Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Publicités

Lăng Ông Mạc Cửu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, đối với thầy trò trường trung học Hà Tiên, khi nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nhớ đến giai đoạn ngày xưa trong những năm 60-70, biết bao nhiêu lần chúng ta, thầy lẫn trò, cùng kéo nhau lên núi Lăng (núi Bình San) để họp nhau vui chơi, kể chuyện, ăn uống tại chỗ rất vui, Hôm nay chủ đề chánh của bài là sẽ viết ngắn gọn và nhờ những hình ảnh sưu tầm để nhắc lại về gốc tích của ngôi đền thờ ông Mạc Cửu và sự thay đổi qua các giai đoạn thời gian.

Cũng theo thông lệ và nguyên tắc của Blog nầy, xin nhắc lại là bài viết chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

A/ Định vị trí của Lăng Mạc Cửu:

Có rất nhiều tên gọi để chỉ định lăng Mạc Cửu, nói chung ta có thể dùng từ « Đền thờ họ Mạc » để chỉ định ngôi đền nầy vì đền được dựng lên để thờ cúng tất cả các dòng con cháu nhà họ Mạc. Tuy nhiên còn có nhiều tên chữ để chỉ định ngôi đền như các tên: Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ, Mạc Công Miếu, dân gian lại thường gọi là Miếu Ông Lịnh (vì đền thờ ông Mạc Thiên Tích và ông Mạc Thiên Tích được gọi là Mạc Lịnh Công).

Thực ra ngay từ lúc đầu khi vua Gia Long phong cho Mạc Công Du (con của Mạc Tử Hoàng, cháu nội của Mạc Thiên Tích) làm Trấn Thủ Hà Tiên (trong khoảng thời gian 1818 – 1829) thì ông Mạc Công Du bắt đầu cho dựng một ngôi đền gọi là Đền Mạc Công để thờ phụng ông nội là Mạc Thiên Tích. Ngôi đền nầy vách bằng cây, lợp lá đơn sơ nằm ở bên trái chùa Tam Bảo, trong khu phế tích thành quách cổ thời ông Mạc Cửu (vị trí nầy còn được xác định trong bản đồ người Pháp vẻ tay vào năm 1869 và ghi chú là Ruines). Lúc nầy đền còn có tên « Mạc Thiên Tứ Từ », tuy nhiên trong đền cũng thờ tất cả ba vị họ Mạc có tên là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, vì thế đền cũng được gọi là đền « Mạc Công Tam Vị ».

Sở dĩ đền thờ ba vị họ Mạc là vì ba vị họ Mạc nầy đều được sắc phong nhân thần của các vua nhà Nguyễn thời đó:

Mạc Cửu (1655-1735 thọ 81 tuổi): được vua Minh Mạng phong Trung Đẳng Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng ban thêm các mỹ tự và vua Bảo Đại phong thêm Thượng Đẳng Thần.

Mạc Thiên Tích (1718 – 1780 thọ 63 tuổi): con của Mạc Cửu, được vua Minh mạng phong Đạt Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Mạc Tử Sanh (1769 – 1788 chết trẻ 20 tuổi): con của Mạc Thiên Tích, được vua Minh Mạng phong Trung Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Từ khi thành lập năm 1818 đến năm 1833, ngôi đền được con cháu họ Mạc và nhân dân chăm lo hương hỏa, cúng kiến. Đến năm 1833 lúc nầy có giặc phản loạn Lê Văn Khôi dấy binh đánh chiếm thành trì nhà Nguyễn (đời vua Minh Mạng), Mạc Công Du và các con ngả theo bên Lê Văn Khôi, đến khi họ Lê thất bại, Mạc Công Du và các con đều bị tội, lúc đó Mạc Công Du lại bệnh mất, cả nhà họ Mạc đều bị  vua kết tội, đền thờ họ Mạc bị bỏ hoang không ai dám chăm sóc…

Đến năm 1846 có quan thần nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị xin vua nghĩ đến công trạng của cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích nên nhà vua cho phép dựng lại ngôi đền mới nhưng xây cất tại vị trí mới, tọa lạc dưới chân núi Bình San, hoàn thành năm 1847, đó là ngôi đền Mạc Công Miếu hiện nay. Tuy nhiên từ lúc xây cất năm 1847, vì ngôi đền xây cất bằng gỗ, lợp ngói nên không duy trì được lâu dài với thời gian sau đó, chừng vài chục năm lại bị hư dột…

Đến năm 1897 có chí sĩ người gốc Hà Tiên tên là Nguyễn Thần Hiến thảo bài văn kêu gọi nhân dân Hà Tiên góp tiền góp sức trùng tu lại ngôi cổ miếu cất từ đời vua Thiệu Trị (bản văn của ông Nguyễn Thần Hiến vẫn còn lưu truyền tại đền Mạc Công Miếu hiện nay). Công việc trùng tu kéo dài đến năm 1901 mới xong (đó là công lao rất to lớn của ông Nguyễn Thần Hiến cùng với nhân dân và hội người Minh Hương ở Hà Tiên, người Hà Tiên chúng ta không ai là không biết đến tên gọi Nguyễn Thần Hiến, từ ngày xưa Hà Tiên đã có một bệnh viện và một con đường được mang tên Nguyễn Thần Hiến, ngày nay có ngôi trường mới cất sau nầy là trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến với pho tượng bán thân của ông ở ngay lối chánh vào trường). Trong đợt trùng tu nầy, có cất thêm nhà Võ Ca, bức tường bao quanh ngôi miếu và cổng Tam Quan. Lần trùng tu thừ hai là vào năm 2002 do Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San thực hiện. Lần trùng tu thứ ba là vào năm 2012, do Ban Di Tích tỉnh Kiên Giang thực hiện. Tuy vậy việc trùng tu đều tôn trọng giữ theo đúng hình dạng kiến tạo năm 1897 của thời ông Nguyễn Thần Hiến.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Ngôi đền Mạc Công Miếu được Mạc Công Du dựng đầu tiên vào năm 1818 nằm bên trái chùa Tam Bảo, ngôi đền nầy đã bị bỏ hoang phế sau năm 1833. Đến năm 1846 ngôi đền Mạc Công Miếu mới được xây dựng lại nhưng đã ở vị trí khác, tọa lạc dưới chân núi Bình San, ngay trước đền có một cái ao đã có từ đời ông Mạc Cửu (đào vào khoảng năm 1719).

Tuy việc dựng đền là để thờ cúng ba vị họ Mạc đi tiên phong trong công cuộc mở mang vùng đất Hà Tiên, nhưng thực sự trong đền đều có đủ cả các bài vị thờ hầu hết tất cả con cháu dòng họ nhà Mạc, có cả bàn thờ chư vị tướng lảnh phục vụ cho nhà Mạc và cũng có cả bàn thờ các vị phu nhân và bàn thờ Mạc Mi Cô tức bà Cô Năm, người con gái út của Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô chết rất trẻ lúc chỉ mới 14 tuổi.

B/ Các bộ phận của ngôi đền

  • Cổng tam quan và tường gạch cao chung quanh đền: Có ba cổng ra vào đền nhung cổng bên trái bít kín từ năm 1911 vì tôn kính bà Cô Năm.
  • Nhà Võ Ca: Có rất nhiều câu đối, những bài thơ Nôm trên những hàng cột.
  • Trù Phòng: Hai gian nhà bếp để phục vụ việc nấu nướng ngày xưa, nay là văn phòng và nhà kho.
  • Tiền Khu Chánh Điện: Một bức tường có ba lối vào ngăn nhà Võ Ca và Chánh Điện, có tấm biển đề tên Trung Nghĩa Từ và nhiều câu liễn đối.
  • Bái Đình: nền gạch hình vuông, có mái.
  • Đông Lang và Tây Lang: nơi đặt bài thờ gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền.
  • Chánh Điện: một ngôi nhà trệt ba gian, có tấm biển khắc tên và nhiều câu liễn đối. Đây là nơi đặt các bàn thờ chánh.
  • Hai bên tường tả và hữu; nơi chép các bài văn, thơ, vịnh…

C/ Khu lăng tẩm và các ngôi mộ nằm trên ngọn núi Bình San:

Toàn bộ mồ mả các vị quan, tướng, phu nhân, hầu thiếp nhà họ Mạc đều được chôn cất trên ngọn núi Bình San (ngọn núi Bình San có ba đỉnh riêng biệt). Theo tài liệu tổng kết của Ban Bảo vệ Di tích núi Bình San thì có khoảng 68 ngôi mộ được chỉnh trang, sơn phết và có bia khắc, đánh số để xác định tên tuổi. Mộ ông Mạc Cửu đánh số 1, mộ Mạc Thiên Tích đánh số 2, mộ Mạc Tử Hoàng đánh số 3…, mộ Bà Cô Năm Mạc Mi Cô đánh số 43…Điều đáng chú ý là tuy đền Mạc Công Miếu thờ ba ông được phong nhân thần là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, nhưng trong ba ông chỉ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích là có được mồ mả oai nghiêm còn Mạc Tử Sanh thì trong cơn biến loạn đã mất vì bệnh và không ai biết được mồ mả của ông chôn cát ở đâu.

Khi đi vào ngôi đền Mạc Cửu, nhìn bên phải có con đường lót gạch để dẫn đi lên khu các ngôi mộ. Ngoài ra chung quanh ngôi đền và đường lên khu mồ mả đều có trồng cây xanh, cây hoa kiểng rất xinh đẹp.

Hồi xưa lúc còn đi học trung học, các học sinh Hà Tiên thường kéo nhau cả nhóm lên núi Lăng chơi. Tuy nhiên lúc đó mình rất sợ và rất tôn kính ngôi đền ông Mạc Cửu và ngay cả khi đứng trước các ngôi mộ. Lúc vào trong chánh điện của đền thờ mình rất sợ, không dám nhìn thẳng vào các bài vị trên bàn thờ, và hoàn toàn im lặng không dám nói chuyện …Hồi xưa có rất nhiều tin đồn, chẳng hạn như người ta nói là khi mình chụp hình ngôi mộ của ông Mạc Cửu, khi đem phim đi rửa để ra hình thì thấy hình hoàn toàn màu đen không có hình ảnh gì cả,…, đó chỉ là lời đồn nhưng hồi xưa mình cũng tin ít nhiều…

Bức hình về ngôi đền Mạc Công Miếu xưa nhất có lẻ là hình nầy, trên tấm bưu thiếp nầy được người Pháp ghi là Pagode, vì người Pháp xem ngôi đền như là ngôi chùa, bưu thiếp được ký tên ngày 6 tháng ba năm 1909, như vậy bức hình nầy được chụp khoảng trước năm 1909, đền Mạc Công Miếu được trùng tu xong vào năm 1901.

Một bức hình xưa về đền Mạc Công Miếu trên một bưu thiếp do ngườì Pháp xuất bản, dấu ấn đóng trên con tem cho biết là Tây Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 1909. (bộ sưu tập Poujade de Ladevèze)

Sâu đây là một số bưu thiếp do người người Pháp xuất bản cùng dạng, trên hình ta thấy đó là nhà Võ Ca trong đền Mạc Công Miếu sau khi được trùng tu lần đâu tiên.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Một trong hai bức tượng tướng quân đứng hai bên ngôi mả của Mạc Cửu, hình chụp từ sau lưng tượng, nhìn về phía cửa sông Giang Thành ra biển. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp vào năm 1953. (đây là hình bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1960, người trong hình là Nguyễn Đình Nguyên, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Nguyễn Đình Nguyên

Lăng Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Trần Văn Dõng

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Dõng. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên phải, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên trái, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Nói thêm về hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên mả của ông Mạc Cửu: Từ lúc lập mả người ta có làm hai bức tượng hai tướng quân đứng hầu hai bên mả, tả hữu rất oai nghiêm, từ xa xưa, có nhà nhiếp ảnh người Hà Tiên Quách Ngọc Bá có chụp hình làm bưu thiếp về lăng ông Mạc Cửu và hình tượng tướng quân đứng hầu. Lúc còn nhỏ mình có thấy hình bức tượng nầy do ông QNB chụp, ông chụp một cách rất nghệ thuật từ sau lưng nhìn về phía trước và chụp gần nên thấy trong hình bức tượng rất to lớn. Đến khi học Trung Học (những năm 60 – 70), mình thường theo nhóm bạn lên lăng Mạc Cửu chơi trong những giờ vắng thầy, không có giờ học, lúc đó mới nhìn thấy hai bức tượng thật sự trước mắt thì mới biết là hai bức tượng có khuôn khổ vừa phải không to lớn như mình tưởng lúc còn nhỏ .

Đến sau khi chiến tranh biên giới ở Hà Tiên chấm dứt (sau những năm 1978-1979), hai bức tượng nguyên bản gốc nầy đã bị người ta trộm mất đầu…Sau đó một thời gian dài người ta làm đầu bằng xi măng và gắn lên thân tượng gốc bằng đá còn lại …Tuy nhiên hiện nay hai bức tượng đã được người ta làm lại mới hoàn toàn, có nét vẻ sơn phết tô màu cho đẹp, còn hai thân tượng cũ nguyên gốc ngày xưa thì đã được cất giữ đâu đó không có tin chi tiết rổ.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp trong những năm 1970-1980. Người đứng trong hình là Trần Văn Phi (em của Trần Văn Dõng và Trần văn Mãnh), một học sinh trường trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Phi.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 1974, ta còn thấy bức tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu bên phải. Trong hình là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965 – 1969. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn

Ngôi mộ Mạc Cửu: Hình trắng đen trái: Một trong hai pho tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu (vị trí đứng bên trái ngôi mộ), hình trích trong ảnh do ông Quách Ngọc Bá chụp vào những năm 1970. Hình màu phải: Một trong hai pho tượng làm lại sau những năm 1990 (vị trí đứng bên phải ngôi mộ), hình trích trong ảnh do Missak chụp vào năm 2006.

Toàn cảnh Lăng Mạc Cửu rất đẹp năm 1994. Hình: TVM

Trần Văn Mãnh với nhà nghiên cứu Sử Học Trương Minh Đạt, hình chụp trước cổng tam quan đền Mạc Cửu năm 1994. Hình TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1996. Hình: tạp chí Hà Tiên Thập Cảnh, nhà xuất bản Văn Hóa.

Lăng Mạc Cửu năm 1999, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1999. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 1999. Hình trích từ video TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2006, hình chụp nhìn ra ngoài ao sen trước đền. Hình: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2006, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2007, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: DawnBreeze

Lăng Mạc Cửu năm 2008, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: LeDuyThuong

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2009. Hình: BuiThiDaoNguyen

Bút tích của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn ghi lại trên vách tường đền thờ nhà họ Mạc. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2009

Lăng Mạc Cửu năm 2009, bên trong Tiền Khu Chánh Điện chụp ra phía ngoài ao sen. Hình: FamilleToan

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2010, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: TranNguyenMinhHuy

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2011. Hình: LaiMyThanh

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2011, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: LaiMyThanh

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2011. Hình: NguyenSauRieng

Bái Đình nền gạch vuông trước khi vào chánh điện. Hình chụp khoảng năm 2011

Cổng tam quan phía bên phải đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: AaronGeddes

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: JimGoodman

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Cổng Tam Quan chánh và cổng bên phải lăng Mạc Cửu vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Bên phải đền Mạc Cửu, có con đường gạch dẫn lên khu mồ mả nhà họ Mạc. Hình: Kiều Trang 2017

Cổng Tam Quan chánh vào đền Mạc Cửu vào năm 2017. Hinh: Kiều Trang

Bái Đình lăng Mạc Cửu, hình chụp từ trong Bái Đình nhìn ra phía ngoài ao sen. Hình: SoniaMaclean 2018

Sơ đồ các ngôi mộ nhà họ Mạc tọa lạc trên 4 khu vực trên toàn địa phận núi Bình San và danh sách các ngôi mộ có đánh số và ghi tên.

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời quý đọc giả xem thêm các bài viết có liên quan đến đền Mạc Cửu:

1/ Bài viết về nguồn gốc các ao sen trước ngôi đền Mạc Cửu.

2/ Bài viết về ngôi chùa Tam Bảo qua các giai đoạn thời gian.

3/ Xin mời bạn đọc xem thêm video dưới đây về buổi viếng thăm lăng Mạc Cửu của hai người bạn năm xưa Trần Văn Mãnh và Nguyễn Đình Nguyên vào tháng 11 năm 1999:

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m) và Đại Tô Châu (cao 178 m), xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m), và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m). Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.

 

 

Tô Châu (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, khi thầy cô và các bạn nhìn thấy cái tựa bài với hai chữ tuy ngắn ngủi nhưng lại gợi cho chúng ta một ký ức rất quen thuộc … »Tô Châu »…..A nếu trong bối cảnh là Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì Tô Châu đây chính là bài viết về núi Tô Châu của Hà Tiên yêu dấu của chúng ta…Không thể nào khác đi được, Tô Châu chính là tên hai ngọn núi giữ vai trò cửa ngõ bước vào Hà Tiên đây…Tuy nhiên nếu ta chỉ viết đơn thuần hai chữ « Tô Châu » và không ở trong bối cảnh « Hà Tiên » thì từ ngữ nầy chắc chắn sẽ nhắc đến một thành phố xa xưa trong lịch sữ, đó là phố thị Tô Châu nằm ở hạ lưu sông Dương Tử, thuộc tỉnh Giang Tô bên Trung Quốc…!! Chẳng những đó là tên của một phố thị xưa bên Trung Quốc mà có thời Tô Châu lại là kinh đô của nước « Việt » trong khoảng năm 473 trước Công Nguyên…Thời đó Tô Châu cũng được gọi là Cô Tô, Câu Ngô…với sản phẩm tơ lụa nỗi tiếng…Tác giả bài viết dưới đây, bạn Quang Nguyên đã nhắc lại ở phần nhập đề bài viết « Tô Châu » về thành phố nầy, với bốn câu thơ chữ Hán miêu tả quang cảnh thơ mộng của Tô Châu đó….Tuy nhiên là người con muôn đời của Hà Tiên và cũng không muốn trở thành « chủ nghĩa dân tộc quá khích », chúng ta chỉ biết, nói và viết mãi về cái từ Tô Châu để chỉ núi Tô Châu của Hà Tiên của chúng ta, và cũng không phải chỉ có nhà thơ Trương Kế làm thơ ca ngợi cảnh phố Cô Tô của nước Trung Hoa mà may mắn thay, chúng ta cũng có nhiều bậc thi nhân xuất thân từ đất nhà Hà Tiên, làm thơ ca ngợi cảnh đẹp mây trời sắc nước của xóm núi Tô Châu, hãy đọc thơ của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mà hiểu ngay ra là cảnh Tây Hồ với Hàng Châu cũng chừng thế thôi…đâu có hơn Tô Châu với bến đò qua sông Giang Thành viếng phố Hà Tiên của chúng ta…

« Cận quách kê sơn hoành cổ độ
Đã trang kiều mộc đái tân yên »

Đò ghé bến xưa vờn bóng núi
Khói tuôn xóm mới khuất ngàn cây…
(Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội)

Khách đến chơi phố Hà Tiên hãy thong thả, đừng nóng ruột chờ đò qua sông, hãy dành vài khoảnh khắc nhìn lên hai ngọn núi Tô Châu, ngắm cảnh thiên nhiên núi, hồ, rồi lại không ngăn được ý muốn leo lên ngọn núi Tô Châu nầy, ngay tại bến đò với xóm nhà thơ mộng dưới chân núi,…vì khách cũng còn muốn dừng chân đứng lại đây, ngắm nhìn bốn bên biển hồ sông núi, nhìn cho thỏa ý rồi chợt tai nghe văng vẳng tiếng máy đò cặp bến, thôi mời khách xuống đò sang thăm chợ Hà Tiên,…thăm lăng Mạc Cửu, ở đó khách sẽ lại có thêm dịp ngắm nhìn thưởng ngoạn cảnh núi Tô Châu, một lần được khẳng định là quả thật hai ngọn núi Tô Châu giống y như hai con voi nằm phủ phục trước ngưởng cữa vào đất Hà Tiên…Đến đây mình viết hơi nhiều về đề tài núi Tô Châu nầy rồi, mời Thầy Cô và các bạn đi ngay vào bài của bạn Quang Nguyên, sẽ thấy rất thú vị với những kỷ niệm thời học trò mà bạn kể lại trong bài viết dưới đây…(TVM viết lời giới thiệu bài)

Tô Châu (Quang Nguyên)

Có một Tô Châu (còn gọi là Cô Tô) của Việt Vương Câu Tiễn với câu chuyện Tây Thi – Phạm Lãi mà ai cũng biết, và mọi người cũng biết Tô Châu ấy làm say ngất lòng người trong “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế – nhà thơ sống ở thế kỷ thứ tám:

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

Thuyền đêm đỗ bến Phong Kiều

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Và có một bản dịch khác của một ông quan thời nhà Nguyễn cũng rất hay – ông Nguyễn Hàm Ninh dịch rằng:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(theo Wikipedia)

… Thời học trò luôn có những kỷ niệm trong sâu thẳm của từng người chúng ta, thỉnh thoảng một câu chuyện gì đó, hoặc gặp ai đó, hoặc không có lý do gì cụ thể – có thể chỉ là một giấc mộng đêm hè – với tiếng ve ra rả đánh thức những tiềm thức đã ngủ yên cả vài chục năm trước khi chúng ta còn ấu thơ… Mấy tháng trước tôi cũng đã có một đêm như vậy, không phải là tiếng ve gọi hè đánh thức đêm khuya mà chỉ đơn giản là thấy mình thời đi học, được đi chơi đến một nơi quen thuộc, lòng nhủ lòng sẽ viết về nó và gửi cho Mr. Mãnh để ông cất vào đâu đó trong những vùng đầy ắp những câu chuyện đẹp đẽ về thời học sinh của chúng ta.
Và không chỉ là một giấc mộng mị không đầu không đuôi của tôi, cũng khoảng thời gian ấy, có một hôm tôi nhận được một tin nhắn của bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên: “Sao bạn không viết về Tô Châu? Tôi thích Tô Châu vào hoàng hôn với hình ảnh “con voi phục” có những ánh đèn nhấp nháy của ngôi chùa trên đó như con mắt của chú voi…”. Ừ thì tôi sẽ viết và giờ tôi đang viết, chút nữa tôi sẽ nhắc lại vụ “mắt voi” này sau khi tôi viết một chút về tuổi học trò mà cái tên Tô Châu của chúng ta đã luôn “dính dáng”, một Tô Châu của người Hà Tiên cũng đặc biệt không kém Tô Châu xứ người…

….Ngày xưa chúng ta không có nhiều trò chơi để giải trí, nên « dã ngoại tự phát » cũng là cách mà học trò ngày ấy ưa thích, có những buổi nghỉ học bất ngờ vì giáo viên bệnh mà trường không sắp xếp thầy dạy thế được, ngay lập tức chúng tôi tổ chức đi chơi, nhưng đi đâu chỉ vài tiết học? Hà Tiên thì có nhiều chỗ cho học trò dã ngoại, nhưng do không có nhiều thời gian nên chúng tôi đã chọn núi Tô Châu. Quả thật, núi Tô Châu rất đẹp, nếu nó không đẹp sao người xưa có câu ca dao rằng:

“Hà Tiên có núi Tô Châu,
Có lăng Mạc Cửu, có chùa Phù Dung…”

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60.

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Nếu muốn biết Tô Châu đẹp thế nào, và nếu bạn có thời gian đi kèm với lòng can đảm, bạn phải lên Núi Lăng (Bình San), bạn phải đứng ngay trước sân quynh của lăng ông Mạc Cửu vào buổi chiều tà, nhìn qua bên kia sông của cửa biển Hà Tiên, chú tâm chỉ gói gọn trong khung ảnh cần khai thác (vì các cảnh vật khác ở lân cận, cảnh nào cũng đẹp khiến bạn phân tâm), bạn sẽ thấy núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu hiện ra rất đẹp trong khung cảnh hoàng hôn của một ngày nắng đẹp… Núi Đại là con voi mẹ đang nằm phủ phục đầu hướng ra biển và chúng ta thấy rõ cái gù trên đầu voi, khoảng lõm cổ voi, với chiếc vòi đang duỗi dài ra phía trước tựa hồ voi đang thư giãn ngắm hoàng hôn tuyệt vời trên biển Tây, nó thưởng ngoạn cái thời khắc đẹp đẽ mà gần như chỉ duy nhất Hà Tiên – Phú Quốc chúng ta mới có, bởi vị trí của xứ sở đặc biệt của chúng ta trên dãi đất hình chữ S này.
Nếu Núi Đại Tô Châu là con voi mẹ thì Núi Tiểu Tô Châu lại là con voi con với cái đầu nhỏ hơn và không có gù, nằm phủ phục như mẹ nhưng hình thể lại thấp hơn, nó rất biết vị thế để nằm lui về sau mẹ một chút, nó cũng “bắt chước” mẹ thưởng ngoạn hoàng hôn trên biển, nhưng chúng ta thừa biết rằng nó chỉ “làm bộ” vậy thôi chứ voi “trẻ trâu” làm sao có thể chiêm nghiệm được cái đẹp thâm trầm ý nhị của buổi chiều tà? Nó sẽ mãi mãi nằm đó, mãi mãi tuổi nhi đồng bên cạnh bà mẹ quý phái mãi mãi không thể già thêm được nữa…

Quang cảnh nhìn từ trên lăng Mạc Cửu về phía núi Tô Châu (Hà Tiên), phía đầu núi hướng ra biển. Hình: TVM 1994

Rồi bạn cứ đứng yên trước quynh lăng, chịu khó “ghìm” nỗi sợ mồ mả chung quanh trong buổi nhá nhem, cố đừng để ý đến ngoại cảnh sau lưng và hai bên tả hữu …, bạn sẽ nhìn thấy ánh vàng chiếu thẳng vào hai quả núi, khiến nền xanh lục của cây rừng như rõ hẳn lên, vàng và lục là hai màu kế nhau trong quang phổ ánh sáng trắng (đỏ-cam-vàng-lục-lam-chàm-tím), thế nên nó hài hòa một cách lạ kỳ, những vùng mà ánh sáng không chiếu được vào trở nên xanh thẫm, càng nổi bật khung cảnh tuyệt vời của buổi chiều tà trên hai ngọn Tô Châu xinh xắn của chúng ta mà người Hà Tiên quen đơn giản như tính cách của họ, họ gọi là núi Tiểu và núi Đại.
Họ tuyệt đối không bao giờ bỏ chữ “núi” đến tối giản để gọi là: “tiểu đại”!
Thế nhưng không như trong ký ức của người bạn của tôi là có “con mắt voi nhấp nháy…”, chúng ta sẽ phải chờ mãi đến tối mịt, khi mà mặt trời đã xuống hẳn, khi màn đêm bắt đầu lan đến cái không gian âm u tĩnh mịch của nơi bạn đang đứng, nơi mà – phía sau bạn là mồ mả, bên trái cũng là mộ phần, còn đường xuống dưới chân núi là bao nhiêu “căn hộ” của người đã khuất mà ta phải đi qua, tất cả đều đang nằm trong rừng cây âm u với những hình thù tranh tối tranh sáng quái dị… Mà cái điều đã giữ chân chúng ta đứng đó là chờ đợi con mắt của mẹ con voi nhấp nháy vẫn chưa được thỏa lòng. Nếu may ra được một lần trông thấy bà mẹ voi hay chú voi con mở mắt thì cũng đáng để chúng ta chôn chân trên “vùng đất linh hồn” này… Nào có ngọn đèn nào của ngôi chùa hay ngôi nhà nào nơi vị trí của mắt voi ấy? Nhưng chúng ta hãy kiên nhẫn mà chờ chút… Ô kìa! Đã có những ánh sáng nhấp nháy, nhiều nữa là khác, mà ở đằng kia, nơi vị trí tương ứng của cái … mông voi con!
Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi.
… Đám học trò chúng tôi đi lên núi Tiểu (Tô Châu) bằng con đường có bậc tam cấp bằng đất và đá tảng xếp thành, từ quốc lộ 80 cách đầu cầu nổi trứ danh của chúng ta chừng 200-300 mét về hướng Rạch Giá, vừa qua một khúc quanh nhẹ chúng ta đã thấy đường lên núi Tiểu là lối tam cấp đó, trước khi bước vào tam cấp chúng ta phải thấy một cái giếng nước có xây bao quanh một vòng tròn lớn mà theo trí nhớ của tôi ước chừng đến 4-5 mét, đi độ một phần tư đường lên đỉnh núi sẽ có một lối bên phải, đó là lối vào nhà bác Hai Dãnh.
       Xin lạc đề chút để nhắc về bác Hai.
Bác Hai trông rất cao, cao đến độ cái yên chiếc xe đạp bác chẳng cần bước chân qua, bác đạp xe trên đường là từ xa tôi đã nhận ra cái dáng cao kều của bác. Tương phản, bác gái lại là người nhỏ nhắn, có giọng nói rất nhẹ nhàng, bác gái hay mặc áo nâu và cả hai ông bà đều tu hành tại gia, trông người đức độ… Ngày xưa cha tôi thường sai tôi đi “trao đổi kiến thức” bằng cách cầm qua cho bác ấy những quyển sách mà cha tôi có, hoặc cầm về những quyển sách của bác đang có cho cha tôi mượn… Đôi khi kèm về tôi phải vác theo người quả mít, gói tiêu hạt, hay vài loại trái cây trong vườn nhà bác mà bác đã ân cần giấm dúi bắt tôi phải mang về. Một chút tình cảm của ngày xưa ấy tuy không dành cho đứa con nít như tôi, nhưng luôn luôn ấn tượng trong tôi về tình nghĩa của người xưa, hẵn đã rất ấm lòng cha tôi khi thời cuộc xoay vần khiến ông chỉ còn biết tìm vui trong sách vở với người tri kỷ…

« Bác Hai Dãnh » trong bài viết của Quang Nguyên. Đối với mình, đây là Hia Tư vì hia là chồng của chế Thìn chị bạn dì với mình. Tên của Hia Tư là Lý Văn Nhiên, tên của chế Thìn là Lê Thị Phượng. Đây là hình Hia Tư chụp trên núi Tiểu Tô Châu, ngay phía trước nhà của hia và chế, bên phải con đường đi lên tịnh xá Ngọc Đăng

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng:

Trên lối mòn đường núi trước nhà bác Hai, đám học trò chúng tôi đi theo hướng Thuận Yên, được một đoạn trống, nhìn xuống dưới Hà Tiên ẩn hiện nho nhỏ phố xá bên kia sông, cửa biển Hà Tiên xanh biếc mùa gió bấc, phố chợ nối với bờ bên Tô Châu là cây cầu nổi gió nước dập dềnh, đương nhiên trên núi Tiểu ta không thể thấy nó dập dềnh, nhưng thật sự nó vẫn dập dềnh như khẳng định của Galileo “dù sao thì trái đất vẫn quay!”. Bên kia con lộ 80 ngày ấy vốn còn là lộ đất đỏ, là khu rừng sác đầy dừa nước được đẩy ra tới ngang núi Pháo Đài bên kia sông, và mở rộng đầm lầy đó đến qua khỏi Eo Bà Má đến trước Trung Tâm. Chúng tôi còn nhìn thấy rõ một đoạn con lộ đỏ vượt đầm lầy, bắt đầu từ bên trái đầu cầu nổi chạy thẳng ra biển đến cái mái tôn trắng của nhà máy xay bột cá làm thức ăn gia súc, và đương nhiên phía bên phải đầu cầu nổi nhìn về Hà Tiên phải là phần còn lại của hãng nước mắm danh tiếng Bỉnh Ky đã “quốc hữu hóa », với hàng đống các tĩn mắm loại 5 lít bằng sành sơn vôi trắng chất hàng hàng lớp lớp cao ngất mà không có thứ cần chứa bên trong – cái chất nước làm nên quốc hồn quốc túy, được gìn giữ, được nghiên cứu, được mày mò bao thế hệ để ẩm thực Việt Nam không thể lạc điệu, hay lơ lớ lai căng với phần còn lại của thế giới.
Vì đã “quốc hữu hóa” nên hãng đã không còn. Đã có một thời lầm lẫn đáng tiếc nuối…
Trên núi Tiểu nhìn về Hà tiên thì bến Tô Châu thương thuyền cũng tấp nập, và có lẽ trước năm 1975 có thể tấp nập hơn chăng? Hà Tiên dạo ấy còn quạ, (những chú quạ đen gớm ghiếc với cái mỏ to đùng và tiếng kêu đầy đe dọa, chúng đậu trên những cây dừa trong vườn nhà ông Ba Lón trước nhà chúng tôi), cũng có thể có khách thương hồ đậu bến Tô Châu nửa đêm nghe tiếng quạ kêu sương mà tỉnh giấc, ngắm trăng in Đông Hồ, nghe tiếng chuông công phu phát xuất từ tịnh xá mà hứng khởi làm thơ chăng? Thế thì Tô Châu của chúng ta khác nào Cô Tô của Tây Thi và Ngô Phù Sai?

Một trong những cảnh đẹp của núi Tô Châu (Hà Tiên), góc nhìn của hình cho ta thấy cả hai ngọc núi Đại Tô Châu (phía bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa và bên phải). Trên sườn núi Tiểu Tô Châu ta thấy có « Tịnh Xá » Ngọc Tiên chiếm một khoảng rất lớn của sườn núi, điều nầy có làm giảm vẻ đẹp thiên nhiên của ngọn núi hay không ? Hình: Nguyễn Lệ Thủy, 2016

… Cũng trên đường mòn trên núi Tiểu về hướng Thuận Yên như đã nói, đi thêm đoạn nữa sau khi vẹt bao bụi gai hay dây rừng, chúng tôi chợt thấy hiện ra trước mặt có nhiều cây lạ, rất to, suông thẳng và có gân lớn, vỏ cây láng trắng xám, tuy lớn nhỏ không đều nhưng chúng giống nhau một cách lạ kỳ. Thoạt đầu chúng ta nghĩ chúng là một quần thể hội tụ nơi đây của cùng một giống, nhưng không phải, mà Trời ạ! Tất cả các gốc cây này chỉ xuất phát từ… một cây.
Đúng vậy! Đó là “Cây Da Bảy Gốc”.
Thật khó để mô tả nó một cách rõ ràng như thế nào, nhưng cái cách mà nó sinh tồn thật mãnh liệt, từ một cái gốc chính nó đã vươn cành nhánh ra chung quanh, rồi từ cành nhánh đó nó phát xuất thêm những gốc khác bằng cách “đâm” xuống đất, gốc to lên và vươn xa hơn… cái cách nó vươn ra ấn tượng làm sao, cứ như là nó biết “bò” vậy…
Cây Da Bảy Gốc là một điểm đến của học trò ngày ấy, không biết bây giờ nó còn tồn tại không hay “lâm tặc” đã “xử” nó rồi? Hơn bốn mươi năm trước trong trí nhớ của tôi nó đã to lắm, có những gốc đến mấy ôm, cũng đã ngần ấy thời gian rồi tôi đã không đến đó, giờ nếu nó còn chắc đã to hơn?
Đã có một cây da có đến mười ba gốc ở Hải Phòng, nó được định tuổi là 300 năm và được công nhận là “cây di sản” và được nhà nước bảo tồn và cho khách tham quan thưởng ngoạn, nhưng công tâm mà nói cây đó nhỏ hơn nhiều và có thể nó ít tuổi hơn Cây Da Bảy Gốc mà tôi biết từ năm xưa…
Trong ký ức của học trò Hà Tiên xa quê, Hà Tiên không chỉ có thập cảnh quá danh tiếng tặng kèm mười bài thơ “xướng” và hàng chục bài thơ “họa”, mà Hà Tiên còn bao cái lạ hơn xứ người: dừa ba ngọn, dừa bốn ngọn, dừa bảy ngọn, da bảy gốc… Biết đâu được năm xưa Sơn Tinh đi bắt voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao từ vùng đất này của chúng ta?

Và “ hai con voi phục” của bạn tôi thì vẫn nằm đó, vẫn ngắm hoàng hôn từ biển Tây, hàng đêm vẫn chớp mắt từ … mông, Tô Châu vẫn thơ mộng dù giờ có những bến phà Phú Quốc và du thuyền sang trọng, Hà Tiên qua bao năm tháng đã thay đổi nhiều, nhưng trong ký ức của người xa quê thì hình ảnh xưa vẫn chiếm ngự…
Tôi không dám đòi hỏi, nhưng tôi sẽ rất vui nếu bạn nào lứa chúng tôi mà “trẻ lại”, thử leo ngọn Tiểu Tô Châu, thăm cụ Bảy Gốc có còn khỏe chăng?
                                                                                            Quang Nguyên (07/2018)

                                                         Tác giả: Quang Nguyên                       

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Lệ Thủy, Rich Krebs , Quách Ngọc Bá, TuanVo

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu là dân gốc Hà Tiên hay những người đã từng sống tại Hà Tiên vào những năm 1950 – 1970, ai cũng đều biết cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Không ai biết tại sao có cây dừa ba ngọn nầy, ai trồng ?!! Chỉ biết vào khoảng những năm 1940, cây dừa đã có tại góc ngả tư đường Hàng Dừa và đường Mạc Cửu (ngả tư đường Bạch Đằng và đường Mạc Cửu). Cây dừa ba ngọn nầy rất nổi tiếng ở Hà Tiên, ngày xưa tuy cây dừa không thuộc vào danh sách các kỳ quan thắng cảnh của Hà Tiên (như Đông Hồ, Bãi Mũi Nai, Thạch Động, Hòn Phụ Tử,…) nhưng lúc đó ở Hà Tiên các nhà chụp hình kỳ cựu như Ông Quách Ngọc Bá, Phương Dung, Đức Quang (và sau đó là Tô Châu) đều khai thác hình ảnh đẹp lạ về cây dừa ba ngọn nầy. Vì cây dừa ở ngay vị trí thuận lợi trong quận lỵ nên du khách đến viếng xem cây dừa rất dể dàng. Các tiệm chụp hình kể trên đều xếp hình cây dừa ba ngọn vào tập hình thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên. Ngày xưa các nhà chụp hình ở Hà Tiên thường gắn liền các hình phong cảnh đẹp lạ của Hà Tiên vào hình ảnh con đồi mồi, vì kỷ nghệ làm vật dụng trang sức bằng vảy đồi mồi rất phát triển tại Hà Tiên. Một trong những bức hình rất quen thuộc và có giá trị giới thiệu tổng quát các thắng cảnh đẹp lạ của Hà Tiên là hình ảnh một con đồi mồi mà trên lưng có mỗi chiếc vảy là một hình ảnh thắng cảnh đẹp.

Một tác phẩm ghép hình thời xưa: hình con đồi mồi tượng trưng cho kỷ nghệ chế tạo đồ trang sức bằng vảy đồi mồi, trên mỗi vảy có giới thiệu một thắng cảnh đẹp Hà Tiên: Núi Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Động, Mũi Nai, Hòn Phụ Tử, Cây dừa ba ngọn, Lăng Mạc Cửu,…(nhà chụp hình Phương Dung, Hà Tiên)

Cây dừa cao khoảng hơn 5 m, nằm trong khuôn viên cư xá của các Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, và bệnh viện thì nằm đối diện với cây dừa ba ngọn phía bên kia đường Bạch Đằng. Thời đó trước những năm 1950, Bác Sĩ Quản Đốc Bệnh viện là người Pháp nên khu nầy rất trang nghiêm, không ai dám phá rối hay hái trộm dừa trên cây dừa ba ngọn nầy. Theo lời kể của dân địa phương thì cây dừa ba ngọn vẫn có trái như cây dừa bình thường…Tuy nhiên tới đây mình xin nói rỏ là đặc biệt không biết nguyên nhân từ đâu, hay đã có xảy ra chuyện ma quỷ gì không mà người Hà Tiên đồn là cây dừa ba ngọn là nơi có ma quỷ rất thường xuyên, hầu như ai cũng sợ khi đi ngang cây dừa vào ban đêm, nhất là trẻ con như mình thời còn nhỏ đi học hay đi học giờ thể dục sớm ngang cây dừa nầy,…thêm một điều nữa là xéo xéo bên kia đường thì lại là một căn nhà xác của bệnh viện , nơi thường hay quàng lại những người chết qua đêm…Trên khúc đường Bạch Đằng nầy, một bên là dừa ba ngọn có ma, một bên là nhà xác có xác chết, vậy thì hỏi sao mà không sợ ma cho được. (Nhân viết đến đây mình xin nhắc lại một bài viết cũng có nói rỏ về việc nầy: https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/)

Vị trí cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên (Góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu)

Cây dừa ba ngọn Hà Tiên, hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại.

Vào khoảng năm 1953, vì sợ cây dừa bị gãy đổ, người ta đúc trụ xi măng hình chữ T để chống đở thân cây dừa. Đó là hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T mà mình thấy ngay từ nhỏ vì năm 1953 là năm mình mới có 2 tuổi (tính theo tuổi Việt).

Hình ảnh cây dừa ba ngọn với cột trụ xi măng hình chữ T. Căn nhà trong hình là cư xá của Bác Sĩ làm việc trong bệnh viện Nguyễn Thần Hiến bên kia đường. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn, 1965

Trần Văn Mãnh trong những năm 1960-1970, hình chụp ngay trước sân cư xá Bác Sĩ ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu. Bên trái hình là vị trí của cây dừa ba ngọn (không thấy trong hình), bên phải hình là trường Mẫu Giáo Hà Tiên ngày xưa, ngay trên đường Tô Châu, trước mặt trường Mẫu Giáo là sân trống dùng làm sân đánh bóng chuyền ngay xưa. Chiếc xe jeep trong hình là xe thuộc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên.

Theo lời kể của bạn Trần Huỳnh một học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa: « Dãy nhà cư xá cho Bác Sĩ và nhân viên bệnh viện Nguyễn Thần Hiến ngay góc đường Bạch Đằng – Mạc Cửu gồm có 4 căn nhà, căn bìa là gia đình Thầy Tám Trọng ở. Có lần giông bảo lớn quá, cây dừa ba ngọn ngả nghiêng theo chiều gió, làng xả Hà Tiên sợ mất cây dừa rất uổng nên Bác Hai Năng (?) lúc đó là chủ tịch làng cùng với ông Quách Ngọc Bá và một người nữa làm việc ở Chi Công Chánh Hà Tiên cùng nhau góp sức xây cột trụ đở cây dừa ba ngọn như ta thấy trong hình.

Theo tài liệu do Thầy Trương Minh Đạt nghiên cứu thì vào ngày 01/01/1971 (nhằm ngày mùng 5 tháng chạp năm Canh Tuất) tuy không có hiện tượng thiên nhiên nào mạnh bạo gây hại nhưng cây dừa bị tét một nhánh đang có nhiều trái, sau đó không bao lâu hai nhánh còn lại cũng bị gãy luôn. Vào đầu năm 1971 là năm mình học lớp Đệ Nhất (tương đương với lớp 12 bây giờ)  trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá, hình như là mình có nghe tin cây dừa ba ngọn bị gẫy nhưng mình cũng không nhớ rỏ chi tiết sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn như thế nào. (Có nhiều nguồn tin về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn Hà Tiên, có nguồn thì cho là cây dừa bị gãy vào năm 1970, có tin lại cho là vào năm 1972…Có tài liệu cho rằng Ông Quách Ngọc Bá đem ba ngọn bị gãy rời ra của cây dừa ba ngọn về nhà lưu trử nhưng không bao lâu các ngọn nầy bị mục đi nên không bảo tồn được lâu).

Đây là hình cây dừa ba ngọn thân yêu của chúng ta tại mảnh đất Hà Tiên thơ mộng…Hình bản gốc chụp vào năm 1970 do người Mỹ H. Lawrence Serra trong thâp niên 1960 – 1970 đóng quân ở Pháo Đài chụp. (hình do Ông H. Lawrence Serra gởi tặng cho mình vào tháng 10/2017)

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên, một trong những bức hình hiếm và đẹp. (Hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Về sự gãy đổ của cây dừa ba ngọn, có tài liệu « HATIEN PHOTO » do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản có viết rỏ như sau:

« Cây dừa ba ngọn ở góc đường Mạc Cửu và Bạch Đằng, thuộc loại dừa lửa. Ba ngọn nằm theo chiều Nam Bắc. Khi dừa lên cao độ 4 thước, ngọn dừa bị chia xẻ thành 3 ngọn, cũng đâm lá trổ trái ở 3 ngọn như những cây dừa khác. Đó là cây dừa độc nhứt hoàn cầu, vì đã có nhiều người Bắc và Trung trong ngành canh nông, người Pháp từng phục vụ ở Tahiti, người Anh ở Colombo và Singapore, nhiều người Mỹ ở Hawai, thì không một ai được nghe nói hoặc thấy cây dừa nhiều ngọn như cây dừa ở Hatien. Trước khi gãy, cây dừa đã bị nghiêng về hướng Đông, thế nhưng trái vẫn sai, lá vẫn tốt. Chính quyền địa phương đã làm đủ mọi cách để bảo vệ cây dừa nầy, nào lấp gốc, làm cây chỏi bằng béton…dầu được bảo vệ kỷ lưởng như vậy, song đến ngày 1-1-1971 đúng vào lúc 5 giờ chiều, 2 ngọn dừa nằm về hướng Bắc đã bị gãy. Thế rồi khoảng vài tháng sau, một ngọn dừa còn lại ở hướng Nam cuối cùng cũng bị gãy. Nay chúng ta còn thấy cái gốc lấp thật cao, có cây chỏi béton nằm bên cạnh Bệnh Viện Hatien. Đó là di tích còn lại của cây dừa 3 ngọn. HATIEN PHOTO 25-11-1973 »

Cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên. Hình gốc trích trong tập HATIEN PHOTO do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản 1973

Hai trang 21 và 22 trong tập HATIEN PHOTO viết về cây dừa ba ngọn ở Hà Tiên do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá xuất bản năm 1973

Về sau nầy ở Hà Tiên lại có cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn mọc lên nữa. Về cây dừa bảy ngọn, chuyện kể như sau: khoảng năm 1976 tại cổng bệnh viện Hà Tiên có một cây dừa trái đỏ gọi là dừa lửa mọc lên bảy ngọn (cây dừa bảy ngọn nầy chỉ cách cây dừa ba ngọn trước đó khoảng vài chục thước thôi…), cây dừa nầy sống được khoảng trên 10 năm về sau bị mưa giông có bốn ngọn bị gãy trước, còn lại ba ngọn cuối cùng cũng bị gãy vào giữa năm 1987, cây dừa bảy ngọn bị chết hoàn toàn.

Cây dừa bảy ngọn ở trước bệnh viện Hà Tiên đường Mạc Cửu. (hình: Lê Ngọc Ngân sưu tầm)

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa

Cây dừa bảy ngọn ở Hà Tiên với trái màu đỏ gọi là dừa lửa. (Hình: Bronson Ha)

Cây dừa bảy ngọn ở trước bệnh viện Hà Tiên đường Mạc Cửu. (hình: Đỗ Thị Mỹ Duyên sưu tầm)

Sau khi cây dừa bảy ngọn chết đi, Hà Tiên lại có cây dừa bốn ngọn mọc lên tại nhà bác Trương Thế Hữu phường Bình San, thị xả Hà Tiên. Cây dừa bốn ngọn nầy sống cũng được gần 40 năm và cũng bị chết đi. Mình chưa được thấy cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn, là dân Hà Tiên chính gốc, mình chỉ được may mắn nhìn thấy cây dừa ba ngọn hầu như là thấy mỗi ngày vì trong những năm1960 – 1970 hàng ngày mình đều có dịp đi ngang qua cây dừa ba ngọn nầy, lúc thì đi học lúc thì thả rong đi chơi…Ngược lại cũng có nhiều bạn ở Hà Tiên vì là thế hệ trẻ sau nầy nên không có dịp thấy được cây dừa ba ngọn nhưng lại được chiêm ngưởng hai cây dừa sau nầy là cây dừa bảy ngọn và cây dừa bốn ngọn.

Cây dừa bốn ngọn (một thế hệ cuối cùng của gia đình cây dừa nhiều ngọn ở Hà Tiên). Phường Bình San, Thị Xả Hà Tiên

Thầy Trương Minh Hiển chụp hình tại cây dừa bốn ngọn ở Hà Tiên. (Hình: Trương Mộng Uyên 1997)

Hiện nay ở Hà Tiên các kỳ quan về cây dừa ba ngọn, bảy ngọn và bốn ngọn đã biến mất, chúng ta có thể hy vọng nơi đâu đó trên mảnh đất Hà Tiên mầu mở nầy sẽ có một thế hệ mới dừa nhiều ngọn mọc lên, tiếp tục làm tỏa sáng danh tiếng đất Hà Tiên. Tuy nhiên đối với mình trong lòng mình chỉ có hình ảnh cây dừa ba ngọn với trụ xi măng hình chữ T chống đở là hình ảnh duy nhất của cây dừa kỳ quan ở Hà Tiên, hình ảnh sẽ và còn sống mãi trong lòng những người yêu mến Hà Tiên, nơi mình sinh ra và lớn lên…

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

    Paris   TVM 01/06/2018

 

 

Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn xưa đến nay, nói đến Hà Tiên thì ai cũng nhắc nhở đến những thắng cảnh xinh đẹp nên thơ như thắng cảnh Hòn Phụ Tử. Tuy Hòn Phụ Tử về mặt địa lý thuộc về xả Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, nhưng không hiểu vì sao mà tên tuổi Hòn Phụ Tử luôn gắn liền với địa danh Hà Tiên. Từ bao nhiêu năm xưa, Hòn Phụ Tử đã là đề tài gây cảm hứng cho biết bao nhà văn, nhà thơ, họa sĩ…  để được các nghệ sĩ nầy cho ra đời biết bao tác phẩm ca tụng vẻ đẹp của Hòn Phụ Tử. Mình còn nhớ ngày xưa mỗi lần Tết đến các báo Xuân đua nhau ra đời và thường là có cho thêm phụ bản một bức tranh khổ lớn vẻ hình Hòn Phụ Tử do họa sĩ Lê Trung vẻ.

Nói về phương diện địa chất, Hòn Phụ Tử là một hòn đảo gồm hai khối đá dính liền nhau đứng trên một bệ đá có chiều cao 5m so với mặt biển. Trong đó hòn Phụ có chiều cao khoảng 33,6m và hòn Tử cao khoảng 30m. Đó là hai trụ đá cao nghiêng nghiêng cùng một chiều tượng trưng cho hình hai cha con quấn quýt bên nhau trông ra biển cả. Hòn Phụ Tử nằm trên eo biển Khu du lịch Chùa Hang,  thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang, được xem là biểu tượng cho cảnh đẹp Kiên Giang và được công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia vào năm 1989.

Chung quanh vùng phụ cận Hòn Phụ Tử cũng có rất nhiều cảnh đẹp:

Hang Tiền: Gọi tên là « Hang Tiền » vì xưa kia cư dân có thu nhặt được nhiều đồng tiền điếu cũ, cũng có tài liệu nói rằng tên Hang Tiền là vì trên vách đá trong hang có hình giống như đồng tiền. Theo tài liệu quyển sách nhỏ « HATIEN PHOTO » do nhà chụp ảnh Quách Ngọc Bá phát hành, Hang Tiền là một hòn đảo cao 206 , dính liền với đất liền và ở trên con đường Hà Tiên – Hòn Chông, cách Tô Châu 25 km. hang to rộng, có 2 cửa: Cửa Đông dính với Bãi Đước, cửa Tây nhìn ra biển. Tuy gắn liền với dất liền nhưng rất khó đi đến Hang Tiền bằng đường bộ. Muốn đến chơi nếu dùng xuồng thì theo con rạch Hang Cây Ớt vượt ra Bãi Đước vào hang cửa Đông. Còn đi vào cửa Tây thì phải dùng ghe biển tại Bãi Bà Lưu trước Mũi Douannes (Mũi Quan Thuế) Hòn Chông. Từ Mũi Bà Lưu qua Hòn Đá Lửa và Hòn Lô Cốc thì đến cửa Tây. Trong Hang Tiền rất tối, phải dùng đèn đuốc soi đường, hang có nhiều thạch nhũ với nhiều hình thù độc đáo. Đặc biệt trong Hang Tiền có một giếng nước ngọt quanh năm, nhân dân trong vùng gọi là Giếng Tiên.

Bãi Dương: Bãi Dương là một bãi cát vàng mịn trên đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Đây là bãi tắm lý tưởng có hàng dương chạy dài theo mé biển với tiếng reo vi vu hòa vào tiếng rì rào của sóng biển. Bãi Dương nằm trong quần thể danh thắng Hòn Chông, là một bãi biển quyến rũ. Bờ biển Bãi Dương chạy dài khoảng hai cây số, một nửa bãi có hàng cây dương xanh và nửa bãi kia thì có cây dầu cổ thụ nên người địa phương gọi khu vực này là Bãi Dương và Bãi Dầu. Phía trước Bãi Dương có đảo Kiến Vàng cách bờ khoảng 500 mét án ngữ trước mặt. Cách Bãi Dương khoảng 2 cây số, có bãi Hòn Trẹm, tiếp đến là Chùa Hang (Hải Sơn Tự) và Hòn Phụ Tử.

Sơ đồ vị trí khu du lịch Chùa Hang – Hòn Phụ Tử do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá phát hành năm 1973

Chùa Hang (Hải Sơn Tự) phía mặt nhìn ra biển, cách Hà Tiên khoảng 33 km. Ảnh xưa Pháp

Chùa Hang (Hải Sơn Tự),  (Hà Tiên), ảnh xưa Quách Ngọc Bá

Bãi Dầu (Hà Tiên). Hình xưa TuanVo

Bãi Dâu (Hà Tiên), photo: Trần Văn Mãnh 1994

Truyền thuyết về Hòn Phụ Tử

Theo truyền thuyết, xưa kia ở vùng biển này có con thuồng luồng rất hung dữ, hay đánh đắm vào thuyền bè để ăn thịt ngư dân. Bên chân ngọn An Hải Sơn, cạnh Chùa Hang, có hai cha con làm nghề chài lưới. Quá bất bình trước tình cảnh này, người cha quyết lòng tiêu diệt con ác thú trừ hại cho bà con. Sau khi tính hết kế, cuối cùng ông thấy chỉ còn cách hy sinh thân mình mới mong giết được con thuồng luồng này. Thế là ông liền tẩm thuốc độc vào mình, nằm sát mé biển để dụ con ác thú. Thấy mồi ngon, con thuồng luồng đến cắn đứt đầu ông, trúng độc rồi chết. Người con đi tìm cha, bắt gặp xác cha cụt đầu liền ôm lấy khóc thương thảm thiết. Không ngờ chất độc từ người cha thấm vào khiến người con trúng độc mà chết. Trời nổi giông bão, mưa suốt mấy ngày liền. Và nơi hai cha con nằm mọc lên hai hòn đá lớn và nhỏ. Hòn to là cha và hòn nhỏ là con, người ta gọi là hòn Phụ Tử.

Hai bên hòn Phụ Tử là hai hòn đảo có hình dáng giống như một con thỏ quỳ hai chân sau để giỡn với sóng biển và một con rùa. Thiên nhiên đã tạo nên một cảnh quan thật tuyệt. Chắc chắn rằng ai đã đến hòn Phụ Tử thì không thể quên được cảnh non nước hữu tình. (tài liệu Wikipedia mở)

Một hình ảnh rất xưa về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), trích trong một tài liệu Pháp (1934)

Một hình ảnh rất xưa về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), trích trong một tài liệu Pháp (1934)

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) theo tài liệu xưa Pháp.

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử, Nga Lâm sưu tầm

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo:  Houllé Edgard fils 1948

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: Jaubert 1949

Một bức ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: Nguyễn Ngọc Liên

Bãi biển sau Chùa Hang gần Hòn Phụ Tử, ảnh TuanVo, 1956

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên): TuanVo

Hang Tiền, một hòn đảo cao 206 m, dính vào đất liền, nằm trên con đường Hà Tiên-Hòn Chông. Hình xưa: Quách Ngọc Bá

Bức ảnh điển hình về phong cảnh Hòn Phụ Tử do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá 1966

Một ảnh đẹp về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Hình xưa Hòn Phụ Tử (1892) trích trên trang fb « Sài Gòn Xưa »

Hình xưa Hòn Phụ Tử (1892) trích trên trang fb « Sài Gòn Xưa »

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Truman Library (những năm 1960)

Ảnh xưa đảo nhỏ chung quanh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Truman Library (những năm 1960)

Cảnh xưa: đảo nhỏ chung quanh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo 1967

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo 1967

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo

Hòn Trẹm (Hà Tiên), hình TuanVo

Bãi Dầu, Hòn Trẹm. Ảnh xưa: Quách Ngọc Bá

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), một góc nhìn hiếm, từ ngoài biển nhìn vào đất liền. Hình Roland Drosson 1953

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)  hình xưa: Bronson Ha

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Nguyễn Hồng Ẩn, 1974

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), photo: Trần Văn Mãnh 1994

Photo: HauNguyen

Photo: AAFV

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: NguoiBinhDuong, 2006

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)

Ngoài ra hình ảnh Hòn Phụ Tử còn xuất hiện trên một số tác phẩm như tem thư, tiền giấy, vé số, bích chương quảng cáo du lịch:

Sau đây là bức tranh vẽ Hòn Phụ Tử do họa sĩ Lê Trung vẽ và ký tên năm 1958, do tờ báo « SaiGon Mới » tặng đọc giả và có đề tựa bức tranh là « Mến cảnh Hà Tiên », có đề 4 câu thơ:


« Đoái nhìn phong cảnh Hà Tiên
Đá chồng phụ tử nước liền trời mây
Nặng lòng đối với cỏ cây
Non sông gắm vóc ai người điểm tô. »


Bức tranh diễn tả một người thiếu nữ đúng trước cảnh Hòn Phụ Tử và có chơi trò chơi đó tìm mẹ của người thiếu nữ trong hình, loại tranh vẽ có đó vui nầy rất thông dụng với tranh của Lê Trung ngày xưa, các bạn sẽ tìm ra mẹ của người thiếu nữ dể dàng….

Ngày đầu tiên phát hành tem thơ hình Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) 7/9/1964

Hình Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) trên một tấm vé số (1961)

Tài liệu: Millesime Voyage Indochine VintageVivian

Tem thư Hòn Phụ Tử xuất bản năm 1964

Hình ảnh Hòn Phụ Tử trên tiền giấy 1 đồng (1985)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale », anh Trần Độ, do nhà xuất bản Văn Hóa Hà Nội phát hành.

Hòn Phụ Tử bị gảy đổ:

Khoảng 3 giờ 45 phút ngày 9 tháng 8 năm 2006, phần Phụ của hòn Phụ Tử đã đột ngột ngã xuống biển. Phần gãy của hòn Phụ Tử là phần Phụ 20m, vị trí ngã ngang về hướng đông, phần còn lại chỉ còn khoảng trên 13m. Hòn Phụ Tử giờ chỉ còn lại phần hòn Tử.

Năm 2006, phần « Phụ » (người Cha) của Hòn Phụ Tử đã bị gảy đổ xuống biển, Hòn Phụ Tử chỉ còn lại phần « Tử » (người Con)

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Ngày nay, phong cảnh Hòn Phụ Tử hình như đã bị bỏ rơi, người ta không còn chăm sóc nơi nầy như là một cảnh đẹp cần thăm viếng như xưa nữa, quang cảnh tiêu điều, vắng khách tới lui rất là buồn. Hòn Phụ Tử từ ngàn xưa được xem như là một báo vật của thiên nhiên tặng cho chúng ta, ngày nay báo vật đã mất đi, người ta không còn lưu ý đến nữa, một truyền thuyết đã được khép lại như số phận của « người cha » đã bỏ ra đi, để lại « người con » vẫn còn cô đơn sừng sửng đứng cùng trời đất như thách thức với định mệnh, như muốn nói rằng đối với ta ngàn năm vẫn vậy, ta vẫn còn đứng đây làm nhân chứng cho Hà Tiên qua bao nhiêu tang biến đau thương hay vinh quang, phồn thịnh…Ngẩm lại chúng ta người Hà Tiên vẫn xem Hòn Phụ Tử như một biểu tượng, rất buồn cho số phận của một kỳ quan….một kỳ quan đã cho chúng ta biết bao niềm vui, bao kỷ niệm để rồi ngày nay lặng lẻ cô đơn nhìn ra biển cả….Hòn Phụ Tử vẫn còn mãi trong ký ức của chúng ta….

Một cô giáo dạy trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa, đã cảm tác về Hòn Phụ Tử như sau:

Thấp thoáng ngoài khơi « cha với con »
Nhấp nhô trên sóng nước cùng non
Cảnh đẹp Chùa Hang phô sắc thắm
Tiếng sáo chiều quê nghe véo von

Thiên nhiên hùng vĩ thật đẹp xinh
Sóng biếc lao xao thắm nghĩa tình
Hòn Trẹm – Bãi Dầu du khách viếng,
Ráng chiều trên biển nước lung linh.

Cô Dương Hồng Châu cảm tác về Hòn Phụ Tử 26/08/1986

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, kỳ trước mình có viết một bài về kỷ niệm thời học sinh đi học giờ thể dục với thầy Trịnh Học Ký vào sáng sớm, phải đi trên đường Bạch Đằng một bên có cây dừa ba ngọn đầy ma và một bên là nhà xác của bệnh viện Nguyễn Thần Hiến (xin mời xem lại bài theo link dưới đây)

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Hôm nay mình viết thêm một bài nữa cũng có liên quan đến nhà thương (bệnh viện Nguyễn Thần Hiến) Hà Tiên. Kỷ niệm thời học sinh với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tuy không nhiều, nhưng tất cả chúng ta người Hà Tiên ai cũng đều có ít nhiều chuyện liên quan đến nhà thương Hà Tiên. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tọa lạc trên con đường Mạc Cửu, mặt chánh nhìn ra đường Mạc Cửu, đứng ngoài nhìn vào cổng bệnh viện thì bên trái là đường Mạc Công Du (đường hàng dương), bên phải là đường Bạch Đằng (đường hàng dừa), phía sau lưng bệnh viện giáp với trại lính (thành 18). Bệnh viện nầy là một trong hai đơn vị y tế công cộng của Hà Tiên, vì trên con đường Tham Tướng Sanh đi thẳng vào bệnh viện, phía bên phải con đường nầy còn có một đơn vị y tế nữa là « Nhà Bảo Sanh ». Nhà Bảo Sanh (hay « Viện Bảo Sanh » mình quên tên chánh thức ra sao rồi), là nơi mà hầu hết người Hà Tiên chúng ta sinh ra…Nhà Bảo Sanh mặt chánh nhìn ra đường Tham Tướng Sanh, mặt sau nhìn ra đường Bạch Đằng, bên ngoài nhìn vào thì bên phải giáp với ngôi vườn quán Ti La thầy Đạt và cũng giáp với Chi Thú Y phía sau, bên trái nhìn ra đường Mạc Cửu. phía sau mặt trái của nhà Bảo Sanh nầy cũng là nơi có cư xá cho người làm việc tại đây cư ngụ.

Cổng chính vào nhà thương (Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên) trên đường Mạc Cửu, trong góc phía sau bên phải nhà thương là nhà xác. (Hình: gia đình Nguyễn Như Sơn, 1958)

Trở lại kể chuyện về bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, mình nhớ hình như có ít nhất là một lần học sinh phải đến bệnh viện nầy để khám sức khỏe. Mình còn nhớ rỏ nơi khám sức khỏe, nầy nhé, khi đi vào bệnh viện, quẹo qua bên phải, lên vài bậc thang, đi vào phòng khám sức khỏe nằm bên tay trái. Ngoài ra toàn bộ nhà thương thì có ba nhóm nhà bố trí theo hình chử U. Nhóm nhà văn phòng bên phải dành cho Bác Sĩ và y tá làm việc, nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm ở giữa nhìn ra cổng chánh và nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm bên trái. Người dân Hà Tiên và các vùng phụ cận (xóm Thạch Động, Cừ Đứt, Trà Phô,…) đều đến nhà thương nầy để xin thuốc và khám bệnh. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên được xây cất vào năm nào mình không rỏ, nhưng ít nhất là phải trước năm 1956, vì theo tài liệu nghiên cứu thì vào khoảng năm 1956 có Bác Sĩ Phạm Như Bách là giám đốc bệnh viện và lúc đó bệnh viện được mang tên là bệnh viện Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ công ơn của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, một người thầy tài cao học rộng không những trong lảnh vực văn thơ mà còn là một vị lương y chuẩn bệnh cho thuốc…(Ngoài ra ở ngay thành phố Hà Tiên còn có một con đường mang tên Nguyễn Thần Hiến nữa, con đường nầy nằm song song với đường Phương Thành, Nhật Tảo và Cầu Câu).

Vị trí đường Nguyễn Thần Hiến tại thị xả Hà Tiên

Kể chuyện liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến thì có chuyện về nhà xác của bệnh viện mà mình đã kể trong bài viết trước rồi (mời xem thêm bài trong link phía trên). Về bác sĩ Phạm Như Bách thì mình có một vài kỷ niệm. Kỷ niệm thứ nhất mình còn nhớ là khi bạn Quách Ngọc Sơn uống 10 viên thuốc Optalidon tính tự vận, được chở lên bệnh viện Hà Tiên, lúc đó bác sĩ Bách ra tay cứu bạn Sơn. Mình còn nhớ, tin vừa loan ra nhanh chóng, bạn bè cùng trường lớp ai cũng kéo nhau lên nhà thương xem. Trong nhóm có bạn Lý Cảnh Tiên nữa. Trong lúc bác sĩ Bách cho một ống cao su vào miệng của bạn Sơn, rồi cho bơm nước vào đầy bao tử mục đích để bạn Sơn ói mửa ra hết thuốc…Lúc đó cũng lạ, vì bệnh nhân (tức là bạn Quách Ngọc Sơn) được cho nằm trên một cái bàn rộng ở nhóm nhà văn phòng bên phải bệnh viện, không có đóng cửa gì cả, nên bạn bè người xem rất đông bên ngoài đều thấy cả. Mỗi lần nước cho bơm vào bao tử bạn Sơn, mọi người đều thấy Sơn oằn oại kêu la rất là tội nghiệp, các thức ăn và nước nhớt từ trong miệng trào ra làm ướt cả quần áo và lan lên trên đầu tóc của Sơn. Mình còn nhớ lúc đó bạn Lý Cảnh Tiên quay sang mình nói: » Thôi rồi hết cả mái tóc đẹp của em tôi rồi…!! »…

Nói về bạn Quách Ngọc Sơn, Sơn là con trai của ông bà Quách Ngọc Bá, nhà rất khá giả, thuở xưa nhà làm tiệm chụp hình, cho thuê bàn chơi billard,..Có một nhà làm ăn ở đường Trần Hầu kế tiệm cơm Xuân Thạnh và một nhà chánh để ở nằm ở Đông Hồ, góc đường Chi Lăng-Đông Hồ. Sơn có một em trai là Quách Ngọc Điền và nhiều em gái, trong đó có em tên Quách Ngọc Lâm. Sơn cũng có người chị gái tên Quách Ngọc Hải…Sơn là bạn thân của các bạn Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền,…Sơn học trên mình một lớp (chung lớp với anh Trần Văn Dõng).

Lần đầu tiên mình biết uống rượu là do Quách Ngọc Sơn hướng dẩn cho nhập môn!! Mình còn nhớ lúc đó bàn nhậu diển ra tại quán cafe Quảng Phát. Cả nhóm ngồi ngay tại cái bàn bên phải ngay trên mái hiên đối diện với quầy nước. (bàn nầy là một bàn quen thuộc hằng ngày khi cả nhóm uống cafe tại quán Quảng Phát). Mình cũng không biết tại sao mà mình bị « dính » vào hôm đó, nhớ lại là Sơn hay ai đó kêu mình vào nhập bàn, có cũng khoảng trên 4,5 người bạn, chắc là đa số là nhóm bạn cùng lớp với Sơn, có Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền…Rượu uống theo phong trào hồi đó là rượu trắng pha xá xị, thức ăn làm « mồi » lúc đó là « mực xào hồ » (theo tên đặt của Quách Ngọc Sơn), mực xào hồ vì mực được xào với bột nên nước sẽ đặt lại sền sệt như hồ vậy…Hôm đó là lần đầu tiên mình bắt đầu uống rượu vì từ trước tới giờ chưa biết uống rượu. Có lẻ uống và ăn cũng hơi nhiều nên khi về nhà mình leo lên giường nằm ngủ ngay…Mình còn nhớ rỏ, ngủ được một chút thì bị vừa nhức đầu (vì uống rượu trắng pha xá xị vừa ngọt của xá xị vừa cay của rượu), vừa bị muốn nôn mửa…Đùng một cái cả người mình đang nằm bị co rút lại và mình không kềm chế được cơn nôn mửa…, thức ăn và nước trong miệng chợt trào ra một cách nhanh chóng và bọc phát, làm ướt cả chiếc đệm mình đang nằm…Má mình rầy quá vì mình đã làm phiền má phải kéo cả tấm đệm ra và phải đem rửa nước cho sạch…Từ đó về sau mỗi lần gặp Quách Ngọc Sơn, bạn Sơn hay nhắc tới món « mực xào hồ »…và cũng từ đó tới sau mình biết uống rượu mặc dù uống thì thấy cay và nhức đầu chứ không biết vị ngon chút nào cả…Còn vụ bạn Sơn uống thuốc Optalidon tính tự vận thì không ai biết lý do, chỉ biết phong phanh là Sơn có chuyện buồn gia đình nên làm như vậy…không biết có phải không. Sau nầy lúc mình đã ra đời đi dạy học ở An Phú và Mỹ Luông, có lần về Hà Tiên thăm nhà, tình cờ đi ngang quán Xuân Thạnh lại gặp bạn Sơn, Sơn chạy ra kêu mình vào quán và cả hai cũng lai rai uống mừng gặp lại nhau…Khổ thay vì có bệnh nặng nên bạn Sơn đã từ trần, từ giả chúng ta rất sớm, ra đi trong lúc tuổi còn trẻ. Mình được biết bạn Sơn đã có gia đình một người vợ và ba người con….Mình cũng còn nhớ rỏ là lúc đương thời Sơn ăn mặc rất theo mode vì nhà có phương tiện, và Sơn cũng rất « ái mộ » hai người bạn gái học cùng trường thời đó và đều mang tên là Nguyệt…!!!

Chân dung bạn Quách Ngọc Sơn

Một kỷ niệm khác với bác sĩ Phạm Như Bách, bác sĩ Bách là một người rất thông thái và rất đẹp trai, ông cũng là một bác sĩ đã quản lý bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trong một thời gian rất lâu dài. Người Hà Tiên hình như ai cũng đều biết bác sĩ Bách. Có một buổi chiều nọ mình và người bạn rất thân cùng lớp là Nguyễn Ngọc Thanh cùng đang đi ra phía chợ trên đường Tham Tướng Sanh, gần tới phía trước quán Ti La thầy Đạt, thì bác sĩ Bách đang chạy chiếc xe jeep của bệnh viện tới, bác sĩ chắc là biết Nguyễn Ngọc Thanh nên mời mình và Thanh lên xe để ông chở luôn ra chợ chơi. Cùng lúc đó thì có một cô có lẻ cũng là bác sĩ người Thụy Sĩ đang đi tới, bác sĩ Bách liền xổ ra một tràng tiếng Pháp mời cô đó cùng lên xe đi chung luôn với mình và Thanh,….cô người Thụy Sĩ cũng rất vui vẻ nói chuyện với bác sĩ Bách… chỉ tiếc lúc đó mình còn nhát quá và có lẻ còn yếu tiếng Pháp nên không nói được gì với cô người Thụy Sĩ đó. (Vào thời đó khoảng những năm 60-70, có một phái đoàn y tế người Thụy Sĩ đến họp tác với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, có đến 3,4 người nữ trong nhóm…và cả nhóm người Thụy Sĩ nầy cư trú tại khách sạn Vân Tiên ở đường Trần Hầu.

Bênh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng năm 1965 có phái đoàn y tế Thụy Sĩ đến họp tác

Còn một việc có liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến nữa là vào khoảng những năm đầu thập niên 70, có hai người cán sự y tế từ nơi khác đổi về làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, vì là người trẻ tuổi nên hai bạn nầy cũng gia nhập vào nhóm bạn học trò trung học Hà Tiên, mình thường đi chơi chung với hai người cán sự y tế nầy. Một người tên là Nguyễn Thành Tài (Tài có tặng cho mình một tấm ảnh chân dung của Tài), còn người kia thì mình quên tên rồi…)

Bìa một bức thư với thủ bút của Bác Sĩ Phạm Như Bách.

Nguyễn Thành Tài một trong hai người cán sự y tế đến làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng đầu thập niên 1970

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên vẫn còn ở chổ cũ nhưng đã đổi tên sau 1975 (Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên)

Những năm sau 1975, bệnh viện Nguyễn Thần Hiến vẫn còn tiếp tục hoạt động nhưng không còn mang tên Nguyễn Thần Hiến mà có tên mới là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau nầy có lẻ vì nhu cầu phục vụ sức khỏe y tế công cộng tăng lên vì dân số ở Hà Tiên tăng vọt lên nhiều nên chính quyền địa phương đã xây cất một bệnh viện lớn hơn, đặt tên là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên, bắt đầu xây vào năm 2004 và làm lể khánh thành bệnh viện mới nầy vào ngày 08/09/2011. Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên mới nầy tọa lạc trên phường Tô Châu ở bên kia sông (số 65 đường Cách Mạng Tháng 8, khu phố III, phường Tô Châu, Hà Tiên).

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Vị trí bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (xưa) và bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên (nay)

Ngày nay toàn bộ hai đơn vị y tế của Hà Tiên ngày xưa: bệnh viện Nguyễn Thần Hiến và « Nhà bảo sanh » đều đã bị phá hủy, ngay cả phía sau lưng, trại lính thành 18 cũng biến mất, và phía trước, vườn nhà ông Ba Lón kéo dài cho tới các căn nhà ở giữa hai bên đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt cũng đã biến mất,…nhường chổ cho một công viên mới đẹp, góp phần cho khuôn mặt thị xả Hà Tiên thêm tươi đẹp, rộng lớn và tân tiến,…Tuy nhiên đối với những người con thực sự của Hà Tiên như thầy cô trò chúng ta, ngôi bệnh viện, nhà Bảo Sanh,…tất cả đều vẫn còn rất quen thuộc trong ký ức của chúng ta, dù cho vật chất có biến đi, vật đổi sao dời, nhưng trong lòng của chúng ta vẫn còn giữ lại hình ảnh công thự, nhà cửa của Hà Tiên ngày xưa, âu cũng là một phương cách để duy trì và tưởng nhớ một Hà Tiên mến yêu êm đềm của ngày xưa…Hy vọng rằng bài viết mộc mạc, không cầu kỳ nầy giúp thầy cô và các bạn của ngôi trường Trung Học Hà Tiên xưa tìm lại một chút khung trời kỷ niệm của mình và nhớ mãi chuyện vui buồn ngày xưa đã trải qua…

Trần Văn Mãnh (Paris 24/07/2017)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Như Thạch, Nguyễn Như Sơn, PhungAnhKiet, Đỗ Hữu Trí.

Tái bút:

1/ Cám ơn bạn cùng lớp Hà Mỹ Oanh đã bổ túc thêm chi tiết về bạn Quách Ngọc Sơn, rất cám ơn cháu Đỗ Hữu Trí đã chia sẻ cho mình di ảnh của người bạn năm xưa là Quách Ngọc Sơn nên mình có được bức ảnh của bạn để minh họa thêm cho bài viết và cũng để tưởng nhớ một người bạn năm xưa, đã ra đi vào ngày 23/09/1987 vì một căn bệnh.

2/ Theo thông tin của chị Dương Hồng Châu (Hà Tiên) thì Bác Sĩ Phạm Như Bách giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên ngày xưa đã từ trần lúc 0 giờ 12 phút ngày 03/03/2018 tại tư gia phường Tân Định Saigon. Bác Sĩ Bách là một vị Bác sĩ rất tài năng và rất tận tâm, ông theo chuyên ngành Nhãn Khoa và được đào tạo tại Đại Học Y Khoa Cologne, nước Đức. Ông là người có dáng rất đẹp, đềm đạm. Bác Sĩ Bách là người BS đầu tiên và đã có công phát triển Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. Tuy mình không có liên hệ nhiều với ông nhưng mình cũng đã có nhiều dịp tiếp xúc nói chuyện với ông lúc mình còn là học sinh ở Hà Tiên. Bác sĩ Bách ra đi là đã mang theo ông một dĩ vãng tốt đẹp, êm đềm của thời gian ông phục vụ ở Hà Tiên, mong tất cả các bạn, các đồng hương hãy tưởng nhớ đến ông trong một giây phút để tỏ lòng mang ơn một vị Bác Sĩ tài ba đã có lần phục vụ cho quê hương Hà Tiên chúng ta. Xin cám ơn chị Dương Hồng Châu đã thông tin. 

 

Pháo Đài qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Theo tài liệu do nhà chụp hình nỗi tiếng ở Hà Tiên ngày xưa, ông Quách Ngọc Bá viết trong quyển sách du lịch « HATIEN PHOTO »: Pháo Đài là một trái núi nhỏ ở ngay cửa sông Hà Tiên, cách chợ 600 m. Từ hồi Nam Triều đến thời Pháp thuộc vẫn là cứ điểm quân sự trấn giử biển cả, trên có bố trí trọng pháo nên tên gọi là Pháo Đài.

Pháo Đài của thời xưa là những trang lịch sử oai hùng, từng làm kinh khủng giặc Thái Lan bằng những thần công, đại bác, đã phá kỷ lục tên tre lẩy nỏ.

Thời họ Mạc, vị trí Pháo Đài ở ngay giữa hải cảng Hà Tiên, ngó ra vịnh Thái Lan, hình thể ví như cửa thành thiên nhiên để che chở nội địa. Mạc Thiên Tích đã so sánh với nhiệm vụ, với địa vị mình là tướng lảnh trọng yếu trấn giử biên cương qua bài thơ « Kim Dự Lan Đào » (Kim: vàng, Dự: hòn đảo nhỏ, Lan: ngăn chận, Đào: sóng to, « Kim Dự Lan Đào: Hòn đảo vàng nhỏ ngăn chận sóng to):

Kim Dự nầy là núi chốt then,
Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên,
Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẩy,
Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng,
Thế vững kình càng trên Bắc hải,
Công cao đồ sộ giữa Nam thiên,
Nước an chẳng chút lông thu động,
Rộng bủa nhơn xa tiếp bá xuyên.

(Trích Thơ Nôm của Mạc Thiên Tích)

Cách đây hơn một thế kỷ, hòn đảo Pháo Đài còn tách rời khỏi đất liền. Do có thủy triều lên cao thấp, nước lớn nước rồng, khoảng cách giữa hòn đảo nầy và đất liền xa gần khác nhau nên dân gian có đặt truyền thuyết là hòn Kim Dự là một hòn đảo nổi trôi ra trôi vô theo con nước….Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng Kim Dự là một hòn đảo nổi, dưới hòn đảo đó có một con Giao Long nằm ẩn mình tu lâu đời. Thỉnh thoảng con Giao Long cựa mình thì làm cho hòn đảo lay chuyển, khi trôi ra xa, khi dạt vào gần bờ. Trong thời Pháp chiếm Hà Tiên, do công sức của các tù nhân, họ xây đắp một con đường nối liền đảo Pháo Đài với chợ Hà Tiên, gọi là đường Cầu Đá, dần dần con đường trở thành đường đất, rộng rải đủ cho xe cộ lưu thông. Bây giờ con đường trở thành một đại lộ đã tráng nhựa. Con đường nầy nối từ khu Chùa Quan Thánh (tên đúng là Miếu Quan Thánh Đế) chạy thẳng đến dưới chân núi Pháo Đài, ngày nay chính là đại lộ Mạc Thiên Tích. Xóm nhà hai bên con đường nầy còn có tên là xóm Cầu Đá.

Về địa hình, trên đỉnh Pháo Đài có dạng trái xoan, có công sự phòng thủ hình chữ U, chu vi khoảng 84,5 m và cao gần 3 m, công sự phòng thủ nầy được xây dựng trên đỉnh núi Pháo Đài (còn gọi là núi Đại Kim Dự), núi cao khoảng 25 m. Thời vua Minh Mạng thứ 15 (1834) Pháo Đài được thành lập để trở thành căn cứ quân sự phòng thủ, nhà Nguyễn cho đắp đồn lũy trên đồi, đặt súng thần công nên từ đó có tên là Pháo Đài. Ngày nay tên Pháo Đài cũng được dùng để đặt tên cho Phường Pháo Đài thuộc thị xả Hà Tiên. Thời Pháp chiếm Hà Tiên trên Pháo Đài có lập một ngọn Hải Đăng và có nhân viên người Pháp quản lý. Trong thời kỳ chiến tranh 1960 -1970 ngọc Hải Đăng bị bỏ hoang phế, ngày nay đã được phục hồi. Trong thời gian Hà Tiên chưa có bệnh viện, người Pháp dùng mặt bằng trên Pháo Đài để làm trạm y tế. Đến khi bệnh viện Hà Tiên được cất lên, người Pháp xây dựng một nhà nghỉ mát trên mặt bằng Pháo Đài, gọi là Bungalow. Suốt những năm chiến tranh 60 – 70 Pháo Đài trở thành căn cứ quân sự, dân chúng không được lui tới. Hiện nay Pháo Đài đã được phát triển thành một nơi ngắm cảnh, nghỉ ngơi, có khách sạn, hồ bơi, hoàn toàn được xem như một nơi tự do du lịch và dạo chơi rất lý thú. (TVM 06/2018)

Tài liệu tham khảo:
Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) Trương Minh Đạt 2016.
Hà Tiên, đất nước&con người: Nhóm biên soạn Hà Tiên 1999.
Hà Tiên thập cảnh: Đông Hồ&Mộng Tuyết 1996.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời lính Pháp đóng quân tại Hà Tiên (trước năm 1953). Photo: Rolland Drosson

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp từ chiếc tàu Point Garnet đậu tại cầu quan thuế Hà Tiên năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford

Mặt bằng trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh năm 1966-1967. Photo: Don Griffin

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh năm 1969. Photo: Stephane Moutin Luyat

Toàn cảnh Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp từ tàu biển nhìn vào, phía xa là Thạch Động, năm 1969. Photo: Tom Lefavour.

Một căn cứ Hãi Quân Mỹ dưới chân Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Tom Lefavour 1969

Một phần mặt bằng trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, phía trên là một phần núi Tô Châu nhìn ra cửa biển. Photo: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Phía sau Pháo Đài (Hà Tiên) nhìn về phía núi Đèn Mũi Nai, thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, Photo: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Một căn cứ Hãi Quân Mỹ dưới chân Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Steve Bingham (1968-1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa. Photo: HL Serra (trước năm 1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa, ảnh mặt trước: SSC Bryant.(1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp ngày xưa, ảnh mặt sau: SSC Bryant.(1970)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh, do lính Mỹ chụp không ảnh. Photo: Fred McCarthy

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Rich Krebs 1968-1970

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Rich Krebs 1968-1970

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Photo: Dave Stevenson (1970)

Dưới chân đồi Pháo Đài (thời chiến tranh). Photo: HL Serra 1970

Pháo Đài (Hà Tiên) nhìn từ núi Tô Châu. Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Photo: Quách Ngọc Bá (1973)

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

Pháo Đài (Hà Tiên) thời thanh bình. Photo: Trần Văn Mãnh 1994

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phạm Duy Thảo (2007)

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2009

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: Phat Austin Tran 2015

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay thời thanh bình. Photo: 2015

 Di tích hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên) còn sót lại hình chụp năm 2016. Photo: Asienreisender

Vị trí hầm trú bom trên núi Pháo Đài (Hà Tiên)

Trên mặt bằng Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay có khách sạn Pháo Đài (2015)

Đường xe chạy lên núi Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay (1916). Photo: Lâm Thị Lan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đường xe chạy lên núi Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay (2016). Photo: Lâm Thi Lan

Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay chụp từ cầu Tô Châu. Photo: Nguyễn Hồng Thu (2017)

Một trong những bức ảnh đẹp nhất chụp Pháo Đài (Hà Tiên) ngày nay. Photo: Nguyễn Hải Đăng (2017)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.(TVM)

Photo: Trần Văn Mãnh tổng hợp từ face book

Commentaires:

Đảo Điên: Tấm không ảnh này thật là quý! Merci anh Mãnh!
Lâm Lan: Dưới chân núi Pháo Đài thì đúng hiện trạng ngày xưa . Còn trên núi đến bây giờ LL chưa một lần được lên trên ngọn núi Pháo Đài.
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:24
Alain Buis
Alain Buis: Hay quá, Hà Tiên mình có cảm tưởng là 1 bán đảo ?
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:35
Thu Ha Duong
Thu Ha Duong: Em có ở khách sạn Pháo Đài vào năm 2012. Khách sạn lớn, đẹp, do nhà nước quản lý, nhưng không có nước nóng, gặp trời tháng bảy mưa tầm tã, tắm lạnh run và có rất nhiều muỗi, vì cửa sổ không có lưới, tuy nhiên trước mặt khách sạn có một công viên nhỏ, mỗi buổi sáng ra công viên ngồi nhìn ra biển, hít thở không khí trong lành, và mát lạnh, thật tuyệt vời. Đó là lý đó em chọn khách sạn này để nghỉ ngơi khi về HT đó chị Lan. Bây giờ có lẽ đã có nước nóng để khách thuê phòng tắm rồi.
J’aime
· Répondre ·
· 12 mai, 09:46
Lâm Lan
Lâm Lan: Chị biết về sau này nơi đó kinh doanh khách sạn. Các bạn Hà Tiên của chị có dịp sẽ họp bạn trên đỉnh Kim Dữ lan đào trong ngày gần đây đó em gái.😍😃
J’aime
· Répondre · 12 mai, 09:54
Thu Ha Duong
Thu Ha Duong: Em thấy nơi đó thật là nơi lý tưởng để họp mặt đó chị, phong cảnh đẹp, không khí trong lành, rộng rãi và rất yên tĩnh.
J’aime
· Répondre ·
· 12 mai, 10:03
Hoa Nguyễn
Hoa Nguyễn: Ngày xưa Pháo đài là khu quân sự!
Bây giờ đã đổi mới là khách sạn rất lich sư và thân thiện để khách du lịch đến nghỉ ngơi rất là lý tưởng ! Hãy đến và về với quê hương Hà Tiên dấu yêu của chúng ta các bạn nhé !
J’aime
· 12 mai, 10:35
Phan Văn Hữu
Phan Văn Hữu: đường chữ U lên đĩnh pháo đài, đuôi chữ Y ra ngọn hãi đăng thuộc khu vực sân bay trực thăng vả bến đậu PCF của hải Quân, còn trên đồi thuộc tiễu đoản 528 đóng, Đại úy Thiệt Tiễu đoản trưỡng, thởi điểm nầy quân đội choãng nhau lia chia.
J’aime
· 12 mai, 11:05
Nguyen le Thuy
Nguyen le Thuy: Trần Văn Thiệt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 528 địa phương quân
J’aime
· Répondre · 12 mai, 12:02
Viet Anh Le
Viet Anh Le: Mai mốt ra thăm mới được.
J’aime
· Répondre · 12 mai, 16:20
Tran Hong Khang Truong
Tran Hong Khang Truong: Cám ơn các em, đã post lên cho các bạn thưởng thức …
Đảo Điên: Núi non hùng vĩ, sông nước hữu tình! Hà Tiên quê hương tôi!
Còn đâu Kim Dự cá chim quanh
Đảo vàng ngăn sóng đã tan tành
Giao long giờ đã xa xa mãi
Tưởng để muôn đời lại mất danh!
J’aime
Hoàng Thị Minh Liên: Những hình ảnh nầy chỉ còn lại trong ký ức…hoài niệm về một Hà Tiên xứ thơ !
J’aime
Patrice Tran: Đây là hình ảnh của Dũng? Rất hay và quý. Xin Dũng cho thêm chi tiết hình chụp vào khoảng năm nào nhé, anh sẽ cho vào bộ sưu tập… cám ơn Dũng Hồ… 🙂
J’aime
Dũng Hồ: Khoãng năm 68-69.
Patrice Tran
Patrice Tran: OK merci Dũng Hồ…
J’aime