Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Publicités

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Giới thiệu Trần Anh Kiệt

Trần Anh Kiệt là bạn thân chung của hai anh em mình. Kiệt học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, tức là học trên mình một lớp (tức niên khóa 1963-1964 Kiệt vào học lớp Đệ Thất Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên). Các bạn học chung một lớp với Kiệt: La Văn Cao, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Tiền Hữu Minh, Trương Trung Cang, Lê Mai Hương, …

Nhà Kiệt ở góc đường Phương Thành – Chi Lăng. Nhà Kiệt vốn là tiệm may y phục phụ nữ vì đó là nghề truyền thống của gia đình. Ông ngoại của Kiệt mọi người kêu là Ông Thợ Ân, là một người thợ may lành nghề, gia đình di cư từ Bắc vào Nam. Ông Thợ Ân có ba người con gái, mình kêu là Dì Cần và Dì Mẫn và Dì Nga, mấy Dì cũng đều là thợ may. Dì Cần là má của Kiệt, Kiệt còn có nhiều anh em, có một em gái tên là Trần Thị Như Liên, cũng là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên, Như Liên học chung với nhóm bạn Hà Quốc Hưng, Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Hoàng Thu Bình..v..v..và  là bạn thân với Nguyễn Thị Điệp nhà ở trước mặt nhà Như Liên. (Như Liên định cư ở Úc Châu nhưng đã qua đời vì bệnh từ lâu). Dì Mẫn có con trai là Trần Tấn Công, học chung lớp với mình, có con gái là Trần Thị Yến Vân, ngày xưa Như Liên và Yến Vân là một cặp vừa là chị em bạn dì, vừa là bạn học cùng lớp và cũng là hai nữ ca sĩ thường xuyên tham gia vào ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » và những hoạt động văn nghệ địa phương (Yến Vân đã bị mất tích trong một chuyến vượt biển từ rất lâu năm rồi). Ngoài ra Dì Mẫn còn có một con trai nữa tên là Bình, hiện cũng đã định cư ở nước Mỹ.

 Dì Nga nổi tiếng rất đẹp và sau đó Dì lập gia đình với một sĩ quan cao cấp trong đơn vị Hãi Quân.

Trở lại chuyện về bạn Trần Anh Kiệt, bạn Kiệt là một trong những học sinh ngoan giỏi của lớp. Bạn thường xuyên lui tới nhà của mình để trao đổi bài làm với anh Dõng, hai người đều chọn ban Pháp Văn, nói tóm lại gia đình Kiệt và gia đình mình cũng khá thân trong quan hệ và hai người mẹ đều quen biết, thân mật với nhau. Mình còn nhớ một câu chuyện như sau:

Số là ngày xưa còn đi học mình rất ít khi hay có thể nói là chưa bao giờ được mẹ và bà ngoại cho phép đi chơi đêm và ngủ ở nhà người khác, nhưng lúc đó không biết vì lý do gì, có lẻ đang lúc họp bạn học cùng trường tại một căn nhà, đang hứng thú nên các bạn trong nhóm khởi xướng đề nghị là Dõng, Mãnh, Kiệt hảy ngủ lại tại nhà nầy để tiếp tục cuộc vui,…Các bạn biết đó là căn nhà nào không? Đó là căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên, căn nhà của quý Thầy đang ở trọ (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Phúc Hậu,…..). Nhóm bạn gồm có rất nhiều bạn, mình không nhớ rỏ hình như là có Phan Văn Hữu, Bùi Văn Tư, Tòng (quên họ), La Văn Cao,…Mục đích rủ ở lại ngủ nhà quý Thầy là để tiếp tục cuộc vui, mình cũng quên không rỏ diển tiến như thế nào, có lẻ là để nhậu lai rai với các món ăn biến,…và cùng vui với quý Thầy. Như vậy phải tính sao để được ngủ lại, tức là bỏ nhà đi chơi đêm. Mưu kế bàn xong xuôi, mình và anh Hai Dõng liền đến nhà Kiệt thưa với Dì Cần má của Kiệt là xin phép cho Kiệt ngủ lại nhà mình ở đường Bạch Đằng để cùng làm bài vở học chung nhau cho có kết quả tốt !!! Còn Kiệt thì đến nhà mình báo cho má của mình (Dì Xuân Lan) là Dõng Mãnh xin ngủ lại nhà Kiệt để họp tác làm bài tập cho lớp,…cả hai Bà Mẹ nghe nói như vậy thì còn gì hay bằng và cũng là hai nhà « gia giáo » cả không phải chổ đi chơi sai trái nên vui vẻ đồng ý ngay. Thế là Kiệt và hai anh em mình như là chim sổ lồng, cùng cả bọn kéo xuống nhà Thầy đường Nhật Tảo hưởng trọn vẹn một đêm « tự do »……

Có điều là sáng hôm sau ai về nhà nấy tưởng đâu êm xuôi cả, ai ngờ hai người mẹ đi chợ gặp nhau cùng nói chuyện trời trăng mây nước và cả chuyện « à mấy đứa nó ngủ nhà chị có làm phiền gì không? « ….Rốt cuộc chuyện bị bể cả, hai người mẹ biết được sự thật,…là bị mấy đứa con ngoan nó qua mặt mình….Nghĩ lại thấy cũng sai trái thật, dám nói gạt bậc cha mẹ để đi chơi…., nhưng quả thật lúc đó chỉ có cách đó mới được phép đi ngủ đêm ở nhà khác….Cuối cùng hai người mẹ cũng thông cảm cho tuổi trẻ và tha thứ cho cái tội nói dối….

Còn một chuyện vui nữa mình đã kể trong bài giới thiệu Nguyễn Thị Điệp, xin nhắc lại ở đây cho đủ: 

Mình còn nhớ một chuyện vui lúc cả nhóm gồm La Văn Cao, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh đến chơi nhà của bạn Trần Anh Kiệt (anh trai của Như Liên), thời đó Hà Tiên vừa mới nhập loại xe gắn máy Honda «Dame», loại xe thường dành cho phụ nữ chạy vì thao tác rất dể, lúc vô số không cần bấm «embrayage» trên tay mà chỉ cần đạp nhẹ «càng số» phía dưới chân phải thôi..Trong lúc cả nhóm con trai mình ở nhà trong nói chuyện chơi thì nghe văng vẵng tiếng của Điệp nói ở nhà trước với nhóm Như Liên, chắc là đang giãng nghĩa cách chạy xe Honda «Dame» vô số như thế nào,…số 1, số 2, số 3,…Lúc đó mình mới nói : « Chà nhiều số quá, tụi mình kiếm một số cũng không ra… !!» ý muốn nói là cả bọn mình không ai có một chiếc xa Honda…Cả nhóm nghe xong cùng cười vui…

Sau những năm 70, gia đình Kiệt cũng phân tán người thì đi định cư ở nước ngoài, còn Kiệt thì ở lại khu trại Cữu Long, Thị Nghè (Sài Gòn), có vợ và một con gái. Thời gian sau Kiệt lâm bệnh kéo dài và mới mấy hôm nay được tin bạn Kiệt đã về nước Chúa.

Kể lại chuyện vui ngày xưa để ngậm ngùi cho phần số của bạn, bây giờ bạn Kiệt đã ra đi sau một thời gian dài lâm bệnh, bạn đã ra đi trước người mẹ tuổi đã quá cao, mời Thầy Cô và các bạn xem tiếp phần tái bút bổ túc do anh Dõng kể lại để biết thêm chi tiết nhé.    (Trần văn Mãnh kể 01/04/2017)

Trái Trần Văn Dõng, phải Trần Anh Kiệt hình chụp khoảng 16, 17 tuổi trước nhà của Kiệt (Hà Tiên)

Trần Tấn Công (con Dì Mẫn)

Trần Thị Như Liên (con Dì Cần)

Trần Thị Yến Vân (con Dì Mẫn)

Trần Văn Dõng và Trần Anh Kiệt hình chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Tái bút bổ túc do anh Dõng viết: Hôm nay liên lạc điện thoại với bà xã Kiệt thì nắm rõ hơn là Kiệt mất ngày 22 tháng giêng âm lịch, năm Đinh Dậu, tức là khoãng 2 tháng nay thôi, còn trước đó thì nằm một chỗ khoảng 5,6 tháng với nhiều bịnh ( tựa như Parkinson), tai biến rồi phải nằm BV Hoàn Mỹ để mổ do ruột bị xoắn. Sau mổ do yếu quá phải nằm một chỗ đến ngày mất). Khi Kiệt bị bịnh thì dì Cần (mẹ̣ Kiệt) có về VN thăm, dì về một mình và ngồi xe lăn ( dì trên 90t) và sau khi Kiệt mất 2 tuần thì dì đã trở lại Mỹ). Kiệt chỉ có một con gái đã lập gia đình ( trên dưới 30t), hiện cũng ở chung nhà.
R.I .P Kiệt ơi !
(28/03/2017)

 Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Thị Điệp

Giới thiệu Lý Cảnh Tiên

Lý Cảnh Tiên

Thầy Cô và các bạn thân mến, có thể nói là ở đất Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta ngày xưa (trong những năm 60-70, không một bạn trẻ học sinh nào mà không quen biết bạn Lý Cảnh Tiên,….Bạn Lý Cảnh Tiên là một người gốc gác Hà Tiên và là học sinh Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa. Sở dỉ ai cũng biết đến bạn Lý Cảnh Tiên là vì bạn Tiên là một trong những khuôn mặt vừa quen thuộc vừa rất « nỗi tiếng » ở Hà Tiên…(nỗi tiếng ở đây trong cái nghĩa đẹp của từ ngử…). Bạn Lý Cảnh Tiên là một trong những người đi tiên phong trong phong trào ăn mặc rất đẹp, « à la mode » của giới trẻ đất Hà Tiên, cùng với vài khuôn mặt rất nỗi nữa là anh Hồ Hải (chơi đàn guitare rất hay thời đó), anh Thái Nam Đệ,….Các bạn nầy thời xưa đó có một phong cách ăn mặc rất đẹp mắt và rất theo mode, thường là áo trắng, quần tây xanh hay đen, ống quần bó theo ống chân, chiếc áo sơ mi sau khi bỏ vào quần còn kéo rộng ra một chút cho toàn bộ chiếc áo phủ lên sợi giây nịt, dưới chân thì mang dép da cao màu đen trông rất đẹp theo tiêu chuẩn thời đó..Đó là miêu tả về cách ăn mặc, còn mái tóc thì thời đó giới trẻ thường hay để tóc dài, và chảy rất mướt…Bạn Tiên cũng có một mái tóc để dài rất đẹp và cũng là kiểu mẩu để các bạn học sinh trẻ khác làm chuẩn cho mình. Sau đó cũng có nhiều bạn ủng hộ phong trào ăn mặc « à la mode » và để tóc dài như thế trong đó cũng có mình và các bạn khác như: Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v.. Lý Cảnh Tiên học trên mình một lớp, lúc mình học lớp Đệ Thất (1964-1965) thì bạn Tiên học lớp Đệ Lục, lúc mình học lớp Đệ Nhị (1969-1970) chuẩn bị thi tú tài thì bạn Tiên đã thi đậu xong Tú Tài phần một (đậu hạng bình thứ) và đã lên Sài Gòn học tiếp lớp Đệ Nhất vì lúc đó Trường Hà Tiên không có lớp Đệ Nhất. Mình còn nhớ vài hôm trước khi lên Sài Gòn để học lớp Đệ Nhất, bạn Tiên đã hớt ngắn đi mái tóc dài rất là tiếc…có lẻ bạn muốn có một phong cách nghiêm trang khi học ở trường học Sài Gòn….

Bạn Lý Cảnh Tiên vừa học rất khá (tú tài 1 đậu hạng bình thứ) vừa có tài chơi ping-pong rất hay. Ngoài ra bạn Tiên cũng có tham gia phong trào ca nhạc với các bạn nhạc thời đó: Ban Tiếng Hát Quê Hương (do mình đệm đàn) và ban Sao Đêm (do anh Tống Châu Thành đệm đàn). Các bạn học cùng lớp với bạn Lý Cảnh Tiên mình đều quen biết vì hai lớp cũng rất thân nhau trong các hoạt động ở trường. Học cùng lớp với bạn Tiên: Trần Văn Dõng, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nhan Hồng Hà, Trang Thanh Sơn, La Văn Cao, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu,…

Bạn Lý Cảnh Tiên chính là em của anh Lý Thanh Xuân và là anh của Lý Mạnh Thường (bạn rất thân của mình), Lý Tòng Hiếu, Thuận và Lý Thanh Thủy. Nhà Tiên ở ngay góc đường Mạc Công Du và Lam Sơn, ngôi nhà rất quen thuộc mà ngày xưa mình tới lui không biết bao nhiều lần để dợt nhạc và vui chơi với bạn Mạnh Thường.

Hiện nay bạn Lý Cảnh Tiên định cư cùng gia đình bên nước Mỹ. (người tường thuật: Trần Văn Mãnh)

lycanhtien_xuaChân dung bạn Lý Cảnh Tiên (rất đẹp trai) vừa học xong bậc Trung Học

lycanhtienBạn Lý Cảnh Tiên hiện nay (đã an nhàn với gia đình và các con…)

DSC_0021Ngôi nhà quen thuộc của các anh em bạn Lý Cảnh Tiên (ảnh ngày nay)

Hình ảnh: Lý Cảnh Tiên, Ngọc Đổ Lý.

Thầy Trương Minh Hiển

Thầy Cô và các bạn thân mến, một trong những vị giáo sư Trường Trung Học Hà Tiên xưa gắn bó với quê hương Hà Tiên chúng ta nhiều phải nói đến là Thầy Trương Minh Hiển….Thầy Hiển là người quê quán tại Hà Tiên, nhà thầy có hai mặt, một mặt nhìn ra đường Tham Tướng Sanh (ngó qua bên vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn), mặt kia nhìn ra đường Bạch Đằng (ngó sang vườn nhà Ông Ký Cụi, Ông Ký Cụi có hai nhà một trên đường Chi Lăng và một trên đường Bạch Đằng..). Thầy Hiển là vai anh trong một cặp anh em sinh đôi, em sinh đôi của thầy là Thầy Trương Minh Đạt hiện nay là một nhà « Hà Tiên Học » rất nỗi tiếng..Trong thời gian học với thầy, mình thường đến nhà thầy chơi và đã từng có dịp nắm tay nói chuyện với thân mẫu của thầy, lúc đó gọi là Bà Chín vả lại Bà cũng là người quen biết với Bà ngoại của mình.

Thầy Trương Minh Hiển bắt đầu dạy Trường Trung Học Hà Tiên vào khoảng những năm đầu của thập niên 60-70, thầy dạy môn văn. Thầy giảng rất hay và lưu loát những đoạn thơ văn trích trong tập « Đoạn Trường Tân Thanh (truyện Kiều của Nguyễn Du), Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, và năm lớp Đệ Nhị về các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Mình còn nhớ thầy đọc và giảng bài « Thề Non Nước » của Tản Đà rất hay,…(Nước Non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng Non…). Có một lần, trong lúc giảng bài thầy thường hay quấn thuốc để hút và khi tới giờ nghỉ thầy ra ngoài lớp xả hơi, thầy để nguyên gói thuốc và tập giấy quyến trên bàn, mình lén lên bàn lấy một tờ giấy quyến mỏng ra và cho một nhúm thuốc lá vào và đang loay hoay quấn một cách vụng về thì nghe có tiếng nói sau lưng…: »Để thầy quấn cho,… »…Té ra là thầy đến sau lưng mà không hay và thầy cũng không trừng phạt về tội lấy trộm thuốc của thầy,….hú hồn…

Thầy Trương Minh Hiển rất gần gủi với học trò, thầy thường tổ chức những cuộc đi du ngoạn danh lam thắng cảnh Hà Tiên với học trò,..Mình còn nhớ có lần thầy tổ chức đi Hòn Phụ Tử với lớp của mình, vì lý do an toàn thầy dặn mỗi em học trò trai phải chở bằng xe Honda một em học trò gái,…mình rất hên là được phân công chở bạn Mai Thị Ngọc Minh,…suốt trên hai lượt đường đi về từ Hà Tiên – Hòn Phụ Tử, được diểm phúc chở một người bạn gái mệnh danh là hoa hậu của trường lớp, mình tự hỏi ai mà không xao động nhỉ….?…

Ngoài ra trong thời gian làm nhà giáo thầy Trương Minh Hiển cũng có một lần ra ứng cử vào bậc Hội Đồng Tỉnh Kiên Giang, lấy khẩu hiệu là « Người bán phổi không bán lương tâm ». Nhóm học trò mình hết lòng ủng hộ thầy trong thời gian tranh cử: Trần Tiên, Trương Thái Minh, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Văn Tài,…cả nhóm đi theo thầy dán bích chương, tham dự buổi nói chuyện với đồng bào Hà Tiên,…Cuối cùng vì không có bè phái và vì quá lương thiện chân thật, thầy đành phải chịu thua cử, vì các ứng cử viên đối lập với thầy đều là người của chính quyền quận Hà Tiên nên họ dể dàng thắng cử.

