Chùa Quảng Tế Phật Đường (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu trong Blog về mục « Hà Tiên phố xưa » đã có bài về ngôi chùa xưa « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » mà không viết về ngôi chùa « Quảng Tế Phật Đường » là một thiếu sót lớn. Thật vậy ngoài vị trí rất quan trọng và chủ yếu của ngôi chùa Tam Bảo đối với Hà Tiên chúng ta, ngôi chùa Phật Đường cũng không kém phần quan trọng. Nếu tính theo nguồn gốc và thời gian xây cất thì ta có thể xếp ngôi chùa Phật Đường vào thứ bậc một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của Hà Tiên chúng ta. Theo thứ tự thời gian, ta có thể xem thang bậc xuất hiện những ngôi chùa hay ngôi đình miếu ở Hà Tiên như sau:

Chùa Tam Bảo: khoảng thời gian 1708-1718
Đình Thần Thành Hoàng Mỹ Đức: 1820
Chùa Phù Dung (núi Bình San): 1845
Đền Thờ Mạc Cửu (núi Bình San): 1846
Chùa Quảng Tế Phật Đường: 1863
Chùa Bà Mã Châu: 1869
Chùa Phật Đà (chùa Lò gạch): 1945

Ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường chiếm một vai trò tinh thần và tôn giáo rất to lớn đối với những gia đình theo đạo Phật ở Hà Tiên, nhất là đối với những gia đình người gốc Hoa. Thật vậy, đối với gia đình của mình ở Hà Tiên, chính ngôi chùa Phật Đường là nơi gặp gở của ông và bà ngoại của mình ngày xưa. Bà ngoại của mình vốn là một trong những chị em dòng dỏi người tu ở Nhà Bàng, Châu Đốc, khi bà ngoại mình vào Hà Tiên đi hành hương ở chùa Phật Đường thì gặp ông ngoại mình ở nơi đây và sau đó hai người kết hợp với nhau. Mỗi năm cứ sau ba ngày Tết Nguyên Đán thì bà ngoại bắt đầu một chuyến đi cúng chùa, ngôi chùa đầu tiên chính là chùa Phật Đường. Đó là vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch, đúng là ngày cúng sao mỗi năm cả nhà chuẩn bị đi chùa Phật Đường để cúng sao. Đầu tiên là phải ghi rỏ tên họ tất cả mọi người trong nhà không phân biệt lớn nhỏ gởi cho quý vị trụ trì trong chùa và kèm theo tiền cúng chùa. Mình còn nhớ thời gian đó có ông Sáu ở chùa thường hay chạy chiếc xe đạp « đòn dong » ra chợ và ghé nhà mình để nhận giấy viết tên họ cúng sao và tiền cúng chùa, ngoài ra ông cũng thường ghé nhà mình thăm ông bà ngoại. Đến ngày cúng sao, bà ngoại dẫn ba anh em mình đi chùa, vào buổi tối…Khi vào chùa, bà ngoại thường kêu ba đứa cháu đến chào một hai bà cụ rất cao tuổi, đều là người quen biết với bà ngoại mình, cả ba anh em mình đến ngay tại căn phòng của quý cụ bà nầy, khoanh tay chào rất kính cẩn, quý bà cụ rất vui vẻ, hỏi thăm việc học hành và thường hay xoa đầu anh em mình…mà lúc đó mình lại cũng hay sợ quý bà cụ nầy, có lẻ vì thấy quý cụ bà rất cao tuổi…(lúc đó mình còn nhớ là có cô Tư Thọ, quen rất nhiều với bà ngoại mình, cô Tư thường hay kêu đem chè khi cúng xong cho mấy anh em mình ăn…)

