Thach Động Hà Tiên và những câu chuyện thực hư

A/ Vị trí và hình thể Thạch Đông Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến địa danh, thắng cảnh Thạch Động thì không còn gì xa lạ đối với người Hà Tiên chúng ta, chẳng những thế mà đa số du khách các nơi khác cũng đều nghe tiếng về Thạch Động nên mỗi lần có các đoàn du khách đến tham quan Hà Tiên, đều có mục thăm viếng Thạch Động.

Ngày xưa trước khi Pháp chiếm Hà Tiên (1867) vùng Thạch Động và Đá Dựng thuộc hai thôn Sa Kỳ và Nhượng Lộ, sau đó Pháp nhập hai thôn lại lập thành làng tên là Làng Kỳ Lộ. Trong những năm 60-70, Thạch Động thuộc xã Lộc Kỳ. Đến sau 1975, Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, ngày nay Thạch Động là một địa điểm du lịch thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên. Từ trung tâm chợ Hà Tiên, theo quốc lộ 80 đi thẳng về phía cửa khẩu Xà Xía về hướng bắc hoặc từ con đường Phương Thành đi tiếp tục ra biên giới Hà Tiên – Campuchia, khoảng được 3 hoặc gần 4 cây số, trên đường nhìn về bên tay phải ta sẽ thấy Thạch Động sừng sửng hiện ra, cứ trơ gan cùng tuế nguyệt có hơn bao nhiêu triệu năm về trước.

Về mặt hình thể, Thạch Động là một khối đá vôi rất to lớn dựng đứng như một ngọn tháp, chiều cao so với mực nước biển là khoảng 93 m và có đường kính ở phần dưới chân khoảng 45 m. Từ xa Thạch Động được bao phủ bởi một phần đá vôi màu trắng bạc, và một phần có rất nhiều cây xanh tô điểm nên nhìn giống như một chiếc mũ lông của những kỵ binh người Anh, do đó người Pháp, trên các bưu ảnh chụp về Thạch Động, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ 20 đã đặt tên Thạch Động trong bưu ảnh là « Bonnet à poils ». Cửa chánh để vào Thạch Động ở hướng đông, nhìn về phía thành phố Hà Tiên và có độ cao khoảng 50 m.

Về phương diện địa chất học, các nhà địa chất học xác định khối đá vôi Thạch Động được thành hình trong kỷ Permi (tức thời kỳ tầng địa chất kéo dài từ khoảng 298 đến 252 triệu năm về trước). Đá vôi của Thạch Động có nguồn gốc trầm tích hóa học  chứ không phải do trầm tích sinh vật học. Người ta còn tìm thấy cùng loại đá vôi của Thạch Động ở vùng ven biển Kiên Lương, ở phía tây nam Campuchia và ở phía nam Thái Lan. Nếu ta phân biệt ý nghĩa của các từ tiếng Pháp: Tunnel: loại hầm, kéo dài theo một con đường (đường hầm); Cave: hang, động (hang sâu như một căn phòng) thì Thạch Động thuộc dạng hang động (Cave).

Thạch Động có hai cửa chánh: cửa vào chánh ở phía đông, nhìn về thành phố Hà Tiên, tai đây có xây bậc thang bằng gạch đá từ dưới đất liền lên đến cửa hang, ngay cửa vào ngôi chùa tọa lạc bên trong Thạch Động. Một cửa khác ở phía tây, tại đây người ta có thể nhìn ra được quang cảnh đồng lúa và núi non của phường Mỹ Đức. Ngoài ra còn có hai cửa theo hướng đông bắc và tây nam, ra đứng tại các cửa nầy, người ta được tận hưởng những cơn gió mát thổi lồng lộng, được nhìn ra một không gian trống khoáng, cả vùng trời biên giới có biển xanh, núi non, đảo nhỏ xa xa và một bầu không khí tỉnh lặng tạo cho ta một cảm giác rất thú vị…

Vị trí Thạch Động : Thạch Động ở về phía bắc thành phố Hà Tiên, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 3 hoặc 4 cây số.

Hình thể bên ngoài và các cửa ra vào Thạch Động (Nguồn: Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo)

B/ Hình thể bên trong Thạch Động:

Vào bên trong Thạch Động theo cửa chánh hướng đông, trước hết ta sẽ thấy ngôi chùa tọa lạc bên trong phần có thể tích rộng lớn, đó là chùa Tiên Sơn (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp). Nếu du khách tiếp tục đi vào các ngỏ ngách theo các hướng khác nhau, lần lượt sẽ thấy có một lối trống rất cao và thông lên đến trên đỉnh Thạch Động, từ dưới ta có thể nhìn thấy như là một lối thoát lên trời vì nhìn thấy cả những đám mây xanh, người ta đặt tên là « đường lên trời ». Rồi đến xem một hang nhỏ khác ăn sâu vào lòng núi, nhìn vào chỉ thấy màu đen thẩm như hang không đáy, đó là « đường xuống địa ngục ». Ngày xưa tục truyền hang đó ăn thông ra đến tận biển ở Mũi Nai, vì người ta có thả một trái dừa khắc làm dấu và sau nầy tìm vớt lại được trái dừa nầy ở ngoải bờ biển…Từ những năm 1960 vì sự nguy hiểm của cái hang nầy, người ta đã lấp kín hang lại, chỉ còn xây bờ chung quanh để làm dấu cho khách tò mò đến xem. Ngoài ra trong vách đá bên trong Thạch Động còn có rất nhiều thạch nhũ, đặc biệt là có một khối thạch nhũ nhìn thấy từ bên ngoài có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái. Chung quanh đó còn có nhiều dây leo rừng to lớn thòng xuống, tuy nhiên vì tính hiếu kỳ và thiếu kỷ lưởng của du khách các sợi dây to lớn nầy đã bị lôi kéo và bị đứt mất dần dần. Bên trong vách đá còn có các vết xâm mòn do nước đọng chảy quanh năm tạo ra các hình dáng giống như một người con gái, hay hình Phật…

Tất cả những hình thù do các khối đá thiên nhiên và do tác động của nước mưa bào mòn vách đá tạo nên như vậy đã cung cấp nguồn cảm hứng cho dân gian bao nhiều đời đã qua, kết tạo lại nhiều truyền tích, huyền thoại. Mỗi hình thù vách đá, mỗi cọng dây leo, …được gắn liền với một hành động và một giai đoạn của một câu chuyện huyền thoại có tên « Thạch Sanh và Lý Thông ». Đây là một câu chuyện được truyền đi trong dân gian và có tác giả cho là có nguồn gốc ở quận Cao Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi đông bắc Việt Nam (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp).

C/ Ngôi chùa « Tiên Sơn Tự » trong Thạch Động:

Hiện nay muốn tim hiểu về nguồn gốc ngôi chùa có tên « Tiên Sơn Tự » bên trong Thạch Động cũng rất khó khăn vì còn thiếu thông tin chính xác.

            C1/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ nhất:

Theo sách Đại Nam nhất thống chí đoạn nói về tỉnh Hà Tiên, mục Tự quán có chép rằng:  Chùa Bạch Vân (Bạch Vân Tự hay Bạch Vân Am) ở núi Thạch Động (tức núi Vân Sơn) ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Châu, nguyên do phú hộ Minh Hương là Đoàn Tân lập ra.  Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Tuần phủ Phan Tông trùng tu…”.

Có nguồn cho rằng từ năm 1790, có vị hoà thượng tên Minh Đường (người Trung Quốc) đã tìm đến hang Thạch Động và ở lại đây để tu hành, hòa thượng đặt tên cho cái am nơi tu là Bạch Vân Am, sau đó vị nầy giao am tu lại cho đồ đệ là Bạch Vân cư sĩ và dời ra lập chùa Địa Tạng ở một ngọn núi cách đó khoảng 800m về phía đông nam, từ đó núi lấy theo tên chùa trở thành núi Địa Tạng.

Cuối thế kỷ thứ 19, có một nhóm người Minh Hương đến trùng tu am xưa và thỉnh hai nhà sư tới trụ trì ngôi chùa. Vị thứ nhất là hòa thượng Thích Chánh Quả (chưa biết tên đúng hay sai) ) tục danh là Lê Thế Diên (có sách viết Duyên), quê ở Phú Yên, thuộc dòng tu Lâm Tế đời thứ 39. Hòa thượng cho đúc tượng Phật và Bồ Tát và đổi tên chùa là Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi.  Vị thứ hai là hòa thượng Thích Thiện Sĩ thế danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40. Ngài tổ chức trùng tu và mở rộng ngôi chùa và đặt tên mới là Tiên Sơn Tự, tên còn giữ cho đến ngày nay. Ngài từ trần ngày 02 tháng 09  năm Ất Dậu (1945), thọ 75 tuổi.  Sau đó có người đệ tử của sư tên là Cam Thị Nam (thường gọi là cô Hai Nàm) kế thừa trụ trì ngôi chùa. Về câu chuyện của cô Hai Nàm có nhiều nguồn do người dân kể lại:

     C1a/- Nguồn thứ nhất kể lại rằng vào ngày 29 tháng 04 năm 1948 quân lính Pháp bắt gặp trong chùa ở Thạch Động có lương thực và cán bộ Việt Minh đến hội họp nên bắt giải giam tất cả bốn người đang hiện diện trong đó có cô Hai Nàm về đồn ở Hà Tiên. sau đó lính Pháp hành hình giết bà và các cán bộ tại cầu tàu chợ Hà Tiên vì kết tội bà là người nằm vùng nuôi dấu cán bộ.

     C1b/- Cũng có nguồn tin thứ hai kể lại rằng ngày hôm đó trong chùa ở Thạch Động có lễ cúng kiến nên có dự trữ thức ăn và có nhiều người tham dự, lính Pháp đi lùng bố càn quét cán bộ Việt Minh vì trước đó có xảy ra vụ vị sĩ quan Pháp bị phục kích giết chết trong vùng Thạch Động, nên cả nhóm người hôm đó đều bị bắt và bắt oan luôn cả cô Hai Nàm. Rốt cuộc cô Hai Nàm bị giết oan ức.

Đó là hai nguồn thông tin về chuyện cô Hai Nàm ở Thạch Động, hiện nay chưa có độ chính xác về câu chuyện nầy,  cần được kiểm chứng và đưa ra tư liệu chính xác.

Từ biến cố đó, ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động bị bỏ hoang gần 4 năm liền không ai tới lui chăm sóc.

Đến năm 1952 có vị Phật Tử Hồng Phúc, người Hà Tiên, thế danh Trình Kim Huê (theo thiển ý, đây có thể là ba của thầy giáo Trình Kim Chung dạy tại trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa), đệ tử của hòa thượng Thiện Sĩ, ngài Hồng Phúc đến trông coi chùa và tu ở đó. Được 7 năm trời, hình dáng ông lúc đó có để bộ râu bạc trắng trông rất đẹp, giống như một vị tiên ông, sau thời gian đó ông trở về cuộc sống bình thường tại nhà riêng ở Hà Tiên và qua đời vào năm 1968. Người Hà Tiên ai ai cũng biết và nhớ đến hình ảnh của ông được đăng trong tờ tạp chí « Thế Giới Tự Do » do Chi Thông Tin Hà Tiên thường phát cho dân chúng đọc, Trong tờ tạp chí nầy do có bài giới thiệu vè thắng cảnh Thạch Động Hà Tiên nên có đăng hình Thạch Động và vị trụ trì là phật tử Hồng Phúc.

Trong những năm 70, Thạch Động nói riêng cũng như với ngọn núi Đá Dựng nói chung về tình hình các thắng cảnh vùng biên giới, hai địa điểm nầy đã trở thành căn cứ quân sự trọng yếu nên đều có quân đội Địa Phương Quân VNCH trấn đóng. Trong thời gian nầy, người dân không được lui tới thăm viếng thắng cảnh như thời trước được. Ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động có lẽ bị bỏ hoang không sư trụ trì và nhang khói trong thời gian nầy.

Sau năm 1975, tình hình còn biến động vì chiến tranh biên giới cho đến năm 1979, có người Phật Tử Thiện Thành, thế danh Tiết Văn Lương, người gốc Mỹ Đức, Hà Tiên, tình nguyện đến trông coi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động.  Đến năm 1989, phật tử Thiện Thành cùng với phật tử địa phương cung thỉnh đại đức Thích Minh Luận, thế danh Giang Văn Khép, về trụ trì chùa Tiên Sơn trong Thạch Động. Đại đức Minh Luận bắt đầu cho trùng tu ngôi chùa, xây dựng lan can và các bậc tam cấp, an vị tượng đức Bổn Sư trong chánh điện. Đến ngày 09 tháng 06 năm 1990 phật tử Thiện Thành lâm bệnh và qua đời. Năm 1991 đại đức Minh Luận tiếp tục trùng tu ngôi chùa, thiết lập tượng đài Quan Âm trước của chùa, năm 1995 lát gạch toàn bộ khu chánh điện, trồng thêm cây xanh chung quanh khuôn viên chùa. Năm 1997 ngài cho khởi công xây dựng tăng xá để chư tăng các nơi xa đến có chỗ an nghỉ. Trong tương lai sẽ cho trùng tu thêm giảng đường, tổ đường và nhà từ thiện. Toàn bộ khu Thạch Động với ngôi chùa xưa Tiên Sơn Tự trở thành một nơi du ngoạn cho khách du lịch đến thăm, người người ra vào đông đúc, tuy quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp nhưng đã mất phần uy nghiêm, thơ mộng và cổ kính trầm mặc của một không gian yên tỉnh ngày xưa.

            C2/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ hai:

Có một nguồn thông tin khác về gốc gác của ngôi chùa Tiên Sơn Tự như sau: Thời ông Mạc Thiên Tích trấn nhậm vùng Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp hiệu Huỳnh Phong chân nhân từ Thanh Hóa vào Hà Tiên tìm nơi tu luyện và ông cũng là một thành viên trong thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Đạo sĩ thấy hang động ở Thạch Động thích hợp nên ẩn tu tại đó. Sau một thời gian, ngài đổi pháp hiệu thành Huỳnh Phong (hay Hoàng Long ?) hòa thượng, đến năm 1785 ngài viên tịch, thọ 108 tuổi, nhục thân ngài được nhập tháp do đề đốc trấn nhậm Bác Giác Sơn tên là Đỗ Như Liêm cùng các tín đồ xây dựng. (Bác Giác Sơn tức núi Phù Dung thời ông Mạc Thiên Tich, sau nầy tại ngọn núi nầy cũng có ngôi mộ của ông đề lại Đỗ Như Liêm nói trên nên núi được mang tên là Đề Liêm). Tuy nhiên nguồn thông tin nầy có thể sai trái vì ông đề lại Đỗ Như Liêm mất khoảng 1860 – 1870 tức là lúc năm 1785 khi Hoàng Long hòa thượng viên tịch thì ông đề lại Đỗ Như Liêm còn rất nhỏ, thậm chí chưa sanh ra.   Một điểm khác làm sai lệch nguồn thông tin trên là theo như các điều ghi chép trong hai quyển Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên thì thời ông Mạc Thiên Tích có vị sư tên Hoàng Long (hay Huỳnh Phong) hòa thượng người gốc Qui Nhơn Bình Định, vào tu ở Bạch Tháp Sơn (tức là núi Đá Dựng) và khi ông viên tịch đồ đệ lập tháp bảy cấp để giữ xá lợi, tuy nhiên tài liệu nầy không nói rỏ ngọn tháp của Hoàng Long hòa thượng nằm chính xác ở đâu và nếu ở trong vùng núi Đá Dựng thì ngày nay ngọn tháp đó có còn được bảo tồn hay không? Như vậy theo hai quyển sách xưa thì Hoàng Long hòa thượng không có lập chùa trong Thạch Động mà tu ở bên núi Đá Dựng.

Nói tóm lại về nguồn gốc ngôi chùa Tiên Sơn Tự trong Thạch Động, thông tin còn rất mơ hồ chưa có những điểm chính xác về năm thành lập và người tạo ra ngôi chùa. Tuy nhiên ta có thể xem như ngôi chùa đã có dưới dạng một cái am nhỏ bằng gỗ từ trước năm 1790, sau đó có nhóm người dân Minh Hương đến trùng tu và thỉnh thầy về trụ trì, quá trình trụ trì chùa có thể xem vào nguồn thông tin thứ nhất nói trên.

D/ Truyền thuyết « Thạch Sanh – Lý Thông » có liên quan đến Thạch Động:

Theo sách « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, ấn bản 1957, có kể câu chuyện như sau:

“Thời rất xưa, ở quận Cao Bình. Hai vợ chồng già, nghèo, lòng tốt, nhưng không con. Ngọc Hoàng sai thái tử đầu thai làm con nhà họ Thạch. Bà cụ có thai, lâu cả mấy năm đến khi ông cụ Thạch bệnh, chết. Thạch Bà sinh con trai. Cụ bà chết. Cậu bé dựng lều sống dưới gốc đa, được dân gọi là Thạch Sanh. Cậu chỉ có một lưỡi búa. Ngọc Hoàng sai tướng trời xuống dạy cậu võ, và phép thần.

Có người bán rượu, tên Lý Thông, thấy Thạch Sanh có sức khỏe, nên kết thân. Trong vùng có con chằn tinh, thường ăn thịt người. Quan quân trừ không nổi, nên dựng miếu, mỗi năm cúng một mạng người. Năm ấy, tới phiên Lý Thông nạp mạng. Lý lừa gạt Thạch, nhờ thay Lý đi canh miếu thay một đêm rồi sáng hôm sau về. Nửa đêm, chằn tinh hiện ra, Thạch Sanh rút búa xả đôi chằn tinh, mới thấy là con trăn. Thạch Sanh cắt đầu trăn và cầm cung tên vàng của chằn về.

Khi Thạch Sanh về, kể lại, Lý Thông nói, rằng trăn đó là của vua nuôi, rằng Thạch Sanh hãy trốn đi. Lý Thông đem đầu chằn nạp cho vua. Vua khen, phong chức tước cho Lý Thông. Trong triều có công chúa, chưa ưng ai. Vua tổ chức hội tuyển phu, cho hoàng tử các nước và trai tráng trong dân tới chờ quả cầu do công chúa ném từ lầu cao xuống. Khi cô sắp ném cầu, Đại bàng bay ngang, sà xuống cắp công chúa bay về núi. Thạch Sanh đang ở gốc đa, ngó lên mây, thấy, mới rút cung tên, bắn trúng cánh Đại bàng. Thạch Sanh dò theo vết máu, biết cửa hang Đại bàng.

Vua sai đô đốc Lý Thông đi tìm, hứa gả công chúa và truyền ngôi. Lý Thông nghĩ chỉ có Thạch Sanh mới cứu được công chúa. Khi gặp Thạch Sanh, Lý Thông nhờ dẫn đường tới cửa hang Đại bàng. Hang sâu không ai dám xuống. Thạch Sanh tự nguyện buộc dây ở lưng rồi xuống hang. Đại bàng đang dưỡng thương. Thạch Sanh đưa thuốc mê để cho Đại bàng uống. Khi Đại bàng ngủ say, Thạch lấy dây buộc công chúa, hiệu cho quân Lý Thông kéo lên. Cứu công chúa xong, Lý Thông lấy đá lấp hang. Dưới hang, Thạch Sanh giết chết Đại bàng, cứu một thanh niên ra khõi cũi sắt, mới biết đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị Đại bàng bắt về hơn cả năm. Thái tử mời Thạch Sanh xuống Thủy phủ chơi. Vua Thủy phủ gặp con, vui mừng, xin đền ơn. Thạch Sanh từ chối, chỉ xin một cây đàn, rồi về lại gốc đa.

Hồn của chằn tinh và Đại bàng sau khi chết, đói vì không được ai cúng tế, tình cờ gặp nhau, bèn lẻn vào kho vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ. Lính theo dấu tìm, đến gốc đa thì gặp tang vật, bắt Thạch Sanh về giam. Công chúa về triều, tự nhiên bị câm, buồn hoài, nên vua hoãn hôn lễ với Lý Thông. Thấy quân bắt Thạch Sanh về, Lý Thông mới tính xử tử Thạch Sanh. Trong tù, Thạch Sanh buồn, lấy đàn của vua Thủy ra chơi, không ngờ đàn thần vẳng tiếng như than, như oán, vạch tội Lý Thông. Công chúa nghe tiếng đàn, vui mừng, cười nói, xin vua mời người đàn vào cung. Thạch Sanh kể cho vua nghe mọi chuyện. Vua sai bắt hai mẹ con Lý Thông, giao Thạch Sanh xét xử. Thạch Sanh tha, cho hai mẹ con Lý Thông về quê. Nửa đường, hai mẹ con bị sét đánh chết. Vua làm lễ cưới công chúa cho Thạch Sanh. Hoàng tử các nước bị từ hôn nổi giận, tụ họp lính 18 quốc gia tới hỏi tội vua. Thạch Sanh lấy đàn thần ra khảy, lính 18 nước buông vũ khí. Thạch Sanh sai dọn cơm cho lính các nước ăn no để về. Niêu cơm nhỏ, nhưng ăn hoài lại có cơm  ra hoài. Vua không con trai, nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.” (Hết tóm lược)

Liên quan giữa câu chuyện « Thạch Sanh-Lý Thông » và Thạch Động: Vì phía đông của bên trong Thạch Động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là « đường lên trời ». Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Còn về cái hang thông sâu thẩm không thấy đáy hang thì truyền thuyết cũng cho rằng đó là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được lắp kín lại để đảm bảo an toàn cho du khách như đã nói ở phần trên. Ngoài ra từ bên ngoài Thạch Đông, người ta còn thấy một khối thạch nhũ có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái, truyền thuyết cho rằng đó là hình con đại bàng đang quặp công chúa Quỳnh Nga về Thạch Động.

Nói tóm lại, tuy rằng câu chuyện thuộc về truyện cổ tích dân gian và theo giáo sư Nguyễn Đổng Chi, chuyện xảy ra ở Cao Bình là xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện ở nơi đó còn có một cái hang được cho là nơi Thạch Sanh đã chém chằng tinh và còn có nhiều đền thờ Thạch Sanh trong thôn làng cùng với một số phong tục văn hoá gắn liền với tích chuyện Thạch Sanh không có liên quan gì với cái hang Thạch Động ở Hà Tiên, tuy nhiên vì trong hang Thạch Động có nhiều hình thù và dạng hang đá phù hợp với câu chuyện được kể ra trong dân gian, thêm nữa tên họ Thạch Sanh trùng với họ Thạch là họ thông thường của người Việt Nam gốc Campuchia nên người ta vẫn tiếp tục gắn liền huyền thoại Thạch Sanh-Lý Thông với thắng cảnh Thạch Động, ta nên xem đó là chút thi vị được thêu dệt cho cái hay và cái đẹp của một thắng cảnh có tên tuổi như Thạch Động, tuy không phải là sự thật nhưng cũng không gây ra điều tai hại hoặc hiểu lầm làm méo mó lịch sử, mọi nơi, mọi dân tộc đều có những câu chuyện huyền thoại như vậy để được truyền tụng lâu đời trong dân gian.

E/ Câu chuyện lên núi Thạch Động cầu tiên của ông Ngô Văn Chiêu:

Theo quyển sách  » Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926″ (Nxb Thuận hóa, 1996) do Huệ Khải (Dũ Lan Lê Anh Dũng) viết, có đoạn nói về cuộc đời của ông Ngô Văn Chiêu đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu (1878-1932), ông là người sáng tạo và là môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài. Ông Ngô Văn Chiêu tuy xuất thân từ một gia đình thanh bạch, không giàu có nhưng ông là người có học cao, đỗ đạt thời Pháp và được bổ nhiệm làm công chức tại nhiều nơi ở miền nam. Khi thân mẫu ông mất, xong tuần bá nhật (100 ngày), vào ngày thứ hai 01/03/1920 (nhầm ngày 11 tháng giêng năm Canh Thân), ông đổi ra tỉnh Hà Tiên làm việc. Tại đây ông kết giao với nhiều bậc thân sĩ địa phương và thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vế thơ, ngụ ý khuyên ông đi tu:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Đêm Trung thu năm Canh Thân (chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:

Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.

Theo tác giả  Lê Anh Dũng, thì bài thơ trên có kể ra các tên của những vị thân hữu với ông Ngô Văn Chiêu, trong câu thứ hai có tên Quan, không biết là ai. Còn hai ông Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Đức tức là ông Lâm Tấn Đức (1866-1934), tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của ông Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).

Sau đó đến ngày 26-10-1920 (nhằm ngày rằm tháng chín năm Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 m.

Về câu chuyện ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Thạch Động Hà Tiên cầu cơ tiên trong năm 1920 với quý ông Lâm Tấn Đức, Diêu, Sự,…thì đó là một sự kiện trong tiểu sử cuộc đời ngài do tác giả Lê Anh Dũng kể lại, tuy nhiên là người Hà Tiên, chúng ta lại ít nghe nói về sự kiện nầy, mong các bậc cao niên và học giả góp ý thông tin thêm để làm sáng tỏ các chi tiết nầy, vì có liên quan đến thắng cảnh Thạch Động của chúng ta.

F/ Câu chuyện về cái đầu lâu trong hốc đá trên Thạch Động:

Trong sách « Truyện tích Việt Nam » do Lê Hương sưu tầm xuất bản năm 1970 có kể lại một câu chuyện liên quan đến Thạch Động như sau:

« Vào cuối năm 1945 khi Pháp tái chiếm miền nam, trong khi lục soát hang Thạch Động ở Hà Tiên thì tìm thấy được một đầu lâu gói trong một mảnh vải trắng nhét trong một hốc đá phía dưới hình tượng bà Quan Âm nổi trên vách. Người Pháp cho rằng đó là cái đầu sọ của một người lính Nhật tạm dấu trong đó chờ ngày đem về nước vì đầu được gói trong miếng vải sang trọng không phải của dân thường thời đó.

Truy tìm ra nguyên nhân thì có nguồn gốc như sau: Khi Nhật chiếm Đông Dương, có một chàng trung sĩ quân đội Thiên Hoàng yêu một cô thôn nữ người Việt nhà ở cạnh quốc lộ 17 (tên đường xưa đi đến Thạch Động). Cô gái tuy quê mùa nhưng cũng rất xinh đẹp nên chàng trai xứ Phù Tang say mê và nhờ viên thông ngôn người Việt đưa chàng đến nhà cô gái để bày tỏ lòng mong muốn của mình với cha mẹ cô gái. Hai bên cũng đã đồng lòng và chuẩn bị ngày cưới hỏi. Tuy nhiên tai họa lại xảy đến khi viên đại úy cấp trên của chàng trung sĩ thấy cô gái liền sanh tâm quyết cướp đoạt cho bằng được. Nghe hung tin như vậy, chàng trung sĩ nổi máu anh hùng võ sĩ đạo, quyết bảo vệ người yêu của mình nên chàng vào ngay văn phòng viên đại úy để thách thức đấu kiếm, phân định hơn thua để người đẹp sẽ thuộc về bên chiến thắng. Viên đại úy nhận lời và hai bên hẹn gặp nhau trên mảnh sân sát bên chân núi Thạch Động vào một đêm trăng sáng. Mỗi bên có một người bạn làm nhân chứng đi theo, theo thủ tục dân Phù Tang. Ngoài ra còn có một khán giả duy nhất đó chính là cô gái trong câu chuyện, vì nghe tin người yêu báo nên cô gái cũng đi đến, lén núp vào kẹt đá để theo dỏi trận đấu. Nàng thầm van vái các vị thần linh xui khiến cho viên đại úy đổi ý bỏ trận đấu để tránh thảm họa cho đôi bên và nàng cũng sợ rằng người yêu không đủ tài năng để chiến thắng. Nàng thầm nguyện nếu có gì thì thà chết chớ không thất ước với người yêu. 

Thế rôi sự thật phải đến, hai lưởi gươm dài sáng chói đã chạm vào nhau dưới ánh trăng bật thành những tiếng động rợn người kèm theo tiếng quát tháo làm cho nàng khiếp sợ run lên. Sau hơn nửa giờ thi thố tài nghệ, chàng trung sĩ bị viên đại úy đánh văng kiếm, kẻ thắng trận cười ngạo nghễ, tra kiếm vào vỏ và gọi người nhân chứng ra xe về chợ Hà Tiên, thình lình thấy bóng cô gái trong kẹt đá đứng nhô ra xem người yêu mình có bị giết không…Viên đại úy cười to và tiến tới dang tay như đón mời người đẹp, cô gái hoảng sợ vụt ù té chạy xuống chân núi và biến mất trong bóng tối. Viên sĩ quan không đuổi theo, lái xe về chợ Hà Tiên.

Chàng trung sĩ thua trận không thể sống chịu nhục và nhìn người yêu qua tay người khác, anh nhờ người bạn giúp mình để anh tự xử sự theo lối anh hùng võ sĩ đạo (harakiri). Trước đó chàng thảo hai bức thư, một gởi về cho cha mẹ và một gởi cho người yêu rồi dùng dao ngắn tự rạch bụng. Người bạn đứng sau lưng đưa gươm chém chàng đứt đầu, dùng vải trắng gói đầu lại và đem vào hang trong hốc đá trên Thạch Động dấu rồi chở thân mình về đơn vị làm lễ mai táng.

Cô gái không hề biết thảm trạng nầy vì trong đêm đó cô cùng bà mẹ vượt biên giới qua đất Miên lánh nạn vì cô không muốn làm vợ viên đại úy. Khi ông đại úy hay liên tiếp hai tin buồn: viên trung sĩ tự tử và cô gái đã bỏ xứ đi vì ý muốn không tốt đẹp của mình, ông rất hối hận nên cho tổ chức lễ hỏa thiêu xác của viên trung sĩ trước đội quân và hứa sẽ tự tay mang đầu người quá cố về nước Nhật sau nầy khi thắng trận. Sau đó vì đau buồn ông xin thuyên chuyển đi tỉnh khác để cố quên câu chuyện đó.

Vài thắng sau, Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc, quân Pháp trở lại chiếm đóng miền nam nước Việt. Bên địa phận Cao Miên, Việt kiều gặp phải nạn « cáp duồn » và cướp bóc vì người Miên kỳ thị, cô thôn nữ theo một số kiều bào trở về hồi cư ở Hà Tiên. Nghe tin bà con trong xóm kể lại cái chết của chàng trung sĩ Nhật, cô gái rất đau đớn. Nàng đem vàng hương, hoa quả đến mảnh sân cạnh Thạch Động cúng kiến và khóc than cho người xấu số vì không biết chàng Nhật có được ngôi mộ ở đâu không, từ đó nàng thường đến nơi đấu kiếm ngày trước để trút nỗi nhớ niềm thương ».

Câu chuyện đầu lâu trong hang đá ở Thạch Động nầy ngày xưa khi còn đi học mình cũng có nghe người ta kể lại, người ta còn chỉ cho mình thấy cái hốc đá bên trong vách của Thạch Động, nơi có để cái đầu trong đó. Không biết câu chuyện tình đẩm lệ nầy có thật hay không, tuy nhiên câu chuyện không thuộc loại huyền thoại như kiểu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông. Câu chuyện nầy có phần thực tế theo hoàn cảnh lịch sử thời Nhật và Pháp chiếm miền nam Việt Nam, nhưng các tình tiết trong câu chuyện thì không ai xác định được độ chính xác.

G/ Thạch Động trong thơ văn và điện ảnh:

Nói đến thắng cảnh Thạch Động ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nhớ đến cái tựa bài thơ vịnh 10 thắng cảnh đẹp của Hà Tiên, đó là tựa « Thạch Động thôn vân », bài thơ lúc ra đời viết bàng chữ Hán trong tập thơ « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích được khắc bản in vào năm 1737 sau khi thành lập tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, sau đó có tập thơ chữ nôm cũng của Mạc Thiên Tích viết ra là tập « Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh » và tập thơ này chưa được khắc in. Bản hiện nay do thi sĩ Đông Hồ sưu tập được.

« Thạch Động thôn vân » là động đá nuốt mây, từ xa ta thấy những áng mây trôi nhẹ nhàng trên miệng hang Thạch Động rồi từ từ có đám mây khuất vào trong miệng hang, người ngoạn cảnh có cảm tưởng như chính hang động đã nuốt mây. Xin chép lại bài thơ ở đây để mọi người thưởng thức:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại;
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giới;
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ỷ, la.

Khi viết tập « Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên », tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, phần bàn về Thạch Động, nhà thơ Đông Hồ đã có viết cảm nghĩ riêng về việc thắng cảnh Thạch Động. Đai khái là ông rất chống đối việc xây cất ngôi chùa kiên cố bên trong hang Thạch Động, ông viết: « Không như ở đây, chỉ riêng có một ngọn núi, cũng là loại đá xanh mà trong bụng núi thì rộng thênh thang, lại có hai cửa thông, đủ cho bóng trời soi sáng, y như một cảnh cung thẩt. Ở đây, như chúng ta thấy hiện nay, phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên. Ngôi chùa ngay giữa động, chùa gỗ lợp ngói, đã làm cho cảnh Thạch Động mất đẹp đi nhiều. Nếu không có ngôi chùa đó, thì chúng ta sẽ được nhìn thấy một cảnh động đá thênh thang, rộng rãi, chung quanh vách đá uốn nét, giữa có khoảng thông thiên, nhật quang tỏa khắp lên các thạch nhũ, đẹp biết mấy ».

Nhà thơ Đông Hồ còn nói rỏ thêm về việc sơn màu vôi trắng tô đắp vẽ vời tượng nọ hình kia trên vách đá là dại dột…Ông khuyến cáo nên dời chùa ra ngoài có nhiều chỗ rộng rải để khỏi làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên.

Trong những năm 50-60, có hảng phim tại Sài Gòn xuống Hà Tiên thực hiện cuốn phim về sự tích Thạch Sanh-Lý Thông, người đạo diễn đã nhờ ông cụ ba của thầy giáo Trình Kim Chung, ông cụ lúc đó tu ở trên Thạch Động, vì tướng mạo ông phương phi, râu bạc trắng, tay cầm phất trần rất giống tiên ông nên ông đóng vai Tiên Ông trong bộ phim nầy.

Ngoài ra Thạch Động cũng còn là nơi được chọn là bối cảnh cho các bộ phim như « Cuộc chiến với chằn tinh » (hay còn có tên là « Thạch Sanh ») với các nhân vật thằng An, thằng Cò của cố đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu năm 1997 và bộ phim « Đất Phương Nam »  của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

H/ Ký ức riêng về Thạch Động:

Vốn là dân gốc gác Hà Tiên, mình biết rất nhiều về Thạch Động, mỗi lần theo bạn bè đi xe Honda chạy ra đường biên giới về phía chùa Xà Xía, mình có dịp ngắm nhìn Thạch Động và rất có ấn tượng về thắng cảnh nầy. Trong những năm 50, người dân Hà Tiên có thể lên Thạch Động viếng cảnh, ngắm thiên nhiên và thả hồn với không gian  trầm mặc của vùng núi non bao quanh Thạch Động. Tuy nhiên khi mình trưởng thành và trong thời gian đi học tại Trung Học Hà Tiên, khu vực Thạch Động trở thành một nơi chiến lược do có quân đội địa phương đóng điểm trên đó nên không ai còn được lên Thạch Động ngoạn cảnh. Hằng ngày chỉ chạy xe Honda qua lại bên phía dưới con lộ chánh dẫn ra biên giới và nhân lúc đó nhìn ngắm Thạch Động mà thôi. Có một điều may mắn là trong lúc đi học, mình có tham gia vào ban nhạc do bạn Lê Công Hưởng là trưởng ban, thời đó các đơn vị nhà binh đóng quân tại Hà Tiên như trên đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba Ông Chánh), Thạch Động, trại biệt kích Tô Châu,..v..v..thường hay tổ chức chơi văn nghệ giúp vui nên có một lúc đại đội đóng quân trên Thạch Động có mời ban nhạc học sinh trường Trung Học Hà Tiên lên chơi nhạc trên Thạch Động. Nhờ dịp như thế, mình và các bạn, cùng các bạn gái ca sĩ học sinh được vào hang Thạch Động để ca hát giúp vui trên đó.

Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người đàn anh gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Mũi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ… Kỷ niệm nầy mình có kể với nhiều chi tiết trong bài « Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh) » các bạn có thể bấm vào đường link nầy để đọc bài thêm.

Lần về thăm nhà Hà Tiên vào tháng sáu năm 2012, mình có gặp lại người bạn thân Nguyễn Đình Nguyên thời xưa đi chơi chung với nhau, hai dứa đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…). Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín, ngôi chùa gỗ Tiên Sơn Tự cũng dần dần được phủ lên nền gạch đá rắn chắc và cổng vào chùa cũng được sơn phết điểm tô màu sắc,…còn đâu nét đẹp thiên nhiên ngàn năm cổ kính của một thời mà hồn đất Hà Tiên hòa nhập với cây xanh, bóng mát và không gian trầm lặng một Thạch Động yên nghỉ nhìn về hướng chợ Hà Tiên…

Paris, Trần Văn Mãnh, viết xong ngày 02/05/2020

Một bức hình có thể xem như là xưa nhất về Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1900, hình rửa theo giấy Citrate

Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1901. Hình rửa theo giấy Citrate

Quang cảnh Thạch Động in trên bưu ảnh do người Pháp phát hành. ta thấy cửa vào Thạch Động và có hai vị hòa thượng đứng trước cửa. Dưới bưu ảnh có ghi hàng chữ: « COCHINCHINE – Hatien- Le bonnet à poils. Entrée de la Bonzerie à l’intérieur du rocher » (Lối vào chùa bên trong hòn đá)

Quang cảnh Thạch Động trong bưu ảnh do người Pháp phát hành năm 1926 (Nadal). Dưới bưu ảnh có ghi: « HATIEN – Bonnet à poils. Chemin dans les grottes, 3 km 500 du chef-lieu » (Mũ lông – Lối đi trong hang động, cách thị trấn 3 cây số rưởi)

Hình cửa vào Thạch Động do hảng chocolats SUCHARD của người Pháp in trong tập hình sưu tầm.

Hình Thạch Động do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Hình Thạch Động (mặt tây) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Quang cảnh Thạch Động hình chụp năm 1956. (TuanVo)

Thạch nhũ trước Thạch Động có hình như mỏ đại bàng. Hình chụp năm 1959. (TuanVo)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BronsonHa)Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 1994. (TVM)Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BuiVanTam, năm 2004)

Quang cảnh Thạch Động (mặt đông nam). (Herman Hermanson, năm 2006)

Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 2008. (TuấnMinh)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (2017)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (PhamKhang, năm 2018)

Quang cảnh Thạch Động mặt đông nam. (PhamKhang, năm 2018)

 

 

Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang). Trước ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 đã bị hư hại, không còn sử dụng được nữa nên đã neo lại ngay Ụ nổi 9600 tại bến tàu của Hải Quân Cơ Xưởng tại Sài Gòn.

Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

Tái bút 4: Theo lời của anh Trần Đỗ Cẩm, cựu sĩ quan Hải Quân cùng khóa với thiếu tá Nguyễn Phú Bá, anh Cẩm vẫn đang tìm kiếm tung tích chiếc tàu HQ 607. Tin tức sơ khởi cho biết chiến hạm này KHÔNG DI TẢN qua Phi Luật Tân vì lúc đó đang đại kỳ tức là phải lên ụ để tân trang toàn diện. Hạm Trưởng cuối cùng là HQ Thiếu Tá Trần Văn Dùng khóa 16 SQHQ/Nha Trang. Có người cho biết vào năm 1990 có gặp ông Trần Văn Dùng tại VN. Anh Trần Đỗ Cẩm vẫn đang tiếp tục tìm hiểu thêm chi tiết.

 

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông từ Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia đường Bạch Đằng (Thu Oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Cô Nguyễn Phước Thị Liên

Thầy Cô và các bạn thân mến, mặc dù trong đa số các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên vào thế hệ mình trở lên không có học với cô Nguyễn Phước Thị Liên ở bậc Tiểu Học Hà Tiên (ngoại trừ một số các em học sau mình nhiều năm thì trước khi vào Trung Học Hà Tiên đã có học qua với cô ở bậc Tiểu Học…), ảnh hưởng của cô đối với nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên là không nhỏ. Cô Nguyễn Phước Thị Liên là phu nhân của thầy Trương Minh Đạt, mình không nhớ cô về dạy bậc Tiểu Học Hà Tiên vào năm nào, nhưng sự quan hệ giữa cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên rất là mật thiết…Vào thời đó khi thầy Đạt xuất hiện trở về Hà Tiên sau một thời gian dạy học Hà Tiên và Phan Thiết rồi nhập ngủ với cấp bậc Đại Úy, thầy rước cô về Hà Tiên ở, lập nghiệp lâu dài, vì thế cô đã được mời vào giãng dạy ở Trường Tiểu Học Hà Tiên (ngôi trường Tiểu Học chính của Quận Lỵ Hà Tiên). Dĩ nhiên là đối với cặp vợ chồng rất đẹp và rất lý tưởng như vợ chồng thầy Đạt và cô Liên, dân chúng và học trò Hà Tiên rất lấy làm ái mộ và ngưởng phục. Lần đầu tiên khi mình thấy thầy Đạt là khi thầy ngồi trong quán cà phê Dũ Long, thầy ngồi nhìn ra phía ngoài đường, mặc quân phục mang lon hẳn hoi, trên mắt thì có cặp kính đen rất oai và rất tài tử, mình rất có ấn tượng khi nhìn thấy thầy như vậy…Còn về phía cô, thì ai ai cũng phải khen cô là người đàn bà có dáng cao ráo rất đẹp. Có một bằng chứng mà bây giờ mình vẫn còn nhớ là do bạn Nguyễn Đình Nguyên kể lại, lúc đó Nguyên là một trong những học trò rất « thân tín » với thầy Đạt (và thầy Hiển, anh song sinh với thầy Đạt). Bạn Nguyên kể lại với mình ra sao về cô Nguyễn Phước Thị Liên? Bây giờ nói thiệt mình cũng không dám nói ra nhưng thôi kệ nói ra để chứng minh là về hình dáng, dáng dấp của cô Liên đã được học trò và ngay cả thầy cô thời đó ngưởng mộ ra sao…Số là có một lúc nào đó học trò và thầy Hiển, thầy Đạt, cô Liên và có lẻ cùng nhiều thầy cô khác của trường Trung Học Hà Tiên tổ chức đi chơi bãi biển Mũi Nai, nhưng không biết sao lại không có mình trong chuyến đi chơi nầy. Ra tới biển thì hiển nhiên là mọi người cùng tắm biển,..vì thế cô Liên có mặc bộ áo tắm để tắm biển, tiếc thay là mình không có ở đó để chiêm ngưởng dáng người cao ráo xinh đẹp của cô,…chỉ nghe bạn Nguyễn Đình Nguyên về kể lại cho mình nghe là trong hôm đó khi thấy cô Liên trong bộ y phục tắm biển ai nấy cũng sửng sờ, trầm trồ một cách kín đáo tỏ vẻ ngưởng mộ và không ngờ là cô có dáng người cân đối và đẹp đến như thế, mặc dù hằng ngày ai cũng đều có dịp ngắm cô trong chiếc áo dài lúc đi dạy học… !!! (Cô ơi nếu cô có đọc đến đây thì cũng xin cô rộng lòng từ bi bác ái, điều nầy thì chắc có vì bây giờ cô thường đi chùa và tu dưởng rồi… !! cô bỏ qua cho các lời viết của em nhé, vì em muốn viết ra và nhắc lại lời nói của bạn Nguyên thật sự hồi xưa để chứng minh là cô là một người cô giáo có dáng người cao ráo rất đẹp và rất lý tưởng…).

Như trên mình đã nói, học trò Trung Học Hà Tiên lúc đó thường đến chơi rất thân với thầy Đạt, cô Liên và thầy Hiển. Và ngay khi nhà thầy thành lập quán Ti La thì sự lui tới càng thường xuyên hơn nữa, hầu như là tối nào nhóm bạn học trò « ruột » của thầy cô cũng đều đến quán Ti La để uống cà phê và để có dịp trò chuyện với thầy cô. Mình còn nhớ thời đó nhóm học trò gồm : Trần Văn Mãnh, Trần văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, Lê Phước Dương,..Nhan Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Thanh,…Hà Quốc Hưng,….và còn nhiều bạn khác nữa mình không thể kể hết ra đây, nhóm bạn đó là nhóm không phân biệt lớp học, thường là bạn cà phê, văn nghệ cùng đi chơi với nhau mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong…Nhóm bạn nầy cũng quen thân với anh Mẫn, một quân nhân làm việc tại Chi Khu Hà Tiên lúc đó, anh Mẫn vì làm việc ở Chi Khu Hà Tiên nên kết thân với thầy Đạt, vả lại anh cũng là người thường chơi nhạc, chơi đàn guitare nên vì yêu âm nhạc nên anh thường giúp thầy Đạt bằng cách mỗi chiều đến quán Ti La sớm để trang bị các loa phát thanh nghe nhạc (Enceinte acoustique)  trong mỗi góc vườn của quán để khi bắt đầu bán cà phê thì quán sẽ để nhạc cho khách ngồi vừa uống cà phê vừa thưởng thức nhạc…(vì phần để loa phát thanh nghe nhạc là ở ngoài trời trống nên mỗi chiều phải đem loa ra và tối thì lại đem vô nhà sợ bị mưa ướt hư) …Mỗi buổi tối nhóm bạn đến ngồi quanh một bàn hoặc nhiều khi phải để nối hai bàn như vậy và thường có anh Mẫn ra ngồi cùng uống cà phê và trò chuyện…

Khi về khuya khách ra về bớt thì thầy cô cũng ra cùng ngồi bàn với nhóm học trò « ruột » để trò chuyện văn nghệ, mây nước, thời sự…Trong những dịp nầy mình còn nhớ có bạn Bùi Văn Tư thường hay kể chuyện đùa vui và mỗi khi hứng thú thì bạn Tư cười lên rất to…

Ngoài ra còn có những buổi họp mặt thầy cô trò trong nhà của thầy cô vào ban ngày. Cả nhóm thường hay ngồi chung quanh bộ ấm trà, cùng uống trà và nói chuyện đủ thứ đề tài với thầy cô. Mỗi lần vào trong nhà của thầy cô mình thường chú ý đến cái tủ sách của thầy cô để ngay phía trước, bên trong tủ mình thường thấy có rất nhiều bộ nhạc đóng thành từng bộ bìa cứng dầy, bên hông của mỗi bộ nhạc đóng như vậy, có đề hàng chử mạ vàng « Đạt Liên ». Lúc đó mình rất ngưởng mộ cách sưu tầm nhạc và đóng bộ các bản nhạc như thế của thầy cô. Hy vọng là cho đến ngày hôm nay thầy cô vẫn còn giữ bộ sưu tầm bản nhạc đống thành tập như vậy, đó là một bằng chứng cho tình yêu vĩnh cữu của thầy Đạt và cô Liên, tên hai người luôn gắn liền với nhau chẳng những trong các giấy tờ chính thức mà hai cái tên thầy cô Đạt Liên vẫn gắn bó với nhau trên từng bìa của mỗi tập nhạc…

Cô Nguyễn Phước Thị Liên ngoài việc dạy học, cô dần dần trở thành người « con dâu » quen thuộc của đất Hà Tiên. Cô giao thiệp thân hữu với các đồng nghiệp Hà Tiên, các người quen biết chung quanh chợ Hà Tiên, ai ai cũng thích và quý mến cô. Ngoài hoạt động về ngành giáo dục, cô cũng thường viết văn, viết tùy bút và đến mãi bây giờ mình mới khám phá ra được là cô đã cho đăng rất nhiều những bài truyện ngắn, tùy bút, suy nghĩ trên các tạp chí như : Văn Hóa Phật Giáo, …Đó là do một sự tình cờ tìm tòi về tư liệu về đất Hà Tiên, lần đầu tiên mình thấy bài viết « Ngồi Một Mình » do tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178 xuất bản vào năm 2013. Khi đọc xong bài viết đó mình rất lấy làm thú vị. Trong bài cô kể lại quảng đời theo chồng về lập nghiệp tại đất Hà Tiên, lúc đầu có lúc sống bên đất Rạch Vược là quê hương gốc gác của gia đình thầy Đạt. Những lần đầu tiên tiếp xúc với cách sống, không khí, tập tục của quê hương Rạch Vược, quan hệ với gia đình của thầy, quan sát sinh hoạt địa phương, trong đó có nghề làm giá ở các nhà chung quanh…Rồi đến phong tục « người đàn bà khi có việc riêng thì phải kiêng cử không được đến gần nơi làm giá » hoặc là có lúc cô cũng cười thầm khi so sánh chiếc cọng giá ốm yếu của giá « Rạch Vược » so với chiếc giá « cao cả rộng lớn » của quê mình Phan Thiết… !!

Và khi được cử đi chợ mua trái bầu về nấu canh thì cô tìm hoài tìm mãi mà không thấy trái nào tròn trỉnh « bầu bịa » như trái bầu trong tưởng tượng của cô, đến khi má của thầy chỉ cho thấy trái « bầu » nó « dài » cả thước cô mới giựt mình ngạc nhiên tự hỏi sao nó không bầu tròn như « Bầu Cua Cá Cọp ». (lại không dám dùng từ ngử «Bầu rượu túi thơ »….để tượng hình…)

Đọc kỷ lại bài viết thì mình mới biết được chi tiết là cô vào dạy trường Tiểu Học Hà Tiên vào năm 1965…Học trò trẻ con đất Hà Tiên mới có dịp lần đầu tiên được tiếp xúc với một « Công Tằng Tôn Nữ » đất Huế với một giọng nói tuy rất êm dịu nhưng mà cũng rất khó nghe khó đoán ra …Chẳng hạn khi cô đọc bài với từ « Vi vút » thì chắc giọng cô cũng rất vu vi vu vút nên học trò không biết viết với chử « dờ con de hay dờ cây dù… » !!  Cũng như từ « qua quýt » thì học trò cũng thắc mắc không biết có phải viết với « quờ con quạ hay không ». Còn cô giáo thì cũng ngạc nhiên vì trong bài đâu có nói gì đến con quạ con diều đâu !!!  Trong các loài chim thì cũng không có con chim nào tên là « con sạo » chỉ có con chim tên là « con sáo » mà thôi… !! Rồi khi cô muốn giúp học trò làm bài thì nói « Để cô vẻ cho » khiến cho học trò ngạc nhiên hỏi cô « đây là bài viết mà cô đâu có dẻ cái gì đâu… » !!

Có thể nói bài « Ngồi Một Mình » của cô Nguyễn Phước Thị Liên là điển hình nhất, chỉ cần dùng bài viết nầy để làm bài « Giới thiệu cô Nguyễn Phước Thị Liên » trong mục « Thầy Cô » của Blog Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta là đầy đủ nhất. Vì thế phần dưới tiếp theo đây mình sẽ đăng lại toàn bộ bài viết nầy của cô để thầy cô và các bạn có dịp đọc kỷ qua, để hiểu và cảm nhận cùng với cô cái tình cảm, đồng cảm của cô khi « chân ướt chân ráo » theo chồng về đất Hà Tiên lập nghiệp…

Hiện nay trước những đổi mới to lớn và rất nhanh chóng của Hà Tiên, có nhiều khuynh hướng suy nghĩ khác nhau : có người rất phấn khởi cho sự đổi mới tốt đẹp của quê hương, có người lại cứ buồn nhớ tiếc nuối cho một thời quen thuộc đã qua đi…Cũng như ta thường hay nhắc đến Hà Tiên với những cơn mưa tuy có rả rích lâu dài nhưng khi nằm trong nhà, uống ly trà hay ly cà phê, tai nghe tiếng « ểnh oạp »của con ểnh ương, tiếng « rét rét » của ếch nhái vọng về phía nhà từ khu vườn nhà Ông Ba Lón, rồi tiếng mưa rỉ rả rơi trên các ao : Ao Sen, ao Sà lách, ao Rau Muống,…thật là thú vị vừa buồn buồn vừa thơ mộng…Ôi tất cả đã đi vào quá khứ như cô Liên đã viết trong phần kết thúc của bài « Ngồi Một Mình »,…mình thích nhất là đoạn cuối, như là một lời tổng hợp các ý kiến, tình cảm khác nhau trước sự đổi biến của Hà Tiên,…Cô đã viết như sau : « Ôi ! tất cả giờ đây đã đi vào ký ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xả hội. Nhưng khi đối diện với « tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó ». Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái « nỗi buồn âm thầm » ấy, hẳn…buồn tẻ lắm nhỉ ».

Tâm sự nầy khiến mình chợt nhớ đến tâm sự của thi sĩ Trần Tế Xương trong bài thơ « Sông Lấp » :

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Trước khi đăng toàn bộ bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả cô Nguyễn Phước Thị Liên, mình xin liệt kê ra đây một số tác phẩm của cô đã có đăng trên báo chí mà mình sưu tầm thấy được trên mạng. Danh sách nầy không đầy đủ, còn rất nhiều bài viết, truyện ngắn khác mà mình chưa thấy được. Một số lớn bài viết của cô thường được chọn đăng trên tạp chí « Văn Hóa Phật Giáo ». Site Web « Văn Hóa Phật Giáo » ngày nay không biết lý do gì đã ngưng hoạt động nên chúng ta không thể tìm lại các bài viết của cô trên site web nầy, tuy nhiên có một site web khác tên là

https://quangduc.com/p140a58422/tap-chi-van-hoa-phat-giao

Trên site nầy có lưu trử lại tất cả các số Văn Hóa Phật Giáo từ năm 2011 đến ngày nay 2018. Có đủ cả các số tạp chí Văn Hóa Phật Giáo từ số 123 (2011) đến số hiện nay 288 (2018) dưới dạng file pdf. Thầy cô và bạn nào muốn tìm đọc những bài viết của cô đăng trong các số này hãy liên lạc với mình qua E-mail, mình sẽ gởi cho file pdf để đọc.

Một số tác phẩm của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên : (đôi khi cô ký tên với bút hiệu Chân An Hoa)

Thời Nõn Giá (tập truyện ngắn xuất bản năm 2004, có lời giới thiệu như sau : Nguyễn Phước Thị Liên một người Huế sinh trưởng ở Phan Thiết, mấy mươi năm dạy học và viết ở Rạch Giá, Hà Tiên. 14 truyện ngắn in trong tập này « là mười bốn mảnh tâm tình, lắng đọng bao nỗi ngậm ngùi của một con người mẫn cảm xa quê, với những kỷ niệm khó quên cùng bao chiêm nghiệm nghĩ suy trăn trở về thời gian dâu bể, về lẽ đời còn mất, về những điều trông thấy… đau lòng. Mỗi truyện là một chuyện kể tự nhiên, nhẹ nhàng bằng giọng Huế ; có giọng đẹp, dễ cảm, trầm ấm; có giọng ma quái, trầm buồn… Chất khôi hài dí dỏm với những ẩn dụ ví von dễ lan tỏa trong cảm nhận của mọi người bởi khá gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật của dân gian. Chuyện ngắn thôi nhưng cũng đủ khiến người nghe thỉnh thoảng giật mình khi chợt nhận ra mình còn đôi lúc sống lơ đãng, vô tâm… » (theo Cao Quảng Văn). Sách do NXB Trẻ ấn hành, tháng 7/2/2004).

Chuyện ít người biết (Tạp chí Chiêu Anh Các, trang 48-51, số đặc biệt kỷ niệm 300 năm thành lập trấn Hà Tiên, 2008, cô viết bài nầy để nói về 4 người trong Hà Tiên Tứ Tuyệt là : Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Trúc Hà)

Lộng Ngọc (Văn Nghệ Hoa Phương Đông 2007)

Một Lần sớt bát (Văn Hóa Phật Giáo=VHPG số 127/2011)

Chùa Bà Tuần Phạm và Tôi (VHPG số 129/2011)

Tiếng Trống cửa Thiền (VHPG số 132/2011)

Cái duyên thật diệu kỳ (VHPG số 135/2011)

Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên (Chân An Hoa VHPG số 151/2012)

Chùa lạ giữa quần đảo Hải Tặc (VHPG số 173/2013)

Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi (VHPG số 177/2013)

Ngồi một mình (VHPG số 178/2013)

Chiếc áo (VHPG số 203/2014)

Vươn lên từ đời chợ (VHPG số 207/2014)

Một tấm lòng (VHPG số 214/2014)

Đường về (Ký và truyện, Nhà xuất bản Tổng họp Thành phố Hồ Chí Minh)

Đặc biệt trong bài « Vươn lên từ đời chợ » là một bài viết theo trường phái hiện thực, trong đó cô Nguyễn Phước Thị Liên kể lại quảng đời khó khăn của gia đình sau những năm 1975…người lớn không có việc làm, con cái phải đi bán bánh mì dạo, …trong gia đình người đàn bà phải lo đủ thứ việc, gói ghém để đủ trang trải trong nhà và nuôi con…Đã vậy mà có người quen ở chợ Hà Tiên còn gởi gấm con trai của họ cho gia đình thầy cô nuôi và giáo dục dùm cho, vậy mà vì lòng nhân từ và tính tình quảng đại thương người, thầy cô đã nhận lời gởi gấm và người con trai nuôi đó từ một trẻ con lông bông đã được giáo huấn tốt đẹp của thầy cô mà thành người tốt thành công trên đường đời trở thành một vị giáo sư Anh văn tài giỏi…Cô cũng có kể lại trong bài viết là lúc đầu cả nhà đều không muốn nhận lời nuôi dùm đứa trẻ, nhưng vì cô đã nghe được lời dạy của Đức Phật và áp dụng vào quyết đinh nầy : « Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai ». « Đừng khẳng định cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đở phải hối hận hơn ».

Bây giờ xin mời thầy cô và các bạn thưởng thức bài viết « Ngồi Một Mình » của tác giả Nguyễn Phước Thị Liên.                              

                                         (Trần Văn Mãnh viết phần giới thiệu Paris 11/01/2018)

Cô Nguyễn Phước Thị Liên cùng các con. Rạch Giá 1968

Thầy Trương Minh Đạt và cô Nguyễn Phước Thị Liên (2017)

Ngồi một mình (Nguyễn Phước Thị Liên)

Mỗi chúng ta, ai cũng có đôi lần ngồi một mình ở đâu đó: trong sân nhà, ngoài bãi biển, bên bờ sông, bờ suối, dưới tàng cây, trên đồi núi hay nơi bìa rừng đề suy tư, lắng nghe, rồi nhớ thương, hoài niệm… Nhưng nếu ngồi như thế thật yên, tĩnh tâm nhìn bầu trời, sẽ thấy mây trắng hơn, trời xanh và rộng hơn mà mình thì nhỏ lại hoặc vô cùng bé xíu mong manh. Rồi bỗng nhiên mình tự hỏi: tại sao mình hiện hữu, sống chết ở nơi này mà không là nơi khác. Cắc cớ, có khi mình lại hỏi vì lẽ gì một nửa của mình không phải là ai kia. Hỏi để thấy dẫu sang hèn hay sướng khổ thì nghiệp phận cũng đã định rồi. Thế là mình cứ vậy mà an nhiên tự tại, mỗi lúc một thấy cuộc đời vô cùng mầu nhiệm, thật đáng yêu, đáng quý.

Ngồi một mình bên bờ Rạch Vược nhớ ngày đầu mới về quê chồng, mẹ cho ăn giá, những cọng giá tuy có trắng nhưng ốm nhom dài ngoằng, đầu ló ra hai cái mầm tí tẹo xanh xao, thêm cái đuôi lượt thượt, thấy phát tội. Buồn cười hơn, nhân lúc mình cùng người ấy dạo chơi, thấy ở sân nhà người hàng xóm để đầy những lu, khạp, lớn nhỏ . Mình hỏi:

– Ở đây làm tương dữ dằn, người ta ăn chay ghê lắm hả anh?

– Tương gì… làm giá chứ bộ. Người ấy đáp.

– Trời ơi… mình la lên rồi bụm miệng cười khằng khặc không ý tứ; nhưng rồi ngại cái tự ái “chùm khế ngọt” của người ấy nổi dậy, mình bèn vuốt ve bằng một câu êm dịu:

– Làm giá ngộ quá ha, họ làm như thế nào vậy anh? Người ấy đáp:

– Trước tiên họ lót lá chuối khô thật sạch vô khạp cùng với một lớp đất mỏng, rãi đậu xanh đã lựa kỹ và đã ngâm qua đêm lên đó rồi ủ cũng bằng lá chuối khô, đoạn tưới nước, tưới sương sương nhiều lần trong ngày như thế chừng bốn năm bữa thì dỡ giá. Quan trọng là nước tưới giá không được nhiễm phèn, cũng không ngọt như nước mưa. Nói thì vậy chớ làm giá không đơn giản, chỉ một sơ suất nhỏ trong việc chăm sóc, cả mẻ giá có thể đi tong, ấy là chưa nói đến phần tâm linh của giá. Đã có nhiều người làm giá bị vỡ nợ.

Nghe tâm linh của giá, mình lại cười to lên lần nữa. Người ấy giải thích:

– Thật mà em, nhà làm giá sợ nhất người phụ nữ có việc riêng, người đi đám ma, người bị bệnh lên trái… đến chỗ họ làm giá. Để tẩy uế, họ phải cắm nhiều hoa nơi đó và tắm gội sạch sẽ trước khi tiếp cận nó.

Mình nghĩ làm giá gì mà kỳ cục rồi đâm ra nhớ thật nhiều những cọng giá ở Động Giá “cao cả rộng lớn” nơi quê mình.

Bây giờ cách làm giá cũ kĩ đó được cải tiến đến khiếp sợ. Còn cái sân có nhiều lu, khạp giờ biến thành dãy nhà trưng bày nhiều hình nhân dùng làm giá treo sản phẩm thời trang có mặt mày, tóc tai, áo quần cực kỳ xinh đẹp, ngày ngày kênh kiệu, diêm dúa, đứng ngồi cứng đơ trong tủ kính.

Ngồi một mình trong sân chùa ở núi Tô Châu nhìn qua phố chợ, nhớ hồi đó mẹ bảo mình đi chợ mua bầu về ăn để mau có bầu, sang năm sanh cho bà đứa cháu nội. Lúc ấy mình chưa muốn có em bé nhưng sợ mẹ buồn, đành bóp bụng đi chợ thật sớm, tìm mua bầu. Thời đó chợ nhóm từ mờ sáng và tan rất nhanh, khoảng mười, mười một giờ. Hàng rau hành ngồi bán dưới đất ngay lề đường. Mình đi dạo năm lần bảy lượt vẫn không thấy một trái bầu nào để mua. Mình thắc mắc, tự hỏi, bầu bí chứ nào phải thứ gì cao siêu mà ở đây không có bán.

Và khi nghe mình báo cáo, mẹ ngạc nhiên hơn cả mình, bà tức tốc đi ra chợ, cầm về một trái gọi-là-bầu… dài cả thước kèm theo lời nói: “Trái gì đây?”. Mình nực cười trong nỗi sợ hãi ,nói: “Dạ, con thấy trái này nhiều lắm ở ngoài chợ. Bộ nó là trái bầu hả mẹ, sao nó không tròn như trái bầu ngoài con, loại “bầu cua cá cọp”. Mình không dám nói loại “bầu rượu túi thơ”, lại càng không dám lấy câu “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” để lý sự.

Tối đó mình đem chuyện bầu kể cho người ấy nghe rồi tuyên bố: “Ăn bầu ở xứ anh để có bầu… dài thượt, không dám đâu” và cù lét anh: “Thầy cô giáo ở đây dùng trái bầu này làm giáo cụ trực quan để dạy “bầu rượu túi thơ” thì hết sẩy, đúng là siêu hình học”.

Nhưng ngồi một mình suy ngẫm, bây giờ mình mới hiểu thâm ý nguyện vọng của mẹ, bà muốn mình có bầu dài dài, con đàn cháu đống thế mới là nhà có phước. Và trái bầu thiêng của mẹ ngày nào đã cho mình tám nhóc con hay ăn chóng lớn, tù tì dễ thương như trái bầu trái bí xứ “Thần Tiên”… Hẳn mẹ đã thỏa lòng nơi chín suối.

Ngồi một mình trong sân nhà nhìn ra lộ, thấy người ta đặt cống nước, lại nhớ năm nào mẹ dặn: “Con giùm rửa cái cống cho má”. Mình “dạ” rất ngoan. Người chị bạn dâu của mình nghe vậy liền nói: “Dạ, để con và thím Sáu cùng rửa”. Ăn cơm xong, chờ mọi người trong nhà đi nghỉ, mình và chị Năm xách nước rồi đứa quét đứa dội, chùi rửa cái cống cả buổi trưa, thật sạch. Cống thông thoáng, nước chảy, vui cả mắt. Bàn chải, chổi dừa cũng được rửa sạch, đem phơi. Công việc vừa xong, mẹ thức dậy uống nước, hỏi: “Rửa cái cống chưa con?”. Mình nhanh nhẩu đáp: “Dạ, con đã rửa sạch rồi”. Mẹ không nói, trố mắt nhìn, mình khẳng định lại: “Dạ, con với chị Năm quét rửa đến hai ba thùng nước mới sạch”. Mẹ ngừng uống nước, nói: “Nước ở đây quý hơn vàng, rửa có cái cống mà hai ba thùng nước”. Mình và chị Năm ngớ người, nhìn nhau hỏi qua ánh mắt: “Vậy là sao?”. Ý chừng hiểu ý hai con dâu, mẹ nói: “Nó đây nè” liền đưa cái ca nhôm còn sánh nước bà đang uống!!.

Không chỉ có thế, mình còn phải đối đầu với những “sự cố” tương tự khác như khi mẹ nói cái tợ thì mình phải hiểu đó là cái bàn. Mình ên là một mình, ăn “la sét” là ăn tráng miệng v.v. Và điều mình không hiểu nổi là do đâu mẹ cũng như hầu hết người ở đây có lối nói đảo ngược như: “làm giùm” thì nói “giùm làm”; “cất giùm” thì nói “giùm cất”…

Buổi chiều ngồi một mình nhìn biển cả mênh mông, thấy mặt trời đỏ rực từ từ lặn xuống biển, chợt nhận ra mình là kẻ bỏ xứ về dạy học nơi trời Tây xa xôi này để cho dưới mắt người địa phương thời ấy, mình mãi mãi không phải là người Việt Nam (!) mà là người Trung ọ ẹ. Ngày khai trường nhận lớp (năm 1965), sáng điểm danh 45 trự, chiều chạy đâu mất mươi mười lăm trự chỉ vì cái tội người Trung và hai tiếng “Việt Nam”. Muốn được tồn lưu tồn tại, mình phải học bắt chước giọng nói của họ, càng bớt trọ trẹ càng tốt, nhất là trong giờ chính tả mình đọc cho học sinh viết, như khi mình đọc hai từ “vi vút” đầy truyền cảm thì học trò thắc mắc hỏi:“Cô ơi dờ con de hay dờ cây dù?”. Mình ngớ ngẩn trả lời: “Trong bài đâu có con de hay cây dù nào”. Lần khác mình đọc “qua quýt”, chúng hỏi: “Phải quờ con quạ không cô ?”. Mình đáp: “Có quạ diều gì đâu em?”. Còn khi mình đọc “con sáo”, một số em lại viết “con sạo”. Và đau đớn nhất, khi mình bảo: “Em làm bài được không, để cô vẽ cho”. Bọn chúng trố mắt nói: “Dẽ gì cô, làm bài tập mà”.

Ôi thương các em nhỏ học trò, trước hết là thương mình, mình phải tức khắc chịu đánh mất, giấu biệt cái giọng miền Trung ọ ẹ ấy. Và trong cái mất, luôn sẵn chứa nhiều cái được mà bây giờ mình mới nhận ra.

Rốt cuộc ngồi một mình ở đâu, nhìn ra đâu cũng thấy nhớ, nhớ từng gốc me già bên cái giếng cổ, từng con quạ đen dạn dĩ, lanh lẹ, chực chờ mình ngồi làm cá ở xó xỉnh nào trong vườn nhà, nó cũng sà xuống tha đầu cá, ruột cá. Rồi là tiếng ễnh ương “ềnh oạp”, tiếng ếch nhái “rét rét” vang lên mỗi tối từ đầm nước vườn nhà ông Ba Lón sau trận mưa đầu mùa làm đinh tai nhức óc cả một xóm. Rồi là Ao Sen, ao Sà Lách, ao Rau Muống. Thơ mộng nhất là con đường hàng dương…

Ôi! Tất cả giờ đây đã đi vào kí ức của người Hà Tiên xưa. Trong nỗi nhớ miên man ấy, mình chợt nhận ra: Phát triển đổi mới là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Nhưng khi đối diện với “tất cả những đổi thay, cho dù là những đổi thay ta hằng mong ước nhất, cũng có một nỗi buồn âm thầm của nó”. Nếu ai chưa biết mang trong lòng cái “nỗi buồn âm thầm” ấy, hẳn… buồn tẻ lắm nhỉ. ■

               Nguyễn Phước Thị Liên. Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178  (2013)

Bìa quyển sách « đường về » của cô Nguyễn Phước Thị Liên

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 127/2011 có bài « Một lần sớt bát » trang 7

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 129/2011 có bài « Chùa Bà Tuần Phạm và tôi » trang 30

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 132/2011 có bài « Tiếng trống cửa thiền » trang 28

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 135/2011 có bài « Cái duyên thật diệu kỳ » trang 20

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 151/2012 có bài « Về Phù Dung cổ tự ở Hà Tiên » trang 34

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 173/2013 có bài « CHùa lạ giữa quần đảo hải tặc » trang 38

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 177/2013 có bài « Lễ Phật Đản với tuổi thơ tôi » trang 46

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 178/2013 có bài « Ngồi một mình » trang 48

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 203/2014 có bài « Chiếc áo » trang 54

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 207/2014 có bài « Vươn lên từ đời chợ » trang 50

Mục lục tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 214/2014 có bài « Một tấm lòng » trang 58

Hình ảnh: Cô Nguyễn Phước Thị Liên, Trương An Triêm…

Ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn

Thầy Cô và các bạn thân mến, bài viết nầy phần lớn dựa trên trí nhớ, một số tài liệu và hình ảnh xưa, và nhất là cũng dựa trên sự phỏng đoán chủ quan của mình, vì thế những điều viết trong bài cũng có thể là một sự kết luận chủ định sai với quá trình quá khứ, nhất là về địa chí nơi chốn của căn nhà sẽ nói trong bài…Tuy nhiên mình cũng hy vọng rằng bài viết sẽ đúng phần nào, mong thầy cô và các bạn, nhất là các bậc học giả đi trước, người kỳ cựu Hà Tiên đọc và chỉ giáo những sai lầm nếu có,..xin thành thật cảm tạ quý vị.

Ngày xưa trong những năm 60-70, lúc còn là học sinh của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, mình thường đi chơi thân với một số bạn cùng lớp, đúng là các bạn cùng lớp, vì với nhóm bạn nầy mình đã chơi thân ngay từ lúc vào lớp Đệ Thất (niên khóa 1964-1965) cho tới lúc năm lớp cuối của trường là năm học lớp Đệ Nhị (1969-1970)…Nhớm bạn đó gồm: Lý Cui (thường làm lớp trưởng), Lý Văn Tấn (Tấn Lý), Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài,…v….v…. Còn nhiều bạn nữa…Những năm đầu học bậc Trung Học, mình thường chơi đàn cùng với các bạn: Lý Cui, Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến…hay nói đúng hơn là mình theo học đàn guitare với bạn Lý Cui vì trong những năm 60 đó, phong trào chơi nhạc và chơi đàn rất thịnh hành trong giới học sinh.

Bạn Lý Văn Tấn có hai căn nhà mà nhóm bạn chúng mình rất thường lui tới chơi, căn nhà thứ nhất là của Ông Ngoại bạn Tấn, nhà ở ngay tại mé sông Đông Hồ, kế trụ sở xã Mỹ Đức, nếu từ dãy nhà ngủ Tô Châu đi về phía Đông Hồ thì sẽ gặp nhà Ông Ngoại bạn Tấn trước rồi sau đó là trụ sở xã Mý Đức. Xéo xéo trước nhà Ông Ngoại bạn Tấn bên mé sông chính là nhà vệ sinh, cất trên sông và có bắc cầu bằng cây ván đi ra…Nói đến đây phải giải thích một sự kiện nầy cho các đàn em và người đến Hà Tiên ở sau nầy rỏ: ngày xưa nói đến xã Mỹ Đức tức là nói phường Đông Hồ, phường Pháo Đài và phường Bình San bây giờ…Vì ngày xưa Hà Tiên là Quận lỵ nên chia thành nhiều xã, ngay tại chợ Hà Tiên đó là xã Mỹ Đức, tất cả người nào sinh sống ở chợ Hà Tiên đều thuộc về hành chánh xã Mỹ Đức. Chính mình trong khai sanh ghi là nơi sanh: Xã Mỹ Đức. Người ở chợ Hà Tiên rất gắn liền với xã Mỹ Đức, mỗi khi phải thị thực chử ký trên bản sao là phải xuống trụ sở xã Mỹ Đức để xin chử ký của ông Xã Trưởng. Có nhiều đời Ông Xã trưởng xã Mỹ Đức, nhưng ấn tượng nhiều nhất là Bác Hai Hồ Văn Điệp (người cùng tuổi thì thường kêu là Anh Hai, người con cháu thì thường kêu Chú Hai). Còn người tiếp nhận giấy tờ để trình lên Ông Xã Trưởng ký tên thì có một thời là chị Nguyễn Thị Hoa, cô thơ ký ở xã Mỹ Đức, người đã giúp ích rất nhiều cho chúng ta lúc phải đi thị thực chữ ký ở dưới xã Mỹ Đức…Mình còn nhớ hồi đó ở xã Mỹ Đức thì có chị Hoa còn cô thơ ký trên văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên thì là chị Trần Ý Chinh, chị của Trần Ý Hui học cùng lớp với mình…Có một lúc mình cũng phải đem giấy tờ bản sao lên tới trên Quận đưa cho chị Ý Chinh để xin chữ ký thị thực của Ông Quận Trưởng, đúng hơn là chính Ông Quận Phó thường ký tên,…Mình vẫn còn giữ một số giấy tờ bản sao do Ông Phó Quận ký tên: Lê Văn Ca (là ba của bạn Lê Mai Hoa học cùng lớp Đệ Thất với mình). Hiện nay vì Hà Tiên lên bậc Thị Xã nên xếp thành phường và xã Mỹ Đức bây giờ là xã ở ngay tại khu Thạch Động bây giờ (trong khi hồi xưa thì lại kêu là Ấp Thạch Động…).

Bạn Lý Văn Tấn, hình ảnh thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 60-70

Trở lại nói về ngôi nhà thứ hai của bạn Tấn Lý, như trên đã nói ngôi nhà ở dưới Đông Hồ là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý, còn ngôi nhà chính của ba má bạn Tấn Lý thì ở đường Mạc Thiên Tích dưới xóm Cầu Câu ngày xưa. Nếu từ chợ đi theo con đường Lam Sơn ra phía đường đi Mũi Nai, các bạn sẽ gặp ngả tư Lam Sơn-Mạc Thiên Tích, quẹo bên trái để đi theo con đường Mạc Thiên Tích về hướng Pháo Đài một lúc bạn sẽ gặp nhà của bạn Tấn Lý, nhà bên tay trái, trước khi đến nhà bạn Tấn Lý bạn sẽ gặp nhà của bạn Bùi Văn Tư xéo xéo bên tay phải. Còn nếu tiếp tục đi theo đường Mạc Thiên Tích một lúc nữa cũng về phía Pháo Đài thì sẽ gặp nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh bên phải.  Căn nhà của ba má bạn Tấn Lý đó rất rộng lớn, lợp « tôn », và rất dài từ trước ra tới phía sau. Hồi xưa người ta thường kêu ba của bạn Tấn Lý là Chú Tư, má của bạn Tấn Lý thường đi theo ghe bán hàng Hà Tiên -Rạch Giá, và cũng thường tới lui nhà mình giao thiệp với hia Tư chị Tư của mình (hia tư tên ở nhà là Hia Dảnh, tên giấy tờ là Lý Văn Nhiên, chị Tư bạn dì với mình tên ở nhà là chế Thìn, tên giấy tờ là Lê Thị Phượng, hai vợ chồng không có con, có tiệm may quần áo ngay ở nhà mình và thường qua núi Tô Châu theo học đạo với các nhà tu sĩ theo môn phái Khuất Thực, vì thế má của bạn Tấn Lý cũng theo anh Tư, chị Tư để qua Tô Châu học đạo với các nhà sư).

Hồi xưa đó, nhà của bạn Tấn Lý đường Mạc Thiên Tích nầy cũng là trụ sở của nhóm chơi dợt nhạc của mình, gồm có Lý Cui, Lý Văn Tịnh, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Trần văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh. Tuy nhà mình ở ngay đường Bạch Đằng tại chợ Hà Tiên đi tới nhà bạn Tấn Lý cũng khá xa nhưng ngày xưa mình thường hay thả bộ từ nhà mình tới nhà Tấn Lý để họp bạn chơi nhạc, và ngay cả cũng thường lội bộ cho tới nhà của bạn rất thân là Nguyễn Ngọc Thanh để rủ Thanh đi chơi…

Đã định xong vị trí nơi chốn của hai căn nhà của bạn Tấn Lý rồi bây giờ mình xin vô đề tài chính là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở xóm Đông Hồ. Ngày xưa nhóm bạn mình cũng thường kéo nhau tới nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở Đông Hồ đó để nhóm bạn nói chuyện chơi và cũng để chơi nhạc đàn ca…Ông Ngoại bạn Tấn Lý lúc đó cũng đã khá cao tuổi rồi, chiều chiều ông thường đem một túi xách nhỏ bày hàng bán trên vỉa hè trước tiệm cơm Xuân Thạnh, nhìn ra phía đường Bến Trần Hầu. Hàng bán của ông là một số ống « pipe » hút thuốc, ngày xưa Hà Tiên thường có nhiều người bán ống « pipe » hút thuốc làm bằng một loại cây dưới biển có màu đen huyền rất đẹp. Ống « pipe » hút thuốc tức là loại ống để mình gắn một điếu thuốc lá vào đầu ống và ngậm đầu kia mà hút, ngày xưa cách hút thuốc lá bằng ống « pipe » đó rất thịnh hành, có nhiều ống « pipe » làm bằng rể cây dưới biển có hình thù cong quẹo rất lại và đẹp mắt…Mấy ông bán hàng nầy thường trải một chiếc khăn tay vuông vắn ngay trên lề đường Trần Hầu và bày các ống « pipe » ra xắp xếp rất thứ tự đẹp mắt, lủ nhóc con như mình thời đó thường hay ngồi trước mặt gian hàng của mấy ông để nhìn ngắm và xem người ta đến hỏi mua, kèo nài giá cả…Sau một thời gian bán ống « pipe », Ông Ngoại bạn Tấn Lý chuyển sáng nghề cho quay số để bán đồ chơi trẻ nít. Mình cũng thường là bạn hàng của ông trong món hàng nầy, Ông thường nói với nhóm con nít mình thường đứng bu xung quanh ông: « Trật thì ăn kẹo, trúng lấy hết cái nầy nè..!! »…

Thao tài liệu sách vở và ngay chính ngày xưa khi nhóm bạn học trò mình tới chơi nhà Ông Ngoại của bạn Tấn Lý, mình đã có nghe nói căn nhà nầy ngày xưa nữa chính là nhà của thi sĩ Đông Hồ, ngay chính căn nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý là cứ điểm của « Trí Đức Học Xá » một loại trường học do Ông Đông Hồ sáng lập ra. Lúc đó chi nghe nói như vậy thôi, trí tò mò cũng dừng lại ở điểm đó chỉ biết là ừ nhà nầy hồi xưa là nhà của Ông Đông Hồ,…không ai hỏi thêm chi tiết tại sao Ông Đông Hồ không giữ lại căn nhà nầy hay không ai hỏi gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà của Ông Đông Hồ trong hoàn cảnh nào…??!! Tuy nhiên tất cả các bạn trong nhóm cũng lấy làm thú vị vì hiện mình đang tới lui chơi căn nhà xưa của Ông Đông Hồ…

Bây giờ tình cờ đọc bài bản nghiên cứu trên mạng mình được biết thêm nhiều chi tiết như sau: Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) sinh ra tại Hà Tiên, có một thời xưa ở Hà Tiên, ba mẹ mất sớm nên có người Bác ruột nuôi ông. Người Bác tên là Lâm Tấn Đức (hiệu là Hữu Lân 1866-1934), là người anh ruột của Ông Lâm Tấn Thoại cha của thi sĩ Đông Hồ. Ngôi nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý đầu tiên chính là căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức. Thời đó có một bậc Tiền Bối tên là Ngô Văn Chiêu là một học giả cao kiến, vào năm 1920 đổi về tình Hà Tiên làm việc, Ông Ngô Văn Chiêu thường lui tới nhà ông Lâm Tấn Đức để nói chuyện đạo và cầu cơ, ngoài ra ông Chiêu cũng thường lên đến Thạch Động để cầu cơ. Cơ về cho ông nhiều bài thơ và trong thơ có ý khuyên ông đi tu. Về sau ông Ngô Văn Chiêu đi tu đắc đạo và lập ra đạo Cao Đài, chính ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)  là một bậc tiền bối đầu tiên của đạo Cao Đài.

Vì thi sĩ Đông Hồ ở với người Bác nên ở ngay tại căn nhà của ông Bác dưới bờ sông Đông Hồ, cho đến năm 1926-1934 ông Đông Hồ lập ra Trí Đức Học Xá trụ sở ở ngay tại căn nhà của ông đang ở…Về sau thi sĩ Đông Hồ về Sài Gòn viết sách, làm báo và được mời giảng dạy ở trường Đại Học Sài Gòn…Không biết từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào căn nhà của Bác ông Đông Hồ, (sau là nhà của ông Đông Hồ) lại trở thành nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý, tức là gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà đó từ lúc nào thì mình không được biết rỏ…

Vậy là từ lúc những năm 1960-1970, mình cùng nhóm bạn học với bạn Lý Văn Tấn tới lui căn nhà Ông Ngoại bạn Tấn đó, cũng biết là đây là nhà xưa lúc trước của ông Đông Hồ nhưng không tìm hiểu gì thêm về lịch sữ căn nhà nầy…

Vài lời về bạn Lý Văn Tấn: Tấn Lý học chung lớp với mình suốt cả thời gian học Trung Học Hà Tiên. Bạn Tấn người cao lớn, rất vui tính, khi nói chuyện bạn Tấn thường hay cười to vui vẻ. Ngày xưa lúc còn đi học Tấn Lý có để ý một cô thiếu nữ người xóm Đông Hồ, tên là Diệu. Diệu là một cô gái dáng thon cao, tóc dài rất đẹp…Nhà Diệu ở xóm Đông Hồ đường Chi Lăng. nếu tính từ ngả tư Tô Châu- Chi Lăng đí về phía mé sông Đông Hồ thì nhà Diệu ở bên tay phải, đối diện với nhà Má Hai của mình ngày xưa (tức là nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, sau đó nhà Má Hai bán đi và mua qua căn nhà đường Tô Châu ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng, sau nữa nhà nầy do gia đình ông Quách Ngọc Bá mua lại). Cuối cùng thì bạn Tấn Lý cũng cưới được cô gái xóm Đông Hồ  tên là Diệu đó, hai người thành vợ chồng đến ngày nay..

Rốt cuộc các bạn biết sao không, mình cũng không rỏ tình tiết nhưng về sau nầy, rất xa sau năm 1975, người vợ cuối cùng của ông Đông Hồ là bà Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội từ Sài Gòn và sau khi ông Đông Hồ mất đi, vào năm 1995 bà trở về Hà Tiên mua chuộc lại căn nhà xưa và xin phép cất lại thành « Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ »…thật là kỳ diệu thay, thế là căn nhà xưa bao nhiêu năm về trước của người Bác chồng là Ông Lâm Tấn Đức đã hoàn trở lại thành nhà lưu niệm để tưởng nhớ thi sĩ Đông Hồ, người mà thời nhỏ cũng đă từng ở trong căn nhà nầy…Tất cả những tài liệu, tình tiết, chi tiết về những biến chuyển nầy các bạn nếu tò mò muốn tìm hiểu , mời các bạn tra cứu trên mạng sẽ được đọc rỏ hết cả, ở đây mình không nói hết chi tiết ra chỉ cốt yếu nói về căn nhà của một người bạn học cùng lớp ngày xưa, căn nhà mà mình và nhóm bạn mình rất thường lui tới một thời trẻ tuổi, để vui chơi đàn ca văn nghệ…

Tóm lại mình viết bài nầy vì mình đã bị ấn tượng rất mạnh khi tìm hiểu được lai lịch căn nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý và nhất là khi mình thấy được bức hình căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức đăng trong một bài báo về lịch sữ ông Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra Đạo Cao Đài, khi nhìn thấy hình căn nhà trong bài viết và có chú thích là nhà của Ông Đông Hồ từng ở ngày xưa, mình rất hoang mang đồng thời cũng rất thú vị và cũng không kém phần xúc động.. vì căn nhà đó là nơi mà mình và các bạn đã một thời lui tới vui chơi. Nếu không may những điều mình quả quyết và kế ra đi là không đúng sự thật thì cũng rất buồn nhưng mình cũng sẽ chấp nhận sự sai lệch của mình, mong các bạn và các bậc học giả cao tuổi có kinh nghiệm sống ở Hà Tiên vui lòng chỉ bảo cho thêm nhé,..Xin thành thật cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cuối đông 08/01/2018

Trần Văn Mãnh

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940.

Ông Lâm Tấn Đức (hiệu Hữu Lân 1866-1934) là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ và là chủ căn nhà trên

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp phía trước trụ sở xả Mỹ Đức, đường Đông Hồ, gần nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ngày xưa.

Nhà vệ sinh cất trên sông Hà Tiên xéo xéo đối diện với trụ sở xả Mỹ Đức ngày xưa.

Bạn Lý Cui (cầm đàn) đang đệm nhạc cho bạn Lý Văn Tịnh ca bài « Giữa Lòng Đất Mẹ » tại nhà của bạn Lý Văn Tấn trên đường Mạc Thiên Tích ngày xưa

Nhóm bạn đi chơi bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên). Lý Văn Tấn đứng trên cao bìa phải (khoảng những năm 1960-1970)

Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bạn Lý Văn Tấn hiện nay (bên phải và bạn Lâm Hữu Quyền bên trái)

Mặt trong của « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ » ngày nay do nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, vợ của Ông Đông Hồ cất lại trên nền nhà xưa của ông Đông Hồ (cũng là ngay nhà xưa mà Ông Ngoại bạn Tấn Lý có một thời gian ở đó)

Toàn cảnh mặt ngoài  « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ « ngày nay

Hình ảnh: Huệ Nhẫn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Bui Thi Đao Nguyên, B.C,

Tái bút: Được tin em Huỳnh Thị Sáu (học trò Hà Tiên xưa) bổ túc thêm chi tiết như sau: Ngôi nhà của gia đình ông Đông Hồ vẫn thuộc về của ông, trong thời gian ông Đông Hồ đi dạy học ở Sài Gòn thì cho người mướn lại để ở trong căn nhà đó, vì thế ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ở trong căn nhà đó là lúc mướn nhà để ở chớ không phải mua lại. Cám ơn em Sáu đã giúp thêm chi tiết nầy.

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Ở Hà Tiên chúng ta ai cũng biết Lầu Ba (còn được gọi là Lầu Ông Chánh). Lầu Ba được xây cất trên một ngọn đồi có tên là « Đồi Ngũ Hổ ». Tất cả các học sinh học trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đều biết Lầu Ba vì trường chúng ta nằm dưới chân đồi, tính từ trường đến đồi Ngũ Hổ thì qua một sân trường, một cái ao xà lách và một dảy phòng gọi là Phòng Thí Nghiệm, ngày xưa là phòng thí nghiệm của Trường Trung Học và có trang bị rất nhiều dụng cụ để thực tập Vật Lý và Hóa Học, sau đó dảy phòng thí nghiệm được dùng làm phòng học phụ thêm khi có chia lớp học sinh ngữ. Rất ít người được lên trên Lầu Ba vì từ ngay ngày xưa đã là căn cứ đóng quân của Địa Phương Quân Hà Tiên, sau đó là căn cứ Ban Chỉ Huy quân sự của chính quyền thị xả Hà Tiên. Có một lần mình được dịp lên Lầu Ba, lúc đó mình còn là một học sinh, vì có chơi văn nghệ đàn ca, nên có Đại Úy Thơ lúc đó chỉ huy quân đóng trên Lầu Ba, Đại Úy Thơ mời mình cùng một vài học sinh trong ban văn nghệ (trong đó có Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Ngọc Thanh) xách đàn lên Lầu Ba (đi từ ngả trường Trung Học, qua phòng thí nghiệm có một con đường nhỏ dẫn lên Lầu Ba). Lúc đó có một vài cố vấn Mỹ, vì Đại Úy Thơ muốn giới thiệu nhóm văn nghệ trường với các lính Mỹ nầy để cùng nhau đàn, hát một chút cho vui. Lúc đó mình còn nhớ có một người lính Mỹ da đen, có ca một bài và cùng lúc đệm đàn rất lướt mướt….

Bạn Trương Thanh Hùng (bút hiệu Giá Khê) có viết một bài về sự tích năm con cọp trên Đồi Ngũ Hổ, bài nầy có đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432 ngày 22/12/2016 (các bạn có thể tìm xem trên mạng). Sau đây xin đăng lại bài viết đó để chúng ta biết được một sự tích dân gian hay của Hà Tiên. (Trần Văn Mãnh viết lời nhập)

Sự tích Đồi Ngũ Hổ (tác giả: Giá Khê)

Về Hà Tiên, chúng ta sẽ nghe nói đến đồi Ngũ Hổ, hiện nay Ban chỉ huy Quân sự thị xã Hà Tiên đóng trên đồi, bên cạnh doanh trại có một ngôi miếu và tượng của 5 con hổ (4 con bằng gốm, một con bằng xi măng). Vào thời Pháp thuộc, viên chánh chủ tỉnh cất công thự ở trên đồi này nên có câu ca dao:

Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông
Thương em từ thuở má bồng
Bây giờ em lớn em lấy chồng bỏ anh.

Truyền thuyết kể lại rằng:

Ngày xưa, Hà Tiên còn khá hoang sơ, nhưng cửa biển Hà Tiên là nơi tránh sóng gió rất tốt nên thuyền buôn từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á qua lại thường ghé vào neo đậu tránh gió, đồng thời để lấy thêm nước ngọt.

Vào mùa khô, khi nước biển lấn vào Đông Hồ, nước ngọt từ sông Giang Thành không thể chảy xuống át nước mặn được, người dân địa phương phải dùng nước ao, nước giếng đào. Gần bên Đông Hồ có một ngọn đồi nhỏ và một ao nước ngọt cung cấp nước cho người dân tại chỗ khi đã hết mùa mưa. Từ đó có những người chuyên làm nghề gánh nước mướn đổi cho các ghe thuyền qua lại và dân mua bán.

Hôm nọ có một ông lão gánh nước mướn quảy đôi thùng với cây đòn gánh bằng gỗ mun đen bóng đến bên đồi lấy nước. Đang mùa khô nên thú rừng cũng phải tìm nước uống (lúc ấy rừng còn đến khu vực này) và chúng cũng hay đến đây uống nước. Khi ông lão đến gần ao nước thì có 4 con cọp vừa đến uống nước. Tấn thối lưỡng nan, ông lão không thể bỏ về mà không có nước cho người cần dùng; cũng không thể nhường cho lũ cọp nguồn nước quí giá này, ông quyết định đi tới ao nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu lũ cọp định làm hại ông.

Bốn con cọp thấy có người tranh giành nguồn nước, chúng gầm gừ dọa nạt. Thấy ông lão cứ đến, chúng bèn dàn trận đánh ông.

Ông lão để cặp thùng xuống, thủ cây đòn gánh trên tay, con cọp đầu tiên vừa nhào đến, ông liền ra đòn rất mạnh và rất hiểm đánh hất con cọp văng ra. Ông cũng định dọa cho chúng lui thôi, nhưng bầy cọp hung hãn quyết ăn thua đủ với ông, chúng cùng nhào vô đánh với ông. Biết không thể nhịn được, ông dùng những thế võ cực hiểm đánh trả làm cho chúng bị thương rất nặng nhưng chúng cũng không chịu rút lui, sau gần một buổi chiến đấu, buộc lòng ông phải hạ dần từng con cho đến khi chúng kiệt sức và chết hết.

Ông lão chống cây đòn gánh nhìn xác 4 con cọp rồi ông cũng trút hơi thở sau cùng vì quá kiệt sức.

Những người cần nước chờ ông lâu quá nên kéo nhau đến đồi thúc hối. Khi đến nơi, họ mới phát hiện ông lão đã chết giữa 4 con cọp, dáng dấp rất uy nghi.

Người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và 4 con cọp, cũng từ đó ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ.

Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống. Về Hà Tiên, lên đồi Ngũ Hổ thắp nén nhang tưởng nhớ người xưa cũng là một việc làm thú vị.

Hiện nay, vì cơ quan quân sự đóng trên đồi nên Ban chỉ huy có làm một con đường phía sau cho dân lên chiêm bái. (Giá Khê, theo bài đăng ngày 22/12/2016 Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432)

Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ)…Trung Học Hà Tiên những năm 60′. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, ngồi trên ở giữa: Lý Cui, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy,..Hà Tiên…60′. Phía sau cột cờ ta thấy phòng thí nghiệm (bên phải) và xa nữa là Lầu Ba.

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1960-1970)

Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (Phía sau ta thấy phòng thí nghiệm bên phải và xa nữa là Lầu Ba.)

Dương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu BaDương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu Ba

Đồi Ngũ Hổ với Lầu Ba ở giữa hình, bên trái Lầu Ba là dảy Phòng Thí Nghiệm, phía dưới Lầu Ba là dảy nhà thiếc: căn cứ Duyên Đoàn 44 Hãi Quân thời 1970, bên phải dảy nhà thiếc là sân vận động cũ của Hà Tiên. Phía dưới hình là một phần của Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ, phía xa là núi Đề Liêm, phía dưới là Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Học sinh của một lớp học Trung Học Hà Tiên chụp hình tại sân trường, phía sau ta thấy rỏ Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Trần Quyết Tới (con của Chú Tư Thiên tiệm hớt tóc Tư Thiên Hà Tiên), hình chụp năm 1981 trên Đồi Ngũ Hổ, phía sau Lầu Ba, sau lưng là cây cổ thụ Bao Báp (BaoBab Africain)

Quang cảnh Lầu Ba trên Đồi Ngũ Hổ chụp từ phía núi Tô Châu. Photo: Trương Minh Quang Nguyên 2012

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên) , du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên), du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Bàn thờ bên trong đền thờ Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ hiện nay (Hà Tiên 2017)

Chi tiết chữ viết trên bia thờ trên bàn thờ đền Ngũ Hổ (phía sau Lầu Ba) trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên 2017)

Lầu Ba hiện nay (ngôi nhà bên phải cột antenne và dưới Thạch Động). Hà Tiên. 2018

 

Chú thích hình:

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Dương Thị Phương Hà, Trần Hoàng Trang, Trần Quyết Tới, Rich Krebs, Lâm Lan, Minh Đức Dương

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành

Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » đã viết rất nhiều bài giới thiệu những thầy cô yêu quý đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên xưa, nếu không nhắc đến thầy Nguyễn Văn Thành thì sẽ là một thiếu sót đáng kể…Mình không biết trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta có tất cả là bao nhiêu đời Hiệu Trưởng nhưng theo mình biết trước thầy Nguyễn Văn Thành trường Hà Tiên chúng ta có hai thầy Hiệu Trưởng:  thầy Doãn Quốc Sỹ và sau đó là thầy Lại Xuân Quất (khi mình vào bậc Trung Học niên khóa 1964-1965 thì thầy Lại Xuân Quất đã là Hiệu Trưởng của trường. Sau đó có đợt giáo sư ở Sài Gòn được bổ nhiệm xuống trường Hà Tiên (khoảng năm 1964-1965), trong đó có thầy Nguyễn Văn Thành dạy môn Lý Hóa, khi mình vào lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1966-1967) thì thầy Thành bắt đầu nhận chức Hiệu Trưởng của trường Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Văn Thành cũng thuộc trong nhóm giáo sư ở trọ căn nhà số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên (Quý thầy ở trọ trong căn nhà nầy là: Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Hồng Ẩn, Phùng Tuấn Sinh, Nguyễn Văn Thành, Út, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Phan Văn Chiếu, Bùi Văn Cầm…..)

Trong khoảng thời gian đó sau khi có biến cố 1963, các tướng lảnh bắt đầu nắm quyền hành trong nước, lúc đó có tướng Nguyễn Khánh với bộ râu dưới càm rất lạ và rất oai. Thầy Nguyễn Văn Thành cũng theo phong cách để râu càm như vậy…

Lớp mình có nhiều kỷ niệm với thầy Thành, xin kể kỷ niệm thứ nhứt:

Vì thầy dạy môn Lý Hóa nên trong những giờ môn Vật Lý thầy thường giảng về các khái niệm: « Năng Lượng », « Điện Tích », « Điện Trường »,….và định luật Coulomb. Trong các ký hiệu dùng để diển tả công thức, thầy thường dùng ký hiệu Q (đọc theo âm Việt là « cu »…), và khi trên bảng thầy viết có hai công thức khác nhau nên thay vì dùng hai ký hiệu khác nhau Q1 và Q2, thầy lại dùng hai ký hiệu Q và q, thầy đọc trong lúc giảng… »cu lớn » và « cu bé »…!!! làm cả lớp cứ khúc khích cười không tập trung theo dỏi bài giảng được.

Kỷ niệm thứ hai:

Mình không nhớ vì một lý do gì đó mà thầy vào lớp để điều tra xem có học sinh nào làm một điều gì đó mà mình quên rồi, thầy đứng trước giữa lớp cứ hỏi to và nhiều lần: « Em nào vào đây ?? », « Em nào làm hãy cứ ra nhận lỗi ?? « ….Cả lớp im phăng phắt vì không ai ngu dại gì ra nhận tội….Cả lớp cứ chối: « Đâu có ai làm gì đâu thầy ơi…!! » Chờ và hỏi hoài không thấy có kết quả thầy giận quá thầy quát to: « Không ai « quô » đây thì ma quỷ nó « quô » đây …!! »….Câu nầy về sau mình và Lý Mạnh Thường rất thích cứ nhái đi nhái lại thầy hoài (dỉ nhiên là đâu dám nói trước mặt thầy…)

Kỷ niệm thứ ba:

Kỷ niệm nầy lại rất ghê gớm…Rất nhiều lần học trò thường hay đến chơi nhà quý thầy ở trọ (căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên), mỗi lần các học trò « thân » đến chơi, các bạn thường khai ra hết những chuyện bí ẩn trong lớp cho quý thầy biết,..Có lần đó không có mặt mình, có một nhóm bạn hình như là Lý Cui, Lý Văn Tấn,…đến nhà thầy chơi tối, không biết là thầy Thành tò mò hỏi các bạn nầy hay các bạn nầy tự khai ra mình không nhớ rỏ, mà các bạn đã khai ra hết trong lớp mình, ai là bồ của ai, hay là ai « yêu » thích ai.. …Thời đó trong lớp có Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm nhỉ) cặp bồ với bạn Quách Thị Chol, còn nhiều cặp nữa mà mình đã quên rồi, chắc lúc đó các bạn Lý Cui và Tấn Lý có khai trường hợp của mình nữa…Thầy Thành nghe các bạn khai hết như vậy rất thích, không biết thầy có ghi lại tên mỗi cặp cho dể nhớ hay không mà sáng hôm sau, có giờ thầy Thành dạy Vật Lý, thầy bắt đầu kêu tên trả bài, thầy cứ kêu tên một bạn nam và sau đó thầy kêu tới tên bạn nữ trong cặp nam nữ mà thầy đã biết đêm hôm qua, lúc đầu trong lớp không ai để ý, một lúc sau, cả lớp khám phá ra quy luật kêu tên trả bài của thầy Thành, lúc đó cả lớp hiểu ra chiến thuật đó nên rất thích chí và cười to mỗi khi có một nam và một nữ đúng tên trong một cặp bị kêu lên trả bài,…Bởi vậy khi thầy kêu tên bạn nam A thì cả lớp nói bạn nữ B phải chuẩn bị đó….(trong cặp nam nữ tên A và B)…Đọc đến đây chắc các bạn muốn thắc mắc vậy khi thầy Thành kêu tên mình lên trả bài thì sau đó sẽ kêu tên bạn nữ nào trong lớp,…?? Thôi mình không nói ra để cho các bạn học cùng lớp năm xưa đoán nhé,…  :-)…(bạn nào không biết cứ hỏi Hà Mỹ Oanh sẽ rỏ…  :-)…)

Kỷ niệm thứ tư:

Trong thời gian thầy Nguyễn Văn Thành làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên thì phong trào văn nghệ của trường phát triển khá mạnh. Mỗi dịp cuối năm trường làm lễ phát thưởng đều có kèm theo chương trình văn nghệ rất phong phú. Vì mình phụ trách đàn guitare đệm nhạc cho cả trường hát (có cả các bạn chơi guitare khác như Tống Châu Thành, Lý Cui,…) nên thầy Thành hứa là sẽ mua cho trường một dàn trống và một cây đàn điện Fender với cả ampli. Mình còn nhớ lúc thầy Thành nhân một chuyến đi về Sài Gòn công việc, khi trở xuống Hà Tiên, thầy có mua đem về dàn trống và một cây đàn điện Fender và ampli. Hôm đầu tuần thứ hai kế sau ngày thầy về, lúc đó có thông lệ làm lễ chào cờ đầu tuần. Học sinh cả trường ra sắp hàng ngoài sân trước cột cờ để làm lễ chào cờ, có ca bài Quốc Ca nữa. Lúc đó thầy kêu mình lên thử đàn guitare điện Fender mới mua, thầy kêu mình đệm đàn cho cả trường ca bài Quốc Ca… Không biết đến bây giờ số phận của cây đàn điện Fender và cái ampli đó ra sao rồi nhỉ???

Kỷ niệm thứ năm:

Kỷ niệm nầy rất thú vị và mình rất thích tuy bây giờ mình muốn kể lại đầy đủ chi tiết nhưng không làm sao nhớ ra được. Đó là việc vì thầy Nguyễn Văn Thành có nhiều bạn làm Sĩ Quan Hải Quân thời đó, thời đó các tàu Hải Quân thường vào ra ghé bến Hà Tiên (60-70), tàu đậu dưới Đài Kỷ Niệm chổ cầu tàu bến đậu của chiếc tàu đoan quan thuế. Lúc đó là ngày 20/06/1969, vị Sĩ Quan Thuyền trưởng chiếc tàu HQ-607 là bạn của thầy Thành nên ông nầy mời thầy Thành cùng tất cả học sinh trường Trung Học Hà Tiên đi một chuyến du ngoạn ở ngoài Hòn Nghệ. Thầy Thành đồng ý và thầy trò trường Hà Tiên chúng ta được một dịp lên chiếc tàu HQ-607 cùng ra khơi đi thăm Hòn Nghệ. Chuyện đi du ngoạn Hòn Nghệ trên chiếc tàu HQ-607 nầy rất thú vị và là đề tài cho một bài viết mà mình rất muốn viết lại để cho các bạn đọc Blog thưởng thức, tuy nhiên mình không còn nhớ nhiều các chi tiết về chuyến đi Hòn Nghệ nầy, mình rất lấy làm tiếc và nhân đây xin lên tiếng quý Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa những vị có mặt trên chuyến đi nầy xin cố gắng nhớ lại từng chi tiết, từng kỷ niệm chuyến đi và xin đóng góp cho mình các chi tiết đó, mình sẽ tổng hợp lại thành một bài viết để đọc cho vui nhớ về chuyện xưa nhé, rất cám ơn thầy cô và các bạn. Trong chuyến đi Hòn Nghệ nầy có đủ cả các bạn: Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Quách Ngọc Sơn, Trần Văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Mãnh,…Mai Thị Ngọc Minh, Nguyễn Nguyệt Hồng,…đủ hết rất nhiều có cả chị Huỳnh Thị Kim, chị Dung (con Ông Bà Ngữ) cùng lớp với chị Kim,…Mình còn nhớ khi các học sinh lên tàu ra khơi, vì sóng biển bắt đầu đánh nhấp nhô, đi được một lúc, ai nấy đều lừ đừ. ..Khi lên được ở trên Hòn Nghệ thì vui chơi cả ngày, có mua heo, vịt làm tiết canh vịt và cả nhóm bên học sinh nam cùng uống rượu với các anh Hải Quân… .Chiều lại trên chuyến về bị sóng đánh nữa nên ai nấy đều ói mửa đầy cả sàn tàu…khổ cho các anh thủy thủ và các quan chức trên tàu sau chuyến đi đó phải rửa tàu cho sạch lại. Tuy nhiên các chàng thủy thủ và các Sĩ Quân trên tàu rất thích và rất vui trong chuyến đi đó, vì các vị đó được dịp phục vụ các cô nàng nữ sinh Hà Tiên đẹp như mơ mà thường ngày các vị đó tìm cách làm quen nhưng chưa được,…

Vì thầy Nguyễn Văn Thành đảm nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng nên trong công việc điều hành sinh hoạt của trường lớp đôi khi cũng có một vài mâu thuẩn với các đồng nghiệp, và với cả với học sinh.Tuy nhiên theo mình nghĩ qua thời gian hơn 40, 50 năm nay ta nên gìn giữ lại những gì tốt đẹp của ngày xưa mà hãy quên đi những lúc khó khăn, tranh chấp,…Sống theo một tinh thần rộng lượng và thoải mái là tốt đẹp nhất trong những quan hệ xưa và nay.

                       Paris,  mùa lễ Toussaint 02/11/2017 Trần Văn Mãnh tự thuật…

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành mặc áo xám đứng giữa trong hình

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành  trao giải thưởng Danh Dự cho học sinh Trần Văn Mãnh trong ngày lễ phát thưởng cuối năm

Chữ ký tên của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành trong sổ Thông Tín Bạ

Chính trên chiếc tàu Tuần Duyên Hạm PGM Nam Du HQ-607 nầy cả thầy trò và học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đi chơi Hòn Nghệ ngày 20/06/1969 (PGM = Patrol Gunboat Motor)

Khưu Thiên Phước (hồi xưa Phước thường hoạt động trong Gia Đình Phật Tử chùa Tam Bảo, nay đã chết), Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ (cháu Dì Hai Sánh) và anh Chư (anh Chư nhà ở đường Bạch Đằng kế nhà Thầy La Từ Sự, anh Chư học chung lớp với Hải con ông Ba Nhan), hình chụp ngày 20/06/1969 trên tàu Hải Quân HQ-607 chở ra hòn Nghệ đi du ngoạn.

Sau đây là một vài cảm nghĩ của bạn Lâm Thị Lan viết về thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành:

Nhớ về thầy hiệu trưởng NGUYỄN VĂN THÀNH của Trung học Hà Tiên xưa.
Một người thầy hiền từ rất quan tâm tới học sinh nhất là đối tượng học sinh nghèo có ý chí vượt khó vươn lên. Thầy lại rất giỏi về chuyên môn nhất là môn Lý Hoá. Thầy có tư tưởng chuyên sâu đi vào nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao kiến thức cho học sinh, lại có tâm quyết đào tạo thế hệ người thầy tương lai cho những học sinh xuất thân từ Trung học Hà Tiên.
Cảm ơn và trân trọng những phẩm chất cao quý của Thầy ”Tất cả vì học sinh thân yêu” nơi mảnh đất xa xôi phía Tây Nam của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

Tác giả Lâm Thị Lan

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Phùng Học Thông

Tái Bút: Trong phần kể lại kỷ niệm thứ hai, bạn Lê Phước Dương có cho biết lý do tại sao thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành vào lớp mình hỏi để tìm ra thủ phạm: đó là vì có một học sinh vẻ một bức hình hí họa có ý trêu chọc ba người thầy: Thầy Hứa Văn Vàng (Giám Thị), thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng) và ông Thân (Thư Ký). Bức hình diển tả một trường hợp hơi có ý phạm thượng với ba người thầy đó nên thầy Thành rất giận, phải điều tra cho ra ai là học sinh vẻ hình đó để sửa sai…Không biết kết cuộc ra sao mình quên rồi nhưng Dương còn nhớ học sinh đó là bạn Chung Lưởng Tài, học cùng lớp với mình. Cám ơn bạn Lê Phước Dương đã đóng góp cho bài thêm đầy đủ chi tiết.

 

 

 


Bốn chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Hà Tiên (Hà Hưng Quốc)

1/ NGƯỜI THẦY DẠY TÔI GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHẢN BIỆN

Tôi gặp lại thầy Trương Minh Hiển lần thứ nhì vào năm 2007 (?) tại Sài Gòn. Lúc đó thầy đang dạy ở Đại Học Văn Lang. Thầy trò đã kéo nhau vào Bình Quới ăn trưa và tâm sự suốt mấy tiếng đồng hồ rồi sau đó kéo về căn chung cư chật hẹp của thầy ở Quận 4. Tại đây thầy Hiển trao cho tôi ba quyển sách: cuốn tiểu thuyết huyền sử Bà Chúa Xứ do thầy Hiển sáng tác, cuốn Địa Đàng ở Phương Đông của Dr. Oppenheimer do thầy Hiển dịch bản nháp bìa đóng bằng giấy thùng cạt tông, và cuốn Việt Điện U Linh Tập đã ngã màu. Nhờ lần gặp nhau đó mà tôi mới biết được tôi với thầy có một tương thích là đang nghiên cứu về cội nguồn đích thực của dân tộc. Đó là lần sau cùng tôi gặp thầy và vĩnh viễn không còn một cơ hội nào nữa.

            Lúc xưa thầy Hiển rất năng động và thích chính trường. Tôi nhớ là đám học sinh Trung Học Hà Tiên của chúng tôi đã từng đi khắp Hà Tiên vận động tranh cử cho thầy Hiển. Nhưng giấc mơ trở thành một nghị viên dân cử đã không thành. Người đã giúp khai phóng khả năng và giúp tôi tin vào giá trị của sự phản biện không ai khác hơn là thầy Trương Minh Hiển.

Thay_TruongMinhHienTrái: Thầy Trương Minh Hiển

            Tôi học quốc văn với thầy Hiển vào năm Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ. Ngoài việc giúp học trò chúng tôi tiếp thu kiến thức căn bản chiếu theo giáo án ấn định, thầy Hiển còn bỏ nhiều thời gian dạy chúng tôi làm thơ, viết văn, phân tích, tổng hợp, lý luận, phản biện, phỏng vấn, khảo sát thực địa, thí dụ như thầy đã từng đưa chúng tôi đến nhà ông Năm Bùn là một nhân vật trong truyện Cánh Buồm Đen của của Sơn Nam để phỏng vấn hoặc là đến nhà của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã từng cư ngụ để tìm lại dấu vết xưa. Ngay cả việc nhờ học trò chúng tôi đi vận động tranh cử, tuy thực sự là cần chúng tôi giúp đỡ nhưng đồng thời cũng là một phương pháp đào tạo của thầy qua hoạt động thực tiễn cho đám học trò của mình. Nếu chưa nhìn ra điều này thì chưa thực sự hiểu thầy. Những kinh nghiệm như vậy, cũng là những kỷ niệm không quên, là món quà vô giá mà thầy Hiển đã trao tặng cho chúng tôi năm xưa. Nhìn lại, tôi thật sự khâm phục thầy Hiển và phải tự nhận là sở dĩ tôi có được khả năng cầm bút ngày hôm nay một phần lớn là do thầy Hiển đã bỏ công sức uốn nắn lúc trước. Cảm ơn thầy, vị thầy kính yêu của con. Cảm ơn mớ hành trang vô giá mà thầy đã trao tặng mỗi đứa để giúp chúng con bước xuống cuộc đời một cách đầy tự tin và dùng năng lực đó để làm ấm những mảnh đời chung quanh.

2/ BƯỚC XUỐNG CUỘC ĐỜI

Cụm chữ « Bước xuống cuộc đời » làm cho tôi nghĩ tới một người. Một ngày của năm nào đó trong quá khứ, ba đứa chúng tôi đã bước ra khỏi cửa nhà của Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh để đi vòng vòng như mọi ngày. « Theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say, theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau, cho em . . . », Mãnh vừa đi vừa huýt gió một đoạn trong bản tình ca Vũng Lầy Của Chúng Ta mà chúng tôi rất ưa thích thời đó. Một đứa trong chúng tôi bước xuống lề và vô ý giẫm mạnh lên vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt đường làm nước bẩn văng trúng quần chúng tôi. Anh Dõng đã khựng lại nhìn xuống chỗ dính dơ trên quần của mình rồi lầm bầm trong miệng: « Tại sao là bước xuống cuộc đời mà không là bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời? » Đúng là ngớ ngẩn. Chẳng ăn nhập gì với vũng nước và cái quần bị làm dơ. Nhưng lại là thứ ngớ ngẩn bất chợt lóe lên trong tâm thức của một triết gia ở khoảnh khắc của một hiện tượng phát sinh và biến mất mà chỉ có hắn mới bắt kịp, kéo nó lại và treo nó lơ lửng, như bắt lấy một frame của video, và khám phá diện mạo rất mới của một hình ảnh cũ mèm nhạt nhẽo. Đó là anh bạn Dõng của tôi mà tôi biết. Và cái ngớ ngẩn thoát ra từ cửa miệng của anh ấy, dầu rất khẽ, đã bám theo tôi cho tới ngày hôm nay. Thú thật tôi vẫn chưa có câu trả lời là mình đã bước xuống cuộc đời, bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời. Anh có câu trả lời chưa vậy anh Dõng?  

TranvanDong1972TranvanManh1970

            Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Văn Mãnh

Dõng Mãnh tuy là hai anh em ruột nhưng bản chất hoàn toàn trái ngược. Anh Mãnh là mẫu người sống động, hào nhoáng, trẻ trung, thích vui, đam mê âm nhạc và có thiên khiếu chơi đàn guitar. Còn anh Dõng là mẫu người trầm lặng, sống nhiều với nội tâm, ăn nói nhỏ nhẹ, thích triết học, có khả năng tư duy cao, giỏi toán, rất mẫn cảm nhưng khéo che dấu cảm xúc và chỉ khi nào anh uống rượu thật say thì mới để lộ, không thích đấu khẩu tào lao nhưng khi cần tranh luận thì luôn tranh luận cho vị thế ngược với chỗ đứng của anh để giúp anh cũng cố thêm cho chỗ đứng của mình. Có lẽ vì vậy mà chưa bao giờ thấy anh nổi giận với ai. Người ta càng công kích mạnh mẽ chỗ đứng A của anh đưa ra thì anh càng cười khoái chí vì trong bụng anh biết rõ là anh không tin vào chỗ đứng A nên mượn người đối diện giúp anh phản biện để anh có cơ hội xác định giá trị của chỗ đứng B, ở đó mới thật là chọn lựa của anh. Rất thông minh. Và tôi đã áp dụng kỹ năng này trong vai trò quản trị công ty rất thuần thục. Trường học không có dạy nó. Tôi học từ anh Dõng năm xưa khi tôi có dịp quan sát anh tranh luận với các bạn khác. Cảm ơn món quà của anh nhé anh Dõng, anh bạn thân quí của tôi.

            Anh Dõng ít khi đi chơi riêng với tôi. Anh không có nhiều thì giờ để đi chơi vì bận học, vã lại anh cũng không mấy thích lang thang cả ngày như tôi. Trong những lần hiếm hoi cùng nhau ngồi uống cà phê hay trà đá ở quán cô Năm Lèo hoặc ở quán thương phế binh gần bờ sông thì hai anh em chúng tôi thích tán gẫu về triết học. Chia sẽ với nhau suy nghĩ của mình về những tác phẩm lớn của một thời như « Đôi Bạn Chân Tình » của nhà văn Thụy Sĩ gốc Đức Hermann Karl Hesse, « Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết » của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, « Kẻ Xa Lạ » của triết gia Pháp Albert Camus, « Buồn Ơi Chào Mi » của nhà văn Pháp Françoise Sagan, « Ngư Ông Và Biển Cả » của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, vân vân và vân vân. Chẳng biết lúc đó chúng tôi lĩnh hội được bao nhiêu, phê bình đúng hay sai, và sự hiểu biết có phủ đầy lá mít hay không nhưng một điều chắc chắn là lúc đó tôi rất nể ông anh triết gia (bởi bản chất) Trần Văn Dõng của trường Trung Học Hà Tiên.

3/ MỘ GIÓ

Bây giờ đang là những ngày đầu năm âm lịch năm Bính Thân 2016. Hội chợ Tết của người Việt ở Mile Square Park của Quận Cam được tổ chức thật đình đám. Nghe người ta nói là rất đông và vui. Tôi không có mặt ở đó vì bận đi thăm mộ bà nhạc mẫu. Ngồi lặng lẽ ở nghĩa trang suốt mấy tiếng đồng hồ, nhìn những mộ bia thẳng tấp nằm sát mặt đất phủ cỏ xanh, tôi liên tưởng đến những người bạn đã ngã xuống ngày xưa ấy….

NguyenNgocThanhTrái: Nguyễn Ngọc Thanh

            Rồi nghĩ tới những thằng bạn thời trung học. Lại nhớ tới một cái Tết nào đó năm xưa, vào ngày mùng 5 âm lịch thì phải, anh Nguyễn Ngọc Thanh đã lấy ghe chở cả đám ra đầu gành Bãi Nò ăn tiệc mừng năm mới. Hình như là có anh La Văn Cao, Anh Trần Văn Dõng, anh Nguyễn Đình Nguyên, anh Trần Văn Mãnh, anh Lê Phước Hải, anh Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Trang Việt Thánh và vài người nữa không nhớ hết, tuyệt nhiên không có lấy một bóng nữ. Chúng tôi bưng theo nào là bánh tét, nào là dưa hấu, nào là gà luộc và dĩ nhiên không thiếu bia rượu. Cả đám mặc tình mà tiệc tùng và nỗ như pháo xuân. Được một lúc thì ba thằng Dương, Kiệt, Thánh (?) lặng lẽ biến mất. Chừng nửa giờ sau thì một thằng trở về, đứng ờ một khoảng cách khá xa vừa gọi vừa quay đi « có chuyện lớn rồi đi tới đây nhanh lên. » Thế là cả bọn đi theo nó. Đến một góc núi, mũi ông Đốc Nhơn, thì thấy hai thằng quỷ kia đang xì xụp khấn vái trước một ngôi mộ, và trên mộ bia ghi « Tiến Sỹ Hà Quốc Hưng Chi Mộ ». Vừa vái vừa réo « Hưng ơi là là Hưng ơi sao mày đành lòng bỏ đi sớm vậy Hưng ơi là Hưng ơi ». Thiệt tình là tôi muốn nhào vô đá cho mỗi thằng một cái. Chơi chi mà ác nhơn. Mới đầu năm đầu tháng không chúc lành thì thôi có đâu lại trù cho mình chết yểu. Mà biết đâu mình sẽ quảnh củ tỏi sớm cũng không chừng. Ông thầy bói cà chớn nào đó đã nói là mình sẽ không sống qua 26 tuổi mà. Cả bọn ôm bụng cười với trò lí lắc này nhưng riêng tôi thì rất quạu. Mấy mươi năm qua rồi bây giờ nghĩ lại thấy vui vui. Biết đâu nhờ tụi nó khai tử tôi lúc đó mà tôi còn sống tới bây giờ với cái tên mới Hà Hưng Quốc sau khi qua Mỹ. Và biết đâu cũng nhờ lời tiên tri của tụi nó mà tôi đã học hành tới nơi tới chốn. Chỉ có trời biết, đất biết và tụi nó biết thôi.

4/ BỐN CHÀNG NGỰ LÂM PHÁO THỦ CỦA HÀ TIÊN

Kiệt, Thánh, Dương và tôi học cùng lớp. Bốn đứa chơi chung với nhau rất thân. Chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi dưới gốc cây da Chùa Lò Gạch đấu khẩu về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, có khi đấu khẩu đến cả tiếng đồng hồ, đến xùi cả bọt mép. Thường là tôi với Dương đứng về một phía của trận chiến tranh luận còn Kiệt với Thánh ở phía bên kia. Thời đó chúng tôi đã sớm có những quan tâm đến vấn đề chính trị và xã hội. Và có lẽ sự chọn lựa hướng đi của tương lai cũng đã định hình từ những ngày đó. Dầu đấu khẩu có gay gắt đến đâu thì cuối cùng chúng tôi vẫn là một nhóm bạn keo sơn. Nhiều khi keo sơn quá mức. Keo sơn đến độ cả bốn đứa đều cùng trồng cây si trước nhà của một giai nhân đất Hà. Cũng may là chỉ cạnh tranh nhau để giành sự chú ý của người đẹp ở mức độ vừa phải chứ chưa đến nổi phải oán ghét nhau. Tôi tin rằng tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ bị sức mẽ (có đúng không vậy quí cụ?). Cho đến ngay cả sau khi Thánh và Kiệt rời trường Trung Học Hà Tiên chuyển về Sài Gòn tiếp tục việc học thì sự gắn bó đó cũng vẫn không thay đổi.

TrangVietThanhTrái: Trang Việt Thánh

            Trong bốn đứa có lẽ Thánh là người suy nghĩ sâu sắc và chững chạc hơn cả. Có lẽ do suy nghĩ quá nhiều và nếm đủ hương vị mật đắng của tình yêu đầu đời quá sớm mà đầu Thánh đã lưa thưa tóc bạc từ khi còn đi học. Thánh có thói quen chỉ ngón tay cái lên trời hoặc xòe ngửa cả bàn tay ra phía trước lắc lắc lúc lý luận. Khi suy nghĩ lung lắm thì hay dùng ngón tay giữa gãy trên đỉnh đầu. Còn lúc bối rối hay muốn che dấu cảm xúc thì dùng một ngón tay của bàn tay trái khều khều chân tóc trước trán. Sau mấy mươi năm không biết Thánh đã thay đổi quán tánh đó chưa hay vẫn như vậy. Thánh giỏi toán, giỏi lý luận, đặc biệt là tam đoạn luận, và giỏi cả phản biện. Sau này nhờ Dương nói mà tôi mới biết thêm là Thánh còn có tài làm thơ với bút hiệu là Hoài Nhân.

« Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sỹ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông
Thuyền ai đó chơi vơi trôi dưới Nguyệt
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không. »
(Ngày Về -1970)

« Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!. »
                              (Dấu Tình -1969)

Đọc những dòng thơ của Thánh sáng tác từ thời trung học mà thấy lòng mình chơi vơi (và chới với) . Nếu tôi là « người ấy » thì chắc chắn tôi đã ngã gục trước những con chữ có linh hồn của hắn ngay. (Tuy nhiên, có một câu chắc chắn đã bị nàng trừ điểm là câu « dại dột yêu em nên chết cả đời« . Thánh ơi thằng con trai biết yêu sớm là thằng khôn trước tuổi. Yêu đúng đối tượng đáng yêu và nhờ đó mà mình có thể vắt máu trái tim ra viết những dòng thơ thì rõ là thằng con trai đó cực kỳ thông minh và sáng tạo chứ sao cho là dại dột. Ngày hôm nay khả năng cảm nhận, nắm lấy và diễn đạt những thứ xuất phát từ trái tim người ta gọi là « emotional intelligence » đó bạn. Tình yêu đích thực phải là « no return, no refund » nghe bạn).    

            Ngoài tài năng nổi trội, Thánh còn là người hào phóng và hết lòng với bạn. Có những lần Dương và tôi lang thang ở Sài Gòn phải nhờ đến sự giúp đỡ, Thánh đã không ngần ngại đem cầm cả dây chuyền vàng mẹ cho để cứu nguy bạn bè. Hiếm có. Cảm ơn nghe ông bạn.  

Trái: Trần Tuấn KiệtTranTuanKiet

                        Kiệt đẹp trai nhất trong bốn đứa lại thông minh. Thầy Hiển luôn khẳng định như vậy. Kiệt vui tính và hay làm trò. Phá phách cũng một cây xanh rờn. Bình thường thì có dáng vẽ rất thư sinh nhưng một khi đã nổi nóng thì dám chơi tới bến, bất kể hậu quả. Da của Kiệt rất trắng. Mỗi khi da cổ bắt đầu nổi lấm chấm đỏ là lúc Kiệt bắt đầu quạu. Và khi Kiệt đã thiệt quạu thì mặt đỏ gay. Lúc đó phải coi chừng. Sau này Kiệt lên Sài Gòn tiếp tục việc học ở trường Hưng Đạo nằm trên đường Cống Quỳnh rồi vào học kỹ thuật Phú Thọ (?). Khỏi cần giới thiệu thì cũng đủ biết Kiệt là một trong những học sinh ưu tú thời đó. Có vài lần ghé qua thăm Kiệt, hình như là nhà ở trong hẻm Bùi Viện (?), rồi cùng nhau lội bộ đi qua nhà Thánh. Bây giờ thì chẳng còn nhớ nhà Thánh nằm ở đường nào. Chỉ nhớ là có một lần đi ngang qua cầu Ông Lãnh bị chị em ta chọc ghẹo, và họ chỉ nhắm vào Kiệt vì cái tội đẹp trai, đã làm cho Kiệt lúng túng thấy rõ. Thì ra Trần Tuấn Kiệt không sợ trời không sợ đất lại sợ quí cô nương cầu Ông Lãnh.   Lần sau cùng gặp lại, sau bao nhiêu năm xa cách, Kiệt vẫn là Kiệt « quậy » của năm nào. Chỉ có điều là tóc đã muối tiêu và hình như có nhiều mỏi mệt. Duy có một điều không mỏi mệt sau ngần ấy năm là việc nhắc tên của một người. Còn ai khác nếu không phải là nàng, giai nhân của đất Hà.    

   LePhuocDuong     Trái: Lê Phước Dương

            Dương với tôi là cặp bài trùng. Tôi gọi má của Dương là Chị Hai từ khi tôi biết Dương. Má của Dương bảo tôi gọi như thế vì chị gọi ba tôi là Cậu Năm, hình như là bà con xa chi đó (?). Tôi ăn ở nhà Dương. Tôi ngũ ở nhà Dương. Đôi khi tôi mặc cả quần áo của Dương. Tôi đã từng nói đùa với Dương là tôi lớn lên nhờ chén cơm phiếu mẫu. Nhưng nói như vậy là không đúng và không biết quí ân tình của Chị Hai bởi vì phiếu mẫu cho cơm Hàn Tín là bố thí, vã lại tôi không phải là Hàn Tín, còn những bữa cơm của Chị Hai là những bữa cơm trộn cả thương yêu vào đó đối với cả hai đứa tôi chứ không phải bố thí. Chị Hai rất thương Dương và vì là cặp bài trùng nên Chị Hai cũng coi tôi như con trong nhà. Nhà Dương có một bộ phản gỗ đặt ở phòng khách cạnh cửa sổ. Trên chiếc phản gỗ đó tôi đã có không biết bao nhiêu giấc ngũ trưa. Nói tóm lại, tôi gần gũi với Dương nhiều hơn là gần gũi với anh em ruột của mình.

            Dương rất trực tính. Ngay trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Dương vẫn thường xài thanh long đao của Quan Công hoặc cặp búa lớn của Trình Giảo Kim. Tuy nghe giọng điệu có vẽ táo tợn nhưng Dương lại là một người rất mẫn cảm, yêu thơ văn và có khả năng sáng tác, lại rất thủy chung. Dương lưu trữ từng sự kiện ở quá khứ của bốn đứa trong bộ nhớ. Dương có thể đọc vanh vách từng bài thơ của bạn bè đã sáng tác. Dương cưu mang từng kỷ niệm trên lưng với tất cả tự hào và với tất cả sự trân trọng. Nghe đâu Dương cũng rất can đảm trên chiến trường. May là gãy súng sớm chứ nếu không thì đã leo cao hoặc lên bàn thờ ngồi từ lâu.

            Dương ví tôi giống như Dương Quá si mê Cô Long nhưng thiếu thủy chung của gã. Đúng quá. Để đáp lại, tôi muốn tặng Dương một bài thơ ngắn của sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh.

« Dòng sông không chảy hai lần
 Ai hay giọt nước tần ngần không trôi
Luyến lưu là chuyện nực cười
Tử sinh bám siết ngàn đời biết sao. »

Dương cũng ví tôi như Lệnh Hồ Xung hai đạo hắc bạch đều chơi, chánh tà đều chẳng cần phân biệt. Đúng luôn. Dương thường nói « sinh ra Dương là cha mẹ còn hiểu Dương chỉ có một mình Hưng, và ngược lại. » Chẳng sai. Nhưng riêng góc khuất tâm linh thì tôi e rằng Dương chưa thật thấy hết. Có lẽ bây giờ là cơ hội tốt để tôi mở luôn cánh cửa cuối cùng để cho thằng bạn thân nhìn thấy, thông qua những dòng thơ tôi sáng tác hơn 40 năm trước khi hai đứa vẫn còn ngồi chung dưới một mái trường,

« Khói cay và cỏ lã
Còn em no bóng tối
Còn anh no hẹn hò
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi anh
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi em
Còn Ta
Tiếng im từ lòng thẳm
Không có màu thời gian
Bến đậu vô cùng
No xót xa?
No hy vọng?
Gì?

Anh cuối xuống ngực em màu sữa
Tiếng thở em
Và tiếng thở anh
Hòa quyện
Như loài rắn ân cần làm tình trong đêm tối
Ta đến gần
Ôm mặt trời trong tay
Mặt trời lạnh trong tay
Lạnh thủy tinh
Giữ một mình
Nơi miền của miền
Anh im lặng
Em nụ cười ngu ngơ
Ta bỏ đi, lành lạnh
Em nghe không
Tiếng thở dài nơi anh?

Mở con mắt tre gai
Nhìn nhau qua ngục tối
Môi tìm môi âm thầm
Tay tìm tay vòng rắn
Tiếng động nào tháng năm. »

(Đơn Điệu – 1970)

Cánh cửa đã mở xong. Bên sau cánh cửa vừa mở đó, ai mới là Hưng?

HaQuocHung (2)Trái: Hà Quốc Hưng

            Tuy là đôi bạn chân tình nhưng Govinda đã chọn theo chân đức Phật để trú ngụ dưới cây dù giới hạnh và hưỡng sự an lạc của một đời sống phạm hạnh trong khi Siddhartha thì đã chọn con đường trãi nghiệm của bản thân để khám phá chính mình và khám phá sự vận hành của pháp giới. Và trên hành trình đó Siddhartha đã từng đi đến tột cùng của những trụy lạc. Tuy sa đọa đến vậy nhưng tiếng « OM » linh thiêng vẫn chưa bao giờ rời bỏ tâm thức Siddhartha. Người chèo đò Vasudeva đã phải chờ ở trên dòng sông cho đến khi Siddartha giác ngộ. (« Câu Chuyện Dòng Sông » – Hermann Hesse). Có thấy ra thực tướng của thằng bạn chưa vậy Dương?

            Vì tri ân bạn bè cũ chung trường nên hồi tưởng lại cho vui. Có khi tất cả chỉ là hư cấu. Thánh ơi, hãy lôi cổ thằng Dương ra gõ một cái vào đầu nó thật đau và nói cho nó biết thế nào là:

« Một con sông chảy, một con sông
Một hạt nước trôi ngay giữa dòng
Đến đi như thế là như thế
Cần gì phải hỏi đục hay trong.
Một mùa đông lạnh, một mùa đông
Một hạt nước bay giữa tuyết bông
Đến đi như thế là như thế
Lưu dấu làm chi giữa hư không.
Một cơn mưa qua, một cơn mưa
Một hạt nước rơi chạm lá thưa
Đến đi như thế là như thế
Tưởng chi âm điệu dứt hay chưa. »

                                            (Hà Hưng Quốc – Tết 2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng, Hoàng Thị Minh Liên

Nhớ Trường Trung Học Hà Tiên xưa (Trương Thanh Hùng)

                             NHỚ TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀ TIÊN XƯA

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta được thành lập từ khoảng năm 1955-1956, lúc đầu còn mượn cơ sở của trường Tiểu Học, theo thầy Trương Minh Đạt, đến năm 1956 mới bắt đầu xây dựng cơ sở mới gồm 4 phòng học trên đường Mạc Thiên Tích (cổng chính) và phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba.

DuongThiDiemHa (5)DuongThiPhuongHa (10)

Học trò chụp hình trong sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa (giữa hình là « Ao xà lách », phía xa là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba)

Tôi vào học đệ thất năm 1965, lúc đó trường đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì 1 môn phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng đến năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có thêm 1 lớp 6 và phân ra 6A (Anh văn), 6P (Pháp văn) mà chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học cho 1 lớp 6, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích. Sau đó tôi đi Rạch Giá học nên không biết phát triển thế nào.

Khoảng cách từ dãy phòng học chính và phòng thí nghiệm khá xa, chính giữa có 1 cái ao nước ngọt được gọi là “Ao xà lách” vì trước đây ao nước này vừa cung cấp nước dùng cho xóm dân dưới chân Lầu Ba, đồng thời cũng là ao nước tưới cho vườn rau xung quanh nên mới có tên là Ao xà lách.

TH_HaTien_1968Thầy Cô giáo và nhân viên Trường Trung Học Hà Tiên xưa

Theo cảm nhận của tôi, trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, sau này thêm từ “Công lập” là một ngôi trường nhỏ êm đềm nằm trong một thị trấn cũng êm đềm, bởi Hà Tiên là nơi “Đất Phật, người hiền”. Bạn học tôi, các lớp đàn anh cũng như những lớp học sau đều hiền lành, dễ thương và rất gắn bó với nhau. Các anh Trần Tấn Công, Trần Văn Danh, Trần Tiên, Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Cui, Lý Văn Tấn, Huỳnh Văn Năm. . . học chung với anh Trương Thái Minh của tôi đều rất dễ thương và gần gũi. Đặc biệt có anh Trần Tấn Công hay chở tôi trên chiếc xe đạp của anh đi rong trong thị trấn. Khoảng năm các anh học đệ tứ làm bích báo, tôi rất thích và học theo làm cho lớp mình. Trong lớp tôi có Trần Tuấn Anh (ở nhà tên Quới), anh của Trần Yến Phượng vẽ khá hay, hai anh em tôi cũng ra sức “o” cho tờ bích báo của lớp mình. Còn lớp sau cũng có bích báo đăng thơ của Quách Ngọc Điền mà tôi rất phục. Thú thật, còn với anh Mãnh thì tôi chỉ ngưỡng mộ từ xa mà thôi chứ ít gần.

TranVanManh_Hippy10TranVanManh_Hippy7

Phải: Gốc cây Bàng trước sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa. Trái: Ao xà lách và trại lính bên hông Trường.

Tuy nhiên, “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, hình như anh em chúng ta phá phách cũng không ít, mà chủ yếu là lên Núi Lăng giởn hớt, bẻ dừa, xoài, mít ăn. . . Ông Từ Nguơn hình như cũng dung túng cho sự phá phách đó. Có lần ông nói đại khái: « Tụi bây bẻ mít rồi dấu, tới khi mít chín thơm thì tao nghe mùi ra đem về, bắt chi mất công ». Mà thật như vậy.

TVM_ClasseTrái: Học trò chụp hình trước sân ngay tại cột cờ nhà Trường (Trần Tấn Công ở hàng trên bên trái)

Có lần tôi theo đàn anh lên Núi Lăng chơi trò rượt bắt rồi đến vườn xoài phía sau mộ Mạc Cửu hái trộm khá nhiều mang đến dưới gốc cây đa trước chùa Lò Gạch ăn. Đổ mồ hôi, khát nước, cắn miếng xoài thanh ca chua nó ngon ngọt làm sao. Tôi ăn hết 2 trái. Nhưng rồi nó ê răng, mấy ngày sau ăn cơm cũng còn bị ê. Tởn luôn.

Đến năm học đệ ngũ, lớp lớn nhất của buổi chiều, lại thêm tâm, sinh lý thay đổi nên hầu hết các bạn đệ ngũ đều có chút tự hào là lớp đàn anh nên có phần “lên mặt”, quậy nhiều hơn một chút. Nhiều bạn “có bồ” làm tôi cũng bắt chước, nhưng vì không có duyên nên sớm bị bỏ rơi !!!

Tôi nhớ năm này trường tổ chức cắm trại bên Thất Cao Đài với nhiều sinh hoạt rất vui. Lại có một lần tàu hải quân (hình như số hiệu HQ607) chở học sinh ra Hòn Nghệ tắm biển, chui vào hang đầu hòn rồi ăn tôm nhúng nước dừa tươi rất ngon. Khi về hầu hết anh em bị say sóng ói tùm lum, vào cả phòng hạm trưởng nằm la liệt.

P1190191 P1190192Một vài kỷ niệm nhỏ với trường Trung Học Hà Tiên xưa viết ra để Thầy Cô và các bạn đọc cho vui. Hẹn sẽ viết tiếp nếu các bạn không chê và anh Mãnh cho phép.

                                                                          TruongThanhHung

Giá Khê Trương Thanh Hùng 

(Sài Gòn 24-1-2016)                     



Hồi ký viết trong đêm Giáng Sinh về một người bạn đã sớm bỏ cuộc chơi (Hưng Hà)

Thầy Cô và các bạn thân mến, bạn Hưng trên đất khách qua một đêm Giáng Sinh trong không khí trong lành của tình thương Thiên Chúa, đã nhớ lại một người bạn những năm khó khăn, người bạn văn nghệ của đất Hà Tiên, và cũng là người bạn thân nhất của mình,….Đó là bạn Nguyễn Ngọc Thanh, người bạn học cùng lớp với mình suốt những năm trung học và còn đến với mình trong những năm mình đi học ở Cần Thơ…Sau thời gian mình đi dạy học, Thanh vẫn còn ở quê nhà Hà Tiên và đến với bạn Hưng để tiếp tục phục vụ sự nghiệp văn nghệ đời học sinh…Sau đây là một câu chuyện mà Hưng muốn viết lại để tưởng nhớ bạn Thanh của chúng ta……(29/12/2015 TVM)

                                                                                  Sau bữa ăn tối mọi người trong gia đình quây quần bên nhau cạnh lò sưởi để mở quà cáp, trao nhau những lời yêu thương và cảm tạ, chúc nhau những điều tốt đẹp, rồi ròn rã tán gẫu hết chuyện bên Tây đến chuyện bên Tàu mãi đến nửa đêm. Tất cả dường như rất hạnh phúc, gần gũi và đơn giản. Tôi cũng tham dự tán gẫu được một lúc rồi lặng lẽ rút lui ôm theo cái laptop chui vào phòng ngũ. Đêm nay là đêm Giáng Sinh 2015.

            Sau hơn 40 năm mới nối kết lại với thầy xưa bạn cũ của trường Trung Học Hà Tiên, có thể nói là tôi thực sự rất vui. Dầu là vậy, mấy tuần nay đâu đó trong một góc khuất của trái tim tôi cảm thấy thật buồn và thật nhớ một người bạn thân đã sớm bỏ cuộc chơi từ thập niên 1980. Trong đêm Giáng Sinh này, những dòng chữ tôi gõ xuống xin dành trọn vẹn cho người bạn đã khuất nhưng không mất, ít ra là với riêng tôi.

            Vâng, người bạn mà tôi muốn nói tới chính là Nguyễn Ngọc Thanh. Thanh xóm đạo. Bạn bè gọi một cách thân thương là Thanh « đui ». Thanh sỡ hữu một vóc dáng đồ sộ, có thể nói là đồ sộ nhất trong đám bạn. Vóc dáng « không khiêm nhường ai » làm cho Thanh có bề ngoài khá « ngầu ». Nhưng thật ra thì Thanh là một con người rất hiền lành. Ngược với cái cái thân ô dề to xương, cặp kính cận dầy trong cái gọng vuông màu đen nằm trên khuôn mặt chữ nhật với mái tóc mềm làm tôn lên cái chất văn vẽ nơi anh. Lúc im lặng suy tư thì nơi Thanh toát ra một cái gì đó rất phong trần, rất nghệ sĩ, rất trí thức và rất . . . đau đáu. Lúc Thanh mở miệng thì ồn ào. Thanh có tiếng nói rổn rảng và có giọng cười to rất thoải mái. Nơi nào có Thanh thì nơi đó có minh triết « nhảy ra » và không khí nơi đó rộn rã hẳn lên. Thanh dễ tính và nhiệt tình. Cũng giống như Mãnh, Thanh biết tạo ra những cảm hứng và sự thoải mái cho bạn và với bạn. Thanh trải đời và bản lãnh hơn bất cứ đứa nào trong đám bạn. Trải đời và bản lãnh vì Thanh trải qua nhiều bất hạnh và chịu nhiều áp lực của cuộc sống từ rất sớm. Thanh tiếp nhận những biến cố xảy đến với anh một cách trầm tỉnh, luôn giữ một thái độ rất « có văn hóa », và luôn biết cách xoay trở tìm lối thoát cho mọi vấn nạn. Thanh có đầy đủ những tố chất để thành công và xứng đáng để thành công trong cuộc đời này. Nhưng không may là, như anh thường nói, Trời « bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao » (Kiều).

            Cũng giống như các nhóm bạn khác ở « Trung Học Hà Tiên xưa », một đám bạn chơi chung với nhau nhưng tuổi tác và lớp học có thể cách nhau đến 3-4 năm. Dõng, Mãnh, Phi, Cao, Hưởng, Nguyên, Trung, Bình, Hải, Dương, Thánh, Kiệt và nhiều bạn khác nữa đều là bạn thân của nhau. Thanh lớn hơn tôi nhiều tuổi và học trước tôi đến vài lớp. Thanh gần gũi với tôi vì nhiều lý do. Một trong những lý do có lẽ là vì cô bạn gái của tôi ở Vị Thanh là dì bà con của anh. Một lý do khác có lẽ vì Thanh thích cái tính khí « hành giả côn đồ » của tôi. Còn tôi thì thần tượng cái kho tàng nằm trong đầu Thanh (nào là Jean Paul Sartre, nào là Françoise Sagan, nào là Hermann Hesse . . . nhiều lắm). Thanh lại đặc biệt ưa thích những bài thơ con cóc của tôi. Trong số những bài thơ của tôi thời đó, Thanh thích nhất bài « Tên Hành Giả Côn Đồ »:

Thấy không em
Ta, tên hành giả côn đồ
Bỏ bước chân đôi lang thang giữa hai dòng sinh mệnh
Hoang hủy cuộc đời theo mỗi nhịp rung
Khoát áo bihkkhu
Rao giảng nhiệm mầu quá khứ
Những nhiệm mầu niêm kín cửa như nhiên
Thấy không em
Ta, tên hành giả côn đồ
Lồng lộng điệu cười thư động
Chông chênh lối múa ngàn ngày
Tội nghiệp, trái tim ngục tù vô gián!
Tội nghiệp, bàn tay lần dấu uyên nguyên!
. . .

Tôi hỏi Thanh vì sao lại thích nó nhất thì anh nói « nó thể hiện đúng cảm xúc, nhân cách và trí tuệ của mày. Nói về cấu trúc âm thanh thì nó khó ngữi khó ngâm. Nhưng có dấu ấn ngôn ngữ rất riêng và có phong cách rất . . . côn đồ. » Tôi nói với Thanh « phá bỏ ràng buộc của thanh điệu, ôm chặt lấy cái sự thật thể hiện lúc chấp bút » là công ơn của Thầy Trương Minh Hiển đã điểm đạo cho lúc học Văn với thầy trong năm đệ ngũ. » Tôi cũng kể cho Thanh nghe chi tiết của lần điểm đạo đó:

« Thầy Hiển bắt cả lớp phải về nhà sáng tác một bài thơ để nộp lên cho thầy. Sau một tuần lễ ráng sức nặn nọt nắn nót, chúng tôi nộp thơ của mình lên để thầy chấm điểm và phê bình. Bài thơ của tôi được thầy phê bình là ‘rất trao chuốc, rất cầu kỳ, rất vững về kỹ thuật nhưng dỡ ẹt vì chỉ toàn là sáo ngữ’. Tôi nhớ là lúc đỏ mặt mình đã đỏ phừng nhưng có lẽ vì da khá đen nên không ai thấy. Kế tiếp thầy lại lôi bài thơ của Vương Đình Lộc, bạn học chung lớp thường gọi là Lốc, ra phê bình. Bài thơ khá vụn về nhưng đọc đến câu ‘chiều nay tôi chợt hỏi lòng’ thầy Hiển vỗ đùi mình kêu đét một tiếng tỏ ra thích thú rồi phán một câu ‘đây mới là cảm xúc chân thành của nhà thơ’ chứ không phải của ‘thợ làm thơ’ như em Hưng. Đến đây thì mặt tôi không đỏ nữa mà là tái mét. Thầy biết tôi không phục. Cuối giờ học thầy giữ riêng tôi lại và giải thích ‘trong 4 đứa em, em Kiệt là đẹp trai nhất lại thông minh, em Dương có trí nhớ tốt nhất và học giỏi, em Thánh thì già dặn nhất và giỏi lý luận, còn em thì lãng mạn và lãng phí nhất. Không chăm lo học hành là lãng phí. Không khai phóng được tài năng của mình là lãng phí. Thầy chê em trước mặt cả lớp là để em nhận ra sự quan trọng của lời thầy trao tặng cho riêng em. Thầy dám chắc em là loại ngọc tốt nhưng chưa phải là ngọc đẹp. Ráng lên.’ Tôi đứng yên ngẩn tò te một hồi lâu. Thầy nhìn tôi chầm chập. Chẳng nghe tôi nói gì, thầy đứng lên bước về phía cửa. Đến ngưỡng cửa thầy còn quay lại cười cười và phán thêm một câu ‘thầy còn biết là cả 4 em đều thích một thứ ngọc khác nhưng đừng có lộn xộn mà chết với thầy nghen.’ Tôi đứng ngẩn ngơ chả biết thầy muốn nói gì lúc đó. »

Thanh hỏi « Thầy Hiển nói ngọc khác là ngọc gì? » « Là Ngọc D. chớ ngọc gì, » tôi trả lời. Thanh cười sảng khoái và « nể thầy Hiển dễ sợ » khi nghe tôi thuật lại chuyện này.  

            Những năm về sau, trước khi vượt biển, Thanh và tôi gặp nhau thường xuyên hơn. Không chỉ gặp nhau ở Hà Tiên mà còn ở Kiên Giang, Cần Thơ, Sài Gòn. Gặp nhau chỉ để tán gẫu về văn thơ và thời cuộc. Có một ngày khi biết được ý định đi xa của tôi Thanh đã hỏi, « mầy nhất định một đi không trở lại? » Tôi đáp, « ừ, sẽ đi, nhưng nhất định phải trở lại. Và trở lại thăm quê hương thầy cô, bạn bè ». Thanh hỏi tiếp, « Mầy không thấy tội cho cho dì Nh.Ng. của tao hay sao? » Lúc đó, tôi còn nhớ là mình chỉ im lặng cười buồn. Có một cái gì đó quặn đau đến đứt ruột. « Thôi thì thôi thế, đoạn trường thế thôi, » tôi nghĩ thầm (thơ Phạm Thiên Thư). Vài ngày sau tôi đưa cho Thanh một bài thơ ngắn của tôi nhờ trao lại cho dì Nh.Ng. của Thanh, coi như là lời giã từ với nàng, và cũng là với Thanh.                 

« Giữa ngày hái giọt sương trong
Gởi trên mắt, hỏi có không hoa trời?
Hốt đầy bụi nửa cuộc chơi
Đùm trong áo mỏng nhắn lời tử sinh
Ta về với cõi vô thinh
Người giam thân giữa trần tình ghét thương
Thôi thì mỗi đứa một đường
Huyễn nào cũng ảo đoạn trường thì sao! »

Thanh hiểu ý thơ và ý tôi. Tôi đoán là Thanh cũng nhận ra nội hàm của bài thơ ẩn chứa tinh túy của kinh Kim Cang « Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện, ưng tác như thị quán. » Và có lẽ Thanh đã nghĩ tôi bị « tẩu hỏa nhập ma » mất rồi.

            Sau đó thì tôi ra đi. Thật xa. Tận đất Hoa Kỳ. Mỗi ngày phải cắm cúi vật lộn với cuộc sống mới nơi đất khách. Tôi cố « nhốt » tất cả ký ức vào ngăn kéo. Tôi không nghe nhạc, không làm thơ, không viết văn, cũng không đọc luôn cả thơ văn. Không để trống thời gian. Không cho phép mình nghĩ ngơi. Mỗi khóa học lấy tối thiểu là 21 giờ tín chỉ. Lại còn làm lao công từ 6 đến 8 tiếng một ngày để kiếm sống. Tôi chỉ biết một điều duy nhất là mình có một lời thề phải thực hiện. Trong tiến trình đó tôi trở thành một con người khác, rất khác so với con người mà thầy bạn cũ thường biết. Ít ra tôi nghĩ hay ngỡ là như vậy.  

            Rồi đột nhiên có một ngày, lúc đó tôi đã sắp hoàn tất chương trình đại học tại Florida, tôi nhận được một lá thơ của Thanh. Lần đầu tiên nơi đất khách tôi nhận được một lá thơ từ bạn cũ. Tôi nhớ là mình đã nhìn lá thơ thật lâu trước khi xé ra để đọc. Bàn tay tôi lúc đó dường như hơi run và lạnh dầu là giữa mùa hè. Tôi cũng nhớ là những cố gắng kềm chế của mình đã đổ ập một cách thảm hại ngay trước mặt của bao nhiêu người chung quanh. Chao ôi! Tôi đã không đủ mạnh để nhốt lại cảm xúc của mình. Ừ, thì tôi đã khóc. Khóc như đứa con nít.

            Trong thơ Thanh cho hay là anh và vợ con anh đang ở trong một trại tại Thái Lan. Lá thơ khá dài. Thanh nói đủ thứ chuyện. Dĩ nhiên là có cả chuyện dì Nh. Ng. của Thanh. Nhưng điều hứng thú nhất với Thanh là chuyện anh đã « gây sóng gió » (nguyên văn của Thanh) trong trại. Thanh đã viết, « mày còn nhớ liên khúc nhạc cảnh này không Hưng?

« Hãy cho tôi nói một lần, cho tôi nói một lần, một lần rồi thôi. Giết tôi đi rồi quên hết hận thù. Giết tôi đi rồi xóa hết ngục tù. Đừng đày đọa thân nhau. Hỡi những người thân tôi ơi, xin đừng khóc, xin đừng tiếc, xin đừng thiết tha chi. Tôi nằm xuống, nằm xuống đây, không tội gì, không tội gì với quê hương tôi.

            Anh thấy không, giờ đây em trở thành là quả phụ. Xin cài lên đây vành khăn tang vừa ướt máu tim anh. Anh ra đi khi tình yêu tràn nồng ấm. Anh ra đi nhưng lời anh còn mãi đó, còn mãi đó. Thân xác anh giờ đây đã trả về cát bụi. Anh yêu ơi, những lời anh là lửa cháy, là lửa cháy. . . »

Liên khúc nhạc cảnh này thì tôi biết rất rõ. Vì tôi là người đã sáng tác ra nó và phối cảnh cho đoàn văn nghệ của Hà Tiên trình diễn tại Kiên Lương năm xưa. Nhưng tôi đã quên mất nó từ rất lâu. Nếu Thanh không viết lại trong lá thơ thì có lẽ ngày hôm nay nó đã không còn lưu dấu.

            Lúc đó Hà Tiên có hai nhóm văn nghệ. Một nhóm do Lý Mạnh Thường hướng dẫn, tôi thường nói đùa là nhóm văn nghệ quí tộc, và một nhóm do anh Trí (con của ngài Yết Ma trên đường ra Thạch Động) và anh Thành (biệt kích) hướng dẫn, tôi gọi là nhóm văn nghệ bình dân. Tôi, Thanh, Nguyên (Duyên Đình) nằm trong nhóm văn nghệ bình dân này.

            Tôi và Nguyên đã từng cùng nhau soạn một vở kịch thơ vào một ngày cúng giỗ tại nhà Nguyên, vở Gọi Lửa. Nó được gợi ý trong lúc cả đám đang « say xỉn » và nhờ tiên rượu nhập thần mà tập thơ đã hình thành ngay trong ngày hôm đó. Riêng liên khúc nhạc cảnh « Người Tử Tù » là do tôi viết.

            Nhóm văn nghệ bình dân đã lấy cả hai tác phẩm cho vào chương trình lưu diễn tại Kiên Lương và Kiên Giang. Vở kịch thơ thì mượn câu chuyện tráng sĩ Kinh Kha sang Tần. Anh An (em anh Trí) là người chịu trách nhiệm đệm sáo trúc cho vở kịch thơ này. Còn liên khúc thì mượn cảnh pháp trường xử tội chàng Kinh Kha. Tôi nhận vai người chồng bị xử tội còn Hường (người em xứ Huế bán nón lá tại chợ Hà Tiên) nhận vai người vợ của tử tù. Chúng tôi tập dợt ráo riết tại nhà của anh Trí. Thanh có mặt thường xuyên ở những buổi diễn tập đó đến độ đã thuộc lòng lời của liên khúc không sót một chữ.

            Đoàn văn nghệ bình dân của Hà Tiên (không còn nhớ tên) trên dưới có khoảng 60 đứa khăn gói kéo nhau đi Kiên Lương lưu diễn. Đến Kiên Lương thì anh Trí và anh Thành liền xin phép trình diễn tại đó, dự tính là xong ở Kiên Lương thì kéo tới Kiên Giang. Nhưng cuối cùng có vài khó khăn. Sau khi họp bàn cùng anh em trong đoàn, chúng tôi quyết định sẽ trình diễn với các màn diển đơn giản hơn. Theo dự định, chúng tôi đã mướn lại một rạp hát cải lương đang lưu diễn tại Kiên Lương lúc đó và đã vén màn cho khán giả vào xem văn nghệ không tốn tiền.

            Đêm trình diễn là một đêm thật dài với chúng tôi. Khán giả kéo đến coi đông nghẹt. Lúc diễn vở kịch thơ nữa chừng thì An đã vô ý để cho người ta ăn cắp mất cây sáo ăn ý. Vừa diễn xong liên khúc thì có vài trở ngại. Nhờ có đông khán giả chen chút nên chúng tôi có đủ thời giờ thu xếp và ngưng hát, cả nhóm rút lui cả. Riêng tôi thì được một đứa em (không nhớ tên) đang có mặt tại sân khấu đêm diễn và từng là đoàn viên Thanh Niên Hồng Thập Tự Hà Tiên mà tôi là một trong những cựu huynh trưởng) hướng dẫn ra về. Và kể từ đêm ấy tôi không có dịp để quay lại Hà Tiên nữa. Còn Thanh thì không có mặt trong đêm trình diễn.

            Đó là tất cả những gì xoay quanh liên khúc nhạc cảnh mà Thanh nói đến trong lá thơ. Trong thơ Thanh cũng hứa là sẽ nói cho tôi nghe nhiều chuyện về dì Nh.Ng. của Thanh và chuyện của các bạn học cũ của xứ Hà.

            Bẳng đi một thời gian, khoảng chừng nửa năm sau, thì tôi nhận được một lá thơ khác gởi từ trại Thái Lan. Không phải là do Thanh viết. Vợ của Thanh báo cho tôi biết là Thanh đã qua đời. Thanh bị một tên vô loại nào đó ám hại chết trong trại trong lúc làm phận sự của một người chịu trách nhiệm đứng phân phát nước cho cư dân trong trại. Sau đó tôi cũng mất luôn liên lạc với vợ Thanh.

            Tôi không thể tưởng tượng được đoạn cuối của cuộc đời Thanh lại chấm dứt đầy máu me như vậy. Nhưng nó đã xảy ra. Có lần Thanh đã nói với tôi « thằng Mãnh nó chơi nhạc đến độ xuất thần. Có lần nó đang chơi nửa chừng thì dây đàn bị đứt. Nó vẫn tiếp tục chơi cho đến nốt cuối cùng của bản nhạc, chơi đến độ nhỏ máu trên những dây đàn còn lại. Tao ước gì một ngày nào đó cuộc đời tao sẽ chấm dứt như sợi dây đàn của thằng Mãnh. » Tôi chẳng được cái may mắn chứng kiến buổi chơi nhạc nào đó của Mãnh mà Thanh nói tới. Chẳng hiểu Thanh nói theo nghĩa bóng vì hâm mộ Mãnh hay theo nghĩa đen vì sự việc đã từng như thế. Nhưng lời ước của Thanh thì đã trở thành sự thật. Sinh mệnh của Nguyễn Ngọc Thanh đã chấm dứt đột ngột như một dây đàn đứt ngang trong lúc đang chơi. Ướt máu.

           Hình trái: Nguyễn Ngọc Thanh, hình phải: Hà Quốc Hưng (học sinh trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70             

Trong đêm Noel này có một giọt còn sót lại đã rớt xuống trong tâm thức và làm quặn đau trái tim. Một con người luôn hiếu hòa mà lại bị tước đoạt sinh mệnh. Thế mới đau. Nhưng mà thôi, trước hay sau gì thì mọi người cũng sẽ phải từ bỏ cuộc chơi thôi. Vậy thì, hãy tìm lấy bình yên nơi trú xứ vĩnh hằng đi Thanh ạ. Hy vọng là Thanh có thể lần theo tiếng hát của thiên thần để tìm đến với Chúa của bạn và nắm lấy bàn tay quyền năng của ngài. Cũng đừng quên cầu xin ngài ban bố « bình an dưới thế cho người thiện tâm » và cho tất cả cả bạn bè còn phải tiếp tục chơi tới nốt cuối của bản nhạc đời. Hallelujah!             

(tác giả bài viết: Hưng Hà)

NguyenNgocThanh_TranVanManh Nguyễn Ngọc Thanh (chấm đỏ), Trần Văn Mãnh (chấm xanh)

TVM_THHT_3

 

 Hình chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên khoảng 1968, với tờ bích báo của lớp mang tên « Đất Mẹ » vẻ theo kiểu chử Hán. Trái sang phải: Trần văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Thành Tài, Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh (và thủ bút của Thanh)

TVM_THHT_2

Chữ viết sau hình của Nguyễn Ngọc Thanh….
                 

TranVanDong_AnTiec (1)Bìa trái: Trần văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh. (bìa phải: Trần văn Mãnh)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng  

Bài đã đăng vào ngày 29/12/2015