Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Publicités

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp đệ nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 1: hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ ngày thành lập 04/10/2015 đến ngày hôm nay 12/10/2018, đã đạt được 91926 lượt xem, 24733 người đến xem (những đọc giả từ hơn 47 nước trên thế giới đến xem), với 176 bài viết trong đủ các tiết mục và do chính thầy cô và các bạn là tác giả. Tuy nhiên nhìn qua nhìn lại ta chưa thấy bài viết nào nói về quá trình hình thành ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta…! đây quả thật là một điều thiếu sót lớn lao…Bạn Trương Thanh Hùng (Giá Khê) có viết một loạt nhiều bài trong mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và có nhắc đến một phần về sự ra đời và phát triển của trường chúng ta. Thật ra cũng rất khó mà viết ra được một tài liệu đầy đủ và chính xác về lịch sử của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, đó là việc làm của các nhà nghiên cứu mà sớm hay muộn chúng ta cũng hy vọng rằng sẽ có bài viết về đề tài nầy, mong rằng các cây bút có quan hệ nhiều đến trường Trung Học Hà Tiên như Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên,…v..v….và nhiều thầy cô bạn học khác sẽ có ngày cho ra đời nhiều bài viết về lai lịch ngôi trường của chúng ta, như thế khi làm công việc tổng họp lại chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và đầy đủ về trường xưa. Bản thân mình cũng có một tham vọng dựng lên quá trình thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng phần vì ở xa không có điều kiện đến tại chỗ tìm tòi sách vở hay tham khảo các ý kiến tiền nhân tại Hà Tiên, phần lại sinh sau đến muộn, chưa đủ thời gian trải nghiệm từ khi trường được ra đời nên rất khó thực hiện được ý nghĩ nầy…Rồi lại suy nghĩ rằng « kẻ ít người nhiều », nếu mỗi người trong chúng ta đóng góp một vài tư liệu, viết một vài dòng, đăng một vài tấm ảnh kỹ niệm ngày xưa thì có khi kết quả lại bất ngờ rất hay, lý thú và giúp cho một bạn văn nào đó có ý khoa học, biết suy luận, tổng kết và từ đó sẽ có bài viết đầy đủ cho chúng ta về lai lịch ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên. Cần xác nhận là ngôi trường nói trong bài viết nầy là ngôi trường Trung Học Hà Tiên, tọa lạc tại góc đường Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Hoàng, dưới chân Lầu Ba (núi Ngũ Hổ).

Phần 1: Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ:

Sau khi tham khảo ý kiến một số bạn từng là học sinh Trung Học Hà Tiên và chiếu qua các hình ảnh về ngôi trường, ta có thể bắt nguồn như sau: Vào năm 1955, thầy giáo trẻ Trường Minh Đạt sau khi học xong các trường lớn ở Sài Gòn (Trương Vĩnh Ký, Sư Phạm Sài Gòn,…) đã trở về Hà Tiên làm việc với ý định mở trường lớp cho con em Hà Tiên có điều kiện theo học tại chỗ. Thầy giáo Đạt lập hồ sơ xin thành lập trường Trung Học Tỉnh Hà Tiên dưới sự quản lý của các Nha Bộ ở Sài Gòn. Qua năm 1956 trường được thành lập với tên chính thức « Trường Trung Học Hà Tiên » với 4 lớp học và người Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Thanh Tra tỉnh kiêm hiệu trưởng: thầy Hà Văn Điền (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Điền, chính là ba của cô giáo Hà Thị Hồng Loan, sau nầy cô Hồng Loan cũng trở về dạy học ở ngôi trường nầy vào những năm 1960, nhà ông Đốc Điền ngày xưa ở đường Bến Trần Hầu, Hà Tiên).

Thầy Trương Minh Đạt (người gốc Hà Tiên), một trong những vị thầy có công trong công việc thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên. Trái: hình chụp năm 1968, phải: hình chụp năm  2017. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên và đã trở thành một nhà nghiên cứu về Hà Tiên.

Cuối năm 1956, Hà Tiên trở thành quận thuộc tỉnh Kiên Giang, ngôi trường Trung Học Hà Tiên vẫn như vậy nhưng xem như là trường quận. (1956-1957)

Sang năm 1958 có thầy Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu) về Hà Tiên làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy thầy Trương Minh Đạt bắt đầu thuyên chuyển về Phan Rang. Theo một tài liệu trên face book mà mình tìm ra được thì vào năm 1959, trường Trung Học Hà Tiên có một giáo sư đổi về trường dạy, vị thầy nầy tên là Phạm Công Nhựt và thầy có viết trong một nhận xét trên fb như sau:

« Tôi nhận sự vụ lệnh xuống dạy ở trường Trung Học Hà Tiên tháng 9/1959. Hiệu trưởng lúc đó là Ông Hồ Văn Chiếu, thanh tra tiểu học tạm đảm nhiệm. Trường có 4 lớp, từ đệ thất tới đệ tứ. Ban giáo sư gồm có:
– Ông Bảo – dạy toán
– Ông Viên – dạy văn (tức là thầy Nguyễn Văn Viên)
– Ông Tường – Pháp văn (tức là thầy Võ Thành Tường)
– Ông Nam và Ông Điệp – Anh văn (tức là thầy Nguyễn Xuân Nam và thầy Hồ Quang Điệp)
– Ông Nhựt – Vạn Vật- Nhạc- Thể Dục (tức là thầy Phạm Công Nhựt)
– Ông Hoan- Lý Hoá (tức là thầy Lê Trung Hoan)
– ông Ký – giám thị (tức là thầy Trịnh Học Ký)
Niên khoá sau 1960-1961, ông Doãn Quốc Sỹ xuống đảm nhiệm chức hiệu trưởng trung học Hà Tiên. Ông Hồ Văn Chiếu trở về Ty tiểu học Rạch Giá. Hai năm sau, ông Doãn Quốc Sỹ trở về Sài Gòn, ông Lê Trung Hoan (dạy Lý Hoá) được thay thế. Lúc nầy tất cả các GS lần lượt bị đông viên. Ông Lại Xuân Quất được cử làm hiệu trưởng thay thế ông Lê Trung Hoan »

Thầy Phạm Công Nhựt, hình trái chụp năm 1973 (lúc nầy đã đổi về dạy trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá), hình phải năm 2017, hiên nay thầy Nhựt định cư ở nước Canada.

Như vậy qua tài liệu nầy ta biết được diễn biến của trường Trung Học Hà Tiên qua khoảng thời gian 1959 – 1961. Vì bản thân mình là « hậu bối » nên không được biết trực tiếp thầy Phạm Công Nhựt. Tuy nhiên đối chiếu lại trong bài giới thiệu bạn học cùng trường, phần bài về chị Nguyễn Thị Hoa, thì thấy thầy Phạm Công Nhựt có dạy lớp chị Hoa vào niên khóa Đệ Thất 1961-1962; thầy dạy môn Vạn Vật. Sau khi trải qua hai vị hiệu trưởng: Hà Văn Điền (1956-1958); Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu 1958-1960); theo lời thầy Nhựt viết thì đến giai đoạn thầy hiệu trưởng Doãn Quốc Sỹ (1960-1962), mãi sau nầy người Hà Tiên chúng ta mới biết được là thầy Doãn Quốc Sỹ chẳng những là một nhà mô phạm, mà lại còn là một nhà văn rất nỗi tiếng của nền văn học miền nam, ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 ông cũng từng đi học tập cải tạo, ở tù, sau đó ông đi định cư ở nước Úc và hiện nay ông sống ở nước Mỹ. Đến năm nay 2018, thầy Doãn Quốc Sỹ đã mừng sinh nhật 95 tuổi (Xin thầy cô và các bạn chú ý là tên của thầy viết là Doãn Quốc Sỹ chứ không phải là Sĩ).

Thầy hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên và cũng là nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc trẻ và hiện nay.

Kế đến là thầy hiệu trưởng Lê Trung Hoan (1962-1964); đến đây bắt đầu các vị hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên mà mình được biết đến một cách trực tiếp, đó là thầy Lại Xuân Quất (1964-1966), xin thầy cô và các bạn chú ý, tên của thầy phải viết là Quất chứ không phải « Quấc hay Quốc », vì mình còn dấu mộc tên của thầy đóng trong các sổ học bạ của mình vào thời nầy. Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Lê Trung Hoan và Lại Xuân Quất.

Mộc Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên và tên thầy hiệu trưởng: Lại Xuân Quất (1964-1966)

Thầy Lại Xuân Quất  làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên lúc mình vào lớp đệ thất, niên khóa 1964-1965

Trái: Hiệu trướng Lê Trung Hoan, phải: Hiệu trưởng Lại Xuân Quất

Khoảng cuối năm 1962, có thầy Nguyễn Văn Nén từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Nén là một trong ba vị giáo sư cùng về dạy trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 60. Đó là thầy Nguyễn Văn Hiệp (dạy môn Văn), thầy Nguyễn Trí Thuận (dạy môn Pháp văn), và thầy Nguyễn Văn Nén (dạy môn Toán).  Ba vị thầy nầy rất có ảnh hưởng đến riêng cá nhân mình và của lớp học của mình, vì quý thầy dạy lớp học của mình nhiều năm. Qua các lời phê chuẩn, chấm điểm bài làm của riêng mình và của toàn lớp mình, quý thầy đã tỏ ra có sự chú ý rất thân mật, thường khuyến khích, khen ngợi kết quả học tập của riêng mình và của toàn lớp mình. Mỗi buối tối, các học trò Hà Tiên thường thấy ba vị thầy dùng cơm tối ở quán Xuân Thạnh đường Trần Hầu, Hà Tiên.

Từ lúc 1965, trường Trung Học Hà Tiên đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì một lớp phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng từ năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có hai lớp đệ thất và phân ra lớp Anh văn và lớp Pháp văn, tuy nhiên chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích.

Vào năm 1965 có một phong trào các vị giáo sư trẻ từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là một dịp rất may mắn cho học trò Trung Học Hà Tiên vì lực lượng quý thầy cô nầy rất hùng hậu, trẻ tuổi, đầy tâm huyết và trong sự tiếp xúc, giao thiệp quý thầy rất gần gủi với học sinh. Trong số nầy có thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy môn Lý Hóa), thầy Bùi Hữu Trí (dạy môn Anh văn và Pháp văn), cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy môn Anh văn và Pháp văn), thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa)…v…v…Trong thời gian nầy, một trong những vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất với học trò là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy vừa trẻ tuổi, rất đẹp trai, ăn mặc phong độ, và thường hay tiếp xúc, đi du ngoạn với học trò nên các bạn học cùng trường ai cũng rất quý mến thầy, chính nhờ có khối tư liệu hình ảnh riêng tư mà thầy Ẩn đã chụp rất nhiều trong thời gian dạy học ở Hà Tiên mà chúng ta mới có được những hình ảnh ngôi trường xưa và hình ảnh các đồng nghiệp của thầy, mình sẽ trích đăng vào đây các hình ảnh về ngôi trường mà thầy Ẩn đã còn lưu lại được, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn rất nhiều.

Trong khoảng giữa năm 1966 có một giai đoạn ngắn thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn) giữ quyền hiệu trưởng vì thầy hiệu trưởng đương chức là thầy Lại Xuân Quất thuyên chuyển đi nơi khác. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ lục (1965-1966) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Trí Thuận:

Thầy Nguyễn Trí Thuận quyền hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn ngắn giữa năm 1966

Từ giữa năm 1966 trở về sau, thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa) được cử làm hiệu trưởng chính thức trường Trung Học Hà Tiên, đây là một giai đoạn ổn định và thầy Thành làm hiệu trưởng trong một thời gian khá lâu dài (1966-1973). Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Nguyễn Trí Thuận và Nguyễn Văn Thành. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ ngũ (1966-1967) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Văn Thành:

Thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn khá lâu (1966-1973)

Trái: Hiệu trướng Nguyễn Trí Thuận, phải: Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành

Trong lúc nầy vào ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới. Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung Học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : Nguyễn Nên). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Hiện thầy sống ở nước Mỹ. Chính thầy Nguyễn Văn Nén đã cung cấp cho chúng ta một số ảnh hiếm và quý về quý vị giáo sư trong những năm đầu thập niên 1960, xin cám ơn thầy rất nhiều.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Nén, hình trái chụp vào năm 1965, hình phải chụp vào năm 2016

Sau đây là một số hình ảnh về quý thầy cô đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu khi trường mới được thành lập.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. 1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)

1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)

1/ Thầy Doãn Quốc Sỹ, 2/ Thầy Trần Văn Hương, 3/ Thầy Trương Minh Hiển, 4/ Thầy Hồ Quang Điệp, 5/ Thầy Phạm Công Nhựt, 6/ Thầy Lê Trung Hoan, 7/ Cô Quỳnh, 8/ Thầy Nguyễn Xuân Nam, 9/ Thầy Nguyễn Như Bảo, 10/ Thầy Lê Văn Triệu, 11/ Ông Nguyễn Văn Thân, 12/ Thầy Võ Thành Tài, A/ Anh Phan Đình Khải (con trai của bác Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà Tiên ngày xưa), B/ Anh Trần Tuấn Hùng (con trai của bác Trần Thiêm Trung tức Ông Phán Trung, anh Hùng là anh của Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang)

Thầy Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), hình trái chụp năm 1962, hình phải chụp năm 2018. Hiện thầy Võ Thành Tường đinh cư tại nước Mỹ.

Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (giám thị), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Thành (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (thư ký) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước cổng chánh trường Trung học Hà Tiên năm 1968. Bổ túc thêm là vào những năm 1960, trường Trung Học Hà Tiên có hai nhân viên bảo vệ tên là Bác Ngọ và Chú Tỹ.

Thầy Trương Minh Hiển (người gốc Hà Tiên, anh song sinh với thầy Trương Minh Đạt), dạy môn Quốc văn trong những năm 1960-1970. Hình phải thầy Trương Minh Hiển chụp vào năm 1997 tại Hà Tiên. Thầy mất năm 2005.

Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

Bên trái: Cô Hà Thị Hồng Loan, giữa: cô Nguyễn Minh Nguyệt, phải: cô Vương Thị Lành, đang dự tiệc cuối năm (bánh tây và nước ngọt). Sau lưng cô là một bạn học sinh không biết tên, các bạn cố gắng nhận dạng là ai nhé. (Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Bên trái: có thể là thầy Nguyễn Tấn Ngoan, giữa; cô Hà Thị Hồng Loan, phải: cô Trần Diệu Hiền (văn phòng Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Cô Hà Thị Hồng Loan (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. Hình phải, cô Hồng Loan hiện nay sinh sống tại Hóc Môn ngoại ô Sài Gòn.

Cô Vương Thị Lành (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. cô Lành cũng có một thời gian ngắn làm xử lý thường vụ chức Hiệu Trưởng thế cho thầy Nguyễn Văn Thành.  Hình phải, cô Vương Thị Lành (2017) hiện nay cô định cư ở nước Mỹ.

Niên khóa 1965-1966, từ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), Thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Thầy Phùng Tuấn Sinh (Triết học, Công Dân)

Từ trái sang phải: Đại Úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Vật Lý). Hình chụp trong những năm 1965-1966 tai sân quần vợt đường Mạc Công Du, Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa từ năm 1965. Hình phải (2018): hiên nay thầy Nguyễn Hồng Ẩn định cư ở nước Mỹ, thầy đang chào quý thầy cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên đó các bạn…

Thầy Phan Văn Xuân (dạy lớp mình môn Toán trong những năm 1960-1970). Thầy Xuân là người gốc gác Hà Tiên, thầy là vai cậu của các bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên. Hiện thầy Xuân vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Trái: Ảnh chụp lúc thầy còn đi học; phải: ảnh chụp lúc thầy về nghỉ hưu ở Hà Tiên 2017

Đặc biệt trong thập niên 1960-1970, trường Trung Học Hà Tiên có được hai thầy cô dạy môn Sinh Ngữ (Pháp văn và Anh văn) rất nhiệt tình và rất yêu mến học trò. Đó là thầy Bùi Hữu Trí và phu nhân của thầy là cô Nguyễn Minh Nguyệt. Thầy cô trong sinh hoạt giảng dạy, văn nghệ, thể thao rất thân cận với học trò, nhất là cô Minh Nguyệt, cô có rất nhiều học trò « thân yêu », vì các bạn đó học giỏi môn của cô dạy (Pháp văn). Sự có mặt của thầy cô Trí và Nguyệt ở Hà Tiên làm cho giới trẻ học trò rất yêu thích và luôn ngưởng mộ thầy cô. Thầy Trí ngoài giờ dạy còn tổ chức lớp dạy võ Karaté, lấy phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba làm võ đường thực tập, mình cũng có tham dự học lớp võ thuật Karaté của thầy Trí. Còn cô Nguyệt thì tươi trẻ, ăn mặc rất đẹp và tân tiến, đem sắc thái « à la mode » của thủ đô Sài Gòn về Hà Tiên…Một số bạn học giao thiệp rất thân với thầy cô như: Lý Cảnh Tiên, Lý Mạnh Thường, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nhan Hồng Hà, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…(phần lớn là các bạn chơi nhạc và tập võ thuật…). Chúng ta không có tin tức về thầy cô hiện nay, chỉ biết là thầy cô đã định cư ở nước Mỹ.

Thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt, thầy cô dạy môn Pháp văn và Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong thập niên 1960-1970

Cô Tiền Ngọc Thanh (người gốc Hà Tiên, dạy môn Vạn Vật trong những năm giữa thập niên 60). Hình phải: 2018, hiện nay cô Tiền Ngọc Thanh đinh cư tại nước Mỹ. (cô luôn giữ được nết đẹp quý phái)

Trong những năm cuối thập niên 60, có một đợt các vị giáo sư trẻ đổi về Hà Tiên dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là quý thầy: Nguyễn Phúc Hậu (dạy môn Pháp văn), thầy Nguyễn Tấn Ngoan (dạy môn Toán), thầy Bùi Văn Cầm (dạy môn Vạn Vật), Nguyễn Văn Út (dạy môn Sử Địa), thầy Nguyễn Thanh Liêm (dạy môn Toán), thầy Phan Văn Chiếu (dạy môn Công Dân Giáo Dục)… Thầy Nguyễn Phúc Hậu hiện nay định cư ở nước Canada, thầy Nguyễn Tấn Ngoan thì học sinh không có tin tức, thầy Bùi Văn Cầm sau khi về quê Qui Nhơn sinh sống, có lúc vào năm 1986 bạn Trương Thanh Hùng có gặp thầy tại Qui Nhơn nhưng sau đó thì không được tin tức của thầy nữa. Chúng ta cũng không có tin của thầy Nguyễn Văn Út, nghe nói thầy đã mất lâu rồi, Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy lớp mình môn Toán, thầy Liêm rất gần gủi học trò, sau một hai năm dạy học ở Hà Tiên, thầy đã chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thầy chính là phu quân của chị Nguyễn Thị Hoa học trò kỳ cựu Hà Tiên, thầy Liêm sau khi trở về quê thì bệnh và qua đời tại quê Thốt Nốt (2013). Thầy Phan Văn CHiếu cũng đã qua đời tại nước Pháp.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu vào năm 1970, hình phải: thầy Hậu hiện định cư ở nước Canada.

Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy toán những năm 1969-1972; hình phải: thầy Liêm đổi về quê Thốt Nốt và qua đời vào năm 2013

Trong những năm đầu của thập niên 1970, có thêm một đợt quý cô đổi về trường Trung Học Hà Tiên, đó là cô Võ Kim Loan (dạy môn Quốc văn), cô Nguyễn Ngọc Oanh (dạy môn Lý Hóa) và cô Dương Thị Minh Hoa (dạy môn Vạn Vật). Cô Kim Loan hiện định cư ở nước Mỹ, chúng ta không có tin tức của cô Ngọc Oanh, cô Minh Hoa hiện định cư ở nước Mỹ. Vì mình đã rời trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu vào niên khóa 1970-1971 nên mình không được dịp hân hạnh tiếp xúc với quý cô, chỉ sau khi có Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì được bạn học giới thiệu với quý cô và vẫn giữ liên lạc với quý cô.

Cô giáo sư trẻ đẹp Võ Kim Loan (1970), hình phải (2018): hiện cô Vó Kim Loan định cư ở nước Mỹ.

Cô giáo sư tươi trẻ ngày xưa Duong Thị Minh Hoa (1970); hình phải (2017): Cô Minh Hoa hiện định cư tại nước Mỹ

Hình trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (1970), hiện nay ta không có tin tức về cô; hình phải (1970) thầy Phan Văn Chiếu, thầy qua đời bên nước Pháp

Bên trái: thầy Hứa Văn Vàng, dạy học và đồng thời là giám thị, bên phải: cô Trần Diệu Hiền, thư ký văn phòng và cũng là giám thị trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70. Thầy Vàng và cô Hiền đều đã qua đời tại Hà Tiên

Đồng thời trong thời gian nầy, những năm đầu của thập niên 1970, có thầy Huỳnh Văn Xền, người gốc gác Hà Tiên, nhà thầy ở đường Tô Châu, thầy Huỳnh Văn Xền dạy một thời gian tại trường Trung Học Hà Tiên. Hiên nay thầy Huỳnh Văn Xền định cư ở nước Pháp.

Thầy Huỳnh Văn Xền dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên vào những năm đầu thập niên 1970.

Thầy Lê Quang Khải dạy môn Anh văn, Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1970 trở đi, thầy Khải là người gốc Hà Tiên, em của thầy Lê Quang Thuyên và anh của thầy Lê Quang Khanh, thầy Khanh ngày xưa dạy mình ở bậc Tiểu Học Hà Tiên. Ba anh em thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khải và Lê Quang Khanh dều là con của nhà giáo, nhà thơ lão thành Lê Quang Phấn (hiệu là Bach Như), một trong những người Hà Tiên tiếp nối truyền thống Chiêu Anh Các (Mạc Thiên Tích). Chính nhà thơ Bạch Như là tác giả của hai câu đối chưng trong phòng tiền vãng trường Tiểu Học Hà Tiên.

« Hạnh đàn vắng vẻ chạnh tiền nhân soi tỏ đuốc quan hoài

Mộc đạc vang lừng giục hậu tấn bước lên đài tiến hóa ».

Thầy Lê Quang Khải, người gốc Hà Tiên, dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thập niên 70, hiện thầy định cư ở nước Mỹ

Vào niên khóa 1973-1974 có một thầy tên Khải nữa về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là thầy Phạm Văn Khải, thầy Khải dạy môn Anh văn. Xin mở ngoặc ở đây là vì trường có hai thầy cùng tên Khải nên học trò thường đặt tên phụ cho mỗi thầy một biệt danh để phân biệt: thầy Lê Quang Khải có râu rất oai phong học trò gọi là thầy « Khải râu », còn thầy Phạm Văn Khải không để râu, học trò gọi là thầy « Khải trụi »,….đó cũng là tính lý lắc của mấy bạn học trò ngày xưa, mong quý thầy thông cảm tha thứ cho nhé,…

Gần cuối nhiệm kỳ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành, khoảng từ năm 1973 trở đi, trường Trung Học Hà Tiên lại có thêm một cô thư ký nữa, đó là cô Lê Thị Tám, không phải ai xa lạ, cô Tám chính là người em gái ruột của bạn Lê Công Hưởng (Hưởng là bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Cô Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Hiện cô Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên.

Cô Lê Thị Tám, ngày xưa là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên và sau đó là thư ký của Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1973.

Trong khoảng thời gian 1973-1975 có cô Trương Thị Bạch Cúc người gốc Rạch Giá, về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Văn, sau đó cô Bạch Cúc chuyển về dạy tại Kiên Lương. Hiên nay cô Trương Thị Bạch Cúc định cư ở nước Canada.

Thầy Lâm Hữu Quyền, người gốc gác Hà Tiên, và cũng là một học sinh của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, là bạn học cùng lớp với các bạn Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v…Bạn Quyền học trên mình một lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Lâm Hữu Quyền về dạy môn Toán tại quê nhà, trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Lâm Hữu Quyền sau nầy làm hiệu trưởng trường cơ sở Đông Hồ Hà Tiên và hiện nay thầy về nghỉ hưu, vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Thầy Lâm Hữu Quyền dạy môn Toán trường Trung Học Hà Tiên. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Từ nhỏ đến lớn mình vẫn luôn theo học tại hai ngôi trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, đến niên khóa 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên vẫn chưa có lớp đệ nhất (lớp 12) nên niên khóa nầy mình chuyển sang theo học ở trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, vì thế sự hiểu biết về tình hình giảng dạy, đội ngũ thầy cô giáo sư, hiệu trưởng của trường Trung Học Hà Tiên đối với mình trở nên thiếu sót và thông tin hơi khá phức tạp.Tuy nhiên theo sự đóng góp của thầy cô và các bạn có liên hệ đến ngôi trường Trung Học Hà Tiên, có thể tóm tắt tình hình tiếp tục như sau tuy vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Sau khi chuyển giao ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho ban quản lý mới vào tháng 05 năm 1975, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1977. Trong thời gian nầy có cô Lâm Ngọc Mai vốn là một học sinh gốc gác Hà Tiên, đã từng theo học tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nầy từ xưa, và cô đã thành tài trở về dạy học tại ngôi trường nầy từ những năm 1969, 1970. Khi trường do ban quản lý mới điều hành sau tháng 05 năm 1975, cô Lâm Ngọc Mai được cử làm hiệu trưởng trong khoảng thời gian 1975-1976. Sau đó cô Lâm Ngọc Mai chuyển về Rạch Giá làm việc và hiện nay cô về nghỉ hưu tại Sài Gòn. Khoảng năm 1975 có thầy Nguyễn Văn Hợi dạy môn Sinh Vật.

Cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai, trái: hình chụp trong những năm 60, phải: hình chụp hiện nay 2018

Qua niên khóa 1976-1977 có thầy tên Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Dưới đây là hai mẫu học bạ có chữ ký tên của cô Lâm Ngọc Mai và thầy Lê Thanh Chương. Đến đây nếu thầy cô và các bạn chú ý sẽ thấy tên gọi chánh thức của trường Trung Học Hà Tiên đã thay đổi, trong dấu mộc đóng bên cạnh tên của hiệu trưởng, ta thấy có đề tên: Trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên, tuy nhiên dưới chữ « Phổ Thông » trong dấu mộc đóng, ta không nhìn rỏ ra được các chữ tiếp theo là chữ gì, chỉ đọc được chữ « cấp » sau đó nét mực đỏ hơi bị nhòa nên không rỏ là 3 (cấp 3) hay là 2 và 3 (cấp 2 và 3) !!

Hình trái: Chữ ký tên của cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai (1976), hình phải: chữ ký tên của thầy hiệu trưởng Lê Thanh Chương (1977)

Thầy Trần Đại Thắng là học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa (con trai của thầy hiệu trưởng trường Tiểu học Hà Tiên Trần Văn Hương), học chung lớp với các đàn anh đàn chị như Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim, Trần Hồng Khanh,..Sau khi thành tài, thầy Trần Đại Thắng trở về Hà Tiên làm hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc (trường xây tại chân núi Địa Tạng gần Thach Động). Sau 1975 thầy Trần Đại Thắng về dạy môn Sinh Vật trường Trung Học Hà Tiên và tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu. Bạn Thắng cũng có lúc (1973-1975) thường đi chơi chung với mình và một người bạn nữa là La Tấn Lực. Bạn Thắng mất vì bệnh vào ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (Âm lịch) nhằm ngày 11/10/2018 dương lịch. Thầy Trần Đại Thắng an nghỉ tại đất nhà tại núi Đề Liêm (núi Phù Dung) ngày mùng 6 tháng 9 Mậu Tuất, nhằm ngày 14/10/2018.

Hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc Hà Tiên và cũng là thầy dạy Trung Học Hà Tiên: thầy Trần Đại Thắng (hình chụp trong những năm gần đây)

Vào niên khóa 1976, một người bạn thân thiết từ sáu năm trong bậc Trung Học Hà Tiên, học chung lớp với mình là bạn Lý Mạnh Thường, sau một thời gian theo học ngành « Thương Mại Ngân Hàng » ở Long Xuyên, bạn Mạnh Thường trở về quê nhà Hà Tiên và theo ngành giáo, vào dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Mạnh Thường ngoài môn chánh là Anh văn, thầy còn phụ trách văn nghệ cho trường và có dạy thêm các môn ca, vũ, múa,…cho các em học sinh. Thầy Mạnh Thường rất được sự quý mến của các em học sinh trường Trung Học Hà Tiên. Sau một thời gian nghỉ dạy về hưu ngay tại căn nhà xưa ở đường Mạc Công Du, thầy Mạnh Thường lâm bệnh và từ trần vào năm 2013. (trước đó vào tháng 6 năm 2012, nhân một chuyến về thăm quê Hà Tiên mình và bạn Trương Thái Minh có đến thăm bạn Mạnh Thường).

Thầy Lý Mạnh Thường dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên từ năm 1976

Một trong những học trò của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Nguyễn Thúy Vân, người gốc Hà Tiên, bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn,…v…v….cũng vào ngành giáo và dạy học môn Văn tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm (từ năm 1974). Cô giáo Nguyễn Thúy Vân hiện nay đã về hưu và hiện vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thúy Vân dạy môn Văn trường Trung Học Hà Tiên; bên phải (2017) hiện cô Nguyễn Thúy Vân sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Trong khoảng thời gian 1977 – 1981, ngôi trường Phổ Thông Hà Tiên lâm vào tình trạng bị bỏ hoang phế vì dân Hà Tiên đã di tản chạy giặc miền biên giới Khmer đỏ. Học sinh ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông Hà Tiên để tránh tầm pháo. Trường Phổ Thông Hà Tiên lúc đó gồm có cấp 2 và cấp 3 và có tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, vì tình hình thực tế nên phải tách ra thành 2 bộ phận: Học trò cấp hai (từ lớp 6 đến lớp 9) thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba (từ lớp 10 đến lớp 12) thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng …(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính thầy trò học sinh dọn trường nầy trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên (của địa điểm Mạc Tử Hoàng).

Đến đây thì tình hình trở thành khá phức tạp, vì nếu tiếp tục viết theo quá trình trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên thì như trên đã viết, trường nầy đã sát nhập vào trường cấp hai của xả Thuận Yên. Lúc nầy thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cơ sở xã Thuận Yên nên tất cả học bạ của học sinh cấp 2 trường Hà Tiên đều do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, thầy Lâm Hữu Quyền làm hiệu phó cấp 2. Dưới đây là một phần trang học bạ của một học sinh cấp 2 trường Phổ Thông Hà Tiên do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, chú ý trong dấu đóng mộc, tên trường là Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên. Bắt đầu qua niên khóa 1979-1980, tình hình chiến tranh Tây Nam hơi yên ổn, thầy Hứa Nhất Tâm trở về Hà Tiên xây dựng, sửa sang lại trường lớp và năm sau thầy Tâm trở thành hiệu trưởng trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên. Cũng xin nói thêm là năm học 1977-1978 cũng chính là một năm học rất đau buồn đối với học trò cấp 2 trường Phổ Thông Cơ Sở Hà Tiên vì chẳng những phải lìa xa ngôi trường ở Hà Tiên mà lại còn chứng kiến giai đoạn bi thảm của một gia đình thầy cô đang dạy học trong thời kỳ chiến tranh nầy: đó là cái chết của cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy cấp 2 môn Sinh Vật) vì bị trúng đạn pháo kích của quân Khmer đỏ, người con của cô cũng bị chết , chồng của cô là thầy Trương Tự Cường (dạy cấp 2 môn Toán) cũng bị thương tích nhưng thoát chết. Sau đó người ta đưa cả gia đình thầy về Sài Gòn, kẻ sống người chết thật đau buồn, từ đó đến nay học sinh Hà Tiên không có tin tức của thầy Cường.

Thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên, cũng quyền hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 2 Hà Tiên. (1977-1979)

Mặt khác nếu viết theo quá trình của trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên thì như trên đã viết, từ niên khóa 1977-1978, trường di tản về Kiên Lương, lớp học dàn dựng tạm trên những chiếc lán trại, nhà lá, trong thời gian nầy thầy Lê Thanh Chương vẫn tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 1979. Đến từ niên học 1979-1980 thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn toán cấp 3 làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 (trường của Hà Tiên nhưng tạm di tản xuống ở Kiên Lương). Mình không có dịp biết thầy Nguyễn Văn Hùng, nhưng theo học trò Hà Tiên thì thầy Hùng rất dể mến, hiền hậu và rất được học trò kính mến. Thầy Nguyễn Văn Hùng đã từng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên ngay từ năm 1974. Thầy Hùng, người gốc Gò Công, khi giặc Khmer đỏ pháo kích Hà Tiên, thầy Hùng bị thương. Sau này thầy Hùng làm hiệu trưởng rồi được điều sang làm trưởng phòng giáo dục Hà Tiên. Thầy Hùng đã mất vì bệnh vào năm 2015 tại quê nhà Củ Chi ngoại ô Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Văn Hùng từng làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên trong những năm trường di tản xuống Kiên Lương. (Hình thầy về nghỉ hưu ở quê nhà Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn)

Cùng một đợt về trường Hà Tiên với thầy Nguyễn văn Hùng năm 1974, có thầy Trương Minh Tùng dạy môn Lý Hóa, sau đó thầy Trương Minh Tùng kết hôn với chị Trần Diệu Châu, em của cô Trần Diệu Hiền và là con của thầy Trần Hòa Hùng (thầy Hùng là hiệu trưởng một thời của trường Tiểu Học Hà Tiên). Hiện không biết thầy Trương Minh Tùng ở nơi nào.

Cô Trần Thị Mộng Hoàng dạy Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên khoảng những năm 1977 trở đi. Theo lời học trò kể lại (Nguyễn Hữu Tâm): « Cô rất đẹp và rất tây với cặp mắt kính gọng to. Thời trung học cô là nữ sinh trường Marie Curie. Cô hát nhạc Pháp rất hay và chuẩn… Những năm gian khổ nhất của cấp 3 Trung học Hà Tiên là phải đi lao động cực nhọc ở những công trường đắp đập đào kinh, cô luôn theo sát với các học sinh đặc biệt là lớp tụi em.Cô hát bất cứ lúc nào tụi em yêu cầu để quên đi cái cực nhọc về thể xác…rất mong muốn được biết tin của cô đó các bạn ».

Trước lúc nầy có cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên lúc trường còn ở điểm Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, sau khi về tạm ở điểm Kiên Lương, cô Huệ Vinh vẫn tiếp tục dạy hết các niên khóa ở đây. Hiên nay cô Dương Huệ Vinh định cư ở nước Canada. Thầy Phương người gốc Rạch Giá dạy môn Toán từ năm 1977.

Cô Dương Huệ Vinh lúc còn học sinh Trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá

Cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1977-1978, Cô Huệ Vinh hiện định cư ở nước Canada.

Trong giai đoạn Trường Trung Học Hà Tiên dời về Kiên Lương, có quý thầy: Thầy Mai, người Thái Bình (không nhớ dạy môn gì), thầy Phan Văn Báo về dạy ngay niên khóa 1980-1981, thầy Phan Văn Thế dạy môn Vật Lý, sau nầy thầy Thế trở thành hiệu trưởng trường Kiên Lương nhiều năm và hiện nay thầy Thế đã về nghỉ hưu. Năm học nầy cũng có một thầy dạy Thể Dục về trường dạy thầy tên Linh, rất đẹp trai, thân hình cân đối như vận động viên quốc tế…, kế đến có thầy Quang người Cần Thơ về trường dạy môn Sinh Vật, thầy Nguyễn Văn Em dạy môn Văn, theo học trò nhận xét, thầy Nguyễn Văn Em dạy rất hay, thầy lại có tài chơi đàn và hát rất giỏi, thầy thường hát bài « Chiều trên phá Tam Giang »…! Năm nầy có thầy Lê Văn Trợ người Sài Gòn về trường dạy môn Địa Lý, thầy Trợ có một thói quen là thức dậy rất đúng giờ và tập thể dục không bỏ ngày nào. Đặc biệt là thời gian nầy có cô Trần Ngọc Cầm, người gốc Hà Tiên, chính là em gái của thầy Trần Đại Thắng, cô Trần Ngọc Cầm dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học Hà Tiên giai đoạn dời xuống Kiên Lương.

Từ trái qua phải: thầy Phan Văn Thế, thầy Lê Văn Trợ, thầy Nguyễn Văn Em và thầy Trương Minh Quang Nguyên, quý thầy gặp nhau tại Cần Thơ 09/2018

Đến niên học 1981- 1982 thầy trò Trung Học Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên dọn trường lớp bàn ghế chuyển về quê nhà Hà Tiên thì ôi thôi!… ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa (địa điểm Mạc Tử Hoàng) đến bây giờ là một ngôi trường hoang cỏ ngập lút đầu, lau sậy um tùm, phòng học chỉ còn bốn bức tường không nóc không cửa vì bị dỡ trộm, lò sát sanh kể bên chất hàng núi xương trâu bò trong khuông viên trường và trong nhà vệ sinh, đầu lâu trâu bò và sừng trâu bò nhiều vô kể. Trong phòng học thì tất cả những bệ cửa sổ là…phân người chất đống vì người ta ngồi trên đó mà phóng uế xuống, họ xem đó là nhà vệ sinh tự nhiên vì cây cỏ trùm kín…Năm nầy trường bắt đầu hồi sinh sau cuộc chiến tranh biên giới, trường tạm thời chỉ có lớp 10 và 11, không có lớp 12. Đến năm sau 1983 trường mở thêm lớp 12 (mặc dầu trước khi trở về Hà Tiên trường đã có lớp 12 rồi). Thầy Nguyễn Văn Hùng vẫn còn làm hiệu trưởng của trường trong thời gian nầy cho đến năm 1985.

Trong thời gian nầy có Thầy Xuân Sơn dạy môn Văn, thầy Nguyễn Văn Tộ, người rất hiền và đạo đức, có thầy Hưng dạy môn Vật Lý, thầy Hưng người rất vui vẻ tiếu lâm, hiện thầy Hưng vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên. Cô Điệp, nhà đối diện với hãng nước đá Cữu Long cũng có dạy trường Trung Học Hà Tiên trong thời gian trở lại Hà Tiên.

Trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1989 thì mình bị mất thông tin, không biết thời gian nầy ngôi trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 3 (tên là Cấp 3 vì từ khi hết di tản ở Kiên Lương và trở về Hà Tiên thì trường bắt đầu sinh hoạt trở lại và chỉ có 3 cấp lớp 10, 11 và 12). Thời gian nầy không biết thầy cô nào làm hiệu trưởng, bạn nào có thông tin và hình ảnh thì rất quý, xin bổ túc cho bài chúng ta được đầy đủ, xin cám ơn.

Trong khoảng những năm 1989-1991, có thầy Bùi Đăng Trường làm quyền hiệu trưởng trường Phô Thông Cơ Sở Cấp 3 Hà Tiên và có thầy Trịnh Phú về trường dạy môn Toán (hiện tại 2018 thầy Trịnh Phú làm hiệu trưởng Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, Hà Tiên) . Thời gian nầy có một người thầy gốc gác Hà Tiên và cũng là con trai của thầy Trương Minh Đạt ra trường về dạy học ngay tại ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên nầy. Đó là thầy Trương Minh Quang Nguyên, dạy môn Hóa Học. Chính thầy Quang Nguyên đã cung cấp cho mình một số tư liệu quý giá về ngôi trường Hà Tiên trong khoảng thời gian sau năm 1975, xin cám ơn bạn Quang Nguyên nhé. Đồng thời có thầy Huỳnh Kim Lợi, cũng người gốc Hà Tiên, dạy môn Thể Dục từ năm 1990. Cùng thời gian có thầy Nguyễn Văn Tường dạy môn Toán trường Trung Học  Hà Tiên, hiện nay thầy Nguyễn Văn Tường vẫn còn trong ngành giáo dục tại Sài Gòn. Có thầy Hồ Văn Hải người Quãng Nam về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Vật Lý. Về thầy hiệu trưởng trong thời gian nầy là thầy Bùi Đăng Trường thì mình không có dịp quen biết và cũng không biết chính xác là thầy Trường đã làm hiệu trưởng trong bao nhiêu năm. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hình trái: Thầy Trương Minh Quang Nguyên người gốc Hà Tiên, dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên trong những năm 1989-1991. Hiện nay thầy Quang Nguyên đã chuyển ngành, lập công ty kinh doanh ở Sài Gòn. Hình phải: Thầy Hồ Văn Hải, dạy môn Vật Lý trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên.

Kế đó thì lại có thêm một thầy cũng gốc người Hà Tiên là thầy Trương Minh Nhật Quang, anh của thầy Trương Minh Quang Nguyên, cũng về dạy tại quê nhà trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên, thầy Nhật Quang dạy môn Vật Lý, Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy đến năm 1992 thì ngưng dạy và sau một thời gian khó khăn vì cuộc sống, thầy đã học thêm về môn Công Nghệ Tin Học và đi vào công việc nghiên cứu và đã có công trình phát triển rất nhiều về phần mềm chống virus rất nỗi tiếng khắp cả nước (phần mềm D2 năm 1992 và phần mềm D32 năm 2001). Hiên nay thầy Trương Minh Nhật Quang làm việc tại thành phố Cần Thơ với học vị Tiến Sĩ và với chức vụ Phó Hiệu Trưởng trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ.

Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên trong những năm 1989-1992, hiện nay thầy làm Phó Hiệu Trưởng trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ

Trong thời gian nầy có nhiều thầy cô về trường Trung Học Hà Tiên dạy nữa, mình chưa có thông tin chính xác, chỉ biết có thầy An người Hà Tiên (con Cô Lắc). Từ niên khóa 1993 đến năm 2000, lại có thêm cô Trương Thị Uyên Nguyên người gốc Hà Tiên, chính là em gái của hai thầy Trương Minh Nhật Quang và Trương Minh Quang Nguyên (và đều là con của nhà nghiên cứu, thầy Trương Minh Đạt), cô Uyên Nguyên dạy môn Toán trong các lớp 10,11 và 12 tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên quê nhà đường Mạc Tử Hoàng. Sau nầy khi trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến thành lập tại điểm đường tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài thì cô Trương Thị Uyên Nguyên chuyển vào tiếp tục dạy học tại đây. Thầy Phan Hoàng Long, dạy môn Toán nhiều năm (1993-2000), thầy Phan Hoàng Long chính là phu quân của cô Trương Thị Uyên Nguyên.

Cô giáo trẻ duyên dáng Trương Thị Uyên Nguyên dạy môn Toán tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng từ năm 1993, sau đó từ năm 2000 cô Uyên Nguyên chuyển dạy tại trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, điểm tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài.

Thầy Phan Hoàng Long và cô Trương Thị Uyên Nguyên (2018)

Cho đến năm 2000 thì đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sữ của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích !! Từ năm 2000 trở đi, trường Phổ Thông Cơ Sở Cấp 3 được dời ra một ngôi trường mới cất trên đường ra Mũi Nai, tỉnh lộ 28, thuộc phường Pháo Đài và được đặt tên chánh thức là Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên. với vị hiệu trưởng có rất nhiều công trong công cuộc lập ngôi trường mới nầy, đó là thầy Phan Văn Báu, về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Phổ Thông NguyễnThần Hiến và có đặt tượng chí sĩ, nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ người gốc gác Hà Tiên. Riêng về bản thân ngôi trường thân yêu đầy kỷ niệm tại góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích thì được đổi tên là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 (và có ghi địa chỉ là số 3 đường Mạc Tử Hoàng và thuộc phường Đông Hồ).

Như vậy trong một quá trình lâu dài từ lúc mới thành lập 1956 cho đến năm 2000, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở đường Mạc Tử Hoàng được phân các lớp như sau:

Địa điểm đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1956-1962 (?): đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ.

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1963-1972: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam và đệ nhị (xong lớp đệ nhị phải đi thi tú tài 1 ở Long Xuyên)

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1973-1976 : lớp 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12

Địa điểm Kiên Lương, 1977-1980: lớp 10, 11 và 12

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1981-1982: lớp 8, 9, 10 và 11

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1983-2000: lớp 10,11 và 12

Về tên gọi chánh thức của trường thì như sau:

a/ Trước năm 1975, tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên (gồm hai cấp: Trung Học đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) và trung học đệ nhị cấp ‘lớp 10 đến lớp 12)

b/ 1975 – 1976: tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên cấp II – III 

c/ Từ năm 1977 trở đi, có sự thay đổi là sát nhập hai cấp I và II thành trường phổ thông cơ sở, còn cấp III thành trường cấp III.

Tổng kết về đội ngũ hiệu trưởng, giáo sư, thầy cô, nhân viên văn phòng, bảo vệ của trường Trung Học Hà Tiên từ lúc thành lập (1956) đến năm 2000 (tại địa điểm đường Mạc Tử Hoàng và một giai đoạn ngắn tai địa điểm Kiên Lương):

Danh sách quý thầy (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Trương Minh Đạt (Toán, Lý Hóa), Hà Văn Điền (Thanh Tra, Hiệu Trưởng), Hồ Văn Chiếu (Thanh Tra Hiệu Trưởng), Doãn Quốc Sỹ (Hiệu Trưởng, Văn), Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), Võ Thành Tài (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn), Lê Văn Triệu (Toán), thầy Vũ Quang Vinh (Văn), Nguyễn Văn Nén (Hiệu Trưởng, Toán), Nguyễn Xuân Nam (Anh văn), Phạm Công Nhựt (Vạn Vật), Nguyễn Văn Viên (Thể Dục), Tạ Duy Phong (Lý Hóa), Lê Văn Quang (Sử Địa), Đỗ Huỳnh Có (Sử Địa), Hồ Quang Điệp (Anh văn), Nguyễn Văn Thân (Thư ký), Nguyễn Văn Hiệp (Văn), Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), Nguyễn Đức Sơn (Văn), Trịnh Học Ký (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Trí Thuận (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Đinh Văn Giáp (Sử Địa), Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Phùng Tuấn Sinh (Triết, Anh văn), Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Trần Đức Sinh (Âm Nhạc), Phan Văn Xuân (Toán), Trương Minh Hiển (Văn), Hứa Văn Vàng (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Tấn Ngoan (Anh văn), Nguyễn Văn Út (Sử Địa), Bùi Văn Cầm (Sử Địa), Phan Văn Chiếu (Công Dân Giáo Dục), Nguyễn Phúc Hậu (Pháp văn), Đỗ Văn Trợ (Lý Hóa), Nguyễn Văn Thái, Đỗ Tấn Sĩ (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Long Hồ (Sinh Vật), Nguyễn Hùng Dũng (Vật Lý), Trần Phình Chu, Thầy Phương (Toán), Huỳnh Văn Xền (Anh văn), Nguyễn Văn Thuận (Văn), Nguyễn Văn Hài (Sử Địa), Lê Quang Khải (Anh văn), Phạm Văn Khải (Anh văn), Nguyễn Văn Hùng (Hiệu Trưởng, Toán), Trần Đại Thắng (Hiệu Trưởng, Sinh Vật), Trương Minh Tùng (Lý Hóa), Lê Thanh Chương (Hiệu Trưởng), Nguyễn Trí Dũng (Toán), Lê Phước Lộc (Thể Dục), Trần Văn Thinh (Hóa Học), Nguyễn Văn Hợi (Sinh Vật), Nguyễn Văn Tiêu (Sinh Vật), Bùi Đăng Trường (Hiệu Trưởng, Văn), Huỳnh Kim Lợi (Thể Dục), Uông Văn Đính (Văn), Trương Tự Cường (Toán), Lâm Hữu Quyền (Hiệu Trưởng, Toán), Lý Mạnh Thường (Anh văn, Nhạc, Múa), Trương Minh Quang Nguyên (Hóa Học), Thầy Mai, Phan Văn Thế (Vật Lý), Phan Văn Báo (Hiệu Trưởng), Thầy Linh (Thể Dục), Thầy Quang (Sinh Vật), Nguyễn Văn Em (Văn), Lê Văn Trợ (Địa Lý), Thầy Xuân Sơn (Văn), Nguyễn Văn Tộ, Thầy Hưng (Vật Lý), Trịnh Phú (Toán), Nguyễn Văn Tường (Toán), Hồ Văn Hải (Vật Lý), Phan Hoàng Long (Toán), Thầy An, ….

Danh sách quý cô (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Lý Ngọc Mai (Nữ Công), Phạm Thị Huỳnh (Vẽ), Nguyễn Minh Nguyệt (Anh văn, Pháp văn), Hà Thị Hồng Loan (Toán, Văn), Vương Thị Lành (Văn), Tiền Ngọc Thanh (Vạn Vật), Nguyễn Ngọc Oanh (Lý Hóa), Trần Diệu Hiền (Thư Ký, Giám Thị), Dương Thị Minh Hoa (Vạn Vật), Lâm Ngọc Mai (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Võ Kim Loan (Văn), Nguyễn Kim Định (Văn), Nguyễn Thị Rớt (Văn), Nguyễn Thị Sồ (Sử Địa), Trần Kim Phấn (Giám Thị), Phan Thị Tuyết Mai (Sinh Vật), Vũ Thị Thêm (Toán), Ngô Thị Tuyết Dung (Văn), Ngô Thị Bình (Anh văn), Nguyễn Thúy Vân (Văn), Dương Huệ Vinh (Hóa Học), Nguyễn Thị Minh Châu (Pháp văn), Trần Thị Mộng Hoàng (Pháp văn), Nguyễn Thị Nhụy (Sử Địa), Trương Thị Bạch Cúc (Văn), Trần Ngọc Cầm (Hóa Học), Cô Điệp, Trương Thị Uyên Nguyên (Toán)… ….

Quý thầy cô gốc người Hà Tiên và đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên:
Hà Văn Điền, Trương Minh Đạt, Trương Minh Hiển, Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Phan Văn Xuân, Tiền Ngọc Thanh, Hứa Văn Vàng, Trần Diệu Hiền, Lâm Ngọc Mai, Lê Quang Khải, Trần Phình Chu, Huỳnh Văn Xền, Trần Đại Thắng, Nguyễn Thúy Vân, Nguyễn Thị Sồ, Lâm Hữu Quyền, Lý Mạnh Thường, Trương Minh Quang Nguyên, Trương Minh Nhật Quang, Trần Ngọc Cầm, Huỳnh Kim Lợi, Cô Điệp, Thầy An, Trương Thị Uyên Nguyên…

Đến đây hết phần 1, chắc chắn là bài viết trên còn rất nhiều thiếu sót và thông tin có phần thiếu chính xác, biên tập Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » mong mỏi quý thầy cô và các bạn bổ túc thêm nhiều chi tiết, thông tin và hình ảnh để bài viết được chính xác và phong phú hơn.

Mời quý vị thầy cô và các bạn đón xem tiếp phần 2, nói về Trường Trung Học Hà Tiên, hình thể, vị trí và hình ảnh học sinh.

Người biên soạn xin chân thành đa tạ tất cả quý thầy cô, các bạn cùng trường lớp và các em cùng quê hương Hà Tiên đã vui vẻ thông tin, góp ý và cung cấp hình ảnh cho mình rất nhiều, mình cũng có dùng một số hình trích từ những trang fb của quý thầy cô và các bạn, xin thành thật cáo lỗi, mong quý vị thông cảm và lượng thứ cho nhé.

Paris, xong phần 1 ngày 14/10/2018, Trần Văn Mãnh (học sinh Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn 1964 – 1970)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Xin đọc thêm về đề tài ngôi Trường Trung Học Hà Tiên:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/gioi-thieu-thay-co-truong-trung-hoc-cong-lap-ha-tien/

https://trunghochatienxua.wordpress.com/chuyen-vui-ngay-xua/

 

Ngựa chứng trong sân trường Trung Học Hà Tiên niên khóa 1974-1975 (Hoàng Thị Minh Liên)

Thầy Cô và các bạn thân mến, trong đời học sinh nhất là những học sinh năng động và học kha khá đều biết được một vài vai trò mà nhà trường thường giao phó cho đảm nhận. Thí dụ như làm trưởng lớp, phó lớp, trưởng ban nầy nọ trong nhà trường. Trong thời trung học mình tuy không có lúc nào làm trưởng lớp nhưng cũng thường đảm nhận vai trò trưởng Ban Văn Nghệ nhiều lần (nói nhỏ mình thích Ban Văn Nghệ hơn là các ban khác: Ban Trật Tự, Vệ Sinh, Thể Thao,…vì làm việc trong Ban Văn Nghệ nhất là với cương vị trưởng ban thường được tiếp xúc với các bạn, các em gái ca sĩ, thường có dịp tập dợt văn nghệ cuối năm hay trong các dịp lễ ở nhà trường rất là thú vị…!!). Trở lại với chức năng được nhà trường giao phó nhất là chức năng trưởng lớp, người trưởng lớp thường bị dằn co giữa hai sự chọn lựa: một bên là phải đảm nhận và thi hành sứ mạng nhà trường giao phó một cách đúng đắn nghiêm túc không thiên vị một ai, một bên là dù sao trong lớp đối tượng cũng là các bạn học cùng lớp, nhiều khi phải xử lý với bạn thân của mình, như vậy sự chọn lựa rất là khó khăn, nhưng trong mọi trường họp các vị trưởng lớp đều thi hành đúng đắn sứ mạng của mình mặc dù sẽ phải làm phiền lòng các bạn chung quanh. Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…Nói như vậy để thầy cô và các bạn thấy nổi khổ của người được giao sứ mạng trong nhà trường, phải chọn bên sứ mạng chớ không thiên vị bạn thân hay quen biết gì cả…Câu chuyện bạn Minh Liên kể ra đây nói lên cái khó khăn của một người có sứ mạng như vậy đối với các bạn học cùng lớp với mình…(Trần Văn Mãnh viết giới thiệu)

Ngựa chứng trong sân trường Trung Học Hà Tiên niên khóa 1974-1975

Trước tiên tác giả xin cám ơn anh Trần Văn Mãnh chủ bút Blog “Trung Học Hà Tiên Xưa” và bạn Huỳnh Kim Nguyệt đã khuyến khích tác giả viết bài kể lại kỷ niệm xưa ở lớp 10B của Trường Trung Học Hà Tiên.

Thật ra thì từ lâu mình đã ấp ủ ý của bài viết và cũng rất muốn viết ra để chia sẻ những kỷ niệm của thời học trò mà không ít người trong chúng ta đã đôi lần trải nghiệm…Tuy nhiên mình vẫn mãi đắn đo vì những bạn học nhân vật trong chuyện kể khi đọc qua có phiền lòng mình chăng?? Có thể các bạn ấy muốn giữ kín một kỷ niệm tuy vui buồn nhưng lại riêng tư và tế nhị đối với các bạn ấy…Giải pháp tốt đẹp nhất là mình phải “xin phép” các nhân vật nầy xem các bạn có chịu cho mình kể ra câu chuyện nầy không…và may mắn thay sau khi bàn thảo các bạn đều đồng ý cho phép mình đại diện các bạn kể lại câu chuyện, chủ yếu là để chia sẻ với cộng đồng Blog Trung Học Hà Tiên Xưa của chúng ta, sau nữa góp phần làm cho Blog của chúng ta thêm phong phú bài vở, mình thành thật cám ơn các bạn và một lần nữa xin ghi nhận nơi đây tình bạn chân thành và thấm thía của tất cả các bạn trong lớp học của chúng ta, dù sau đi nữa, kỷ niệm vui buồn, chua cay, khó khăn đến đâu nữa thì cũng chỉ là chất xi măng hàn gắn chúng ta thêm trong tình bạn mà thôi chứ không có điều gì ái náy, phải không các bạn thân mến của tôi…

Chuyện xưa kể rằng, vào cuối niên khóa 1974-1975 ở trường Trung Học Hà Tiên xưa có một lớp học 10B luôn được quý Thầy Cô và Ban Giám Hiệu để ý “chăm sóc” kỹ lưỡng vì trong lớp có vài bạn học thì ít mà quậy thì nhiều, nhất là các bạn trai vì nghe phong phanh lệnh tổng động viên của cả nước. Các bạn ấy khi vào lớp chỉ muốn gây ấn tượng để đời mà thôi, như vậy với một trưởng lớp được mệnh danh là “mít ướt” như Minh Liên thì thật là nhức đầu…

Xin nói về sự hình thành của lớp 10B: Thời đó lớp 10B là gồm có ba lớp 9P1, 9P2 và 9A nhập lại (P tức là lớp theo sinh ngữ Pháp Văn, và A là lớp theo sinh ngữ Anh Văn). Như vậy trong lớp 10B đều có các bạn học Pháp Văn và Anh Văn chung cả. Đến giờ sinh ngữ chính và sinh ngữ phụ thì phải chia ra thành hai nhóm (hai lớp) để học riêng. Trong lớp 10B, Minh Liên đến từ lớp 9P, được cử làm trưởng lớp và bạn Huỳnh Văn Tiền (em trai của anh trong tiệm Nam Viên, tiệm cho thuê sách thời đó) đến từ lớp 9A làm lớp phó.

Ngày hôm đó vào đầu giờ buổi chiều, có tiết Toán do thầy Lâm Hữu Quyền giảng dạy. Không biết vì lý do gì kẻng vào lớp đã ngân vang mà quá 20 phút chưa thấy thầy xuất hiện (chắc thầy có việc trên văn phòng chưa xuống lớp kịp…tuy nhiên theo thông lệ chung của các học trò thì như vậy là xem như tiết học trống…), vì vậy các bạn nam mới rủ nhau qua phòng thí nghiệm chơi bóng bàn và đợi tiết học sau. Không ngờ đâu lúc đó thầy Quyền vừa xuất hiện và vào lớp dạy học bình thường với các bạn còn ở lại trong lớp. Phần lớn các bạn nam đều không hay biết là thầy đã vào dạy giờ Toán, trong đó có bạn Thái Nam Phong nữa. Đến đây mình xin nói cái khổ của người có “chức phẩm” trong lớp như là chức “lớp trưởng” và chức “lớp phó”, một bên là nghĩa vụ sứ mạng được nhà trường giao phó phải thực hiện, một bên là tình bạn trong lớp,…cuối cùng cũng phải chọn bên “công” mà phó mặc cho bên “tư” xử liệu…Vì thế mà bạn Huỳnh Văn Tiền với tư thế lớp phó, bắt buộc phải ghi tên các bạn vắng mặt trong giờ Toán của thầy Quyền (ghi báo điểm danh). Đó chính là nguyên nhân gây ra mâu thuẩn giữa các bạn lớp P (Pháp Văn) và các bạn lớp A (Anh Văn) nói chung và giữa hai bạn Phong và Tiền nói riêng…..

Sau buổi học chiều hôm đó lớp P (Pháp văn) tan học trước nhưng các bạn trai lớp P vẫn còn đứng chờ bạn Huỳnh Văn Tiền trước cổng trường để hỏi “tội” (tội là tại sao dám ghi danh các bạn trai đó bỏ học giò Toán của thầy Quyền ??!!). Rồi tình hình không biết đi đến mức độ mâu thuẩn như thế nào mà sáng hôm sau trưởng lớp Minh Liên bị mời lên văn phòng Ban Giám Hiệu để giải thích tình hình của lớp. Trong lúc bị hỏi chuyện như vậy có thầy Giám thị Trần Phình Chu hỏi Minh Liên một câu mà cái tật “mít ướt” của mình lại trổi dậy. Số là thầy Chu hỏi Minh Liên như vầy: “Em lấy cương vị của một trưởng lớp trình bày sự diển biến hay là một thành viên của lớp P ?”. Lúc đó Minh Liên bật khóc, thật lòng mà nói lúc đó mình có một chút thiên vị lớp P của mình vì mình nghĩ là bạn Thái Nam Phong tướng tá gầy gò ốm nhom mà dám đối chọi võ lực với Tiền Nam Viên, về mặt thể lực thì nếu không bày kế thì thua là điều chắc chắn. Cũng nói thật lòng nữa là mình rất giận bạn Thái Nam Phong vì “chuyện bé xé to” khiến cho thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Nén muốn cho cả lớp 10B (Pháp văn và Anh Văn) điểm zero về hạnh kiểm và thầy còn muốn lập Hội Đồng Kỷ Luật để xử tội lớp 10B, nội vụ cũng vì bạn Thái Nam Phong có phát ngôn một câu xanh rờn “Mình đối chọi võ lực không thắng thì mình sẽ chơi một đòn sau lưng…”

Hoàng Thị Minh Liên cựu trưởng lớp « mít ướt » của lớp 10B thời 1974-1975 nay đã trở thành một thiếu nữ rất xinh đẹp…

Thái Nam Phong ơi!! Người giận quá thì mất khôn phải không bạn? Bây giờ nghĩ lại thấy hồi xưa Thái Nam Phong quả là gan quá. Minh Liên phải cầu cứu với cô Lâm Ngọc Mai kính yêu để xin nhà trường tha tội cho lớp 10B.

Kể từ ngày hôm đó trưởng lớp Hoàng Thị Minh Liên mang tiếng là “mít ướt” và lại làm mất lòng với các bạn lớp A không nhiều thì ít. Xin các bạn lớp 10B gốc A thông cảm cho mình nhé, dù sao thì mình cũng là dân đến từ gốc P.

Sau nầy mỗi lần về Hà Tiên họp mặt bạn bè cùng lớp mình rất vui vì lớp 10B lại là một nhà đoàn kết vui vẻ trở lại. Riêng bạn Huỳnh Văn Tiền thì không biết hiện giờ ở đâu. Còn bạn Thái Nam Phong có đọc bài của Minh Liên thấy viết sai, đúng, thiếu, đủ ra sao thì xin bổ sung lại dùm nhé, và nhất là thông cảm cho mình nếu bạn thấy hơi phiền về chuyện kể nầy.

Bạn Thái Nam Phong ngày nay

Đó là “vụ án Tiền-Phong” của lớp 10B, đến đây câu chuyện tạm kết thúc, xin chúc cho lớp 10B mãi mãi vui vẻ đoàn kết và hẹn gặp lại các bạn một ngày không xa.

Thân ái chào thân thương cả lớp 10B. (Tranh thủ lúc cháu ngoại còn đang ngủ mình viết vội nên văn chương có khi lúng túng xin đọc giả bỏ qua mọi sơ suất nhé, xin cám ơn).                                         

                                         Hoàng Thị Minh Liên (Xứ Hoa Kỳ 16/11/2017)

Từ trái sáng phải: Lâm Nguyệt Hồng, Hoàng Thị Minh Liên, Cô Lâm Ngọc Mai, Dương Mỹ Nữ họp mặt nhân dịp đưa gia đình Minh Liên sang nước Mỹ đoàn tụ gia đình 02/10/2017

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Thái Nam Phong

Giới thiệu Huỳnh Kim Nguyệt

 Huỳnh Kim Nguyệt

Trước khi viết về thuở còn cắp sách đến trường, tôi muốn có vài lời cảm ơn anh Trần Văn Mãnh, một đàn anh của trường Trung Học Hà Tiên đã lập ra Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để chúng ta nhớ đến thầy cô và bạn học của trường xưa. Nếu không có Blog nầy, tuổi hoa niên của tôi đã chìm vào dĩ vãng, nằm khuất một góc nào đó trong trái tim hay một góc nhỏ trong trí nhớ ! Khi tôi được xem lại những câu chuyện buồn vui, cũng như những tâm sự của các bạn trong Blog thì ký ức tuổi học trò của tôi từ từ hiện về, như một khúc phim quay chậm cho tôi nhớ lại hơn 40 năm về trước, tôi cũng đã từng là học sinh của trường Trung Học Hà Tiên đầy thơ mộng…

Tôi đã vào trường Trung Học Hà Tiên niên khóa 1970-1971 học lớp 6P1. Cũng như một số bạn ở Hà Tiên khi chạy giặc Khmer đỏ tôi cũng bị mất hết các sổ học bạ và các sách vở, hình ảnh ngày xưa…(Tôi học chung lớp với bạn Hoàng Thị Minh Liên nên thầy cô dạy Liên thì cũng là thầy cô của tôi).

Huỳnh Kim Nguyệt thời học sinh Trung Học Hà Tiên

Đây là danh sách quý thầy cô đã dạy niên học lớp 10B (niên khóa 1974-1975) :

Việt văn : Cô Lâm Ngọc Mai
Sử Địa ; Thầy Nguyễn Văn Hài
Sinh Ngử 1 : Thầy Lê Quang Khải
Sinh Ngử 2 : Thầy Đỗ Tấn Sĩ
Toán : Thầy Nguyễn Văn Hùng
Vạn Vật : Thầy Nguyễn Hùng Dũng
Vật Lý-Hóa Học : Thầy Trương Minh Tùng
Giám Thị : Cô Trần Kim Phấn
Hiệu Trưởng : Thầy Nguyễn Văn Nén

Danh sách bạn học lớp 10B (niên khóa 1974-1975)

Nguyễn Thị Phương Mai (lớp trưởng)
Hoàng thị Minh Liên
Huỳnh Kim Nguyệt
Phù Kim Dung
ĐỗThị Bích Liên
Trần Kim Liên
Bùi Thị Dung
Đặng Kim Thu
Lê Phụng Vân
Nguyễn Thị Tuyết Nga
Trần Thị Năm
Trần Thị Nghĩa
Hà Ngọc Mẫn
Khưu Thị Thu Vân
Mai Xuân Đào
Mai Xuân Điều
Trần Tuyết Mai
Lưu Sở Anh
Trần Ngọc Cầm
Phạm Thị Thu Hồng
Trần Thị Phương Khanh
Huỳnh Thị Xuân Trang
Nguyễn Kim Thơ
Nguyễn Kim Thẩn
Lại Kim Tuyến
Dương Mỹ Nữ
Trịnh Phước Đức
Trần Văn Bích
Lâm Hữu Tính
Trần Hán Vinh
Lê Quang Thùy
Lâm Văn Chương
Thái Nam Phong
Bùi Thanh Long
Phan Văn Dũng
Nguyễn Thành Phụng
Phạm Thị Mỹ Trang
Lâm Thị Hồng
Trương Thanh Kiệt
Dương Ích Lâm
Lâm Chí Hiếu (đã mất)
Nguyễn Phú Thu (đã mất)

Từ năm lớp 6 đến lớp 10 bạn Nguyễn Thị Phương Mai làm lớp trưởng. Tôi học từ lớp 6 đến giữa năm lớp 11 (đã thi xong đệ nhất bán niên) nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên tôi nghỉ học, rời ngôi trường thân yêu.  Thầy cô đã dạy suốt những năm tôi còn đi học, những kỷ niệm đã in sâu đến giờ tôi vẫn còn nhớ. Cô Lâm Ngọc Mai là người cô mà tôi được học xuyên suốt, từ ngày tôi bước chân vào ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho đến khi tôi rời xa trường…

Trái sang phải: Bùi Thị Dung, Huỳnh Kim Nguyệt, Đặng Kim Thu (hình chụp lúc học lớp 10B niên khóa 1974-1975 Trung Học Hà Tiên)

Kỷ niệm về Cô Lâm Ngọc Mai:

Tôi nhớ vào giờ sinh ngử Cô dạy (tôi đã quên năm lớp mấy rồi) cô gọi cả lớp lên trả bài và chia động từ (Verbes – giờ Pháp Văn). Từng em một lên bảngvà hôm đó tôi “hên “ hay sao mà “được” kêu lên bảng 5 lần, tuy vậy tôi đều chia đúng các động từ cô cho. Cuối cùng trong lớp chỉ có 10 bạn là “thoát tội lên bảng”…Thật là hú hồn vì tôi chả giỏi gì cơ mà. Đó là kỷ niệm về cô của tôi Lâm Ngọc Mai.

Cô Lâm Ngọc Mai

Ký ức về Thầy Nguyễn Thanh Liêm :

Thầy giảng toán rất dể hiểu (đối với tôi). Khi thầy lên lớp dạy, thầy không cầm theo sách gì cả vậy mà thầy giảng bài và đọc bài cho học sinh chép. Với lứa tuổi học lớp 6, lớp 7 thì đó là một người thầy rất tài giỏi trong mắt đứa học trò còn ngây thơ. Tôi có nhớ hai câu thơ mà tôi đã quên rác giả rồi:

Làm học trò không sách cầm tay
Có tâm sự nói cùng cây cỏ

Còn đối với thầy, đi dạy không sách cầm tay….có tâm sự thì sao nhỉ??!! Vậy mà tự hỏi như thế đó. Bây giờ nhớ lại thật là “khờ” phải không các bạn?

Thầy Nguyễn Thanh Liêm

Các bạn đến thăm thầy Lê Quang Khải (nước Mỹ) : Bùi Văn Sáu, thầy Lê Quang Khải, Hồ Thị Kim Phượng, Mai Phạm

Và khi tôi thích thơ, tập làm thơ là nhờ thầy Trần Văn Thuận. Thầy giảng bài rất truyền cảm, thích nhất là lúc thầy đọc thơ. Một hôm tới giờ thầy dạy làm thơ lục bát, thầy cho thí dụ nhiều lắm nhưng tôi thích nhất hai câu mà tôi nhớ đến tận bây giờ:

Đô Rê Mi Fa Sol La
Ngắm từng âm điệu nghe ra chiều buồn

Ôi ! nhớ và nhớ thật nhiều một thuở học trò của tôi…Giờ đây mỗi người đi một ngả, có nhớ thì chỉ còn lại trong tiềm thức mà thôi để rồi hôm nay tôi lục lại ký ức của tuổi học trò để ghi vào Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa»…

Xin kính chào thầy cô và các bạn…

Về thăm trường xưa

Hôm nay trở lại mái trường xưa
Nhớ lắm bạn ơi biết sao vừa
Góc nhỏ sân trường thêm luyến nhớ
Đâu đây lời giảng gió mây đưa

Tôi nhớ thầy cô nhớ bạn xưa
Cùng đến trường hai buổi sơm trưa
Thờ thẩn giờ đây sao chẳng thấy
Mắt lệ cay hay tại gió mưa ?!

Chợt đâu tiếng trống tỉnh cơn mê
Áo trắng tung bay khắp lối về
Hòa cùng áo trắng tôi thầm bước
Gió thổi bay bay mái tóc thề

Mắt biếc cùng em đôi má thắm
Mai nầy trên mỗi bước sinh nhai
Khi nào trường cũ mình tao ngộ
Bao lời tâm sự chuyện xưa nay

Huỳnh Kim Nguyệt (11/2017)

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi vào đời làm việc.

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi trung niên.

 

Hình ảnh: Huỳnh Kim Nguyệt, Lâm Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa, Bùi Văn Sáu, Hồ Thị Kim Phượng

 

Chuyến về thăm Hà Tiên (Cô Võ Kim Loan)

                                              Chuyến về thăm Hà Tiên

Ngồi trên chiếc xe đò chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên lòng tôi nôn nao làm sao, lát nữa đây tôi sẽ gặp lại bạn bè và những học sinh thân quen hơn 40 năm xa cách.
– « Allo, Châu đó phải không? 9g cô tới Hà Tiên nha, cô ở tại nhà quen số….. »
– « Thủy ơi 9g cô tới Hà Tiên nha ».
……..
10g vợ chồng Gồi và Châu có mặt tại nơi tôi ở. Cô trò nhìn nhau nửa lạ lẫn nửa thân quen.
Châu nói:  « Cô ơi chiều nay cho tụi em vui vẻ với cô một bữa nha cô ».
………
1h  trưa trong phòng ra thấy Bích Thủy ngồi chờ.
– « Em tới lâu chưa?Sao không kêu cô? »
– « Em để cô nghỉ trưa ».
Tội nghiệp trò Thủy quá.
………
6h chiều chúng tôi gặp nhau ở quán Gió Biển. Vợ chồng Châu, Gồi mời được Thầy Nén và Cô Hà, chị Phấn, anhTường cùng một số em học sinh lớp Châu, Gồi. Bạn bè, thầy trò ôn lại kỷ niệm xưa, kể chuyện hôm nay đến 9h tối mà lòng chưa muốn chia tay.
Sáng hôm sau thầy cô Nén chiêu đãi ăn sáng tại quán CĂN NHÀ TÍM, sau đó chúng tôi cùng nhau về thăm lại trường cũ. Đứng trước văn phòng chụp chung hình kỷ niệm, tôi chợt buồn, cảnh cũ vẫn còn đây mà….Năm xưa đến trường tuổi ngoài đôi mươi, giờ trở lại thăm trường tuổi gần bảy chục…
Chia tay bạn bè và các em học sinh cũ thân yêu trở về cuộc sống hàng ngày, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ về Hà Tiên xa xưa và giờ đây lại nhớ thêm kỷ niệm đẹp của những ngày thăm lại Hà Tiên. Cám ơn bạn bè và các em học sinh đã dành thời gian đến họp mặt, cám ơn vợ chồng Gồi, Châu đã tạo cơ hội cho cuộc họp mặt đáng nhớ nầy.
Hy vọng  tôi sẽ còn thăm lại HàTiên nhiều lần nữa…

                                                                                    Kim Loan

                                                             (Nhớ về chuyến thăm HT tháng 2/2016)

photo_kimloan_hatien_1Bìa phải: Cô Võ Kim Loan, Thầy Nguyễn Văn Nén và phu nhân (thứ sáu từ phải qua trái, …)

photo_kimloan_hatien_2Bìa trái: Cô Võ Kim Loan, bìa phải: Thầy Nguyễn Văn Nén và phu nhân

photo_kimloan_hatien_3Cô Võ Kim Loan và vợ chồng em Gồi (Trần HoàngTrang bìa trái)

photo_kimloan_hatien_4Bìa trái: Thầy Nguyễn Văn Nén và phu nhân

photo_kimloan_hatien_5photo_kimloan_hatien_6Áo xanh: Thầy Nguyễn Văn Nén, bên trái: Trần Hoàng Trang, bên phải: Cô Võ Kim Loan, Nguyễn Bích Thủy

photo_kimloan_hatien_7Thầy Nguyễn Văn Nén (áo xanh), Cô Võ Kim Loan (ngồi bìa phải)

photo_kimloan_hatien_8Áo xanh: Thầy Nguyễn Văn Nén, bên trái: Trần Hoàng Trang, bên phải: Cô Võ Kim Loan.

photo_kimloan_hatien_9Hình chụp trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên: Cô Võ Kim Loan (xách giỏ), bên trái: Trần Hoàng Trang, bìa phải: Nguyễn BíchThủy

photo_kimloan_hatien_11Cô Võ Kim Loan chụp trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. Cô nói: « Ngày xưa về trường tuổi ngoài đôi mươi chút xíu giờ thăm lại trường cũ tuổi chí mí 70 rồi...!! »

photo_kimloan_hatien_12

Trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên: Cô Võ Kim Loan, Nguyễn Bích Thủy

photo_kimloan_hatien_10Bìa trái: Lý Tòng Hiếu, Cô Võ Kim Loan (đứng giữa).

Hình ảnh: Võ Kim Loan, Nguyễn Bích Thủy

 

Thầy Nguyễn Văn Nén

 
Vào đầu tháng 10 năm 1962, Thầy Nguyễn Văn Nén nhận sự vụ lệnh để về nhiệm sở dạy học là trường Trung Học Công Lập Hà Tiên…Theo Thầy kể lại thì vì do còn lưu luyến Sài Gòn nên mãi đến ngày 10/10/1962 Thầy mới lên đường rời Sài Gòn về Hà Tiên dạy học. Ông Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên lúc đó là Thầy Lê Trung Hoàn (mà mình không được hân hạnh biết vì lúc đó còn nhỏ mới 10 tuổi…).
Vào thời đó trường Trung Học Hà Tiên chỉ có 6 lớp : từ đệ thất đến đệ nhị (tức là từ lớp sáu đến lớp 11 bây giờ…). Thầy Nguyễn Văn Nén dạy môn Toán ban B cho hai lớp : đệ tam và đệ nhị, số giờ dạy hàng tuần là 16 giờ nên Thầy dạy thêm môn Công Dân 2 giờ cho lớp đệ nhị, tổng cộng là 18 giờ đúng số giờ dạy quy định hàng tuần. Riêng đối với lớp của mình học vào niên khóa 1964-1965 lúc đó là lớp đệ thất, Thầy Nguyễn Văn Nén dạy các môn: Lý Hóa, Vạn Vật và Công Dân. Mình còn nhớ rất rỏ, lúc đó có một « bộ ba » là Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Văn) và Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn), buổi tối mình đi chơi ngang quán Xuân Thạnh đường Bến Trần Hầu thường thấy « bộ ba » Thầy dùng cơm tối ở đó.
nguyenvannen_1
Thầy Nguyễn Văn Nén (hiện nay đổi tên là Nguyễn Nên)
 
Đến ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới.
 
Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : NÊN NGUYỄN). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm  lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Trong tương lai thầy và gia đình cũng sẽ trở lại nước Mỹ.
thay_nguyenvannen_1Thầy cô chụp hình trước văn phòng trường, niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên
thay_nguyenvannen_2Đầu niên khóa 1962-1963, tại cột cờ trong sân trường Trung Học Hà Tiên, học sinh lớp đệ nhị B chụp hình với quý thầy Nguyễn Văn nén và Nguyễn Lê Hùng
thay_nguyenvannen_3Trái sang phải hàng 1 gồm 6 Thầy: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm nhạc), Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc văn), Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị)
Hàng 2 trên cao: Thầy Võ Thành Tài (Anh văn), Ông Nguyễn Văn Thân (Thư ký), Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn), Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn), Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), Thầy Hồ Quang Điệp (Anh văn) 
thay_nguyenvannen_4Lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972
Trái qua phải hàng 1: Thầy Nguyến Văn Chiếu Một (Sử Địa), Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), Thầy Nguyến Phúc Hậu (Pháp văn) và các nữ sinh.
Hàng trên cùng bên phải 4 Cô, phải qua trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (Giám Thị), Cô Dương Minh Hoa (Vạn vật, Quốc văn), Cô Lâm Ngọc Mai (Quốc văn).
cam_trai_hon_damCắm trại ở Hòn Đầm, Thầy Nguyễn Văn Nén bên phải (Cô Lâm Ngọc Mai, Cô Võ Kim Loan)
TranPhuongNhu_Nay (5)
Thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)
TranPhuongNhu_Nay (4)
Thầy Nguyễn Văn Nén với lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (ngồi thừ hai từ trái qua phải)
Chú thích:
1/ Thầy Nguyễn Văn Nén hiện nay đổi tên là Nguyễn Nên
2/ Theo lời Thầy Nguyễn Văn Nén bổ túc bài viết: Thầy Nguyễn Lê Hùng ngày xưa dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên, trước ở trọ tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) và Thầy Hùng đã qua đời khoảng 2 năm nay.  Lúc sau nầy có Thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn Toán, quê ở Gò Công, cũng mất cách đây 1 năm. Thầy Nén kể lại một kỹ niềm với Thầy Nguyễn Văn Hùng: « Thầy có nhiêu kỷ niệm với thầy Hùng này  Khi thầy sau thời gian 4 năm đi học tập được về đến nhà lúc 6 giờ chiều tháng 12/1979, thì  tối vào khoảng 7 giờ, giáo sư Hùng đến thăm, thầy rất cám ơn thầy Hùng và thầy có khuyên thầy Hùng « Anh Hùng, tôi rất cám ơn anh đến thăm tôi! vì tôi đi học tập mới về, tôi e sợ ảnh hưởng bất tiện cho anh! Anh Hùng trả lời :’Anh đừng lo, tôi nghĩ tình bạn bè anh đối với tôi rất tốt và tôi đã hiểu anh nhiều! tình bằng hữu trên hết, công danh tôi không cần ! « .
thay-hung-2Thầy Nguyễn Văn Hùng (dạy Toán) các cô là con gái của Thầy Lâm Văn Núi và Nguyễn Văn Nén)
thay-hungChân dung Thầy Nguyễn Văn Hùng
Người viết (theo chi tiết do Thầy Nguyễn Văn Nén cung cấp) : Trần Văn Mãnh
Hình ảnh: Nguyễn Văn Nén, Nguyễn Bích Thủy, Trần Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Nguyễn Hồng Ẩn.
Tái bút: Chú thích họ và tên quý anh chị học sinh trong hình chụp với hai thầy Nguyễn văn Nén và Nguyễn Lê Hùng
1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.
 
1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)
1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)
Xin trân trọng cám ơn chị Dương Hồng Châu, chị Lý Thị Lắc, chị Nguyễn Thị Nhung, Huỳnh Kim Nguyệt đã phân tích bức hình và thông tin cho biết tất cả họ và tên cùng chi tiết quý anh chị hiện diện trong hình. (TVM)