Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Publicités

Lăng Ông Mạc Cửu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, đối với thầy trò trường trung học Hà Tiên, khi nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nhớ đến giai đoạn ngày xưa trong những năm 60-70, biết bao nhiêu lần chúng ta, thầy lẫn trò, cùng kéo nhau lên núi Lăng (núi Bình San) để họp nhau vui chơi, kể chuyện, ăn uống tại chỗ rất vui, Hôm nay chủ đề chánh của bài là sẽ viết ngắn gọn và nhờ những hình ảnh sưu tầm để nhắc lại về gốc tích của ngôi đền thờ ông Mạc Cửu và sự thay đổi qua các giai đoạn thời gian.

Cũng theo thông lệ và nguyên tắc của Blog nầy, xin nhắc lại là bài viết chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

A/ Định vị trí của Lăng Mạc Cửu:

Có rất nhiều tên gọi để chỉ định lăng Mạc Cửu, nói chung ta có thể dùng từ « Đền thờ họ Mạc » để chỉ định ngôi đền nầy vì đền được dựng lên để thờ cúng tất cả các dòng con cháu nhà họ Mạc. Tuy nhiên còn có nhiều tên chữ để chỉ định ngôi đền như các tên: Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ, Mạc Công Miếu, dân gian lại thường gọi là Miếu Ông Lịnh (vì đền thờ ông Mạc Thiên Tích và ông Mạc Thiên Tích được gọi là Mạc Lịnh Công).

Thực ra ngay từ lúc đầu khi vua Gia Long phong cho Mạc Công Du (con của Mạc Tử Hoàng, cháu nội của Mạc Thiên Tích) làm Trấn Thủ Hà Tiên (trong khoảng thời gian 1818 – 1829) thì ông Mạc Công Du bắt đầu cho dựng một ngôi đền gọi là Đền Mạc Công để thờ phụng ông nội là Mạc Thiên Tích. Ngôi đền nầy vách bằng cây, lợp lá đơn sơ nằm ở bên trái chùa Tam Bảo, trong khu phế tích thành quách cổ thời ông Mạc Cửu (vị trí nầy còn được xác định trong bản đồ người Pháp vẻ tay vào năm 1869 và ghi chú là Ruines). Lúc nầy đền còn có tên « Mạc Thiên Tứ Từ », tuy nhiên trong đền cũng thờ tất cả ba vị họ Mạc có tên là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, vì thế đền cũng được gọi là đền « Mạc Công Tam Vị ».

Sở dĩ đền thờ ba vị họ Mạc là vì ba vị họ Mạc nầy đều được sắc phong nhân thần của các vua nhà Nguyễn thời đó:

Mạc Cửu (1655-1735 thọ 81 tuổi): được vua Minh Mạng phong Trung Đẳng Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng ban thêm các mỹ tự và vua Bảo Đại phong thêm Thượng Đẳng Thần.

Mạc Thiên Tích (1718 – 1780 thọ 63 tuổi): con của Mạc Cửu, được vua Minh mạng phong Đạt Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Mạc Tử Sanh (1769 – 1788 chết trẻ 20 tuổi): con của Mạc Thiên Tích, được vua Minh Mạng phong Trung Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Từ khi thành lập năm 1818 đến năm 1833, ngôi đền được con cháu họ Mạc và nhân dân chăm lo hương hỏa, cúng kiến. Đến năm 1833 lúc nầy có giặc phản loạn Lê Văn Khôi dấy binh đánh chiếm thành trì nhà Nguyễn (đời vua Minh Mạng), Mạc Công Du và các con ngả theo bên Lê Văn Khôi, đến khi họ Lê thất bại, Mạc Công Du và các con đều bị tội, lúc đó Mạc Công Du lại bệnh mất, cả nhà họ Mạc đều bị  vua kết tội, đền thờ họ Mạc bị bỏ hoang không ai dám chăm sóc…

Đến năm 1846 có quan thần nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị xin vua nghĩ đến công trạng của cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích nên nhà vua cho phép dựng lại ngôi đền mới nhưng xây cất tại vị trí mới, tọa lạc dưới chân núi Bình San, hoàn thành năm 1847, đó là ngôi đền Mạc Công Miếu hiện nay. Tuy nhiên từ lúc xây cất năm 1847, vì ngôi đền xây cất bằng gỗ, lợp ngói nên không duy trì được lâu dài với thời gian sau đó, chừng vài chục năm lại bị hư dột…

Đến năm 1897 có chí sĩ người gốc Hà Tiên tên là Nguyễn Thần Hiến thảo bài văn kêu gọi nhân dân Hà Tiên góp tiền góp sức trùng tu lại ngôi cổ miếu cất từ đời vua Thiệu Trị (bản văn của ông Nguyễn Thần Hiến vẫn còn lưu truyền tại đền Mạc Công Miếu hiện nay). Công việc trùng tu kéo dài đến năm 1901 mới xong (đó là công lao rất to lớn của ông Nguyễn Thần Hiến cùng với nhân dân và hội người Minh Hương ở Hà Tiên, người Hà Tiên chúng ta không ai là không biết đến tên gọi Nguyễn Thần Hiến, từ ngày xưa Hà Tiên đã có một bệnh viện và một con đường được mang tên Nguyễn Thần Hiến, ngày nay có ngôi trường mới cất sau nầy là trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến với pho tượng bán thân của ông ở ngay lối chánh vào trường). Trong đợt trùng tu nầy, có cất thêm nhà Võ Ca, bức tường bao quanh ngôi miếu và cổng Tam Quan. Lần trùng tu thừ hai là vào năm 2002 do Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San thực hiện. Lần trùng tu thứ ba là vào năm 2012, do Ban Di Tích tỉnh Kiên Giang thực hiện. Tuy vậy việc trùng tu đều tôn trọng giữ theo đúng hình dạng kiến tạo năm 1897 của thời ông Nguyễn Thần Hiến.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Ngôi đền Mạc Công Miếu được Mạc Công Du dựng đầu tiên vào năm 1818 nằm bên trái chùa Tam Bảo, ngôi đền nầy đã bị bỏ hoang phế sau năm 1833. Đến năm 1846 ngôi đền Mạc Công Miếu mới được xây dựng lại nhưng đã ở vị trí khác, tọa lạc dưới chân núi Bình San, ngay trước đền có một cái ao đã có từ đời ông Mạc Cửu (đào vào khoảng năm 1719).

Tuy việc dựng đền là để thờ cúng ba vị họ Mạc đi tiên phong trong công cuộc mở mang vùng đất Hà Tiên, nhưng thực sự trong đền đều có đủ cả các bài vị thờ hầu hết tất cả con cháu dòng họ nhà Mạc, có cả bàn thờ chư vị tướng lảnh phục vụ cho nhà Mạc và cũng có cả bàn thờ các vị phu nhân và bàn thờ Mạc Mi Cô tức bà Cô Năm, người con gái út của Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô chết rất trẻ lúc chỉ mới 14 tuổi.

B/ Các bộ phận của ngôi đền

  • Cổng tam quan và tường gạch cao chung quanh đền: Có ba cổng ra vào đền nhung cổng bên trái bít kín từ năm 1911 vì tôn kính bà Cô Năm.
  • Nhà Võ Ca: Có rất nhiều câu đối, những bài thơ Nôm trên những hàng cột.
  • Trù Phòng: Hai gian nhà bếp để phục vụ việc nấu nướng ngày xưa, nay là văn phòng và nhà kho.
  • Tiền Khu Chánh Điện: Một bức tường có ba lối vào ngăn nhà Võ Ca và Chánh Điện, có tấm biển đề tên Trung Nghĩa Từ và nhiều câu liễn đối.
  • Bái Đình: nền gạch hình vuông, có mái.
  • Đông Lang và Tây Lang: nơi đặt bài thờ gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền.
  • Chánh Điện: một ngôi nhà trệt ba gian, có tấm biển khắc tên và nhiều câu liễn đối. Đây là nơi đặt các bàn thờ chánh.
  • Hai bên tường tả và hữu; nơi chép các bài văn, thơ, vịnh…

C/ Khu lăng tẩm và các ngôi mộ nằm trên ngọn núi Bình San:

Toàn bộ mồ mả các vị quan, tướng, phu nhân, hầu thiếp nhà họ Mạc đều được chôn cất trên ngọn núi Bình San (ngọn núi Bình San có ba đỉnh riêng biệt). Theo tài liệu tổng kết của Ban Bảo vệ Di tích núi Bình San thì có khoảng 68 ngôi mộ được chỉnh trang, sơn phết và có bia khắc, đánh số để xác định tên tuổi. Mộ ông Mạc Cửu đánh số 1, mộ Mạc Thiên Tích đánh số 2, mộ Mạc Tử Hoàng đánh số 3…, mộ Bà Cô Năm Mạc Mi Cô đánh số 43…Điều đáng chú ý là tuy đền Mạc Công Miếu thờ ba ông được phong nhân thần là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, nhưng trong ba ông chỉ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích là có được mồ mả oai nghiêm còn Mạc Tử Sanh thì trong cơn biến loạn đã mất vì bệnh và không ai biết được mồ mả của ông chôn cát ở đâu.

Khi đi vào ngôi đền Mạc Cửu, nhìn bên phải có con đường lót gạch để dẫn đi lên khu các ngôi mộ. Ngoài ra chung quanh ngôi đền và đường lên khu mồ mả đều có trồng cây xanh, cây hoa kiểng rất xinh đẹp.

Hồi xưa lúc còn đi học trung học, các học sinh Hà Tiên thường kéo nhau cả nhóm lên núi Lăng chơi. Tuy nhiên lúc đó mình rất sợ và rất tôn kính ngôi đền ông Mạc Cửu và ngay cả khi đứng trước các ngôi mộ. Lúc vào trong chánh điện của đền thờ mình rất sợ, không dám nhìn thẳng vào các bài vị trên bàn thờ, và hoàn toàn im lặng không dám nói chuyện …Hồi xưa có rất nhiều tin đồn, chẳng hạn như người ta nói là khi mình chụp hình ngôi mộ của ông Mạc Cửu, khi đem phim đi rửa để ra hình thì thấy hình hoàn toàn màu đen không có hình ảnh gì cả,…, đó chỉ là lời đồn nhưng hồi xưa mình cũng tin ít nhiều…

Bức hình về ngôi đền Mạc Công Miếu xưa nhất có lẻ là hình nầy, trên tấm bưu thiếp nầy được người Pháp ghi là Pagode, vì người Pháp xem ngôi đền như là ngôi chùa, bưu thiếp được ký tên ngày 6 tháng ba năm 1909, như vậy bức hình nầy được chụp khoảng trước năm 1909, đền Mạc Công Miếu được trùng tu xong vào năm 1901.

Một bức hình xưa về đền Mạc Công Miếu trên một bưu thiếp do ngườì Pháp xuất bản, dấu ấn đóng trên con tem cho biết là Tây Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 1909. (bộ sưu tập Poujade de Ladevèze)

Sâu đây là một số bưu thiếp do người người Pháp xuất bản cùng dạng, trên hình ta thấy đó là nhà Võ Ca trong đền Mạc Công Miếu sau khi được trùng tu lần đâu tiên.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Một trong hai bức tượng tướng quân đứng hai bên ngôi mả của Mạc Cửu, hình chụp từ sau lưng tượng, nhìn về phía cửa sông Giang Thành ra biển. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp vào năm 1953. (đây là hình bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1960, người trong hình là Nguyễn Đình Nguyên, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Nguyễn Đình Nguyên

Lăng Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Trần Văn Dõng

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Dõng. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên phải, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên trái, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Nói thêm về hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên mả của ông Mạc Cửu: Từ lúc lập mả người ta có làm hai bức tượng hai tướng quân đứng hầu hai bên mả, tả hữu rất oai nghiêm, từ xa xưa, có nhà nhiếp ảnh người Hà Tiên Quách Ngọc Bá có chụp hình làm bưu thiếp về lăng ông Mạc Cửu và hình tượng tướng quân đứng hầu. Lúc còn nhỏ mình có thấy hình bức tượng nầy do ông QNB chụp, ông chụp một cách rất nghệ thuật từ sau lưng nhìn về phía trước và chụp gần nên thấy trong hình bức tượng rất to lớn. Đến khi học Trung Học (những năm 60 – 70), mình thường theo nhóm bạn lên lăng Mạc Cửu chơi trong những giờ vắng thầy, không có giờ học, lúc đó mới nhìn thấy hai bức tượng thật sự trước mắt thì mới biết là hai bức tượng có khuôn khổ vừa phải không to lớn như mình tưởng lúc còn nhỏ .

Đến sau khi chiến tranh biên giới ở Hà Tiên chấm dứt (sau những năm 1978-1979), hai bức tượng nguyên bản gốc nầy đã bị người ta trộm mất đầu…Sau đó một thời gian dài người ta làm đầu bằng xi măng và gắn lên thân tượng gốc bằng đá còn lại …Tuy nhiên hiện nay hai bức tượng đã được người ta làm lại mới hoàn toàn, có nét vẻ sơn phết tô màu cho đẹp, còn hai thân tượng cũ nguyên gốc ngày xưa thì đã được cất giữ đâu đó không có tin chi tiết rổ.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp trong những năm 1970-1980. Người đứng trong hình là Trần Văn Phi (em của Trần Văn Dõng và Trần văn Mãnh), một học sinh trường trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Phi.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 1974, ta còn thấy bức tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu bên phải. Trong hình là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965 – 1969. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn

Ngôi mộ Mạc Cửu: Hình trắng đen trái: Một trong hai pho tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu (vị trí đứng bên trái ngôi mộ), hình trích trong ảnh do ông Quách Ngọc Bá chụp vào những năm 1970. Hình màu phải: Một trong hai pho tượng làm lại sau những năm 1990 (vị trí đứng bên phải ngôi mộ), hình trích trong ảnh do Missak chụp vào năm 2006.

Toàn cảnh Lăng Mạc Cửu rất đẹp năm 1994. Hình: TVM

Trần Văn Mãnh với nhà nghiên cứu Sử Học Trương Minh Đạt, hình chụp trước cổng tam quan đền Mạc Cửu năm 1994. Hình TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1996. Hình: tạp chí Hà Tiên Thập Cảnh, nhà xuất bản Văn Hóa.

Lăng Mạc Cửu năm 1999, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1999. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 1999. Hình trích từ video TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2006, hình chụp nhìn ra ngoài ao sen trước đền. Hình: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2006, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2007, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: DawnBreeze

Lăng Mạc Cửu năm 2008, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: LeDuyThuong

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2009. Hình: BuiThiDaoNguyen

Bút tích của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn ghi lại trên vách tường đền thờ nhà họ Mạc. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2009

Lăng Mạc Cửu năm 2009, bên trong Tiền Khu Chánh Điện chụp ra phía ngoài ao sen. Hình: FamilleToan

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2010, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: TranNguyenMinhHuy

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2011. Hình: LaiMyThanh

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2011, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: LaiMyThanh

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2011. Hình: NguyenSauRieng

Bái Đình nền gạch vuông trước khi vào chánh điện. Hình chụp khoảng năm 2011

Cổng tam quan phía bên phải đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: AaronGeddes

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: JimGoodman

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Cổng Tam Quan chánh và cổng bên phải lăng Mạc Cửu vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Bên phải đền Mạc Cửu, có con đường gạch dẫn lên khu mồ mả nhà họ Mạc. Hình: Kiều Trang 2017

Cổng Tam Quan chánh vào đền Mạc Cửu vào năm 2017. Hinh: Kiều Trang

Bái Đình lăng Mạc Cửu, hình chụp từ trong Bái Đình nhìn ra phía ngoài ao sen. Hình: SoniaMaclean 2018

Sơ đồ các ngôi mộ nhà họ Mạc tọa lạc trên 4 khu vực trên toàn địa phận núi Bình San và danh sách các ngôi mộ có đánh số và ghi tên.

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời quý đọc giả xem thêm các bài viết có liên quan đến đền Mạc Cửu:

1/ Bài viết về nguồn gốc các ao sen trước ngôi đền Mạc Cửu.

2/ Bài viết về ngôi chùa Tam Bảo qua các giai đoạn thời gian.

3/ Xin mời bạn đọc xem thêm video dưới đây về buổi viếng thăm lăng Mạc Cửu của hai người bạn năm xưa Trần Văn Mãnh và Nguyễn Đình Nguyên vào tháng 11 năm 1999:

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 1: hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ ngày thành lập 04/10/2015 đến ngày hôm nay 12/10/2018, đã đạt được 91926 lượt xem, 24733 người đến xem (những đọc giả từ hơn 47 nước trên thế giới đến xem), với 176 bài viết trong đủ các tiết mục và do chính thầy cô và các bạn là tác giả. Tuy nhiên nhìn qua nhìn lại ta chưa thấy bài viết nào nói về quá trình hình thành ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta…! đây quả thật là một điều thiếu sót lớn lao…Bạn Trương Thanh Hùng (Giá Khê) có viết một loạt nhiều bài trong mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và có nhắc đến một phần về sự ra đời và phát triển của trường chúng ta. Thật ra cũng rất khó mà viết ra được một tài liệu đầy đủ và chính xác về lịch sử của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, đó là việc làm của các nhà nghiên cứu mà sớm hay muộn chúng ta cũng hy vọng rằng sẽ có bài viết về đề tài nầy, mong rằng các cây bút có quan hệ nhiều đến trường Trung Học Hà Tiên như Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên,…v..v….và nhiều thầy cô bạn học khác sẽ có ngày cho ra đời nhiều bài viết về lai lịch ngôi trường của chúng ta, như thế khi làm công việc tổng họp lại chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và đầy đủ về trường xưa. Bản thân mình cũng có một tham vọng dựng lên quá trình thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng phần vì ở xa không có điều kiện đến tại chỗ tìm tòi sách vở hay tham khảo các ý kiến tiền nhân tại Hà Tiên, phần lại sinh sau đến muộn, chưa đủ thời gian trải nghiệm từ khi trường được ra đời nên rất khó thực hiện được ý nghĩ nầy…Rồi lại suy nghĩ rằng « kẻ ít người nhiều », nếu mỗi người trong chúng ta đóng góp một vài tư liệu, viết một vài dòng, đăng một vài tấm ảnh kỹ niệm ngày xưa thì có khi kết quả lại bất ngờ rất hay, lý thú và giúp cho một bạn văn nào đó có ý khoa học, biết suy luận, tổng kết và từ đó sẽ có bài viết đầy đủ cho chúng ta về lai lịch ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên. Cần xác nhận là ngôi trường nói trong bài viết nầy là ngôi trường Trung Học Hà Tiên, tọa lạc tại góc đường Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Hoàng, dưới chân Lầu Ba (núi Ngũ Hổ).

