Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Publicités

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn

Thầy Cô và các bạn thân mến, bài viết nầy phần lớn dựa trên trí nhớ, một số tài liệu và hình ảnh xưa, và nhất là cũng dựa trên sự phỏng đoán chủ quan của mình, vì thế những điều viết trong bài cũng có thể là một sự kết luận chủ định sai với quá trình quá khứ, nhất là về địa chí nơi chốn của căn nhà sẽ nói trong bài…Tuy nhiên mình cũng hy vọng rằng bài viết sẽ đúng phần nào, mong thầy cô và các bạn, nhất là các bậc học giả đi trước, người kỳ cựu Hà Tiên đọc và chỉ giáo những sai lầm nếu có,..xin thành thật cảm tạ quý vị.

Ngày xưa trong những năm 60-70, lúc còn là học sinh của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, mình thường đi chơi thân với một số bạn cùng lớp, đúng là các bạn cùng lớp, vì với nhóm bạn nầy mình đã chơi thân ngay từ lúc vào lớp Đệ Thất (niên khóa 1964-1965) cho tới lúc năm lớp cuối của trường là năm học lớp Đệ Nhị (1969-1970)…Nhớm bạn đó gồm: Lý Cui (thường làm lớp trưởng), Lý Văn Tấn (Tấn Lý), Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài,…v….v…. Còn nhiều bạn nữa…Những năm đầu học bậc Trung Học, mình thường chơi đàn cùng với các bạn: Lý Cui, Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến…hay nói đúng hơn là mình theo học đàn guitare với bạn Lý Cui vì trong những năm 60 đó, phong trào chơi nhạc và chơi đàn rất thịnh hành trong giới học sinh.

Bạn Lý Văn Tấn có hai căn nhà mà nhóm bạn chúng mình rất thường lui tới chơi, căn nhà thứ nhất là của Ông Ngoại bạn Tấn, nhà ở ngay tại mé sông Đông Hồ, kế trụ sở xả Mỹ Đức, nếu từ dảy nhà ngủ Tô Châu đi về phía Đông Hồ thì sẽ gặp nhà Ông Ngoại bạn Tấn trước rồi sau đó là trụ sở xả Mý Đức. Xéo xéo trước nhà Ông Ngoại bạn Tấn bên mé sông chính là nhà vệ sinh, cất trên sông và có bắc cầu bằng cây đi ra…Nói đến đây phải giãi thích một sự kiện nầy cho các đàn em và người đến Hà Tiên ở sau nầy rỏ: ngày xưa nói đến xả Mỹ Đức tức là nói phường Đông Hồ, phường Pháo Đài và phường Bình San bây giờ…Vì ngày xưa Hà Tiên là Quận lỵ nên chia thành nhiều xả, ngay tại chợ Hà Tiên đó là xả Mỹ Đức, tất cả người nào sinh sống ở chợ Hà Tiên đều thuộc về hành chánh xả Mỹ Đức. Chính mình trong khai sanh ghi là nơi sanh: Xả Mỹ Đức. Người ở chợ Hà Tiên rất gắn liền với xả Mỹ Đức, mỗi khi phải thị thực chử ký trên bản sao là phải xuống trụ sở xả Mỹ Đức để xin chử ký của ông Xả Trưởng. Có nhiều đời Ông Xả trưởng xả Mỹ Đức, nhưng ấn tượng nhiều nhất là Bác Hai Hồ Văn Điệp (người cùng tuổi thì thường kêu là Anh Hai, người con cháu thì thường kêu Chú Hai). Còn người tiếp nhận giấy tờ để trình lên Ông Xả Trưởng ký tên thì có một thời là chị Nguyễn Thị Hoa, cô thơ ký ở Xả Mỹ Đức, người đã giúp ích rất nhiều cho chúng ta lúc phải đi thị thực chử ký ở dưới Xả Mỹ Đức…Mình còn nhớ hồi đó ở xả Mỹ Đức thì có chị Hoa còn cô thơ ký trên văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên thì là chị Trần Ý Chinh, chị của Trần Ý Hui học cùng lớp với mình…Có một lúc mình cũng phải đem giấy tờ bản sao lên tới trên Quận đưa cho chị Ý Chinh để xin chử ký thị thực của Ông Quận Trưởng, đúng hơn là chính Ông Quận Phó thường ký tên,…Mình vẫn còn giữ một số giấy tờ bản sao do Ông Phó Quận ký tên: Lê Văn Ca (là ba của bạn Lê Mai Hoa học cùng lớp Đệ Thất với mình). Hiện nay vì Hà Tiên lên bậc Thị Xả nên xếp thành phường và xả Mỹ Đức bây giờ là xả ở ngay tại khu Thạch Động bây giờ (trong khi hồi xưa thì lại kêu là Ấp Thạch Động…).

Bạn Lý Văn Tấn, hình ảnh thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 60-70

Trở lại nói về ngôi nhà thứ hai của bạn Tấn Lý, như trên đã nói ngôi nhà ở dưới Đông Hồ là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý, còn ngôi nhà chính của ba má bạn Tấn Lý thì ở đường Mạc Thiên Tích dưới xóm Cầu Câu ngày xưa. Nếu từ chợ đi theo con đường Lam Sơn ra phía đường đi Mũi Nai, các bạn sẽ gặp ngả tư Lam Sơn-Mạc Thiên Tích, quẹo bên trái để đi theo con đường Mạc Thiên Tích về hướng Pháo Đài một lúc bạn sẽ gặp nhà của bạn Tấn Lý, nhà bên tay trái, trước khi đến nhà bạn Tấn Lý bạn sẽ gặp nhà của bạn Bùi Văn Tư xéo xéo bên tay phải. Còn nếu tiếp tục đi theo đường Mạc Thiên Tích một lúc nữa cũng về phía Pháo Đài thì sẽ gặp nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh bên phải.  Căn nhà của ba má bạn Tấn Lý đó rất rộng lớn, lợp « tôn », và rất dài từ trước ra tới phía sau. Hồi xưa người ta thường kêu ba của bạn Tấn Lý là Chú Tư, má của bạn Tấn Lý thường đi theo ghe bán hàng Hà Tiên -Rạch Giá, và cũng thường tới lui nhà mình giao thiệp với hia Tư chị Tư của mình (hia tư tên ở nhà là Hia Dảnh, tên giấy tờ là Lý Văn Nhiên, chị Tư bạn dì với mình tên ở nhà là chế Thìn, tên giấy tờ là Lê Thị Phượng, hai vợ chồng không có con, có tiệm may quần áo ngay ở nhà mình và thường qua núi Tô Châu theo học đạo với các nhà tu sĩ theo môn phái Khuất Thực, vì thế má của bạn Tấn Lý cũng theo anh Tư, chị Tư để qua Tô Châu học đạo với các nhà sư).

Hồi xưa đó, nhà của bạn Tấn Lý đường Mạc Thiên Tích nầy cũng là trụ sở của nhóm chơi dợt nhạc của mình, gồm có Lý Cui, Lý Văn Tịnh, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Trần văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh. Tuy nhà mình ở ngay đường Bạch Đằng tại chợ Hà Tiên đi tới nhà bạn Tấn Lý cũng khá xa nhưng ngày xưa mình thường hay thả bộ từ nhà mình tới nhà Tấn Lý để họp bạn chơi nhạc, và ngay cả cũng thường lội bộ cho tới nhà của bạn rất thân là Nguyễn Ngọc Thanh để rủ Thanh đi chơi…

Đã định xong vị trí nơi chốn của hai căn nhà của bạn Tấn Lý rồi bây giờ mình xin vô đề tài chính là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở xóm Đông Hồ. Ngày xưa nhóm bạn mình cũng thường kéo nhau tới nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở Đông Hồ đó để nhóm bạn nói chuyện chơi và cũng để chơi nhạc đàn ca…Ông Ngoại bạn Tấn Lý lúc đó cũng đã khá cao tuổi rồi, chiều chiều ông thường đem một túi xách nhỏ bày hàng bán trên vỉa hè trước tiệm cơm Xuân Thạnh, nhìn ra phía đường Bến Trần Hầu. Hàng bán của ông là một số ống « pipe » hút thuốc, ngày xưa Hà Tiên thường có nhiều người bán ống « pipe » hút thuốc làm bằng một loại cây dưới biển có màu đen huyền rất đẹp. Ống « pipe » hút thuốc tức là loại ống để mình gắn một điếu thuốc lá vào đầu ống và ngậm đầu kia mà hút, ngày xưa cách hút thuốc lá bằng ống « pipe » đó rất thịnh hành, có nhiều ống « pipe » làm bằng rể cây dưới biển có hình thù cong quẹo rất lại và đẹp mắt…Mấy ông bán hàng nầy thường trải một chiếc khăn tay vuông vắn ngay trên lề đường Trần Hầu và bày các ống « pipe » ra xắp xếp rất thứ tự đẹp mắt, lủ nhóc con như mình thời đó thường hay ngồi trước mặt gian hàng của mấy ông để nhìn ngắm và xem người ta đến hỏi mua, kèo kỳ giá cả…Sau một thời gian bán ống « pipe », Ông Ngoại bạn Tấn Lý chuyển sáng nghề cho quay số để bán đồ chơi trẻ nít. Mình cũng thường là bạn hàng của ông trong món hàng nầy, Ông thường nói với nhóm con nít mình thường đứng bu xung quanh ông: « Trật thì ăn kẹo, trúng lấy hết cái nầy nè..!! »…

Thao tài liệu sách vở và ngay chính ngày xưa khi nhóm bạn học trò mình tới chơi nhà Ông Ngoại của bạn Tấn Lý, mình đã có nghe nói căn nhà nầy ngày xưa nữa chính là nhà của thi sĩ Đông Hồ, ngay chính căn nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý là cứ điểm của « Trí Đức Học Xá » một loại trường học do Ông Đông Hồ sáng lập ra. Lúc đó chi nghe nói như vậy thôi, trí tò mò cũng dừng lại ở điểm đó chỉ biết là ừ nhà nầy hồi xưa là nhà của Ông Đông Hồ,…không ai hỏi thêm chi tiết tại sao Ông Đông Hồ không giữ lại căn nhà nầy hay không ai hỏi gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà của Ông Đông Hồ trong hoàn cảnh nào…??!! Tuy nhiên tất cả các bạn trong nhóm cũng lấy làm thú vị vì hiện mình đang tới lui chơi căn nhà xưa của Ông Đông Hồ…

Bây giờ tình cờ đọc bài bản nghiên cứu trên mạng mình được biết thêm nhiều chi tiết như sau: Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) sinh ra tại Hà Tiên, có một thời xưa ở Hà Tiên, ba mẹ mất sớm nên có người Bác ruột nuôi ông. Người Bác tên là Lâm Tấn Đức (hiệu là Hữu Lân 1866-1934), là người anh ruột của Ông Lâm Tấn Thoại cha của thi sĩ Đông Hồ. Ngôi nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý đầu tiên chính là căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức. Thời đó có một bậc Tiền Bối tên là Ngô Văn Chiêu là một học giả cao kiến, vào năm 1920 đổi về tình Hà Tiên làm việc, Ông Ngô Văn Chiêu thường lui tới nhà ông Lâm Tấn Đức để nói chuyện đạo và cầu cơ, ngoài ra ông Chiêu cũng thường lên đến Thạch Động để cầu cơ. Cơ về cho ông nhiều bài thơ và trong thơ có ý khuyên ông đi tu. Về sau ông Ngô Văn Chiêu đi tu đắc đạo và lập ra đạo Cao Đài, chính ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)  là một bậc tiền bối đầu tiên của đạo Cao Đài.