Trong những năm dạy học ở Hà Tiên, thầy Hiển cùng với thầy Đạt có lập ra một quán cà phê nghe nhạc rất là hay và rất là nỗi tiếng, quán lập ra ngay tại nhà thầy và lấy tên hiệu là « Ti La », hỏi vì sau đặt tên là « Ti La » thì thầy có giãi thích là đó là một từ trong hai câu thơ của tập thơ « Bích Câu Kỳ Ngộ »: « Nhà Lan sum họp bạn mai, Đã trong tần tảo lại ngoài TI LA »…(có ý nói bên trong nhà thì quán xuyến công việc nhà tươm tất, bên ngoài thì giao thiệp tiếp đải bạn bè chu đáo cả,…)..Quán của Thầy được học sinh và dân Hà Tiên ủng hộ rất đông, mỗi đêm về giai nhân tài tử đều đến quán thầy để thưởng thức cà phê và nghe nhạc, có thể nói quán Ti La của thầy là một nơi đào luyện cho giới học trò Hà Tiên một kiến thức về nền nhạc tình cảm lãng mạn của thời đó vì có Thầy Đạt và phu nhân là Cô Liên chọn nhạc rất đặc sắc.

Khoảng sau những năm giữa của thập niên 70, thầy Trương Minh Hiển rời Hà Tiên chuyển về Mỹ Tho là nơi quê quán của phu nhân của thầy, và thầy tiếp tục ngành giáo tại trường Nguyễn Đinh Chiểu. Nhớ có một lần sau năm 1975, nhân một dịp đi công việc ở Sài Gòn, trên chuyến về Sài Gòn – Long Xuyên, mình có ghé lại Mỹ Tho để tìm thăm thầy, may mắn là mình đến ngay trường học và đã gặp được thầy, thầy mời mình về nhà thầy, và mình cũng có dịp được gặp được Cô và thân mẫu của Cô. Nhân chuyến nầy mình nghỉ lại tại nhà thầy vài hôm, mỗi tối thầy trò đi uống cà phê nghe nhạc và bàn chuyện tâm tình.

Mãi đến sau nầy những năm gần đây, thầy chuyển về Sài Gòn để hoạt đông văn hóa, viết sách, dịch thuật và làm việc tại trường Đại Học Hồng Bàng…

Thầy Trương Minh Hiển mất lúc 11 giờ 30 trưa ngày 8/8/2005, nhằm ngày 4 tháng 7 năm Ất Dậu , chôn cất tại nghĩa trang họ tộc , trên đất nhà ở xã Thuận Yên, Hà Tiên.

Một số tác phẩm của thầy đã xuất bản:

  • Hoa Cẩm Chướng xưa (chuyên dịch 1987)
  • Người tình của CHATTERLEY phu nhân (chuyện dịch 1988)
  • Tình ca ác quỷ (chuyện dịch 1989)
  • Thành phố bị chôn vùi 15 thế kỷ (Chuyện Bà Chúa Xứ-An Giang, tiêu thuyết dã sử 1990)

TH_HaTien_1968Thầy Trương Minh Hiển đứng thứ tư từ trái đếm qua phải.

HaTien_MuiNai_a Thầy Trương Minh Hiển ở hàng trên, bìa trái, đội nón trắng và mang kính đen.

TVM_Cafe_TiLaThầy Trương Minh Hiển đang mở đầu buổi tiệc cuối năm với học trò tại quán nhà.

Thầy Trương Minh Hiển chụp hình với học trò: Bùi Văn Tư (trên trái), Nguyễn Đình Nguyên (trên phải).

Thầy Trương Minh Hiển chụp hình với học trò Phan Văn Hộ (trái). Thiệp của quán Ti La (phải).

TruongMinhHien_BieuSach1Thủ bút của Thầy Trương Minh Hiển viết trên bìa sách « Thành phố bị chôn vùi 15 thế kỷ » (tiểu thuyết dã sử của Thầy) tặng cho Trần Văn Mãnh

TruongMinhHien_BieuSach2Thủ bút của Thầy Trương Minh Hiển viết trên bìa sách « Bội Lan Hành » (tập thơ của thi sĩ Đông Hồ) tặng cho Trần Văn Mãnh

Chân dung rất trẻ và đẹp của Thầy Trương Minh Hiển  ngày nhập ngũ quân đội.

Thầy Trương Minh Hiển lúc còn trẻ với các vị bà con anh chị em

Thầy Trương Minh Hiển và con gái Trương Mộng Uyên (Thuận Yên, Hà Tiên 1994)

Thầy Trương Minh Hiển, hình chụp tại Hà Tiên 1997

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thũy, Nguyến Đình Nguyên, Trương Mộng Uyên.