe hồng thập tự của quân đội, xe của người dân liên tục đưa người bị thương ở Hà Tiên qua Kiên Lương, hay gần trường tôi học là các trạm xá của quân đội và trạm y tế xã Thuận Yên cũng đã tiếp nhận nhiều ca dân sự thương vong …

Đám học trò chúng tôi bàng hoàng ngơ ngác vì nghe tin đồn có thầy cô bị thương trong trận đêm hôm, nhất là khối lớp tám (tôi đang học lớp bảy) bơ vơ như đàn gà không mẹ chạy tới lui nhớn nhác, vì đã đến giờ học mà không thấy cô Mai (dạy Sinh Vật) đến lớp? Có người báo cô Mai bị thương, nhưng tất cả chỉ nghe “tin đồn”, mà người dân Hà Tiên mình cũng “ác liệt” lắm, lời đồn thường được “thổi” lên quá đáng, thôi thì tạm tin “chắc không có gì đâu!”, có ai đó đã nói bâng quơ…

Cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy Sinh Vật) và thầy Trương Tự Cường (dạy Toán) là giáo viên từ Sài Gòn về (hình như vậy), thầy cô rất hiền, hai người có một đứa con nhỏ chừng hơn một tuổi, tôi còn nhớ cô Mai cao và to người, gương mặt buồn, khuôn trăng đầy đặn và tóc cắt ngắn… Cô cũng từng dạy thế cho lớp chúng tôi một vài lần, còn thầy Cường dạy Toán, thầy dạy lớp trên lớp chúng tôi… Gia đình thầy cô còn ở lại Hà Tiên, sống tạm trong một căn phòng học bên trường Tiểu Học, là căn phòng kế bên phòng Ban Giám Hiệu của trường Tiểu Học bấy giờ, hàng ngày thầy cô đạp xe qua Thuận Yên để dạy bọn học trò chúng tôi, để bảo đảm rằng trong mọi trường hợp dù chiến tranh bom đạn, thầy cô nói chung cũng không để chúng tôi bị dốt chữ…

Nghe cô Mai bị thương bọn học trò lo lắng, cả đám cùng các thầy cô ở trường cùng kéo nhau lên trạm y tế xã Thuận Yên, nhiều giờ trôi qua mà không thấy tin tức gì thêm, vì quân đội ngăn không cho vào khu cấp cứu quân y là một dãy lán trại mở tạm dọc theo bên hông trạm y tế, cạnh QL 80 mà đi về phía mé biển…Thế nhưng, chuyện tệ hơn thế nhiều, một người nào đó vào được và gặp thầy Cường, thầy Cường cũng bị thương nhẹ sau lưng, người ấy trở ra thấy nói chuyện gì đó với các thầy cô khác với gương mặt nghiêm trọng… Một đứa học trò nữ nghe lõm được câu chuyện chợt hét lên:

         –  “Cô Mai chết rồi tụi mày ơi!..”

Đám con gái nháo nhào, nhiều đứa bật khóc…

Nhưng đâu nào phải một mình cô Mai!! Đứa con duy nhất của thầy cô cũng chết cùng với mẹ, tuy nhiên phải đến khi thầy Cường tỉnh táo khi được cấp cứu, thầy mới cho hay rằng trong gia đình còn có đứa con nhỏ, thì cả buổi sau người ta mới tìm thấy đứa trẻ đã chết tự bao giờ với một vết thương không còn nhận ra gương mặt (chuyện về đứa bé tôi chỉ nghe kể lại)…

Đêm hôm ấy đám học trò chúng tôi và các thầy cô ở Thuận Yên (và các trường khác nữa) đến trạm xá để chia sẻ nỗi đau thương chất ngất của thầy Cường… Ngọn đèn điện trở vàng vọt tù mù được treo cao trên đòn dong nhà của lán trại quân y, mà ánh sáng của nó cứ lập lòe lên xuống theo vòng quay không ổn định của chiếc máy dầu Diesel nhỏ gắn cái dynamo tự chế, dưới ngọn đèn tù mù mà cứ lập lòe đó là hai chiếc quan tài tềnh toàng thời chiến được đóng vội vàng, một chiếc lớn một chiếc nhỏ có cắm mấy cây đèn cầy đỏ leo lét ở hai đầu, những dòng sáp đỏ chảy xuống như những dòng huyết lệ, cái thứ đó mau chóng khô quánh lại quyết bám chặt vào sự sống động duy nhất là ngọn lửa đong đưa phía trên của nó, còn chiếc đèn điện trở quái quỷ kia cứ chập chờn trên xà nhà làm cái bóng của hai chiếc quan tài mẹ con kê song song trên những “con ngựa gỗ” cao năm bảy tấc, hai cái bóng hình chữ nhật một đôi lớn nhỏ khi tỏ khi mờ cứ như bước tới bước lui trên nền nhà được đầm nén chặt bằng đất núi…

Khung cảnh vô cùng tang thương mà rờn rợn…

Cũng ngay đêm hôm đó có xe đưa cả gia đình thầy Cường về Sài Gòn, cho đến nay chúng tôi chưa một lần gặp thầy Cường trở lại…

Mong rằng ở đâu đó, nếu như thầy có đọc được câu chuyện này thì xin thầy hiểu cho rằng chúng em không phải muốn gợi lại đau thương của thầy, mà chúng em luôn nhớ về thầy cô những người đã hy sinh cả tinh thần, sức lực và thể xác cho tương lai của từng đứa hoc trò chúng em…

Bởi chúng ta hiểu, để ươm mầm và vun tưới cho rừng hoa kiến thức của lứa học trò chúng ta là máu của cô và nước mắt của thầy, chúng ta tuyệt đối không bao giờ được quên điều đó…

                    Quang Nguyên  (11/2017)                                                              

 

 

 

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên (thuộc Thị Xả Hà Tiên) 2014

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên (thuộc Thị Xả Hà Tiên) 2015

Quốc lộ 80 chạy ngang xả Thuận Yên có khúc cặp mé biển

Hình ảnh: Trương Minh Quang Nguyên, Pham Bao Thanh Huyen, Nguyen Van Thuan, Thanh Kieu, sưu tầm trên mạng