Vì thi sĩ Đông Hồ ở với người Bác nên ở ngay tại căn nhà của ông Bác dưới bờ sông Đông Hồ, cho đến năm 1926-1934 ông Đông Hồ lập ra Trí Đức Học Xá trụ sở ở ngay tại căn nhà của ông đang ở…Về sau thi sĩ Đông Hồ về Sài Gòn viết sách, làm báo và được mời giảng dạy ở trường Đại Học Sài Gòn…Không biết từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào căn nhà của Bác ông Đông Hồ, (sau là nhà của ông Đông Hồ) lại trở thành nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý, tức là gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà đó từ lúc nào thì mình không được biết rỏ…

Vậy là từ lúc những năm 1960-1970, mình cùng nhóm bạn học với bạn Lý Văn Tấn tới lui căn nhà Ông Ngoại bạn Tấn đó, cũng biết là đây là nhà xưa lúc trước của ông Đông Hồ nhưng không tìm hiểu gì thêm về lịch sữ căn nhà nầy…

Vài lời về bạn Lý Văn Tấn: Tấn Lý học chung lớp với mình suốt cả thời gian học Trung Học Hà Tiên. Bạn Tấn người cao lớn, rất vui tính, khi nói chuyện bạn Tấn thường hay cười to vui vẻ. Ngày xưa lúc còn đi học Tấn Lý có để ý một cô thiếu nữ người xóm Đông Hồ, tên là Diệu. Diệu là một cô gái dáng thon cao, tóc dài rất đẹp…Nhà Diệu ở xóm Đông Hồ đường Chi Lăng. nếu tính từ ngả tư Tô Châu- Chi Lăng đí về phía mé sông Đông Hồ thì nhà Diệu ở bên tay phải, đối diện với nhà Má Hai của mình ngày xưa (tức là nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, sau đó nhà Má Hai bán đi và mua qua căn nhà đường Tô Châu ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng, sau nữa nhà nầy do gia đình ông Quách Ngọc Bá mua lại). Cuối cùng thì bạn Tấn Lý cũng cưới được cô gái xóm Đông Hồ  tên là Diệu đó, hai người thành vợ chồng đến ngày nay..

Rốt cuộc các bạn biết sao không, mình cũng không rỏ tình tiết nhưng về sau nầy, rất xa sau năm 1975, người vợ cuối cùng của ông Đông Hồ là bà Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội từ Sài Gòn và sau khi ông Đông Hồ mất đi, vào năm 1995 bà trở về Hà Tiên mua chuộc lại căn nhà xưa và xin phép cất lại thành « Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ »…thật là kỳ diệu thay, thế là căn nhà xưa bao nhiêu năm về trước của người Bác chồng là Ông Lâm Tấn Đức đã hoàn trở lại thành nhà lưu niệm để tưởng nhớ thi sĩ Đông Hồ, người mà thời nhỏ cũng đă từng ở trong căn nhà nầy…Tất cả những tài liệu, tình tiết, chi tiết về những biến chuyển nầy các bạn nếu tò mò muốn tìm hiểu , mời các bạn tra cứu trên mạng sẽ được đọc rỏ hết cả, ở đây mình không nói hết chi tiết ra chỉ cốt yếu nói về căn nhà của một người bạn học cùng lớp ngày xưa, căn nhà mà mình và nhóm bạn mình rất thường lui tới một thời trẻ tuổi, để vui chơi đàn ca văn nghệ…

Tóm lại mình viết bài nầy vì mình đã bị ấn tượng rất mạnh khi tìm hiểu được lai lịch căn nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý và nhất là khi mình thấy được bức hình căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức đăng trong một bài báo về lịch sữ ông Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra Đạo Cao Đài, khi nhìn thấy hình căn nhà trong bài viết và có chú thích là nhà của Ông Đông Hồ từng ở ngày xưa, mình rất hoang mang đồng thời cũng rất thú vị và cũng không kém phần xúc động.. vì căn nhà đó là nơi mà mình và các bạn đã một thời lui tới vui chơi. Nếu không may những điều mình quả quyết và kế ra đi là không đúng sự thật thì cũng rất buồn nhưng mình cũng sẽ chấp nhận sự sai lệch của mình, mong các bạn và các bậc học giả cao tuổi có kinh nghiệm sống ở Hà Tiên vui lòng chỉ bảo cho thêm nhé,..Xin thành thật cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cuối đông 08/01/2018

Trần Văn Mãnh

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940.

Ông Lâm Tấn Đức (hiệu Hữu Lân 1866-1934) là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ và là chủ căn nhà trên

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp phía trước trụ sở xả Mỹ Đức, đường Đông Hồ, gần nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ngày xưa.

Nhà vệ sinh cất trên sông Hà Tiên xéo xéo đối diện với trụ sở xả Mỹ Đức ngày xưa.

Bạn Lý Cui (cầm đàn) đang đệm nhạc cho bạn Lý Văn Tịnh ca bài « Giữa Lòng Đất Mẹ » tại nhà của bạn Lý Văn Tấn trên đường Mạc Thiên Tích ngày xưa

Nhóm bạn đi chơi bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên). Lý Văn Tấn đứng trên cao bìa phải (khoảng những năm 1960-1970)

Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bạn Lý Văn Tấn hiện nay (bên phải và bạn Lâm Hữu Quyền bên trái)

Mặt trong của « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ » ngày nay do nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, vợ của Ông Đông Hồ cất lại trên nền nhà xưa của ông Đông Hồ (cũng là ngay nhà xưa mà Ông Ngoại bạn Tấn Lý có một thời gian ở đó)

Toàn cảnh mặt ngoài  « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ « ngày nay

Hình ảnh: Huệ Nhẫn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Bui Thi Đao Nguyên, B.C,

Tái bút: Được tin em Huỳnh Thị Sáu (học trò Hà Tiên xưa) bổ túc thêm chi tiết như sau: Ngôi nhà của gia đình ông Đông Hồ vẫn thuộc về của ông, trong thời gian ông Đông Hồ đi dạy học ở Sài Gòn thì cho người mướn lại để ở trong căn nhà đó, vì thế ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ở trong căn nhà đó là lúc mướn nhà để ở chớ không phải mua lại. Cám ơn em Sáu đã giúp thêm chi tiết nầy.

Lời xin lỗi muộn màng (Trần Quý Nương)

                                        Thầy Cô và các bạn thân mến, từ xưa chúng ta đã biết cái thành ngữ: « Nhất quỹ nhì ma thứ ba học trò… », nhưng nếu đọc bài viết nầy xong chúng ta phải bổ túc lại câu thành ngữ nầy cho thêm chính xác: « Nhất quỹ nhì ma thứ ba học trò NỮ….. »..!! Đúng thật như vậy, nếu các bạn nam của chúng ta ngày xưa đã có một thời lên núi Lăng những lúc không có giờ học để leo trèo, phá phách, đào khoai mì của Ông Từ Ngươn giữ Lăng, hay hái trái sơn trà và tụ tập nhau dưới gốc cây Đa của chùa Lò Gạch để thanh toán các thành quả hái trộm đó thì quả thật bọn học trò nam của chúng ta là đáng ở ngôi vị thứ ba…Nhưng so với thành tích của hai em Quý Nương và Ngọc Ánh trong chuyện kể đây thì chắc mình vẫn còn thua xa,…Thầy Cô và các bạn đọc đến đây chắc thắc mắc lắm muốn biết tới xem tại sao học trò nữ mà lại còn cao tay hơn học trò nam…Chút nữa đọc tới xong thì sẽ biết nhé,…Chỉ biết là câu chuyện xảy ra đã hơn mấy chục năm nay mà ngày nay theo lời thú thật của Ngọc Ánh thì ngay cả bây giờ chỉ là gặp gở nhau qua face book ảo ảo mờ mờ mà Ngọc Ánh vẫn còn sợ Ông Thầy Nguyễn Hồng Ẩn,…Mình cũng có lời an ủi Ngọc Ánh là không sao đâu, dầu sao quý Thầy cũng đã thông cảm cho tuổi học trò còn non dại, đã tha thứ tất cả và chỉ xem đó là một kỹ niệm thật vui đáng ghi nhớ và kỹ niệm đó cũng là sợi dây liên hệ nối lại tình Thầy trò từ xưa đến giờ,…Mong rằng quý Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Văn Thành khi đọc được những dòng chữ do Trần Quý Nương kể lại đây, sẽ vui thêm và nhớ lại khoảng thời gian êm đềm, thơ mộng trôi qua ở Hà Tiên, mong như vậy nhé quý Thầy và hai bạn Quý Nương, Ngọc Ánh…(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Lời xin lỗi muộn màng

Ngọc Ánh ơi hôm rồi trên mạng mình nhìn thấy căn nhà xưa của Bà Bảy Phi, căn nhà đối mặt với cái căn «nhà vệ sinh» xưa ở bờ sông của Hà Tiên trên đầu đường Nhật Tảo làm mình nhớ lại chuyện xưa…Câu chuyện trên 50 năm rồi đó, lúc mình còn học lớp Đệ Thất đó, lúc mà hai đứa mình gây ra một «vụ án» động trời cho nên phải chôn chặt trong lòng mấy chục năm nay không ai có can đảm tự thú.. !!

Vào thời đó, hai đứa mình ở nhà đường Nhật Tảo, cùng theo học lớp Đệ Thất. Cách vài căn nhà mình ở là nhà của Bà Bảy Tiêu, mình gọi là Bà Cô Bảy, em của Bà Cô Ba chủ nhà mình đang ở. Vì hai nhà là bà con thân thuộc với nhau nên hai đứa mình thường hay tới lui nhà Bà Cô Bảy chơi. Bà Cô Bảy chỉ sống có một mình nên trong nhà thường cho quý Thầy Giáo thuê ở trọ. Vì vậy đa số quý Thầy dạy Trung Học và Tiểu Học Trường Hà Tiên đều ở trọ nhà của Bà Cô Bảy. Năm đó mình nhớ có Ông Thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu dạy Trung Học và Ông Thầy Huỳnh Văn Hòa dạy Tiểu Học đến thuê ở nhà Bà Cô Bảy. Minh cũng không nhớ rỏ các môn dạy của từng Thầy, nhưng nhớ là Thầy Thành làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Hà Tiên. Bà Cô Bảy Tiêu lúc đó có thằng cháu ngoại tên là Nguyễn Văn Vinh, tên ở nhà là Phú, học lớp Đệ Lục, chung lớp với chị Trần Quý Phụng của mình. Chiều tối nào Phú cũng đến nhà mình ở, cùng kéo ghế tập trung ngồi trước sân nhà bình luận đủ thứ chuyện, nào là chuyện chọc phá người ta đến những tin tức liên quan đến quý Thầy ở nhà Bà Cô Bảy. Tối nào không có chuyện gì vui kể ra thì đi ngủ sớm, còn vui thì thức tới khuya. Có lần mình bị bệnh, có một Thầy nào đó mình không nhớ, có nhờ Phú mang đến cho mình hai hộp sửa Ông Thọ. Chị Quý Phụng thì thường hay đến nhà chuyện trò với quý Ông Thầy còn hai đứa mình thì …không dám.

Có một buổi tối nọ có trăng nên tụi mình thức đến khuya, khi sắp đi ngủ thì nhìn qua nhà Bà Cô Bảy thấy có hai ba quý Thầy đi ra khỏi nhà và đi về phía nhà tụi mình đang ngồi. Lúc đó mình mới hiểu ra và tự nói thầm… « À ! giờ nầy khuya quá rồi chắc quý Thầy đi « nhà hàng nổi »… !! » (Viết đến đây mình xin giải thích cho đọc giả hiểu : Ở Hà Tiên ngày xưa rất ít nhà có nhà vệ sinh riêng trong nhà, cả chợ Hà Tiên chỉ sử dụng nhà vệ sinh công cộng, mà chung quanh chợ Hà Tiên thì có 3 nhà vệ sinh công cộng được xây cất bằng cây, ngay dưới mé sông Hà Tiên. Có tất cả ba nhà vệ sinh công cộng, một ở sau Bưu Điện ở sông Đông Hồ, một ở trước trụ sở xả Mỹ Đức xưa, và một ở cặp bến Trần Hầu đầu đường Nhật Tảo, tất cả đều được cất nổi trên nước sông Hà Tiên, có cầu lót gổ để đi ra. Hồi đó người Hà Tiên gọi tên các nhà vệ sinh nầy cho thanh lịch là «Nhà hàng nổi» hay «Nhà nghỉ mát», …)

Kể tiếp chuyện nhé, lúc quý Thầy đi ngang nhà, tụi mình đều chạy đi trốn cả để quý Thầy đi ngang không nhìn thấy tụi mình. Không biết có ân oán gì không mà chị Quý Phụng bảo : «Giờ nầy trong «nhà hàng nổi» vắng lắm vì không có ai ngồi… » Rồi chỉ nêu lên ý tưởng là tụi mình đi nhát ma quý Thầy chơi…, bạn Phú lúc đó từ chối không dám tham gia (vì Phú ở chung nhà với quý Thầy…). sau cùng chỉ còn lại hai đứa mình hành động theo ý tưởng của chị Quý Phụng…Từ trước nhà nhìn thấy khi quý Thầy đã vào «nhà hàng nổi» ổn định xong xuôi rồi thì hai đứa mình chạy theo, cả hai cùng nhặt những hòn đá và ném xuống mặt nước biển ngay dưới mấy căn của «nhà hàng nổi»… Ôi thích quá.. !! mặt nước biển bắn tung tóe nước lên màu đỏ trong ban đêm theo từng nhát đá chạm xuống mặt nước…Thế là hai đứa cứ nhặt đá ném xuống mặt nước cho nước biển bắn lên tung tóe, tùy theo nếu hòn đá nhỏ thì nước bắn lên ít, hòn đá to lớn thì nước biển văng bắn lên tung tóe nhiều và cao hơn. Sau một lúc ném đá xong vì sợ quý Thầy thấy thủ phạm, hai đứa mình trốn núp sau cột đèn gần đó và rồi vừa cắm đầu cắm cổ vừa chạy nhanh về nhà cho kịp trươc khi quý Thầy về…Mình nghĩ lúc đó có lẻ quý Thầy rất giận chứ không có sợ ma đâu nên quý Thầy đi «nghỉ mát» về rất nhanh và có lẻ quý Thầy cũng đã biết thủ phạm ngay lúc đó là ai rồi… !!  Ôi sợ quỷ, sợ ma, không sợ mà chắc sợ thứ ba là học trò, nhất là lại học trò nữ… !!

Đêm đó về nhà hai đứa trong lòng lo sợ không ngủ được, nghĩ đến ngày mai lại có giờ học với Thầy Hậu !! Thôi thì mình đề nghị rủ Ngọc Ánh ăn chay, cầu nguyện, cầu xin cho quý Ông Thầy không tìm ra được thủ phạm và quý Thầy cũng đừng giận…Hai đứa mình ăn chay được bốn ngày thì bạn Ánh bảo ăn chay không nổi nữa…Vậy mà mấy ngày ăn chay đó cũng thấy linh lắm vì quý Thầy hình như không có phản ứng vì cả, vậy chắc là quý Thầy không biết được thủ phạm là ai rồi. Đến ngày thứ năm vì không còn ăn chay nữa nên Phật Trời không che chở cho nữa, Bà Cô Bảy đến nhà bảo là hai đứa bây đi xin lỗi quý Thầy đi nhe vì quý Thầy đã biết là ai phá rồi đó. Ôi !! thật là vô phép với quý Thầy quá, lúc đầu mình chỉ nghĩ là làm cho Thầy sợ ma mà thôi. Trước mặt quý Thầy, hai đứa mình lí nhí xin lỗi, còn bạn Phú thì núp trong một góc nhà lén nhìn và cười vì bạn ấy không có tham gia nên vô sự…Còn Thầy Thành và Thầy Ẩn cứ như lấy cung,  quý Thầy hỏi mãi : « Có ai xúi bảo mấy em làm không ?». Còn chị Phụng thì chị đã dặn kỷ rồi là không được khai là do chị xúi làm…Rốt cuộc vậy là hai đứa mình đều nhận tội, thật thà khai báo thì nhà nước cũng khoan hồng cho mà…

Chuyện đã qua tuy lâu lắm rồi nay nhắc lại chắc quý Thầy không quên đâu. Tụi em ngày xưa đã vô phép với quý Thầy, nay quý Thầy chắc cũng không còn nhớ được mặt mày tụi em vì mấy mươi năm đã qua rồi…Từ đó không một lần gặp lại quý Thầy, giờ đây lên mạng face book thỉnh thoảng gặp lại quý Thầy nhưng còn ngập ngừng, muốn tự mình xin lỗi lại quý Thầy một lần nữa, muốn nói lời xin lỗi muộn màng là ngày xưa vì lở đùa giởn nên phạm lỗi, xin quý Thầy tha thứ cho hai em là Ngô Ngọc Ánh và Trần Quý Nương…

Cho tái bút thêm là qua đêm nhận tội xin lỗi quý Thầy ngày xưa đó, sáng sớm hôm sau được chị Quý Phụng khoản đải cho hai gói xôi Hà Tiên thật ngon…Còn Ngọc Ánh thì vẫn còn thú thật là cho đến ngày nay khi lên mạng face book, thấy hình và tên Thầy Ẩn (An Lê), Ngọc Ánh vẫn còn sợ trong lòng….Vậy mong Thầy tha thứ bỏ qua tất cả cho chúng em nhé,..

                            Trần Quý Nương kể lại   (Sài Gòn, 09/03/2017)

Một trong ba « nhà hàng nổi » hay « nhà nghỉ mát » ở Hà Tiên, ở đây là nhà vệ sinh ở bến Trần Hầu – Nhật Tảo, chính là nhà hàng trong chuyện kể nầy, có thể là cây cột đèn trong hình là nơi mà các bạn Quý Nương, Ngọc Ánh đá trốn núp sau khi « hành động »….

Một trong ba « nhà hàng nổi » hay « nhà nghỉ mát » ở Hà Tiên, ở đây là nhà vệ sinh trước trụ sở Xả Mỹ Đức.

Hình lớp Trần Quý Nương chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là lầu ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Trần Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý (Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên)

Ngô Ngọc Ánh hình thuở còn đi học Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Nhà Bà Bảy số 16 ở đường Nhật Tảo ngày xưa quý Thầy ở trọ trong thời gian dạy học ở Trường Trung và Tiểu Học Hà Tiên (Quang cảnh học trò đến thăm quý Thầy: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên, Trần Mỹ Quyên.

Ngôi nhà hiện tại số 16 đường Nhật Tảo (Hà Tiên) nơi ngày xưa quý Thầy (Hòa, Ẩn,Tuấn Sinh, Thành, Út, Hậu, Liêm, Chiếu, Cầm….) ở trọ trong thời gian dạy học ở Trường Trung Học Hà Tiên

Tác giả câu chuyện xưa Trần Quý Nương, ảnh hiện tại, Quý Nương hiện sống tại Sài Gòn, Việt Nam)

Ngô Ngọc Ánh, ảnh hiện tại, Ngọc Ánh hiện sống tại Úc Châu

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thũy, Trần Quý Nương, Ngô Ngọc Ánh, Trần Hoàng Trang