Tin tức ngày nay (Nguyễn Thị Anh Đào, Trần Anh Kiệt)

Thầy Cô và các bạn thân mến, đây là nơi ghi lại tin tức mới nhất được biết hiện nay, mong Thầy Cô và các bạn bổ sung thường xuyên nhé,..

  • Được biết tin qua chị Lâm Xuân Cúc cho biết: Nguyễn Thị Anh Đào (em của Nguyễn Anh Tài, con Ông Trưởng Chi Bưu Điện Hà Tiên ngày xưa, Anh Đào và Anh Tài cùng học chung một lớp với Trần Văn Mãnh): hiện nay Anh Đào đã đi tu (thành Soeur)  trong một chủng viện Thiên Chúa Giáo ở Biên Hòa Việt Nam.

Thay_Hoa_AnNguyễn Thị Anh Đào trong hình bìa bên phải (có mủi tên đỏ)

  • Được biết tin bạn Trần Anh Kiệt, nhà xưa ở đường Phương Thành tiệm may quần áo, anh của Trần Như Liên, Kiệt học chung lớp với anh Trần Văn Dõng (trên mình một lớp) hiện vẫn còn ở Sài Gòn, trại Cửu Long, Thị Nghè, Kiệt hơi yếu vì bệnh nhưng đã có liên lạc được qua điện thoại, bạn thân nào muốn liên lạc lại với Kiệt xin hỏi mình nhé,..

TranvanDong_TranVanKietTrần Văn Dõng (trái) Trần Anh Kiệt (phải)

Trần Anh Kiệt, mất ngày 22 tháng giêng âm lịch, năm Đinh Dậu, tức là ngày 18/02/2017 dương lịch, vì bệnh lâu ngày, tại Thị Nghè Sài Gòn. Trần Anh Kiệt là bạn thân chung nhóm thường đi chơi ngày xưa, học chung lớp với anh Trần Văn Dõng. Nhà ở góc đường Phương Thành-Chi Lăng Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu

Thầy Nguyễn Phúc Hậu bắt đầu giảng dạy Trường Trung Học Hà Tiên từ tháng 9/1968 đến hết niên khóa 1970-1971. Năm 1972 thầy rời Hà Tiên đề về dạy trường nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Tuy thời gian ngắn ngủi nhưng Hà Tiên đã cho thầy nhiều kỷ niệm đẹp không phai mờ qua năm tháng .

NguyenPhucHau_HT1 Hình Thầy Nguyễn Phúc Hậu (hình có chấm đỏ) và học trò trong niên khóa 1970-1971 lớp 11A NguyenPhucHau_HT2Hình Thầy Nguyễn Phúc Hậu (hình có chấm đỏ) và học trò trong niên khóa 1970-1971 lớp 11A

 Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên và bài « HÀ TIÊN TRONG MƠ  » để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.

Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
    .

HÀ TIÊN TRONG MƠ

Trong mơ trở lại chốn Hà Tiên
Lòng muốn đi thăm khắp mọi miền
Tôi ghé bãi Nam(1) vùng sóng lặn
Hòn Heo, Bãi Ớt ngắm trăng lên.

Rồi tôi lại đến chốn Lư Khê(2)
Rạch Vượt là đây cá hội về
Đồi núi lô nhô, dòng nước bạc,
Thuyền câu san sát bến sông quê.

Rời bến Lư Khê một chiều êm
Đông Hồ(3) soi chiếu ánh trăng đêm
Thuyền trăng chở khách vào đêm mộng,
Rượu ấm tình nồng lai láng thêm.

Tôi đến Pháo Đài ngắm cảnh đêm
Đảo vàng(4) ngăn sóng vỗ triền miên
Điếu Đình(11), bến nước thuyền câu đỗ,
Nhìn ánh trăng vàng ngở cảnh tiên.

Tôi đến Mũi Nai(5) ngày nắng lên,
Gió xuân lay nhẹ khóm dừa xanh
Nước trong, cát trắng lòng hưng phấn,
Kẻ tắm người đùa trên sóng nhanh.

Thạch Động(6) một chiều tôi đến thăm,
Đứng nhìn bao quát cảnh chung quanh
Châu Nham(7) thắp thoáng chim về tổ,
Tiêu Tự(8), Giang Thành(9) trong nắng hanh.
 .
Bình San(10) trở lại chốn thân thương,
Đồi núi xanh lơ dưới nắng sương
Hùng vĩ lưng đồi lăng Mạc Cửu,
Dập dìu du khách đến dâng hương.
.
Chợt nhớ năm xưa cũng dạo nầy,
Bạn bè tảo mộ ở nơi đây,
Cùng đi hái quả sơn trà mộng,
Nhặt cánh lan rừng dạ ngất ngây.
 .
Từ dạo chia tay người mỗi nơi,
Thiều quang nhuộm bạc tóc, da mồi.
Người xưa cảnh cũ nào đâu thấy,
Trăng chốn Đông Hồ vẫn mãi soi?
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 29.03.2015
Chú thích:
(1) Bãi Nam: Nam Phố trừng ba
(2) Lư Khê: Lư Khê ngư bạc
(3) Đông Hồ: Đông Hồ ấn nguyệt
(4) Đảo vàng: Kim Dự lan đào
(5) Mũi Nai: Lộc trĩ thôn cư
(6) Thạch Động: Thạch Động thôn vân
(7) Châu Nham: Châu Nham lạc lộ, núi Đá Dựng
(8) Tiêu Tự: Tiêu Tự thần chung, chùa Tam Bảo
(9) Giang Thành: Giang Thành dạ cổ, lũy Giang Thành
(10) Bình San: Bình San điệp thúy, núi Lăng
(11) Điếu Đình: Mái đình, nơi du khách đến câu cá, thưởng trăng và ngâm vịnh, xây cất từ đời Mạc Thiên Tích.

Các cảnh từ 1 đến 10 gọi là Hà Tiên Thập Cảnh, vẫn còn trong ký ức của tôi, nhưng không biết bây giờ ra sao, hẹn một ngày về thăm lại để thỏa lòng mong nhớ. (Ng.Ph.H)

Gia đình thầy cô ngày xưa lúc con thầy được 1 tuổi. Cô: Nguyễn Hoàng Oanh, thầy: Nguyễn Phúc Hậu

NguyenPhucHauThầy Nguyễn Phước Hậu hiện định cư tại thành phố Ottawa (Canada)

Hình ảnh: Nguyễn Hoàng Oanh, Nguyễn Phúc Hậu, Trần Phương Nhu, Trâm Huỳnh

Phương Thành* nỗi nhớ

Đây là những dòng hồi ký của Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, viết về kỹ niệm nhân dịp Thầy về dạy ở Hà Tiên vào năm 1965.

TH_HaTien_1968     Thầy Hứa Văn Vàng, Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước Trường Trung học Hà Tiên 1968)

« -Con có gia đình chưa?

-Dạ thưa thầy chưa ạ.

-Vậy thì chọn nhiệm sở nào cũng được mà, chọn…xa xa cho phỉ chí trai đi con. »

Đó là những lời trao đổi giữa thầy ViệnTrưởng Viện Đại Học Sài Gòn, Giáo sư Trần Quang Đệ, với tôi khi thầy chủ trì buổi chọn nhiệm sở của nhóm “giáo sư mới ra trường năm 1965”. Lúc thấy tôi chần chừ mãi trước bảng ghi nhiệm sở mà không chọn …

Bởi thứ hạng không cao nên tới phiên tôi còn những nơi gần cũng như xa nhưng đường đi rất khó khăn, nguy hiểm vì dạo đó chiến sự cũng đã khá sôi động. Lời khích tướng của thầy Viện trưởng làm tôi nổi máu giang hồ, liền viết ngay tên một trường ở miền biên giới Việt Campuchia lên giấy chọn nhiệm sở.

Tới ngày khăn gói lên đường đến một nơi nghe tiếng nhưng chưa một lần thăm viếng, háo hức vào đời lẫn với sự lo lắng bước đường xa xôi lạ lẫm hiểm nguy pha trộn thành một cảm xúc là lạ hấp dẩn.

Đoạn đường xe Cần Thơ – Rạch Giá lần đầu đi qua, dù bên đường cũng chỉ là những cánh đồng lúa bạt ngàn, những chợ làng nho nhỏ, những nhà lá nghèo nàn hoặc mái ngói nhưng đơn sơ, mộc mạc, những đoạn sông rạch với lục bình trôi ghe xuồng xuôi ngược mà tôi vẫn thấy như mình du lịch ở một vùng đất mới.

Phải qua đêm ở phố thị Rạch Giá hôm sau mới tiếp tục được cuộc hành trình. Ngủ khách sạn, ăn cơm tiệm, hỏi thăm đường đi nước bước cho ngày hôm sau.

Khách sạn, cơm tiệm một mình….tự-nhiên mình cảm thấy mình đã là người lớn; tôi còn tưởng tượng mai mốt đây sẽ đứng trên bục gổ trước mặt một đám học trò và bọn chúng cúm núm một thưa thầy, hai cũng thưa thầy nữa kìa…

Sáng tinh sương tôi đã đến bến tàu Rạch-Giá/ Kiên-Lương với mớ hành trang chỉ là sách vở, đôi bộ quần áo, gói xôi vị cho điểm tâm, hai ổ bánh mì thịt cho buổi trưa và chiều cùng hai, ba tờ nhật báo, tuần báo. Vì đoạn đường này chừng hơn sáu mươi cây số mà tàu đò đưa khách, thường ghé rước hoặc thả khách nên chạy đã chậm còn chậm thêm. Do đó, khách đi đường xa thường mướn cái võng  nằm nghỉ thì được thoải mái hơn. Tôi chọn một cái võng giữa tàu để tránh bớt khách lên xuống. Lần đầu tiên đi tàu kiểu này nên cũng thú vị; treo mình “ tòn ten” ngắm cảnh lạ đường xa, nghiền ngẫm mấy tờ báo, rồi chìm vào giấc ngủ …chập chờn.

Thuở ấy, tuyến đường bộ Rạch-Giá / Hà-Tiên dài khoảng chín mươi chín cây số, nếu tôi không lầm, gập ghềnh lổ hang, sỏi đá …với những cây cầu cũ kỹ. Bên cạnh đó vì chiến tranh nên đi đường bộ không an toàn. Xe hơi chỉ chạy một đoạn ngắn từ Rạch Giá chứ không chạy suốt đến Kiên Lương, Hà Tiên. Vì lẽ đó phương tiện giao thông chính là đường sông. Những khách buôn bán, nông dân, phụ nữ hoặc trẻ con, người già thường đi suốt tuyến đường tàu nhưng những thanh niên, hoặc ai có làm việc cho chánh quyền đương thời thì chỉ đi đoạn đường Rạch Giá/ Kiên Lương (hoặc ngược lại), còn đoạn Kiên Lương / Hà Tiên thì lên đường bộ đi bằng xe Lam, nhanh và an toàn hơn.

Ngủ rồi thức. Ăn, đọc báo rồi ngủ. Cuối cùng tàu cũng đến trạm Kiên Lương, nơi có nhà máy xi măng tân tiến của Việt Nam, khai thác núi đá vôi vùng này, cung cấp xi măng cho cả nước và hình như có xuất khẩu nữa. Quận Kiên Lương còn non trẻ với nhà máy xi măng đang phát triển nên nhà cửa, quán xá khá khang-trang so với những quận nghèo  khác lúc bấy giờ. Nhìn những ngọn núi đá vôi (không cao to), cùng khu nhà máy xi măng độ sộ với những ống khói nhả khói mịt mù (ngày đêm), một niềm vui bất chợt đến vì sự phát triển công nghiệp của nước nhà. Ước mong chiến tranh đừng lan đến nơi này…

Xe Lam lên đèo xuống dốc trên con đường đất đỏ dài cở ba mươi cây số, làm tung lên những làn bụi đỏ phía sau, xe chạy dọc theo mé biển đưa tôi đến quận Hà Tiên tịch-mịch, cổ kính. Bên trái là biển thuộc vịnh Thái Lan lần đầu nhìn tận mắt, bên mặt là rừng thưa lai rai mái nhà lá đơn sơ, thỉnh thoảng gặp vài người dân quê mộc mạc đi chân đất bên đường, vùng đất mới với cảnh, người mới làm nao nao lòng khiến tình thương quê hương trong tôi dạt dào hơn. Bãi biển Thuận Yên sóng vỗ nhè nhẹ nằm bên trái con đường với hàng dừa xanh tươi bên mặt dưới chân núi Tô-Châu đã tới có nghĩa là đôi phút nữa Hà Tiên sẽ hiện ra trước mặt tôi.

Chiều đã xuống, từ bến đò Tô Châu tò mò háo hức ngắm nhìn Hà Tiên nằm im lìm bên kia sông, đoạn sông ngắn nối vịnh Thái Lan và hồ Đông Hồ,  tôi đang hít thở cái không khí lạ như có pha mùi muối và cá của biển. Tôi đang cảm nhận mùi đất quê hương nồng nàn, mùi lá rừng, khai phá bởi ngài Mạc Cửu; vùng đất mới mà tôi sẽ lăn lốc sống vài năm từ khi mới ra trường. Không gian này, thời gian ấy đã hằn dấu sâu sắc trong đời tôi và tôi đã mang chúng theo mãi bên mình từ dạo ấy đến nay.

PHƯƠNG THÀNH NỖI NHỚ

Phương-Thành ơi! chợt nhớ em da diết
Mấy mươi năm rồi cách biệt xa xôi
Bao kỷ niệm thân thương còn lưu giử
Tên ngọt ngào anh từng nhẩm không thôi.

Đò máy, nằm võng tìm em một thuở
Qua dốc đồi xe “lam” đến Thuận Yên
Hàng dừa xanh lá rạt rào gió biển
Đưa chân anh ngơ ngẩn đến Hà Tiên.

Bến Tô Châu một chiều vàng nắng nhạt
Gió Đông Hồ vờn nước mặn Thái Bình
Cửa sông nối hồ thơ và biển cả
Dừng chân anh chờ cô lái đò xinh.

Chạm thân em – dạt dào bao cảm xúc-
Thị trấn đơn côi trấn ải biên-cương
Anh chọn cho lần đầu tiên dấn bước
Vào đời, như tàu thám hiểm đại-dương.

Sạp báo Minh Xuân, Đại Tân khách sạn
Không ngỡ ngàng mà lại rất thân tình
Hiếu khách những chị/ anh/ em biên-giới
Xao động lòng, tim mở đón tình xinh.

Ngôi trường nhỏ nhắn, bạn bè mới gặp
Như là nhà, êm ái những vòng tay
Mai sẽ gặp những học sinh mộc mạc
Nở nụ cười rạng rỡ đón ngày mai.

Đường Bạch Đằng nơi đầu tiên ở trọ
Nơi thứ hai , ngỏ Nhật Tảo thân thương
Ơn nghĩa ấy ghi sâu trong tâm tưởng
Thời gian qua nhưng tình vẫn còn vương.

Sau lớp học: Bải Nò , lăng Mạc Cửu
Lang thang viếng thăm thập cảnh Hà Tiên
Thương ánh điện (tợ đèn dầu) leo lét
Nước ao sen vẫn ngọt lịm lương duyên.

Đâu sá gì với đôi điều trắc trở
Như vị cay, gia vị bửa tiệc ngon
Kỷ niệm đắng cho cuộc sống thêm dòn
Vẫn trân trọng xấu/ xinh ngày tháng ấy.

Tình yêu Phương Thành làm sao nói hết
Thôi thì giử gìn trong những hóc tim
Đôi lúc nhớ nhung đem ra ngắm nghía
Để đời anh không tẻ nhạt im lìm.

    NHA

        September 7, 2013

*Tên cũ của Hà Tiên

Gần đây (18/7/2013) bất chợt tôi cồn cào nhớ về Hà Tiên, bài thơ Phương Thành Nỗi Nhớ thành hình, và xin chia sẻ với bè bạn hôm nay.

NguyenHongAn_Jeune_1Thầy Nguyễn Hồng Ẩn

NguyenHongAn_Jeune_2Thầy Nguyễn Hồng Ẩn

Xin kèm thêm vài ảnh xa xưa của Hà Tiên.

HT1_LangMacCuu_1974Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước Lăng Mạc Cửu

HT3b_Thach_Dong_NguyenHongAn1966Thầy Nguyễn Hồng Ẩn vào năm 1966 (phía sau là Thạch Động), bên trái là Thầy Châu, chiếc mini Vespa là của Thầy Huỳnh Văn Hòa.

HT6a_NhaTro_NguyenHongAn_1966Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước căn nhà trọ số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên (1966)

HT6b_NhaTro_NguyenHongAn_HocTro_1966Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bốn_Thầy_An_Son_Tri_SinhTừ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Thầy Nguyễn Đức Sơn, Thầy Bùi Hữu Trí, Thầy Phùng Tuấn Sinh (1965-1966)

NguyenHongAn_HuynhVanHoaThầy Nguyễn Hồng Ẩn và Thầy Huỳnh Văn Hòa

NguyenHongAn_xaMyDucThầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp trước văn phòng xả Mỹ Đức Hà Tiên

NguyenHongAn_avecHocTroTừ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên

HT3c_Thach_Dong_NguyenHongAn_1974Thầy Nguyễn Hồng Ẩn về thăm lại Hà Tiên năm 1974

NguyenHongAn_1974Thầy Nguyễn Hồng Ẩn về thăm lại Hà Tiên năm 1974

NguyenHongAn_1974_aThầy Nguyễn Hồng Ẩn về thăm lại Hà Tiên năm 1974

NguyenHongAn_1974_bThầy Nguyễn Hồng Ẩn về thăm lại Hà Tiên năm 1974

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo xám đen) và các bạn lúc thầy đang dạy học ở Hà Tiên. (Bải Nò Hà Tiên)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo xám đen) và các bạn lúc thầy đang dạy học ở Hà Tiên. (Bải Nò Hà Tiên)

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn