Thầy Trần Văn Thuận

Thầy cô và các bạn thân mến, tất cả bắt đầu từ một câu hỏi của một người bạn face book của thầy Nguyễn Hồng Ẩn, người bạn đó hỏi thầy Ẩn có biết một đồng nghiệp cũng có một thời dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, người thầy đó dạy môn chính là Việt Văn và tên là Trần Văn Thuận…Sau đó có em Lý Minh Thuận, em của bạn Lý Mạnh Thường có nhắc mình nên viết bài giới thiệu hai thầy đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên một thời gian, đó là thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa và thầy Trần Văn Thuận dạy môn Văn. Thầy Nguyễn Long Hồ thì mình biết, tuy nhiên trong thời gian từ năm 1970 trở đi thì mình qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Trung Trực, thỉnh thoảng có về Hà Tiên nghỉ hè và được biết thầy Nguyễn Long Hồ vì thầy Hồ thường đến nhà bạn Lý Mạnh Thường chơi và mình có gặp thầy Hồ tại đó. Còn trường hợp thầy Trần Văn Thuận thì hình như ngay lúc em Lý Minh Thuận và sau đó là thầy Nguyễn Hồng Ẩn có nhắc cho mình về thầy Trần Văn Thuận thì mình  không nhớ ra thầy Thuận. Sau một thời gian tìm hiểu và đọc các lời viết ngắn gọn của các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên nhắc về thầy Trần Văn Thuận thì mình nghĩ là có thể mình đã biết hoặc có nghe nói qua về quảng thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên…Theo lời các bạn có học qua với thầy Trần Văn Thuận trong thời gian ngắn thầy dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, thì thầy Thuận thường chạy chiếc xe Vespa rất đẹp, thầy có gia đình và ở căn nhà thuê phía trước nhà của anh Phan Văn Hữu khúc dưới xóm Cầu Câu. Thầy Thuận để tóc dài, mái tóc thường cong gắn vào hai tai rất nghệ sĩ. Thầy có tài làm thơ, thầy có làm một bài thơ trong đó kể ra hết tất cả tên của các học trò trong lớp. Chẳng những thế, thầy còn làm thơ bằng chữ Hán, ý nghĩa rất hay. Thầy biết chơi đàn guitare thùng. Có một chi tiết bạn học còn nhớ là thầy không thích nhạc Bảo Thu, Vinh Sử…cũng không thích giọng ca Chế Linh, Giang Tử, Thanh Phong,…v…v…Có thêm một chi tiết quan trọng nữa là thầy Trần Văn Thuận rất được học trò Hà Tiên quý mến, nhất là rất được các em nữ sinh ái mộ …!!

Vài nét để giới thiệu thầy Trần Văn Thuận mà mình tìm hiểu trên trang của thầy: Thầy Trần Văn Thuận người gốc Bình Thuận (làng Tân Lý, thị xã La Gi). Sau khi học xong bậc Trung Học, thầy Thuận có ý chí muốn trở thành kiến trúc sư nên có theo học ngành kiến trúc ở Sài Gòn, đồng thời thầy cũng ghi danh theo học các chứng chỉ ngành Văn Khoa. Vì lý do sức khỏe thầy không tiếp tục theo ngành kiến trúc nên quyết đinh theo đuổi ngành sư phạm ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ngành Viêt Văn. Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trở thành giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ban Văn, thầy Thuận đã thực hành nghề giáo rất nhiều năm bằng cách dạy tư ở các trường Tư Thục, dạy kèm cá nhân tại Sài Gòn..v..v..

Khoảng đầu năm 1970 thầy Trần Văn Thuận về dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, môn Việt Văn. Trong thời gian nầy, thầy Thuận viết bút ký rất nhiều, thầy viết để ghi lại những kỷ niệm, ký ức ngay cả trong những năm còn đi học lớp Đệ Thất ở quê thầy, thầy cũng có nhiều thời gian rỗi rảnh để dịch những bài thơ trong tập Đường Thi bằng chữ Hán sang tiếng Việt. Các tập hồi ký nầy có một phần được các bạn hữu sưu tầm và được phép xuất bản thành sách hiện nay, một số thì bị thất lạc mất.

Đến tháng 10 năm 1972, thầy Trần Văn Thuận được công lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển về trường Bình Tuy dạy môn Anh Văn vì trong quá trình kiến thức của thầy, thầy cũng có văn bằng về môn Anh Văn. Thế là thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên không dài, chỉ vỏn vẹn hai, ba năm, tuy nhiên, theo thầy viết lại trong các bài tự thuật thì trong lúc giảng dạy ở Hà Tiên, thầy có rất nhiều kỷ niệm với các bạn và học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975, thầy Trần Văn Thuận cũng được đề nghị tiếp tục dạy học và quản trị các trường lớp mặc dù ý thầy nhất định rời ngành dạy học để đi vào ngành xây dựng vì đó cũng là kiến thức mà thầy thu thập được khi còn học ngành kiến trúc ngày trước. Thầy Thuận có lúc làm Hiệu phó trường Phổ Thông Cấp 3 Hàm Tân, làm hiệu trưởng trường Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Đến năm 2007, thầy Trần Văn Thuận về nghỉ hưu tại phường Thảo Điền, thuộc quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.

Trong suốt quá trình viết văn, làm thơ, thầy Trần Văn Thuận ký nhiều bút hiệu như: Cát Sỹ, Thoại Băng, Trần Thuận…và bút hiệu chính thầy vẫn dùng là Đoàn Thuận.

Một số tác phẩm của thầy Trần Văn Thuận đã được xuất bản chính thức hiện nay:

Thơ Tự do:
Năm 1994, nhóm thân hữu Tuổi Trẻ sưu tầm những bài thơ thầy Trần Văn Thuận làm trong thời gian thầy giảng dạy ở Hà Tiên biên tập thành “Mùa bấc biển, thơ Đoàn Thuận” do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép xuất bản năm 1994.
La Gi ngàn xanh (NXB Trẻ 1997)
Lửa đêm mưa (NXB Trẻ, 1998)
Khoảng lặng của hoa (NXB Trẻ, 2001)
Tượng (NXB Trẻ, 2002)
Đời sậy (NXB Trẻ, 2003)
Sắc phượng (Hội VHNT Bình Thuận, 2006)
Rong chơi cùng cát bụi (NXB Văn Học, 2012)
Mái xưa (NXB Văn học, 2013)
Dưới hoa (NXB Văn Học 2013)

Thơ lục bát:
Lời chiều (lục bát tứ tuyệt) (NXB Trẻ, 1996)
Lửa đầu non (lục bát trường thiên) (NXB Trẻ, 1999)
Tạ ơn đời (lục bát tam cú) (NXB Văn học, 2013)
Đường Thi (thơ dịch) (NXB Văn Học, 2012)
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch) (NXB Thời Đại, 2014)

Bút Ký:
Những mảng vỡ thời gian
Những miền đất trọ

Paris 14/02/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu theo ý của các bài trên trang của thầy Trần Văn Thuận, và sự đóng góp của các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trân trọng cám ơn Ông Trần Cát Trường, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, các bạn Lý Minh Thuận, Lê Phước Dương,…

Sau đây xin giới thiệu một vài bài viết tự thuật của thầy Trần Văn Thuận viết khi thầy còn ở Hà Tiên:

Thầy Trần Văn Thuận (Hình thầy TVT)

Tôi đi dạy ở Hà Tiên (Trần Văn Thuận)

Khi thi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, bài làm về chữ Nôm không đủ điểm, tôi phải thi lại. Trong khi các anh chị tốt nghiệp kỳ 1 đã đến nhiệm sở mới, tôi ở lại Saigon ôn tập để thi kỳ 2. Rất may mắn, tôi cũng được tốt nghiệp, và theo thứ hạng, tôi có thể chọn nhiệm sở Gò Công. Nhưng anh Nguyễn Chí Thành lại cần về đây, còn tôi nơi nào cũng được, miễn có chỗ dạy chính ngạch, vì tôi thuộc loại yếu về tay nghề sư phạm.
Tôi đến thăm Thầy Đông Hồ, tức thi sỹ Đông Hồ, Thầy khuyên tôi nên về Hà Tiên, quê của Thầy, cũng là nơi sinh ra hệ văn chương Chiêu Anh Các.Tôi quyết định chọn nhiệm sở Hà Tiên, dù cách xa Lagi, quê Mẹ tôi, trên sáu trăm cây số.
Biết tôi xuống Hả Tiên, nơi có nhiều người Minh Hương sinh sống, Thầy Giản Chi tặng tôi bộ Đường Thi viết tay trên giấy dó, và dặn dò tôi cách dịch ra tiếng Việt. Thầy cũng đặt tên tự Cát Sỹ cho tôi. Tự hứa với chính mình, tôi sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong mỏi của quí Thầy Cô.

Tại trung học Hà Tiên, thầy cô phần lớn là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nên tôi chỉ dạy Việt văn vài lớp đệ tam, đệ nhị, giờ trống còn nhiều. Tôi giết thời gian bằng cách chú tâm vào việc sắp xếp những trang tùy bút tôi đã có từ thời học đệ thất, và dịch Đường Thi sang tiếng Việt.

Đầu năm 1970, tôi kết được năm tập “bút ký” khá dày. Mỗi tập trên ngàn trang bản thảo, chằng chịt chữ viết lẫn những bức ký họa và thư pháp. Tôi giữ nguyên những tờ giấy cũ, mang dấu ấn thời gian, dù nhiều trang đã nhòe màu mực. Tập 1 và 2 có tên “Miền đất trọ”. Tập 3, 4 và 5 có tên “Mảng vỡ thời gian”. Đây không phải là trang sáng tác, đúng hơn là trang “tùy bút”, ghi lại những gì nghe thấy trên đường đời, “thấy sao viết vậy”, “nghe gì ghi nấy”; có khi ghi bằng “văn vần” khi bằng “văn xuôi”. Phần lớn, những bài văn vần ngắn gọn nằm trong “lưu bút” hay “nhật ký” của những người bạn quen thân, trong thời đi học đi dạy. Tôi dự định lưu trữ, chờ khi có điều kiện, sẽ biên tập thành sách.

Đầu năm 1972, tôi dịch xong tập Đường Thi của thầy Giản Chi tặng, dưới mỗi bài dịch tôi đề tên Cát Sỹ. Trong đó, có hai phần tách riêng dưới nhan đề “Thơ thiền Vương Duy” và “Ánh trăng Lý Bạch”.

Ngày mới xuống Hà Tiên, tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều người để tìm hiểu về Chiêu Anh Các, nhưng ít người biết rõ, ngoài “Hà Tiên thập cảnh”. Do đó, sau khi tổ chức lễ giỗ Thi sỹ Đông Hồ, tôi dừng lại việc nghiên cứu về hệ văn chương Chiêu Anh Các, như lời gợi ý của Thầy, năm tôi học chứng chi Văn Chương Quốc Âm.

Trong ba năm, tôi dạy học ở đây, gần như không quen thân với ai trong ngành giáo dục, trừ Trần Cao Thu, người ở chung nhà trọ nhưng không chung trường, vì Thầy dạy ở trường Nông Lâm Súc. Cao Thu và tôi cùng họ Trần, nhưng không biết gì về hoàn cảnh của nhau, dù gặp mặt hằng ngày. Tôi chỉ dạy đủ giờ chuẩn, ít khi vào trường, nên xa lạ trước nhiều thầy cô. Có lẽ, do tôi quen thói sống khép kín.
Thời cuộc càng ngày càng nhiều biến động. Đường Hà Tiên sang Rạch giá bị đắp mô, đi lại rất khó khăn, thường xuyên tôi ở lại nhà trọ một mình, kể cả ngày Tết. Dù nhóm bạn học của Lý Tòng Hiếu quanh quẩn bên tôi, giúp tôi bớt buồn, nhưng tôi vẫn rất nhớ Mẹ nhớ nhà, khi mùa Gió Chướng thổi qua….

Tuy vậy, một số phụ huynh dần dà kết thân với tôi, đặc biệt là nhóm Ba Lá. Nhóm thường thả xuồng Ba Lá ngắm trăng trên hồ Đông. Uống rượu đế với tép rang và đọt so đũa. Khi thì kể một câu chuyện đau buồn của người nghèo khổ. Khi thì vổ mạn xuồng hát điệu lam thôn dân dã, boléro miền Nam. Khi thì đọc một câu thơ tự chế. Trình độ học vấn của nhóm không bao nhiêu, nhưng sự hiểu biết về cuộc sống thăng trầm luân hồi nhân quả thì quá nhiều. Tôi thầm cám ơn nhóm thân hữu Ba Lá, vì đã giúp tôi nhận ra nhiều điều không có trong sách vở, suốt thời đi học. .

Hà Tiên, đối với tôi, là “miền đất trọ” thơ mộng thân yêu, nơi tôi dạy học với tư cách giáo sư trung học đệ nhị cấp chính ngạch.

Ra trường, tôi chuyển đến Hà Tiên.
Cuối trời đất nước biệt một miền.
Kiên Lương Rạch Giá, vùng oanh kích.
Lênh đênh kênh rạch một đêm thuyền.
.
Hai chiếc va li một cây đàn,
đôi ba quyển sách làm hành trang.
La Gi quê mẹ xa ngàn dặm.
Châu thổ sông dài trời mênh mang.
.
Đất nước chiến tranh lắm đoạn trường .
Tôi vì cơm áo lại tha phương .
Những mong gửi gắm lòng thương nước
vào đàn em nhỏ của quê hương.
.
Cứ ngỡ tôi như cụ đồ già,
bụi đường mưa gió tóc sương pha,
bút nghiên khăn gói dăm ba chữ,
về ngồi dạy trẻ « miệt vườn » xa.
.
Hà Tiên,1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Khoảng lặng không tên (Trần Văn Thuận)

Tôi đến Hà Tiên trình sự vụ lệnh dạy học vào một buổi chiều. Sắc chiều còn lại ở chân trời là những áng mây trắng, che dần ráng đỏ, trôi vào đêm. .

Quán cốc cuối đường qua bãi Thuận Yên đã thưa khách, chỉ còn ba người đàn ông đang lai rai mấy chén rượu đế. Phố Hà Tiên nằm bên kia hồ, mờ mờ trong bóng chiều. Những ngọn đèn đỏ quạch. Vài ngọn dừa cao trên mái nhà ngói cổ. Phố im lìm dù mới chớm đêm. Hồ Đông như một vòng cung ôm trọn khu phố. Nhìn từ bên này Thuận Yên, phố nhỏ nhưng rất thơ mộng. .

Bụi đường phủ đỏ trên tóc trên vai áo, trên chiếc túi xách hành trang. Đã nhiều chuyến đò qua bờ bên kia và trở lại cắm sào bên pong-tông cầu xi-măng. Tôi ngồi bên quán nhỏ mà tưởng mình như kẻ giang hồ lữ thứ bao đời. Một cốc rượu trắng uống hoài không cạn. Phố cách một chuyến đò ngang mà tôi chưa muốn sang, vì không quen biết ai. Hà Tiên là quê hương của thi sỹ Đông Hồ, với tôi, như một nơi lưu biệt xa lạ. Con đò nhỏ vẫn nằm im bên bờ vắng, chờ đưa người khách lạ sang sông. Ánh đèn dầu le lói soi bóng thuyền nhạt nhòa trên dòng nước. Phố nhỏ chìm dần vào giấc ngủ khuya, khi con đò neo lạnh dưới bến. .

Một mái hiên nhỏ ở đầu quán, nơi khách đi đường trọ lại qua đêm. Con đường Kiên Giang Hà Tiên thường bị đấp mô, nên khách có thể lênh đênh trên kênh một ngày dài, cũng có thể đi vội trên xe Honda ôm, cũng có thể dừng lại nơi đây chờ chuyến đi thích hợp. Trên một chiếc ghế xếp, tôi nhìn ra hàng cây dương liễu dưới bóng trăng mờ, tưởng nhớ miên man đến quê nhà La Gi. Khi tôi vừa đốt thuốc, định nhờ đốm lửa xua đi nỗi buồn trong đêm quạnh quẽ, một Honda ôm dừng lại trước mặt. Một phụ nữ vào quán và một thanh niên vội vã lên xe Honda ôm, chạy về phía Kiên Lương. Trong quán, tiếng ly tách chạm, lẫn với giọng nói lè nhè của người say rượu. Theo ánh đèn, hé qua cánh cửa, bà chủ quán gọi người phụ nữ là cô Hậu và chỉ chiếc ghế trống bên cạnh tôi. Cửa khép lại. Một không gian yên tịnh, mờ ảo, dưới sao khuya.

Trong bóng đêm, chị Hậu nằm hút thuốc liên tục như thao thức với một tâm sự riêng. Tôi cũng lặng thầm thao thức nhớ nhà, qua hương tóc bay của chị. Bổng nhiên chị đưa tôi gói thuốc Caraven A như mời tôi hút, tôi đưa cho chị gói Pall Mall. Chị rút một điếu, bật lửa đốt và đặt vào môi tôi điếu thuốc chị đang hút. Tôi rít một hơi dài, thầm hưởng mùi thơm rất dịu. Tàn điếu Pall Mall, kề sát vào tai, chị hỏi nhỏ tên tôi. Tôi trả lời nhưng chị đưa một ngón tay lên môi, nhìn tôi rất buồn. Một khoảng lặng không tên giữa chị và tôi. .

Sáng hôm sau, xuống đò qua phố, chị đưa tôi đến cuối đường Tô Châu, giới thiệu tôi với một người quen, để tôi ở trọ. Chị từ giã sang Nam Vang, còn lại trong tôi sự vỗ về dịu êm cùng đôi điều suy nghĩ, dù chị và tôi chỉ bên nhau một đoạn đường ngắn.

Hà Tiên, 1/1970
Đoàn Thuận

Tết xa nhà (Trần Văn Thuận)

Một lần nữa, tôi lại ăn tết nơi quê người.

Liêm, Hồ, Hài đã sang Phú Quốc đi máy bay về quê tuần trước. Thầy Trần Cao Thu và tôi đã ba lần trốn dưới đò xuôi kênh đều bị giử lại, vì đường bộ sang Rạch Giá vẫn bị đắp mô. Nghèo khó và chiến tranh buộc tôi ở lại Hà Tiên, ăn Tết xa nhà.
Nhà Bác Tám nhộn nhịp, con cháu về chuẩn bị đón xuân. Tôi nằm riêng trong phòng đọc sách. Nhóm bạn của Tòng Hiếu đến thăm và tặng quà tết với một cây thuốc con mèo đỏ, bánh lạt, beurre, café, bốn đòn bánh. Điền cho năm búp huệ trắng, rất thơm. Thật ra, trong thập niên 60, đôi lần tôi ở lại gác trọ một mình chờ năm cũ trôi qua. Giờ đây, tuy tôi ăn nhờ ở đậu trong nhà, nhưng Bác Tám coi tôi như người thân, hơn nữa, những “thư sinh” hồn nhiên luôn quay quần bên tôi, lại có Cao Thu cùng chung cảnh ngộ. Xuân như nhiên vẫn đến, dù xa nhà. .

Cao Thu đề nghị một cuộc dạo chơi cuối năm trên núi. Chúng tôi đi bộ qua rừng dâu Thuận Yên lên núi Voi. Thiếu mai vàng, nhưng hoa thơm, cỏ mượt rất nhiều. Từ một gộp đá nhìn ra biển, Cao Thu như một bức tượng lặng câm. Tôi bắt gặp một điều gì vấn vương trong gió. Bấc tháng giêng chăng? Nhà tôi xa tít phía chân trời. Tôi cũng nhớ đôi điều về Sài Gòn đầy ắp kỷ niệm của một thời sinh viên, của những mùa xuân lưu lạc. Chiều xuống đã lâu. Chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển về lại Thuận Yên, trong tiếng pháo nhà ai nổ dòn. .

Chiều mồng Một, nhóm thân hữu Ba Lá đến chúc Tết và mời tôi đi thăm nhà thi sỹ Đông Hồ, rồi cùng nhau thả thuyền lênh đênh về kênh Vĩnh Tế, mừng Bác Hẹ tròn tám mươi tuổi. Xuồng “ba lá” lắc lư theo điệu Boléro, muỗng nhịp trên chén rượu nếp trắng, nhóm chúng tôi đón xuân sang nơi quê hương thơ mộng Hà Tiên. Một mùa xuân tha phương, còn mãi trong ký ức tôi. .

Hà Tiên, 1971
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Chú thích: Trong bài ký sự nầy thầy Trần Văn Thuận có nhắc đến quý thầy: Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Long Hồ, Nguyễn Văn Hài và thầy cũng có nhắc đến các học sinh như Lý Tòng Hiếu, Quách Ngọc Điền…..

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình Thai Manh Hoai)

Một vài bài thơ thầy Trần Văn Thuận viết có liên quan đến Hà Tiên:

Bên bến Tô Châu

Dừng chân bên bến Tô Châu.
Bờ cây bến đá quánh màu gió sương.
Ô đèn thắp bóng con đường.
Mấy ngôi nhà cổ, mấy tường rêu phong.
.
Dừng chân phố thị bên sông.
Lửa thuyền đêm lạnh giữa mông mênh mùa.
Tiếng người khuất dưới lau thưa.
Ngờ như lời cổ thi vừa bay qua.
.
Hà Tiên, 1970
CÁT SỸ

Đêm thức Hà Tiên

Góc trời đêm lạnh Hà Tiên
Gió bờ dương liễu Thuận Yên ru sầu.
Sóng vùi cát bãi đêm thâu
Vết chân chim dẫm nát nhầu bóng ai.
.
Nằm nghe sông núi thở dài
Nghe ta giữa thế kỷ hai mươi buồn.
Hồ Đông in bóng trăng suông
Một dòng sông cũ nhớ nguồn xa xôi.
.
Đảo hoang cây cỏ bổi hồi,
Áo xưa bụi phủ một thời đau thương.
Mãi lo mãi khổ đôi đường
Trên quê hương lại tha phương mịt mù.
.
Nữa đời già cỗi tiếp thu.
Lửa nhân sinh đốt khói rù khe tim.
Tô Châu phố ngủ im lìm.
Ta ôm nỗi xót xa tìm vào quên.
.
Hà Tiên, 1970.
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Hình ảnh thầy Trần Văn Thuận trong sân trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1966. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận hiện nay đã cao tuổi và đang nghỉ hưu tại nhà riêng ở TP HCM. (Hình thầy TVT)

Tái bút: Thầy Trần Văn Thuận cũng có đăng về chi tiết của thầy nếu bạn nào muốn liên lạc với thầy:

Qui vị có thể liên lạc qua: .
+ đtdđ: 0907 497 529 . .
+ email: doanthuancs@gmail.com .
+ nhà: 80/12/48A đường Dương Quảng Hàm,
p5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 20/11 mỗi năm, giới nhà giáo và học sinh chúng ta lại có dịp tưởng nhớ, suy nghĩ về thầy cô và trường lớp, điều nầy không có nghĩa là mọi ngày bình thường khác chúng ta không nhớ đến thầy cô…Thật vậy nhân dịp ngày đặc biệt nầy, chúng ta thường có dịp viết về thầy cô, về trường lớp, có bạn lại qua mạng fb, gởi đến quý thầy cô ở phương xa một cánh thiệp chúc sức khỏe có hình trình bày rất đẹp, hoặc một bó hoa đầy màu sắc rực rở gởi đến cô giáo kính yêu ngày xưa,…mặc dù đó chỉ là một cánh thiệp hay một bó hoa « ảo »…Thời đại mới, thôi thì hãy sống theo phong cách hợp thời hơn, quan trọng là tấm lòng kính yêu thầy cô trong sâu kín của trái tim chúng ta vẫn còn mãi không thay đổi theo thời gian và phong cách mới…

Bạn Giá Khê (Trương Thanh Hùng) cũng không qua thông lệ đó, mặc dù ngày Nhà Giáo đã trôi qua, nhưng dư âm ngày lễ vẫn còn trong lòng bạn và bạn đã dành thời giờ tưởng nhớ và ghi lại trên giấy trắng mực đen, những suy nghĩ và hổi ức về ngày xưa, ngay từ thuở chập chửng vào nhà trường cho đến những ngày bồi hồi sắp sửa rời trường bước vào trường đời đầy thử thách…Có ai có đủ khả năng trí nhớ để nhớ và kể lại từng tên họ thầy cô đã giảng dạy mình qua từng thời gian, có ai có đủ khả năng trí nhớ để viết lại vài mẫu kỷ niệm vui buồn thời đi học,…Có lẽ chỉ có những tâm hồn mang nặng cưu mang về hồi ức thời tuổi trẻ còn trên ghế nhà trường mới có thể viết đầy đủ chi tiết như bạn Giá Khê, mặc dù trong chúng ta, ai cũng có một thời sống một dĩ vãng trường lớp rất phong phú,…Hãy đọc bài viết của bạn Giá Khê, để khơi lại trong mỗi chúng ta một ngôi trường, một lớp học thân yêu ngày xưa và nhất là cũng để trong trái tim sâu kín của chúng ta, nổi bật ra niềm kính yêu, tưởng nhớ những vị thầy cô, đã từng giảng dạy chúng ta ngay từ khi mới bước chân vào một lớp học vốn mang rất nhiều tên gọi theo từng thời kỳ; lớp Chót, lớp Năm, lớp Vỡ Lòng,….cho đến những vị thầy cô đã mang đến cho chúng ta những kiến thức cao hơn, cần thiết cho sự rèn luyện con người và khả năng làm việc ngoài đời sống, những kiến thức toán học, khoa học, sinh ngữ..v..v….(TVM Paris 21/11/2019)

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Hôm nay đã qua “Ngày nhà giáo Việt Nam” (Trước đây là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”), nhưng vẫn viết một số hồi ức về những người Thầy, Cô, những người đã trao truyền cho tôi kiến thức, hướng dẫn tôi về đạo đức, lối sống và nhân cách làm người.

Khi còn nhỏ, gia đình tôi ở Tân Bằng thuộc huyện Thới Bình khu vực U Minh Hạ. Năm đó, tôi mới 5 tuổi được cha mẹ cho vào học lớp “Năm B”, thời đó lớp Năm còn được chia thành Năm B và Năm A, lớp Năm B như là lớp vỡ lòng. Người thầy đầu tiên mà tôi được học là Thầy Luyến, nhưng vì còn nhỏ quá nên tôi không nhớ nhiều kỷ niệm về Thầy, chỉ còn nhớ là Thầy có vóc người thanh mảnh, dáng thư sinh. Năm đó, tôi có một lần trốn học nhưng không bị Thầy phạt hay méc lại với ba má tôi.

Năm 1960, gia đình tôi chuyển về sinh sống ở Tri Tôn, nay là thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất. Tôi vào học lớp Năm A với Cô Hoa, tôi cũng không còn nhớ kỷ niệm nào về Cô, chỉ nhớ năm ấy cô đã khá lớn tuổi có mấy người con trạc tuổi tôi và lớn hơn.

Sau đó tôi học lớp Tư với Cô Thủy. Cô khá đẹp người, hiền lành và mới kết hôn với Thầy Hải. Tôi rất quí Cô Thủy nên học hành rất ngoan ngoãn, khi Cô gõi lên trả bài tôi đều thuộc, nhưng tôi lại rất sợ Thầy Hải vì thấy Thầy quá nghiêm khắc. Những khi Cô Thủy bệnh, Thầy Hải dạy thế là tôi rất sợ, khi Thầy gọi lên trả bài là tôi quên hết bài vỡ dù mình đã thuộc rất kỹ. Qua năm sau, Thầy Hải dạy tôi lớp Ba, có lẽ vì sợ Thầy mà tôi học hành rất đàng hoàng. Trong kỳ thi lớp Ba lên lớp Nhì tôi đậu hạng nhất (cùng với bạn Sử). Năm lớp Nhì tôi học với Thầy Lê Kim Ích, Thầy rất dễ mến, tôi rất quý.

Giữa năm học 1963-1964 gia đình tôi chuyển về Hà Tiên, tôi học lớp Nhì ở trường Tiểu Học Hà Tiên với Thầy Minh, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì Thầy Minh phải đi lính, lớp tôi phải chia ra để học với 2 lớp khác, tôi được học lớp Nhì A với Thầy Hứa Văn Vàng. Thầy Vàng đã lớn tuổi và rất nghiêm khắc. Tôi có khuyết điểm là viết chữ xấu lại có tính cẩu thả, lười biếng. Trong những giờ viết chính tả, Thầy hay ngồi bên cạnh tôi, khi tôi viết chữ không ngay ngắn, không đúng theo khuôn mẫu là Thầy dùng một cây bê bằng các tông vố ngay cho tôi một phát; khi học không thuộc bài thì chủ nhật Thầy bắt về nhà Thầy học chừng nào thuộc mới cho về. Có lẽ nhờ Thầy Vàng mà tôi viết chữ đàng hoàng hơn. Sau này, khi tôi về làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên, Thầy đã kêu lại dặn rằng: “Đừng học theo tánh gà què ăn quẩn cối xay” bởi trường tôi lúc đó có vài cô giáo trẻ.

Năm học 1964-1965, tôi học lớp Nhất với Thầy Phan Tấn Hoàng, Thầy Hoàng rất vui tánh, nhưng cũng khá “dữ đòn”, em nào không thuộc bài là bị Thầy thưởng ngay vài roi vô mông, nhờ vậy, học trò lớp Nhất A của Thầy Hoàng được đánh giá khá cao, năm đó thi Đệ Thất, lớp tôi có nhiều người thi đậu hơn các lớp khác. Sau này, quan hệ thân thiết với nhau, Thầy Hoàng có nói với tôi đại ý “Khi làm một việc gì, mình phải sẵn sàng đón nhận kết quả tệ nhất, để khi có kết quả tốt hơn, dù không được như ý thì mình cũng thấy vui”, tôi cho đó là một câu nói chí lý.

Vào lớp Đệ Thất năm 1965 và sau đó là học tiếp các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ (Đệ Tứ Quốc tế), tôi được học với Cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Thầy Phan Văn Xuân, Thầy Trương Minh Hiển là người Hà Tiên và các thầy cô ở nơi khác về dạy gồm Thầy Bùi Văn Cầm, Thầy Nguyễn Phước Hậu, Thầy Đức Sinh,Thầy Phan Văn Chiếu, Thầy Nguyễn Văn Út, Thầy Nguyễn Văn Nén, Thầy Nguyễn Văn Thành, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn. Sang đệ nhị cấp, lớp Đệ Tam, Đệ Nhị có thêm Cô Nguyễn Thị Rớt, Thầy Nguyễn Văn Thuận. Còn nhiều Thầy Cô khác thì hình như không có dạy tôi (như Cô Dương Thị Minh Hoa, Cô Nguyễn Ngọc Oanh, cô Võ Kim Loan, Thầy Huỳnh Văn Xền, Thầy Nguyễn Thanh Liêm. . .). Tất cả các Thầy Cô ở trường Trung học Hà Tiên xưa từ năm 1965 đến 1971 đều để trong lòng tôi sự kính trọng và yêu mến, nhưng có những Thầy Cô làm cho tôi có nhiều ấn tượng, đó là:

Cô Hà Thị Hồng Loan hiền lành dễ mến, Cô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn làm cho tôi nhớ mãi những bài thơ cả cổ văn và kim văn như các bài thơ của Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan, các bài « Khói Trắng » của nhà thơ Kiên Giang, bài « Xóm chợ chiều đông » của Bàng Bá Lân, « Chợ Tết » của Đoàn Văn Cừ. . .

Thầy Nguyễn Phước Hậu dạy tôi thổi sáo nên đến sau này tôi thổi sáo cũng không tệ lắm.

Thầy Đức Sinh dạy Anh Văn năm Đệ Thất (học ở phòng thí nghiệm), trong giờ học mà Thầy lại dạy các bài hát của đạo Thiên chúa như bài “Đêm Đông” (Không phải bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương), bài hang Bethléem mà đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.

Thầy Bùi Văn Cầm dạy Vạn vật, Thầy có vẻ hiền lành, vui vẻ, đến năm 1987 tôi ra Qui Nhơn thăm và được Thầy cô đón tiếp rất chu đáo.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa để lại trong tôi tình cảm khá đặc biệt. Tôi vốn là một học sinh kém (kém đều các môn), nhưng không hiểu sao năm học Đệ Tam, trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi được điểm cao nhất nên bạn bè bớt chê tôi. Đến khi tôi đi học Sư phạm ở Vĩnh Long, Thầy (lúc đó là hiệu trưởng trường trung học Bình Minh) vào nội trú tìm tôi bảo tôi dạy kèm toán, lý hóa cho 2 đứa em vợ của Thầy, giúp tôi bớt khó khăn trong những ngày học xa nhà.

Thầy Trương Minh Hiển dạy Quốc văn năm Đệ Tứ. Tôi yêu văn chương bắt đầu từ Thầy Hiển. Nhớ có một buổi học, Thầy đọc bài thơ “Thăm động Hương Tích” của Chu Mạnh Trinh, đọc suốt bài thơ với giọng hào sảng và gần như không lấy hơi làm cho tôi và các bạn say mê. Năm đó, không hiểu tôi phạm lỗi gì mà

Thầy bắt tôi vào văn phòng để cho tôi mấy roi mây, tôi nghĩ là mình bị đòn oan, nhưng tôi rất nể trọng Thầy Hiển nên không dám có ý kiến gì. Sau này, tôi và Thầy Hiển rất quí nhau, có khá nhiều ấn tượng (như trong bài viết trước đây về Thầy Hiển).

Thầy Trần Văn Thuận dạy quốc văn năm Đệ Tam (lớp 10) cũng là người truyền thêm cho tôi tình yêu văn chương. Thầy Thuận bị tai nạn gì đó mà một bên mặt (bên phải) bị thẹo, nên khi giảng bài, Thầy thường bước tới rồi bước lui không quay lại để học trò không nhìn thấy thẹo mặt của Thầy. Thầy dạy tác phẩm « Chinh phụ ngâm » rất hay làm cho tôi say mê. Năm đó, Thầy bảo lớp chúng tôi viết thơ hoặc văn để in, Thầy gợi ý nên đặt tên cho tập thơ văn đó là “Lửa Lựu”, lấy hai từ trong câu thơ “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”, nhưng sau đó chúng tôi đặt tên cho tập văn thơ này là “Suối mơ”, tập tác phẩm này in khá đẹp, tiếc rằng hiện nay tôi không còn, không biết bạn bè có ai còn giữ không?.

Còn những Thầy Cô khác, tôi đã có viết và được anh Mãnh đưa lên trang “Trung Học Hà Tiên Xưa” của chúng ta rồi nên không nhắc lại. các bạn nếu thích đọc xin vui lòng tìm lại trên các trang của Blog nhé,…

Lan man nhớ về Trung học Hà Tiên xưa, nhớ Thầy Cô, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, xin ghi lại ít dòng chia sẻ với Thầy Cô và các bạn đồng học trong những ngày cuối năm.

  21/11/2019 Giá Khê Trương Thanh Hùng

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên). Hình: Trương Thanh Hùng, năm 2017

Tác giả Giá Khê Trương Thanh Hùng (bên phải) đến thăm thầy Phan Văn Xuân (bên trái) nhân ngày Nhà Giáo năm nay 20/11/2019 tại tư gia thầy ở Hà Tiên. Hình: Trương Thanh Hùng.

Giới thiệu Huỳnh Kim Nguyệt

 Huỳnh Kim Nguyệt

Trước khi viết về thuở còn cắp sách đến trường, tôi muốn có vài lời cảm ơn anh Trần Văn Mãnh, một đàn anh của trường Trung Học Hà Tiên đã lập ra Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để chúng ta nhớ đến thầy cô và bạn học của trường xưa. Nếu không có Blog nầy, tuổi hoa niên của tôi đã chìm vào dĩ vãng, nằm khuất một góc nào đó trong trái tim hay một góc nhỏ trong trí nhớ ! Khi tôi được xem lại những câu chuyện buồn vui, cũng như những tâm sự của các bạn trong Blog thì ký ức tuổi học trò của tôi từ từ hiện về, như một khúc phim quay chậm cho tôi nhớ lại hơn 40 năm về trước, tôi cũng đã từng là học sinh của trường Trung Học Hà Tiên đầy thơ mộng…

Tôi đã vào trường Trung Học Hà Tiên niên khóa 1970-1971 học lớp 6P1. Cũng như một số bạn ở Hà Tiên khi chạy giặc Khmer đỏ tôi cũng bị mất hết các sổ học bạ và các sách vở, hình ảnh ngày xưa…(Tôi học chung lớp với bạn Hoàng Thị Minh Liên nên thầy cô dạy Liên thì cũng là thầy cô của tôi).

Huỳnh Kim Nguyệt thời học sinh Trung Học Hà Tiên

Đây là danh sách quý thầy cô đã dạy niên học lớp 10B (niên khóa 1974-1975) :

Việt văn : Cô Lâm Ngọc Mai
Sử Địa ; Thầy Nguyễn Văn Hài
Sinh Ngử 1 : Thầy Lê Quang Khải
Sinh Ngử 2 : Thầy Đỗ Tấn Sĩ
Toán : Thầy Nguyễn Văn Hùng
Vạn Vật : Thầy Nguyễn Hùng Dũng
Vật Lý-Hóa Học : Thầy Trương Minh Tùng
Giám Thị : Cô Trần Kim Phấn
Hiệu Trưởng : Thầy Nguyễn Văn Nén

Danh sách bạn học lớp 10B (niên khóa 1974-1975)

Nguyễn Thị Phương Mai (lớp trưởng)
Hoàng thị Minh Liên
Huỳnh Kim Nguyệt
Phù Kim Dung
ĐỗThị Bích Liên
Trần Kim Liên
Bùi Thị Dung
Đặng Kim Thu
Lê Phụng Vân
Nguyễn Thị Tuyết Nga
Trần Thị Năm
Trần Thị Nghĩa
Hà Ngọc Mẫn
Khưu Thị Thu Vân
Mai Xuân Đào
Mai Xuân Điều
Trần Tuyết Mai
Lưu Sở Anh
Trần Ngọc Cầm
Phạm Thị Thu Hồng
Trần Thị Phương Khanh
Huỳnh Thị Xuân Trang
Nguyễn Kim Thơ
Nguyễn Kim Thẩn
Lại Kim Tuyến
Dương Mỹ Nữ
Trịnh Phước Đức
Trần Văn Bích
Lâm Hữu Tính
Trần Hán Vinh
Lê Quang Thùy
Lâm Văn Chương
Thái Nam Phong
Bùi Thanh Long
Phan Văn Dũng
Nguyễn Thành Phụng
Phạm Thị Mỹ Trang
Lâm Thị Hồng
Trương Thanh Kiệt
Dương Ích Lâm
Lâm Chí Hiếu (đã mất)
Nguyễn Phú Thu (đã mất)

Từ năm lớp 6 đến lớp 10 bạn Nguyễn Thị Phương Mai làm lớp trưởng. Tôi học từ lớp 6 đến giữa năm lớp 11 (đã thi xong đệ nhất bán niên) nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên tôi nghỉ học, rời ngôi trường thân yêu.  Thầy cô đã dạy suốt những năm tôi còn đi học, những kỷ niệm đã in sâu đến giờ tôi vẫn còn nhớ. Cô Lâm Ngọc Mai là người cô mà tôi được học xuyên suốt, từ ngày tôi bước chân vào ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho đến khi tôi rời xa trường…

Trái sang phải: Bùi Thị Dung, Huỳnh Kim Nguyệt, Đặng Kim Thu (hình chụp lúc học lớp 10B niên khóa 1974-1975 Trung Học Hà Tiên)

Kỷ niệm về Cô Lâm Ngọc Mai:

Tôi nhớ vào giờ sinh ngử Cô dạy (tôi đã quên năm lớp mấy rồi) cô gọi cả lớp lên trả bài và chia động từ (Verbes – giờ Pháp Văn). Từng em một lên bảngvà hôm đó tôi “hên “ hay sao mà “được” kêu lên bảng 5 lần, tuy vậy tôi đều chia đúng các động từ cô cho. Cuối cùng trong lớp chỉ có 10 bạn là “thoát tội lên bảng”…Thật là hú hồn vì tôi chả giỏi gì cơ mà. Đó là kỷ niệm về cô của tôi Lâm Ngọc Mai.

Cô Lâm Ngọc Mai

Ký ức về Thầy Nguyễn Thanh Liêm :

Thầy giảng toán rất dể hiểu (đối với tôi). Khi thầy lên lớp dạy, thầy không cầm theo sách gì cả vậy mà thầy giảng bài và đọc bài cho học sinh chép. Với lứa tuổi học lớp 6, lớp 7 thì đó là một người thầy rất tài giỏi trong mắt đứa học trò còn ngây thơ. Tôi có nhớ hai câu thơ mà tôi đã quên rác giả rồi:

Làm học trò không sách cầm tay
Có tâm sự nói cùng cây cỏ

Còn đối với thầy, đi dạy không sách cầm tay….có tâm sự thì sao nhỉ??!! Vậy mà tự hỏi như thế đó. Bây giờ nhớ lại thật là “khờ” phải không các bạn?

Thầy Nguyễn Thanh Liêm

Các bạn đến thăm thầy Lê Quang Khải (nước Mỹ) : Bùi Văn Sáu, thầy Lê Quang Khải, Hồ Thị Kim Phượng, Mai Phạm

Và khi tôi thích thơ, tập làm thơ là nhờ thầy Trần Văn Thuận. Thầy giảng bài rất truyền cảm, thích nhất là lúc thầy đọc thơ. Một hôm tới giờ thầy dạy làm thơ lục bát, thầy cho thí dụ nhiều lắm nhưng tôi thích nhất hai câu mà tôi nhớ đến tận bây giờ:

Đô Rê Mi Fa Sol La
Ngắm từng âm điệu nghe ra chiều buồn

Ôi ! nhớ và nhớ thật nhiều một thuở học trò của tôi…Giờ đây mỗi người đi một ngả, có nhớ thì chỉ còn lại trong tiềm thức mà thôi để rồi hôm nay tôi lục lại ký ức của tuổi học trò để ghi vào Blog «Trung Học Hà Tiên Xưa»…

Xin kính chào thầy cô và các bạn…

Về thăm trường xưa

Hôm nay trở lại mái trường xưa
Nhớ lắm bạn ơi biết sao vừa
Góc nhỏ sân trường thêm luyến nhớ
Đâu đây lời giảng gió mây đưa

Tôi nhớ thầy cô nhớ bạn xưa
Cùng đến trường hai buổi sơm trưa
Thờ thẩn giờ đây sao chẳng thấy
Mắt lệ cay hay tại gió mưa ?!

Chợt đâu tiếng trống tỉnh cơn mê
Áo trắng tung bay khắp lối về
Hòa cùng áo trắng tôi thầm bước
Gió thổi bay bay mái tóc thề

Mắt biếc cùng em đôi má thắm
Mai nầy trên mỗi bước sinh nhai
Khi nào trường cũ mình tao ngộ
Bao lời tâm sự chuyện xưa nay

Huỳnh Kim Nguyệt (11/2017)

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi vào đời làm việc.

Huỳnh Kim Nguyệt tuổi trung niên.

 

Hình ảnh: Huỳnh Kim Nguyệt, Lâm Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa, Bùi Văn Sáu, Hồ Thị Kim Phượng

 

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành

Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » đã viết rất nhiều bài giới thiệu những thầy cô yêu quý đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên xưa, nếu không nhắc đến thầy Nguyễn Văn Thành thì sẽ là một thiếu sót đáng kể…Mình không biết trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta có tất cả là bao nhiêu đời Hiệu Trưởng nhưng theo mình biết trước thầy Nguyễn Văn Thành trường Hà Tiên chúng ta có hai thầy Hiệu Trưởng:  thầy Doãn Quốc Sỹ và sau đó là thầy Lại Xuân Quất (khi mình vào bậc Trung Học niên khóa 1964-1965 thì thầy Lại Xuân Quất đã là Hiệu Trưởng của trường. Sau đó có đợt giáo sư ở Sài Gòn được bổ nhiệm xuống trường Hà Tiên (khoảng năm 1964-1965), trong đó có thầy Nguyễn Văn Thành dạy môn Lý Hóa, khi mình vào lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1966-1967) thì thầy Thành bắt đầu nhận chức Hiệu Trưởng của trường Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Văn Thành cũng thuộc trong nhóm giáo sư ở trọ căn nhà số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên (Quý thầy ở trọ trong căn nhà nầy là: Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Hồng Ẩn, Phùng Tuấn Sinh, Nguyễn Văn Thành, Út, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Phan Văn Chiếu, Bùi Văn Cầm…..)

Trong khoảng thời gian đó sau khi có biến cố 1963, các tướng lảnh bắt đầu nắm quyền hành trong nước, lúc đó có tướng Nguyễn Khánh với bộ râu dưới càm rất lạ và rất oai. Thầy Nguyễn Văn Thành cũng theo phong cách để râu càm như vậy…

Lớp mình có nhiều kỷ niệm với thầy Thành, xin kể kỷ niệm thứ nhứt:

Vì thầy dạy môn Lý Hóa nên trong những giờ môn Vật Lý thầy thường giảng về các khái niệm: « Năng Lượng », « Điện Tích », « Điện Trường »,….và định luật Coulomb. Trong các ký hiệu dùng để diển tả công thức, thầy thường dùng ký hiệu Q (đọc theo âm Việt là « cu »…), và khi trên bảng thầy viết có hai công thức khác nhau nên thay vì dùng hai ký hiệu khác nhau Q1 và Q2, thầy lại dùng hai ký hiệu Q và q, thầy đọc trong lúc giảng… »cu lớn » và « cu bé »…!!! làm cả lớp cứ khúc khích cười không tập trung theo dỏi bài giảng được.

Kỷ niệm thứ hai:

Mình không nhớ vì một lý do gì đó mà thầy vào lớp để điều tra xem có học sinh nào làm một điều gì đó mà mình quên rồi, thầy đứng trước giữa lớp cứ hỏi to và nhiều lần: « Em nào vào đây ?? », « Em nào làm hãy cứ ra nhận lỗi ?? « ….Cả lớp im phăng phắt vì không ai ngu dại gì ra nhận tội….Cả lớp cứ chối: « Đâu có ai làm gì đâu thầy ơi…!! » Chờ và hỏi hoài không thấy có kết quả thầy giận quá thầy quát to: « Không ai « quô » đây thì ma quỷ nó « quô » đây …!! »….Câu nầy về sau mình và Lý Mạnh Thường rất thích cứ nhái đi nhái lại thầy hoài (dỉ nhiên là đâu dám nói trước mặt thầy…)

Kỷ niệm thứ ba:

Kỷ niệm nầy lại rất ghê gớm…Rất nhiều lần học trò thường hay đến chơi nhà quý thầy ở trọ (căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên), mỗi lần các học trò « thân » đến chơi, các bạn thường khai ra hết những chuyện bí ẩn trong lớp cho quý thầy biết,..Có lần đó không có mặt mình, có một nhóm bạn hình như là Lý Cui, Lý Văn Tấn,…đến nhà thầy chơi tối, không biết là thầy Thành tò mò hỏi các bạn nầy hay các bạn nầy tự khai ra mình không nhớ rỏ, mà các bạn đã khai ra hết trong lớp mình, ai là bồ của ai, hay là ai « yêu » thích ai.. …Thời đó trong lớp có Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm nhỉ) cặp bồ với bạn Quách Thị Chol, còn nhiều cặp nữa mà mình đã quên rồi, chắc lúc đó các bạn Lý Cui và Tấn Lý có khai trường hợp của mình nữa…Thầy Thành nghe các bạn khai hết như vậy rất thích, không biết thầy có ghi lại tên mỗi cặp cho dể nhớ hay không mà sáng hôm sau, có giờ thầy Thành dạy Vật Lý, thầy bắt đầu kêu tên trả bài, thầy cứ kêu tên một bạn nam và sau đó thầy kêu tới tên bạn nữ trong cặp nam nữ mà thầy đã biết đêm hôm qua, lúc đầu trong lớp không ai để ý, một lúc sau, cả lớp khám phá ra quy luật kêu tên trả bài của thầy Thành, lúc đó cả lớp hiểu ra chiến thuật đó nên rất thích chí và cười to mỗi khi có một nam và một nữ đúng tên trong một cặp bị kêu lên trả bài,…Bởi vậy khi thầy kêu tên bạn nam A thì cả lớp nói bạn nữ B phải chuẩn bị đó….(trong cặp nam nữ tên A và B)…Đọc đến đây chắc các bạn muốn thắc mắc vậy khi thầy Thành kêu tên mình lên trả bài thì sau đó sẽ kêu tên bạn nữ nào trong lớp,…?? Thôi mình không nói ra để cho các bạn học cùng lớp năm xưa đoán nhé,…  :-)…(bạn nào không biết cứ hỏi Hà Mỹ Oanh sẽ rỏ…  :-)…)

Kỷ niệm thứ tư:

Trong thời gian thầy Nguyễn Văn Thành làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên thì phong trào văn nghệ của trường phát triển khá mạnh. Mỗi dịp cuối năm trường làm lễ phát thưởng đều có kèm theo chương trình văn nghệ rất phong phú. Vì mình phụ trách đàn guitare đệm nhạc cho cả trường hát (có cả các bạn chơi guitare khác như Tống Châu Thành, Lý Cui,…) nên thầy Thành hứa là sẽ mua cho trường một dàn trống và một cây đàn điện Fender với cả ampli. Mình còn nhớ lúc thầy Thành nhân một chuyến đi về Sài Gòn công việc, khi trở xuống Hà Tiên, thầy có mua đem về dàn trống và một cây đàn điện Fender và ampli. Hôm đầu tuần thứ hai kế sau ngày thầy về, lúc đó có thông lệ làm lễ chào cờ đầu tuần. Học sinh cả trường ra sắp hàng ngoài sân trước cột cờ để làm lễ chào cờ, có ca bài Quốc Ca nữa. Lúc đó thầy kêu mình lên thử đàn guitare điện Fender mới mua, thầy kêu mình đệm đàn cho cả trường ca bài Quốc Ca… Không biết đến bây giờ số phận của cây đàn điện Fender và cái ampli đó ra sao rồi nhỉ???

Kỷ niệm thứ năm:

Kỷ niệm nầy rất thú vị và mình rất thích tuy bây giờ mình muốn kể lại đầy đủ chi tiết nhưng không làm sao nhớ ra được. Đó là việc vì thầy Nguyễn Văn Thành có nhiều bạn làm Sĩ Quan Hải Quân thời đó, thời đó các tàu Hải Quân thường vào ra ghé bến Hà Tiên (60-70), tàu đậu dưới Đài Kỷ Niệm chổ cầu tàu bến đậu của chiếc tàu đoan quan thuế. Lúc đó là ngày 20/06/1969, vị Sĩ Quan Thuyền trưởng chiếc tàu HQ-607 là bạn của thầy Thành nên ông nầy mời thầy Thành cùng tất cả học sinh trường Trung Học Hà Tiên đi một chuyến du ngoạn ở ngoài Hòn Nghệ. Thầy Thành đồng ý và thầy trò trường Hà Tiên chúng ta được một dịp lên chiếc tàu HQ-607 cùng ra khơi đi thăm Hòn Nghệ. Chuyện đi du ngoạn Hòn Nghệ trên chiếc tàu HQ-607 nầy rất thú vị và là đề tài cho một bài viết mà mình rất muốn viết lại để cho các bạn đọc Blog thưởng thức, tuy nhiên mình không còn nhớ nhiều các chi tiết về chuyến đi Hòn Nghệ nầy, mình rất lấy làm tiếc và nhân đây xin lên tiếng quý Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa những vị có mặt trên chuyến đi nầy xin cố gắng nhớ lại từng chi tiết, từng kỷ niệm chuyến đi và xin đóng góp cho mình các chi tiết đó, mình sẽ tổng hợp lại thành một bài viết để đọc cho vui nhớ về chuyện xưa nhé, rất cám ơn thầy cô và các bạn. Trong chuyến đi Hòn Nghệ nầy có đủ cả các bạn: Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Quách Ngọc Sơn, Trần Văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Mãnh,…Mai Thị Ngọc Minh, Nguyễn Nguyệt Hồng,…đủ hết rất nhiều có cả chị Huỳnh Thị Kim, chị Dung (con Ông Bà Ngữ) cùng lớp với chị Kim,…Mình còn nhớ khi các học sinh lên tàu ra khơi, vì sóng biển bắt đầu đánh nhấp nhô, đi được một lúc, ai nấy đều lừ đừ. ..Khi lên được ở trên Hòn Nghệ thì vui chơi cả ngày, có mua heo, vịt làm tiết canh vịt và cả nhóm bên học sinh nam cùng uống rượu với các anh Hải Quân… .Chiều lại trên chuyến về bị sóng đánh nữa nên ai nấy đều ói mửa đầy cả sàn tàu…khổ cho các anh thủy thủ và các quan chức trên tàu sau chuyến đi đó phải rửa tàu cho sạch lại. Tuy nhiên các chàng thủy thủ và các Sĩ Quân trên tàu rất thích và rất vui trong chuyến đi đó, vì các vị đó được dịp phục vụ các cô nàng nữ sinh Hà Tiên đẹp như mơ mà thường ngày các vị đó tìm cách làm quen nhưng chưa được,…

Vì thầy Nguyễn Văn Thành đảm nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng nên trong công việc điều hành sinh hoạt của trường lớp đôi khi cũng có một vài mâu thuẩn với các đồng nghiệp, và với cả với học sinh.Tuy nhiên theo mình nghĩ qua thời gian hơn 40, 50 năm nay ta nên gìn giữ lại những gì tốt đẹp của ngày xưa mà hãy quên đi những lúc khó khăn, tranh chấp,…Sống theo một tinh thần rộng lượng và thoải mái là tốt đẹp nhất trong những quan hệ xưa và nay.

                       Paris,  mùa lễ Toussaint 02/11/2017 Trần Văn Mãnh tự thuật…

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành mặc áo xám đứng giữa trong hình

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành  trao giải thưởng Danh Dự cho học sinh Trần Văn Mãnh trong ngày lễ phát thưởng cuối năm

Chữ ký tên của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành trong sổ Thông Tín Bạ

Chính trên chiếc tàu Tuần Duyên Hạm PGM Nam Du HQ-607 nầy cả thầy trò và học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đi chơi Hòn Nghệ ngày 20/06/1969 (PGM = Patrol Gunboat Motor)

Khưu Thiên Phước (hồi xưa Phước thường hoạt động trong Gia Đình Phật Tử chùa Tam Bảo, nay đã chết), Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ (cháu Dì Hai Sánh) và anh Chư (anh Chư nhà ở đường Bạch Đằng kế nhà Thầy La Từ Sự, anh Chư học chung lớp với Hải con ông Ba Nhan), hình chụp ngày 20/06/1969 trên tàu Hải Quân HQ-607 chở ra hòn Nghệ đi du ngoạn.

Sau đây là một vài cảm nghĩ của bạn Lâm Thị Lan viết về thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành:

Nhớ về thầy hiệu trưởng NGUYỄN VĂN THÀNH của Trung học Hà Tiên xưa.
Một người thầy hiền từ rất quan tâm tới học sinh nhất là đối tượng học sinh nghèo có ý chí vượt khó vươn lên. Thầy lại rất giỏi về chuyên môn nhất là môn Lý Hoá. Thầy có tư tưởng chuyên sâu đi vào nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao kiến thức cho học sinh, lại có tâm quyết đào tạo thế hệ người thầy tương lai cho những học sinh xuất thân từ Trung học Hà Tiên.
Cảm ơn và trân trọng những phẩm chất cao quý của Thầy ”Tất cả vì học sinh thân yêu” nơi mảnh đất xa xôi phía Tây Nam của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

Tác giả Lâm Thị Lan

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Phùng Học Thông

Tái Bút: Trong phần kể lại kỷ niệm thứ hai, bạn Lê Phước Dương có cho biết lý do tại sao thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành vào lớp mình hỏi để tìm ra thủ phạm: đó là vì có một học sinh vẻ một bức hình hí họa có ý trêu chọc ba người thầy: Thầy Hứa Văn Vàng (Giám Thị), thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng) và ông Thân (Thư Ký). Bức hình diển tả một trường hợp hơi có ý phạm thượng với ba người thầy đó nên thầy Thành rất giận, phải điều tra cho ra ai là học sinh vẻ hình đó để sửa sai…Không biết kết cuộc ra sao mình quên rồi nhưng Dương còn nhớ học sinh đó là bạn Chung Lưởng Tài, học cùng lớp với mình. Cám ơn bạn Lê Phước Dương đã đóng góp cho bài thêm đầy đủ chi tiết.

 

 

 


Hai câu chuyện vui thời đi học (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, hôm trước viết bài về bạn Lý Mạnh Thường làm Thầy Cô và các bạn đọc thấy buồn quá, vậy để hôm nay mình kể vài câu chuyện kỹ niệm vui lúc còn đi học cho khuây khỏa nhé,…

Chuyên 1: Học Anh Văn với người Mỹ

Khoảng vào những năm đầu bậc Trung Học của mình (60-70) , Hà Tiên bắt đầu thấy xuất hiện những người lính Mỹ gọi là cố vấn Mỹ. Các cố vấn Mỹ nầy có nhả ý là muốn truyền bá cho học sinh Trường Trung Học Hà Tiên biết nói tiếng Mỹ nên mở lớp dạy Anh Văn ban đêm tại trường (vì ban ngày là các lớp học chánh thức rồi). Có rất nhiều học sinh ở trường hưởng ứng theo học, trong đó có mình nữa. Đa số các học sinh ghi tên theo học Anh Văn buổi tối là con trai, chắc con gái đi học ban đêm không tiện..!!. Ngoài ra thành phần của lớp học cũng có đủ trình độ hết, có các anh học lớp cao cũng vào học, đủ thành phần: lớn, nhỏ, học sinh Đệ Thất, Đệ tứ, Tam,….đều học tiếng Anh chung với nhau ..

Mình còn nhớ có một đêm, người cố vấn Mỹ bắt đầu dạy cho biết nói tên mình bằng tiếng Anh, bằng cách phải trả lời câu nầy: « What’s your name? »…Cố vấn Mỹ bắt đầu chỉ từng người trong lớp và hỏi rồi người đó phải trả lời dỉ nhiên phải bằng tiếng Anh. Tới phiên mình cũng may là êm xuôi: « My name is Mãnh ! »,…Kế đó cố vấn Mỹ chỉ anh Lâm Hữu Dư (anh Dư anh của chị Lâm Xuân Cúc, anh học trên mình ba lớp nhưng cũng học chung lớp Anh Văn đêm nầy…). Anh Dư đứng lên và nói với một giọng nói hơi khàn khàn: « My name is Mẻo…!! » Cả lớp đều cười vang lên vì biết anh Dư muốn trêu chọc mấy tay lính Mỹ nầy,…Trong khi đó thì cố vấn Mỹ tuy không hiểu tại sao cả lớp cười vang nhưng vì nghe anh Dư trả lời đúng văn phạm nên cũng gật gù « Very good,…very good…!! »

Hồi đó người Việt Nam mình thường gọi lính Mỹ là « Mẻo »,….

Chuyện 2: Đi chơi đêm với Thầy Nguyễn Thanh Liêm và Trần Tiên

Khoảng vào năm Đệ Tứ, có Thầy Nguyễn Thanh Liêm ở Cần Thơ mới đổi về và dạy môn Toán cho lớp mình. Nhóm bạn Trần Tiên, Phan Văn Hữu (nhà Trần Tiên ngoài chợ, đường Tuần Phủ Đạt, nhìn qua phố tứ diện, có bảng hiệu « Nam Viên ») thường đi chơi với Thầy Liêm. Buổi tối đó sau khi cơm nước xong mình thả  ra chợ vừa gặp Trần Tiên, Tiên rủ mình lên xe Honda đi chơi một vòng trên đường ra biên giới phía Thạch Động, có Thầy Liêm đi nữa. Vậy là Trần Tiên trên chiếc xe Honda dame chở ba, mình ngồi giữa, Thầy Liêm ngồi phía sau. Xe chạy êm ru trên đường Phương Thành, qua khỏi Đề Liêm thì trời cũng sụp tối hù, lại không may bị xe jeep của ông Quận trưởng đi tuần đêm bắt ngừng lại. Vào thời đó chắc cũng hơi không mấy an ninh nên buổi tối thường có xe Quận trưởng đi tuần, có vài người lính địa phương theo ông để phò tá. Vả lại ông Quận trưởng nầy rất khó khăn và khó chịu,…mấy người lính địa phương theo ông thường phàn nàn ai cũng biết,…Trong khi đó thì trước ông nầy có mấy đời ông Quận trường Hà Tiên (Đại Úy Tiên, Thiếu Tá Hoa,…) đều rất tử tế ai cũng thích, nhất là Thiếu Tá Hoa vì có con trai học chung lớp với mình nên thường mời học trò đến dinh Quận trưởng chơi..Trở lại chuyện ông Quận trưởng khó chịu mà mình quên tên rồi,..Xe jeep ngừng lại, ông bắt cả ba: Trần Tiên, Thầy Liêm và mình đứng xếp hàng một và bắt đầu hỏi tội… »Các người đi đâu ban đêm ra đây ??!! »…Mình và Trần Tiên nín khe chỉ có Thầy Liêm mạnh dạn trả lời: « Tôi là giáo sư dạy Trường Trung Học đây, còn hai em nầy là học trò của tôi, tụi tôi đi dạo hóng mát thôi không có điều chi sai trái cả… ». Ông Quận trường nhất định không nghe lời giải thích, chỉ mở miệng nói lia: »Bồng….bồng…!! » (tức là ông nói theo Tây « Bon….bon…. »….theo kiểu ta đây là có học dân Tây…., ổng đâu biết là mấy chục năm sau mình cũng là dân Tây chính hiệu,.!!…). Rốt cuộc ông ta ra lệnh cho lính Địa phương áp tải ba người về chợ Hà Tiên, lúc đó mình bắt đầu lo trong bụng…Ông Quận trưởng bắt Trần Tiên chở Thầy Liêm bằng xe Honda của Tiên, còn mình thì ông kêu chú Sáu Lỹ chở mình trên một chiếc Honda khác nữa (lúc đó chú Sáu Lỹ là lính địa phương đang đi theo xe để phò tá Quận trưởng, chú Sáu Lỹ thì quen biết, biết Trần Tiên và mình nhưng trước mặt ông Quận khó khăn chú không dám kêu nài hay cải lệnh, chú Sáu Lỹ là em của chú Năm Nghép, tiệm cà phê hủ tiếu Dũ Long, kế tiệm thuốc Bắc Sanh Hoạt)…

NguyenThanhLiem_1NguyenThanhLiem_3

Thầy Nguyễn Thanh Liêm

Sau khi xe áp tải về đến chợ Hà Tiên, không biết ông nghĩ sau mà rốt cuộc ông cũng ra lệnh thả ra hết, hú hồn, ai về nhà nấy. Đến đây chưa hết chuyện, vì sáng hôm sau, mình ra nhà sau của mình đứng chơi thì có chú Hiếm (chú Hiếm là Ba của anh Bún nhà sau đối diện với nhà sau của mình, chú là người lái xe jeep cho các ông Quận trưởng Hà Tiên, buổi tối đó chú cũng là người lái xe jeep đó), chú kêu mình lại và nói phân trần: »Ông Quận trưởng đâu có quyền làm như vậy phải không, người ta đang đi chơi mà đâu có quyền bắt người ta như vậy,… »…mà chú nói hơi lớn nên mình hoảng hồn bước tới gần chú và nói « Chú Tư nói nhỏ nhỏ, sợ má con nghe được má rầy con,… »…Chú cười thông cảm…Vì khi về nhà mình đi ngủ tỉnh queo đâu dám kể chuyện đi chơi bị lộn xộn như vậy cho nhà nghe đâu, sợ bị má và bà Ngoại mình la cho một trận…Đến đây thì mới hoàn toàn hết chuyện.

                                                                                                           Trần Văn Mãnh

TranTien_TranVanManhTrái: Trần Tiên, phải: Trần Văn Mãnh

         Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Thị Hoa