Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên chúng ta đã có một bài do bạn Trương Thanh Hùng viết tựa bài là: »Về một câu đối », bài được xếp trong mục « Hình ảnh sinh hoạt nay » và do Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/02/20/ve-mot-cau-doi-truong-thanh-hung/

Hôm nay nhân dịp có một số hình về trường lớp do bạn Nguyễn Hữu Tâm cho lên trang fb nên mình sẽ gom góp các hình ảnh ngày xưa về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên nầy lại, để có được một bài giới thiệu về ngôi trường nầy, mình cũng giới thiệu lại bài viết mở đầu để thầy cô và các bạn đọc lại và nhớ các kỷ niệm mà chúng ta học sinh Tiểu Học Hà Tiên ai cũng đã từng sống qua…

Thực ra Trường Tiểu Học Hà Tiên được cất lên từ thời rất xa xưa (khoảng trước năm 1869). Sau đó khi người Pháp trở lại chiếm đóng Hà Tiên, vì chiến tranh các dinh thự công ốc đều bị tiêu hủy. Vào khoảng các năm 1947 – 1948 Trường Tiểu Học Hà Tiên được tái thiết lại, cổng chính quay ra đường Mạc Công Du (trong khi trước đó trường xưa thì cổng chính quay ra đường Đống Đa, theo tài liệu « Nghiên Cứu Hà Tiên do thầy Trương Minh Đạt viết). Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Đang làm lễ trong trường mà người dân tình cờ đi ngang trường là tự đứng lại, nếu có đội nón thì giở nón ra chào, khi hát hết Quốc ca thì mới tiếp tục đi , rất trang trọng. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(mời xem bài bạn Hùng viết…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu Học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào do anh Cù Mính con ông Tòng Sen bán, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối » vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là Mãnh, ai là Dõng, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Ngày xưa mình và anh Trần Văn Dõng vì là hai anh em sinh đôi, cùng ngày, tháng và năm sanh nên đều đi học chung một lớp suốt cả quá trình học Trường Tiểu học Hà Tiên. Ngay xưa hai anh em mình học rất sớm, ngay 6 tuổi đã vào lớp năm (còn gọi là lớp « chót » hay nghiêm trang hơn gọi là lớp vỡ lòng). Tuy nhiên lúc đó vì mới lần đầu tiên « bị bắt » đi học nên mình rất sợ đi học, việc nhập học của mình rất khó khăn (ngày xưa không có lớp mẫu giáo nên khi đi học là vào thẳng lớp vỡ lòng ngay). Những ngày đầu tiên bị nhà bắt phải đi học, mình thường hay trốn học, có lúc đã vào lớp rồi nhưng lại trốn, nhảy cữa sổ lớp ra ngoài chạy bộ về nhà, mình còn nhớ có hôm nhà nhờ anh Lê Quang Chánh (anh bà con bạn dì ruột với mình), anh Chánh chở mình bằng xe đạp để đưa đến trường, gần tới trường, đang ngồi phía sau yên xe đạp, mình bổng phóng khỏi xe và chạy ngược về không chịu vào trường học,…Bây giờ nghĩ lại cũng thấy lạ, vì hầu hết các trẻ em bây giờ hay là các con của mình đều chấp nhận đi học, đi đến trường lớp một cách dể đàng không có gì khó khăn hay có vẻ bị bắt buộc cả,..có lẻ trường học thời nay hấp dẫn và quyến rũ trẻ em hơn trường lớp ngày xưa…(Lúc đó mình còn nhớ học lớp vỡ lòng với Thầy La Từ Sự nhà thầy cũng ở đường Bạch Đằng gần nhà mình). Phải mấy tuần lễ sau mới êm cái vụ đi học lớp năm của hai anh em mình…

Rồi trong thời gian theo học các lớp Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm nào cũng có điểm tốt, được phát bảng Danh Dự và cuối năm đều được lên lớp trên. Trong những sinh hoạt của các lớp học Trường Tiểu Học, có thông lệ là trong lớp thầy cho lập một quyển vở gọi tên là « Sổ luân chuyển » hay « Tập luân chuyển », hồi đó mình cũng không hiểu gì lắm cái danh từ « luân chuyển », chỉ biết kêu tên quyển tập như vậy. Mà đúng như cái tên gọi của quyển tập nầy, vì mục đích của thầy dạy trong lớp là muốn lưu giữ các bài do học trò ghi chép trong các giờ học nên thầy đặt ra quyển tập nầy, quy định là mỗi ngày phải có một học trò trong lớp giữ quyển tập nầy và phải chép lại tất cả các bài giảng trong ngày đó vào quyển tập nầy. Mỗi lần mình nhớ tới ngày phải giữ « sổ luân chuyển » là hay bị lo, vì khi viết bài trong sổ thì phải cố gắng viết cho sạch sẽ và viết chữ phải đẹp nên mình rất lo và rất cẩn thận khi chép bài vào sổ. Mỗi khi tới ngày giữ sổ luân chuyển như vậy rất mất công vì chẳng những phải viết chữ đẹp, sạch sẽ trong sổ, mà sau đó cùng một lúc khi về nhà mình lại phải chép bài hôm đó trong quyển vở của mình để khi giao sổ luân chuyển cho học trò khác thì mình không bị thiếu bài hôm mình giữ sổ…

Còn một kỷ niệm khác trong thời học Trường Tiểu Học mình còn nhớ, khi học khoảng lớp tư thì thường là có môn « Toán », « Khoa Học Thường Thức », « Ngữ Vựng ». Môn « Ngữ Vựng » là môn học có mục đích giúp cho học sinh được làm giàu các từ ngữ dùng trong viết văn hay nói chuyện hằng ngày..Phương cách dạy môn nầy là như sau: Sau khi giảng dạy về chủ đề của môn « Ngữ Vựng » trong ngày, thầy cho học trò chép một bài tập gồm có bài một văn xuôi, trong bài nầy thỉnh thoảng có nhiều đoạn tương ứng với một từ ngữ và bị bỏ trống, có chấm chấm, học trò phải hiểu câu viết trong bài và phải điền đúng cái từ ngữ thiếu đó vào phần chấm chấm trong bài văn!. Mình còn nhớ có lúc đó học bài « Ngữ Vựng » về sự liên hệ bà con và cách xưng hô trong một gia đình, thí dụ như đối với người em của cha mình thì mình phải gọi là « chú », vợ của chú thì mình phải gọi là « thiếm »…Trong bài tập hôm đó, học trò phải điền các từ còn thiếu trong các phần có chấm chấm…(tức là phải tìm ra các từ thích hợp trong cách xưng hô như: chú, thiếm, cậu, mợ, ..v..v…). Mình còn nhớ là mình rất sợ cái bài tập nầy vì lúc đó còn nhỏ mình hoàn toàn không hiểu các cách xưng hô nầy, mình không hiểu gì cả, không biết phải điền vào các chổ chấm chấm trong bài bằng từ ngữ nào cả…

Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…

Đến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu « chuyển động », « động tử », « vòi nước chảy »,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Thầy Hà Phương Linh chuyên dạy lớp Tiếp Liên, (tên gọi Tiếp Liên là vì lớp nầy dành cho các học sinh thi rớt của năm lớp nhứt phải ở lại và vào lớp nầy, túc là lớp chuyển tiếp giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, lớp luyện thi cho năm sau thi lại để lên Trung Học). Thầy Linh dạy lớp tiếp liên rất hay, rất nỗi tiếng, sau năm học nầy mình thi đậu lên lớp Đệ Thất vì vậy trong bậc Trung Học mình học sau anh Trần Văn Dõng một năm. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd, (ba của Hào Kiệt là Ông Lâm Tấn Bình chủ tiệm thuốc tây Thanh Bình ở dưới chợ cá ngày xưa của Hà Tiên).

Nhân đây xin nhắc lại tên họ một số quý Thầy dạy trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa:  Lê Quang Phấn (ba của Thầy Lê Quang Thuyên, thầy Lê Quang Khanh), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình),…

Một vài học sinh bây giờ đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn còn nhớ tên họ quý Thầy Cô đã từng dạy cho mình thời còn ngồi ghế nhà Trường Tiểu Học, chẳng hạn như chị Nguyễn Thị Hoa cho biết danh sách quý thầy cô đã dạy chị thời còn học Tiểu Học như sau:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Thầy Phạm văn Ngà, (ba của em học sinh Phạm Quốc Viêt), Thầy Phạm Văn Ngà là giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên từ năm 1962, 1963, trước đó thầy dạy học tại Chợ Mới An Giang. Thầy mất tại Hà Tiên vào năm 2001, hưởng thọ 75 tuổi. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy Phạm văn Ngà, trước một lớp học của Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm 1960. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy Phạm Văn Ngà, trước dãy lớp học trường Tiểu Học Hà Tiên, năm 1970. Hình; Phạm Quốc Việt

Giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa. Bìa trái: Thầy Phạm văn Ngà, giữa: Thầy Hứa Văn Vàng. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương chụp trong vườn hoa nhà thầy ở đường Phương Thành, 1991 (hình: Therese Tran)

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từng lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) .

Bạn Trương Minh Quang Nguyên (con trai của thầy cô Trương Minh Đạt) có góp ý thêm về danh sách thầy cô dạy học Nguyên lúc còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp 1: thầy Hà Văn Thành (tự ông giáo Ngọt), lớp 2:  cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ bạn Nguyễn Hữu Tâm, lớp 3:  thầy Phan Liên Trì được ít tháng thầy mất nên sau đó học với cô Vân sau này là vợ thầy Hiếu cũng dạy cùng trường, lớp 4:  thầy Lâm Văn Núi, lớp 5: cô Dương Hồng Châu. Trường truóc 1975 còn có cô Thu dạy lớp nhất (lớp 5) không nhớ cô gốc ở đâu?

Ngoài quý Thầy Cô cao tuổi và đã dạy Trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên đã kể trên, thời 60-70 cũng có nhiều cô giáo trẻ cũng quê Hà Tiên hay có liên hệ tới Hà Tiên cũng về trường nhà dạy học như cô Nguyễn Phước Thị Liên (phu nhân của thầy Trương Minh Đạt) về Hà Tiên dạy năm 1965. Cô Dương Hồng Châu (mẹ của cô là cô Nhan cũng là giáo viên kỳ cựu của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên) về trường năm 1967.

Cô giáo Nguyễn Phước Thị Liên dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1965

Cô giáo Dương Hồng Châu dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1967

Ngoài ra mình còn nhớ trong thời gian đó có một cô giáo tên Mai ở trường Tiều Học Hà Tiên, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học cô thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác,…Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cô cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ cô, có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của cô. Theo sự nhớ lại của một số bạn học ngày xưa, cô Mai thường dạy lớp nhứt tức lớp cuối cùng của bậc Tiểu Học. Bạn Lâm Thị Lan còn nhớ có một lần sinh hoạt đầu tuần cô Mai nói về vấn đề cờ bạc và cô có nói câu: « cờ bạc là bác thằng bần, không theo cờ bạc thì còn gia sản ». Còn bạn Nguyễn Thị Điệp thì còn nhớ có học lớp nhứt với cô Mai, cô chỉ mặc áo màu trắng và màu nâu may theo mẫu áo của người tu. Hôm nào cô kêu đau đầu mà học sinh nói chuyện là cô cho quỳ gối hết cả lớp!!. Còn mình còn nhớ cô Mai thường vẻ hình lên một tờ giấy cứng trắng rất lớn, như loại giấy mình làm bích báo ngày xưa, cô vẻ các hình phạt dưới âm phủ có quỷ sứ cắt lưởi,….để khuyên răn học trò tụi mình. Mình còn nhớ như in trong đầu và như còn nghe qua lổ tai, câu cô Mai nói với mình: « Ăn cá là ít tội nhứt »…..Chử « ít » cô phát âm theo kiểu người Bắc …chắc cô cũng có gốc người Bắc….Bạn Tăng Thị Sáu thì còn nhớ cô Mai mặc áo màu cao khô là cô Mai Nguyễn dạy lớp 5, cô cũng đánh học trò dữ lắm đánh xong cô kêu học trò úp mặt xuống bàn để cô xin lỗi…!! Bạn Trần Quý Nương có cho biết rất nhiều thông tin về cô Mai: Ngày xưa khi còn dạy học, cô có một thời gian ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung,) trên đường đi Thạch Động. Tài Chung có một người cô ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai và cô của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. Cô của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên cô đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước cô của Tài Chung có dẩn Quý Nương đến thăm cô Mai.

Sau đây là một số hình ảnh do mình còn lưu giữ và góp nhặt do các học trò Hà Tiên xưa cung cấp, xin thành thật cám ơn tất cả.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: 1/Đựng, 2/Chúa, 3/Mạnh, 4/Tiếp, 5/Lâm Tấn Hào, 6/Thầy Pho, 7/?,8/?,9/? (không biết tên ba người bạn), 10/Lâm Tấn Kiệt, 11/?,12/? (không biết tên hai người bạn), 13/Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Trần Văn Dõng, 3/Trần Tấn Công, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/La Văn Hủi, 7/Trần Văn Mãnh, 8/Quân, 9/? (không biết tên một người bạn), 10/Pha.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: 1/? (không biết tên một người bạn), 2/Đựng, 3/Mạnh, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/Hòa, 7/Quân, 8/Thầy Pho, 9/Trần Văn Dõng, 10/?, 11/? (không biết tên hai người bạn), 12/Tiếp, 13/?, 14/? (không biết tên hai người bạn), 15/Chúa, 16/?,17/? (không biết tên hai người bạn). Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Lâm Tấn Hào,3/Trần Văn Mãnh, 4/Lâm Tấn Kiệt, 5/Trần Tấn Công, 6/? (không biết tên một người bạn).

Một lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

Một lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Trần Tố Chinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

Hình Lâm Ngọc Bích (con gái anh Nhum, tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Lý Thị Nhan (thân mẩu của cô Dương Hồng Châu), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Lý Thị Nhan.

Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa). Hàng Cô giáo từ trái qua: Cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Nguyễn Hữu Tâm), cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Đình Lôc, Vương Bình Phước).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ ba là thầy Hà Văn Thành tự Giáo Ngọt, người thứ 4 là thầy Núi, cô Lý Thị Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

Một lớp học trò nữ trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên, cô giáo trong hình là cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ của Nguyễn Hữu Tâm (hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1980)

Lớp học sinh nữ do cô giáo Tăng Ngọc Mỹ dạy của trường Tiểu Học Hà Tiên. Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1970)

Hai em học trò Trường Tiểu Học Hà Tiên nhận phần thưởng cuối năm. Em trai trong hình là Nguyễn Hữu Tâm. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm trước 1975)

Hai em học trò trường Tiểu Học Hà Tiên, em trai tên Nguyễn Hữu Tâm, em gái tên Vân. Phái sau lưng là dảy lớp học nam sinh. (Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Hai em học trò vừa nhận phần thưởng trước sân Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Quý cô giáo dạy Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời 60-70. Cô đứng bìa trái không biết tên. Ba cô kế là cô Cưởng, cô Ngọc Điệp (hiện ở Rạch Giá) và cô Mỹ Ngọc (dạy học ở Lộc Trỉ Mũi Nai Hà Tiên, hiện ở Texas, nước Mỹ). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Hình ảnh một vài cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: từ trái sang phải: thứ ba là cô Lý Thị Nhan (mẹ của cô Dương Hồng Châu), thứ năm là Bà Giáo Lộc (nhạc mẫu của Thầy Nguyễn Văn Nén), thứ bảy là cô Tăng Ngọc Dung, giáo viên Mẫu Giáo sau đó bị mất vì trúng đạn pháo kích), thứ chín là cô Lý Ánh Nguyệt (vừa mới mất)

Cô Lý Ánh Nguyệt giáo viên Trường Tiểu Học Hà Tiên (bìa phải) chụp trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên.

Từ trái qua phải: Thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, thầy Hứa Văn Vàng, dự đám cưới của hai em Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi. (Hình: Trần Thị Thúy Hằng)

Bìa trái: Thầy Hứa Văn Vàng (dự đám cưới của Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi). Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Bìa phải: Nguyễn Bích Thủy, người thứ ba từ phải qua trái: Cô Lâm Thị Ánh Tuyết. Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Ngôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Chú thích: 1/ Hồi xưa thời 1960-1970 tên gọi các lớp của Trường Tiểu Học là như sau: Lớp năm (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp tư, lớp ba, lớp nhì và cao nhất là lớp nhứt (lớp để thi lên bậc Trung Học vào lớp Đệ Thất). Trong khi đó sau 1975 thứ tự tên các lớp lại như sau: lớp 1 (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp 2, lớp 3, lớp 4, và lớp 5 (lớp để lên bậc Trung Học vào lớp 6)

2/ Theo tài liệu của bạn Trương Thanh Hùng, có một bảng danh sách quý Thầy Cô từng giảng dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên và hiện đã qua đời còn được niêm yết trong trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay, mình xin chép vào đây để thầy cô và các bạn tham khảo.

Nguyễn Văn Truyện, Trần Văn Sang, Nguyễn Văn Phẩm, Hứa Văn Bình, Nguyễn Văn Phi, Trần Minh Đạo, Huỳnh Thoại Bang, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Vàng, Diệp Chí Trung, Trương Hòa Thành, Nguyễn Văn Đặng, Lư Sanh Nho, Lục Phan, Phan Văn Viên, Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Thành, Hứa Văn Tài, Nguyễn Văn Mẩn, Nguyễn Văn Sữu, Lưu Kim Hầu, Nguyễn Tấn Phát, Hồ Thị Tân, Nguyễn Thị Nu, Phạm Văn Lai, Nguyễn Thị Liễu, Hồ Văn Nhi, Lý Văn Cải, Vương Giáp Thình, Nguyễn Văn Giỏi, Lê Đức Nguyên, Lê Quang Phấn, Huỳnh Quốc Minh, Lâm Quốc Hải, Lý Văn Nhơn, Lâm Tấn Phác, Trần Văn Canh, Võ Văn Hổ, Nguyễn Văn Tượng, Nguyễn Văn Vân, Đỗ Quý Tý, Nguyễn Văn Kiêm, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Trình Kim Chung, Lê Quang Thuyên, Nguyễn Văn Tửng, Trần Văn Hương, Trần Hòa Hùng, Phan Thị Tuyết Mai, Trương Tự Phát, Trần Văn Tường, Phạm Văn Nhan, Hà Văn Điền, Trần Văn Lọt, Trương Văn Vinh, Hà Văn Hoa, Lý Thị Nhan, Trần Thị Thứ, Hứa văn Vàng, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Ngà, Trần Phát Đạt, Trương Tường Oanh, Huỳnh Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ngọc Ty, Hà Ngọc Kiều, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Lầu, Hà Văn Thanh, Hà Mỹ Khôi, Trương Hà, Nguyễn Văn Hùng.

3/ Sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm như sau: Hồi mới vào học lớp năm (lớp đầu tiên) Trần Văn Mãnh rất sợ đi học. Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhờ đi đường trước quán Ty La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ « ai sao tôi vậy » nhưng có cái dở  là « ai làm bậy tui cũng làm theo », cũng đáng đời!!!).

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga, Lâm Ngọc Bích, Trần Tố Chinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phước Thị Liên, Trương Thị Uyên My, Dương Hồng Châu. Khiết Nha Huỳnh. Xin thành thật cám ơn sự đóng góp quý báo của quý vị.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Đài Kỷ Niệm hay Đài Chiến Sĩ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên nếu nói hẹn nhau tại Đài Kỷ Niệm thì ai cũng không thể không tìm ra được nơi hẹn, vì là người Hà Tiên thì ai cũng biết Đài Kỷ Niệm nằm ở đâu. Đài Kỷ Niệm là một thành phần quan trọng của quận Hà Tiên ngày xưa…Tất cả trẻ con Hà Tiên chúng ta đều có quảng đời thơ ấu vui chơi tại Đài Kỷ Niệm. Lớn hơn một chút khi trở thành thanh niên học sinh chúng ta cũng thường hay tụ tập tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào buổi chiều tối, bạn bè họp mặt nhau, nói chuyện đủ các đề tài, kẻ ngồi trên băng đá người lại leo lên băng để ngồi trên thành dựa của băng đá, nhìn ra mé sông, biển để hứng gió mát…

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên là nơi diển ra rất nhiều sinh hoạt sống động của người Hà Tiên chúng ta. Các trẻ con hay lớn hơn một chút cũng thường nhảy xuống sông , phía cầu tàu đoan (quan thuế)  để chơi trò bơi lội, người lớn thì cũng lấy cầu tàu đoan làm điểm bắt đầu để bơi lội về phía cầu phà bắc, ngay mé sông chợ Hà Tiên. Ngày xưa khi còn dạy môn thể dục tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, thầy Trịnh Học Ký cũng thường bơi lội mỗi buổi chiều từ phía cầu tàu đoan ở Đài Kỷ Niệm, thầy bơi về cầu phà bắc, thầy thường dùng kỷ thuật bơi rất độc đáo, ở trên bờ chỉ thấy Thầy hụp lên hụp xuống nước và mỗi lúc mỗi di động…

Thời mình còn trẻ, còn học sinh, chiều nào mình cũng xuống Đài Kỷ Niệm ngồi chơi với các bạn. các bạn thường tụ tập với mình dưới Đài Kỷ Niệm là; Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng, Lâm Tấn Kiệt, Lâm Tấn Hào, Khoa (con tiệm cơm Xuân Thạnh)….v.;v..

Ngoài ra Đài Kỷ Niệm cũng là nơi diễn ra các cuộc tranh đua trò chơi trong một ngày lễ. Mình còn nhớ mỗi khi có lễ Hai Bà Trưng, ở Đài Kỷ Niệm, ngưới ta có tổ chức cuộc thi « nấu cơm » dành cho các cô học sinh nữ, trò chơi « bịt mắt đánh chậu sành treo có chứa nước », khi thí sinh tham dự cầm một cây gậy dài, hai mắt bị bịt kín và quơ cây đập vào mục tiêu là các chậu sành treo lên và có chứa nước, hể chậu bị đập trúng thì bể nước và miểng sành văng tung tóe…

Ngay cả khi còn trẻ nhỏ, con nít cũng thường đến chơi ở Đài Kỷ Niệm, mình còn nhớ, ở Đài Kỷ Niệm có trang bị một cái cầu tuột, tuy bây giờ nghĩ lại nó không cao lắm, nhưng khi còn nhỏ đến chơi, đứng trên cầu tuột thấy rất cao và mình cũng rất sợ không dám nhảy xuống đất như các trẻ con khác,..

Có một năm đó mình còn nhớ rỏ, có chiếc tàu Hãi Quân (có thể là tàu HQ-607), tổ chức ăn lễ Giáng Sinh với học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (vì các học sinh đến để phục vụ văn nghệ chung vui với các anh em trên tàu Hãi Quân). Có bò quay tại chổ ngay tại vỉa hè kế mé sông..

Nói tóm lại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên tuy là nơi để ghi nhớ công ơn của các người lính thời xưa, (bởi vậy nên cũng được gọi là Đài Chiến Sĩ) nhưng theo mình nghĩ Đài Kỷ Niệm đúng là nơi ghi lại những kỷ niệm êm đềm của thời con nít, thời học sinh mới lớn và tất cả người Hà Tiên chúng ta ai ai cũng có một mảnh quá khứ liên hệ đến Đài Kỷ Niệm Hà Tiên. Ngày nay qua các giai đoạn thời gian, Đài Kỷ Niệm không còn lý do để tồn tại được nữa, người ta đã phá hủy nó đi, thay vào đó là một công trình bằng đá, tượng hình cho Hòn Phụ Tữ, xem cũng được được vì ít ra đó cũng là một hình ảnh quen thuộc mến yêu đối với người Hà Tiên chúng ta, nhưng sau đó vì nhu cầu cải tiến mới, Hòn Phụ Tữ bằng đá nầy cũng đã bị dời đi nới khác, thế vào đó là một công viên rộng lớn cho người Hà Tiên tha hồ tới lui, đi dạo hóng gió mát vào những buổi chiều nhạt nắng…Tuy nhiên, vật chất có dời đổi nhưng trong lòng người Hà Tiên , nhất là người Hà Tiên xa quê hương đều luôn giữ lại một hình ảnh Đài Kỷ Niệm xa xưa, nơi đã cho chúng ta một quảng đời niên thiếu với biết bao kỷ niệm cùng với bạn bè sống qua một quảng đầu đời….

Có một điều hơi lạ là đa số các hình ảnh về Đài Kỷ Niệm Hà Tiên mà mình giới thiệu nơi đây phần lớn là do các người lính Mỹ Hãi Quân đã từng có một thời gian đóng quân tại Hà Tiên chụp. Cũng nhờ có các hình nầy mà chúng ta còn thấy lại một Đài Kỷ Niệm ngày xưa mà các thế hệ đàn em đi sau có thể đã hoàn toàn quên mất…Chính chúng ta là người Hà Tiên mà chúng ta lại có rất ít hình về Đài Kỷ Niệm ngày xưa, cũng dể hiểu thôi vì chúng ta lúc đó là những học sinh, không có phương tiện máy móc để chụp hình vui chơi thời đó. Chỉ có các nhà chụp hình chuyên nghiệp ở Hà Tiên như Ông Quách Ngọc Bá, Phương Dung, Đức Quang…đã có chụp rất nhiều kiểu hình về Đài Kỷ Niệm, nhưng tiếc là những hình ảnh đó đã ít nhiều mai một đi, nếu bạn nào còn giữ được các hình ảnh nầy xin vui lòng đóng góp để Blog của chúng ta thêm phong phú hình ảnh hầu phục vụ các thế hệ đi sau tìm hiểu về quê hương đất nước Hà Tiên.

Đồn Cảnh Sát Hà Tiên bên hông chợ cá cũ Hà Tiên , bên trái hình là chợ cá cũ Hà Tiên, bên phải hình là khu phố đầu đường Trần Hầu và Tuần Phủ Đạt, phía xa hơn là Đài Kỷ Niệm Hà Tiên. Hình chụp trong những năm đầu 1960. Hình: Truman Library, do Arthur Z. Gardiner Papers sưu tầm.

Bên trái hình: Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, giữa hình: chợ cá cũ Hà Tiên, toàn cảnh bến sông Hà Tiên do người lính Mỹ chụp hình vào những năm 60-70. Hình: Truman Richey

Bên trái hình: Phía xa là Pháo Đài, Hà Tiên, bên phải hình: Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, và chợ cá cũ Hà Tiên, toàn cảnh bến sông Hà Tiên do người lính Mỹ chụp hình vào những năm 60-70. Hình: Truman Richey

Toàn cảnh công viên có Đài Kỷ Niệm và bến sông Hà Tiên, bên trái hình có nhà đo mực nước và chiếc tàu đoan quan thuế đang đậu bến, bên phải hình là chợ cá cũ Hà Tiên. Hình do người lính Mỹ chụp hình vào những năm 60-70. Hình: Truman Richey

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên với hàng chữ « Tổ Quốc Tri Ân ». Photo: Nguyễn Hữu Tâm, 1963

Lính Mỹ chụp hình trẻ em chơi ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên (1965) Em trai đứng bìa phải đúng là bạn Hồ (Huỳnh Minh Hà con trai Ông Thái Dũ chủ cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm). Photo: Cliff Rocheleau

Toàn cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên (bên trái), hình chụp dọc theo đường « Bến Trần Hầu ». Photo: BronsonHa (không xác định được năm nào nhưng chắc chắn là rất xưa)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, ta thấy rỏ có « cầu tuột » bằng gỗ cho trẻ em đến chơi. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Người dân Hà Tiên chụp hình trước Đàì Kỷ Niệm Hà Tiên. (trên đài ta thấy có ghi các chữ: Vong Linh Chiến Sĩ, Tổ Quốc Tri Ân). Photo: Nguyễn Hữu Tâm 1968. (Trong hình là cô giáo Tăng Ngọc Mỹ và hai con là Nguyễn Hữu Tâm và em gái tên Vân)

Người dân Hà Tiên chụp hình trước Đàì Kỷ Niệm Hà Tiên. (trên đài ta thấy có ghi các chữ: Vong Linh Chiến Sĩ, Tổ Quốc Tri Ân). Photo: Nguyễn Hữu Tâm 1968

Người dân Hà Tiên chụp hình trước Đàì Kỷ Niệm Hà Tiên. (Trong hình là em Trương Thị Uyên My con gái đầu lòng của thầy cô Trương Minh Đạt và Nguyễn Phước Thị Liên)

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên trong những năm trước 1960, phía sau là núi Tiểu Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại.

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên nhìn từ phía chợ cá xưa. Hình do một sĩ quan người Mỹ tên Rich Krebs (Captain USNR Ret) chụp vào khoảng 1968-1970

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên nhìn tàu trên sông Hà Tiên. Hình do một sĩ quan người Mỹ tên Rich Krebs (Captain USNR Ret) chụp vào khoảng 1968-1970

Một phần vỉa hè phía mé sông của Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp từ phía chợ cá xưa. Photo: Kim Lý (không xác đinh được năm nào)

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên đã mất đi, thay vào đó là cảnh Hòn Phụ Tữ bằng đá (hình chụp năm 2012, Trần Văn Mãnh)

Chợ cá xưa và Đài Kỷ Niệm Hà Tiên đã nhường chỗ cho một công viên rộng lớn. (Photo: SaiGontre 2014)

Đài Kỷ Niệm Hà Tiên đã biến mất và nhường chỗ cho một phần của một công viên rộng lớn (Công vien Trần Hầu), trải dài từ bến ghe tàu ngày xưa, qua chợ cá xưa và Đài Kỷ Niệm xưa. Hình Du Duong 2016

Hiện nay 2017, Hòn Phụ Tử bằng đá cũng đã bị dời đi, thay vào chổ ngày xưa là Đài Kỷ Niệm, hiên nay là một công viên rộng lớn. Photo: KhanhTuanTran

Khung cảnh Đài Kỷ Niệm hiện nay, đó là một công viên rộng lớn với tượng 7 nàng tiên…Photo: Huy Tran 2018

Tượng đài 7 nàng tiên ngày nay, khi xưa là Đài Kỷ Niệm Hà Tiên. Photo: Huy Tran, 2018

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Về Một Câu Đối (Trương Thanh Hùng)

Thầy Cô và các bạn thân mến, bạn Trương Thanh Hùng gởi bài viết nầy đã khá lâu nhưng mình còn chần chờ chưa lên trang trong Blog THHTX, lý do là vì mình muốn tìm xem có Thầy Cô hay bạn nào còn giữ được hình ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa để minh họa cho bài viết. Cho đến hôm nay mình vẫn chưa tìm ra được hình ngôi trường xưa, nên cho bài lên khuôn, với một số hình xưa nay như dưới đây. Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(xem bài bạn Hùng viết ở dưới…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối’ vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là ai, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Nhắc lại biết bao nhiêu kỹ niệm thấy vừa vui vừa buồn, thôi đến đây xong phần giới thiệu bài do bạn Trương Thanh Hùng viết, mời Thầy Cô và các bạn xem nhé,..Xin nói thêm là bạn Hùng đã có được tấm hình chụp « Bia Tiền Vãn », trong bia đó mình còn thấy và nhận ra tên họ của những vị Thầy Giáo ngày xưa đã có từng dạy qua các lớp Tiểu Học do mình trải qua,..Nhìn ra tên của các vị Thầy xưa nay đã khuất bóng mình không khỏi ngậm ngùi tưởng nhớ một thời êm đềm và đầy thú vị của tuổi học trò ngây ngô ngày xưa và cũng không bao giờ quên công ơn của các vị Thầy Cô đó một đời cống hiến cho sự nghiệp giáo dục con trẻ…Tên các Thầy mình nhận ra như: Lê Quang Phấn (ba của Thầy Thuyên, thầy Khanh…), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình)…                   Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu

VỀ MỘT CÂU ĐỐI

Đã là học sinh trường Trung học Hà Tiên xưa, có lẽ phần đông đều có học ở trường Tiểu học Hà Tiên, dù cũng có những bạn ở nơi khác chuyển đến. Tôi nhớ kỳ thi vào Đệ Thất năm học 1965-1966 có 4 lớp Nhất của trường Tiểu học Hà Tiên (khoảng 200 thí sinh), 1 lớp Nhất của trường tiểu học Kiên Lương (khoảng 50 thí sinh), năm đó thi đậu vào lớp Đệ Thất chỉ có 50 bạn. Chúng ta nhắc với nhau những kỷ niệm đẹp, vui buồn với trường Trung học Hà Tiên xưa, tưởng cũng nên nhắc đến ngôi trường Tiểu học thân yêu đó.

Lúc còn là học trò, văn phòng Hiệu Trưởng là nơi mà học trò rất “ngán” vì nếu bị “kêu lên văn phòng” tất có chuyện không hay, do đó văn phòng Hiệu Trưởng là nơi thâm nghiêm đối với học trò, ở trong đó có gì làm sao biết được.

May mắn, năm 1976, tôi được về làm việc tại trường. Trong văn phòng có một phòng dành riêng cho Hiệu Trưởng. Trên bức vách của phòng có một bàn thờ được gọi là bàn thờ “Tiền vãn”, trên đó có tên của tất cả các giáo viên đã từng dạy tại trường đã mất được khắc trên một miếng đồng. Hai bên bảng tên người đã khuất đó có hai câu đối mà tôi cho là rất hay, nay viết lại để các bạn nhớ về trường xưa. Hai câu đối đó là:

“MỘC ĐẠC VANG LỪNG, DỤC HẬU TẤN BƯỚC LÊN ĐÀI TIẾN HÓA

HẠNH ĐÀN VẮNG VẺ, CHẠNH TIÊN NHÂN KHÊU TỔ ĐUỐC QUAN HOÀI”

(Mộc đạc là cây thước, Hạnh đàn là nơi thờ cúng).

Tôi biết được tại Ty Tiểu học Rạch Giá có một ngôi miếu nhỏ gọi là “Niệm Sư Từ” thờ những giáo viên đã khuất nhưng tọa lạc ở một góc rất khiêm tốn. Riêng trường Tiểu học Hà Tiên có bàn thờ “Tiền vãn” đặt ngay trong văn phòng Hiệu trưởng rất trang nghiêm. Có phải chăng truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của Việt Nam đã được những người làm việc trong lảnh vực giáo dục của Hà Tiên, của các thầy cô Hà Tiên chúng ta thể hiện bằng tấm lòng thành kính ít nơi nào có được. Tôi cũng nghĩ có lẽ xứ sở Hà Tiên của chúng ta cùng với những thầy cô đáng kính đã un đúc cho bạn bè chúng ta vẫn còn nhớ nhau dù đã bao năm xa cách.                                                                                             

(tác giả: Giá Khê – Trươntruongthanhhungg Thanh Hùng, 20/02/2017)

bia_tho_thht_a

Bia « Tiền Vãn » trên bàn thờ, ta nhìn thấy có tên những vị Thầy Giáo ngày xưa

20170210_131709Bàn thờ « Tiền Vãn » đặt trong một văn phòng Trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay

ecoles_elementaires_hatien3aLớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: Đựng, Chúa, Mạnh, Tiếp, Lâm Tấn Hào, Thầy Pho, ?,?,?, Lâm Tấn Kiệt, ?,?, Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: Lợi, Trần Văn Dõng, Trần Tấn Công, ?, Điệp, La Văn Hủi, Trần Văn Mãnh, Quân, ?,?

ecoles_elementaires_hatien2aLớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: ?, Đựng, Mạnh, ?, Điệp, Hòa, Quân, Thầy Pho, Trần Văn Dõng, ?, ?, Tiếp, ?, ?, Chúa, ?,?. hàng dưới ngồi, trái qua phải: Lợi, Lâm Tấn Hào, Trần Văn Mãnh, Lâm Tấn Kiệt, Trần Tấn Công, ?

ecoles_elementaires_hatien1aMột lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

truongtieuhocht_lbvMột lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Chinh Trinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

lamngocbich_aHình Lâm Ngọc Bích (tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

lamngocbich_b

 và chừ viết của người bạn tặng hình.

maman_lamxuanmy_conhan

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Nhan (thân mẩu của Dương Hồng Minh), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Nhan.

truongtieuhochatienTrái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa)

Hàng Cô giáo từ trái qua: cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Hữu Tâm). Cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Đình lộc biệt danh là Cá Lốc).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ 4 là thầy Núi, cô Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

hoctro_tieuhochatienHọc trò vừa nhận phần thưởng trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên

congvao_truongtieuhochatienĐường vào Trường Tiểu Học Hà Tiên có hàng cây phượng vỹ rất đẹp
Cổng trường Tiểu hoc Hà Tiên,truớc mặt là trại gia binh hay goi là thành 18 (năm 1970)

TruongTieuHoc_DongHo_HaTienNgôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Bổ túc: sau khi xem bài viết chị Hoa Nguyễn có viết bổ túc vài chi tiết hay sau đây: Danh sách các Cô dạy chị Hoa Nguyễn lúc chị còn học Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từ lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) (TVM)

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga (Nga Lâm), Lâm Ngọc Bích, Chinh Trinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm (Tam Nguyen)