Phần 1: Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ:

Sau khi tham khảo ý kiến một số bạn từng là học sinh Trung Học Hà Tiên và chiếu qua các hình ảnh về ngôi trường, ta có thể bắt nguồn như sau: Vào năm 1955, thầy giáo trẻ Trường Minh Đạt sau khi học xong các trường lớn ở Sài Gòn (Trương Vĩnh Ký, Sư Phạm Sài Gòn,…) đã trở về Hà Tiên làm việc với ý định mở trường lớp cho con em Hà Tiên có điều kiện theo học tại chỗ. Thầy giáo Đạt lập hồ sơ xin thành lập trường Trung Học Tỉnh Hà Tiên dưới sự quản lý của các Nha Bộ ở Sài Gòn. Qua năm 1956 trường được thành lập với tên chính thức « Trường Trung Học Hà Tiên » với 4 lớp học và người Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Thanh Tra tỉnh kiêm hiệu trưởng: thầy Hà Văn Điền (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Điền, chính là ba của cô giáo Hà Thị Hồng Loan, sau nầy cô Hồng Loan cũng trở về dạy học ở ngôi trường nầy vào những năm 1960, nhà ông Đốc Điền ngày xưa ở đường Bến Trần Hầu, Hà Tiên).

Thầy Trương Minh Đạt (người gốc Hà Tiên), một trong những vị thầy có công trong công việc thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên. Trái: hình chụp năm 1968, phải: hình chụp năm  2017. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên và đã trở thành một nhà nghiên cứu về Hà Tiên.

Cuối năm 1956, Hà Tiên trở thành quận thuộc tỉnh Kiên Giang, ngôi trường Trung Học Hà Tiên vẫn như vậy nhưng xem như là trường quận. (1956-1957)

Sang năm 1958 có thầy Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu) về Hà Tiên làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy thầy Trương Minh Đạt bắt đầu thuyên chuyển về Phan Rang. Theo một tài liệu trên face book mà mình tìm ra được thì vào năm 1959, trường Trung Học Hà Tiên có một giáo sư đổi về trường dạy, vị thầy nầy tên là Phạm Công Nhựt và thầy có viết trong một nhận xét trên fb như sau:

« Tôi nhận sự vụ lệnh xuống dạy ở trường Trung Học Hà Tiên tháng 9/1959. Hiệu trưởng lúc đó là Ông Hồ Văn Chiếu, thanh tra tiểu học tạm đảm nhiệm. Trường có 4 lớp, từ đệ thất tới đệ tứ. Ban giáo sư gồm có:
– Ông Bảo – dạy toán
– Ông Viên – dạy văn (tức là thầy Nguyễn Văn Viên)
– Ông Tường – Pháp văn (tức là thầy Võ Thành Tường)
– Ông Nam và Ông Điệp – Anh văn (tức là thầy Nguyễn Xuân Nam và thầy Hồ Quang Điệp)
– Ông Nhựt – Vạn Vật- Nhạc- Thể Dục (tức là thầy Phạm Công Nhựt)
– Ông Hoan- Lý Hoá (tức là thầy Lê Trung Hoan)
– ông Ký – giám thị (tức là thầy Trịnh Học Ký)
Niên khoá sau 1960-1961, ông Doãn Quốc Sỹ xuống đảm nhiệm chức hiệu trưởng trung học Hà Tiên. Ông Hồ Văn Chiếu trở về Ty tiểu học Rạch Giá. Hai năm sau, ông Doãn Quốc Sỹ trở về Sài Gòn, ông Lê Trung Hoan (dạy Lý Hoá) được thay thế. Lúc nầy tất cả các GS lần lượt bị đông viên. Ông Lại Xuân Quất được cử làm hiệu trưởng thay thế ông Lê Trung Hoan »

Thầy Phạm Công Nhựt, hình trái chụp năm 1973 (lúc nầy đã đổi về dạy trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá), hình phải năm 2017, hiên nay thầy Nhựt định cư ở nước Canada.

Như vậy qua tài liệu nầy ta biết được diễn biến của trường Trung Học Hà Tiên qua khoảng thời gian 1959 – 1961. Vì bản thân mình là « hậu bối » nên không được biết trực tiếp thầy Phạm Công Nhựt. Tuy nhiên đối chiếu lại trong bài giới thiệu bạn học cùng trường, phần bài về chị Nguyễn Thị Hoa, thì thấy thầy Phạm Công Nhựt có dạy lớp chị Hoa vào niên khóa Đệ Thất 1961-1962; thầy dạy môn Vạn Vật. Sau khi trải qua hai vị hiệu trưởng: Hà Văn Điền (1956-1958); Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu 1958-1960); theo lời thầy Nhựt viết thì đến giai đoạn thầy hiệu trưởng Doãn Quốc Sỹ (1960-1962), mãi sau nầy người Hà Tiên chúng ta mới biết được là thầy Doãn Quốc Sỹ chẳng những là một nhà mô phạm, mà lại còn là một nhà văn rất nỗi tiếng của nền văn học miền nam, ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 ông cũng từng đi học tập cải tạo, ở tù, sau đó ông đi định cư ở nước Úc và hiện nay ông sống ở nước Mỹ. Đến năm nay 2018, thầy Doãn Quốc Sỹ đã mừng sinh nhật 95 tuổi (Xin thầy cô và các bạn chú ý là tên của thầy viết là Doãn Quốc Sỹ chứ không phải là Sĩ).

Thầy hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên và cũng là nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc trẻ và hiện nay.

Kế đến là thầy hiệu trưởng Lê Trung Hoan (1962-1964); đến đây bắt đầu các vị hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên mà mình được biết đến một cách trực tiếp, đó là thầy Lại Xuân Quất (1964-1966), xin thầy cô và các bạn chú ý, tên của thầy phải viết là Quất chứ không phải « Quấc hay Quốc », vì mình còn dấu mộc tên của thầy đóng trong các sổ học bạ của mình vào thời nầy. Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Lê Trung Hoan và Lại Xuân Quất.

Mộc Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên và tên thầy hiệu trưởng: Lại Xuân Quất (1964-1966)

Thầy Lại Xuân Quất  làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên lúc mình vào lớp đệ thất, niên khóa 1964-1965

Trái: Hiệu trướng Lê Trung Hoan, phải: Hiệu trưởng Lại Xuân Quất

Khoảng cuối năm 1962, có thầy Nguyễn Văn Nén từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Nén là một trong ba vị giáo sư cùng về dạy trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 60. Đó là thầy Nguyễn Văn Hiệp (dạy môn Văn), thầy Nguyễn Trí Thuận (dạy môn Pháp văn), và thầy Nguyễn Văn Nén (dạy môn Toán).  Ba vị thầy nầy rất có ảnh hưởng đến riêng cá nhân mình và của lớp học của mình, vì quý thầy dạy lớp học của mình nhiều năm. Qua các lời phê chuẩn, chấm điểm bài làm của riêng mình và của toàn lớp mình, quý thầy đã tỏ ra có sự chú ý rất thân mật, thường khuyến khích, khen ngợi kết quả học tập của riêng mình và của toàn lớp mình. Mỗi buối tối, các học trò Hà Tiên thường thấy ba vị thầy dùng cơm tối ở quán Xuân Thạnh đường Trần Hầu, Hà Tiên.

Từ lúc 1965, trường Trung Học Hà Tiên đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì một lớp phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng từ năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có hai lớp đệ thất và phân ra lớp Anh văn và lớp Pháp văn, tuy nhiên chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích.

Vào năm 1965 có một phong trào các vị giáo sư trẻ từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là một dịp rất may mắn cho học trò Trung Học Hà Tiên vì lực lượng quý thầy cô nầy rất hùng hậu, trẻ tuổi, đầy tâm huyết và trong sự tiếp xúc, giao thiệp quý thầy rất gần gủi với học sinh. Trong số nầy có thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy môn Lý Hóa), thầy Bùi Hữu Trí (dạy môn Anh văn và Pháp văn), cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy môn Anh văn và Pháp văn), thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa)…v…v…Trong thời gian nầy, một trong những vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất với học trò là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy vừa trẻ tuổi, rất đẹp trai, ăn mặc phong độ, và thường hay tiếp xúc, đi du ngoạn với học trò nên các bạn học cùng trường ai cũng rất quý mến thầy, chính nhờ có khối tư liệu hình ảnh riêng tư mà thầy Ẩn đã chụp rất nhiều trong thời gian dạy học ở Hà Tiên mà chúng ta mới có được những hình ảnh ngôi trường xưa và hình ảnh các đồng nghiệp của thầy, mình sẽ trích đăng vào đây các hình ảnh về ngôi trường mà thầy Ẩn đã còn lưu lại được, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn rất nhiều.

Trong khoảng giữa năm 1966 có một giai đoạn ngắn thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn) giữ quyền hiệu trưởng vì thầy hiệu trưởng đương chức là thầy Lại Xuân Quất thuyên chuyển đi nơi khác. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ lục (1965-1966) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Trí Thuận:

Thầy Nguyễn Trí Thuận quyền hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn ngắn giữa năm 1966

Từ giữa năm 1966 trở về sau, thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa) được cử làm hiệu trưởng chính thức trường Trung Học Hà Tiên, đây là một giai đoạn ổn định và thầy Thành làm hiệu trưởng trong một thời gian khá lâu dài (1966-1973). Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Nguyễn Trí Thuận và Nguyễn Văn Thành. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ ngũ (1966-1967) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Văn Thành:

Thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn khá lâu (1966-1973)

Trái: Hiệu trướng Nguyễn Trí Thuận, phải: Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành

Trong lúc nầy vào ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới. Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung Học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : Nguyễn Nên). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Hiện thầy sống ở nước Mỹ. Chính thầy Nguyễn Văn Nén đã cung cấp cho chúng ta một số ảnh hiếm và quý về quý vị giáo sư trong những năm đầu thập niên 1960, xin cám ơn thầy rất nhiều.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Nén, hình trái chụp vào năm 1965, hình phải chụp vào năm 2016

Sau đây là một số hình ảnh về quý thầy cô đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu khi trường mới được thành lập.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. 1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)

1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)

1/ Thầy Doãn Quốc Sỹ, 2/ Thầy Trần Văn Hương, 3/ Thầy Trương Minh Hiển, 4/ Thầy Hồ Quang Điệp, 5/ Thầy Phạm Công Nhựt, 6/ Thầy Lê Trung Hoan, 7/ Cô Quỳnh, 8/ Thầy Nguyễn Xuân Nam, 9/ Thầy Nguyễn Như Bảo, 10/ Thầy Lê Văn Triệu, 11/ Ông Nguyễn Văn Thân, 12/ Thầy Võ Thành Tài, A/ Anh Phan Đình Khải (con trai của bác Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà Tiên ngày xưa), B/ Anh Trần Tuấn Hùng (con trai của bác Trần Thiêm Trung tức Ông Phán Trung, anh Hùng là anh của Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang)

Thầy Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), hình trái chụp năm 1962, hình phải chụp năm 2018. Hiện thầy Võ Thành Tường đinh cư tại nước Mỹ.

Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (giám thị), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Thành (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (thư ký) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước cổng chánh trường Trung học Hà Tiên năm 1968. Bổ túc thêm là vào những năm 1960, trường Trung Học Hà Tiên có hai nhân viên bảo vệ tên là Bác Ngọ và Chú Tỹ.

Thầy Trương Minh Hiển (người gốc Hà Tiên, anh song sinh với thầy Trương Minh Đạt), dạy môn Quốc văn trong những năm 1960-1970. Hình phải thầy Trương Minh Hiển chụp vào năm 1997 tại Hà Tiên. Thầy mất năm 2005.

Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

Bên trái: Cô Hà Thị Hồng Loan, giữa: cô Nguyễn Minh Nguyệt, phải: cô Vương Thị Lành, đang dự tiệc cuối năm (bánh tây và nước ngọt). Sau lưng cô là một bạn học sinh không biết tên, các bạn cố gắng nhận dạng là ai nhé. (Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Bên trái: có thể là thầy Nguyễn Tấn Ngoan, giữa; cô Hà Thị Hồng Loan, phải: cô Trần Diệu Hiền (văn phòng Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Cô Hà Thị Hồng Loan (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. Hình phải, cô Hồng Loan hiện nay sinh sống tại Hóc Môn ngoại ô Sài Gòn.

Cô Vương Thị Lành (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. cô Lành cũng có một thời gian ngắn làm xử lý thường vụ chức Hiệu Trưởng thế cho thầy Nguyễn Văn Thành.  Hình phải, cô Vương Thị Lành (2017) hiện nay cô định cư ở nước Mỹ.

Niên khóa 1965-1966, từ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), Thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Thầy Phùng Tuấn Sinh (Triết học, Công Dân)

Từ trái sang phải: Đại Úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Vật Lý). Hình chụp trong những năm 1965-1966 tai sân quần vợt đường Mạc Công Du, Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa từ năm 1965. Hình phải (2018): hiên nay thầy Nguyễn Hồng Ẩn định cư ở nước Mỹ, thầy đang chào quý thầy cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên đó các bạn…

Thầy Phan Văn Xuân (dạy lớp mình môn Toán trong những năm 1960-1970). Thầy Xuân là người gốc gác Hà Tiên, thầy là vai cậu của các bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên. Hiện thầy Xuân vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Trái: Ảnh chụp lúc thầy còn đi học; phải: ảnh chụp lúc thầy về nghỉ hưu ở Hà Tiên 2017

Đặc biệt trong thập niên 1960-1970, trường Trung Học Hà Tiên có được hai thầy cô dạy môn Sinh Ngữ (Pháp văn và Anh văn) rất nhiệt tình và rất yêu mến học trò. Đó là thầy Bùi Hữu Trí và phu nhân của thầy là cô Nguyễn Minh Nguyệt. Thầy cô trong sinh hoạt giảng dạy, văn nghệ, thể thao rất thân cận với học trò, nhất là cô Minh Nguyệt, cô có rất nhiều học trò « thân yêu », vì các bạn đó học giỏi môn của cô dạy (Pháp văn). Sự có mặt của thầy cô Trí và Nguyệt ở Hà Tiên làm cho giới trẻ học trò rất yêu thích và luôn ngưởng mộ thầy cô. Thầy Trí ngoài giờ dạy còn tổ chức lớp dạy võ Karaté, lấy phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba làm võ đường thực tập, mình cũng có tham dự học lớp võ thuật Karaté của thầy Trí. Còn cô Nguyệt thì tươi trẻ, ăn mặc rất đẹp và tân tiến, đem sắc thái « à la mode » của thủ đô Sài Gòn về Hà Tiên…Một số bạn học giao thiệp rất thân với thầy cô như: Lý Cảnh Tiên, Lý Mạnh Thường, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nhan Hồng Hà, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…(phần lớn là các bạn chơi nhạc và tập võ thuật…). Chúng ta không có tin tức về thầy cô hiện nay, chỉ biết là thầy cô đã định cư ở nước Mỹ.

Thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt, thầy cô dạy môn Pháp văn và Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong thập niên 1960-1970

Cô Tiền Ngọc Thanh (người gốc Hà Tiên, dạy môn Vạn Vật trong những năm giữa thập niên 60). Hình phải: 2018, hiện nay cô Tiền Ngọc Thanh đinh cư tại nước Mỹ. (cô luôn giữ được nết đẹp quý phái)

Trong những năm cuối thập niên 60, có một đợt các vị giáo sư trẻ đổi về Hà Tiên dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là quý thầy: Nguyễn Phúc Hậu (dạy môn Pháp văn), thầy Nguyễn Tấn Ngoan (dạy môn Toán), thầy Bùi Văn Cầm (dạy môn Vạn Vật), Nguyễn Văn Út (dạy môn Sử Địa), thầy Nguyễn Thanh Liêm (dạy môn Toán), thầy Phan Văn Chiếu (dạy môn Công Dân Giáo Dục)… Thầy Nguyễn Phúc Hậu hiện nay định cư ở nước Canada, thầy Nguyễn Tấn Ngoan thì học sinh không có tin tức, thầy Bùi Văn Cầm sau khi về quê Qui Nhơn sinh sống, có lúc vào năm 1986 bạn Trương Thanh Hùng có gặp thầy tại Qui Nhơn nhưng sau đó thì không được tin tức của thầy nữa. Chúng ta cũng không có tin của thầy Nguyễn Văn Út, nghe nói thầy đã mất lâu rồi, Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy lớp mình môn Toán, thầy Liêm rất gần gủi học trò, sau một hai năm dạy học ở Hà Tiên, thầy đã chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thầy chính là phu quân của chị Nguyễn Thị Hoa học trò kỳ cựu Hà Tiên, thầy Liêm sau khi trở về quê thì bệnh và qua đời tại quê Thốt Nốt (2013). Thầy Phan Văn CHiếu cũng đã qua đời tại nước Pháp.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu vào năm 1970, hình phải: thầy Hậu hiện định cư ở nước Canada.

Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy toán những năm 1969-1972; hình phải: thầy Liêm đổi về quê Thốt Nốt và qua đời vào năm 2013

Trong những năm đầu của thập niên 1970, có thêm một đợt quý cô đổi về trường Trung Học Hà Tiên, đó là cô Võ Kim Loan (dạy môn Quốc văn), cô Nguyễn Ngọc Oanh (dạy môn Lý Hóa) và cô Dương Thị Minh Hoa (dạy môn Vạn Vật). Cô Kim Loan hiện định cư ở nước Mỹ, chúng ta không có tin tức của cô Ngọc Oanh, cô Minh Hoa hiện định cư ở nước Mỹ. Vì mình đã rời trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu vào niên khóa 1970-1971 nên mình không được dịp hân hạnh tiếp xúc với quý cô, chỉ sau khi có Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì được bạn học giới thiệu với quý cô và vẫn giữ liên lạc với quý cô.

Cô giáo sư trẻ đẹp Võ Kim Loan (1970), hình phải (2018): hiện cô Vó Kim Loan định cư ở nước Mỹ.

Cô giáo sư tươi trẻ ngày xưa Duong Thị Minh Hoa (1970); hình phải (2017): Cô Minh Hoa hiện định cư tại nước Mỹ

Hình trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (1970), hiện nay ta không có tin tức về cô; hình phải (1970) thầy Phan Văn Chiếu, thầy qua đời bên nước Pháp

Bên trái: thầy Hứa Văn Vàng, dạy học và đồng thời là giám thị, bên phải: cô Trần Diệu Hiền, thư ký văn phòng và cũng là giám thị trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70. Thầy Vàng và cô Hiền đều đã qua đời tại Hà Tiên

Đồng thời trong thời gian nầy, những năm đầu của thập niên 1970, có thầy Huỳnh Văn Xền, người gốc gác Hà Tiên, nhà thầy ở đường Tô Châu, thầy Huỳnh Văn Xền dạy một thời gian tại trường Trung Học Hà Tiên. Hiên nay thầy Huỳnh Văn Xền định cư ở nước Pháp.

Thầy Huỳnh Văn Xền dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên vào những năm đầu thập niên 1970.

Thầy Lê Quang Khải dạy môn Anh văn, Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1970 trở đi, thầy Khải là người gốc Hà Tiên, em của thầy Lê Quang Thuyên và anh của thầy Lê Quang Khanh, thầy Khanh ngày xưa dạy mình ở bậc Tiểu Học Hà Tiên. Ba anh em thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khải và Lê Quang Khanh dều là con của nhà giáo, nhà thơ lão thành Lê Quang Phấn (hiệu là Bach Như), một trong những người Hà Tiên tiếp nối truyền thống Chiêu Anh Các (Mạc Thiên Tích). Chính nhà thơ Bạch Như là tác giả của hai câu đối chưng trong phòng tiền vãng trường Tiểu Học Hà Tiên.

« Hạnh đàn vắng vẻ chạnh tiền nhân soi tỏ đuốc quan hoài

Mộc đạc vang lừng giục hậu tấn bước lên đài tiến hóa ».

Thầy Lê Quang Khải, người gốc Hà Tiên, dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thập niên 70, hiện thầy định cư ở nước Mỹ

Vào niên khóa 1973-1974 có một thầy tên Khải nữa về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là thầy Phạm Văn Khải, thầy Khải dạy môn Anh văn. Xin mở ngoặc ở đây là vì trường có hai thầy cùng tên Khải nên học trò thường đặt tên phụ cho mỗi thầy một biệt danh để phân biệt: thầy Lê Quang Khải có râu rất oai phong học trò gọi là thầy « Khải râu », còn thầy Phạm Văn Khải không để râu, học trò gọi là thầy « Khải trụi »,….đó cũng là tính lý lắc của mấy bạn học trò ngày xưa, mong quý thầy thông cảm tha thứ cho nhé,…

Gần cuối nhiệm kỳ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành, khoảng từ năm 1973 trở đi, trường Trung Học Hà Tiên lại có thêm một cô thư ký nữa, đó là cô Lê Thị Tám, không phải ai xa lạ, cô Tám chính là người em gái ruột của bạn Lê Công Hưởng (Hưởng là bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Cô Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Hiện cô Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên.

Cô Lê Thị Tám, ngày xưa là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên và sau đó là thư ký của Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1973.

Trong khoảng thời gian 1973-1975 có cô Trương Thị Bạch Cúc người gốc Rạch Giá, về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Văn, sau đó cô Bạch Cúc chuyển về dạy tại Kiên Lương. Hiên nay cô Trương Thị Bạch Cúc định cư ở nước Canada.

Thầy Lâm Hữu Quyền, người gốc gác Hà Tiên, và cũng là một học sinh của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, là bạn học cùng lớp với các bạn Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v…Bạn Quyền học trên mình một lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Lâm Hữu Quyền về dạy môn Toán tại quê nhà, trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Lâm Hữu Quyền sau nầy làm hiệu trưởng trường cơ sở Đông Hồ Hà Tiên và hiện nay thầy về nghỉ hưu, vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Thầy Lâm Hữu Quyền dạy môn Toán trường Trung Học Hà Tiên. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Từ nhỏ đến lớn mình vẫn luôn theo học tại hai ngôi trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, đến niên khóa 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên vẫn chưa có lớp đệ nhất (lớp 12) nên niên khóa nầy mình chuyển sang theo học ở trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, vì thế sự hiểu biết về tình hình giảng dạy, đội ngũ thầy cô giáo sư, hiệu trưởng của trường Trung Học Hà Tiên đối với mình trở nên thiếu sót và thông tin hơi khá phức tạp.Tuy nhiên theo sự đóng góp của thầy cô và các bạn có liên hệ đến ngôi trường Trung Học Hà Tiên, có thể tóm tắt tình hình tiếp tục như sau tuy vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Sau khi chuyển giao ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho ban quản lý mới vào tháng 05 năm 1975, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1977. Trong thời gian nầy có cô Lâm Ngọc Mai vốn là một học sinh gốc gác Hà Tiên, đã từng theo học tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nầy từ xưa, và cô đã thành tài trở về dạy học tại ngôi trường nầy từ những năm 1969, 1970. Khi trường do ban quản lý mới điều hành sau tháng 05 năm 1975, cô Lâm Ngọc Mai được cử làm hiệu trưởng trong khoảng thời gian 1975-1976. Sau đó cô Lâm Ngọc Mai chuyển về Rạch Giá làm việc và hiện nay cô về nghỉ hưu tại Sài Gòn. Khoảng năm 1975 có thầy Nguyễn Văn Hợi dạy môn Sinh Vật.

Cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai, trái: hình chụp trong những năm 60, phải: hình chụp hiện nay 2018

Qua niên khóa 1976-1977 có thầy tên Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Dưới đây là hai mẫu học bạ có chữ ký tên của cô Lâm Ngọc Mai và thầy Lê Thanh Chương. Đến đây nếu thầy cô và các bạn chú ý sẽ thấy tên gọi chánh thức của trường Trung Học Hà Tiên đã thay đổi, trong dấu mộc đóng bên cạnh tên của hiệu trưởng, ta thấy có đề tên: Trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên, tuy nhiên dưới chữ « Phổ Thông » trong dấu mộc đóng, ta không nhìn rỏ ra được các chữ tiếp theo là chữ gì, chỉ đọc được chữ « cấp » sau đó nét mực đỏ hơi bị nhòa nên không rỏ là 3 (cấp 3) hay là 2 và 3 (cấp 2 và 3) !!

Hình trái: Chữ ký tên của cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai (1976), hình phải: chữ ký tên của thầy hiệu trưởng Lê Thanh Chương (1977)

Thầy Trần Đại Thắng là học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa (con trai của thầy hiệu trưởng trường Tiểu học Hà Tiên Trần Văn Hương), học chung lớp với các đàn anh đàn chị như Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim, Trần Hồng Khanh,..Sau khi thành tài, thầy Trần Đại Thắng trở về Hà Tiên làm hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc (trường xây tại chân núi Địa Tạng gần Thach Động). Sau 1975 thầy Trần Đại Thắng về dạy môn Sinh Vật trường Trung Học Hà Tiên và tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu. Bạn Thắng cũng có lúc (1973-1975) thường đi chơi chung với mình và một người bạn nữa là La Tấn Lực. Bạn Thắng mất vì bệnh vào ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (Âm lịch) nhằm ngày 11/10/2018 dương lịch. Thầy Trần Đại Thắng an nghỉ tại đất nhà tại núi Đề Liêm (núi Phù Dung) ngày mùng 6 tháng 9 Mậu Tuất, nhằm ngày 14/10/2018.

Hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc Hà Tiên và cũng là thầy dạy Trung Học Hà Tiên: thầy Trần Đại Thắng (hình chụp trong những năm gần đây)

Vào niên khóa 1976, một người bạn thân thiết từ sáu năm trong bậc Trung Học Hà Tiên, học chung lớp với mình là bạn Lý Mạnh Thường, sau một thời gian theo học ngành « Thương Mại Ngân Hàng » ở Long Xuyên, bạn Mạnh Thường trở về quê nhà Hà Tiên và theo ngành giáo, vào dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Mạnh Thường ngoài môn chánh là Anh văn, thầy còn phụ trách văn nghệ cho trường và có dạy thêm các môn ca, vũ, múa,…cho các em học sinh. Thầy Mạnh Thường rất được sự quý mến của các em học sinh trường Trung Học Hà Tiên. Sau một thời gian nghỉ dạy về hưu ngay tại căn nhà xưa ở đường Mạc Công Du, thầy Mạnh Thường lâm bệnh và từ trần vào năm 2013. (trước đó vào tháng 6 năm 2012, nhân một chuyến về thăm quê Hà Tiên mình và bạn Trương Thái Minh có đến thăm bạn Mạnh Thường).

Thầy Lý Mạnh Thường dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên từ năm 1976

Một trong những học trò của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Nguyễn Thúy Vân, người gốc Hà Tiên, bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn,…v…v….cũng vào ngành giáo và dạy học môn Văn tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm (từ năm 1974). Cô giáo Nguyễn Thúy Vân hiện nay đã về hưu và hiện vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thúy Vân dạy môn Văn trường Trung Học Hà Tiên; bên phải (2017) hiện cô Nguyễn Thúy Vân sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Trong khoảng thời gian 1977 – 1981, ngôi trường Phổ Thông Hà Tiên lâm vào tình trạng bị bỏ hoang phế vì dân Hà Tiên đã di tản chạy giặc miền biên giới Khmer đỏ. Học sinh ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông Hà Tiên để tránh tầm pháo. Trường Phổ Thông Hà Tiên lúc đó gồm có cấp 2 và cấp 3 và có tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, vì tình hình thực tế nên phải tách ra thành 2 bộ phận: Học trò cấp hai (từ lớp 6 đến lớp 9) thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba (từ lớp 10 đến lớp 12) thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng …(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính thầy trò học sinh dọn trường nầy trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên (của địa điểm Mạc Tử Hoàng).

Đến đây thì tình hình trở thành khá phức tạp, vì nếu tiếp tục viết theo quá trình trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên thì như trên đã viết, trường nầy đã sát nhập vào trường cấp hai của xả Thuận Yên. Lúc nầy thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cơ sở xã Thuận Yên nên tất cả học bạ của học sinh cấp 2 trường Hà Tiên đều do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, thầy Lâm Hữu Quyền làm hiệu phó cấp 2. Dưới đây là một phần trang học bạ của một học sinh cấp 2 trường Phổ Thông Hà Tiên do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, chú ý trong dấu đóng mộc, tên trường là Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên. Bắt đầu qua niên khóa 1979-1980, tình hình chiến tranh Tây Nam hơi yên ổn, thầy Hứa Nhất Tâm trở về Hà Tiên xây dựng, sửa sang lại trường lớp và năm sau thầy Tâm trở thành hiệu trưởng trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên. Cũng xin nói thêm là năm học 1977-1978 cũng chính là một năm học rất đau buồn đối với học trò cấp 2 trường Phổ Thông Cơ Sở Hà Tiên vì chẳng những phải lìa xa ngôi trường ở Hà Tiên mà lại còn chứng kiến giai đoạn bi thảm của một gia đình thầy cô đang dạy học trong thời kỳ chiến tranh nầy: đó là cái chết của cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy cấp 2 môn Sinh Vật) vì bị trúng đạn pháo kích của quân Khmer đỏ, người con của cô cũng bị chết , chồng của cô là thầy Trương Tự Cường (dạy cấp 2 môn Toán) cũng bị thương tích nhưng thoát chết. Sau đó người ta đưa cả gia đình thầy về Sài Gòn, kẻ sống người chết thật đau buồn, từ đó đến nay học sinh Hà Tiên không có tin tức của thầy Cường.

Thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên, cũng quyền hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 2 Hà Tiên. (1977-1979)

Mặt khác nếu viết theo quá trình của trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên thì như trên đã viết, từ niên khóa 1977-1978, trường di tản về Kiên Lương, lớp học dàn dựng tạm trên những chiếc lán trại, nhà lá, trong thời gian nầy thầy Lê Thanh Chương vẫn tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 1979. Đến từ niên học 1979-1980 thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn toán cấp 3 làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 (trường của Hà Tiên nhưng tạm di tản xuống ở Kiên Lương). Mình không có dịp biết thầy Nguyễn Văn Hùng, nhưng theo học trò Hà Tiên thì thầy Hùng rất dể mến, hiền hậu và rất được học trò kính mến. Thầy Nguyễn Văn Hùng đã từng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên ngay từ năm 1974. Thầy Hùng, người gốc Gò Công, khi giặc Khmer đỏ pháo kích Hà Tiên, thầy Hùng bị thương. Sau này thầy Hùng làm hiệu trưởng rồi được điều sang làm trưởng phòng giáo dục Hà Tiên. Thầy Hùng đã mất vì bệnh vào năm 2015 tại quê nhà Củ Chi ngoại ô Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Văn Hùng từng làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên trong những năm trường di tản xuống Kiên Lương. (Hình thầy về nghỉ hưu ở quê nhà Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn)

Cùng một đợt về trường Hà Tiên với thầy Nguyễn văn Hùng năm 1974, có thầy Trương Minh Tùng dạy môn Lý Hóa, sau đó thầy Trương Minh Tùng kết hôn với chị Trần Diệu Châu, em của cô Trần Diệu Hiền và là con của thầy Trần Hòa Hùng (thầy Hùng là hiệu trưởng một thời của trường Tiểu Học Hà Tiên). Hiện không biết thầy Trương Minh Tùng ở nơi nào.

Cô Trần Thị Mộng Hoàng dạy Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên khoảng những năm 1977 trở đi. Theo lời học trò kể lại (Nguyễn Hữu Tâm): « Cô rất đẹp và rất tây với cặp mắt kính gọng to. Thời trung học cô là nữ sinh trường Marie Curie. Cô hát nhạc Pháp rất hay và chuẩn… Những năm gian khổ nhất của cấp 3 Trung học Hà Tiên là phải đi lao động cực nhọc ở những công trường đắp đập đào kinh, cô luôn theo sát với các học sinh đặc biệt là lớp tụi em.Cô hát bất cứ lúc nào tụi em yêu cầu để quên đi cái cực nhọc về thể xác…rất mong muốn được biết tin của cô đó các bạn ».

Trước lúc nầy có cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên lúc trường còn ở điểm Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, sau khi về tạm ở điểm Kiên Lương, cô Huệ Vinh vẫn tiếp tục dạy hết các niên khóa ở đây. Hiên nay cô Dương Huệ Vinh định cư ở nước Canada. Thầy Phương người gốc Rạch Giá dạy môn Toán từ năm 1977.

Cô Dương Huệ Vinh lúc còn học sinh Trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá

Cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1977-1978, Cô Huệ Vinh hiện định cư ở nước Canada.

Trong giai đoạn Trường Trung Học Hà Tiên dời về Kiên Lương, có quý thầy: Thầy Mai, người Thái Bình (không nhớ dạy môn gì), thầy Phan Văn Báo về dạy ngay niên khóa 1980-1981, thầy Phan Văn Thế dạy môn Vật Lý, sau nầy thầy Thế trở thành hiệu trưởng trường Kiên Lương nhiều năm và hiện nay thầy Thế đã về nghỉ hưu. Năm học nầy cũng có một thầy dạy Thể Dục về trường dạy thầy tên Linh, rất đẹp trai, thân hình cân đối như vận động viên quốc tế…, kế đến có thầy Quang người Cần Thơ về trường dạy môn Sinh Vật, thầy Nguyễn Văn Em dạy môn Văn, theo học trò nhận xét, thầy Nguyễn Văn Em dạy rất hay, thầy lại có tài chơi đàn và hát rất giỏi, thầy thường hát bài « Chiều trên phá Tam Giang »…! Năm nầy có thầy Lê Văn Trợ người Sài Gòn về trường dạy môn Địa Lý, thầy Trợ có một thói quen là thức dậy rất đúng giờ và tập thể dục không bỏ ngày nào. Đặc biệt là thời gian nầy có cô Trần Ngọc Cầm, người gốc Hà Tiên, chính là em gái của thầy Trần Đại Thắng, cô Trần Ngọc Cầm dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học Hà Tiên giai đoạn dời xuống Kiên Lương.

Từ trái qua phải: thầy Phan Văn Thế, thầy Lê Văn Trợ, thầy Nguyễn Văn Em và thầy Trương Minh Quang Nguyên, quý thầy gặp nhau tại Cần Thơ 09/2018

Đến niên học 1981- 1982 thầy trò Trung Học Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên dọn trường lớp bàn ghế chuyển về quê nhà Hà Tiên thì ôi thôi!… ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa (địa điểm Mạc Tử Hoàng) đến bây giờ là một ngôi trường hoang cỏ ngập lút đầu, lau sậy um tùm, phòng học chỉ còn bốn bức tường không nóc không cửa vì bị dỡ trộm, lò sát sanh kể bên chất hàng núi xương trâu bò trong khuông viên trường và trong nhà vệ sinh, đầu lâu trâu bò và sừng trâu bò nhiều vô kể. Trong phòng học thì tất cả những bệ cửa sổ là…phân người chất đống vì người ta ngồi trên đó mà phóng uế xuống, họ xem đó là nhà vệ sinh tự nhiên vì cây cỏ trùm kín…Năm nầy trường bắt đầu hồi sinh sau cuộc chiến tranh biên giới, trường tạm thời chỉ có lớp 10 và 11, không có lớp 12. Đến năm sau 1983 trường mở thêm lớp 12 (mặc dầu trước khi trở về Hà Tiên trường đã có lớp 12 rồi). Thầy Nguyễn Văn Hùng vẫn còn làm hiệu trưởng của trường trong thời gian nầy cho đến năm 1985.

Trong thời gian nầy có Thầy Xuân Sơn dạy môn Văn, thầy Nguyễn Văn Tộ, người rất hiền và đạo đức, có thầy Hưng dạy môn Vật Lý, thầy Hưng người rất vui vẻ tiếu lâm, hiện thầy Hưng vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên. Cô Điệp, nhà đối diện với hãng nước đá Cữu Long cũng có dạy trường Trung Học Hà Tiên trong thời gian trở lại Hà Tiên.

Trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1989 thì mình bị mất thông tin, không biết thời gian nầy ngôi trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 3 (tên là Cấp 3 vì từ khi hết di tản ở Kiên Lương và trở về Hà Tiên thì trường bắt đầu sinh hoạt trở lại và chỉ có 3 cấp lớp 10, 11 và 12). Thời gian nầy không biết thầy cô nào làm hiệu trưởng, bạn nào có thông tin và hình ảnh thì rất quý, xin bổ túc cho bài chúng ta được đầy đủ, xin cám ơn.

Trong khoảng những năm 1989-1991, có thầy Bùi Đăng Trường làm quyền hiệu trưởng trường Phô Thông Cơ Sở Cấp 3 Hà Tiên và có thầy Trịnh Phú về trường dạy môn Toán (hiện tại 2018 thầy Trịnh Phú làm hiệu trưởng Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, Hà Tiên) . Thời gian nầy có một người thầy gốc gác Hà Tiên và cũng là con trai của thầy Trương Minh Đạt ra trường về dạy học ngay tại ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên nầy. Đó là thầy Trương Minh Quang Nguyên, dạy môn Hóa Học. Chính thầy Quang Nguyên đã cung cấp cho mình một số tư liệu quý giá về ngôi trường Hà Tiên trong khoảng thời gian sau năm 1975, xin cám ơn bạn Quang Nguyên nhé. Đồng thời có thầy Huỳnh Kim Lợi, cũng người gốc Hà Tiên, dạy môn Thể Dục từ năm 1990. Cùng thời gian có thầy Nguyễn Văn Tường dạy môn Toán trường Trung Học  Hà Tiên, hiện nay thầy Nguyễn Văn Tường vẫn còn trong ngành giáo dục tại Sài Gòn. Có thầy Hồ Văn Hải người Quãng Nam về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Vật Lý. Về thầy hiệu trưởng trong thời gian nầy là thầy Bùi Đăng Trường thì mình không có dịp quen biết và cũng không biết chính xác là thầy Trường đã làm hiệu trưởng trong bao nhiêu năm. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hình trái: Thầy Trương Minh Quang Nguyên người gốc Hà Tiên, dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên trong những năm 1989-1991. Hiện nay thầy Quang Nguyên đã chuyển ngành, lập công ty kinh doanh ở Sài Gòn. Hình phải: Thầy Hồ Văn Hải, dạy môn Vật Lý trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên.

Kế đó thì lại có thêm một thầy cũng gốc người Hà Tiên là thầy Trương Minh Nhật Quang, anh của thầy Trương Minh Quang Nguyên, cũng về dạy tại quê nhà trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên, thầy Nhật Quang dạy môn Vật Lý, Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy đến năm 1992 thì ngưng dạy và sau một thời gian khó khăn vì cuộc sống, thầy đã học thêm về môn Công Nghệ Tin Học và đi vào công việc nghiên cứu và đã có công trình phát triển rất nhiều về phần mềm chống virus rất nỗi tiếng khắp cả nước (phần mềm D2 năm 1992 và phần mềm D32 năm 2001). Hiên nay thầy Trương Minh Nhật Quang làm việc tại thành phố Cần Thơ với học vị Tiến Sĩ và với chức vụ Phó Hiệu Trưởng trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ.

Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên trong những năm 1989-1992, hiện nay thầy làm Phó Hiệu Trưởng trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ

Trong thời gian nầy có nhiều thầy cô về trường Trung Học Hà Tiên dạy nữa, mình chưa có thông tin chính xác, chỉ biết có thầy An người Hà Tiên (con Cô Lắc). Từ niên khóa 1993 đến năm 2000, lại có thêm cô Trương Thị Uyên Nguyên người gốc Hà Tiên, chính là em gái của hai thầy Trương Minh Nhật Quang và Trương Minh Quang Nguyên (và đều là con của nhà nghiên cứu, thầy Trương Minh Đạt), cô Uyên Nguyên dạy môn Toán trong các lớp 10,11 và 12 tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên quê nhà đường Mạc Tử Hoàng. Sau nầy khi trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến thành lập tại điểm đường tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài thì cô Trương Thị Uyên Nguyên chuyển vào tiếp tục dạy học tại đây. Thầy Phan Hoàng Long, dạy môn Toán nhiều năm (1993-2000), thầy Phan Hoàng Long chính là phu quân của cô Trương Thị Uyên Nguyên.

Cô giáo trẻ duyên dáng Trương Thị Uyên Nguyên dạy môn Toán tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng từ năm 1993, sau đó từ năm 2000 cô Uyên Nguyên chuyển dạy tại trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, điểm tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài.

Thầy Phan Hoàng Long và cô Trương Thị Uyên Nguyên (2018)

Cho đến năm 2000 thì đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sữ của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích !! Từ năm 2000 trở đi, trường Phổ Thông Cơ Sở Cấp 3 được dời ra một ngôi trường mới cất trên đường ra Mũi Nai, tỉnh lộ 28, thuộc phường Pháo Đài và được đặt tên chánh thức là Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên. với vị hiệu trưởng có rất nhiều công trong công cuộc lập ngôi trường mới nầy, đó là thầy Phan Văn Báu, về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Phổ Thông NguyễnThần Hiến và có đặt tượng chí sĩ, nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ người gốc gác Hà Tiên. Riêng về bản thân ngôi trường thân yêu đầy kỷ niệm tại góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích thì được đổi tên là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 (và có ghi địa chỉ là số 3 đường Mạc Tử Hoàng và thuộc phường Đông Hồ).

Như vậy trong một quá trình lâu dài từ lúc mới thành lập 1956 cho đến năm 2000, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở đường Mạc Tử Hoàng được phân các lớp như sau:

Địa điểm đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1956-1962 (?): đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ.

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1963-1972: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam và đệ nhị (xong lớp đệ nhị phải đi thi tú tài 1 ở Long Xuyên)

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1973-1976 : lớp 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12

Địa điểm Kiên Lương, 1977-1980: lớp 10, 11 và 12

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1981-1982: lớp 8, 9, 10 và 11

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1983-2000: lớp 10,11 và 12

Về tên gọi chánh thức của trường thì như sau:

a/ Trước năm 1975, tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên (gồm hai cấp: Trung Học đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) và trung học đệ nhị cấp ‘lớp 10 đến lớp 12)

b/ 1975 – 1976: tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên cấp II – III 

c/ Từ năm 1977 trở đi, có sự thay đổi là sát nhập hai cấp I và II thành trường phổ thông cơ sở, còn cấp III thành trường cấp III.

Tổng kết về đội ngũ hiệu trưởng, giáo sư, thầy cô, nhân viên văn phòng, bảo vệ của trường Trung Học Hà Tiên từ lúc thành lập (1956) đến năm 2000 (tại địa điểm đường Mạc Tử Hoàng và một giai đoạn ngắn tai địa điểm Kiên Lương):

Danh sách quý thầy (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Trương Minh Đạt (Toán, Lý Hóa), Hà Văn Điền (Thanh Tra, Hiệu Trưởng), Hồ Văn Chiếu (Thanh Tra Hiệu Trưởng), Doãn Quốc Sỹ (Hiệu Trưởng, Văn), Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), Võ Thành Tài (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn), Lê Văn Triệu (Toán), thầy Vũ Quang Vinh (Văn), Nguyễn Văn Nén (Hiệu Trưởng, Toán), Nguyễn Xuân Nam (Anh văn), Phạm Công Nhựt (Vạn Vật), Nguyễn Văn Viên (Thể Dục), Tạ Duy Phong (Lý Hóa), Lê Văn Quang (Sử Địa), Đỗ Huỳnh Có (Sử Địa), Hồ Quang Điệp (Anh văn), Nguyễn Văn Thân (Thư ký), Nguyễn Văn Hiệp (Văn), Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), Nguyễn Đức Sơn (Văn), Trịnh Học Ký (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Trí Thuận (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Đinh Văn Giáp (Sử Địa), Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Phùng Tuấn Sinh (Triết, Anh văn), Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Trần Đức Sinh (Âm Nhạc), Phan Văn Xuân (Toán), Trương Minh Hiển (Văn), Hứa Văn Vàng (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Tấn Ngoan (Anh văn), Nguyễn Văn Út (Sử Địa), Bùi Văn Cầm (Sử Địa), Phan Văn Chiếu (Công Dân Giáo Dục), Nguyễn Phúc Hậu (Pháp văn), Đỗ Văn Trợ (Lý Hóa), Nguyễn Văn Thái, Đỗ Tấn Sĩ (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Long Hồ (Sinh Vật), Nguyễn Hùng Dũng (Vật Lý), Trần Phình Chu, Thầy Phương (Toán), Huỳnh Văn Xền (Anh văn), Nguyễn Văn Thuận (Văn), Nguyễn Văn Hài (Sử Địa), Lê Quang Khải (Anh văn), Phạm Văn Khải (Anh văn), Nguyễn Văn Hùng (Hiệu Trưởng, Toán), Trần Đại Thắng (Hiệu Trưởng, Sinh Vật), Trương Minh Tùng (Lý Hóa), Lê Thanh Chương (Hiệu Trưởng), Nguyễn Trí Dũng (Toán), Lê Phước Lộc (Thể Dục), Trần Văn Thinh (Hóa Học), Nguyễn Văn Hợi (Sinh Vật), Nguyễn Văn Tiêu (Sinh Vật), Bùi Đăng Trường (Hiệu Trưởng, Văn), Huỳnh Kim Lợi (Thể Dục), Uông Văn Đính (Văn), Trương Tự Cường (Toán), Lâm Hữu Quyền (Hiệu Trưởng, Toán), Lý Mạnh Thường (Anh văn, Nhạc, Múa), Trương Minh Quang Nguyên (Hóa Học), Thầy Mai, Phan Văn Thế (Vật Lý), Phan Văn Báo (Hiệu Trưởng), Thầy Linh (Thể Dục), Thầy Quang (Sinh Vật), Nguyễn Văn Em (Văn), Lê Văn Trợ (Địa Lý), Thầy Xuân Sơn (Văn), Nguyễn Văn Tộ, Thầy Hưng (Vật Lý), Trịnh Phú (Toán), Nguyễn Văn Tường (Toán), Hồ Văn Hải (Vật Lý), Phan Hoàng Long (Toán), Thầy An, ….

Danh sách quý cô (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Lý Ngọc Mai (Nữ Công), Phạm Thị Huỳnh (Vẽ), Nguyễn Minh Nguyệt (Anh văn, Pháp văn), Hà Thị Hồng Loan (Toán, Văn), Vương Thị Lành (Văn), Tiền Ngọc Thanh (Vạn Vật), Nguyễn Ngọc Oanh (Lý Hóa), Trần Diệu Hiền (Thư Ký, Giám Thị), Dương Thị Minh Hoa (Vạn Vật), Lâm Ngọc Mai (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Võ Kim Loan (Văn), Nguyễn Kim Định (Văn), Nguyễn Thị Rớt (Văn), Nguyễn Thị Sồ (Sử Địa), Trần Kim Phấn (Giám Thị), Phan Thị Tuyết Mai (Sinh Vật), Vũ Thị Thêm (Toán), Ngô Thị Tuyết Dung (Văn), Ngô Thị Bình (Anh văn), Nguyễn Thúy Vân (Văn), Dương Huệ Vinh (Hóa Học), Nguyễn Thị Minh Châu (Pháp văn), Trần Thị Mộng Hoàng (Pháp văn), Nguyễn Thị Nhụy (Sử Địa), Trương Thị Bạch Cúc (Văn), Trần Ngọc Cầm (Hóa Học), Cô Điệp, Trương Thị Uyên Nguyên (Toán)… ….

Quý thầy cô gốc người Hà Tiên và đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên:
Hà Văn Điền, Trương Minh Đạt, Trương Minh Hiển, Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Phan Văn Xuân, Tiền Ngọc Thanh, Hứa Văn Vàng, Trần Diệu Hiền, Lâm Ngọc Mai, Lê Quang Khải, Trần Phình Chu, Huỳnh Văn Xền, Trần Đại Thắng, Nguyễn Thúy Vân, Nguyễn Thị Sồ, Lâm Hữu Quyền, Lý Mạnh Thường, Trương Minh Quang Nguyên, Trương Minh Nhật Quang, Trần Ngọc Cầm, Huỳnh Kim Lợi, Cô Điệp, Thầy An, Trương Thị Uyên Nguyên…

Đến đây hết phần 1, chắc chắn là bài viết trên còn rất nhiều thiếu sót và thông tin có phần thiếu chính xác, biên tập Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » mong mỏi quý thầy cô và các bạn bổ túc thêm nhiều chi tiết, thông tin và hình ảnh để bài viết được chính xác và phong phú hơn.

Mời quý vị thầy cô và các bạn đón xem tiếp phần 2, nói về Trường Trung Học Hà Tiên, hình thể, vị trí và hình ảnh học sinh.

Người biên soạn xin chân thành đa tạ tất cả quý thầy cô, các bạn cùng trường lớp và các em cùng quê hương Hà Tiên đã vui vẻ thông tin, góp ý và cung cấp hình ảnh cho mình rất nhiều, mình cũng có dùng một số hình trích từ những trang fb của quý thầy cô và các bạn, xin thành thật cáo lỗi, mong quý vị thông cảm và lượng thứ cho nhé.

Paris, xong phần 1 ngày 14/10/2018, Trần Văn Mãnh (học sinh Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn 1964 – 1970)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Xin đọc thêm về đề tài ngôi Trường Trung Học Hà Tiên:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/gioi-thieu-thay-co-truong-trung-hoc-cong-lap-ha-tien/

https://trunghochatienxua.wordpress.com/chuyen-vui-ngay-xua/

 

Những « Con đường xưa ta đi » của Hà Tiên

Thầy Cô và các bạn thân mến, thành phố Hà Tiên ngày xưa không to lắm, chỉ đủ để chúng ta chiều chiều khi cơm nước xong, rủ nhau thả bộ đi vòng vòng quanh phố, đi cho đến khuya, có hôm thì kéo nhau vào quán Ti La uống cafe nghe nhạc và nói chuyện với quý thầy cô…Hà Tiên là như thế, đã hiện hữu qua bao nhiêu năm dưới ánh mắt của chúng ta, lúc nào cũng dể thương, quen thuộc, mộc mạc nhưng không kém phần quyến rũ…

Tuy nhiên mọi vật trên trái đất nầy đều phải chịu tuân theo luật biến hóa, Hà Tiên cũng thế, mỗi ngày một đổi mới tốt đẹp thêm cũng có, hơi lố lăng một tí cũng có…Để nhớ lại mỗi con đường ngày xưa của Hà Tiên, những con đường mà các bạn đã từng dìu một người em gái nữ sinh Trung Học Hà Tiên nào đó, đi qua trong một buổi chiều …, để nhớ lại và hồi niệm cho một thời mà chúng ta tự xem như là « chủ » của đường phố Hà Tiên xưa…, xin mời thầy cô và các bạn duyệt qua một số con đường xưa của phố Hà Tiên, vì chỉ nói về những con đường hiện hữu của ngày xưa nên chỉ có một số ít thôi, còn Hà Tiên ngày nay đã quá phát triển, có những con đường còn tự trồi lên trên mặt của lớp đất bằng lấp đi một phần của con sông xinh đẹp và êm đềm ngày xưa,…dường như đường sá đã tự có từ ngàn xưa cũng không đủ để ngày nay người ta  lưu thông,…Hà Tiên đã phát triển tột độ, xin chúc mừng cho thành phố quê hương của chúng ta và cũng xin ngậm ngùi cho một phố Hà Tiên của những con đường tuy vắng khách « ngựa xe » qua lại dập dìu như hiện nay, nhưng lại rất tình tự và đầy ấp kỷ niệm học trò…

Những đường phố chánh của Hà Tiên ngày xưa

1/ Đường Mạc Công Du: Đường Mạc Công Du được người Pháp xây dựng đầu tiên vào năm 1871 và lúc đó tên đường là Avenue Inspection (Đại lộ Tham Biện), đường nầy được xây dựng cùng một lúc với Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ (dinh Ông Chánh Tham Biện). Đường Mạc Công Du chạy dài từ dưới chân đồi Ngũ Hổ thẳng tới ra bờ sông ngay cầu tàu Quan Thuế (xưa tên là Pont de Douane). Về sau trong những năm 50, đường được đặt tên chánh thức là đường Mạc Công Du (con trai của Mạc Tử Hoàng và cháu nội của Mạc Thiên Tích). Chúng ta quen gọi là đường Hàng Dương. Đây chính là « Con đường xưa em đi »…!! Vì con đường nầy đã chứng kiến rất nhiều những tà áo dài trắng của nữ sinh trung học Hà Tiên khi tan trường về và nối theo là những chiếc áo trắng quần tây xanh của những chàng trai nam sinh cùng về chung đường…

Trên đường Mạc Công Du một bên là trường Tiểu Học Hà Tiên, một bên là bên hông của trại lính « Thành 18 », tiếp theo là dảy nhà cư xá của quý thầy cô có tên là Học Đường Viên: thầy Hiệu Trưởng Hùng, thầy Thất, thầy Trịnh Học Ký, và thầy Nguyễn Đức Sơn…

Ngày xưa ngay trên con đường Mạc Công Du nầy có nhà của các bạn: Mai Thị Ngọc Minh, Lâm Tấn Hào – Kiệt, Huỳnh Văn Năm, Huỳnh Thị Sáu, Thái Cẩm Hà, Lý Mạnh Thường, …

Nam sinh trung học Hà Tiên trên đường tan học về nhà đường Mạc Công Du Hà Tiên trong những năm 60. (Hình: TVM)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên trước những năm 2000 ngay ngả tư Mạc Công Du-Mạc Cửu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên sau những năm 2000, ngay ngả tư Mạc Công Du-Lam Sơn (Hình: Lê Phước Dương)

Ngả ba đường Mạc Công Du (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là Chi Quan Thuế, bên phải là quán Ông Năm bán nem nướng. (Hình: TVM 2012)

2/ Đường Chi Lăng: Đường Chi Lăng ngày xưa có tên là Đường Lớn, người Pháp lúc xây dựng đường nầy đặt tên là Rue de Mui Nai. Đường Chi Lăng chạy dài từ mé sông Đông Hồ lên đến ngang qua đường Mạc Thiên Tích và tiếp tục thẳng lên bên phải là khu Lăng Mạc Cửu, quẹo trái là đường ra bãi biển Mũi Nai. Trên đường Chi Lăng nếu tính từ mé sông Đông Hồ thẳng lên thì lần lượt có nhà gia đình Quách Ngọc Sơn, Quách Ngọc Lâm ở đầu đường, Nguyễn Thanh Hà, thầy Nguyễn Văn Nén, Lâm Mỹ Nhung, Hà Mỹ Oanh, Phạm Kim Loan, nhà cô Vương Thị Lành, Trần Anh Kiệt, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Thúy Vân, Nguyễn Thị Điệp, Nguyễn Nguyệt Hồng,..v…v…

Khúc đường Chi Lăng Hà Tiên về phía núi Lăng, bên phải có chùa Phật Đường (Hình: TVM 2012)

Đường Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

3/ Đại Lộ Mạc Thiên Tích: Đại lộ Mạc Thiên Tích rất dài, nối liền Đồi Ngũ Hổ thẳng xuống đồi Pháo Đài, có tên xưa là đường Pháo Đài, người Pháp đặt tên là Boulevard Phao Dai. Vào năm 1952 tỉnh trưởng Hà Tiên là ông Lê Văn An đặt tên là Đại lộ Mạc Thiên Tích (con trai của Mạc Cửu và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến lịch sử văn học Hà Tiên). Con đường Mạc Thiên Tích ngày xưa lúc mình còn học vẫn chưa tráng nhựa, còn là đường sỏi đá, mình thường đi theo con đường nầy để xuống chơi nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh và Lý Văn Tấn. Đường nầy đi ngang qua cổng chính của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa.Tính từ ngay dưới chân đồi Ngũ Hổ về phía Pháo Đài thì trên con đường nầy có nhà các bạn: Tống Châu Thành (ngay xéo xéo bên phải cổng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên), La Tấn Lực, Lâm Thị Lan, Bùi Văn Tư, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh..v..v..

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên (khúc cắt đường Mạc Cửu). (Hình: TVM 2012)

Một góc đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên, khúc Ngả Sáu Điện Lực. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

4/ Đường Bạch Đằng: Người Pháp đặt tên cho đường Bạch Đằng là Rue des Cocotiers, ta quen gọi là đường Hàng Dừa. Từ năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Bạch Đằng. Đây là con đường quen thuộc của mình, trên con đường nầy có trại lính (thành 18), có cây dừa ba ngọn nỗi tiếng của Hà Tiên, mời xem bài:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Đường Bạch Đằng thẳng góc với đường Chi Lăng, phía trên giới hạn bởi đường Mạc Tử Hoàng và phía dưới chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay Cầu Bắc ngày xưa. Trên đường Bạch Đằng có Chi Thú Y, mặt nhà sau Thầy Trương Minh Đạt, nhà ông Ký Cụi, chùa Phước Thiện, thầy Lâm Văn Núi, anh Chư, thầy La Từ Sự, Tạ Em Sợi, Trần Tuấn Khanh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Thu Oanh, nhà mình (Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh), Lê Phước Hải, Huỳnh Văn Bền, Huỳnh Văn Bé, Trần Hồng Khanh, Chị Lệ, Chị Liễu..v..v…

Đường Bạch Đằng Hà Tiên ngày xưa trong những năm 70, nhìn về phía Cầu Bắc, bên trái là tiệm Cafe Quảng Phát, bên trái là quán cafe nhạc Khai, kế đó là nhà anh Trần Hồng Khanh. Trong hình: Trần Văn Phi (Hình: TVM)

Góc đường Bạch Đằng – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, nhà có cửa sắt xanh dương là nhà ông Minh Thái Phong. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên phải là khúc có tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên trái là biệt thự Ông Bầy ngày xưa có cửa sắt xanh dương đậm. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, hướng nhìn ra phía sông. (Hình: TVM 2012)

Ngả ba đường Bạch Đằng (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là tiệm Đồi Mồi Lê Minh, bên phải là tiệm Billard nhà bạn Trần Bình. (Hinh: TVM 2012)

5/ Đường Tô Châu: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Tô Châu là Rue de la Poste (đường Bưu Điện) vì đường nầy chạy ngang qua nhà Bưu Điện xưa (sau nầy đổi là Chi Bưu Điện mặt trước nhìn ra đường Tô Châu, mặt sau nhìn ra bờ Đông Hồ). Đường Tô Châu chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay tại mé sông có cầu phao nổi ngày xưa, phía trên thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng. Đường Tô Châu thời chiến tranh trong những thập niên 1960-1670 có một đoạn chạy ngang Chi Cảnh Sát và dinh Ông Quận Trưởng nên khúc đường nầy có lính gát và giới hạn sự đi lại. Trên đường Tô Châu tính từ đầu đường Mạc Tử Hoàng đi xuống mé sông là có: Dinh Quận Trưởng (lúc ông Thiếu Tá Hoa làm quận trưởng, là ba của bạn Trần Văn Minh gọi là « Minh Còi » học chung lớp với mình thời Trung Học), Chi Cảnh Sát (lúc trước có gia đình bạn Nguyễn Hoàng Nhi con ông Cảnh Sát trưởng học chung lớp với mình), trường Mẫu Giáo, Chi Bưu Điện có gia đình bạn Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Anh Khanh, Nguyễn Thị Anh Đào học chung lớp, có sân đánh bóng chuyền, thầy Hứa Văn Vàng, mặt sau vườn nhà ông Ký Cụi, nhà chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, Huỳnh Hồng Quang (anh chị em bạn dì với mình), gia đình Kiều Dũng, dãy nhà Ông Phán Cơ thường cho giáo sư ở trọ, mặt hông của Đình Thần Hoàng, thầy Trần Văn Tường, bạn Trần Thanh Tuyên, Chùa Bà Mã Châu, bên hông khách sạn Tô Châu và khách sạn Đại Tân…v…v…

Trần Văn Mãnh trong những năm 60, phía sau bên phải là Trường Mẫu Giáo Hà Tiên nằm trên đường Tô Châu. (Hình: TVM)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên phải là chùa Bà Mã Châu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên trái là chùa Bà Mã Châu, đầu đường phía xa là khách sạn Tô Châu. (Hình: HungCuongPC)

Một góc đường Tô Châu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

6/ Đường Phương Thành: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Phương Thành là Rue de Kampot vì đường nầy chạy thẳng lên phía biên giới Việt – Cambodge, giáp giới với tỉnh Kampot bên kia. Đường Phương Thành chạy xuống mé sông Hà Tiên ngay đường Trần Hầu. Có một nơi ba con đường giao nhau: Phương Thành, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tạo thành ngả sáu, bây giờ người ta gọi là Ngả Sáu Điện Lực (vì ngay đó có nhà đèn điện lực). Con đường Phương Thành là một con đường rất quen thuộc với giới trẻ học sinh Hà Tiên ngày xưa vì mỗi chiều các bạn trẻ thường hay chạy xe Honda, chở nhau từ ngay khu chợ theo con đường Phương Thành ra phía nhà thờ, qua Ấp Chiến Lược, thẳng ra Thạch Động và lên phía biên giới, đó là một khúc đường để phóng xe Honda 67 với tốc độ nhanh mà không bị phiền phức vì sự lưu thông nhờ đường hay vắng xe,…Mình còn nhớ rất nhiều kỷ niệm trên con đường nầy với các bạn Lương Cường, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm,..v..v..(đó là các cao thủ chạy xe Honda ngày xưa mà mình rất sợ khi ngồi phía sau cho các bạn nầy chở ra Thạch Động vì khi chạy ngang qua Ấp Chiến Lược là có một khúc quanh để các bạn đó « lạng » xe rất hấp dẩn, nhưng mà mình ở phía sau thì lại rất sợ…). Kể từ phía mé sông đường Trần Hầu đi lên thì trên con đường Phương Thành có rất nhiều nhà bạn học ngày xưa: Khách sạn Lâm Văn Cao, thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương ba của bạn Trần Đại Thắng, Trần Mỹ Quyên, Trần Mỹ Ngân, Lâm Hữu Quyền, anh em Vương Đình Phước, Vương Đình Lộc, nhà bạn tên Nguyệt em cô Tuyết con ông Chín Nhà Đèn, cô Tiền Ngọc Thanh, Tiền Ngọc Dung, ngang qua chùa Tam Bảo, nhà hai chị em Thanh Niên, Thanh Nữ, mặt hông nhà thờ, nhà máy xay lúa gia đình chị Lâm Xuân Cúc, nhà bạn Lâm Nhi Tôn, có chùa (Miếu) Bà Cửu Thiên,  rồi dài dài ra phía Ấp Chiến Lược, phía Thach Động có nhà bạn Quách Thị Chol học chung lớp với mình, còn nhiều nhưng mình không nhớ để kể ra…v…v…(Sau nầy khúc đường Phương Thành qua khỏi Ấp Chiến Lược ngày xưa khúc có chùa Phù Dung, đường có tên khác là đường Phù Dung chạy ra xa tới Thạch Động và biên giới).

Đường Phương Thành Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 ngay góc khách sạn Lâm Văn Cao đổi tên là Phương Thành. (Hình: HungCuongPC)

Đường Phương Thành Hà Tiên ngay khách sạn Phương Thành và khách sạn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên, nhìn về phía Nhà Thờ. (Hình: TVM 2012)

7/ Đường Mạc Cửu: Người Pháp đặt tên là Rue Mac Cuu, đường nầy chạy song song với đường Chi Lăng. Đường Mạc Cửu (để tưởng nhớ vị quan khai khẩn ra đất Hà Tiên là Mạc Cửu) chạy ngang qua khu lăng của gia đình họ Mạc, thẳng tới chùa Lò Gạch thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng và trở ra đụng đường Phương Thành. Từ ngày xưa đã lâu có một cái ao nước trước đền thờ Ông Mạc Cửu, sau nầy người Pháp khai thác đất đai nên đào thêm hai cái ao nằm hai bên đường Mạc Cửu nầy, ta quen gọi chung ba cái ao đó là khu Ao Sen. Chính ba cái Ao Sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Đầu kia của đường Mạc Cửu chạy thẳng ra bờ sông Đông Hồ, khúc phía sau dảy nhà cư xá cho nhân viên bưu điện viễn thông ngày xưa. Tính từ đầu đường bờ sông Đông Hồ chạy thẳng lên khu Lăng Mạc Cửu và chùa Lò Gạch thì lần lượt trên đường Mạc Cửu có bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, bên hông cư xá của Nhà Bảo Sanh (gia đình bạn Lê Mai Hoa, chị Lê Mỹ Hồng, chị Lê Mai Hương ngày xưa ở đó). Lần lượt tới nhà Lý Tòng Hiếu, Trương Thái Minh, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trần Văn Danh, Phạm Thúy Phượng…và thẳng qua khu Ao Sen,…Trong những năm 1970-1974 cô Võ Kim Loan lúc dạy văn trường Trung Học Hà Tiên ở tại căn nhà đối diện với nhà Lý Tòng Hiếu trên con đường Mạc Cửu nầy.

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, trước 1975 có Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến, sau 1975 đổi tên là Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau 2011 bệnh viện đã bi phá hủy nhường chổ cho Quảng Trường. (Hình: PhungAnhKiet)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ. (Hình TVM 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía cây đa chùa Lò Gạch. (Hình TVM, 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, khúc trước Ao Sen. (Hình: TVM 1999)

Ngả ba đường Mạc Cửu – Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu khúc giáp với đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, bên phải là Nhà Bảo Sanh ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

8/ Bến Trần Hầu: Bắt đầu vào năm 1889, người Pháp lấp vùng sình lầy bờ sông và cho đấp đá dọc theo mé sông từ cầu Quan Thuế lên tới Pháo Đài. Người Pháp cũng cấm không cho xây cất nhà cửa dọc theo mé sông nầy và thành lập một bến sông đặt tên là Quai Doceul (tên của viên Chánh Tham Biện Hà Tiên từ năm 1889-1890). Sau nầy con đường được đổi tên là Bến Trần Hầu ngày nay thì đề là Đường Trần Hầu (tên ông Trần Đại Lực có chức là Lực Tài Hầu). Con đường Trần Hầu là một một trong những con đường chánh của Hà Tiên, có thể xem như là mặt tiền của Hà Tiên. Thời xưa đường đó cũng nằm trong lộ trình chạy xe Honda mỗi buổi chiều du ngoạn của giới học sinh Hà Tiên. Trên mặt tiền nầy có rất nhiều khách sạn nhìn ra bờ sông: khách sạn Tô Châu, Đại Tân, Vân Tiên, Lâm Văn Cao,…(tất cả các khách sạn nầy ngày nay hầu như đã thay hình đổi dạng và đã đổi luôn tên…:Đại Tân thành Đông Hồ, Vân Tiên thành Hà Tiên, Lâm Văn Cao thành Phương Thành….). Trên đường Trần Hầu còn có bến đò, chợ cá, Đài Kỷ Niệm, Thánh Thất Cao Đài,…và có nhà của các bạn: Trịnh Công Tước, Phan Thị Liên Phương, Trịnh Xuân Tài, Đình Quận, Trần Phương Nhu, Dương Văn Hiếu, …v…v…

Bến Trần Hầu nhìn từ phía Cầu Bắc Hà Tiên trước 1975. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Một khúc đường Bến Trần Hầu Hà Tiên vào khoảng năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Bến Trần Hầu (Hà Tiên) ngày xưa, bên trái là Đài Kỷ Niệm, bên phải là dảy phố buôn bán có tiệm nước mắm của gia đình Tiền Thành Ký. (Photo: Bronson Ha)

Đường Trần Hầu ngày xưa, nhìn qua khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

Đường Trần Hầu Hà Tiên năm 1994. (Hình: Trần Văn Mãnh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: Chánh Thái Minh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên ban đêm, bên trái là phố Tứ Diện và tiệm Xuân Thạnh, bên phải là chợ tạp hóa. (Hình: Hoàng Nguyên 1998)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Khúc đường Trần Hầu có nhà Thầy Phan Thanh Trì, ba của Phan Thị Liên Phương. (Hình: AaronGeddes 2012)

Góc đường Trần Hầu – Nhật Tảo Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Trần Hầu – Tuần Phủ Đạt Hà Tiên sau những năm 2000

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng (Hà Tiên), bên phải là tiệm Billard ngày xưa của gia đình bạn Trần Bình.

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Trần Hầu Hà Tiên nhìn từ trên cao, bên trái là khách sạn Phương Thành. (Hình: TVM 2012)

9/ Đường Đống Đa: Thời Pháp đường Đống Đa có tên là Rue de l’Ecole vì ngày xưa người Pháp xây trường học quay mặt ra đường nầy. Đến năm 1947 trường mới quay mặt chánh ra đường Mạc Công Du, cổng sau trường nhìn ra đường Đống Đa. Năm 1952 tên đường chánh thức đổi thành đường Đống Đa. Dân Hà Tiên của chúng ta rất quen thuộc với đường Đống Đa vì ngày xưa lúc còn học trường Tiểu Học lúc nào cũng có lui tới trên con đường nầy. Vì nằm ở cổng sau của trường Tiểu Học nên ngày xưa khúc nầy có rất nhiều gian hàng bán bánh trái cho học sinh ra chơi mua ăn…Đường Đống Đa thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng ngay tại điểm giao với đại lộ Mạc Tiên Tích, chạy dài ra phía chợ đường Đống Đa thẳng góc với đường Lam Sơn và ngưng lại nơi đó. Trên đường Đống Đa nầy mình cũng có rất nhiều kỷ niệm vì trên đường nầy là có nhà của bạn Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên. Mỗi khi đi chơi về khuya, mình thường đưa Nguyên và Hưởng về tới khúc đường Đống Đa nầy (khoảng đối diện với Chi Thanh Niên và sân quần vợt ngày xưa). Nhiều lúc Hưởng thường lén lấy cắp một chiếc dép của mình nên mình phải đi theo Hưởng về tới khúc đường nầy, vừa đi vừa năn nỉ Hưởng để được trả dép lại rồi mình mới về nhà được…Ngoài ra trên đường Đống Đa nầy còn có nhà bạn Trương Kim Ô học chung với mình, Trần Yến Phượng, Trần Tuấn Anh..v…v…

Ngả tư đường Dống Đa – Mạc Cửu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Đống Đa Hà Tiên giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn. Bên phải ngay các chậu kiểng là nhà bạn Trương Kim Ô (học chung lớp với Trần Văn Mãnh). (Hình: TVM 2012)

10/ Đường Lam Sơn: Người Pháp lúc đầu đặt tên cho đường Lam Sơn là Rue de la Pagode vì trên đường nầy có chùa Ông Bổn (đúng ra là Miếu) thờ ông Bổn Đầu Công tên là Trịnh Hòa. Năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Lam Sơn. Đường Lam Sơn là con đường hàng ngày mình đi chợ, đến nhà bạn Lý Mạnh Thường, đến nhà các bạn Nguyễn Văn Tài, Lý Cui,…và cũng là đường để đi ra bãi biển Mũi Nai ngày xưa. Đường Lam Sơn một đầu thẳng góc với đường Bạch Đàng nhà mình, đầu kia chạy dài lên khúc ngọn núi có chùa Giải Thoát và khi quẹo trái là đi ra Mũi Nai. Đường Lam Sơn chạy ngang chợ Hà Tiên xưa, tiệm Sanh Hoạt bạn Lương Cường, nhà chị Lâm Xuân Cúc, Trần Ý Hui, cô Lý Ánh Nguyệt, tiệm bánh mì Tân Thái, Dương Thị Phương Hà, Đỗ Minh Quang, Lý Kiến Tân, Dương Hồng Minh, Trần Hoàng Phượng, Trần Hoàng Trang, Trần Học Quang, Trần Mỹ Hạnh, phía trên nữa là nhà bạn Lý Cui, nhà chị Hai Mùi vợ anh Lê Quang Chỉnh (anh bạn dì với mình). Ngày xưa mình thường thả bộ trên con đường Lam Sơn nầy để lên nhà Lý Cui mỗi chiều để chơi đàn chơi nhạc trong nhóm Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Tống Châu Thành, Trần Văn Yến,…

Ngả tư đường Lam Sơn – Phương Thành ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là mặt tiền ngôi chợ ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, nhìn về phía đường Bạch Đằng. ngôi nhà ngói ngay ngả ba Lam Sơn-Bạch Đằng là nhà Huỳnh Văn Bé. (Hình HungCuongPC 1997)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là tiệm (lò bánh mì) Tân Thái nhà Dương Phương Hà, bên phải là đầu đường Đống Đa.

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên phải có ngôi nhà đầu đường là Tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hinh: HuynhNT)

Đướng Lam Sơn Hà Tiên, hướng từ đường Bach Đằng nhìn ra phía chợ ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ cũ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Ngả tư Lam Sơn – Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, hướng nhìn về phía đường Nhật Tảo và Cầu Câu, bên lề đường trái ngay chổ người đang đi bộ là nhà chị Dương Hồng Châu. (Hình: TVM 2012)

11/ Đường Mạc Tử Hoàng: Tên thời Pháp là Rue de l’Appontement, tức là đường Cầu Tàu vì một đầu đường Mạc Tử Hoàng ra tới bến tàu ngày xưa ở sông Đông Hồ. Đầu kia chạy tới đường Phương Thành ngay chổ Nhà Thờ. Đến năm 1952 ông Tỉnh trưởng Hà Tiên Lê Văn An đặt tên là đường Mạc Tử Hoàng (con trai của ông Mạc Thiên Tích). Đường Mạc Tử Hoàng là con đường quan trọng về phương diện chiến lược và hành chánh ngày xưa vì trên đường nầy tính từ mé sông thì có Sân Vận Động (sân đá banh) ngày xưa, khu Chi Công Chánh, dinh của ông Phó Quận (ngày xưa gia đình của bạn Lê Mai Hoa cũng có lúc ở trong khu dinh thự nầy), đối diện bên nầy là cổng chánh của trại lính Thành 18, tiếp đến là Tòa Bố tức là nơi làm việc của ông Quận Trưởng, một bên là cổng sau của ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, một bên là cổng sau của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, nhà của các em Lành, Tuyết (con của Bà Năm), kế nhà nầy ở ngay góc đường, là nhà của một bạn tên Thu bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, phía trước nhà có ao rau muống, ngày xưa mình rất sợ cái ao rau muống nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo chân mình xuống ao…). Đến Nhà Thờ là hết đường Mạc Tử Hoàng. Ngày nay đường Mạc Tử Hoàng còn được nối dài lên con đường đất nhỏ ngày xưa đi lên tới chùa Lò Gạch và gặp ngay đường Mạc Cửu. Khúc đường Mạc Tử Hoàng từ Nhà Thờ lên đến chùa Lò Gạch nầy là rất quen thuộc với học sinh trung học ngày xưa vì mỗi khi có giờ học trống thì cả nhóm kéo nhau lên núi Lăng bằng con đường đất nhỏ nầy (trên con đường nhỏ nầy bên trái có nhà của chị Trần Diệu Châu và cô Trần Diệu Hiền thơ ký và giám thị của trường chúng ta ngày xưa).

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, bên phải là Nhà Thờ. (Hình TVM 2012)

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, nhìn về phía dinh Quận ngày xưa. (Hình TVM 2012)

Góc đường Mạc Tử Hoàng (trái) – Phương Thành (phải) có nhà thờ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

12/ Đường Tuần Phủ Đạt và đường Tham Tướng Sanh: Hai con đường nầy được xây dựng khi ngôi chợ Hà Tiên ngày xưa làm xong, lúc đầu chưa có tên. Đến năm 1952 hai con đường song song hai bên hông chợ Hà Tiên nầy mới được ông Nguyễn Văn Hải đặt tên: Tuần Phủ Đạt tức là Ông Tuần Phủ Huỳnh Mẫn Đạt, Tham Tướng Sanh tức là Tham Tướng Mạc Tử Sanh con của ông Mạc Thiên Tích. Vì hai con đường nầy ở ngay vị trí hai bên chợ Hà Tiên nên rất tấp nập, có nhiều tiệm buôn, cửa hàng. Mỗi buổi sáng trên đường Tuần Phủ Đạt thì có họp chợ bánh trái, đủ thứ bánh trái cho người Hà Tiên ăn điểm tâm: bún chả giò, hủ tiếu hấp, bánh tầm bì, cháo đậu đỏ, xôi hột gà, xôi tôm khô, chè đậu trắng, chè hột me,…., Đường Tuần Phủ Đạt khúc trên gặp đường Chi Lăng, khúc dưới thì ra đến chợ cá ngày xưa. Ngay khúc trước Phố Tứ Diện tiệm văn phòng phẩm nhà Minh Thái Phong, ngay trước đó là khoảng đất dành cho má của bạn Lý Cui bán gạo. Ngày xưa khi cuối tuần không có giờ học nhóm mình thường hay ra ngay khu bán gạo của má bạn Lý Cui để nói chuyện chơi, gồm có Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến,..v..v..Cả bọn nhóm lại phía sau quầy hàng gạo và nói chuyện với Lý Cui, khi có khách mua gạo, đong gạo xong, Lý Cui phải chở bao gạo phía sau yên xe đạp để giao đến tận nhà cho khách, lúc đó cả bọn cũng còn lai rai ở đó chờ cho Lý Cui giao gạo xong nói chuyện tiếp…Phía bên kia đường tính từ khúc trên đường Chi Lăng dài xuống thì có nhà các bạn: Rạp chiếu bóng Phát Minh (cất lúc sau nầy) Lương Cường, Hồ Anh Dũng, Hồ Thị Kim Hoàn, Hồ Thị Kim Nga,…, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm, Phù Ngọc Anh, Phù Ngọc Liên, Trần Tiên,….

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa, bên phải có khoảng đất trống sau nầy có rạp ciné Phát Minh, giữa hình là nhà Hồ Thị Kim Hoàn. (Photo: Dave Kathy Crawford 1966)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn có ba căn phố đối diện với mặt bắc của chợ Hà Tiên: Tiệm Ông Tàu Lái, Tiệm Sanh Hoạt và Tiệm cafe Dũ Long. (Photo: Fred Abery)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa trước năm 1975, nhìn về vườn Ông Ba Lón. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên.

Đường Tuần Phủ Đạt ngay khu chợ Hà Tiên xưa trước năm 2000. (Hinh: HungCuongPC)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, khúc giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn (Hình: Hồ Anh Dũng)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, giáp với Đường Trần Hầu. (Hình TVM 2012)

Đường Tham Tướng Sanh thì dài hơn đường Tuần Phủ Đạt vì khúc trên gặp ngay trước bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, khúc dưới cũng ra tới chợ cá ngày xưa. Ngày xưa người Pháp đặt tên là Rue de l’Hôpital (đường Bệnh Viện). Đến năm 1952 được đổi tên là đường Tham Tướng Sanh. Trên đường Tham Tướng Sanh bắt đầu là Nhà Bảo Sanh (nơi mà mình sinh ra ở đó…cùng lúc với anh Trần Văn Dõng và hầu như tất cả các bạn cùng trạc tuổi mình đều được sanh ra ở Nhà Bảo Sanh nầy), tiếp là mặt sau Chi Thú Y, mặt trước nhà thầy Trương Minh Đạt (quán Ti La), bên hông vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn, nhà bạn La Văn Cao, gia đình ông Lâm Văn Cao, dài xuống nhà Trịnh Tố Chinh (tiệm Hiệp Lợi), nhà chị Đỗ Mùi,…ra tới tiệm cơm Xuân Thạnh. Nếu bên đường Tuần Phủ Đạt buổi sáng có hàng bánh trái điểm tâm thì bên đường Tham Tướng Sanh bên nầy là chợ rau cải và tạp hóa, chợ họp ngay từ đầu đường Lam Sơn chạy dài xuống đụng Bót Cảnh Sát ngay chợ cá. Phía bên đường Tham Tướng Sanh thì mình ít đi buổi sáng vì người ta bán toàn là rau cải, tạp hóa, dành cho các bà nội trợ đi chợ mua thực phẩm về nấu cơm trưa chiều, mình chỉ quanh quẩn bên phía chợ bánh trái bên đường Tuần Phủ Đạt để ăn hàng vặt mỗi sáng…!!

Góc đường Tham Tướng Sanh – Lam Sơn Hà Tiên. Tiệm Hoàng Sơn là ngay chổ tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

Đường Tham Tướng Sanh Hà Tiên, ngay bên hông chợ Hà Tiên xưa. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tham Tướng Sanh – Trần Hầu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

13/ Đường Cầu Câu, đường Nhật Tảo và đường Nguyễn Thần Hiến: Ba con đường nầy song song với nhau và giới hạn một đầu là đường Chi Lăng, đầu kia là đường Trần Hầu. Đây là ba con đường ngày xưa mình cũng rất thích đi dạo một mình vì trên mỗi đường đều có nhà các bạn quen thuộc. Người Pháp quy hoạch ba con đường nầy cùng một lúc với ngôi chợ, bệnh viện. Lúc đầu chưa có tên, đến năm 1952 do ông tỉnh trường Hà Tiên đặt tên. Trên đường Cầu Câu có nhà của các bạn: Phan Văn Hữu, Nguyễn Ngọc Lê, Hà Thu Hương, Nguyễn Minh Hùng (Hùng Hynos), chị Nguyễn Thị Hoa cùng các em Nguyễn Thị Lan, Liên, Liễu, Lệ (Thủy)…Đầu đường Cầu Câu và Trần Hầu có nhà Ông Đốc Hà Văn Điền là ba của cô Hà Thị Hồng Loan. Đầu đường Cầu Câu và Lam Sơn có nhà anh Độ, khoảng đường nầy ngày xưa mình cũng rất thường hay đi qua đi lại…!!!

Đường Cầu Câu Hà Tiên. (Photo: Axel.R.D 2011)

Góc đường Cầu Câu – Trần Hầu. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Cầu Câu – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nhật Tảo thì có một ngôi nhà rất nổi tiếng đó là nhà Bà Bảy Tiếu, ngôi nhà dành cho quý thầy thường ở trọ thời đi dạy Trung Học ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970: thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Phúc Hậu,…Gần đầu đường phía Trần Hầu thì có nhà bạn Hà Quốc Hưng, nhà của Tòng cũng trên con đường nầy (Hưng và Tòng là anh em cô cậu ruột…)

Góc đường Nhật Tảo – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Nhật Tảo Hà Tiên góc có chùa Ông Bổn, phía dưới hình là đường Lam Sơn, phía xa là đường Chi Lăng. (Photo: AdriaanCastermans)

Đường Nhật Tảo Hà Tiên, giữa đường Lam Sơn và Chi Lăng. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nguyễn Thần Hiến có nhà các chị Huỳnh Ánh Tuyết, Phan Thu Hường, cô Ngọc Lan, cô Sồ…v..v…Khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng thì có nhà của bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên, Trần văn Hữu (Mạnh). Con đường Nguyễn Thần Hiến rất êm đềm và bình lặng, ngày xưa mình rất thích đi bộ qua con đường nầy. Ngoài ra còn có nhà của Phan Kim Chi ngày xưa mỗi khi đến ngày cúng sao thường gặp Kim Chi trên chùa Phật Đường, lúc đó còn nhỏ Bà Ngoại mình thường dắt lên chùa Phật Đường cúng sao và chờ khi cúng xong được ăn chè, Kim Chi cũng theo ông bà đi chùa.

Góc đường Nguyễn Thần Hiến – Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đến đây cũng gần như chấm dứt nhắc lại chuyện xưa về đường phố Hà Tiên, những con đường mà ngày xưa mình đã đi qua rất nhiều, khi thì để đến nhà các bạn thân để chờ rủ nhau đi chơi, khi thì để nhìn thoáng qua một hình bóng nào đó ẩn hiện trong nhà…Ngoài ra còn một con đường đất nhỏ lúc đó hình như chưa có tên nay có tên là đường Phạm Văn Ký (không biết tên đường đặt ra từ thời nào, đường nầy thẳng góc với đường Lam Sơn về phía trên), con đường nầy mình cũng thường đi vào những buổi chiều khi cơm nước xong, đó là đi để đến nhà bạn Lê Phước Dương và Lê Phước Hải. Ngày xưa căn nhà nhỏ của Hải và Dương gọn gàng xinh xắn (bây giờ thì đã cất phát triển thêm rộng lớn) chỉ có ba mẹ con ở, những lúc mình đến chơi mẹ của Dương và Hải tiếp đón tận tình rất tử tế, trong nhà có chiếc bàn học cạnh cửa sổ và cũng như thường lệ thời đó, có một cây đàn guitare để đàn hát cho vui…Ngày nay nghĩ lại bạn Phước Hải đã lâm vào cơn bệnh tai biến, ăn nói hành động khó khăn, mình rất buồn và cảm thương cho số phận của một người bạn chẳng những học cùng trường trung học Hà Tiên mà còn là người bạn văn nghệ từng cùng nhau đi trình diển rất nhiều nơi tại Hà Tiên. Lê Phước Dương là một thành phần trong nhóm có tên « Gói Pall Mall chịu » vì nhóm nầy của mình ngày xưa thường hút thuốc Pall Mall nhưng hay mua chịu!!!. Vài hàng viết xong xin kết thúc phần tưởng nhớ những con đường xưa của Hà Tiên, xin mời các bạn đọc qua và góp ý thêm nhất là xin nhắc lại nhà của từng bạn trên con đường nào để mình bổ sung vào bài viết cho đầy đủ nhé, xin cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cận tết Mậu Tuất 11/02/2018 Trần Văn Mãnh viết theo tài liệu của Nhà nghiên cứu Hà Tiên Thầy Trương Minh Đạt. (xin mời thầy cô và các bạn tìm đọc quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên tập 2 » của thầy Trương Minh Đạt sẽ biết rỏ nhiều chi tiết hơn về những con đường của phố Hà Tiên)

Bổ túc: sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm về hai con đường nhỏ không có tên nhưng rất quen thuộc đối với những người Hà Tiên xưa:

Hai con đường không tên, cùng thẳng góc với đường Bạch Đằng và Tô Châu.

Sẳn bài của Trần Văn Mãnh viết về các con đường ở Hà Tiên xưa, mình xin góp vài phụ lục « ngoài lề » cho vui. Nói là phụ vì đây không phải công trình nghiên cứu, sưu tầm gì cả mà chỉ là nhận xét của một người con đất Hà sống ở thời đó. Chuyện là như vầy: Ở Hà Tiên thời đó có hai con đường ngắn nhất, cả hai đều không (chưa) có tên và trên hai con đường nầy tuyệt không có ngôi nhà dân cư nào cả. Các bạn có biết hai đường nầy không?
1/ Đường thứ nhứt là con đường từ Chi Thú Y ngày trước đâm thẳng ra Chi Bưu Điện, giới hạn giữa đường Bạch Đằng và đường Tô Châu. Hồi đó đường nầy chỉ là đường rải đá. Một bên là bên hông khu vườn nhà ông Ký Cuội, còn bên kia là khu đất trống trải, không có nhà, chỉ có vài cây dừa, một cây sứ cổ thụ và một sân bóng chuyền dã chiến của các anh hùng, hảo hán cầu thủ thuở đó của đất Hà Tiên (đội bóng nầy do đó được đặt tên là đội cây Sứ (hay bông Sứ). Theo trí nhớ của mình thì gồm các nhân vật sau (bây giờ chắc nhiều người đã vắng bóng): các Ông Năm Nghép, Sáu Lỹ, Tư Chuộn (cà phê Dũ Long), Ông NHUM (đồi mồi Lâm Văn Cao), Lê Minh (đồi mồi), hia Phón, anh Bún (con ông Tư Hiếm), Ông Bảy Kính, ông Đức Quang chụp hình, thỉnh thoảng có Ông Sáu Quang (ba của Trần Văn Hữu), Ông Âu Tư (bánh Kẹo), Vạn Ích Đường (thuốc bắc), anh Lô Sến, có lúc có Ông Điệp (ba Kim Hoàn cũng vô chơi)…Còn vài ông nữa nhưng mình quên tên rồi.
2/ Con đường thứ hai cũng là đường đất đá, không tráng nhựa, cũng giới hạn bởi đường Bạch Đằng và đường Tô Châu, nhưng chạy sát trước cửa đình Thần Thành Hoàng. Đường nầy chỉ duy nhất có ngôi đình một bên, còn bên kia là hông nhà ông Bái (ba của Tạ Em Sợi), xong tới khoảng trống trước cửa đình, xong tới hông dãy nhà kho 3 căn (của gia đình Ông Thái Dũ hay ai đó).
Hai con đường nầy ngày xưa chắc được xem là hẻm, vả lại không có nhà dân, nên chưa cần đặt tên, chưa kể nó quá ngắn. Luu ý thời đó chưa có mạng Internet nên nhà cửa cần có địa chỉ rỏ ràng để nhận thư từ gởi qua Bưu Điện.
Còn một vài điều thú vị về đường phố Hà Tiên xưa lúc nào vui mình kể tiếp.

                                                  (Trần Văn Dõng)

DinhThanThanhHoang_HaTien_TrungLyHuu_2018

Con đường trước đình Thần Thành Hoàng ngày nay đã được tráng xi măng. (Hinh: Trung Lý Hữu 2018)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Giới thiệu Dương Văn Hiến

Dương Văn Hiến

Thầy Cô và các bạn cho phép tôi được dài dòng đôi chút để được biết rỏ về tôi, cũng giống như bài viết  « Tự bạch của Trương thanh Hùng » đã được đăng vào Blog nầy. Vào khoảng năm 1962 tôi từ Hòn Heo, Bãi Ớt lên Hà Tiên, ba tôi là ông Dương Công Huỳnh làm y tá ở bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, lúc đó tôi học lớp nhất với thầy Lê Đức Nguyên (chung với Lý Mạnh Thường).  Vì thi trượt vào lớp Đệ Thất nên tôi học lớp Bán Công chung với Trần Tiên, Tiền Công Thành… Tôi đậu vào lớp Đệ Thất « sau lưng » Trương Thanh Hùng ( Trương Thanh Hào đậu hạng 46/50, Trương Thanh Hùng đậu hạng 47/50 và tôi  Dương Văn Hiến đậu hạng 48/50, còn bạn Trương Minh Huệ đậu hạng 49/50). Không may, học lớp Đệ Thất năm đó (niên khóa 1965-1966) vận đen đến với tôi: ngay cái ngày thi Đệ nhị lục cá nguyệt tôi lại kẹt đi lưới chưa về được nên bỏ cuộc thi, tôi khóc và khóc thật nhiều, năm đó ở lại và học chung lớp với Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt…(niên khóa 1966-1967). Hết năm đó tôi vừa lên lớp Đệ Lục đươc 2 tháng thì trong nhà có nhiều chuyện xảy ra, tôi buồn tình bỏ học và đi hoang (đi Phú Quốc làm việc, khi thì đi biển khi thì đi tàu chở hàng hóa lênh đênh trên sông biển cho đến năm 18 tuổi thì trở về Hà Tiên đi lính Địa Phương Quân đóng ở Đá Dưng. Trong khi các bạn ngày xưa đứa có Tú Tài, đứa vào trường Sư Phạm, người nhập ngủ vô Thủ Đức,  người thì còn vui với đèn sách, còn tôi nếu có nhớ về trường về bạn về kỹ niệm học trò thì thật là không có gì để được nhớ và nói đến. Tôi không thể có khung thời thơ mộng nào của tuổi học trò để đóng góp trong Blog của thầy cô và các bạn, chỉ mong thầy cô và các bạn nhận ở tôi đôi dòng tâm sự nầy coi như tôi chia sẽ chút vui buồn về tôi đến thầy cô và các bạn. Vậy xin cám ơn anh Trần Văn Mãnh chủ Blog đã bỏ chút thời gian đọc thư của tôi. Xin kính chúc gia dình anh có được mùa xuân hạnh phúc và dồ dào sức khỏe. 

Tạm bút 12/2016: Dương Văn Hiếu  (ngày xưa tôi tên Dương Văn Hiến còn tên hiện dùng là Dương Văn Hiếu)

Dương Văn Hiếu

Dương Văn Hiến, người bạn khá đặc biệt của tôi (Trương Thanh Hùng)

Trong số bạn bè hồi còn học Đệ Thất, Đệ Lục (1965-1966), có lẽ Dương Văn Hiến là một trong những người bạn đã để lại ấn tượng trong tôi đậm nét nhất, bởi Hiến là học trò học lớp luyện thi vào Đệ Thất của ba tôi. Tôi quen Hiến và chơi thân với Hiến từ lúc đó. Kỷ niệm về Hiến hơi nhiều, xin kể lại các bạn nghe một vài mẫu chuyện vui vui về người bạn khá đặc biệt này.

Chuyện ở Núi Lăng

Tôi không nhớ đó là năm học Đệ Thất hay Đệ Lục, có một giờ trống, tôi cùng Dương Văn Hiến, Trần Phước An, Trương Thanh Hào (anh tôi) lên núi Lăng chơi. Mà hình như thời gian đó học trò hay đi núi Lăng phá phách vào những giờ trống (thầy cô có việc không dạy). Mấy anh em đến gần mộ Mạc Thiên Tích ăn cắp dừa. Trần Phước An là người leo dừa giỏi nên leo lên một cây dừa xiêm không cao lắm. Hiến là dân lao động, tháo vác nên phụ trách chụp dừa không cho rớt xuống đất, bởi nếu dừa rớt xuống đất gây tiếng động thì ông Từ Nguơn nghe lên bắt thì hư bột hư đường hết. Khi An leo lên cây thì Hiến đứng dưới gốc dừa mở nút quần ra tè. Lúc đó, vào ngày thứ hai học trò phải mặc quần trắng, mà quần còn gài nút chứ chưa có « phẹc mơ tuya ». Hiến tè vừa xong, còn đang lui cui gài nút thì ở trên, An hỏi “Rồi chưa?”. Hiến đáp “Rồi!”, An thả trái dừa xuống vừa lúc Hiến ngữa mặt lên, trái dừa rớt ngay miệng của Hiến một cái như trời giáng, cái mỏ lập tức sưng vù lên. Tuy đau, nhưng Hiến cũng ráng chụp thêm mấy trái nữa. Anh em đem dừa đến mộ Mạc Thiên Tích đập lột võ uống. Xong xuôi, Hiến mang cái mỏ sưng vù về trường, vô lớp bị bạn gái Lâm Thị Lan hỏi “Bộ bị vợ khẻ đũa vô mỏ sao mà sưng vù vậy?”. Hiến mắc cỡ không trả lời…!!

Bán cà rem

Tôi thương, quý Hiến cũng vì chuyện này. Nhà tôi nghèo, mà nhà Hiến cũng không khá, hai anh em lãnh cà rem ở hảng nước đá Triều Quang đi bán dạo. Lúc đầu tôi còn ngỡ ngàng nên rao “Ai mua cà rem hôn?”. Hiến dạy tôi: “Mầy phải rao Cà rem đây, chớ ai mà rao như mầy”. Vậy là tôi học được một chiêu. Hôm đó, bán cà rem ở khu nội ô hơi ế, Hiến rũ tôi qua Tô Châu bán. Hai anh em qua đò đi vòng núi Tô Châu rao bán. Khi có người kêu mua, Hiến hay nhường tôi bán trước. Hiến còn hỏi: “Nếu người ta trả giá 3 đồng 5 cây mầy bán không?”. Tôi chưa trả lời thì Hiến nói tiếp: “Mầy bán 4 đồng 5 cây rồi mầy ăn 1 cây, bây giờ mầy bán 3 đồng 5 cây thì coi như mầy ăn 1 cây chớ đâu có gì mà lo”. Vậy là tôi học thêm được một chiêu nữa.

Đi xuồng trên Đông Hồ

Hiến nghỉ học khá sớm, một thời gian rất dài tôi không gặp Hiến. Đến năm 1974 mới gặp lại khi Hiến làm lính đóng trên Đá Dựng. Đến năm 1976, lúc tôi đi dạy học ở Hà Tiên, có lần tôi đến nhà Hiến (ở mé sông gần Cầu Đá), hình như hai anh em có làm vài xị, sau đó Hiến rũ tôi xuống xuồng chèo vào Đông Hồ thả lưới. Hiến chèo chỉ có 1 chèo mà xuồng đi rất nhanh, Hiến giảng cho tôi biết về kỹ thuật chèo xuồng của người dân biển. Khi vào trong Đông Hồ Hiến nói: “Tao chỉ muốn có một chiếc ghe nhỏ, có mui để khi nào trời mưa vô ngồi trong mui nhậu là được rồi”. Vậy mà cho đến bây giờ Hiến không thực hiện được ước muốn đó cho dù điều kiện hiện nay của Hiến không còn nghèo khổ như trước nữa.

Cuộc gặp ở Vàm Rầy và nửa con khô cá bè.

Năm 1977, tôi đi dạy học ở Vàm Rầy (xã Bình Sơn), tình cờ gặp Hiến tại đây, tôi rũ Hiến về chỗ các thầy cô giáo ở để ăn với nhau một buỗi cơm. Hồi đó thầy giáo rất nghèo, khi tôi nói với mấy cô giáo nhà có khách, các cô khá băn khoăn vì bạn của thầy Hùng tới mà không có gì ăn. Khi Hiến ra phía sau đi vệ sinh thì nghe các cô nói với nhau: “Bạn thầy Hùng tới mà thức ăn không còn gì, mình phải đi mua vài cái trứng vịt chiên để đãi khách”. Hiến nghe nói cảm động quá. Khi các cô ra nhà trước để đi mua thức ăn thì Hiến ngăn lại nói: “Mấy cô đi mua thêm thức ăn phải không, thôi, mấy cô đi chi cho mất công, tui còn con khô cá bè, để tui cắt phân nửa chiên ăn là xong chớ gì”. Nói xong, Hiến vội lấy con khô cá bè gói trong tờ giấy nhật trình xuống bếp cắt phân nửa (phần đầu), còn khúc đuôi có dây cột thì gói lại treo lên vách. Hôm ấy mấy thầy cô có bữa ăn cơm với khô cá bè chiên thật ngon. Đến sau này tôi mới biết còn nửa con khô, Hiến xách đi qua Ba Chúc thăm bạn. Thật là cái tình của bạn nghèo cảm động biết bao nhiêu.

Chuyện của Hiến với tôi còn dài, nhưng chỉ kể vài chuyện để Thầy Cô và các bạn nghe cho vui.

Hiện nay Hiến có tên là Dương Văn Hiếu, đang sinh sống ở tiểu bang Floride Mỹ.

Trương Thanh Hùng Ngày 28 tháng 10 năm 2017

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi giữa: Lê Thị Việt Nga, Trần Quý Nương, Trần Quý Nữ)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bìa trái: Lê Thị Việt Nga và Trần Quý Nương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bài trái: Lê Phước Dương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi ở giữa: Sĩ, Trang Việt Thánh, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương)

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

 

Kể về người bạn ở trời Tây (Lâm Thị Lan)

Nữ kê tác quái,gà mái đá gà cồ.
Đây là 2 nhân vật chính nè các bạn ơi!
Nữ kê đây. Gà cồ đây

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: « Nữ kê »: Lâm Thị Lan, hình phải: Gà cồ: Dương Văn Hiếu

Sau gần 40 năm gặp lại bạn Dương Văn Hiếu trên Face book. Hiếu hỏi Lâm Lan có còn nhớ lúc còn là học sinh năm học ở lớp Đệ Thất trường Hà Tiên không?

          – Nhớ cái gì bạn Hiếu?

          – Nhớ cái tuổi 13 lắm chiêu, nhiều trò này. Lớn không lớn, mà nhỏ không nhỏ hay trêu hay ghẹo với nhau.

Nữ sinh với chiếc áo dài thướt tha thường hay bị cái anh chàng « lí lắc » này rình cột cái đuôi áo dài. Khi mình phát hiện ra thì anh chàng này mặt phớt tỉnh như không có sự việc gì xẩy ra.

Ấm ức trong bụng không biết làm sao trả đũa cái anh chàng « lí lắc » này. Có một lần Lâm Lan chờ giờ vào lớp khi chàng Hiếu đi qua (vì Hiếu xếp hàng sau Lâm Lan nên phải đi vào sau), Lâm Lan đưa cái chân cho anh chàng này té chảy máu mũi chơi.

Hihihi!

Nghĩ thế thì làm. Khi anh chàng « lí lắc » vừa trờ tới Lan liền đưa chân ra. Úi giời ơi! Sợ quá rút chân về nhanh các bạn ạ (sợ gặp thầy Giám Thị là con chết lớn). Thôi rồi tha cho bạn lần này thôi. Không thì cho bạn nhảy cò cò một phen cho chừa cái tật hay ghẹo bạn gái.

Hihihi! Hihihi!

Cái tuổi 13 lắm chiêu trò.
Nhớ mãi trò vui nghịch ở trường.
Làm cho bạn té chảy mũi chơi.
Hay đùa hay nghịch với bạn gái.
Bây giờ gặp lại bạn ngày xưa.
Hiếu ơi! Lúc đó có gì không?
Không Lan ơi! Làm sao tui té được.
Đến bây giờ kẻ bắc, người nam.
Kể nhau nghe cái tuổi học trò.

Nhờ có Blog THHTX mình nhớ lại cái tuổi con nít có biết bao là kỷ niệm. Đúng là học sinh đứng hàng thứ 3 nhỉ.!!!

Lâm Thị Lan tự thuật (10/2016)

Tái bút: Bài « Tạm bút » của bạn Dương Văn Hiếu và bài « Tự thuật » vui nhộn của Lâm Lan đã được viết lâu rồi (năm 2016), nhưng vì chờ nhiều thông tin bài vở về bạn Dương Văn Hiếu nên hôm nay sẳn có bài của Trương Thanh Hùng kể chuyện về Hiếu ngày xưa nên mình cho vào chung một bộ…

Hình ảnh: Dương Văn Hiếu, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, kỳ trước mình có viết một bài về kỷ niệm thời học sinh đi học giờ thể dục với thầy Trịnh Học Ký vào sáng sớm, phải đi trên đường Bạch Đằng một bên có cây dừa ba ngọn đầy ma và một bên là nhà xác của bệnh viện Nguyễn Thần Hiến (xin mời xem lại bài theo link dưới đây)

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Hôm nay mình viết thêm một bài nữa cũng có liên quan đến nhà thương (bệnh viện Nguyễn Thần Hiến) Hà Tiên. Kỷ niệm thời học sinh với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tuy không nhiều, nhưng tất cả chúng ta người Hà Tiên ai cũng đều có ít nhiều chuyện liên quan đến nhà thương Hà Tiên. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tọa lạc trên con đường Mạc Cửu, mặt chánh nhìn ra đường Mạc Cửu, đứng ngoài nhìn vào cổng bệnh viện thì bên trái là đường Mạc Công Du (đường hàng dương), bên phải là đường Bạch Đằng (đường hàng dừa), phía sau lưng bệnh viện giáp với trại lính (thành 18). Bệnh viện nầy là một trong hai đơn vị y tế công cộng của Hà Tiên, vì trên con đường Tham Tướng Sanh đi thẳng vào bệnh viện, phía bên phải con đường nầy còn có một đơn vị y tế nữa là « Nhà Bảo Sanh ». Nhà Bảo Sanh (hay « Viện Bảo Sanh » mình quên tên chánh thức ra sao rồi), là nơi mà hầu hết người Hà Tiên chúng ta sinh ra…Nhà Bảo Sanh mặt chánh nhìn ra đường Tham Tướng Sanh, mặt sau nhìn ra đường Bạch Đằng, bên ngoài nhìn vào thì bên phải giáp với ngôi vườn quán Ti La thầy Đạt và cũng giáp với Chi Thú Y phía sau, bên trái nhìn ra đường Mạc Cửu. phía sau mặt trái của nhà Bảo Sanh nầy cũng là nơi có cư xá cho người làm việc tại đây cư ngụ.

Cổng chính vào nhà thương (Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên) trên đường Mạc Cửu, trong góc phía sau bên phải nhà thương là nhà xác. (Hình: gia đình Nguyễn Như Sơn, 1958)

Trở lại kể chuyện về bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, mình nhớ hình như có ít nhất là một lần học sinh phải đến bệnh viện nầy để khám sức khỏe. Mình còn nhớ rỏ nơi khám sức khỏe, nầy nhé, khi đi vào bệnh viện, quẹo qua bên phải, lên vài bậc thang, đi vào phòng khám sức khỏe nằm bên tay trái. Ngoài ra toàn bộ nhà thương thì có ba nhóm nhà bố trí theo hình chử U. Nhóm nhà văn phòng bên phải dành cho Bác Sĩ và y tá làm việc, nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm ở giữa nhìn ra cổng chánh và nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm bên trái. Người dân Hà Tiên và các vùng phụ cận (xóm Thạch Động, Cừ Đứt, Trà Phô,…) đều đến nhà thương nầy để xin thuốc và khám bệnh. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên được xây cất vào năm nào mình không rỏ, nhưng ít nhất là phải trước năm 1956, vì theo tài liệu nghiên cứu thì vào khoảng năm 1956 có Bác Sĩ Phạm Như Bách là giám đốc bệnh viện và lúc đó bệnh viện được mang tên là bệnh viện Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ công ơn của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, một người thầy tài cao học rộng không những trong lảnh vực văn thơ mà còn là một vị lương y chuẩn bệnh cho thuốc…(Ngoài ra ở ngay thành phố Hà Tiên còn có một con đường mang tên Nguyễn Thần Hiến nữa, con đường nầy nằm song song với đường Phương Thành, Nhật Tảo và Cầu Câu).

Vị trí đường Nguyễn Thần Hiến tại thị xả Hà Tiên

Kể chuyện liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến thì có chuyện về nhà xác của bệnh viện mà mình đã kể trong bài viết trước rồi (mời xem thêm bài trong link phía trên). Về bác sĩ Phạm Như Bách thì mình có một vài kỷ niệm. Kỷ niệm thứ nhất mình còn nhớ là khi bạn Quách Ngọc Sơn uống 10 viên thuốc Optalidon tính tự vận, được chở lên bệnh viện Hà Tiên, lúc đó bác sĩ Bách ra tay cứu bạn Sơn. Mình còn nhớ, tin vừa loan ra nhanh chóng, bạn bè cùng trường lớp ai cũng kéo nhau lên nhà thương xem. Trong nhóm có bạn Lý Cảnh Tiên nữa. Trong lúc bác sĩ Bách cho một ống cao su vào miệng của bạn Sơn, rồi cho bơm nước vào đầy bao tử mục đích để bạn Sơn ói mửa ra hết thuốc…Lúc đó cũng lạ, vì bệnh nhân (tức là bạn Quách Ngọc Sơn) được cho nằm trên một cái bàn rộng ở nhóm nhà văn phòng bên phải bệnh viện, không có đóng cửa gì cả, nên bạn bè người xem rất đông bên ngoài đều thấy cả. Mỗi lần nước cho bơm vào bao tử bạn Sơn, mọi người đều thấy Sơn oằn oại kêu la rất là tội nghiệp, các thức ăn và nước nhớt từ trong miệng trào ra làm ướt cả quần áo và lan lên trên đầu tóc của Sơn. Mình còn nhớ lúc đó bạn Lý Cảnh Tiên quay sang mình nói: » Thôi rồi hết cả mái tóc đẹp của em tôi rồi…!! »…

Nói về bạn Quách Ngọc Sơn, Sơn là con trai của ông bà Quách Ngọc Bá, nhà rất khá giả, thuở xưa nhà làm tiệm chụp hình, cho thuê bàn chơi billard,..Có một nhà làm ăn ở đường Trần Hầu kế tiệm cơm Xuân Thạnh và một nhà chánh để ở nằm ở Đông Hồ, góc đường Chi Lăng-Đông Hồ. Sơn có một em trai là Quách Ngọc Điền và nhiều em gái, trong đó có em tên Quách Ngọc Lâm. Sơn cũng có người chị gái tên Quách Ngọc Hải…Sơn là bạn thân của các bạn Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền,…Sơn học trên mình một lớp (chung lớp với anh Trần Văn Dõng).

Lần đầu tiên mình biết uống rượu là do Quách Ngọc Sơn hướng dẩn cho nhập môn!! Mình còn nhớ lúc đó bàn nhậu diển ra tại quán cafe Quảng Phát. Cả nhóm ngồi ngay tại cái bàn bên phải ngay trên mái hiên đối diện với quầy nước. (bàn nầy là một bàn quen thuộc hằng ngày khi cả nhóm uống cafe tại quán Quảng Phát). Mình cũng không biết tại sao mà mình bị « dính » vào hôm đó, nhớ lại là Sơn hay ai đó kêu mình vào nhập bàn, có cũng khoảng trên 4,5 người bạn, chắc là đa số là nhóm bạn cùng lớp với Sơn, có Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền…Rượu uống theo phong trào hồi đó là rượu trắng pha xá xị, thức ăn làm « mồi » lúc đó là « mực xào hồ » (theo tên đặt của Quách Ngọc Sơn), mực xào hồ vì mực được xào với bột nên nước sẽ đặt lại sền sệt như hồ vậy…Hôm đó là lần đầu tiên mình bắt đầu uống rượu vì từ trước tới giờ chưa biết uống rượu. Có lẻ uống và ăn cũng hơi nhiều nên khi về nhà mình leo lên giường nằm ngủ ngay…Mình còn nhớ rỏ, ngủ được một chút thì bị vừa nhức đầu (vì uống rượu trắng pha xá xị vừa ngọt của xá xị vừa cay của rượu), vừa bị muốn nôn mửa…Đùng một cái cả người mình đang nằm bị co rút lại và mình không kềm chế được cơn nôn mửa…, thức ăn và nước trong miệng chợt trào ra một cách nhanh chóng và bọc phát, làm ướt cả chiếc đệm mình đang nằm…Má mình rầy quá vì mình đã làm phiền má phải kéo cả tấm đệm ra và phải đem rửa nước cho sạch…Từ đó về sau mỗi lần gặp Quách Ngọc Sơn, bạn Sơn hay nhắc tới món « mực xào hồ »…và cũng từ đó tới sau mình biết uống rượu mặc dù uống thì thấy cay và nhức đầu chứ không biết vị ngon chút nào cả…Còn vụ bạn Sơn uống thuốc Optalidon tính tự vận thì không ai biết lý do, chỉ biết phong phanh là Sơn có chuyện buồn gia đình nên làm như vậy…không biết có phải không. Sau nầy lúc mình đã ra đời đi dạy học ở An Phú và Mỹ Luông, có lần về Hà Tiên thăm nhà, tình cờ đi ngang quán Xuân Thạnh lại gặp bạn Sơn, Sơn chạy ra kêu mình vào quán và cả hai cũng lai rai uống mừng gặp lại nhau…Khổ thay vì có bệnh nặng nên bạn Sơn đã từ trần, từ giả chúng ta rất sớm, ra đi trong lúc tuổi còn trẻ. Mình được biết bạn Sơn đã có gia đình một người vợ và ba người con….Mình cũng còn nhớ rỏ là lúc đương thời Sơn ăn mặc rất theo mode vì nhà có phương tiện, và Sơn cũng rất « ái mộ » hai người bạn gái học cùng trường thời đó và đều mang tên là Nguyệt…!!!

Chân dung bạn Quách Ngọc Sơn

Một kỷ niệm khác với bác sĩ Phạm Như Bách, bác sĩ Bách là một người rất thông thái và rất đẹp trai, ông cũng là một bác sĩ đã quản lý bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trong một thời gian rất lâu dài. Người Hà Tiên hình như ai cũng đều biết bác sĩ Bách. Có một buổi chiều nọ mình và người bạn rất thân cùng lớp là Nguyễn Ngọc Thanh cùng đang đi ra phía chợ trên đường Tham Tướng Sanh, gần tới phía trước quán Ti La thầy Đạt, thì bác sĩ Bách đang chạy chiếc xe jeep của bệnh viện tới, bác sĩ chắc là biết Nguyễn Ngọc Thanh nên mời mình và Thanh lên xe để ông chở luôn ra chợ chơi. Cùng lúc đó thì có một cô có lẻ cũng là bác sĩ người Thụy Sĩ đang đi tới, bác sĩ Bách liền xổ ra một tràng tiếng Pháp mời cô đó cùng lên xe đi chung luôn với mình và Thanh,….cô người Thụy Sĩ cũng rất vui vẻ nói chuyện với bác sĩ Bách… chỉ tiếc lúc đó mình còn nhát quá và có lẻ còn yếu tiếng Pháp nên không nói được gì với cô người Thụy Sĩ đó. (Vào thời đó khoảng những năm 60-70, có một phái đoàn y tế người Thụy Sĩ đến họp tác với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, có đến 3,4 người nữ trong nhóm…và cả nhóm người Thụy Sĩ nầy cư trú tại khách sạn Vân Tiên ở đường Trần Hầu.

Bênh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng năm 1965 có phái đoàn y tế Thụy Sĩ đến họp tác

Còn một việc có liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến nữa là vào khoảng những năm đầu thập niên 70, có hai người cán sự y tế từ nơi khác đổi về làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, vì là người trẻ tuổi nên hai bạn nầy cũng gia nhập vào nhóm bạn học trò trung học Hà Tiên, mình thường đi chơi chung với hai người cán sự y tế nầy. Một người tên là Nguyễn Thành Tài (Tài có tặng cho mình một tấm ảnh chân dung của Tài), còn người kia thì mình quên tên rồi…)

Bìa một bức thư với thủ bút của Bác Sĩ Phạm Như Bách.

Nguyễn Thành Tài một trong hai người cán sự y tế đến làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng đầu thập niên 1970

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên vẫn còn ở chổ cũ nhưng đã đổi tên sau 1975 (Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên)

Những năm sau 1975, bệnh viện Nguyễn Thần Hiến vẫn còn tiếp tục hoạt động nhưng không còn mang tên Nguyễn Thần Hiến mà có tên mới là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau nầy có lẻ vì nhu cầu phục vụ sức khỏe y tế công cộng tăng lên vì dân số ở Hà Tiên tăng vọt lên nhiều nên chính quyền địa phương đã xây cất một bệnh viện lớn hơn, đặt tên là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên, bắt đầu xây vào năm 2004 và làm lể khánh thành bệnh viện mới nầy vào ngày 08/09/2011. Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên mới nầy tọa lạc trên phường Tô Châu ở bên kia sông (số 65 đường Cách Mạng Tháng 8, khu phố III, phường Tô Châu, Hà Tiên).

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Vị trí bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (xưa) và bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên (nay)

Ngày nay toàn bộ hai đơn vị y tế của Hà Tiên ngày xưa: bệnh viện Nguyễn Thần Hiến và « Nhà bảo sanh » đều đã bị phá hủy, ngay cả phía sau lưng, trại lính thành 18 cũng biến mất, và phía trước, vườn nhà ông Ba Lón kéo dài cho tới các căn nhà ở giữa hai bên đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt cũng đã biến mất,…nhường chổ cho một công viên mới đẹp, góp phần cho khuôn mặt thị xả Hà Tiên thêm tươi đẹp, rộng lớn và tân tiến,…Tuy nhiên đối với những người con thực sự của Hà Tiên như thầy cô trò chúng ta, ngôi bệnh viện, nhà Bảo Sanh,…tất cả đều vẫn còn rất quen thuộc trong ký ức của chúng ta, dù cho vật chất có biến đi, vật đổi sao dời, nhưng trong lòng của chúng ta vẫn còn giữ lại hình ảnh công thự, nhà cửa của Hà Tiên ngày xưa, âu cũng là một phương cách để duy trì và tưởng nhớ một Hà Tiên mến yêu êm đềm của ngày xưa…Hy vọng rằng bài viết mộc mạc, không cầu kỳ nầy giúp thầy cô và các bạn của ngôi trường Trung Học Hà Tiên xưa tìm lại một chút khung trời kỷ niệm của mình và nhớ mãi chuyện vui buồn ngày xưa đã trải qua…

Trần Văn Mãnh (Paris 24/07/2017)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Như Thạch, Nguyễn Như Sơn, PhungAnhKiet, Đỗ Hữu Trí.

Tái bút:

1/ Cám ơn bạn cùng lớp Hà Mỹ Oanh đã bổ túc thêm chi tiết về bạn Quách Ngọc Sơn, rất cám ơn cháu Đỗ Hữu Trí đã chia sẻ cho mình di ảnh của người bạn năm xưa là Quách Ngọc Sơn nên mình có được bức ảnh của bạn để minh họa thêm cho bài viết và cũng để tưởng nhớ một người bạn năm xưa, đã ra đi vào ngày 23/09/1987 vì một căn bệnh.

2/ Theo thông tin của chị Dương Hồng Châu (Hà Tiên) thì Bác Sĩ Phạm Như Bách giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên ngày xưa đã từ trần lúc 0 giờ 12 phút ngày 03/03/2018 tại tư gia phường Tân Định Saigon. Bác Sĩ Bách là một vị Bác sĩ rất tài năng và rất tận tâm, ông theo chuyên ngành Nhãn Khoa và được đào tạo tại Đại Học Y Khoa Cologne, nước Đức. Ông là người có dáng rất đẹp, đềm đạm. Bác Sĩ Bách là người BS đầu tiên và đã có công phát triển Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. Tuy mình không có liên hệ nhiều với ông nhưng mình cũng đã có nhiều dịp tiếp xúc nói chuyện với ông lúc mình còn là học sinh ở Hà Tiên. Bác sĩ Bách ra đi là đã mang theo ông một dĩ vãng tốt đẹp, êm đềm của thời gian ông phục vụ ở Hà Tiên, mong tất cả các bạn, các đồng hương hãy tưởng nhớ đến ông trong một giây phút để tỏ lòng mang ơn một vị Bác Sĩ tài ba đã có lần phục vụ cho quê hương Hà Tiên chúng ta. Xin cám ơn chị Dương Hồng Châu đã thông tin. 

 

Những ngôi nhà và ngôi Trường ngày nay

P1190191Ngôi Trường Trung Học Hà Tiên ngày nay, đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên)

P1190192  Ngôi Trường Trung Học Hà Tiên ngày nay, đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên)

P1190196Ngôi Trường Trung Học Hà Tiên ngày nay, đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên)

truongtrunghoccosodongho2_bNgôi Trường Trung Học Hà Tiên ngày nay, đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên)

truongtrunghoccosodongho2_aSân bên trong trường Trung Học Hà Tiên ngày nay, đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên)

Ngôi Trường ngày nay Phổ thông Trung Học Hà Tiên Số 10 Liên Tỉnh lộ 28 – phường Pháo Đài – Thị xã Hà Tiên – Tỉnh Kiên Giang (ngôi trường mới)

TrunghocNguyenThanHien_HaTienNayNgôi Trường ngày nay Phổ thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến Số 10 Liên Tỉnh lộ 28 – phường Pháo Đài – Thị xã Hà Tiên – Tỉnh Kiên Giang (ngôi trường mới)

P1190194Ngôi nhà ngày nay của Cô Trần Diệu Hiền (Thư ký, Giám Thị của Trường Trung Học Hà Tiên xưa), ngôi nhà ở bên đường Mạc Tữ Hoàng (Hà Tiên), nối liền nhà thờ Hà Tiên và cây Đa chùa Lò Gạch, con đường nầy ngày xưa học sinh THHT đều có đi qua hàng trăm lần, vì mỗi lần có nghỉ một, hai giờ học thì học sinh thường đi theo đường nầy lên núi Lăng chơi…

NgoiNha_16_NhatTao_HaTienNgôi nhà hiện tại số 16 đường Nhật Tảo (Hà Tiên) nơi ngày xưa quý Thầy (Hòa, Ẩn,Tuấn Sinh, Thành, Út, Hậu, Liêm, Chiếu, Cầm….) ở trọ trong thời gian dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên

TangKimSon (3)

TangKimSon (2)

Ngôi nhà của gia đình bạn Tăng Kim Sơn (thường gọi là Vườn Ông Ba Lón) ở đường Chi Lăng (Hà Tiên). Nay đã không còn nữa vì chổ nầy trở thành một công viên

Nhà_Truyen_ThongNgôi nhà của gia đình bạn Tăng Kim Sơn (thường gọi là Vườn Ông Ba Lón) ở đường Chi Lăng (Hà Tiên). Có một lúc (sau 1975) làm nhà Truyền Thống và nay đã không còn nữa vì chổ nầy trở thành một công viên.

Ngôi nhà của gia đình bạn Tăng Kim Sơn (thường gọi là Vườn Ông Ba Lón) ở đường Chi Lăng (Hà Tiên). Có một lúc (sau 1975) làm nhà Truyền Thống và đã bị phá hủy để dành chỗ cho một công viên rộng lớn. Photo: Khoai Lang 2013

Maison_NgNgH_2 Maison_NgNgH_1Ngôi nhà xưa (đã sửa chửa lại) của bạn Nguyễn Nguyệt Hồng (trong hình) ở đường Chi Lăng (Hà Tiên)

Maison_LXMY_1Maison_LXMY_4Ngôi nhà ở đường Chi Lăng (Hà Tiên) hiện nay của gia đình bạn Lâm Xuân Mỹ (trong hình)

Nha_Thay_PhanThanhTri_2012

Nhà Thầy Phan Thanh Trì, ba của bạn Phan Thị Liên Phương ở đường Trần Hầu (Hà Tiên)

IMG_1788Ngôi nhà ở đường Lam Sơn (Hà Tiên) của hai chị em Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang

TranHoangTrang_HienTaiTrần Hoàng Trang trong sân trước nhà đường Lam Sơn (Hà Tiên)

 

DSC_0021Ngôi nhà vẫn còn xinh xắn của gia đình bạn Lý Mạnh Thường ở đường Mạc Công Du (Hà Tiên). Nơi đây ngày xưa là nơi tập trung văn nghệ sĩ tập dợt ca hát trong thời phồn thịnh của ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương »