Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 
Publicités

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp đệ nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Em yêu thầy ! (Hồ Thị Kim Hoàn)

Giới thiệu bài « Em yêu thầy » của tác giả Hồ Thị Kim Hoàn

Thầy cô và các bạn thân mến, không biết ngày xưa lúc còn đi học thầy cô như thế nào nhưng ở trường Trung Học Hà Tiên thì học trò rất đa tình, nhất là học trò nữ….(đúng không các bạn nữ sinh Trung Học Hà Tiên, nếu không đúng thì hãy đính chánh nhé vì mình có bằng chứng hẳn hoi sẽ đem ra đối chiếu ngay tại đây cho các bạn xem…). Vấn đề là cho tới ngày hôm nay không ai khám phá ra được nhân vật « thầy » trong câu chuyện của cây bút quen thuộc của chúng ta là bạn Hồ Thị Kim Hoàn, « thầy » nào được diểm phúc lọt vào mắt xanh (không! mắt đen vì nhân vật nữ là người Việt Nam mà) của em học trò 14 tuổi…Nếu thầy cô và các bạn đọc bài kỷ, sẽ thấy có một vài điểm giúp cho ta trong công cuộc tìm tòi sự thật…: đó là thầy nào đã dạy năm lớp Đệ Tứ của cô bé 14 tuổi trong câu chuyện và cô ấy đã đứng hạng nhứt trong hai kỳ thi lục cá nguyệt, dể quá chỉ cần nhớ lại cô ấy đứng nhứt trong môn nào thì có thể suy ra thầy nào dạy môn đó,…!!. Thêm một chi tiết nữa là vị thầy đó lại rời khỏi Hà Tiên trong ba tháng hè…, thôi hãy để đọc giả tự tìm tòi suy luận và nếu có kết quả nhớ viết « nhận xét » dưới bài nầy nhé,…Dù sao thì « cuộc tình to lớn của thập niên 60 » đó cũng đã tan biến nhanh đi như bọt biển Hà Tiên sau vài tuần lễ « đau khổ »….Đúng như tác giả đã viết, thà rằng như vậy để cho « mối tình » ấy vẫn đẹp, ngây thơ, trong trắng và trở thành một kỷ niệm dễ thương và như thế chúng ta mới có một câu chuyện thật vui, thật nhẹ nhàng điểm tô cho quảng đời học sinh đầy mộng mơ…

(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu)

Em yêu thầy

Xin đừng hỏi “thầy nào?” nhé.
Nếu tôi nói:
– Thầy hiền lành nhất, dáng cao cao. Thì bạn sẽ đoán là Thầy Chiếu.
– Còn tả thầy vui vẻ, trẻ đẹp, nói giọng miền trung. Thì bạn biết ngay đó là thầy Cầm.
– Thầy đạo mạo, hay mặc áo sơ mi màu xanh. Đó là thầy Hậu.
– Thầy nổi tiếng đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, đôi mắt đượm tình. Còn ai ngoài thầy Ẩn.
– Thầy đã có vợ rồi ư. Đó là thầy Trí, thầy Thành, thầy Hiển.
Tôi sẽ không khai tên của thầy đâu. Đánh chết cũng không khai!
Chỉ xin kể cho các bạn nghe thôi.
Năm học đệ tứ, 14 tuổi, tôi đã biết yêu!

Cô học trò 14 tuổi học lớp Đệ Tứ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Tôi không yêu các bạn trai cùng lớp. Cũng không để ý các anh học lớp trên. Mà tôi nghe lòng xao xuyến trước hình ảnh của một vị giáo sư. Dưới mắt tôi, thầy là thần tượng, học cao, hiểu rộng. Tôi ghiền nghe giọng giảng bài của thầy. Hôm nào thầy vắng mặt, tôi buồn lắm, hồn phách tôi phiêu lạc nơi nao!

Khi yêu ai, mình cũng muốn đối tượng chú ý tới mình. Tôi không đẹp, không có gì đặc biệt để gợi sự chú ý của ai cả. Vậy thì làm cách nào đây?

Tôi nghĩ ra rồi: Tôi phải gắng học! Tôi phải hạng nhất trong môn học của thầy dạy, may ra thầy sẽ chú ý đến tôi. (Cũng chẳng cần nghĩ, thầy chú ý tôi để làm gì? :))

Thế là suốt năm học ấy, tôi đặc biệt cố hết sức vào một môn học. Kết quả là tôi đã đạt được mong muốn: Tôi đứng hạng nhất trong 2 kỳ thi lục cá nguyệt.

Thế nhưng than ôi, thầy cũng không chú ý đến tôi chút nào. Tôi cũng vẫn là một cô học trò bình thường như bao học trò khác của thầy mà thôi.

Tôi không dừng lại. Tôi tìm cách đến nhà thầy. Thường thì giả vờ hỏi bài, chuyện trò bâng quơ. Chỉ cần nhìn thấy thầy thôi, là tôi đủ vui vẻ cả ngày rồi.

Mùa hè năm ấy tôi buồn lắm. Sắp xa thầy đến 3 tháng, làm sao tôi chịu nỗi đây?

Khi thầy đi, tôi tưởng đất trời như sụp đổ. Không gian xứ Hà chợt hiu hắt hơn bao giờ:

Mây chết lặng chẳng buồn trôi
Khung trời mùa hạ chơi vơi nỗi sầu
Biển đong đưa sóng rì rào
Cảm thông cô bé nát nhàu tâm tư.

Đúng là tôi bị… thất tình rồi! Tôi biếng ăn, biếng ngủ. Ai rủ đi đâu cũng chẳng thèm đi. Tôi thấm thía 2 câu thơ của Xuân Diệu:

“Người đi một nửa hồn tôi chết
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.”

Những ngày đầu mùa hè của tôi như thế đấy. Nhưng rồi “thời gian là liều thuốc nhiệm mầu” Cho đến khi hồn tôi dường như sống lại, tôi dần dần trở về với cuộc đời bình thường.

Tôi nhẩm tính xem nửa hồn tôi đã chết trong bao lâu? : Vỏn vẹn 4 tuần lễ! Và rồi sau đó, tôi đã quên thầy lúc nào không hay.

Chao ôi, sao tôi nghe người ta nói khi mình yêu ai thì “ngàn đời vẫn còn nhớ, muôn kiếp không hề phai…” Thế sao tình yêu của tôi lại… yểu mệnh thế này?

Thì ra đây chẳng phải là tình yêu. Đây chỉ là một thứ tình lãng mạn, bồng bột của tuổi học trò. Đến như vũ bão và đi thật âm thầm.

Lại thấm thía câu: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”. Nhưng tình mình có “họp” đâu mà “dang dở” cơ chứ? Thôi thì cứ xem là mối tình ấy rất đẹp, thơ ngây và trong trắng. Một kỷ niệm dễ thương của tuổi học trò.

Hồ thị Kim Hoàn

July 8, 2017

Hình ảnh: Hồ Thị Kim Hoàn, Internet

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành

Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » đã viết rất nhiều bài giới thiệu những thầy cô yêu quý đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên xưa, nếu không nhắc đến thầy Nguyễn Văn Thành thì sẽ là một thiếu sót đáng kể…Mình không biết trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta có tất cả là bao nhiêu đời Hiệu Trưởng nhưng theo mình biết trước thầy Nguyễn Văn Thành trường Hà Tiên chúng ta có hai thầy Hiệu Trưởng:  thầy Doãn Quốc Sỹ và sau đó là thầy Lại Xuân Quất (khi mình vào bậc Trung Học niên khóa 1964-1965 thì thầy Lại Xuân Quất đã là Hiệu Trưởng của trường. Sau đó có đợt giáo sư ở Sài Gòn được bổ nhiệm xuống trường Hà Tiên (khoảng năm 1964-1965), trong đó có thầy Nguyễn Văn Thành dạy môn Lý Hóa, khi mình vào lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1966-1967) thì thầy Thành bắt đầu nhận chức Hiệu Trưởng của trường Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Văn Thành cũng thuộc trong nhóm giáo sư ở trọ căn nhà số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên (Quý thầy ở trọ trong căn nhà nầy là: Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Hồng Ẩn, Phùng Tuấn Sinh, Nguyễn Văn Thành, Út, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Phan Văn Chiếu, Bùi Văn Cầm…..)

Trong khoảng thời gian đó sau khi có biến cố 1963, các tướng lảnh bắt đầu nắm quyền hành trong nước, lúc đó có tướng Nguyễn Khánh với bộ râu dưới càm rất lạ và rất oai. Thầy Nguyễn Văn Thành cũng theo phong cách để râu càm như vậy…

Lớp mình có nhiều kỷ niệm với thầy Thành, xin kể kỷ niệm thứ nhứt:

Vì thầy dạy môn Lý Hóa nên trong những giờ môn Vật Lý thầy thường giảng về các khái niệm: « Năng Lượng », « Điện Tích », « Điện Trường »,….và định luật Coulomb. Trong các ký hiệu dùng để diển tả công thức, thầy thường dùng ký hiệu Q (đọc theo âm Việt là « cu »…), và khi trên bảng thầy viết có hai công thức khác nhau nên thay vì dùng hai ký hiệu khác nhau Q1 và Q2, thầy lại dùng hai ký hiệu Q và q, thầy đọc trong lúc giảng… »cu lớn » và « cu bé »…!!! làm cả lớp cứ khúc khích cười không tập trung theo dỏi bài giảng được.

Kỷ niệm thứ hai:

Mình không nhớ vì một lý do gì đó mà thầy vào lớp để điều tra xem có học sinh nào làm một điều gì đó mà mình quên rồi, thầy đứng trước giữa lớp cứ hỏi to và nhiều lần: « Em nào vào đây ?? », « Em nào làm hãy cứ ra nhận lỗi ?? « ….Cả lớp im phăng phắt vì không ai ngu dại gì ra nhận tội….Cả lớp cứ chối: « Đâu có ai làm gì đâu thầy ơi…!! » Chờ và hỏi hoài không thấy có kết quả thầy giận quá thầy quát to: « Không ai « quô » đây thì ma quỷ nó « quô » đây …!! »….Câu nầy về sau mình và Lý Mạnh Thường rất thích cứ nhái đi nhái lại thầy hoài (dỉ nhiên là đâu dám nói trước mặt thầy…)

Kỷ niệm thứ ba:

Kỷ niệm nầy lại rất ghê gớm…Rất nhiều lần học trò thường hay đến chơi nhà quý thầy ở trọ (căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên), mỗi lần các học trò « thân » đến chơi, các bạn thường khai ra hết những chuyện bí ẩn trong lớp cho quý thầy biết,..Có lần đó không có mặt mình, có một nhóm bạn hình như là Lý Cui, Lý Văn Tấn,…đến nhà thầy chơi tối, không biết là thầy Thành tò mò hỏi các bạn nầy hay các bạn nầy tự khai ra mình không nhớ rỏ, mà các bạn đã khai ra hết trong lớp mình, ai là bồ của ai, hay là ai « yêu » thích ai.. …Thời đó trong lớp có Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm nhỉ) cặp bồ với bạn Quách Thị Chol, còn nhiều cặp nữa mà mình đã quên rồi, chắc lúc đó các bạn Lý Cui và Tấn Lý có khai trường hợp của mình nữa…Thầy Thành nghe các bạn khai hết như vậy rất thích, không biết thầy có ghi lại tên mỗi cặp cho dể nhớ hay không mà sáng hôm sau, có giờ thầy Thành dạy Vật Lý, thầy bắt đầu kêu tên trả bài, thầy cứ kêu tên một bạn nam và sau đó thầy kêu tới tên bạn nữ trong cặp nam nữ mà thầy đã biết đêm hôm qua, lúc đầu trong lớp không ai để ý, một lúc sau, cả lớp khám phá ra quy luật kêu tên trả bài của thầy Thành, lúc đó cả lớp hiểu ra chiến thuật đó nên rất thích chí và cười to mỗi khi có một nam và một nữ đúng tên trong một cặp bị kêu lên trả bài,…Bởi vậy khi thầy kêu tên bạn nam A thì cả lớp nói bạn nữ B phải chuẩn bị đó….(trong cặp nam nữ tên A và B)…Đọc đến đây chắc các bạn muốn thắc mắc vậy khi thầy Thành kêu tên mình lên trả bài thì sau đó sẽ kêu tên bạn nữ nào trong lớp,…?? Thôi mình không nói ra để cho các bạn học cùng lớp năm xưa đoán nhé,…  :-)…(bạn nào không biết cứ hỏi Hà Mỹ Oanh sẽ rỏ…  :-)…)

Kỷ niệm thứ tư:

Trong thời gian thầy Nguyễn Văn Thành làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên thì phong trào văn nghệ của trường phát triển khá mạnh. Mỗi dịp cuối năm trường làm lễ phát thưởng đều có kèm theo chương trình văn nghệ rất phong phú. Vì mình phụ trách đàn guitare đệm nhạc cho cả trường hát (có cả các bạn chơi guitare khác như Tống Châu Thành, Lý Cui,…) nên thầy Thành hứa là sẽ mua cho trường một dàn trống và một cây đàn điện Fender với cả ampli. Mình còn nhớ lúc thầy Thành nhân một chuyến đi về Sài Gòn công việc, khi trở xuống Hà Tiên, thầy có mua đem về dàn trống và một cây đàn điện Fender và ampli. Hôm đầu tuần thứ hai kế sau ngày thầy về, lúc đó có thông lệ làm lễ chào cờ đầu tuần. Học sinh cả trường ra sắp hàng ngoài sân trước cột cờ để làm lễ chào cờ, có ca bài Quốc Ca nữa. Lúc đó thầy kêu mình lên thử đàn guitare điện Fender mới mua, thầy kêu mình đệm đàn cho cả trường ca bài Quốc Ca… Không biết đến bây giờ số phận của cây đàn điện Fender và cái ampli đó ra sao rồi nhỉ???

Kỷ niệm thứ năm:

Kỷ niệm nầy rất thú vị và mình rất thích tuy bây giờ mình muốn kể lại đầy đủ chi tiết nhưng không làm sao nhớ ra được. Đó là việc vì thầy Nguyễn Văn Thành có nhiều bạn làm Sĩ Quan Hải Quân thời đó, thời đó các tàu Hải Quân thường vào ra ghé bến Hà Tiên (60-70), tàu đậu dưới Đài Kỷ Niệm chổ cầu tàu bến đậu của chiếc tàu đoan quan thuế. Lúc đó là ngày 20/06/1969, vị Sĩ Quan Thuyền trưởng chiếc tàu HQ-607 là bạn của thầy Thành nên ông nầy mời thầy Thành cùng tất cả học sinh trường Trung Học Hà Tiên đi một chuyến du ngoạn ở ngoài Hòn Nghệ. Thầy Thành đồng ý và thầy trò trường Hà Tiên chúng ta được một dịp lên chiếc tàu HQ-607 cùng ra khơi đi thăm Hòn Nghệ. Chuyện đi du ngoạn Hòn Nghệ trên chiếc tàu HQ-607 nầy rất thú vị và là đề tài cho một bài viết mà mình rất muốn viết lại để cho các bạn đọc Blog thưởng thức, tuy nhiên mình không còn nhớ nhiều các chi tiết về chuyến đi Hòn Nghệ nầy, mình rất lấy làm tiếc và nhân đây xin lên tiếng quý Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa những vị có mặt trên chuyến đi nầy xin cố gắng nhớ lại từng chi tiết, từng kỷ niệm chuyến đi và xin đóng góp cho mình các chi tiết đó, mình sẽ tổng hợp lại thành một bài viết để đọc cho vui nhớ về chuyện xưa nhé, rất cám ơn thầy cô và các bạn. Trong chuyến đi Hòn Nghệ nầy có đủ cả các bạn: Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Quách Ngọc Sơn, Trần Văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Mãnh,…Mai Thị Ngọc Minh, Nguyễn Nguyệt Hồng,…đủ hết rất nhiều có cả chị Huỳnh Thị Kim, chị Dung (con Ông Bà Ngữ) cùng lớp với chị Kim,…Mình còn nhớ khi các học sinh lên tàu ra khơi, vì sóng biển bắt đầu đánh nhấp nhô, đi được một lúc, ai nấy đều lừ đừ. ..Khi lên được ở trên Hòn Nghệ thì vui chơi cả ngày, có mua heo, vịt làm tiết canh vịt và cả nhóm bên học sinh nam cùng uống rượu với các anh Hải Quân… .Chiều lại trên chuyến về bị sóng đánh nữa nên ai nấy đều ói mửa đầy cả sàn tàu…khổ cho các anh thủy thủ và các quan chức trên tàu sau chuyến đi đó phải rửa tàu cho sạch lại. Tuy nhiên các chàng thủy thủ và các Sĩ Quân trên tàu rất thích và rất vui trong chuyến đi đó, vì các vị đó được dịp phục vụ các cô nàng nữ sinh Hà Tiên đẹp như mơ mà thường ngày các vị đó tìm cách làm quen nhưng chưa được,…

Vì thầy Nguyễn Văn Thành đảm nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng nên trong công việc điều hành sinh hoạt của trường lớp đôi khi cũng có một vài mâu thuẩn với các đồng nghiệp, và với cả với học sinh.Tuy nhiên theo mình nghĩ qua thời gian hơn 40, 50 năm nay ta nên gìn giữ lại những gì tốt đẹp của ngày xưa mà hãy quên đi những lúc khó khăn, tranh chấp,…Sống theo một tinh thần rộng lượng và thoải mái là tốt đẹp nhất trong những quan hệ xưa và nay.

                       Paris,  mùa lễ Toussaint 02/11/2017 Trần Văn Mãnh tự thuật…

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành mặc áo xám đứng giữa trong hình

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành  trao giải thưởng Danh Dự cho học sinh Trần Văn Mãnh trong ngày lễ phát thưởng cuối năm

Chữ ký tên của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành trong sổ Thông Tín Bạ

Chính trên chiếc tàu Tuần Duyên Hạm PGM Nam Du HQ-607 nầy cả thầy trò và học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đi chơi Hòn Nghệ ngày 20/06/1969 (PGM = Patrol Gunboat Motor)

Khưu Thiên Phước (hồi xưa Phước thường hoạt động trong Gia Đình Phật Tử chùa Tam Bảo, nay đã chết), Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ (cháu Dì Hai Sánh) và anh Chư (anh Chư nhà ở đường Bạch Đằng kế nhà Thầy La Từ Sự, anh Chư học chung lớp với Hải con ông Ba Nhan), hình chụp ngày 20/06/1969 trên tàu Hải Quân HQ-607 chở ra hòn Nghệ đi du ngoạn.

Sau đây là một vài cảm nghĩ của bạn Lâm Thị Lan viết về thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành:

Nhớ về thầy hiệu trưởng NGUYỄN VĂN THÀNH của Trung học Hà Tiên xưa.
Một người thầy hiền từ rất quan tâm tới học sinh nhất là đối tượng học sinh nghèo có ý chí vượt khó vươn lên. Thầy lại rất giỏi về chuyên môn nhất là môn Lý Hoá. Thầy có tư tưởng chuyên sâu đi vào nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao kiến thức cho học sinh, lại có tâm quyết đào tạo thế hệ người thầy tương lai cho những học sinh xuất thân từ Trung học Hà Tiên.
Cảm ơn và trân trọng những phẩm chất cao quý của Thầy ”Tất cả vì học sinh thân yêu” nơi mảnh đất xa xôi phía Tây Nam của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

Tác giả Lâm Thị Lan

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Phùng Học Thông

Tái Bút: Trong phần kể lại kỷ niệm thứ hai, bạn Lê Phước Dương có cho biết lý do tại sao thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành vào lớp mình hỏi để tìm ra thủ phạm: đó là vì có một học sinh vẻ một bức hình hí họa có ý trêu chọc ba người thầy: Thầy Hứa Văn Vàng (Giám Thị), thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng) và ông Thân (Thư Ký). Bức hình diển tả một trường hợp hơi có ý phạm thượng với ba người thầy đó nên thầy Thành rất giận, phải điều tra cho ra ai là học sinh vẻ hình đó để sửa sai…Không biết kết cuộc ra sao mình quên rồi nhưng Dương còn nhớ học sinh đó là bạn Chung Lưởng Tài, học cùng lớp với mình. Cám ơn bạn Lê Phước Dương đã đóng góp cho bài thêm đầy đủ chi tiết.

 

 

 


Lời xin lỗi muộn màng (Trần Quý Nương)

                                        Thầy Cô và các bạn thân mến, từ xưa chúng ta đã biết cái thành ngữ: « Nhất quỹ nhì ma thứ ba học trò… », nhưng nếu đọc bài viết nầy xong chúng ta phải bổ túc lại câu thành ngữ nầy cho thêm chính xác: « Nhất quỹ nhì ma thứ ba học trò NỮ….. »..!! Đúng thật như vậy, nếu các bạn nam của chúng ta ngày xưa đã có một thời lên núi Lăng những lúc không có giờ học để leo trèo, phá phách, đào khoai mì của Ông Từ Ngươn giữ Lăng, hay hái trái sơn trà và tụ tập nhau dưới gốc cây Đa của chùa Lò Gạch để thanh toán các thành quả hái trộm đó thì quả thật bọn học trò nam của chúng ta là đáng ở ngôi vị thứ ba…Nhưng so với thành tích của hai em Quý Nương và Ngọc Ánh trong chuyện kể đây thì chắc mình vẫn còn thua xa,…Thầy Cô và các bạn đọc đến đây chắc thắc mắc lắm muốn biết tới xem tại sao học trò nữ mà lại còn cao tay hơn học trò nam…Chút nữa đọc tới xong thì sẽ biết nhé,…Chỉ biết là câu chuyện xảy ra đã hơn mấy chục năm nay mà ngày nay theo lời thú thật của Ngọc Ánh thì ngay cả bây giờ chỉ là gặp gở nhau qua face book ảo ảo mờ mờ mà Ngọc Ánh vẫn còn sợ Ông Thầy Nguyễn Hồng Ẩn,…Mình cũng có lời an ủi Ngọc Ánh là không sao đâu, dầu sao quý Thầy cũng đã thông cảm cho tuổi học trò còn non dại, đã tha thứ tất cả và chỉ xem đó là một kỹ niệm thật vui đáng ghi nhớ và kỹ niệm đó cũng là sợi dây liên hệ nối lại tình Thầy trò từ xưa đến giờ,…Mong rằng quý Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Văn Thành khi đọc được những dòng chữ do Trần Quý Nương kể lại đây, sẽ vui thêm và nhớ lại khoảng thời gian êm đềm, thơ mộng trôi qua ở Hà Tiên, mong như vậy nhé quý Thầy và hai bạn Quý Nương, Ngọc Ánh…(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Lời xin lỗi muộn màng

Ngọc Ánh ơi hôm rồi trên mạng mình nhìn thấy căn nhà xưa của Bà Bảy Phi, căn nhà đối mặt với cái căn «nhà vệ sinh» xưa ở bờ sông của Hà Tiên trên đầu đường Nhật Tảo làm mình nhớ lại chuyện xưa…Câu chuyện trên 50 năm rồi đó, lúc mình còn học lớp Đệ Thất đó, lúc mà hai đứa mình gây ra một «vụ án» động trời cho nên phải chôn chặt trong lòng mấy chục năm nay không ai có can đảm tự thú.. !!

Vào thời đó, hai đứa mình ở nhà đường Nhật Tảo, cùng theo học lớp Đệ Thất. Cách vài căn nhà mình ở là nhà của Bà Bảy Tiêu, mình gọi là Bà Cô Bảy, em của Bà Cô Ba chủ nhà mình đang ở. Vì hai nhà là bà con thân thuộc với nhau nên hai đứa mình thường hay tới lui nhà Bà Cô Bảy chơi. Bà Cô Bảy chỉ sống có một mình nên trong nhà thường cho quý Thầy Giáo thuê ở trọ. Vì vậy đa số quý Thầy dạy Trung Học và Tiểu Học Trường Hà Tiên đều ở trọ nhà của Bà Cô Bảy. Năm đó mình nhớ có Ông Thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu dạy Trung Học và Ông Thầy Huỳnh Văn Hòa dạy Tiểu Học đến thuê ở nhà Bà Cô Bảy. Minh cũng không nhớ rỏ các môn dạy của từng Thầy, nhưng nhớ là Thầy Thành làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Hà Tiên. Bà Cô Bảy Tiêu lúc đó có thằng cháu ngoại tên là Nguyễn Văn Vinh, tên ở nhà là Phú, học lớp Đệ Lục, chung lớp với chị Trần Quý Phụng của mình. Chiều tối nào Phú cũng đến nhà mình ở, cùng kéo ghế tập trung ngồi trước sân nhà bình luận đủ thứ chuyện, nào là chuyện chọc phá người ta đến những tin tức liên quan đến quý Thầy ở nhà Bà Cô Bảy. Tối nào không có chuyện gì vui kể ra thì đi ngủ sớm, còn vui thì thức tới khuya. Có lần mình bị bệnh, có một Thầy nào đó mình không nhớ, có nhờ Phú mang đến cho mình hai hộp sửa Ông Thọ. Chị Quý Phụng thì thường hay đến nhà chuyện trò với quý Ông Thầy còn hai đứa mình thì …không dám.

Có một buổi tối nọ có trăng nên tụi mình thức đến khuya, khi sắp đi ngủ thì nhìn qua nhà Bà Cô Bảy thấy có hai ba quý Thầy đi ra khỏi nhà và đi về phía nhà tụi mình đang ngồi. Lúc đó mình mới hiểu ra và tự nói thầm… « À ! giờ nầy khuya quá rồi chắc quý Thầy đi « nhà hàng nổi »… !! » (Viết đến đây mình xin giải thích cho đọc giả hiểu : Ở Hà Tiên ngày xưa rất ít nhà có nhà vệ sinh riêng trong nhà, cả chợ Hà Tiên chỉ sử dụng nhà vệ sinh công cộng, mà chung quanh chợ Hà Tiên thì có 3 nhà vệ sinh công cộng được xây cất bằng cây, ngay dưới mé sông Hà Tiên. Có tất cả ba nhà vệ sinh công cộng, một ở sau Bưu Điện ở sông Đông Hồ, một ở trước trụ sở xả Mỹ Đức xưa, và một ở cặp bến Trần Hầu đầu đường Nhật Tảo, tất cả đều được cất nổi trên nước sông Hà Tiên, có cầu lót gổ để đi ra. Hồi đó người Hà Tiên gọi tên các nhà vệ sinh nầy cho thanh lịch là «Nhà hàng nổi» hay «Nhà nghỉ mát», …)

Kể tiếp chuyện nhé, lúc quý Thầy đi ngang nhà, tụi mình đều chạy đi trốn cả để quý Thầy đi ngang không nhìn thấy tụi mình. Không biết có ân oán gì không mà chị Quý Phụng bảo : «Giờ nầy trong «nhà hàng nổi» vắng lắm vì không có ai ngồi… » Rồi chỉ nêu lên ý tưởng là tụi mình đi nhát ma quý Thầy chơi…, bạn Phú lúc đó từ chối không dám tham gia (vì Phú ở chung nhà với quý Thầy…). sau cùng chỉ còn lại hai đứa mình hành động theo ý tưởng của chị Quý Phụng…Từ trước nhà nhìn thấy khi quý Thầy đã vào «nhà hàng nổi» ổn định xong xuôi rồi thì hai đứa mình chạy theo, cả hai cùng nhặt những hòn đá và ném xuống mặt nước biển ngay dưới mấy căn của «nhà hàng nổi»… Ôi thích quá.. !! mặt nước biển bắn tung tóe nước lên màu đỏ trong ban đêm theo từng nhát đá chạm xuống mặt nước…Thế là hai đứa cứ nhặt đá ném xuống mặt nước cho nước biển bắn lên tung tóe, tùy theo nếu hòn đá nhỏ thì nước bắn lên ít, hòn đá to lớn thì nước biển văng bắn lên tung tóe nhiều và cao hơn. Sau một lúc ném đá xong vì sợ quý Thầy thấy thủ phạm, hai đứa mình trốn núp sau cột đèn gần đó và rồi vừa cắm đầu cắm cổ vừa chạy nhanh về nhà cho kịp trươc khi quý Thầy về…Mình nghĩ lúc đó có lẻ quý Thầy rất giận chứ không có sợ ma đâu nên quý Thầy đi «nghỉ mát» về rất nhanh và có lẻ quý Thầy cũng đã biết thủ phạm ngay lúc đó là ai rồi… !!  Ôi sợ quỷ, sợ ma, không sợ mà chắc sợ thứ ba là học trò, nhất là lại học trò nữ… !!

Đêm đó về nhà hai đứa trong lòng lo sợ không ngủ được, nghĩ đến ngày mai lại có giờ học với Thầy Hậu !! Thôi thì mình đề nghị rủ Ngọc Ánh ăn chay, cầu nguyện, cầu xin cho quý Ông Thầy không tìm ra được thủ phạm và quý Thầy cũng đừng giận…Hai đứa mình ăn chay được bốn ngày thì bạn Ánh bảo ăn chay không nổi nữa…Vậy mà mấy ngày ăn chay đó cũng thấy linh lắm vì quý Thầy hình như không có phản ứng vì cả, vậy chắc là quý Thầy không biết được thủ phạm là ai rồi. Đến ngày thứ năm vì không còn ăn chay nữa nên Phật Trời không che chở cho nữa, Bà Cô Bảy đến nhà bảo là hai đứa bây đi xin lỗi quý Thầy đi nhe vì quý Thầy đã biết là ai phá rồi đó. Ôi !! thật là vô phép với quý Thầy quá, lúc đầu mình chỉ nghĩ là làm cho Thầy sợ ma mà thôi. Trước mặt quý Thầy, hai đứa mình lí nhí xin lỗi, còn bạn Phú thì núp trong một góc nhà lén nhìn và cười vì bạn ấy không có tham gia nên vô sự…Còn Thầy Thành và Thầy Ẩn cứ như lấy cung,  quý Thầy hỏi mãi : « Có ai xúi bảo mấy em làm không ?». Còn chị Phụng thì chị đã dặn kỷ rồi là không được khai là do chị xúi làm…Rốt cuộc vậy là hai đứa mình đều nhận tội, thật thà khai báo thì nhà nước cũng khoan hồng cho mà…

Chuyện đã qua tuy lâu lắm rồi nay nhắc lại chắc quý Thầy không quên đâu. Tụi em ngày xưa đã vô phép với quý Thầy, nay quý Thầy chắc cũng không còn nhớ được mặt mày tụi em vì mấy mươi năm đã qua rồi…Từ đó không một lần gặp lại quý Thầy, giờ đây lên mạng face book thỉnh thoảng gặp lại quý Thầy nhưng còn ngập ngừng, muốn tự mình xin lỗi lại quý Thầy một lần nữa, muốn nói lời xin lỗi muộn màng là ngày xưa vì lở đùa giởn nên phạm lỗi, xin quý Thầy tha thứ cho hai em là Ngô Ngọc Ánh và Trần Quý Nương…

Cho tái bút thêm là qua đêm nhận tội xin lỗi quý Thầy ngày xưa đó, sáng sớm hôm sau được chị Quý Phụng khoản đải cho hai gói xôi Hà Tiên thật ngon…Còn Ngọc Ánh thì vẫn còn thú thật là cho đến ngày nay khi lên mạng face book, thấy hình và tên Thầy Ẩn (An Lê), Ngọc Ánh vẫn còn sợ trong lòng….Vậy mong Thầy tha thứ bỏ qua tất cả cho chúng em nhé,..

                            Trần Quý Nương kể lại   (Sài Gòn, 09/03/2017)

Một trong ba « nhà hàng nổi » hay « nhà nghỉ mát » ở Hà Tiên, ở đây là nhà vệ sinh ở bến Trần Hầu – Nhật Tảo, chính là nhà hàng trong chuyện kể nầy, có thể là cây cột đèn trong hình là nơi mà các bạn Quý Nương, Ngọc Ánh đá trốn núp sau khi « hành động »….

Một trong ba « nhà hàng nổi » hay « nhà nghỉ mát » ở Hà Tiên, ở đây là nhà vệ sinh trước trụ sở Xả Mỹ Đức.

Hình lớp Trần Quý Nương chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là lầu ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Trần Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý (Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên)

Ngô Ngọc Ánh hình thuở còn đi học Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Nhà Bà Bảy số 16 ở đường Nhật Tảo ngày xưa quý Thầy ở trọ trong thời gian dạy học ở Trường Trung và Tiểu Học Hà Tiên (Quang cảnh học trò đến thăm quý Thầy: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên, Trần Mỹ Quyên.

Ngôi nhà hiện tại số 16 đường Nhật Tảo (Hà Tiên) nơi ngày xưa quý Thầy (Hòa, Ẩn,Tuấn Sinh, Thành, Út, Hậu, Liêm, Chiếu, Cầm….) ở trọ trong thời gian dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên

Tác giả câu chuyện xưa Trần Quý Nương, ảnh hiện tại, Quý Nương hiện sống tại Sài Gòn, Việt Nam)

Ngô Ngọc Ánh, ảnh hiện tại, Ngọc Ánh hiện sống tại Úc Châu

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thũy, Trần Quý Nương, Ngô Ngọc Ánh, Trần Hoàng Trang

Viết về Thầy Cô thân yêu (Lâm Lan)

Viết về Thầy Cô thân yêu

Kính chào thầy cô! Thương chào các bạn gần xa của gia đình Blog THHTX! Dưới mái trường thân thương một thời cắp sách đến trường, Lan nhớ về thầy cô của trường THHTX. Các bạn và Lan đã gần gũi, học hỏi ở những thầy cô này.  Cho Lan thể hiện tình cảm về thầy cô thân thương của mình nhé.

Ngồi buồn nhớ chuyện năm xưa.
Bốn cô con gái vùng miền khác nhau
Gặp nhau trong một ngôi trường
Cùng chung chí hướng dẫn đàn em thơ.
Mai Loan một cặp liền nhau
Hoa Oanh xinh đẹp thanh tao kém gì.

hoa_hongCác bạnTHHTX ơi! Lâm Lan xin giới thiệu 4 cô gái đó: Mai, Loan, Hoa, Oanh, và  2 người thầy được tìm thấy trên fb đã từng dạy dưới mái trườngTHHT.

Một chữ cũng là thầy. Nửa chữ cũng là thầy. Vừa là chị, vừa là cô giáo. Có rất nhiều kỹ niệm với cô học trò nhỏ ngày xưa của trường THHT

Cô giáo kèm trẻ tại tư gia (Cô LÂM NGỌC MAI)

Năm cánh hoa tròn nhụy điểm vàng.
Phụ nữ yêu kiều một dáng mai
Mình hạt sương «Mai» tên cô ấy

LamNgocMai_4Vừa là cô vừa là chị. Chị có dáng một cô giáo từ khi ngồi ghế nhà trường đã giúp không ít cho cô học trò em một số kiến thức về văn hoá, là chế Hai của Lâm Lan đó các bạn.

Ngày gặp lại chị (Cô VÕ KIM LOAN)

Kim_Loan_Xua_3Thắm thoát bao năm không gặp lại
Bây giờ tao ngộ chị ngày xưa
Mắt nhìn em gái miệng cười tươi
Vòng tay thân ái choàng Lan đó.
Thắm thiết tình thân của chị hiền.

 Màu tím cô yêu (Cô DƯƠNG THỊ MINH HOA)

Lâm Lan nhớ về cô giáo dạy môn vạn vật mà Lan đã học năm lớp 11/A.

DuongThiMinhHoa_XuaCô dịu hiền thật xinh tà áo tím
Mái tóc dài phất phất gió đưa bay
Đôi mắt cô long lanh màu tím biếc
Tím cả sân trường, tím cả trời yêu
Để lòng em nhớ mãi dáng yêu kiều
Nhớ cô nhiều dạy em môn vạn vật.
Trời Hà Tiên tím cả đó cô ơi!

Thương gửi về cô một nhành lan tím hoa_lan

Bí quyết làm đẹp (cô NGUYỄN NGỌC OANH)

Bình minh chim hót trên cành
Giọng cô lảnh lót như là hoạ mi
Tóc dài chấm tận bờ vai
Dáng người mảnh khảnh thướt tha quá chừng

Oanh Đó là cô NGUYỄN NGỌC OANH.

 Đôi mắt cô sáng long lanh, miệng luôn có nụ cười trên môi. Lan ơi! Lan à! Em làm gì đó? Cô ơi ! Cô à! Cô làm gì đó? Lâm Lan thấy cô gọt gọt, đâm đâm. Lan hỏi: Cô làm gì mà ngày ngày đâm đâm những thứ này?( củ nghệ đó bạn). Cô nói: Lan muốn mắt sáng thì sử dụng những thứ này mắt sẽ sáng long lanh đó. Nói thiệt Lan đâu có thời gian mà thực hiện. Các bạn có thích thì làm theo cô tôi đi nhé . Mắt cô tôi rất đẹp sáng long lanh vậy đó.

 

Phương Thành nổi nhớ (thầy NGUYỄN HỒNG ẨN)

Ôi! Thầy Toán Lý mà sao thơ văn tuyệt vời. Đúng người đúng tên. Thầy đừng trách trò làm thơ con cóc nhé Thầy.

thay_nha

Bonjour mon professeur de Français (thầy Nguyễn Phúc Hậu)

Thầy dạy tiếng Pháp
Mắt sáng như sao
Thầy cười phúc «Hậu»
Ngoại ngữ thao luyện
Truyền dạy kiến thức
Môn tiếng nước ngoài
Đó là thầy tôi

Thầy NGUYỄN PHÚC HẬU.
Thầy đẹp trai ngồi ghế số 1.

thay_nphCác bạn ơi! bốn cô, hai thầy. Lan và thêm bạn Dương Văn Hiến vừa nhớ đến 1 cô dạy môn Văn lớp Đệ Thất đó là cô… Có thể bây giờ cô đã quên em, học trò nhiều làm sao cô nhớ hết. Cô giáo em tên VƯƠNG THỊ KIM LÀNH. Tên và người đi đôi như một. Em nhớ hoài tiết học của cô.

« TRỞ RÉT »,  đó là tựa một bài thơ mà cô giáo dạy văn lớp Đệ Thất đã dạy chúng tôi học. Cả Lâm Lan cũng không còn nhớ. Vậy mà có một người bạn ở thật xa khung trời Châu Mỹ,  đi đã gần 40 năm mà vẫn nhớ bài thơ cô dạy. Lan phải cảm phục bộ nhớ IQ của bạn í. Bạn là Dương Văn Hiến ( tên fb là Dương Văn Hiếu). Để nhớ về Cô Lành, Lan xin chia sẻ bài bạn Hiếu học thuộc lòng đến bây giờ cho các bạn mình đọc nhé.

TRỞ RÉT
Trời đang ấm bổng nữa đêm nổi gió,
Rạng ngày ra mây xám kéo vang trời.
Khóm tre già nghiêng ngã lá rơi rơi,
Chuối xơ xác run hoài trong gió lạnh.
Đồng trơ rạ mênh mông và hiu quạnh,
Lũ mục đồng sợ rét chẳng nô chơi.
Chúng tụm nhau đốt lửa khói lên trời,
Da mốc thếch đàn trâu đi uể oải.
Đường khô cứng đón bước chân tê tái,
Của người dân da nẻ xuýt xoa đau.
Vài gái thôn bỏm bẻm miêng nhai trầu,
Cho ấm bụng và hồng lên đôi má.
Mắt long lanh dưới vành khăn mỏ quạ,
Răng hạt huyền cười nói nhả ra hơi.
Hôm nay ai cũng mập đẫy như ai,
Trong không khí thoảng có mùi băng phiến.
Chiều xám ngắt khi đò ngang rời bến,
Cô lái buồn nhìn vắng khách sang sông.
Chợ lèo tèo một buổi chợ chiều đông,
Vội tan sớm trước vầng ô khuất bóng.
Đêm càng xuống gió khuya càng thổi lộng,
Lùa rét vào các nhà lá phên thưa.
Ở giửa nhà những tay cóng xoè hơ,
Bên lửa đỏ bập bùng ôi ấm cúng!
Trong ổ rơm vài cô em sầu mộng,
Cãm lạnh lùng thắm thiá giấc cô miên.

(chép lại theo lời thơ học thuộc lòng do Dương Văn Hiến đọc lại)

duongvanhienDương Văn Hiến ngày nay định cư ở thành phố Floride nước Mỹ (nay Hiến đổi tên mới là Hiếu)

Lan xin giới thiệu thêm hình ảnh ngày xưa thầy cô trường tổ chức đi cắm trại ở hòn Đầm.

cam_trai_hon_damHình đi cắm trại hè ở trên là cô Mai, cô Loan, và thầy Nguyễn Văn Nén nguyên hiệu trưởng trường THHTX và cũng là giáo viên dạy môn toán lớp11/A mà Lan đã học.
Câu kết của Lâm Lan nè các bạn ui! Xin được mãi là thiên thần áo trắng. Để tung tăng chạy nhảy khắp sân trường. Lan có vài dòng chia sẻ cùng các bạn thân thương của một thời cắp sách đến trường. Lâm Lan kính chúc thầy cô và các bạn nhiều sức khoẻ, hạnh phúc, vạn sự cát tường. LamThiLan_DeNhi

 Người viết Lâm Lan  (09/2016)

Hình ảnh: Lâm Lan, Dương Văn Hiến

Tái bút: Về bài thơ « Trở rét » chép lại theo lời đọc của bạn Dương Văn Hiến, mình có truy cứu trên mạng thì biết được tác giả bài thơ đó là nhà thơ Bàng Bá Lân (1912-1988). Có lẻ nguyên văn của thơ thì có đôi chút khác đi, mình tìm không ra nguyên văn bản của bài thơ, chỉ có một đọan đầu như sau:

TRỞ RÉT (Bàng Bá Lân)
Trời đang ấm bỗng nửa đêm trở rét
Rạng ngày ra, mây xám kéo ngang trời
Khóm tre già nghiêng ngả lá rơi rơi
Chuối xơ xác run hoài trong gió lạnh
Đồng trơ rạ mông mênh và hiu quạnh
Lũ mục đồng sợ rét chẳng ham chơi
Chúng tụm nhau đốt lửa khói lên trời
Ai cũng nói hôm nay sao rét thế!

Bạn nào biết được nguyên bản xin cung cấp thêm làm tư liệu văn học nhé. Cám ơn. (Trần Văn Mãnh)