Thầy Trần Văn Thuận

Thầy cô và các bạn thân mến, tất cả bắt đầu từ một câu hỏi của một người bạn face book của thầy Nguyễn Hồng Ẩn, người bạn đó hỏi thầy Ẩn có biết một đồng nghiệp cũng có một thời dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, người thầy đó dạy môn chính là Việt Văn và tên là Trần Văn Thuận…Sau đó có em Lý Minh Thuận, em của bạn Lý Mạnh Thường có nhắc mình nên viết bài giới thiệu hai thầy đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên một thời gian, đó là thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa và thầy Trần Văn Thuận dạy môn Văn. Thầy Nguyễn Long Hồ thì mình biết, tuy nhiên trong thời gian từ năm 1970 trở đi thì mình qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Trung Trực, thỉnh thoảng có về Hà Tiên nghỉ hè và được biết thầy Nguyễn Long Hồ vì thầy Hồ thường đến nhà bạn Lý Mạnh Thường chơi và mình có gặp thầy Hồ tại đó. Còn trường hợp thầy Trần Văn Thuận thì hình như ngay lúc em Lý Minh Thuận và sau đó là thầy Nguyễn Hồng Ẩn có nhắc cho mình về thầy Trần Văn Thuận thì mình  không nhớ ra thầy Thuận. Sau một thời gian tìm hiểu và đọc các lời viết ngắn gọn của các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên nhắc về thầy Trần Văn Thuận thì mình nghĩ là có thể mình đã biết hoặc có nghe nói qua về quảng thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên…Theo lời các bạn có học qua với thầy Trần Văn Thuận trong thời gian ngắn thầy dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, thì thầy Thuận thường chạy chiếc xe Vespa rất đẹp, thầy có gia đình và ở căn nhà thuê phía trước nhà của anh Phan Văn Hữu khúc dưới xóm Cầu Câu. Thầy Thuận để tóc dài, mái tóc thường cong gắn vào hai tai rất nghệ sĩ. Thầy có tài làm thơ, thầy có làm một bài thơ trong đó kể ra hết tất cả tên của các học trò trong lớp. Chẳng những thế, thầy còn làm thơ bằng chữ Hán, ý nghĩa rất hay. Thầy biết chơi đàn guitare thùng. Có một chi tiết bạn học còn nhớ là thầy không thích nhạc Bảo Thu, Vinh Sử…cũng không thích giọng ca Chế Linh, Giang Tử, Thanh Phong,…v…v…Có thêm một chi tiết quan trọng nữa là thầy Trần Văn Thuận rất được học trò Hà Tiên quý mến, nhất là rất được các em nữ sinh ái mộ …!!

Vài nét để giới thiệu thầy Trần Văn Thuận mà mình tìm hiểu trên trang của thầy: Thầy Trần Văn Thuận người gốc Bình Thuận (làng Tân Lý, thị xã La Gi). Sau khi học xong bậc Trung Học, thầy Thuận có ý chí muốn trở thành kiến trúc sư nên có theo học ngành kiến trúc ở Sài Gòn, đồng thời thầy cũng ghi danh theo học các chứng chỉ ngành Văn Khoa. Vì lý do sức khỏe thầy không tiếp tục theo ngành kiến trúc nên quyết đinh theo đuổi ngành sư phạm ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ngành Viêt Văn. Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trở thành giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ban Văn, thầy Thuận đã thực hành nghề giáo rất nhiều năm bằng cách dạy tư ở các trường Tư Thục, dạy kèm cá nhân tại Sài Gòn..v..v..

Khoảng đầu năm 1970 thầy Trần Văn Thuận về dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, môn Việt Văn. Trong thời gian nầy, thầy Thuận viết bút ký rất nhiều, thầy viết để ghi lại những kỷ niệm, ký ức ngay cả trong những năm còn đi học lớp Đệ Thất ở quê thầy, thầy cũng có nhiều thời gian rỗi rảnh để dịch những bài thơ trong tập Đường Thi bằng chữ Hán sang tiếng Việt. Các tập hồi ký nầy có một phần được các bạn hữu sưu tầm và được phép xuất bản thành sách hiện nay, một số thì bị thất lạc mất.

