Chuyện về một người ở lại «Charlie»

Danh từ «Charlie» ở đây không phải để chỉ địa danh nổi tiếng «Charlie» như trong thời kỳ chiến tranh ngày trước… Viết «Charlie» chỉ để muốn nói đó là trận địa, là chiến trường, mà trên đất nước Việt Nam chúng ta, trong thời chiến tranh, đâu đâu cũng có thể là chiến trường… ! Nhất là trong những ngày cận kề 30 tháng 4 năm 1975… «Người ở lại» tức là muốn nói người không ra đi, người không đi xa, không rời đất nước, người ở lại, nhưng không phải là ở lại quê nhà, không phải ở lại nơi quê hương sau những năm dài chiến tranh để được hưởng cái không khí thanh bình, êm ả…Thật ra anh (tức là « người ở lại »), anh cũng rất muốn như vậy, ở lại quê nhà, trở về quê nhà sau khi chiến tranh chấm dứt lúc nào cũng là nguyện ước của anh, trở về quê nhà Hà Tiên thân yêu để sống và phụng dưởng cha mẹ già, gặp lại và tiếp tục cuộc vui chơi văn nghệ với bạn bè cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa,…Nhưng than ôi, nguyện ước chỉ là nguyện ước , anh không thực hiện được ước nguyện nầy, và anh đã ở lại, ở lại trận địa, cũng như câu nói với một ý nghĩa xa xôi, ở lại «Charlie»…Vậy là anh đã ở lại thật sự và không bao giờ được trở về quê hương Hà Tiên, dù là trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất Phật Hà Tiên và được nghe kinh kệ mỗi buổi chiều êm ả của quê nhà…

Sau những năm đầu thập niên 70, chiến tranh trở thành căng thẳng ở mọi nơi, anh xếp bỏ bút nghiên, thay màu áo trắng học trò bằng màu áo lính…Anh vào đơn vị Quân Cảnh…Những ngày tháng tập huấn ở quân trường, Chi Lăng, Vũng Tàu…Anh vội chụp một bức ảnh trong màu áo lính với bốn câu thơ thật buồn :

Đêm nay đất lạnh buồn xa xứ
Thân trẻ cô đơn nỗi lạc loài,
Sống chết Chi Lăng đâu đáng kể,
Chỉ thương cha mẹ mõi mòn trông…

Lời thơ thật đúng tâm trạng anh, anh không tiếc gì thân mình, lúc nào cũng mong cho cha mẹ già được yên vui, an lành nơi quê nhà…Mãn khóa học anh về phục vụ tại Cần Thơ,…nơi đây anh gặp lại hai người bạn thân cùng trường cùng quê, Dõng và Mãnh…Còn nỗi vui nào to lớn hơn,…bạn bè mừng rở và cùng nhau kể hết chuyện học trò năm xưa qua những đêm anh trú ngụ tại căn nhà trọ của Dõng và Mãnh…Thời gian nầy anh trong Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh…Kế đến vì nhu cầu anh cùng tháp tùng vị tướng Ngô Quang Trưởng sang nước Kampuchia trong một chiến dịch quân sự…Xong việc trở về cũng tại Cần Thơ, anh được lảnh tiền rất nhiều,…nhiều đến độ anh vào nhà trọ, không nói một lời, anh đặt từng tờ giấy năm trăm đồng trên mặt bàn, mặt ghế, dưới đất…các bạn đều vừa ngạc nhiên vừa vui mừng cho anh…Thế rồi cả nhóm đều mua vé xe về Hà Tiên, anh thì được nghỉ phép lính, bạn thì về quê nghỉ hè..Anh mua vài chai rượu tây quý đem về biếu người cha cho vui, trên chiếc xe đò từ Cần Thơ về Rạch Giá, anh đặt chiếc giỏ đựng mấy chai rượu quý đó trên một cái ghế trống chỗ, một hành khách bước lên xe hỏi anh chỗ trống đó, anh nói cái ghế chỗ nầy tôi đã mua vé rồi, cốt để cho chiếc giỏ đựng mấy chai rượu được an toàn không bị xe dằn bể chai… !!

Thời gian thắm thoát đi rất nhanh, nhất là trong giai đoạn chiến tranh và với nhịp sống của tuổi trẻ, các bạn anh lần lượt rời ghế trường Đại Học Cần Thơ, anh cũng thuyên chuyển đi nơi khác…Bạn bè tạm thời mất liên lạc…Nghe tin anh đổi ra Phú Quốc, hồi xưa nghe nói đi Quân Cảnh thì phải có lần phục vụ ngoài đảo Phú Quốc…Trong đơn vị mới nầy anh có một người đồng đội thân thuộc, đó là anh Linh…Hai người bạn đồng quân ngũ cùng vui sống trong thời gian nầy, mọi sinh hoạt đều cùng nhau trải qua, ăn ở cùng chung một trại…

Chiến cuộc lại càng căng thẳng hơn khi những tờ lịch càng bị bốc đi, 1973, 1974…lần lược đến đầu năm 1975, tháng 2, rồi tháng 3, tháng 4…Trước đó vì nhu cầu anh lại thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 14 Quân Cảnh và đi chiến dịch ở Vùng 2 Chiến Thuật, rồi kế đó Tiểu Đoàn 7 Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, và sau đó anh cùng các bạn đồng đội được đưa đi học ở Trung Tâm Dục Mỹ bốn tuần lễ…, ra trường Dục Mỹ, 4 Tiểu Đoàn Quân Cảnh và 4 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân kết hợp lại để tạo thành 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân: Liên Đoàn 8 và 9, hai Liên Đoàn nầy có nhiệm vụ giữ vòng đai Sài Gòn, Tiểu Đoàn anh đóng quân gần Bà Hom……Anh bạn Linh cùng thời ở Phú Quốc lần nầy lại không được phân phối cùng đơn vị với anh, chuyến nầy hai người lại tạm xa nhau, tuy chỗ đóng quân cũng không xa lắm…

Tiếng súng nổ dồn dập ngay trong buổi sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, anh được giao nhiệm vụ giữ máy truyền tin,…Ngổi trấn thủ trong một lô cốt ở gần vị trí ngả tư cây Da Sà, Bà Hom (nay thuộc ngả tư An Duong Dương – Bà Hom, phường 13 quận Bình Tân TP HCM), lòng anh bồn chồn nôn nóng, vì tình hình mỗi lúc một căng thẳng của những ngày kề cận cuối tháng tư…Bỗng nhiên một trái đạn pháo rơi vào lô cốt, anh thấy đau nhói sau lưng,..anh nhận thức được là mình đã bị thương phía sau lưng,…Vết thương có lẽ rất nặng, anh không còn di chuyển gì được cả,…Đầu óc anh bỗng tối đen, trên khoảng trống của chiếc lô cốt, chung quanh anh không còn ai, đồng đội còn đang trực diện ở đâu đó với một cuộc chiến sắp sửa tàn lụi,..Anh nhìn lên cao, bầu trời dường như xám lại, trong cái không khí chiến tranh, đạn pháo nổ ầm chung quanh, anh chỉ còn thấy mù mờ cái quê hương Hà Tiên của mình chợt hiện ra trước mắt, con đường hàng dương mỗi ngày anh đi ra chợ dạo chơi với bạn bè, cây dừa ba ngọn vẫn lung lay tàu dừa nhẹ theo gió, ngôi chùa Tam Bảo thoáng qua trí nhớ mà ngày xưa anh thường tham dự các cuộc sinh hoạt cộng đồng khi anh còn là thành viên trong Gia Đình Phật Tử, …Bỗng dưng tất cả hình ảnh mờ đi, vết thương sau lưng làm anh đau nhói, anh chợt nghĩ đến người anh kế trên mình cũng trong binh chủng Biệt Động Quân và đã bị phía bên kia bắt đi tại Pleiku,…Trong tâm trạng dật dờ trước cái chết không biết có đến chưa, anh không muốn mình cũng bị bắt như vậy, anh chỉ muốn yên thân để trở về quê hương Hà Tiên, sống tiếp tục cuộc sống an lành bên cha mẹ, anh em, bạn bè và với âm nhạc mà ngày xưa còn trong trường lớp anh rất mê thích…Có lẽ hy vọng đã mất chăng, tay anh chợt chạm vào chiếc nòng súng lạnh ngắt,…trong một cử chỉ mơ hồ nhưng không kém quả quyết anh đưa nòng súng chạm vào màng tang trên đầu,…Từ giả quê hương Hà Tiên yêu dấu, từ giả cuộc chiến chưa tàn hẳn trong giờ phút nầy, từ giả những người con gái mà anh đã từng yêu, đã từng dìu đi trên đường phố Hà Tiên chung quanh Đài Kỷ Niệm,…hay trong nắng ấm của bến Ninh Kiều Cần Thơ, …ngón tay anh chợt se mạnh lại, anh đã bóp cò nòng súng…và anh đã không còn nghe thấy tiếng súng nổ, anh đã ở lại… «Charlie»….

Thân xác anh còn nằm đó, máu tươi bắt đầu chảy lan ra chung quanh đầu anh,…Không một ai gần đó, đồng đội anh hiện còn đang chạm mặt với cuộc chiến ở đâu đó tuy không xa nhưng không ai nhận thấy cái chết của anh…Bỗng nhiên có một người bạn trong đơn vị chạy ngang, và chính người bạn nầy đã thấy anh nằm đó, đó là một nhân chứng cho cái chết của anh, nhờ có người bạn đồng đội nầy, sau đó bạn bè anh mới biết là anh đã ở lại…«Charlie»…và «Charlie» của anh không phải là tên gọi một ngọn đồi chiến lược ở Kom Tum, «Charlie» của anh chính là một địa điểm gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…
Một vài ngày sau đó, có một gia đình trong đó có một cô gái đã rất yêu thương anh trong thời gian anh đóng quân ở địa điểm Bà Hom, cô được biết tin anh đã ở lại chiến trường, cô năn nỉ với cha mẹ, xin gia đình hãy giúp chôn cất anh cho xứng đáng một người vì cuộc chiến đã ra đi…Cuối cùng gia đình cô gái đó đã chôn cất anh tại sau nhà, nói là chôn cất nhưng cũng tàm tạm thôi vì trong lúc đó cũng còn là một hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu tiên sau 30/04/1975…

Và cô gái đã tìm cách báo cho gia đình anh ở Hà Tiên. Một tháng sau, cha anh cùng với một người anh lớn, hai người cùng nhau lên Sài Gòn, đến ngay nhà cô gái để được hướng dẫn cho biết nơi chôn cất anh…Cha và người anh của anh xin phép được bốc xác anh ra xem, để nhận định tông tích người chết…Nhiều chi tiết hoàn toàn cá nhân giúp cho cha và anh của anh nhận định một cách quả quyết đó là anh, đúng là người con và người em đã chết và nằm đó,…Cuối cùng nguyện ước của anh cũng không được thực hiện, anh không thể về quê Hà Tiên thân yêu của anh, dù về trong một chiếc quan tài gỗ để được vùi chôn dưới lòng đất mẹ Hà Tiên, phía sau một ngôi chùa nào đó, Tam Bảo, Phù Dung, Lò Gạch,…để sớm chiều anh nghe kinh kệ…Thời cuộc lúc đó còn hổn loạn, khó khăn, công việc di chuyển lưu thông rất phức tạp và không được phép dễ dàng, rốt cuộc anh lại phải chịu nằm lại nơi đó, nơi mà anh đã an nghỉ lần đầu tiên sau cái chết…Gia đình quyết định chôn cất anh cũng tại nơi đó, không thể làm cách nào khác được…Chỉ có gia đình cô gái quen với anh, cha và người anh lớn của anh là biết được địa điểm nơi anh được chôn cất…

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, ai về nhà nấy, người thì đi trại để được học tập đường lối mới, người thì về quê làm lại cuộc đời của một người dân bình thường, người thì đi tìm một chân trời mới với bao hiểm nguy của biển cả trước mặt…Thật đúng như mấy câu thơ :

Chợt nhìn một sáng ban mai
Đếm ba vạn sáu nghìn ngày là bao!
Ngày xưa chinh chiến binh đao
Bạn bè đi cả chiến hào phơi thây
Người còn ở tận chân mây
Người đi xa tít độ rầy không tin
Trường xưa còn đó lặng thinh
Vẳng nghe tiếng trống ta nhìn hư không….

Người bạn tên Linh thời gian ở Phú Quốc cũng về quê sinh sống,…Linh cũng thắc mắc không biết bây giờ người bạn của mình ngày trước có an lành không,..Linh còn nhớ anh có lần cho Linh biết địa chỉ nhà của anh ở Hà Tiên: số xx đường Đống Đa, Hà Tiên…Sau đó Linh liền viết một bức thư gởi cho cô Tám, em gái của anh còn ở Hà Tiên để hỏi tin anh…Trong thư hồi âm, Tám đã viết: “Anh Hưởng của em đã ở lại «Charlie» rồi anh Linh ơi!!”… Linh bàng hoàng nghe hung tin, như vậy trong khi anh em đồng đội còn có người trở về cùng với gia đình yên sống sau một cuộc chiến kéo dài, bạn của Linh lại ra đi…hay đúng hơn đã ở lại bên lề cuộc chiến….

Hà Tiên lại một lần nữa chịu cảnh chiến tranh tang tóc của cuộc chiến biên giới 1977-1978…Sau đó vào những năm đầu thập niên 1980, Hà Tiên hồi sinh trở lại…Trường lớp Trung Học bắt đầu phục hồi, học sinh, thầy giáo cùng chung sức nhau xây dựng và sửa chữa ngôi trường của mình…Cuộc sống dần hồi lấy lại sự thăng bằng …Cô Tám em gái của anh thành hôn với thầy Bùi Đăng Trường hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Linh từ Đà Lạt cùng với gia đinh đi du lịch thăm viếng đất Hà Tiên thơ mộng…Khi đặt chân đến Hà Tiên, Linh đã nhớ lại người bạn đồng đội trong Quân Cảnh của mình ngày trước và đã đến nhà của anh để viếng thăm cha mẹ và cô em gái của anh…Lúc nầy cha của anh đã rất cao tuổi, trí nhớ có dần phai theo thời gian, ông không còn nhớ chính xác nơi anh an nghỉ ở Bà Hom, mẹ của anh vì thương nhớ anh, nên nhìn thấy Linh thì cũng như nhìn thấy anh,…bà đã ôm chầm Linh và nói rằng bây giờ Hưởng đã không còn thì bà cũng xem Linh như là Hưởng, như một đứa con trai của gia đình…Cuộc gặp gở thật là cảm động và nửa buồn nửa vui…Linh được dịp trò chuyện cùng với Tám, em gái của anh và được cho biết nhiều tin tức trong gia đình anh. Lộc, đứa em trai của anh, sau cái mất mát to lớn là người vợ đầu của Lộc đã mất trong cuộc pháo kích chiến tranh biên giới, hiện tại Lộc đã về định cư ở gần Châu Đốc, anh Chung cũng được thả về và sinh sống ở Tịnh Biên…Trong chuyến đi Hà Tiên đó, Linh cũng vòng qua Châu Đốc thăm vùng núi Sam và cũng có dịp ghé lại thăm gia đình em Lộc, người em trai của anh…

Thời gian trôi đi thật chớp nhoáng, thoáng một cái từ năm 1975 đã đến năm 2000, rồi từ năm 2000 đã đến hiện tại năm 2020, tính ra đã 45 năm,…Thời gian đủ để một người trẻ tuổi như anh lập gia đình và có con cháu…Nhưng từ khi anh ở lại Bà Hom, bạn bè cũng chỉ biết tin mong lung là anh đã chết trong những ngày cận 30/4/1975, không ai biết chi tiết về cái chết của anh…Thời gian lại trôi đi từ đó, Tám em gái của anh đã mất đi người phu quân, thầy Bùi Đăng Trường bệnh mất, Tám đã nghỉ việc về hưu, căn nhà đường Đống Đa không còn ai ở nữa…Cha mẹ anh cũng đã quy tiên…

Bây giờ không còn một ai có khả năng nhớ lại nơi anh an nghỉ là chỗ nào, chỉ biết là gần ngả tư cây Da Sà, Bà Hom…Không ai biết gia đình cô gái đã chôn cất anh bầy giờ ra sao, ở đâu, người anh lớn của anh có đi dự buổi nhận xác anh thì cũng đã cao tuổi, hiện định cư ở nước Mỹ…

Câu chuyện của người ở lại «Charlie» là như vậy, đơn giản nhưng cũng buồn như bao sự ra đi của nhiều bạn bè thời chiến tranh, rốt cuộc vì mãi kể chuyện, quên nhắc lại tên của anh, người học sinh ngày xưa của trường Trung Học Hà Tiên, người trưởng ban nhạc “Tiếng hát Quê Hương”, người có tên hiệu trong ca nhạc là Song Nguyên,…tên anh chính là Lê Công Hưởng…bạn thân của nhiều học sinh ngày xưa ở Hà Tiên, trong đó có người kể chuyện nầy…

Trần Văn Mãnh , Paris ngày 09/03/2020, kể lại theo lời của Lê Thị Tám (Hà Tiên), Phạm Văn Thành (Californie) và Trần Hoàng Linh (Đà Lạt)…

Lê Công Hưởng (1950 – 1975)

Giới thiệu Lê Công Hưởng

Thầy Cô và các bạn thân mến, một trong những người học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên xưa có ảnh hưởng nhiều nhất đến nền ca nhạc của Hà Tiên là bạn Lê Công Hưởng,…Vì bạn Lê Công Hưởng có một thời là trưởng ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương ».

Ngày trước, Hà Tiên vào đầu những năm 60, có ban nhạc « Sao Đêm » do bạn Tống Châu Thành làm trưởng ban và hoạt động rất sôi nổi, thính giả Hà Tiên (đa số là học sinh Trung Học) rất ủng hộ…Sau một thời gian ngắn, lại có thêm một ban nhạc mới xuất hiện, lấy tên là « Tiếng Hát Quê Hương », ban nầy do Lê Công Hưởng làm trưởng ban, thường xuyên tập hợp ở nhà Lý Mạnh Thường để tập dợt..Tống Châu Thành, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Nhan Hồng Hà, Lý Cảnh Tiên, anh Trần văn Dõng … đều học chung một lớp và trên mình một lớp. Hôm nay xin viết về bạn Lê Công Hưởng.

Nhà Hưởng ở đường Đống Đa, gần về phía đường Mạc Tữ Hoàng và sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Hưởng có người anh trai tên là anh Chung ngày xưa có đi lính Biệt Đông Quân, có một em trai và một em gái tên là Lê Thị Tám.  Mình có hai người bạn cũng đặc biệt, Nguyên thì không cao lắm còn Hưởng thì rất cao,..hai người rất tương phản với nhau về hình dáng bề ngoài. Lúc lập ban nhạc, mỗi người chọn một tên hiệu, Nguyễn Đình Nguyên là « Duyên Đình », Lê Công Hưởng là « Song Nguyên », (mình còn nhớ trước đó bạn Lý Cui chọn tên hiệu là « Hoài Thảo »), Lý Mạnh Thường vì tên đã nghe hay rồi nên giữ tên là « Mạnh Thường », còn mình thì là « Tô Huyền Linh » (tên nầy mình vẫn còn giữ đến bây giờ trong các kênh Youtube của mình, tại sao « Tô Huyền Linh », vì trước đó mình có xem tạp chí « Điện Ảnh » thời xưa, thấy có một đạo diển tên là « Tô Huyền Vân » nên nảy ý ra là « Tô Huyền Linh », tên thì nghe hay nhưng vẫn thường bị trêu chọc là « Tô Cơm Nguội »…!! và sau nầy nhiều người không biết thường viết nhận xét dưới các clips nhạc của Youtube mình là « Cô Tô Huyền Linh »…có lẻ tên giống tên con gái…)…Ban nhạc mới thành lập do Hưởng điều khiển, có quy luật rỏ ràng, mỗi tuần phải tập dợt đàng hoàng không ai được lười biếng bỏ phiên dợt,..Ban nhạc cũng chiêu mộ được một số ca sĩ nữ là học sinh các lớp sau: Dương Hồng Minh (tên hiệu là « Khánh Linh »),..Như Liên,..Tiền Ngọc Dung,…), ngoài ra trong lớp mình còn có Phù Ngọc Anh cũng tham gia (Phù Ngọc Anh nhà đường Tuần Phủ Đạt, tên hiệu tiệm may là Hoa Tân, em gái của anh Tùng Phương, Tùng Trang là các bậc đàn anh một thời nổi tiếng trong làng ca nhạc đất Hà Tiên (thời anh Tùng Phương có anh Hồ Hải đàn rất hay, và có chị Thái Cẩm Hà nhà trước nhà Mạnh Thường, chị Cẩm Hà là một nữ ca sĩ nổi tiếng và cũng là bậc đàn anh, đàn chị đi trước các ban nhạc mình sau nầy, anh Tùng Phương nổi tiếng với bài « Buồn Mà Chi Em »…..)

Hồi đó không có điều kiện thâu cả chương trình nhạc trước và cho phát thanh sau, nên đến mỗi ngày thứ bảy trong tuần là phải kéo nhau cả nhóm lên trụ sở Chi Thông Tin đường Bạch Đằng (phía đầu trên đối diện với trại lính cũ) và đàn, ca trực tiếp tại chổ trong một phòng phát thanh cũng khá nhỏ hẹp. Đầu tiên thì mình đàn một đoạn nhạc không lời và có Mạnh Thường (sau nầy có một giọng nữ thay thế là giọng của chị Hằng con Thầy Giáo Lộc) đọc lời chào mở màn cho chương trình (đại khái còn nhớ là « Sau những ngày hành quân mệt nhọc, xin mời các anh lính chiến….). Tiếp đến thường xuyên là một bài hợp ca (Cho Tôi Được Một Lần, Từng Bước Chân Âm Thầm, Giả Từ Đêm Mưa,…). Sau một thời gian hoạt động, ban nhạc rất được sự ủng hộ của các bạn học sinh và có nảy ra sự viết thơ gởi đến Lê Công Hưởng để yêu cầu nhạc,..và có đọc tên của những người yêu cầu trong lúc giới thiệu tựa bài nhạc,..

Để ủng hộ thiết thực cho ban nhạc, ông Quận Trưởng Hà Tiên có cấp cho ban nhạc mỗi tháng một số tiền nhỏ là 500 đồng (gọi là để uống nước, cà phê,…). Hưởng quản lý số tiền nầy và dĩ nhiên là để tiêu xài chung cho trong ban nhạc. Mục tiêu xài thông dụng nhất là để trả tiền uống cà phê quán Quãng Phát gần nhà mình. Lúc đó cả nhóm rất thường kéo nhau đi uống cà phê, mỗi lần uống xong Hưởng nói với Ông Quãng Phát ghi sổ để đó và cuối tháng lảnh tiền hát ra trả…

Trong thời gian học Trung Học, thường là cuối năm vào dịp trường làm lễ phát thưởng, có văn nghệ hẳn hoi, dĩ nhiên là phần văn nghệ thì do nhóm mình lãnh phần phục vụ. Trong năm đó, trong lúc lễ phát thưởng, có một vở kịch do Hưởng đóng vai chánh. Nội dung của vở kịch ra sao thì mình quên rồi, chỉ nhớ là Hưởng đóng vai một anh chàng học sinh hiền, có yêu một cô bạn gái cùng lứa, nhưng vì có hiềm khích với một nhóm khác (bây giờ gọi là « xã hội đen »…), nên cuối vở kịch thì Hưởng phải bị đâm chết trên sân khấu. Lúc đó sân khấu của buổi lễ phát thưởng làm trong dãy phòng thí nghiệm dưới chân núi Lầu Ba…Để chuẩn bị trước, Hưởng lấy một cái hột gà, soi một lổ nhỏ và rút hết tròng trắng, trong đỏ ra, lấy phẩm (mực) đỏ bơm vào hột gà rỗng đó và Hường cất kỷ trong túi áo. Trong lúc diễn kịch, lúc bị bọn côn đồ đâm Hưởng lấy tay ôm bụng và trong tay đã có hột gà sẳn, và Hưởng bóp mạnh cho hột gà bể ra, phẩm đỏ chảy ra y như là máu chảy ra,…nhưng chưa chịu chết lền, lúc đó theo như màn kịch soạn rồi, Hưởng còn đứng lại, lấy tay ôm bụng đầy máu và ca bài « Tình Yêu Trả lại Trăng Sao » (Thôi hết rồi người đã xa tôi,….chách.. chách .chách chách .chách chách bùm chách bum..vì bài nầy đánh theo điệu Habanera, lúc đó là mình đang đứng trong hậu trường đàn cho Hưởng ca…). Hưởng ca xong hết bài rồi mới chịu ngả xuống chết, lúc đó là màn kịch kết thúc, màn kéo lại….Không biết sau đó Hưởng tính cho cái áo sơ mi như thế nào vì áo đã bị ướt đỏ hết,….

Hà Tiên ngày trước thường có những dịp tiếp đón Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị đến để trình diễn văn nghệ phục vụ đồng bào trong quận. Sân khấu được dựng lên phía khoảng đất trống đối diện với tiệm cơm Xuân Thạnh, kế đồn cảnh sát và song song với dãy tiệm hớt tóc dọc theo mé sông. Vì mình là dân chơi nhạc nên rất thích những dịp như vậy, và vì Hưởng là một đại diện cho làng chơi nhạc Hà Tiên nên cả nhóm bàn là Hưởng phải lên ca trong dịp nầy,…Quyết định xong, tập dợt lai rai trong buổi chiều rồi màn đêm kéo xuống, Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị bắt đầu trình diễn, bọn mình có mặt đầy đủ phía trước sân khấu, trong lòng vừa hăng hái vừa hơi lo…(hồi xưa đi xem văn nghệ ngoài trời ở Hà Tiên thì phải đứng trước sân khấu thôi chớ không có xếp ghế ngồi như trong rạp hát…). Chương trình tiến hành được một lúc, cả bọn di chuyển đến bên hông sân khấu và Hưởng đề nghị với người lính phụ trách điều khiển chương trình là lên ca giúp vui một bài…Bây giờ nghĩ lại không biết tại sao mà hồi đó người ta cũng quá dễ dãi chấp thuận cho Hưởng lên ca liền,…(đúng là chiến tranh tâm lý…). Lập tức Hưởng leo lên sân khấu cầm lấy micro, mình cũng leo tiếp ngay sau đó xin « mượn » cây đàn điện của anh lính nhạc sĩ, rồi đang loay hoay máng dây treo đàn vào cổ thì nhìn lại sau lưng mình đã thấy Nguyễn Anh Tài (Tài bưu điện học lớp mình chuyên phụ trách dàn trống…) đã ngồi vào dàn trống…Tóm lại là chỉ trong vòng 30 giây đồng hồ mà các bạn trẻ Hà Tiên đã chiếm hết các nhạc cụ của ban nhạc Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị…Sau đó người ta giới thiệu tên Song Nguyên, một ca sĩ địa phương sẽ trình bày nhạc phẩm « Nhớ Người Viễn Xứ »…..Đây là bài ruột của Lê Công Hưởng « Dựa đồi thông riêng ai một bóng,… »…Sau khi hát xong, khán giả Hà Tiên vổ tay nhiệt liệt vì thấy ca sĩ địa phương của mình cũng không thua ai,….!!!

Ngay trước mặt hông của bót Cảnh Sát nầy (khu chợ cá Hà Tiên ngày xưa), chỗ có bản đồ đó là nơi ngày xưa có Tiểu Đoàn 40 Chiến Tranh Chánh Trị đến dựng sân khấu trình diễn văn nghệ. Hình: Truman Library do Arthur Z. Gardiner Papers sưu tầm 1961

Trong suốt những năm trung học, mỗi buổi chiều nào mình cũng thường đi chơi với Nguyên, Hưởng..Đến tối khuya sửa soạn chia tay ai về nhà nấy, thường là cả ba đưa Nguyên về tới đầu đường Đống Đa trước, sau đó chia tay với Hưởng để ra về, nhưng khổ nỗi là Hưởng thường lấy một chiếc dép của mình và không chịu trả cho mình mang dép về,…Không có dép thì đâu có về được nên mình phải năn nỉ rất lâu Hưởng mới chịu trả dép,…nhưng chứng nào vẫn tật nấy, sau khi được dép mang vào chân chắc chắn xong, thì mình lại chưa chịu về, chạy ra đứng xa xa bắt đầu chọc ghẹo Hưởng…khiêu khích kêu Hưởng lại đây lấy dép,…nhưng chỉ dám đứng xa xa thôi chớ không dám cho Hưởng lấy được dép một lần nữa, nếu không sẽ không về nhà được…

Suốt những năm trung học trôi qua, thắm thoát đến cuối năm lớp Đệ Nhị (lúc đó mình Đệ Tam), các bạn lớp anh Dõng, Hưởng khăn gói đi Long Xuyên thi Tú Tài một,…Anh nào thi đậu thì tiếp tục qua Rạch Giá hay lên Sài Gòn học tiếp, anh nào không may thì ngưng lại và chuẩn bị chờ nhập ngũ với chức vụ khi ra trường là Trung Sĩ,…Hưởng ở trong trường hợp nầy,…sau đó Hưởng chọn quân chủng « Quân cảnh », Hưởng phục vụ tại Cần Thơ. Đến năm mình sang Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, ở trọ nhà người quen phía sau rạp chiếu bóng Châu Văn. Có lúc Hưởng lái xe jeep về Rạch Giá đi công tác và Hưởng ghé lại nhà trọ để thăm mình, Hưởng đậu xe jeep có uy hiệu Quân Cảnh trước nhà, lúc đó chủ nhà trọ có người cháu đi lính Thiết Giáp trốn đơn vị về thăm nhà, anh tên Long, anh Long kể là khi anh vừa đi chơi về tới nhà, mới tới đầu hẻm sắp sửa quẹo vô nhà, anh thấy chiếc xe jeep của Quân Cảnh, anh Long hoảng hồn quay gót trở lại đi tuốt luốt vì tưởng là Quân Cảnh kiếm anh bắt về tội trốn đơn vị về nhà,…sau nầy kể lại cho anh nghe đó là xe jeep của bạn đến thăm mình làm anh tức cười. Chưa hết chuyện, rồi lúc đó Hưởng rủ mình lên xe jeep Hưởng chở đi vài vòng Rạch Giá chơi, mình ngồi với Hưởng phía trước, Hưởng lái xe…chạy một lúc sao thấy ai cũng nhìn mình cả,…sao lạ thế, suy nghĩ ra thì mới hiểu là người ta tưởng mình bị lính Quân Cảnh bắt lên xe chạy về đồn…(vì thời đó xe Quân Cảnh thường đi rảo bắt thanh niên trốn lính hay học sinh tóc dài,…)..Nghĩ ra nguyên cớ tại sao mình bị người ta nhìn nên mình sửa kiểu ngồi lại, gát tay gát chân làm ra vẻ là bạn của Quân Cảnh chớ không phải người bị bắt lên xe chở đi,….

Chưa hết chuyện về Lê Công Hưởng, sau đó mình lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm, anh Dõng vào học Cao Đẳng Nông Nghiệp trước đó một năm, hai anh em ở chung một nhà trọ trong một con hẻm gần chổ đóng quân của Hưởng. Lúc đó Hưởng vẫn còn làm Quân Cảnh ở Cần Thơ, bạn bè gặp lại mừng quá và tối nào Hưởng cũng về ngủ tại nhà trọ của mình. Nhờ có Hưởng ngủ trong nhà, thường là máng cái nón sắt có Uy Hiệu Quân Cảnh lên tường nhà, nên thỉnh thoảng cũng có vụ lính xét nhà ban đêm, (thời đó thường có lính Quân Cảnh xét nhà ban đêm xem có ai lạ mặt ở không khai báo,…), khi lính vào nhà xét mới thấy nón Quân Cảnh thì thôi, bỏ qua không xét nữa…