Rồi đến lúc vào xếp hàng quỳ ở chánh điện để làm lễ cúng Phật và nghe thầy đọc tên mọi người trong gia đình. Mình vẫn còn nhớ là lần nào cũng nghe rỏ tiếng thầy đọc tên ông, bà ngoại, vú và tên các anh em mình. Sau thời gian cúng và đọc tên mọi người, đến lúc bà ngoại thả cho mấy anh em mình đi quanh quẩn dạo chơi trong và ngoài sân chùa. Bên ngoài sân chùa chung quanh đều có sân trồng cây cảnh, cây xanh rất xinh đẹp, hồi trước người dân thường đi vào chùa bằng lối đi phía bên hông chùa, cạnh đường Mạc Thiên Tích vì gần cổng chánh phía trước thường có bụi cây cỏ rậm rạp nên ít người dùng lối nầy để vào chùa. Gần cổng chánh phía trước chùa có một miệng giếng tròn to, thành giếng cẩn đá hộc, anh em mình hay đứng đó nhìn vào giếng..Đêm tối trong sân chùa có ánh đèn điện chiếu sáng, ánh sáng xuyên qua các cành lá tạo ra một khung cảnh rất thanh tịnh và cũng không kém phần huyền bí, không gian im lặng và có chen lẫn tiếng dế kêu nho nhỏ……Vì lúc đó mình vẫn còn rất nhỏ tuổi, ở tuổi trẻ thơ, nên nhìn thấy sân chùa có vẻ rất huyền bí và rất rộng…Mấy anh em chạy chậm chậm chung quanh ngôi chùa, mình còn nhớ lần nào cũng gặp một cô bạn tuy không học cùng lớp nhưng cùng trường Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Phan Kim Chi, cháu của Ông Ký Phan Kim Tố (có một thời gian ông chính là một nghị sĩ Quốc Hội của nền Đệ Nhất Cộng Hòa nước Việt Nam 1955-1963). Vì đều là trẻ con nên khi chạy quanh chùa và nhiều lần đụng mặt nhau,  mình và Kim Chi cũng chỉ cười bẻn lẻn, không ai dám nói chuyện với ai cả, rất ngượng ngùng mắc cở, không ai nói chuyện gì với nhau cả tuy đã quen biết nhau. Kim Chi cũng có một người em trai tên là Phan Kim Quang, sau nầy mình cũng có nhiều dịp đi chơi chung với Quang, vì Quang học cùng lớp với các bạn cùng đi chơi với mình như Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh…Nhà của hai chị em Phan Kim Chi và Phan Kim Quang ở phía dưới Cầu Câu, đường Nguyễn Thần Hiến, mình cũng thường đi chơi lúc đạp xe đạp hoặc thả bộ đi trên con đường đó mỗi buổi chiều, lần nào đi ngang cũng ghé mắt nhìn xem có ai trong nhà không …!! Mãi sau nầy đến khi quen biết kết bạn bè trên mạng face book, mình quen được với cô bạn tên Therese Tran (tên Việt là Trần Thị Nhung) mình mới hiểu rỏ nhiều hơn về gia đình và gốc gác của Kim Chi và Kim Quang, rốt cuộc hai bạn đều là cháu ruột của cô Chín Phan Thị Triệu, ngày xưa cô Chín Triệu có thời gian làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên và cũng có lúc cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, Kim Chi và Kim Quang đều là anh chị em vai cô cậu với Therese Tran.

Bên trong chùa Phật Đường, phía sau chánh điện là một căn phòng rộng lớn, mình còn nhớ rất rỏ là ngay sau vách tường của chánh điện, mặt trước là bàn thờ Phật, và mặt sau vách tường nầy trong căn phòng giữa phía trên cao có treo một bức tranh vẻ một cảnh xưa của nước Pháp, loại tranh to lớn và hình thức như những bức tranh của Viện Bảo Tàng nước Pháp. Phía bên trái có một cái bàn mà ngày xưa đó là nơi bàn học của một người bạn tên Ngọc, ở Rạch Giá sang theo học ở Trung Học Hà Tiên (Ngọc học cùng lớp với anh Trần Văn Dõng, người rất đẹp trai và rất có dáng thư sinh). Vì chùa Phật Đường ngày xưa cũng rất hay giúp học sinh nghèo nên chùa có chấp nhận cho một vài học sinh trú ngụ trong thời gian theo học ở Hà Tiên.  Mình còn nhớ, ngoài bạn Ngọc ra, còn có một người bạn khác cũng theo ở trọ trong chùa để theo học ở Trung Học Hà Tiên, người nầy là bạn của Trần Tiên, có lúc Trần Tiên dẫn mình vào chùa Phật Đường để thăm người bạn nầy, rất tiếc là mình không còn nhớ tên của người bạn nầy, lúc đó người bạn nầy còn lén mấy vị trụ trì trong chùa, mua một chai rượu trắng nhỏ và rũ mình và Trần Tiên uống rượu…

Trở lại buổi tối cúng sao ở chùa Phật Đường, sau khi cúng Phật, đọc tên cầu an, mọi người giúp ban quản trị của chùa dọn các món cúng trên các bàn thờ, cúng sao thì chùa có nấu chè và xôi để dâng cúng Phật, có rất nhiều cô bác quen biết chung quanh chợ Hà Tiên lên chùa trong buổi cúng sao nầy nên mình cũng gặp rất nhiều vị, trong đó có má của người bạn tên Sện (tên chánh là Tường, con của ông bà chủ tiệm Trồng Răng Phục Hưng ở đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên), Đến lúc nầy thì mấy nhóc trẻ con bắt đầu nhốn nháo phía sau hậu liêu của chùa vì đã đến lúc được ông bà, cha mẹ cho phép ăn chè,…Ba anh em của mình cũng được phân phát cho mỗi đứa một chén chè, có xôi trộn vào, ăn rất ngon,…có lẻ đó là động cơ chánh trong những lý do phải theo bà ngoại đi chùa ngày cúng sao…

Bây giờ mình nói đến vị trí của ngôi chùa Phật Đường nầy. Ngôi chùa Phật Đường nằm trong khuôn viên của một tứ giác do bốn con đường thành lập. Phía trước mặt chánh của chùa là đường Chi Lăng, bên phải ngôi chùa (nếu đứng trước mặt chùa ở đường Chi Lăng nhìn vào) là đường Mạc Thiên Tích, sau lưng ngôi chùa cách một khoảng đất rộng là đường Mạc Cửu và bên trái ngôi chùa phía xa ra là một con đường nhỏ không tên…Ngoài cửa chánh để vào chùa trên con đường Chi Lăng, bên đường Mạc Thiên Tích cũng có một cửa phụ để vào ngay phía nhà hậu liêu của ngôi chùa, ngày xưa khi mình có dịp đi chùa Phật Đường, mình thường vào chùa bằng cửa nầy. Trong khu vực tứ giác nói trên, trên đường Mạc Thiên Tích, phía sau chùa Phật Đường là Miếu Quan Thánh (người Hà Tiên thường gọi là chùa Năm Ông). Ở ngay góc nhọn nơi giao nhau của hai con đường Mạc Thiên Tích và Mạc Cửu ngày xưa là Nhà Đèn, nơi có những máy đèn cung cấp nguồn điện cho toàn khu vực Hà Tiên, ngày nay chính là trụ sở của Công Ty Điện lực Kiên Giang – Điện lực Hà Tiên.  Ngay gần phía sau chùa Phật Đường, hơi lùi vào bên trong, có một miếng đất rộng, nơi có một căn nhà ngói rất to lớn, đó là ngôi nhà của gia đình chị Mỹ Dung, chị có người chị bán bánh xôi vị rất ngon  trong nhà lồng chợ cũ Hà Tiên ngày xưa, chị Mỹ Dung học trường Trung Học Hà Tiên trước mình rất nhiều lớp, chị rất hiền, nhu mì, nói năng nhỏ nhẹ và cũng là một cô gái rất đẹp.

Cổng chánh chùa Quảng Tế Phật Đường ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Hình TVM 2012

Sơ đồ chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên: 1= Chùa Phật Đường, 2= Quan Thánh Miếu, 3= Công ty Điện lực Kiên Giang-Điện lực Hà Tiên, 4= Ngôi nhà ngói lớn của gia đình chị Mỹ Dung.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phật Đường:

Góc nhìn khác của ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, 2018

Ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên được thành lập vào năm Quý Hợi 1863 và thuộc hệ phái Minh Sư Đạo (tên đầy đủ là Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo). Môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo có nguồn gốc Phật Giáo Thiền Tông bên Trung Quốc từ đời Tổ Sư thứ sáu Huệ Năng (638-713).Sau rất nhiều thế kỷ thăng trầm, lúc bị đàn áp, lúc hưng thịnh, cho đến cuối thế kỷ thứ 19, được sự phân công của vị truyền thừa thứ 16, ngài Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879) sang Việt Nam truyền đạo vào lúc đời Tự Đức thứ 16. Đầu tiên ngài lập ra một ngôi chùa lấy tên Chiếu Minh Phật Đường tại địa điểm Cầu Kho (Chợ Lớn). Sau đó khi ngài sang Thái Lan khai đạo, trên đường trở lại Việt Nam, vì có trở ngại thời Pháp chiếm ba tỉnh miền đông, ngài ghé lại Hà Tiên và thành lập một ngôi chùa thứ hai của hệ phái Phật Đường, đặt tên ngôi chùa là Quảng Tế Phật Đường, đó là ngôi chùa Phật Đường hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Điều nầy đủ chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị lịch sử của ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên, vì đó là ngôi chùa đầu tiên thứ hai (sau chùa Chiếu Minh Phật Đường ở Chợ Lớn) của môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo trên đất nước Việt Nam. Lúc nầy ngôi chùa chỉ lợp lá đơn sơ và được sự đóng góp, giúp đở nhân lực, tài chánh của những người Minh Hương và các vị thân hào nhân sĩ kỳ cựu ở Hà Tiên. Từ đó quý nhân sĩ, trí thức Hà Tiên tìm đến quy y cầu đạo, số tín đồ ngày càng phát triển, việc truyền giáo gặp thuận lợi và cảnh chùa ngày càng thêm sung túc.

Đến năm 1937 tu sĩ Trần Văn Tiền, pháp danh Xuân Hòa với chức vụ Giáo phẩm Thiên Ân được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Công lao của ngài là đã chỉnh trang lại ngôi Phật Đường bằng gạch ngói kiên cố, tổ chức ban quản trị trụ trì việc hành chánh trong chùa và lại tạo bộ phận làm kinh tế gây quỹ cho chùa bằng việc làm tương chao, nấu đậu hủ, nuôi dấm, trong công việc kinh tế nầy có rất người người địa phương giúp đở và công quả cho chùa. Thời gian nầy còn có tu sĩ Nguyễn Thị Thu (Mỹ Hương), cô Bảy, cô Tám cùng hành đạo ở chùa. Ngài làm việc liên tục 25 năm thì ngả bệnh qua đời tại chùa (1937-1962), mộ phần được tôn tại ở Hà Tiên.

Tiếp theo đó, Lão Sư Trần Vận Hưng ở chùa Nam Nhã (Cần Thơ) được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên (dân địa phương Hà Tiên gọi ông là Ông Sáu Thợ Mộc), trong thời gian nầy có Bà Trần Thị Thọ, pháp danh Nghiêm Kỉnh, vốn là con gái của tu sĩ Xuân Hòa, khi ông mất đi, bà ở lại chùa nối tiếp đường tu, hộ đạo công quả. Đến năm 1968 trong lần về thăm chùa Nam Nhã, Lão Sư lâm bệnh đột ngột và qua đời tại chùa Nam Nhã Phật Đường.

Trong thời gian cùng năm nầy Minh Sư Đạo được chánh phủ công nhận và giáo hội trung ương được thành lập, Đức Tổ Vương Đạo Thâm cử hai vị về chùa trụ trì: Cô Thái Trần Ngọc Liêng (thường gọi là Cô Thái Bảy) và thầy Nguyễn Xương Thành (thế danh Nguyễn Văn Chùng). Vì hoàn cảnh có trách nhiệm ở chùa Phước Tế Vĩnh Long nên cô Thái Bảy thỉnh thoảng tới lui hoạt động ở chùa Phật Đường Hà Tiên, chỉ có thầy Xương Thành thì thường trực tại chùa. Ban trị sự chùa trong thời gian nầy gồm quý vị: thầy Trần Văn Hương (trưởng ban), cô Phan Thị Triệu (phó ban), quý vị Phạm Đình Khương, Phạm Thị Thìn và Trần Mỹ Hương là ủy viên, cùng trông lo Phật sự còn có cô Tư Thọ. Thầy Xương Thành tổ chức khám bệnh, châm cứu giúp dân địa phương rất nhiều. Từ đó được dân tình tín nhiệm và ủng hộ, thầy mở mang xây dựng thêm nhà kho, tậu mua thêm nhiều vật dụng cho chùa. Đến năm 1977 hoàn cảnh chiến tranh biên giới gây khó khăn, cô Thái bảy và thầy đều trở về quê, Phật tử cũng ít tới lui chùa, ban quản trị cũng tự giải tán. Đến năm 1979, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại, được chánh quyền địa phương giúp đở thuận lợi, chùa Quảng Tế Phật Đường hoạt động trở lại, bà Trần Thị Thọ cùng một số Phật Tử hộ đạo trở về chùa khôi phục việc cúng kiến, tu hành. Công việc chùa được ổn định và có nấu nướng thức ăn chay để gây quỹ tự túc. Cô Thái Bảy thỉnh thoảng trở lại Hà Tiên thăm viếng và hành đạo.

Năm 1989 bà Trần Thị Thọ qua đời tại chùa. Cô Thái Trần Ngọc Liêng trở về chùa khởi công tu sửa nhà hậu tổ và xin gia nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đồng thời cô Thái Bảy đề cử ông Nguyễn Văn Tường đạo danh Thiện Phú cư sĩ cấp nhị bộ ở chùa Phước Tế Vĩnh Long về công quả ở chùa Phật Đường Hà Tiên. Sau đó cô Thái Bảy cũng dặn dò, gởi gắm mọi đạo sự của chùa Phật Đường Hà Tiên cho Ban Hộ Trì trong những khi cô vắng mặt. Cô trở về chùa Phước Tế và do tuổi cao, sức yếu nên không đi lại được nữa.

Năm 1997, sau khi công quả tại chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên được 8 năm, tu sĩ Thiện Phú trở về chùa Phước Tế, cô Thái Bảy ủy quyền việc trọng nhậm tạm thời chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cho hai vị thượng nhân: Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí, trụ trì chùa Tế Sanh Phật Đường ở Vĩnh Long và Cô Thái Phạm Ngọc Anh, trụ trì chùa Huệ Nam Phật Đường ở Cần Thơ. Hai vị hoan hỉ nhận việc và cùng với công đức bá tánh, các đạo hữu tại Hà Tiên, Vĩnh Long, Cần Thơ, chùa Phật Đường Hà Tiên được hoàn công sau một tháng tu bổ. Trong ngày diễn ra buổi lễ bàn giao tiếp nhận chùa, hai vị thượng nhân trọng nhậm đã cử hai vị Thiên Ân lãnh trách nhiệm trụ trì chánh thức chùa Phật Đường Hà Tiên kể từ thời gian nầy. Đó là hai vị: Cô Lê Thị Kim Anh, pháp danh Ngọc Chi, tu tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ làm Chánh trụ trì, Thầy Lê Văn Sách, pháp danh Hữu Hạnh, tu tại chùa Nam Nhã Phật Đường Cần Thơ làm phó trụ trì. Sau lần cũng cố nhân sự nầy, đạo sự ở chùa Quảng Tế Phật Đường đi vào nề nếp, người dân Hà Tiên tới lui đông đảo và ủng hộ chùa về mọi mặt.

Đến ngày mùng một tháng 8 Âm lịch (năm 2006), Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí sau nhiều tháng ngả bệnh nặng, đã quy tiên. Ngày mùng 9 tháng 11 Âm lịch (năm 2009) Cô Thái Phạm Ngọc Anh quy tiên tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ sau nhiều thời gian lâm trọng bệnh. Đó là sự mất mát to lớn của toàn môn phái Minh Sư Đạo và đặc biệt là đối với chùa Quảng Tế Phật Đường vì hai vị, nhất là Đại Lão Sư đã quan tâm rất nhiều đến việc đạo sự của chùa, cho đến hiện nay chùa vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm và ấn tượng khó phai đối với Đại lão Sư.

Nhân dịp đại hội toàn phái Minh Sư Đạo (năm 2008), ban giáo hội trung ương đã chỉ thị các Phật Đường hoàn chỉnh ban trị sự, trong đó chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cũng thực hiện bầu cử ban trị sự của nhiệm kỳ 2008-2013, ban trị sự đã được thành lập và ra mắt gồm 7 vị:

Cô Thái Lê Ngọc Chi: trưởng ban
Cô Phan Thị Triệu và Ông Phan Văn Đây: phó ban
Cô Huỳnh Nghiêm Trang: thư ký
Cô Lâm Xuân Mỹ: thủ quỹ
Cô Huỳnh Thị Xuân Phượng và cô Huỳnh Thị Xuân Đào: ủy viên.

Từ năm 1997 đến năm 2007 ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên đã được tu sửa như sau: lợp mới khu chánh điện, lót gạch nhà hậu tổ. Xây dựng nhà khói, xây dựng hàng rào kiên cố vành đai chùa. Tu sửa nhà kho, tất cả đều do công lao, vật chất, tiền bạc của chư Phật Tử, đạo hữu xa gần và nhất là có phần đóng góp không nhỏ của Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí. Ngoài công việc đạo sự ở chùa, ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên còn góp phần vào công tác từ thiện xã hội, phân phối lương thực, sách vở, tập viết cho dân và học sinh nghèo, tích cực ủng hộ và tham gia ở địa phương qua các phong trào xóa đói, giảm nghèo, cứu dân trong thiên tai, bảo lụt, bảo trợ bệnh nhân nghèo.

Hình trái: Chân dung Đức Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879), người sáng lập chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên và truyền Minh Sư Đạo tại Việt Nam. Hình phải: Ông Đốc Lý Văn Nhơn. Hình thờ tại chùa Phật Đường Hà Tiên. Hình: Therese Tran

Tóm lại ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên là một trong những ngôi cổ tự ở Hà Tiên, chùa mang đậm nét lịch sử của thời khai đạo mà chính Đức Đông Sơ Tổ Sư từ bên Trung Hoa sang đặt nền móng « dựng chùa, khai đạo, truyền giáo ». Cho đến ngày nay qua xuyên suốt hơn 150 năm qua, so với các chùa đồng môn đã và đang hành đạo rải rác ở khắp nơi trên ba miền đất nước, chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên có một vị trí rất quan trọng, tiêu biểu cho toàn phái đạo, xứng đáng được tôn vinh, là con cháu dòng dõi người Hà Tiên, tất cả chúng ta đều có bổn phận gìn giữ tốt đẹp ngôi cổ tự Quảng Tế Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo tại Hà Tiên được vĩnh viễn trường tồn.

C/ Vài nét về hệ phái Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo:

Thời kỷ bên Trung Hoa: Phật Đường Minh Sư là một hệ phái Phật Giáo mang tính cứu thế, phổ độ, kính thờ Đức Phật, tu tiên và sinh hoạt theo Nho Giáo. Trong số 17 đời Đức Tổ, ngài Hoàng Nhẫn là Đức Tổ thứ 5 có nhiều môn đệ, trong đó có hai ngài là Thần Tú và Huệ Năng (Đời Đường 638-713). Khi Đức Tổ Hoàng Nhẫn liễu đạo, ngài truyền thừa cho ngài Huệ Năng (lục tổ). Phật giáo lúc đó chia thành hai nhánh: một do ngài Thần Tú mở đạo, Bắc Tông, một do ngài Huệ Năng dẫn dắt, Nam Tông. Sau khi ngài Huệ Năng liễu đạo, 70 năm đạo pháp bị đình đốn, đến năm 783 có thiền sư Mẫu Công Đạo Nhất và cư sĩ Bạch Ngọc (tỉnh Tây Giang) song thừa kế vị Đức Tổ thứ 7 cùng chấn hưng đạo pháp. Sau đó ngài La Công Húy đắc pháp thành đời tổ thứ 8 và được vua nhà Đường kính trọng. Đến đời vua Thế Tôn nhà Hậu Chu (năm 955), Phật giáo bị pháp nạn vì phong trào « phá hủy Phật tự »…Sau đó hơn 800 năm đến cuối nhà Minh, tông phái Phật Đường mới được phục hưng, năm 1623 ngài Hoàng Công Đức Huy đắc pháp thành Đức Tổ thứ 9, sau đó là ngài Ngô Công Tinh Lâm, Đức Tổ thứ 10 và ngài Hà Lão Huệ Minh, Đức Tổ thứ 11. Ngài Viên Thốn An được truyền trao Pháp đạo thành Đức Tổ thứ 12.  Đến đời Đức Tổ thứ 13 là song hành hai vị: ngài Vương Công Hườn Hư hành đạo về phía bắc và ngài Từ Hườn Vô mở đạo về hướng nam. Đến khi nhà Thanh tiếp nối nhà Minh (năm 1863, cùng thời vua Tự Đức thứ 16 bên nước Việt Nam ta), ngài Đông Sơ Tổ Sư được cử đi đưa sự nghiệp đạo pháp đến các nước Thái Lan và Việt Nam, từ đó hệ phái Phật Đường Nam Tông được truyền đến nước Việt Nam: thành lập ngôi chùa đầu tiên là Chiếu Minh Phật Đường tại Cầu Kho Chợ Lớn và ngôi chùa thứ hai là Quảng Tế Phật Đường tại Hà Tiên.

Thời kỳ bên Việt Nam: Hệ phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo sau khi lập hai chùa Phật Đường ở Chợ Lớn và Hà Tiên, bắt đầu phát triển với số bổn đạo ngày càng đông. Ngài Lão Sư Ngô Cẩm Tuyền xây ngôi chùa Ngọc Hoàng tại Đa Kao, quận 1 Sài Gòn, năm 1900, sau đó chùa được chuyển sang chùa Phật, sau đó ngài cũng xây một ngôi chùa Phật Đường khác cũng tại quận 1, Sài Gòn vào năm 1920, đặt tên là Quang Nam Phật Đường. Lúc nầy với những ngôi chùa Minh Sư Đạo đầu tiên chỉ để thu hút người mộ đạo Minh Hương, dần dần đã có hơn 50 Phật Đường trên toàn nước Việt Nam. Về thờ phượng, chùa Phật Đường Minh Sư Đạo tôn thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Tử và Đức Thái Thượng Lão Quân. 

Hiện nay Minh Sư Đạo có hơn 50 Phật Đường hoạt động ở khắp 18 tỉnh, thành phố, với 300 chức sắc, hơn 1262 chức việc và trên 11000 tu sĩ, tín đồ. Tổ Đình Minh Sư Đạo đặt tại chùa Quang Nam Phật Đường, quận 1 TP HCM.

D/ Chú thích:

1/ Phần một:  Người dân Hà Tiên chúng ta rất hâm mộ đạo dù cho theo khuynh hướng nào cũng vậy. Ở Hà Tiên có đủ các tôn giáo cùng hòa đồng sinh hoạt với nhau: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Cao Đài,…Tất cả các tôn giáo nầy đều có rất nhiều tín đồ,, đa số đều có thực hành các quy lễ như đi chùa, đi nhà thờ cúng  lễ đều đặn. Đối với hệ phái Phật Đường Minh Sư Đạo, ngay từ khi Đức Trưởng Lão Đông Sơ ghé Hà Tiên thành lập ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường vào năm 1863, đã có sự tiếp đón, ủng hộ, góp công sức của người mộ đạo Hà Tiên, nhất là những người Minh Hương sinh sống tại Hà Tiên. Vào những năm cuối của thập niên đó (cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ thứ 20) sau khi Trưởng Lão liễu đạo thì có nhiều gia đình kỳ cựu ở chung quanh chợ Hà Tiên đã đóng góp rất nhiều trong việc củng cố, trị sự và phát triển ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường. Ta có thể kể ra vài gia đình tiêu biểu như: gia đình ông Huỳnh Đăng Khoa và phu nhân là bà Trần Thanh Tùng (Ông bà Cố của bạn Therese Tran), rồi đến đời ông Phan Kim Tố (Nghị sĩ Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, Ông ngoại của bạn Therese Tran), sau đó đến đời quý vị ái nữ của ông, trong đó có cô Chín Phan Thị Triệu (Dì Chín của bạn Therese Tran), từ đời ông bà cho đến đời sau, gia đình của cô Chín Triệu đã không ngừng tham gia vào việc xây cất, chỉnh tu, và quản trị trong ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, đó là một việc làm rất đáng được người dân Hà Tiên chúng ta khâm phục và ghi nhớ. Ngoài ra còn có gia đình của ông Đốc Hà Văn Điền (thân phụ của cô Ba Hà Thị Bích Thủy và cô giáo Hà Thị Hồng Loan), gia đình của Thầy Trần Văn Hương (Ông từng là Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Hà Tiên), gia đình ông Đốc Lý Văn Nhơn,…Những gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên nầy đã có công góp sức và thời giờ rất nhiều trong công việc tạo dựng và quản trị ngôi chùa, mình nêu sự việc lên đây mong người Hà Tiên chúng ta luôn nhắc nhở và ghi nhớ để em cháu về sau còn biết được và theo gương sinh hoạt đó. Đặc biệt trước khi viết bài về ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường nầy, mình đã nhờ đến sự giúp đở của bạn Therese Tran rất nhiều, nhờ bạn đã chuyển giao cho mình nhiều hình ảnh, thông tin tư liệu về nguồn gốc ngôi chùa do cô Chín Phan Thị Triệu còn lưu giữ và thảo ra nên mình mới có được những chi tiết, tên họ chính xác trong bài viết. Xin qua những dòng chữ nầy kính gởi đến cô Chín Phan Thị Triệu và bạn Therese Tran lời cám ơn trân trọng về sự giúp đở quý báu nầy.

Từ trái qua phải: Cô Chín Phan Thị Triệu, cô Lý Ánh Nguyệt và cô Ba Hà Thị Bích Thủy. Hà Tiên, 1950-1960, Hình Lâm Xuân Mỹ

Từ trái qua phải: Thân mẫu của bạn Therese Tran, cô Ba Hà Thị Bích Thủy, cô Chín Phan Thị Triệu và Thầy Trần Văn Hương. Hình: Therese Tran, 1991

Cô Chín Phan Thị Triệu (một trong những ái nữ của ngài Nghị Sĩ Phan Kim Tố, gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên). Cô Chín từng làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên trong những năm 50-60, sau 1975 Cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, đồng thời Cô cũng giữ nhiều vai trò trong ban quản trị chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Hiện nay Cô Chín đã 87 tuổi, vẫn sinh sống tại quê hương Hà Tiên. Hình: Therese Tran, 2019

Vài nét nhắc nhở về bạn Therese Tran, bạn Therese Tran tên Việt Nam là Trần Thị Nhung, là người gốc gác ở Hà Tiên, trong một gia đình kỳ cựu, đứng với vai Therese Tran: ông Cố Ngoại là ông Huỳnh Đăng Khoa, ông Ngoại là ông Phan Kim Tố, thân phụ là ông Trần Văn Thuận, dì Chín là Cô Phan Thị Triệu. Therese Tran cũng là một cựu học sinh Trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, hai người chị của Therese Tran là chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi, bạn học Trung Học Hà Tiên cùng thời với quý anh chị Đoàn Kim Minh, Lý Thị Lắc, Nguyễn Thị Sồ, Hà Thị Hồng Loan, Vương Văn Quý, Trần Đại Hải,…Gia đình bạn Therese Tran chuyển về Cần Thơ trong giữa thập niên 60 và sau đó trong những năm sau 1975, bạn định cư ở nước Úc. Bạn Therese Tran và hai bạn Phan Kim Quang và Phan Kim Chi cũng là anh chị em cô cậu vì thân phụ của Kim Quang và Kim Chi là anh của thân mẫu của Therese Tran.

Bạn Therese Tran (Trần Thị Nhung), trái : 1968, phải: Hình chụp trước sân chùa Quảng Tế Phật Đường năm 2019. Hình: Therese Tran

Hình trái: Phan Kim Quang, bạn học chung Trường Trung Học Hà Tiên (cùng lớp với các bạn Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh). Kim Quang ra trường Bộ Binh Thủ Đức, về Rach Giá mang cấp bậc Thiếu Úy và tử trận năm 1974. Hình phải: Phan Kim Chi, hiện sinh sống với gia đình tại Vĩnh Long.  Hai chị em Kim Quang và Kim Chi là anh chị em cô cậu với bạn Therese Tran.

2/ Phần hai: Bài viết trên đây (các phần B, C và D) đều dựa trên các tài liệu nghiên cứu trên mạng, riêng phần nguồn gốc thành lập chùa Quảng Tế Phật Đường thì viết theo bài kể lại quá trình thành hình và quản trị ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường do cô Chín Phan Thị Triệu, thay mặt Ban Trị Sự chùa, đã viết ra năm 2011 và có chữ ký của Cô Thái Lê Ngọc Chi. Mình vẫn còn giữ tài liệu nầy, bạn nào cần tham khảo xin cho địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chia sẻ tài liệu gốc.

Tài liệu nghiên cứu:

a/ Quảng Tế Phật Đường (Phan Thị Triệu, 2011)
b/ Vài nét về Phật Đường Nam Tông (Trần Tiến Thành, nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2009)
c/ Chùa Quảng Tế Phật Đường (2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt)
d/ Giới thiệu về Ngũ chi Minh đạo và Minh sư đạo tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Huấn)

Các tài liệu nầy mình đều có bài dưới dang file, bạn nào cần tham khảo xin viết tin nhắn cho mình với địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chuyển cho. Các tài liệu đánh dấu b, c và d thì có đường link, các bạn bấm vào link sẽ có bài hiện ra nhé.

Paris, 16/12/2019  Trần Văn Mãnh

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)