Đến tháng 10 năm 1972, thầy Trần Văn Thuận được công lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển về trường Bình Tuy dạy môn Anh Văn vì trong quá trình kiến thức của thầy, thầy cũng có văn bằng về môn Anh Văn. Thế là thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên không dài, chỉ vỏn vẹn hai, ba năm, tuy nhiên, theo thầy viết lại trong các bài tự thuật thì trong lúc giảng dạy ở Hà Tiên, thầy có rất nhiều kỷ niệm với các bạn và học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975, thầy Trần Văn Thuận cũng được đề nghị tiếp tục dạy học và quản trị các trường lớp mặc dù ý thầy nhất định rời ngành dạy học để đi vào ngành xây dựng vì đó cũng là kiến thức mà thầy thu thập được khi còn học ngành kiến trúc ngày trước. Thầy Thuận có lúc làm Hiệu phó trường Phổ Thông Cấp 3 Hàm Tân, làm hiệu trưởng trường Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Đến năm 2007, thầy Trần Văn Thuận về nghỉ hưu tại phường Thảo Điền, thuộc quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.

Trong suốt quá trình viết văn, làm thơ, thầy Trần Văn Thuận ký nhiều bút hiệu như: Cát Sỹ, Thoại Băng, Trần Thuận…và bút hiệu chính thầy vẫn dùng là Đoàn Thuận.

Một số tác phẩm của thầy Trần Văn Thuận đã được xuất bản chính thức hiện nay:

Thơ Tự do:
Năm 1994, nhóm thân hữu Tuổi Trẻ sưu tầm những bài thơ thầy Trần Văn Thuận làm trong thời gian thầy giảng dạy ở Hà Tiên biên tập thành “Mùa bấc biển, thơ Đoàn Thuận” do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép xuất bản năm 1994.
La Gi ngàn xanh (NXB Trẻ 1997)
Lửa đêm mưa (NXB Trẻ, 1998)
Khoảng lặng của hoa (NXB Trẻ, 2001)
Tượng (NXB Trẻ, 2002)
Đời sậy (NXB Trẻ, 2003)
Sắc phượng (Hội VHNT Bình Thuận, 2006)
Rong chơi cùng cát bụi (NXB Văn Học, 2012)
Mái xưa (NXB Văn học, 2013)
Dưới hoa (NXB Văn Học 2013)

Thơ lục bát:
Lời chiều (lục bát tứ tuyệt) (NXB Trẻ, 1996)
Lửa đầu non (lục bát trường thiên) (NXB Trẻ, 1999)
Tạ ơn đời (lục bát tam cú) (NXB Văn học, 2013)
Đường Thi (thơ dịch) (NXB Văn Học, 2012)
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch) (NXB Thời Đại, 2014)

Bút Ký:
Những mảng vỡ thời gian
Những miền đất trọ

Paris 14/02/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu theo ý của các bài trên trang của thầy Trần Văn Thuận, và sự đóng góp của các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trân trọng cám ơn Ông Trần Cát Trường, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, các bạn Lý Minh Thuận, Lê Phước Dương,…

Sau đây xin giới thiệu một vài bài viết tự thuật của thầy Trần Văn Thuận viết khi thầy còn ở Hà Tiên:

Thầy Trần Văn Thuận (Hình thầy TVT)

Tôi đi dạy ở Hà Tiên (Trần Văn Thuận)

Khi thi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, bài làm về chữ Nôm không đủ điểm, tôi phải thi lại. Trong khi các anh chị tốt nghiệp kỳ 1 đã đến nhiệm sở mới, tôi ở lại Saigon ôn tập để thi kỳ 2. Rất may mắn, tôi cũng được tốt nghiệp, và theo thứ hạng, tôi có thể chọn nhiệm sở Gò Công. Nhưng anh Nguyễn Chí Thành lại cần về đây, còn tôi nơi nào cũng được, miễn có chỗ dạy chính ngạch, vì tôi thuộc loại yếu về tay nghề sư phạm.
Tôi đến thăm Thầy Đông Hồ, tức thi sỹ Đông Hồ, Thầy khuyên tôi nên về Hà Tiên, quê của Thầy, cũng là nơi sinh ra hệ văn chương Chiêu Anh Các.Tôi quyết định chọn nhiệm sở Hà Tiên, dù cách xa Lagi, quê Mẹ tôi, trên sáu trăm cây số.
Biết tôi xuống Hả Tiên, nơi có nhiều người Minh Hương sinh sống, Thầy Giản Chi tặng tôi bộ Đường Thi viết tay trên giấy dó, và dặn dò tôi cách dịch ra tiếng Việt. Thầy cũng đặt tên tự Cát Sỹ cho tôi. Tự hứa với chính mình, tôi sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong mỏi của quí Thầy Cô.

Tại trung học Hà Tiên, thầy cô phần lớn là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nên tôi chỉ dạy Việt văn vài lớp đệ tam, đệ nhị, giờ trống còn nhiều. Tôi giết thời gian bằng cách chú tâm vào việc sắp xếp những trang tùy bút tôi đã có từ thời học đệ thất, và dịch Đường Thi sang tiếng Việt.

Đầu năm 1970, tôi kết được năm tập “bút ký” khá dày. Mỗi tập trên ngàn trang bản thảo, chằng chịt chữ viết lẫn những bức ký họa và thư pháp. Tôi giữ nguyên những tờ giấy cũ, mang dấu ấn thời gian, dù nhiều trang đã nhòe màu mực. Tập 1 và 2 có tên “Miền đất trọ”. Tập 3, 4 và 5 có tên “Mảng vỡ thời gian”. Đây không phải là trang sáng tác, đúng hơn là trang “tùy bút”, ghi lại những gì nghe thấy trên đường đời, “thấy sao viết vậy”, “nghe gì ghi nấy”; có khi ghi bằng “văn vần” khi bằng “văn xuôi”. Phần lớn, những bài văn vần ngắn gọn nằm trong “lưu bút” hay “nhật ký” của những người bạn quen thân, trong thời đi học đi dạy. Tôi dự định lưu trữ, chờ khi có điều kiện, sẽ biên tập thành sách.

Đầu năm 1972, tôi dịch xong tập Đường Thi của thầy Giản Chi tặng, dưới mỗi bài dịch tôi đề tên Cát Sỹ. Trong đó, có hai phần tách riêng dưới nhan đề “Thơ thiền Vương Duy” và “Ánh trăng Lý Bạch”.

Ngày mới xuống Hà Tiên, tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều người để tìm hiểu về Chiêu Anh Các, nhưng ít người biết rõ, ngoài “Hà Tiên thập cảnh”. Do đó, sau khi tổ chức lễ giỗ Thi sỹ Đông Hồ, tôi dừng lại việc nghiên cứu về hệ văn chương Chiêu Anh Các, như lời gợi ý của Thầy, năm tôi học chứng chi Văn Chương Quốc Âm.

Trong ba năm, tôi dạy học ở đây, gần như không quen thân với ai trong ngành giáo dục, trừ Trần Cao Thu, người ở chung nhà trọ nhưng không chung trường, vì Thầy dạy ở trường Nông Lâm Súc. Cao Thu và tôi cùng họ Trần, nhưng không biết gì về hoàn cảnh của nhau, dù gặp mặt hằng ngày. Tôi chỉ dạy đủ giờ chuẩn, ít khi vào trường, nên xa lạ trước nhiều thầy cô. Có lẽ, do tôi quen thói sống khép kín.
Thời cuộc càng ngày càng nhiều biến động. Đường Hà Tiên sang Rạch giá bị đắp mô, đi lại rất khó khăn, thường xuyên tôi ở lại nhà trọ một mình, kể cả ngày Tết. Dù nhóm bạn học của Lý Tòng Hiếu quanh quẩn bên tôi, giúp tôi bớt buồn, nhưng tôi vẫn rất nhớ Mẹ nhớ nhà, khi mùa Gió Chướng thổi qua….

Tuy vậy, một số phụ huynh dần dà kết thân với tôi, đặc biệt là nhóm Ba Lá. Nhóm thường thả xuồng Ba Lá ngắm trăng trên hồ Đông. Uống rượu đế với tép rang và đọt so đũa. Khi thì kể một câu chuyện đau buồn của người nghèo khổ. Khi thì vổ mạn xuồng hát điệu lam thôn dân dã, boléro miền Nam. Khi thì đọc một câu thơ tự chế. Trình độ học vấn của nhóm không bao nhiêu, nhưng sự hiểu biết về cuộc sống thăng trầm luân hồi nhân quả thì quá nhiều. Tôi thầm cám ơn nhóm thân hữu Ba Lá, vì đã giúp tôi nhận ra nhiều điều không có trong sách vở, suốt thời đi học. .

Hà Tiên, đối với tôi, là “miền đất trọ” thơ mộng thân yêu, nơi tôi dạy học với tư cách giáo sư trung học đệ nhị cấp chính ngạch.

Ra trường, tôi chuyển đến Hà Tiên.
Cuối trời đất nước biệt một miền.
Kiên Lương Rạch Giá, vùng oanh kích.
Lênh đênh kênh rạch một đêm thuyền.
.
Hai chiếc va li một cây đàn,
đôi ba quyển sách làm hành trang.
La Gi quê mẹ xa ngàn dặm.
Châu thổ sông dài trời mênh mang.
.
Đất nước chiến tranh lắm đoạn trường .
Tôi vì cơm áo lại tha phương .
Những mong gửi gắm lòng thương nước
vào đàn em nhỏ của quê hương.
.
Cứ ngỡ tôi như cụ đồ già,
bụi đường mưa gió tóc sương pha,
bút nghiên khăn gói dăm ba chữ,
về ngồi dạy trẻ « miệt vườn » xa.
.
Hà Tiên,1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Khoảng lặng không tên (Trần Văn Thuận)

Tôi đến Hà Tiên trình sự vụ lệnh dạy học vào một buổi chiều. Sắc chiều còn lại ở chân trời là những áng mây trắng, che dần ráng đỏ, trôi vào đêm. .

Quán cốc cuối đường qua bãi Thuận Yên đã thưa khách, chỉ còn ba người đàn ông đang lai rai mấy chén rượu đế. Phố Hà Tiên nằm bên kia hồ, mờ mờ trong bóng chiều. Những ngọn đèn đỏ quạch. Vài ngọn dừa cao trên mái nhà ngói cổ. Phố im lìm dù mới chớm đêm. Hồ Đông như một vòng cung ôm trọn khu phố. Nhìn từ bên này Thuận Yên, phố nhỏ nhưng rất thơ mộng. .

Bụi đường phủ đỏ trên tóc trên vai áo, trên chiếc túi xách hành trang. Đã nhiều chuyến đò qua bờ bên kia và trở lại cắm sào bên pong-tông cầu xi-măng. Tôi ngồi bên quán nhỏ mà tưởng mình như kẻ giang hồ lữ thứ bao đời. Một cốc rượu trắng uống hoài không cạn. Phố cách một chuyến đò ngang mà tôi chưa muốn sang, vì không quen biết ai. Hà Tiên là quê hương của thi sỹ Đông Hồ, với tôi, như một nơi lưu biệt xa lạ. Con đò nhỏ vẫn nằm im bên bờ vắng, chờ đưa người khách lạ sang sông. Ánh đèn dầu le lói soi bóng thuyền nhạt nhòa trên dòng nước. Phố nhỏ chìm dần vào giấc ngủ khuya, khi con đò neo lạnh dưới bến. .

Một mái hiên nhỏ ở đầu quán, nơi khách đi đường trọ lại qua đêm. Con đường Kiên Giang Hà Tiên thường bị đấp mô, nên khách có thể lênh đênh trên kênh một ngày dài, cũng có thể đi vội trên xe Honda ôm, cũng có thể dừng lại nơi đây chờ chuyến đi thích hợp. Trên một chiếc ghế xếp, tôi nhìn ra hàng cây dương liễu dưới bóng trăng mờ, tưởng nhớ miên man đến quê nhà La Gi. Khi tôi vừa đốt thuốc, định nhờ đốm lửa xua đi nỗi buồn trong đêm quạnh quẽ, một Honda ôm dừng lại trước mặt. Một phụ nữ vào quán và một thanh niên vội vã lên xe Honda ôm, chạy về phía Kiên Lương. Trong quán, tiếng ly tách chạm, lẫn với giọng nói lè nhè của người say rượu. Theo ánh đèn, hé qua cánh cửa, bà chủ quán gọi người phụ nữ là cô Hậu và chỉ chiếc ghế trống bên cạnh tôi. Cửa khép lại. Một không gian yên tịnh, mờ ảo, dưới sao khuya.

Trong bóng đêm, chị Hậu nằm hút thuốc liên tục như thao thức với một tâm sự riêng. Tôi cũng lặng thầm thao thức nhớ nhà, qua hương tóc bay của chị. Bổng nhiên chị đưa tôi gói thuốc Caraven A như mời tôi hút, tôi đưa cho chị gói Pall Mall. Chị rút một điếu, bật lửa đốt và đặt vào môi tôi điếu thuốc chị đang hút. Tôi rít một hơi dài, thầm hưởng mùi thơm rất dịu. Tàn điếu Pall Mall, kề sát vào tai, chị hỏi nhỏ tên tôi. Tôi trả lời nhưng chị đưa một ngón tay lên môi, nhìn tôi rất buồn. Một khoảng lặng không tên giữa chị và tôi. .

Sáng hôm sau, xuống đò qua phố, chị đưa tôi đến cuối đường Tô Châu, giới thiệu tôi với một người quen, để tôi ở trọ. Chị từ giã sang Nam Vang, còn lại trong tôi sự vỗ về dịu êm cùng đôi điều suy nghĩ, dù chị và tôi chỉ bên nhau một đoạn đường ngắn.

Hà Tiên, 1/1970
Đoàn Thuận

Tết xa nhà (Trần Văn Thuận)

Một lần nữa, tôi lại ăn tết nơi quê người.

Liêm, Hồ, Hài đã sang Phú Quốc đi máy bay về quê tuần trước. Thầy Trần Cao Thu và tôi đã ba lần trốn dưới đò xuôi kênh đều bị giử lại, vì đường bộ sang Rạch Giá vẫn bị đắp mô. Nghèo khó và chiến tranh buộc tôi ở lại Hà Tiên, ăn Tết xa nhà.
Nhà Bác Tám nhộn nhịp, con cháu về chuẩn bị đón xuân. Tôi nằm riêng trong phòng đọc sách. Nhóm bạn của Tòng Hiếu đến thăm và tặng quà tết với một cây thuốc con mèo đỏ, bánh lạt, beurre, café, bốn đòn bánh. Điền cho năm búp huệ trắng, rất thơm. Thật ra, trong thập niên 60, đôi lần tôi ở lại gác trọ một mình chờ năm cũ trôi qua. Giờ đây, tuy tôi ăn nhờ ở đậu trong nhà, nhưng Bác Tám coi tôi như người thân, hơn nữa, những “thư sinh” hồn nhiên luôn quay quần bên tôi, lại có Cao Thu cùng chung cảnh ngộ. Xuân như nhiên vẫn đến, dù xa nhà. .

Cao Thu đề nghị một cuộc dạo chơi cuối năm trên núi. Chúng tôi đi bộ qua rừng dâu Thuận Yên lên núi Voi. Thiếu mai vàng, nhưng hoa thơm, cỏ mượt rất nhiều. Từ một gộp đá nhìn ra biển, Cao Thu như một bức tượng lặng câm. Tôi bắt gặp một điều gì vấn vương trong gió. Bấc tháng giêng chăng? Nhà tôi xa tít phía chân trời. Tôi cũng nhớ đôi điều về Sài Gòn đầy ắp kỷ niệm của một thời sinh viên, của những mùa xuân lưu lạc. Chiều xuống đã lâu. Chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển về lại Thuận Yên, trong tiếng pháo nhà ai nổ dòn. .

Chiều mồng Một, nhóm thân hữu Ba Lá đến chúc Tết và mời tôi đi thăm nhà thi sỹ Đông Hồ, rồi cùng nhau thả thuyền lênh đênh về kênh Vĩnh Tế, mừng Bác Hẹ tròn tám mươi tuổi. Xuồng “ba lá” lắc lư theo điệu Boléro, muỗng nhịp trên chén rượu nếp trắng, nhóm chúng tôi đón xuân sang nơi quê hương thơ mộng Hà Tiên. Một mùa xuân tha phương, còn mãi trong ký ức tôi. .

Hà Tiên, 1971
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Chú thích: Trong bài ký sự nầy thầy Trần Văn Thuận có nhắc đến quý thầy: Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Long Hồ, Nguyễn Văn Hài và thầy cũng có nhắc đến các học sinh như Lý Tòng Hiếu, Quách Ngọc Điền…..

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình Thai Manh Hoai)

Một vài bài thơ thầy Trần Văn Thuận viết có liên quan đến Hà Tiên:

Bên bến Tô Châu

Dừng chân bên bến Tô Châu.
Bờ cây bến đá quánh màu gió sương.
Ô đèn thắp bóng con đường.
Mấy ngôi nhà cổ, mấy tường rêu phong.
.
Dừng chân phố thị bên sông.
Lửa thuyền đêm lạnh giữa mông mênh mùa.
Tiếng người khuất dưới lau thưa.
Ngờ như lời cổ thi vừa bay qua.
.
Hà Tiên, 1970
CÁT SỸ

Đêm thức Hà Tiên

Góc trời đêm lạnh Hà Tiên
Gió bờ dương liễu Thuận Yên ru sầu.
Sóng vùi cát bãi đêm thâu
Vết chân chim dẫm nát nhầu bóng ai.
.
Nằm nghe sông núi thở dài
Nghe ta giữa thế kỷ hai mươi buồn.
Hồ Đông in bóng trăng suông
Một dòng sông cũ nhớ nguồn xa xôi.
.
Đảo hoang cây cỏ bổi hồi,
Áo xưa bụi phủ một thời đau thương.
Mãi lo mãi khổ đôi đường
Trên quê hương lại tha phương mịt mù.
.
Nữa đời già cỗi tiếp thu.
Lửa nhân sinh đốt khói rù khe tim.
Tô Châu phố ngủ im lìm.
Ta ôm nỗi xót xa tìm vào quên.
.
Hà Tiên, 1970.
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Hình ảnh thầy Trần Văn Thuận trong sân trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1966. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận hiện nay đã cao tuổi và đang nghỉ hưu tại nhà riêng ở TP HCM. (Hình thầy TVT)

Tái bút: Thầy Trần Văn Thuận cũng có đăng về chi tiết của thầy nếu bạn nào muốn liên lạc với thầy:

Qui vị có thể liên lạc qua: .
+ đtdđ: 0907 497 529 . .
+ email: doanthuancs@gmail.com .
+ nhà: 80/12/48A đường Dương Quảng Hàm,
p5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Giới thiệu Huỳnh Kim Nguyệt

 Huỳnh Kim Nguyệt

Trước khi viết về thuở còn cắp sách đến trường, tôi muốn có vài lời cảm ơn anh Trần Văn Mãnh, một đàn anh của trường Trung Học Hà Tiên đã lập ra Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để chúng ta nhớ đến thầy cô và bạn học của trường xưa. Nếu không có Blog nầy, tuổi hoa niên của tôi đã chìm vào dĩ vãng, nằm khuất một góc nào đó trong trái tim hay một góc nhỏ trong trí nhớ ! Khi tôi được xem lại những câu chuyện buồn vui, cũng như những tâm sự của các bạn trong Blog thì ký ức tuổi học trò của tôi từ từ hiện về, như một khúc phim quay chậm cho tôi nhớ lại hơn 40 năm về trước, tôi cũng đã từng là học sinh của trường Trung Học Hà Tiên đầy thơ mộng…

Tôi đã vào trường Trung Học Hà Tiên niên khóa 1970-1971 học lớp 6P1. Cũng như một số bạn ở Hà Tiên khi chạy giặc Khmer đỏ tôi cũng bị mất hết các sổ học bạ và các sách vở, hình ảnh ngày xưa…(Tôi học chung lớp với bạn Hoàng Thị Minh Liên nên thầy cô dạy Liên thì cũng là thầy cô của tôi).

Huỳnh Kim Nguyệt thời học sinh Trung Học Hà Tiên

Đây là danh sách quý thầy cô đã dạy niên học lớp 10B (niên khóa 1974-1975) :

Việt văn : Cô Lâm Ngọc Mai
Sử Địa ; Thầy Nguyễn Văn Hài
Sinh Ngử 1 : Thầy Lê Quang Khải
Sinh Ngử 2 : Thầy Đỗ Tấn Sĩ
Toán : Thầy Nguyễn Văn Hùng
Vạn Vật : Thầy Nguyễn Hùng Dũng
Vật Lý-Hóa Học : Thầy Trương Minh Tùng
Giám Thị : Cô Trần Kim Phấn
Hiệu Trưởng : Thầy Nguyễn Văn Nén

Danh sách bạn học lớp 10B (niên khóa 1974-1975)

Nguyễn Thị Phương Mai (lớp trưởng)
Hoàng thị Minh Liên
Huỳnh Kim Nguyệt
Phù Kim Dung
ĐỗThị Bích Liên
Trần Kim Liên
Bùi Thị Dung
Đặng Kim Thu
Lê Phụng Vân
Nguyễn Thị Tuyết Nga
Trần Thị Năm
Trần Thị Nghĩa
Hà Ngọc Mẫn
Khưu Thị Thu Vân
Mai Xuân Đào
Mai Xuân Điều
Trần Tuyết Mai
Lưu Sở Anh
Trần Ngọc Cầm
Phạm Thị Thu Hồng
Trần Thị Phương Khanh
Huỳnh Thị Xuân Trang
Nguyễn Kim Thơ
Nguyễn Kim Thẩn
Lại Kim Tuyến
Dương Mỹ Nữ
Trịnh Phước Đức
Trần Văn Bích
Lâm Hữu Tính
Trần Hán Vinh
Lê Quang Thùy
Lâm Văn Chương
Thái Nam Phong
Bùi Thanh Long
Phan Văn Dũng
Nguyễn Thành Phụng
Phạm Thị Mỹ Trang
Lâm Thị Hồng
Trương Thanh Kiệt
Dương Ích Lâm
Lâm Chí Hiếu (đã mất)
Nguyễn Phú Thu (đã mất)

Từ năm lớp 6 đến lớp 10 bạn Nguyễn Thị Phương Mai làm lớp trưởng. Tôi học từ lớp 6 đến giữa năm lớp 11 (đã thi xong đệ nhất bán niên) nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên tôi nghỉ học, rời ngôi trường thân yêu.  Thầy cô đã dạy suốt những năm tôi còn đi học, những kỷ niệm đã in sâu đến giờ tôi vẫn còn nhớ. Cô Lâm Ngọc Mai là người cô mà tôi được học xuyên suốt, từ ngày tôi bước chân vào ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho đến khi tôi rời xa trường…

Trái sang phải: Bùi Thị Dung, Huỳnh Kim Nguyệt, Đặng Kim Thu (hình chụp lúc học lớp 10B niên khóa 1974-1975 Trung Học Hà Tiên)

Kỷ niệm về Cô Lâm Ngọc Mai:

Tôi nhớ vào giờ sinh ngử Cô dạy (tôi đã quên năm lớp mấy rồi) cô gọi cả lớp lên trả bài và chia động từ (Verbes – giờ Pháp Văn). Từng em một lên bảngvà hôm đó tôi “hên “ hay sao mà “được” kêu lên bảng 5 lần, tuy vậy tôi đều chia đúng các động từ cô cho. Cuối cùng trong lớp chỉ có 10 bạn là “thoát tội lên bảng”…Thật là hú hồn vì tôi chả giỏi gì cơ mà. Đó là kỷ niệm về cô của tôi Lâm Ngọc Mai.

Cô Lâm Ngọc Mai

Ký ức về Thầy Nguyễn Thanh Liêm :

Thầy giảng toán rất dể hiểu (đối với tôi). Khi thầy lên lớp dạy, thầy không cầm theo sách gì cả vậy mà thầy giảng bài và đọc bài cho học sinh chép. Với lứa tuổi học lớp 6, lớp 7 thì đó là một người thầy rất tài giỏi trong mắt đứa học trò còn ngây thơ. Tôi có nhớ hai câu thơ mà tôi đã quên rác giả rồi:

Làm học trò không sách cầm tay
Có tâm sự nói cùng cây cỏ

Còn đối với thầy, đi dạy không sách cầm tay….có tâm sự thì sao nhỉ??!! Vậy mà tự hỏi như thế đó. Bây giờ nhớ lại thật là “khờ” phải không các bạn?

Thầy Nguyễn Thanh Liêm

Các bạn đến thăm thầy Lê Quang Khải (nước Mỹ) : Bùi Văn Sáu, thầy Lê Quang Khải, Hồ Thị Kim Phượng, Mai Phạm

Và khi tôi thích thơ, tập làm thơ là nhờ thầy Trần Văn Thuận. Thầy giảng bài rất truyền cảm, thích nhất là lúc thầy đọc thơ. Một hôm tới giờ thầy dạy làm thơ lục bát, thầy cho thí dụ nhiều lắm nhưng tôi thích nhất hai câu mà tôi nhớ đến tận bây giờ:

Đô Rê Mi Fa Sol La
Ngắm từng âm điệu nghe ra chiều buồn

Ôi ! nhớ và nhớ thật nhiều một thuở học trò của tôi…Giờ đây mỗi người đi một ngả, có nhớ thì chỉ còn lại trong tiềm thức mà thôi để rồi hôm nay tôi lục lại ký ức của tuổi học trò để ghi vào Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa»…

Xin kính chào thầy cô và các bạn…

Về thăm trường xưa

Hôm nay trở lại mái trường xưa
Nhớ lắm bạn ơi biết sao vừa
Góc nhỏ sân trường thêm luyến nhớ
Đâu đây lời giảng gió mây đưa

Tôi nhớ thầy cô nhớ bạn xưa
Cùng đến trường hai buổi sơm trưa
Thờ thẩn giờ đây sao chẳng thấy
Mắt lệ cay hay tại gió mưa ?!

Chợt đâu tiếng trống tỉnh cơn mê
Áo trắng tung bay khắp lối về
Hòa cùng áo trắng tôi thầm bước
Gió thổi bay bay mái tóc thề

Mắt biếc cùng em đôi má thắm
Mai nầy trên mỗi bước sinh nhai
Khi nào trường cũ mình tao ngộ
Bao lời tâm sự chuyện xưa nay

Huỳnh Kim Nguyệt (11/2017)

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi vào đời làm việc.

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi trung niên.

 

Hình ảnh: Huỳnh Kim Nguyệt, Lâm Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa, Bùi Văn Sáu, Hồ Thị Kim Phượng