Còn một chuyện nữa mới hết, có một chiến dịch hành quân qua đất Kampuchia (bây giờ là Cambodge) do Tướng Ngô Quang Trưởng lảnh đạo, Lê Công Hưởng được phái theo phái đoàn bảo vệ ông Tướng. Hình như là hết mấy tháng mới xong, sau đó Hưởng trở lại đơn vị cũ ở Cần Thơ được lảnh tiền thưởng rất nhiều số tiền là 60.000 đồng (so với lương giáo sư thời đó là khoảng 12.000 đồng/tháng..). Ngày Hưởng lãnh xong tiền, lúc về nhà trọ của mình, Hưởng không nói tiếng nào, thấy có vẻ rất lạ,…Hưởng cứ tới cái bàn rồi móc túi lấy tờ giấy 500 đồng ra để xuống bàn, tới cái ghế cũng móc thêm tờ 500 đồng khác để xuống ghế, cứ thế mà phủ hết bàn, ghế, giường ngủ trong nhà đầy giấy 500 đồng cả,…!! Mình và anh Dõng không hiểu gì cả, sau đó mới biết là Hưởng lảnh được tiền thưởng cho chiến dịch đi Kampuchia…rồi sau đó cả bọn ra ngoài quán Hưởng khao cho một chầu…Vài ngày sau nhân dịp về nghỉ hè và được phép, Hưởng và mình cùng mua vé xe về thăm nhà Hà Tiên. Tới bến xe mới Cẩn Thơ, mua vé xong xuôi, lên xe ngồi, mình ngồi kế Hưởng, ngoài ra còn một ghế trống Hưởng để cái giỏ xách rất nặng vì bên trong chứa nhiều chai rượu Tây quý và đắt tiền Hưởng đã mua trước để đem về cho Ba Hưởng. Có một ông khách muốn ngồi trên ghế có giỏ xách của Hưởng, Hưởng nói ghế nầy tôi đã mua vé rồi,….té ra là vì Hưởng sợ xe chạy dằn bể mấy chai rượu quý đắt tiền nên mua thêm một vé cho chiếc ghế trống để giỏ xách chứa rượu cho êm…

Đến những ngày sau ngày 30/04/1975, lính tráng bắt đầu trở về địa phương sau khi  tan hàng rả ngũ cả mà sao không thấy Hưởng về nhà,…Về sau lâu lắm mới biết Lê Công Hưởng đã hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến,…Không ai biết rỏ tin tức cụ thể ra sao,…Nghe kể lại là sau nầy Ba Má Hưởng có lên đến tận chổ để tìm hài cốt, nhờ nhìn ra chiếc răng khểnh mới biết chắc là con mình…Hiện nay bạn Lê Công Hưởng có hình thờ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên,..Mình viết những dòng nầy để tưởng nhớ người bạn đã một thời chia sẻ cùng nhau từng nốt nhạc, từng lời ca, từng ly cà phê và từng nỗi vui buồn trong thời đi học cũng như thòi gian ra đời làm lính …Cầu mong bạn Lê Công Hưởng yên nghỉ bình an nơi cỏi vĩnh hằng…….

Paris, ngày 28/112015 Trần Văn Mãnh

TranVanManh_Hippy4Lê Công Hưởng và Trần Văn Mãnh

  Lê Công Hưởng 1972 

LeCongHuong_aLê Công Hưởng thời đi học Trung Học Hà Tiên

LeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_ManhLeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_Dong_bLưu bút của Lê Công Hưởng sau những tấm ảnh đề tặng bạn

Le_Cong_Huong_QuanCanhLê Công Hưởng khi còn ở Quân Trường Chi Lăng (Châu Đốc)

Lê Công Hưởng trong bộ áo Quân Cảnh (Vũng Tàu)

Lưu bút của Lê Công Hưởng đề tặng mặt sau hình

Le_Cong_HuongLê Công Hưởng trong bộ áo Quân Cảnh

TranVanDong_LeCongHuong_QuanCanh

Trần Văn Dõng và Lê Công Hưởng

LeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_Dong    Chữ viết của Lê Công Hưởng tặng hình Trần Văn Dõng

LeCongHuong_Ve_TranvanManhLê Công Hưởng vẻ hình Trần Văn Mãnh (vẻ xong ngày 09/06/1972)

LeCongHuong_Ve_TranVanDongLê Công Hưởng vẻ hình Trần Văn Dõng

LeCongHuong_ChuaTamBaoHình Lê Công Hưởng thờ tại Chùa Tam Bảo Hà Tiên

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng