Viết về một người nghệ sĩ không may mắn…(TVM)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình nbư là đã thành thường lệ, mỗi khi có một tin tức gì liên quan đến thầy cô hay một người bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, đều có ít nhất một người bạn còn ở Hà Tiên viết vài hàng thông tin cho mình, với phương tiện ngày nay nhờ có mạng fb nên tin đến mình ngay trong khoảnh khắc…Sáng ngày 28/06/2019 lại có tin từ bạn Lý Tòng Hiếu cho mình hay, đó là tin buồn báo về sự mất mát của người bạn thân cố hữu, Nguyễn Đình Nguyên…

Thật bất ngờ dù rằng mình vẫn biết sẽ có một ngày có tin nầy, lần nào về thăm nhà Hà Tiên, mình đều có gặp Nguyên và thường đi chơi chung trong thời gian đó…Lần về cuối cùng và gần nhất của mình và Ngọc Tiếng là vào tháng sáu năm 2012,..cũng có gặp lại Nguyên, cả bọn cùng nhau đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…)..

Câu nói đó ám ảnh mình rất nhiều từ lúc chia tay Nguyên trở lại nước Pháp. Đáng lẻ ra khi một người giác ngộ đi tu thì bà con thân thuộc và bạn bè nên mừng cho người đó, vì thấy được cõi đời là bể khổ, muốn tránh được cái khổ hay muốn diệt khổ thì phải tu hành cho tâm trí thanh thoảng và mau tinh tấn…Tuy nhiên mình cảm thấy có một cái buồn nhè nhẹ lắng vào hồn khi nghĩ đến cuộc đời cuối đoạn của Nguyên,…Nguyên chính là một người nghệ sĩ có đủ tài năng: ca rất hay, vẽ rất giỏi và sau nầy còn phát triển trong ngành nhiếp ảnh…Rồi chính cái dáng dấp bề ngoài của Nguyên, tuy có thiếu nét cao ráo nhưng được gương mặt rất đẹp trai, nên ngày xưa lúc nào cũng xuất hiện với một mái tóc chải chuốt rất tươm tất và đầy nét nghệ sĩ…

Thật vậy nói về con đường tình ái, hào hoa phong nhã của Nguyên thì ngày xưa không bạn nào mà không ao ước…Nguyên thường kể lại cuộc đời của bạn từ lúc còn nhỏ ở tại Sài Gòn..Cha mẹ Nguyên vốn là kép và đào hát của một gánh hát cải lương, nói là kép và đào hát theo danh từ bình dân, nhưng ta nên xem đó chính là những người nghệ sĩ thật sự đã chọn cho mình một con đường khó khăn, tuy có lúc vượt lên đỉnh cao danh vọng của một người nghệ sĩ có may mắn được nổi tiếng, nhưng cuộc đời của những người nghệ sĩ nào mà không có lúc tàn phai một khi ánh đèn sân khấu chợt tắt đi, nhường lại cho cái màn đêm đen đúa ụp đến, phủ dài cuộc đời khi mà người nghệ sĩ không còn hơi sức để diễn đạt vai trò huy hoàng ngày xưa trên sàn gỗ…Mình chơi thân với Nguyên, thường đến với Nguyên những buổi chiều cơm nước xong để cùng đi dạo phố biển Hà Tiên, mình đã chứng kiến cảnh Nguyên lo cho người mẹ già lâm vào cơn bệnh mất ngủ, mẹ của Nguyên không ngủ được, đêm nào cũng phải thức cả đêm, kết quả là đến một lúc nào đó, người mẹ nghệ sĩ của sân khấu cải lương đó ra đi, mang theo một cuộc đời ca hát đi vào dĩ vãng và nếu có để lại chút gì cho người con trai, có lẽ cái chất nghệ sĩ và tâm hồn phóng khoáng đó…

Nói tiếp về cái chất phóng khoáng và hào hoa của bạn Nguyên, Nguyên thường kể với mình những cuộc tình không đoạn kết của bạn từ lức nhỏ còn đi học Trung Học Hà Tiên…Những lúc anh ta tung hoành ở trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn nơi Nguyên còn bé thì mình không nhớ rỏ, nhưng từ khi theo người cha hưu trí về Hà Tiên ở trong căn nhà lá ba gian tại đường Đống Đa thì mình biết nhiều về Nguyên..Người con gái là người tình đầu tiên của Nguyên lúc ở Hà Tiên có lẽ là Hưởng (cô bạn gái tên Hưởng nầy nhà ở đường Trần Hầu, là em gái của bạn học cùng lớp với Nguyên, bạn tên là Hổ, em thầy Rầm…)…Nguyên thường kể cho mình nghe sự liên hệ giữa Nguyên và Hưởng, có lần Nguyên kể: « một lúc nào đó như thường lệ, Nguyên chạy xe đạp ngang nhà Hưởng ở đường Trần Hầu, gặp Hưởng ra cười chào Nguyên và nói nhỏ với Nguyên là thương anh Nguyên đó,…Nguyên rất sung sướng cười và nói biết rồi…!! »… Người con gái kế tiếp là người yêu của Nguyên có lẽ là người bạn gái học cùng lớp, nhà ở đường Tham Tướng Sanh, có cái tên gồm hai chữ thôi…chuyện tình nầy các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên đều biết và cũng nhận thấy rằng đó là một cuộc tình đẹp của thời học sinh, không có đượm một chút gì sai trái cả…Rồi cũng không biết tại sao, vì ai, hay là đó chính là cái tính chất của những cuộc tình thời học sinh, không bao giờ có cái kết thúc có hậu như trong một câu chuyện thần tiên,…Có thể nói đó là những chuyện tình không đoạn kết…

Hà Tiên trong thời gian đó có phong trào người đồng bào Việt Nam sống trên đất Campuchia di cư về ồ ạt…Kinh tế, chợ búa phát triển mạnh mẽ, hàng hóa đổ vào qua cửa biên giới Việt- Campuchia rất nhiều, bạn hàng từ các tỉnh khác về Hà Tiên mua hàng hóa và đem đi buôn bán các nơi khác,…Đó là một môi trường cho họa sĩ Nguyễn Đình Nguyên phát triển tài vẽ chân dung bằng …khói đèn…Đúng thế, thay vì người ta vẽ và tô đậm lợt bằng ngòi viết chì đen, Nguyên lại dùng khói đèn để làm nước sơn đen vẽ chân dung…Nguyên cắt nghĩa cho mình biết kỹ thuật của anh: dùng một ngọn đèn dầu lửa, kê một tờ giấy (loại giấy chậm của học sinh) phía trên ống khói để hứng cả khói đen dính vào tờ giấy và sau đó dùng những cây tăm nhỏ quấn bông gòn, lấy màu đen của khói đèn trên tờ giấy chậm và tô, vẽ vào bức chân dung…Đây là thời kỳ Nguyên sống tương đối vừa đỏ tình và vừa đỏ bạc…vì các bạn hàng nữ đặt cho Nguyên vẽ hình chân dung rất nhiều, Nguyên kể lại cho mình nghe, chẳng những vẽ cho một người bạn hàng nữ là được tiền thù lao, mà còn được luôn cả trái tim của cô bạn hàng đó nữa,…Chuyện không cần kéo dài lâu, một thời gian ngắn và đâu lại hoàn đó, trái tim con người lãng tử vẫn tiếp tục mở rộng chào đón một hình bóng nào khác…

Nói như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên: « Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi… ». Rồi đến lúc phải dùi đầu vào bút nghiên để chờ thi tú tài một…Nguyên, người nghệ sĩ có số đỏ trên con đường tình ái lại không may mắn thi hỏng tú tài,…cùng lúc với bạn Lê Công Hưởng,…cả hai người bạn thân của mình phải lên đường khoát áo chiến binh thời binh lửa…Một người ra quân cảnh rất oai hùng, người kia đi vào bộ binh với cấp bậc trung sĩ…Trung sĩ Nguyễn Đình Nguyên lại có dịp về phép thăm quê nhà Hà Tiên và thăm lại bạn bè…Nguyên lại tiếp tục kể cho mình nghe những chuyện tình luôn luôn là « không đoạn kết » của đời chiến binh của Nguyên,…Nguyên kế, lúc thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trung sĩ Nguyên tuy không cao ráo lắm nhưng rất đẹp trai trong bộ quân phục, đã chinh phục được cả hai con tim của hai chị em cùng một lúc…

Rồi cuộc chiến tàn lụi, người chiến binh trở về quê nhà trong một vai trò người bại trận,…tuy nhiên âu cũng là một cơ hội để làm lại cuộc đời, sống một cuộc đời bình dị sau một quảng đời phiêu lưu dài hạn…Nguyễn Đình Nguyên trở về Hà Tiên tiếp tục vô ra căn nhà lá ba gian quen thuộc ở đường Đống Đa mà đã có biết bao nhiêu buổi chiều mình đến để rũ Nguyên đi dạo gió biển quê hương…Thời gian nầy thì mình và Nguyên đã xa nhau rất lâu, mình đi dạy học ở An Phú, (Châu Đốc), Mỹ Luông (An Giang),…rồi Long Xuyên và rồi đi rất xa với người vợ thân yêu và một đứa con trai đầu lòng…Nguyên ở lại Hà Tiên để làm chứng nhân cho lịch sử Hà Tiên, Nguyên đúng là một chứng nhân cho Hà Tiên vì bạn không bao giờ xa Hà Tiên vĩnh viễn, Nguyên lúc nào cũng gắn bó và bám víu với Hà Tiên như hình với bóng…Lại tiếp tục chuyện tình vẫn luôn luôn « không đoạn kết »…lần nầy theo lời Nguyên kể, người yêu lúc nầy của Nguyên không ai xa lạ mà chính là một người bạn gái học cùng lớp với mình từ cả thời trung học Hà Tiên, con nhà khá giả của Hà Tiên, lúc đó nàng có gian hàng bán vải ở phía chợ cá cũ Hà Tiên, Nguyên thường tiếp dọn hàng ra chợ bán…Nếu có thắc mắc thì cũng chịu vì mình cũng không nở nói tên người con gái nầy ra, nàng cũng đã ra đi về cõi vĩnh hằng từ rất lâu rồi, chỉ biết tên nàng có nghĩa là một vầng trăng…

Trở lại đoạn đầu như mình đã viết, tháng sáu năm 2012, mình có dịp gặp lại Nguyên, uống cafe chung cả ba người: mình, Ngọc Tiếng và Nguyên tại quán Thủy Tiên bên bờ sông Giang Thành nhìn về hướng Pháo Đài…, lúc nầy Nguyên thấy rỏ là đã già đi, nét mặt tròn trịa đầy nét hằn của thời gian…, tròn trịa vì hình như đó là kết quả của người muốn ngưng hút thuốc nên người tròn trịa thêm,…Bấy giờ thì có lẻ đã chấm dứt những chuyện tình không đoạn kết,…rốt cuộc không còn chuyện tình nào cả, con người trở thành cô độc, cô đơn, không cha, không mẹ, không người thân thiết, chỉ có một người chú em ruột của cha của Nguyên nhà đối diện nhà Nguyên ở đường Đống Đa, vài đứa cháu con của người chú, một người em ruột Nguyễn Đinh Lộc, từ rất lâu đã định cư ở Canada không biết có liên lạc thường xuyên với Nguyên hay không…Mỗi lúc đi chơi chung như vậy Nguyên đòi về nhà sớm để lo cho một đàn mèo ăn uống….Bây giờ thì chỉ có thương « mèo » thật sự, Nguyên nuôi rất nhiều mèo trong nhà…đi đâu chơi thì muốn về ngay để lo ăn cho mấy con mèo đó…Có lẻ đó là món nợ đời mà Nguyên phải trả khi còn trẻ đã mượn nợ quá nhiều với mấy cô gái ngày xưa…

Trở lai với nổi buồn thoang thoáng khi mình nghe Nguyên nói lần tới gặp lại có lẽ sẽ đi tu trong chùa ở Thạch Động…Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín,…

Rồi hôm nay điều gì phải đến đã đến, bạn Nguyễn Đình Nguyên, ca sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia Duyên Đình, đã âm thầm ra đi trong một đêm khuya, không ai hay biết, và một đám tang buồn bả diễn ra, như bạn Lê Phước Dương đã kể lại, đám tang đi lặng lẽ ra chùa ở Mũi Nai, ít người đưa tiển, ít hay không một tiếng khóc than..Xin mượn lời viết của Dương để kết thúc bài tùy bút nầy:

« Một đám tang buồn cho một kiếp con người …buồn hiu hắt, sống cô độc, chết bất ngờ và quạnh quẽ, không có được 1 tiếng khóc dù chỉ khẽ khàng lúc đưa anh đi. Thôi! cũng có đi và cũng đã về.. Có đưa tiển bằng mâm bàn ồn ào, khóc than vật vã…thì cũng một kiếp con người như nhau… Cuối cùng thì cái chết lặng lẽ nhưng bình thản như anh, đó cũng là điều tốt.. Giờ này thì anh cũng đã hóa thân rồi.. Cầu nguyện cho anh được phiêu diêu nơi mà anh mơ ước ».  (Lê Phước Dương)

Trần Văn Mãnh viết về người bạn ngày xưa Nguyễn Đình Nguyên…(Paris 29/06/2019)

Nguyễn Đình Nguyên thời học sinh Trung Học Hà Tiên (60-70)

Nguyễn Đình Nguyên lúc gặp lại Trần Văn Mãnh vào tháng sáu năm 2012 tại quán Thủy Tiên Hà Tiên

Quang cảnh đám tang vắng vẻ, vài người trong hội đưa bạn Nguyễn Đình Nguyên vào hỏa táng tại chùa Mũi Nai ngày 29/06/2019 (Hình: Lê Phước Dương)

Tái bút 1: cảm nghĩ của bạn Lê Phước Dương khi đọc bài viết:

« Ngày anh Hải, lúc đưa đi…mình không khóc …sáng nay đưa tiển anh Nguyên đến nơi hỏa táng, mình cũng không rơi giọt nước mắt nào….mà rồi, giờ này, khi đọc về những dòng chử mà anh Mãnh viết cho anh Nguyên…tự dưng mình lại khóc cho anh, anh Nguyên…buồn lắm , tủi thân cho anh lắm….
Có đi để tiển đưa anh mới thấy đuoc cái cô đơn cái quạnh quẽ của kiếp con người của Anh…
Sáng nay, gần 7g mưa, mưa như trút nươc..gần 8g trời cũng bớt mưa mà không dứt hẳn…9g di quan anh ra xe, vài người cháu của anh theo tiển , nhiêu đó thôi, không có ai, không ai hết.
Xe rời nhà quẹo đường Chi Lăng, chạy cặp ao sen, qua chùa Giải Thoát, chạy qua bồn binh cầu Đồn Tả..2 ngươi đi xe honda chạy trước để rải vàng bạc xin đường còn chạy không kịp xe chở áo quan…chạy xì khói, chạy văng nước 2 bên đuòng…chạy cho kịp giờ tốt..Rồi lên dốc chùa chạy tuốt ra phía sau nơi có lò hỏa thiêu…tới rồi. Tới nơi anh không muốn tới rồi..Vài thủ tục nhang đèn vàng mả cơm canh. Một ông Thầy tụng, vài lời kinh…và..rồi…thế là hết…không còn…vĩnh viển…Nguyễn Đình Nguyên.
« .  (LPhD)

Tái bút 2: bài thơ do Lê Phước Dương sáng tác: « Khóc anh Nguyên »

Sáng nay…tiễn anh đi.
Mưa buồn như than khóc.
Khóc thay người, lặng lẽ khóc đưa anh.
Con đường Chi Lăng sũng nước.
Con đường của anh, đi về rồi…về đi.
Với chiếc xe đạp cà tàng.
Song hành cùng anh, về, đi nơi chổ trọ.
Nơi có bầy mèo hoang trong ngóng.
Từng chút cháo, từng mẫu bánh mì.
Mà có lẽ chờ trông anh nhất.
Là bàn tay và tấm lòng ve vuốt chở che.
Bằng nụ hôn khẽ khàng lên môi, lên má.
Mèo hoang của anh đều được đặt tên.
Nguyệt..Lan..Hằng..Thu..Thảo.
Anh gọi Lan, Hằng buồn .
Anh kêu Thảo, Thu, Nguyệt…ngẩn ngơ.
Nếu kịp trối trăn lời nói sau cùng.
Anh sẽ muốn liệm bầy mèo vào quan quách.
Như Vua, Chúa ngày xưa khi chết.
Luôn đem theo..Mỹ nử , Cung phi.
Còn lại gì khi anh dứt áo ra đi.
Bầy mèo hoang buồn, lại tìm về chốn cũ.
Mẹ Hà tiên già ngơ ngẩn.
Xót thương thêm một thằng con bỏ mẹ mà đi.
Nơi trước đó, thằng con Hồ Hải:
“- Xin được hẹn nơi khởi hành tiền kiếp.
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thằm lặng .
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương”… *
Viết cho người anh Nguyễn Đình Nguyên vừa nằm xuống .
Hà Tiên 30/06/2019 Lê Dương (Duong Le, Duong Le, Phuoc Duong Le)

* Trích đoạn cuối của bài thơ “Mãi mãi như nhiên” của Hồ Hải (Lê Phước Hải sáng tác trong thời học sinh Trung Học Hà Tiên).

Publicités

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m)* và Đại Tô Châu (cao 178 m)*, xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m)*, và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m)*. Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Chú Thích: * Theo site bản đồ có tên là MAPNALL thì chiều cao có khác hơn: Tiểu Tô Châu (cao 89 m) và Đại Tô Châu (cao 153 m)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.

 

 

Ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn

Thầy Cô và các bạn thân mến, bài viết nầy phần lớn dựa trên trí nhớ, một số tài liệu và hình ảnh xưa, và nhất là cũng dựa trên sự phỏng đoán chủ quan của mình, vì thế những điều viết trong bài cũng có thể là một sự kết luận chủ định sai với quá trình quá khứ, nhất là về địa chí nơi chốn của căn nhà sẽ nói trong bài…Tuy nhiên mình cũng hy vọng rằng bài viết sẽ đúng phần nào, mong thầy cô và các bạn, nhất là các bậc học giả đi trước, người kỳ cựu Hà Tiên đọc và chỉ giáo những sai lầm nếu có,..xin thành thật cảm tạ quý vị.

Ngày xưa trong những năm 60-70, lúc còn là học sinh của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, mình thường đi chơi thân với một số bạn cùng lớp, đúng là các bạn cùng lớp, vì với nhóm bạn nầy mình đã chơi thân ngay từ lúc vào lớp Đệ Thất (niên khóa 1964-1965) cho tới lúc năm lớp cuối của trường là năm học lớp Đệ Nhị (1969-1970)…Nhớm bạn đó gồm: Lý Cui (thường làm lớp trưởng), Lý Văn Tấn (Tấn Lý), Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài,…v….v…. Còn nhiều bạn nữa…Những năm đầu học bậc Trung Học, mình thường chơi đàn cùng với các bạn: Lý Cui, Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến…hay nói đúng hơn là mình theo học đàn guitare với bạn Lý Cui vì trong những năm 60 đó, phong trào chơi nhạc và chơi đàn rất thịnh hành trong giới học sinh.

Bạn Lý Văn Tấn có hai căn nhà mà nhóm bạn chúng mình rất thường lui tới chơi, căn nhà thứ nhất là của Ông Ngoại bạn Tấn, nhà ở ngay tại mé sông Đông Hồ, kế trụ sở xả Mỹ Đức, nếu từ dảy nhà ngủ Tô Châu đi về phía Đông Hồ thì sẽ gặp nhà Ông Ngoại bạn Tấn trước rồi sau đó là trụ sở xả Mý Đức. Xéo xéo trước nhà Ông Ngoại bạn Tấn bên mé sông chính là nhà vệ sinh, cất trên sông và có bắc cầu bằng cây đi ra…Nói đến đây phải giãi thích một sự kiện nầy cho các đàn em và người đến Hà Tiên ở sau nầy rỏ: ngày xưa nói đến xả Mỹ Đức tức là nói phường Đông Hồ, phường Pháo Đài và phường Bình San bây giờ…Vì ngày xưa Hà Tiên là Quận lỵ nên chia thành nhiều xả, ngay tại chợ Hà Tiên đó là xả Mỹ Đức, tất cả người nào sinh sống ở chợ Hà Tiên đều thuộc về hành chánh xả Mỹ Đức. Chính mình trong khai sanh ghi là nơi sanh: Xả Mỹ Đức. Người ở chợ Hà Tiên rất gắn liền với xả Mỹ Đức, mỗi khi phải thị thực chử ký trên bản sao là phải xuống trụ sở xả Mỹ Đức để xin chử ký của ông Xả Trưởng. Có nhiều đời Ông Xả trưởng xả Mỹ Đức, nhưng ấn tượng nhiều nhất là Bác Hai Hồ Văn Điệp (người cùng tuổi thì thường kêu là Anh Hai, người con cháu thì thường kêu Chú Hai). Còn người tiếp nhận giấy tờ để trình lên Ông Xả Trưởng ký tên thì có một thời là chị Nguyễn Thị Hoa, cô thơ ký ở Xả Mỹ Đức, người đã giúp ích rất nhiều cho chúng ta lúc phải đi thị thực chử ký ở dưới Xả Mỹ Đức…Mình còn nhớ hồi đó ở xả Mỹ Đức thì có chị Hoa còn cô thơ ký trên văn phòng Quận Lỵ Hà Tiên thì là chị Trần Ý Chinh, chị của Trần Ý Hui học cùng lớp với mình…Có một lúc mình cũng phải đem giấy tờ bản sao lên tới trên Quận đưa cho chị Ý Chinh để xin chử ký thị thực của Ông Quận Trưởng, đúng hơn là chính Ông Quận Phó thường ký tên,…Mình vẫn còn giữ một số giấy tờ bản sao do Ông Phó Quận ký tên: Lê Văn Ca (là ba của bạn Lê Mai Hoa học cùng lớp Đệ Thất với mình). Hiện nay vì Hà Tiên lên bậc Thị Xả nên xếp thành phường và xả Mỹ Đức bây giờ là xả ở ngay tại khu Thạch Động bây giờ (trong khi hồi xưa thì lại kêu là Ấp Thạch Động…).

Bạn Lý Văn Tấn, hình ảnh thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 60-70

Trở lại nói về ngôi nhà thứ hai của bạn Tấn Lý, như trên đã nói ngôi nhà ở dưới Đông Hồ là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý, còn ngôi nhà chính của ba má bạn Tấn Lý thì ở đường Mạc Thiên Tích dưới xóm Cầu Câu ngày xưa. Nếu từ chợ đi theo con đường Lam Sơn ra phía đường đi Mũi Nai, các bạn sẽ gặp ngả tư Lam Sơn-Mạc Thiên Tích, quẹo bên trái để đi theo con đường Mạc Thiên Tích về hướng Pháo Đài một lúc bạn sẽ gặp nhà của bạn Tấn Lý, nhà bên tay trái, trước khi đến nhà bạn Tấn Lý bạn sẽ gặp nhà của bạn Bùi Văn Tư xéo xéo bên tay phải. Còn nếu tiếp tục đi theo đường Mạc Thiên Tích một lúc nữa cũng về phía Pháo Đài thì sẽ gặp nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh bên phải.  Căn nhà của ba má bạn Tấn Lý đó rất rộng lớn, lợp « tôn », và rất dài từ trước ra tới phía sau. Hồi xưa người ta thường kêu ba của bạn Tấn Lý là Chú Tư, má của bạn Tấn Lý thường đi theo ghe bán hàng Hà Tiên -Rạch Giá, và cũng thường tới lui nhà mình giao thiệp với hia Tư chị Tư của mình (hia tư tên ở nhà là Hia Dảnh, tên giấy tờ là Lý Văn Nhiên, chị Tư bạn dì với mình tên ở nhà là chế Thìn, tên giấy tờ là Lê Thị Phượng, hai vợ chồng không có con, có tiệm may quần áo ngay ở nhà mình và thường qua núi Tô Châu theo học đạo với các nhà tu sĩ theo môn phái Khuất Thực, vì thế má của bạn Tấn Lý cũng theo anh Tư, chị Tư để qua Tô Châu học đạo với các nhà sư).

Hồi xưa đó, nhà của bạn Tấn Lý đường Mạc Thiên Tích nầy cũng là trụ sở của nhóm chơi dợt nhạc của mình, gồm có Lý Cui, Lý Văn Tịnh, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Trần văn Yến, Nguyễn Ngọc Thanh. Tuy nhà mình ở ngay đường Bạch Đằng tại chợ Hà Tiên đi tới nhà bạn Tấn Lý cũng khá xa nhưng ngày xưa mình thường hay thả bộ từ nhà mình tới nhà Tấn Lý để họp bạn chơi nhạc, và ngay cả cũng thường lội bộ cho tới nhà của bạn rất thân là Nguyễn Ngọc Thanh để rủ Thanh đi chơi…

Đã định xong vị trí nơi chốn của hai căn nhà của bạn Tấn Lý rồi bây giờ mình xin vô đề tài chính là ngôi nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở xóm Đông Hồ. Ngày xưa nhóm bạn mình cũng thường kéo nhau tới nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý ở Đông Hồ đó để nhóm bạn nói chuyện chơi và cũng để chơi nhạc đàn ca…Ông Ngoại bạn Tấn Lý lúc đó cũng đã khá cao tuổi rồi, chiều chiều ông thường đem một túi xách nhỏ bày hàng bán trên vỉa hè trước tiệm cơm Xuân Thạnh, nhìn ra phía đường Bến Trần Hầu. Hàng bán của ông là một số ống « pipe » hút thuốc, ngày xưa Hà Tiên thường có nhiều người bán ống « pipe » hút thuốc làm bằng một loại cây dưới biển có màu đen huyền rất đẹp. Ống « pipe » hút thuốc tức là loại ống để mình gắn một điếu thuốc lá vào đầu ống và ngậm đầu kia mà hút, ngày xưa cách hút thuốc lá bằng ống « pipe » đó rất thịnh hành, có nhiều ống « pipe » làm bằng rể cây dưới biển có hình thù cong quẹo rất lại và đẹp mắt…Mấy ông bán hàng nầy thường trải một chiếc khăn tay vuông vắn ngay trên lề đường Trần Hầu và bày các ống « pipe » ra xắp xếp rất thứ tự đẹp mắt, lủ nhóc con như mình thời đó thường hay ngồi trước mặt gian hàng của mấy ông để nhìn ngắm và xem người ta đến hỏi mua, kèo kỳ giá cả…Sau một thời gian bán ống « pipe », Ông Ngoại bạn Tấn Lý chuyển sáng nghề cho quay số để bán đồ chơi trẻ nít. Mình cũng thường là bạn hàng của ông trong món hàng nầy, Ông thường nói với nhóm con nít mình thường đứng bu xung quanh ông: « Trật thì ăn kẹo, trúng lấy hết cái nầy nè..!! »…

Thao tài liệu sách vở và ngay chính ngày xưa khi nhóm bạn học trò mình tới chơi nhà Ông Ngoại của bạn Tấn Lý, mình đã có nghe nói căn nhà nầy ngày xưa nữa chính là nhà của thi sĩ Đông Hồ, ngay chính căn nhà của Ông Ngoại bạn Tấn Lý là cứ điểm của « Trí Đức Học Xá » một loại trường học do Ông Đông Hồ sáng lập ra. Lúc đó chi nghe nói như vậy thôi, trí tò mò cũng dừng lại ở điểm đó chỉ biết là ừ nhà nầy hồi xưa là nhà của Ông Đông Hồ,…không ai hỏi thêm chi tiết tại sao Ông Đông Hồ không giữ lại căn nhà nầy hay không ai hỏi gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà của Ông Đông Hồ trong hoàn cảnh nào…??!! Tuy nhiên tất cả các bạn trong nhóm cũng lấy làm thú vị vì hiện mình đang tới lui chơi căn nhà xưa của Ông Đông Hồ…

Bây giờ tình cờ đọc bài bản nghiên cứu trên mạng mình được biết thêm nhiều chi tiết như sau: Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) sinh ra tại Hà Tiên, có một thời xưa ở Hà Tiên, ba mẹ mất sớm nên có người Bác ruột nuôi ông. Người Bác tên là Lâm Tấn Đức (hiệu là Hữu Lân 1866-1934), là người anh ruột của Ông Lâm Tấn Thoại cha của thi sĩ Đông Hồ. Ngôi nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý đầu tiên chính là căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức. Thời đó có một bậc Tiền Bối tên là Ngô Văn Chiêu là một học giả cao kiến, vào năm 1920 đổi về tình Hà Tiên làm việc, Ông Ngô Văn Chiêu thường lui tới nhà ông Lâm Tấn Đức để nói chuyện đạo và cầu cơ, ngoài ra ông Chiêu cũng thường lên đến Thạch Động để cầu cơ. Cơ về cho ông nhiều bài thơ và trong thơ có ý khuyên ông đi tu. Về sau ông Ngô Văn Chiêu đi tu đắc đạo và lập ra đạo Cao Đài, chính ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932)  là một bậc tiền bối đầu tiên của đạo Cao Đài.

Vì thi sĩ Đông Hồ ở với người Bác nên ở ngay tại căn nhà của ông Bác dưới bờ sông Đông Hồ, cho đến năm 1926-1934 ông Đông Hồ lập ra Trí Đức Học Xá trụ sở ở ngay tại căn nhà của ông đang ở…Về sau thi sĩ Đông Hồ về Sài Gòn viết sách, làm báo và được mời giảng dạy ở trường Đại Học Sài Gòn…Không biết từ lúc nào và trong hoàn cảnh nào căn nhà của Bác ông Đông Hồ, (sau là nhà của ông Đông Hồ) lại trở thành nhà của ông Ngoại bạn Tấn Lý, tức là gia đình ông Ngoại bạn Tấn Lý đã mua lại căn nhà đó từ lúc nào thì mình không được biết rỏ…

Vậy là từ lúc những năm 1960-1970, mình cùng nhóm bạn học với bạn Lý Văn Tấn tới lui căn nhà Ông Ngoại bạn Tấn đó, cũng biết là đây là nhà xưa lúc trước của ông Đông Hồ nhưng không tìm hiểu gì thêm về lịch sữ căn nhà nầy…

Vài lời về bạn Lý Văn Tấn: Tấn Lý học chung lớp với mình suốt cả thời gian học Trung Học Hà Tiên. Bạn Tấn người cao lớn, rất vui tính, khi nói chuyện bạn Tấn thường hay cười to vui vẻ. Ngày xưa lúc còn đi học Tấn Lý có để ý một cô thiếu nữ người xóm Đông Hồ, tên là Diệu. Diệu là một cô gái dáng thon cao, tóc dài rất đẹp…Nhà Diệu ở xóm Đông Hồ đường Chi Lăng. nếu tính từ ngả tư Tô Châu- Chi Lăng đí về phía mé sông Đông Hồ thì nhà Diệu ở bên tay phải, đối diện với nhà Má Hai của mình ngày xưa (tức là nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, sau đó nhà Má Hai bán đi và mua qua căn nhà đường Tô Châu ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng, sau nữa nhà nầy do gia đình ông Quách Ngọc Bá mua lại). Cuối cùng thì bạn Tấn Lý cũng cưới được cô gái xóm Đông Hồ  tên là Diệu đó, hai người thành vợ chồng đến ngày nay..

Rốt cuộc các bạn biết sao không, mình cũng không rỏ tình tiết nhưng về sau nầy, rất xa sau năm 1975, người vợ cuối cùng của ông Đông Hồ là bà Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội từ Sài Gòn và sau khi ông Đông Hồ mất đi, vào năm 1995 bà trở về Hà Tiên mua chuộc lại căn nhà xưa và xin phép cất lại thành « Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ »…thật là kỳ diệu thay, thế là căn nhà xưa bao nhiêu năm về trước của người Bác chồng là Ông Lâm Tấn Đức đã hoàn trở lại thành nhà lưu niệm để tưởng nhớ thi sĩ Đông Hồ, người mà thời nhỏ cũng đă từng ở trong căn nhà nầy…Tất cả những tài liệu, tình tiết, chi tiết về những biến chuyển nầy các bạn nếu tò mò muốn tìm hiểu , mời các bạn tra cứu trên mạng sẽ được đọc rỏ hết cả, ở đây mình không nói hết chi tiết ra chỉ cốt yếu nói về căn nhà của một người bạn học cùng lớp ngày xưa, căn nhà mà mình và nhóm bạn mình rất thường lui tới một thời trẻ tuổi, để vui chơi đàn ca văn nghệ…

Tóm lại mình viết bài nầy vì mình đã bị ấn tượng rất mạnh khi tìm hiểu được lai lịch căn nhà xưa của Ông Ngoại bạn Tấn Lý và nhất là khi mình thấy được bức hình căn nhà của Ông Lâm Tấn Đức đăng trong một bài báo về lịch sữ ông Ngô Văn Chiêu, người sáng lập ra Đạo Cao Đài, khi nhìn thấy hình căn nhà trong bài viết và có chú thích là nhà của Ông Đông Hồ từng ở ngày xưa, mình rất hoang mang đồng thời cũng rất thú vị và cũng không kém phần xúc động.. vì căn nhà đó là nơi mà mình và các bạn đã một thời lui tới vui chơi. Nếu không may những điều mình quả quyết và kế ra đi là không đúng sự thật thì cũng rất buồn nhưng mình cũng sẽ chấp nhận sự sai lệch của mình, mong các bạn và các bậc học giả cao tuổi có kinh nghiệm sống ở Hà Tiên vui lòng chỉ bảo cho thêm nhé,..Xin thành thật cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cuối đông 08/01/2018

Trần Văn Mãnh

Ngôi nhà Ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại cha của Thi Sĩ Đông Hồ) ở tại đường Đông Hồ, mé sông Đông Hồ. Có một thời ngôi nhà nầy là trường học Trí Đức Học Xá (1926-1934) do Ông Đông Hồ lập ra. Trong những năm 1960-1970, ngôi nhà nầy là nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn bạn học cùng lớp với mình. (hình do Huệ Nhẫn sưu tầm). Theo tài liệu của học giả Trương Minh Đạt, tấm hình trên được chụp ngày 13/03/1940.

Ông Lâm Tấn Đức (hiệu Hữu Lân 1866-1934) là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ và là chủ căn nhà trên

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn chụp phía trước trụ sở xả Mỹ Đức, đường Đông Hồ, gần nhà của Ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ngày xưa.

Nhà vệ sinh cất trên sông Hà Tiên xéo xéo đối diện với trụ sở xả Mỹ Đức ngày xưa.

Bạn Lý Cui (cầm đàn) đang đệm nhạc cho bạn Lý Văn Tịnh ca bài « Giữa Lòng Đất Mẹ » tại nhà của bạn Lý Văn Tấn trên đường Mạc Thiên Tích ngày xưa

Nhóm bạn đi chơi bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên). Lý Văn Tấn đứng trên cao bìa phải (khoảng những năm 1960-1970)

Học trò đến thăm Thầy tại nhà trọ: từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Thanh (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Kim Huê, Thầy Út, Lý Văn Tấn, Ngọc Lan, Lý Cui, Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân Trung Học của Trần Văn Mãnh), Mỹ Quyên (chị của Mỹ Ngân học chung lớp với Trần Văn Mãnh).

Bạn Lý Văn Tấn hiện nay (bên phải và bạn Lâm Hữu Quyền bên trái)

Mặt trong của « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ » ngày nay do nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, vợ của Ông Đông Hồ cất lại trên nền nhà xưa của ông Đông Hồ (cũng là ngay nhà xưa mà Ông Ngoại bạn Tấn Lý có một thời gian ở đó)

Toàn cảnh mặt ngoài  « Nhà Lưu Niệm Đông Hồ « ngày nay

Hình ảnh: Huệ Nhẫn, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Hồng Ẩn, Bui Thi Đao Nguyên, B.C,

Tái bút: Được tin em Huỳnh Thị Sáu (học trò Hà Tiên xưa) bổ túc thêm chi tiết như sau: Ngôi nhà của gia đình ông Đông Hồ vẫn thuộc về của ông, trong thời gian ông Đông Hồ đi dạy học ở Sài Gòn thì cho người mướn lại để ở trong căn nhà đó, vì thế ông Ngoại bạn Lý Văn Tấn ở trong căn nhà đó là lúc mướn nhà để ở chớ không phải mua lại. Cám ơn em Sáu đã giúp thêm chi tiết nầy.

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Lầu Ba đồi Ngũ Hổ qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Ở Hà Tiên chúng ta ai cũng biết Lầu Ba (còn được gọi là Lầu Ông Chánh). Lầu Ba được xây cất trên một ngọn đồi có tên là « Đồi Ngũ Hổ ». Tất cả các học sinh học trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đều biết Lầu Ba vì trường chúng ta nằm dưới chân đồi, tính từ trường đến đồi Ngũ Hổ thì qua một sân trường, một cái ao xà lách và một dảy phòng gọi là Phòng Thí Nghiệm, ngày xưa là phòng thí nghiệm của Trường Trung Học và có trang bị rất nhiều dụng cụ để thực tập Vật Lý và Hóa Học, sau đó dảy phòng thí nghiệm được dùng làm phòng học phụ thêm khi có chia lớp học sinh ngữ. Rất ít người được lên trên Lầu Ba vì từ ngay ngày xưa đã là căn cứ đóng quân của Địa Phương Quân Hà Tiên, sau đó là căn cứ Ban Chỉ Huy quân sự của chính quyền thị xả Hà Tiên. Có một lần mình được dịp lên Lầu Ba, lúc đó mình còn là một học sinh, vì có chơi văn nghệ đàn ca, nên có Đại Úy Thơ lúc đó chỉ huy quân đóng trên Lầu Ba, Đại Úy Thơ mời mình cùng một vài học sinh trong ban văn nghệ (trong đó có Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Ngọc Thanh) xách đàn lên Lầu Ba (đi từ ngả trường Trung Học, qua phòng thí nghiệm có một con đường nhỏ dẫn lên Lầu Ba). Lúc đó có một vài cố vấn Mỹ, vì Đại Úy Thơ muốn giới thiệu nhóm văn nghệ trường với các lính Mỹ nầy để cùng nhau đàn, hát một chút cho vui. Lúc đó mình còn nhớ có một người lính Mỹ da đen, có ca một bài và cùng lúc đệm đàn rất lướt mướt….

Bạn Trương Thanh Hùng (bút hiệu Giá Khê) có viết một bài về sự tích năm con cọp trên Đồi Ngũ Hổ, bài nầy có đăng trên Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432 ngày 22/12/2016 (các bạn có thể tìm xem trên mạng). Sau đây xin đăng lại bài viết đó để chúng ta biết được một sự tích dân gian hay của Hà Tiên. (Trần Văn Mãnh viết lời nhập)

Sự tích Đồi Ngũ Hổ (tác giả: Giá Khê)

Về Hà Tiên, chúng ta sẽ nghe nói đến đồi Ngũ Hổ, hiện nay Ban chỉ huy Quân sự thị xã Hà Tiên đóng trên đồi, bên cạnh doanh trại có một ngôi miếu và tượng của 5 con hổ (4 con bằng gốm, một con bằng xi măng). Vào thời Pháp thuộc, viên chánh chủ tỉnh cất công thự ở trên đồi này nên có câu ca dao:

Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông
Thương em từ thuở má bồng
Bây giờ em lớn em lấy chồng bỏ anh.

Truyền thuyết kể lại rằng:

Ngày xưa, Hà Tiên còn khá hoang sơ, nhưng cửa biển Hà Tiên là nơi tránh sóng gió rất tốt nên thuyền buôn từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á qua lại thường ghé vào neo đậu tránh gió, đồng thời để lấy thêm nước ngọt.

Vào mùa khô, khi nước biển lấn vào Đông Hồ, nước ngọt từ sông Giang Thành không thể chảy xuống át nước mặn được, người dân địa phương phải dùng nước ao, nước giếng đào. Gần bên Đông Hồ có một ngọn đồi nhỏ và một ao nước ngọt cung cấp nước cho người dân tại chỗ khi đã hết mùa mưa. Từ đó có những người chuyên làm nghề gánh nước mướn đổi cho các ghe thuyền qua lại và dân mua bán.

Hôm nọ có một ông lão gánh nước mướn quảy đôi thùng với cây đòn gánh bằng gỗ mun đen bóng đến bên đồi lấy nước. Đang mùa khô nên thú rừng cũng phải tìm nước uống (lúc ấy rừng còn đến khu vực này) và chúng cũng hay đến đây uống nước. Khi ông lão đến gần ao nước thì có 4 con cọp vừa đến uống nước. Tấn thối lưỡng nan, ông lão không thể bỏ về mà không có nước cho người cần dùng; cũng không thể nhường cho lũ cọp nguồn nước quí giá này, ông quyết định đi tới ao nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu lũ cọp định làm hại ông.

Bốn con cọp thấy có người tranh giành nguồn nước, chúng gầm gừ dọa nạt. Thấy ông lão cứ đến, chúng bèn dàn trận đánh ông.

Ông lão để cặp thùng xuống, thủ cây đòn gánh trên tay, con cọp đầu tiên vừa nhào đến, ông liền ra đòn rất mạnh và rất hiểm đánh hất con cọp văng ra. Ông cũng định dọa cho chúng lui thôi, nhưng bầy cọp hung hãn quyết ăn thua đủ với ông, chúng cùng nhào vô đánh với ông. Biết không thể nhịn được, ông dùng những thế võ cực hiểm đánh trả làm cho chúng bị thương rất nặng nhưng chúng cũng không chịu rút lui, sau gần một buổi chiến đấu, buộc lòng ông phải hạ dần từng con cho đến khi chúng kiệt sức và chết hết.

Ông lão chống cây đòn gánh nhìn xác 4 con cọp rồi ông cũng trút hơi thở sau cùng vì quá kiệt sức.

Những người cần nước chờ ông lâu quá nên kéo nhau đến đồi thúc hối. Khi đến nơi, họ mới phát hiện ông lão đã chết giữa 4 con cọp, dáng dấp rất uy nghi.

Người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và 4 con cọp, cũng từ đó ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ.

Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống. Về Hà Tiên, lên đồi Ngũ Hổ thắp nén nhang tưởng nhớ người xưa cũng là một việc làm thú vị.

Hiện nay, vì cơ quan quân sự đóng trên đồi nên Ban chỉ huy có làm một con đường phía sau cho dân lên chiêm bái. (Giá Khê, theo bài đăng ngày 22/12/2016 Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 432)

Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ)…Trung Học Hà Tiên những năm 60′. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, ngồi trên ở giữa: Lý Cui, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy,..Hà Tiên…60′. Phía sau cột cờ ta thấy phòng thí nghiệm (bên phải) và xa nữa là Lầu Ba.

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường, phía sau là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1960-1970)

Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (Phía sau ta thấy phòng thí nghiệm bên phải và xa nữa là Lầu Ba.)

Dương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu BaDương Thị Phương Hà tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968-1969 lớp Đệ Lục). Sau hình ta thấy rỏ ao nước, dảy phòng thí nghiệm và Lầu Ba

Đồi Ngũ Hổ với Lầu Ba ở giữa hình, bên trái Lầu Ba là dảy Phòng Thí Nghiệm, phía dưới Lầu Ba là dảy nhà thiếc: căn cứ Duyên Đoàn 44 Hãi Quân thời 1970, bên phải dảy nhà thiếc là sân vận động cũ của Hà Tiên. Phía dưới hình là một phần của Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ, phía xa là núi Đề Liêm, phía dưới là Đông Hồ. Hình do sĩ quan người Mỹ Rich Krebs chụp khoảng 1966-1970.

Học sinh của một lớp học Trung Học Hà Tiên chụp hình tại sân trường, phía sau ta thấy rỏ Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Trần Quyết Tới (con của Chú Tư Thiên tiệm hớt tóc Tư Thiên Hà Tiên), hình chụp năm 1981 trên Đồi Ngũ Hổ, phía sau Lầu Ba, sau lưng là cây cổ thụ Bao Báp (BaoBab Africain)

Quang cảnh Lầu Ba trên Đồi Ngũ Hổ chụp từ phía núi Tô Châu. Photo: Trương Minh Quang Nguyên 2012

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên) , du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đồi Ngũ Hổ hiện nay (2017) Khoảng đất phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên), du khách được tự do đến viếng đền thờ Ngũ Hổ và ngắm cây cổ thụ Bao Báp (Baobab Africain)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Đền thờ Ngũ Hổ trên Đồi Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba hiện nay. (Hà Tiên 2017)

Bàn thờ bên trong đền thờ Ngũ Hổ phía sau Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ hiện nay (Hà Tiên 2017)

Chi tiết chữ viết trên bia thờ trên bàn thờ đền Ngũ Hổ (phía sau Lầu Ba) trên đồi Ngũ Hổ (Hà Tiên 2017)

Lầu Ba hiện nay (ngôi nhà bên phải cột antenne và dưới Thạch Động). Hà Tiên. 2018

 

Chú thích hình:

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Mãnh, Dương Thị Phương Hà, Trần Hoàng Trang, Trần Quyết Tới, Rich Krebs, Lâm Lan, Minh Đức Dương

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành

Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » đã viết rất nhiều bài giới thiệu những thầy cô yêu quý đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên xưa, nếu không nhắc đến thầy Nguyễn Văn Thành thì sẽ là một thiếu sót đáng kể…Mình không biết trường Trung Học Công Lập Hà Tiên của chúng ta có tất cả là bao nhiêu đời Hiệu Trưởng nhưng theo mình biết trước thầy Nguyễn Văn Thành trường Hà Tiên chúng ta có hai thầy Hiệu Trưởng:  thầy Doãn Quốc Sỹ và sau đó là thầy Lại Xuân Quất (khi mình vào bậc Trung Học niên khóa 1964-1965 thì thầy Lại Xuân Quất đã là Hiệu Trưởng của trường. Sau đó có đợt giáo sư ở Sài Gòn được bổ nhiệm xuống trường Hà Tiên (khoảng năm 1964-1965), trong đó có thầy Nguyễn Văn Thành dạy môn Lý Hóa, khi mình vào lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1966-1967) thì thầy Thành bắt đầu nhận chức Hiệu Trưởng của trường Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Văn Thành cũng thuộc trong nhóm giáo sư ở trọ căn nhà số 16 đường Nhật Tảo, Hà Tiên (Quý thầy ở trọ trong căn nhà nầy là: Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Hồng Ẩn, Phùng Tuấn Sinh, Nguyễn Văn Thành, Út, Nguyễn Phúc Hậu, Nguyễn Thanh Liêm, Phan Văn Chiếu, Bùi Văn Cầm…..)

Trong khoảng thời gian đó sau khi có biến cố 1963, các tướng lảnh bắt đầu nắm quyền hành trong nước, lúc đó có tướng Nguyễn Khánh với bộ râu dưới càm rất lạ và rất oai. Thầy Nguyễn Văn Thành cũng theo phong cách để râu càm như vậy…

Lớp mình có nhiều kỷ niệm với thầy Thành, xin kể kỷ niệm thứ nhứt:

Vì thầy dạy môn Lý Hóa nên trong những giờ môn Vật Lý thầy thường giảng về các khái niệm: « Năng Lượng », « Điện Tích », « Điện Trường »,….và định luật Coulomb. Trong các ký hiệu dùng để diển tả công thức, thầy thường dùng ký hiệu Q (đọc theo âm Việt là « cu »…), và khi trên bảng thầy viết có hai công thức khác nhau nên thay vì dùng hai ký hiệu khác nhau Q1 và Q2, thầy lại dùng hai ký hiệu Q và q, thầy đọc trong lúc giảng… »cu lớn » và « cu bé »…!!! làm cả lớp cứ khúc khích cười không tập trung theo dỏi bài giảng được.

Kỷ niệm thứ hai:

Mình không nhớ vì một lý do gì đó mà thầy vào lớp để điều tra xem có học sinh nào làm một điều gì đó mà mình quên rồi, thầy đứng trước giữa lớp cứ hỏi to và nhiều lần: « Em nào vào đây ?? », « Em nào làm hãy cứ ra nhận lỗi ?? « ….Cả lớp im phăng phắt vì không ai ngu dại gì ra nhận tội….Cả lớp cứ chối: « Đâu có ai làm gì đâu thầy ơi…!! » Chờ và hỏi hoài không thấy có kết quả thầy giận quá thầy quát to: « Không ai « quô » đây thì ma quỷ nó « quô » đây …!! »….Câu nầy về sau mình và Lý Mạnh Thường rất thích cứ nhái đi nhái lại thầy hoài (dỉ nhiên là đâu dám nói trước mặt thầy…)

Kỷ niệm thứ ba:

Kỷ niệm nầy lại rất ghê gớm…Rất nhiều lần học trò thường hay đến chơi nhà quý thầy ở trọ (căn nhà số 16 đường Nhật Tảo Hà Tiên), mỗi lần các học trò « thân » đến chơi, các bạn thường khai ra hết những chuyện bí ẩn trong lớp cho quý thầy biết,..Có lần đó không có mặt mình, có một nhóm bạn hình như là Lý Cui, Lý Văn Tấn,…đến nhà thầy chơi tối, không biết là thầy Thành tò mò hỏi các bạn nầy hay các bạn nầy tự khai ra mình không nhớ rỏ, mà các bạn đã khai ra hết trong lớp mình, ai là bồ của ai, hay là ai « yêu » thích ai.. …Thời đó trong lớp có Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm nhỉ) cặp bồ với bạn Quách Thị Chol, còn nhiều cặp nữa mà mình đã quên rồi, chắc lúc đó các bạn Lý Cui và Tấn Lý có khai trường hợp của mình nữa…Thầy Thành nghe các bạn khai hết như vậy rất thích, không biết thầy có ghi lại tên mỗi cặp cho dể nhớ hay không mà sáng hôm sau, có giờ thầy Thành dạy Vật Lý, thầy bắt đầu kêu tên trả bài, thầy cứ kêu tên một bạn nam và sau đó thầy kêu tới tên bạn nữ trong cặp nam nữ mà thầy đã biết đêm hôm qua, lúc đầu trong lớp không ai để ý, một lúc sau, cả lớp khám phá ra quy luật kêu tên trả bài của thầy Thành, lúc đó cả lớp hiểu ra chiến thuật đó nên rất thích chí và cười to mỗi khi có một nam và một nữ đúng tên trong một cặp bị kêu lên trả bài,…Bởi vậy khi thầy kêu tên bạn nam A thì cả lớp nói bạn nữ B phải chuẩn bị đó….(trong cặp nam nữ tên A và B)…Đọc đến đây chắc các bạn muốn thắc mắc vậy khi thầy Thành kêu tên mình lên trả bài thì sau đó sẽ kêu tên bạn nữ nào trong lớp,…?? Thôi mình không nói ra để cho các bạn học cùng lớp năm xưa đoán nhé,…  :-)…(bạn nào không biết cứ hỏi Hà Mỹ Oanh sẽ rỏ…  :-)…)

Kỷ niệm thứ tư:

Trong thời gian thầy Nguyễn Văn Thành làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên thì phong trào văn nghệ của trường phát triển khá mạnh. Mỗi dịp cuối năm trường làm lễ phát thưởng đều có kèm theo chương trình văn nghệ rất phong phú. Vì mình phụ trách đàn guitare đệm nhạc cho cả trường hát (có cả các bạn chơi guitare khác như Tống Châu Thành, Lý Cui,…) nên thầy Thành hứa là sẽ mua cho trường một dàn trống và một cây đàn điện Fender với cả ampli. Mình còn nhớ lúc thầy Thành nhân một chuyến đi về Sài Gòn công việc, khi trở xuống Hà Tiên, thầy có mua đem về dàn trống và một cây đàn điện Fender và ampli. Hôm đầu tuần thứ hai kế sau ngày thầy về, lúc đó có thông lệ làm lễ chào cờ đầu tuần. Học sinh cả trường ra sắp hàng ngoài sân trước cột cờ để làm lễ chào cờ, có ca bài Quốc Ca nữa. Lúc đó thầy kêu mình lên thử đàn guitare điện Fender mới mua, thầy kêu mình đệm đàn cho cả trường ca bài Quốc Ca… Không biết đến bây giờ số phận của cây đàn điện Fender và cái ampli đó ra sao rồi nhỉ???

Kỷ niệm thứ năm:

Kỷ niệm nầy rất thú vị và mình rất thích tuy bây giờ mình muốn kể lại đầy đủ chi tiết nhưng không làm sao nhớ ra được. Đó là việc vì thầy Nguyễn Văn Thành có nhiều bạn làm Sĩ Quan Hải Quân thời đó, thời đó các tàu Hải Quân thường vào ra ghé bến Hà Tiên (60-70), tàu đậu dưới Đài Kỷ Niệm chổ cầu tàu bến đậu của chiếc tàu đoan quan thuế. Lúc đó là ngày 20/06/1969, vị Sĩ Quan Thuyền trưởng chiếc tàu HQ-607 là bạn của thầy Thành nên ông nầy mời thầy Thành cùng tất cả học sinh trường Trung Học Hà Tiên đi một chuyến du ngoạn ở ngoài Hòn Nghệ. Thầy Thành đồng ý và thầy trò trường Hà Tiên chúng ta được một dịp lên chiếc tàu HQ-607 cùng ra khơi đi thăm Hòn Nghệ. Chuyện đi du ngoạn Hòn Nghệ trên chiếc tàu HQ-607 nầy rất thú vị và là đề tài cho một bài viết mà mình rất muốn viết lại để cho các bạn đọc Blog thưởng thức, tuy nhiên mình không còn nhớ nhiều các chi tiết về chuyến đi Hòn Nghệ nầy, mình rất lấy làm tiếc và nhân đây xin lên tiếng quý Thầy Cô và các bạn Trung Học Hà Tiên xưa những vị có mặt trên chuyến đi nầy xin cố gắng nhớ lại từng chi tiết, từng kỷ niệm chuyến đi và xin đóng góp cho mình các chi tiết đó, mình sẽ tổng hợp lại thành một bài viết để đọc cho vui nhớ về chuyện xưa nhé, rất cám ơn thầy cô và các bạn. Trong chuyến đi Hòn Nghệ nầy có đủ cả các bạn: Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Quách Ngọc Sơn, Trần Văn Dõng, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Mãnh,…Mai Thị Ngọc Minh, Nguyễn Nguyệt Hồng,…đủ hết rất nhiều có cả chị Huỳnh Thị Kim, chị Dung (con Ông Bà Ngữ) cùng lớp với chị Kim,…Mình còn nhớ khi các học sinh lên tàu ra khơi, vì sóng biển bắt đầu đánh nhấp nhô, đi được một lúc, ai nấy đều lừ đừ. ..Khi lên được ở trên Hòn Nghệ thì vui chơi cả ngày, có mua heo, vịt làm tiết canh vịt và cả nhóm bên học sinh nam cùng uống rượu với các anh Hải Quân… .Chiều lại trên chuyến về bị sóng đánh nữa nên ai nấy đều ói mửa đầy cả sàn tàu…khổ cho các anh thủy thủ và các quan chức trên tàu sau chuyến đi đó phải rửa tàu cho sạch lại. Tuy nhiên các chàng thủy thủ và các Sĩ Quân trên tàu rất thích và rất vui trong chuyến đi đó, vì các vị đó được dịp phục vụ các cô nàng nữ sinh Hà Tiên đẹp như mơ mà thường ngày các vị đó tìm cách làm quen nhưng chưa được,…

Vì thầy Nguyễn Văn Thành đảm nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng nên trong công việc điều hành sinh hoạt của trường lớp đôi khi cũng có một vài mâu thuẩn với các đồng nghiệp, và với cả với học sinh.Tuy nhiên theo mình nghĩ qua thời gian hơn 40, 50 năm nay ta nên gìn giữ lại những gì tốt đẹp của ngày xưa mà hãy quên đi những lúc khó khăn, tranh chấp,…Sống theo một tinh thần rộng lượng và thoải mái là tốt đẹp nhất trong những quan hệ xưa và nay.

                       Paris,  mùa lễ Toussaint 02/11/2017 Trần Văn Mãnh tự thuật…

Thầy Nguyễn Văn Thành

Thầy Nguyễn Văn Thành mặc áo xám đứng giữa trong hình

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành  trao giải thưởng Danh Dự cho học sinh Trần Văn Mãnh trong ngày lễ phát thưởng cuối năm

Chữ ký tên của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành trong sổ Thông Tín Bạ

Chính trên chiếc tàu Tuần Duyên Hạm PGM Nam Du HQ-607 nầy cả thầy trò và học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên đi chơi Hòn Nghệ ngày 20/06/1969 (PGM = Patrol Gunboat Motor)

Khưu Thiên Phước (hồi xưa Phước thường hoạt động trong Gia Đình Phật Tử chùa Tam Bảo, nay đã chết), Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ (cháu Dì Hai Sánh) và anh Chư (anh Chư nhà ở đường Bạch Đằng kế nhà Thầy La Từ Sự, anh Chư học chung lớp với Hải con ông Ba Nhan), hình chụp ngày 20/06/1969 trên tàu Hải Quân HQ-607 chở ra hòn Nghệ đi du ngoạn.

Sau đây là một vài cảm nghĩ của bạn Lâm Thị Lan viết về thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành:

Nhớ về thầy hiệu trưởng NGUYỄN VĂN THÀNH của Trung học Hà Tiên xưa.
Một người thầy hiền từ rất quan tâm tới học sinh nhất là đối tượng học sinh nghèo có ý chí vượt khó vươn lên. Thầy lại rất giỏi về chuyên môn nhất là môn Lý Hoá. Thầy có tư tưởng chuyên sâu đi vào nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao kiến thức cho học sinh, lại có tâm quyết đào tạo thế hệ người thầy tương lai cho những học sinh xuất thân từ Trung học Hà Tiên.
Cảm ơn và trân trọng những phẩm chất cao quý của Thầy ”Tất cả vì học sinh thân yêu” nơi mảnh đất xa xôi phía Tây Nam của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

Tác giả Lâm Thị Lan

Hình ảnh: Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Phùng Học Thông

Tái Bút: Trong phần kể lại kỷ niệm thứ hai, bạn Lê Phước Dương có cho biết lý do tại sao thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành vào lớp mình hỏi để tìm ra thủ phạm: đó là vì có một học sinh vẻ một bức hình hí họa có ý trêu chọc ba người thầy: Thầy Hứa Văn Vàng (Giám Thị), thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng) và ông Thân (Thư Ký). Bức hình diển tả một trường hợp hơi có ý phạm thượng với ba người thầy đó nên thầy Thành rất giận, phải điều tra cho ra ai là học sinh vẻ hình đó để sửa sai…Không biết kết cuộc ra sao mình quên rồi nhưng Dương còn nhớ học sinh đó là bạn Chung Lưởng Tài, học cùng lớp với mình. Cám ơn bạn Lê Phước Dương đã đóng góp cho bài thêm đầy đủ chi tiết.

 

 

 


Cô Hà Thị Hồng Loan

Thầy Cô và các bạn thân mến, thật là một món quà quý báu cho mình nói riêng và cho tất cả cộng đồng Trung Học Hà Tiên Xưa của chúng ta nói chung vào những ngày sắp sửa tiếp đón ngày nhớ ơn quý thầy cô. Đó là như thế nầy, từ ngày lập ra Blog THHTX đến nay mình luôn có ý dọ hỏi tìm tin tức của Cô Hà Thị Hồng Loan (và hai cô nữa là Nguyễn Minh Nguyệt dạy Pháp văn và Vương Thị Lành dạy Quốc văn), vì cô Loan là một trong những giáo sư dạy mình ngay từ lớp Đệ Thất và có ảnh hưởng rất nhiều đến cả lớp học của mình thời đó. Qua nhiều ngày tháng không tin tức thì may mắn thay nhân một dịp mình để một bức ảnh lên làm ảnh bìa của trang fb của mình để viết về ngày Tri ân Thầy Cô Giáo 20/11 sắp tới, trong lời viết mình có nhắc đến Thầy Cô dạy thời Trung Học Hà Tiên (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Cô Hà Thị Hồng Loan,…). Vài hôm sau có một cháu gái tên trên fb là « Khiet Nha Huynh » viết nhận xét dưới bức ảnh bìa của mình và cho biết rất nhiều tin tức và nhất là còn cung cấp cho mình những tấm hình rất là quý giá về Cô Hà Thị Hồng Loan. Cháu gái Khiet Nha Huynh chính là cháu ruột của Cô Hà Thị Hồng Loan, gọi Cô Loan là Bà Ngoại Sáu, vì mẹ của cháu là con gái của Cô Hà Thị Bạch Tuyết chị ruột của Cô Loan. Vì Cô Loan vẫn ở vậy đến ngày nay nên không có con và xem mẹ của cháu như là con gái nên cháu mới đổi danh gọi Bà Dì Sáu thành Bà Ngoại Sáu.

Cô Hà Thị Hồng Loan là con gái trong một gia đình quý phái, kỳ cựu của đất Hà Tiên. Cha của cô là Ông Hà Văn Điền, người Hà Tiên rất kính trọng và thường gọi là Ông Đốc Điền. Nhà của Cô ở dưới đường Bến Trần Hầu, ngó ra mé sông. Vì Cô là người gốc Hà Tiên nên sau khi học thành tài, Cô vẫn ở lại Hà Tiên và gia nhập vào ban giáo chức giãng dạy tại Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên vào những năm 60-70. Cô Loan dạy mình môn Toán  lớp Đệ Thất (1964-1965), Cô dạy môn Toán và Quốc Văn lớp Đệ Lục (1965-1966). Trong lớp học vào thời đó có các học trò mà Cô rất thương mến như: Trần Văn Mãnh, Lý Mạnh Thường, Lý Cui, Nguyễn Văn Tài, Trương Thái Minh,…Vào thời đó Cô Loan đúng là một cô thiếu nữ « mình hạt sương mai »…vì Cô có vóc dáng rất thanh tao, nhỏ nhẹ…và Cô có gương mặt rất đẹp. Mình vẫn còn trong đầu óc hình dáng Cô những lúc chạy xe đạp trên đường đi và về dạy học..Một tà áo dài Cô vắt trên yên xe đạp và tà áo kia Cô giữ trong tay phải gát lên tay cầm xe đạp, hình ảnh Cô đạp xe nhẹ nhàng trông rất đẹp mắt…

Mình còn nhớ giờ Quốc Văn cô thường cho bài Luận Văn về nhà làm, mình không còn nhớ đề tài của bài Luận Văn là gì, nhưng vẫn còn nhớ trong bài mình làm khi tả cảnh trời mưa trong đêm tối, mình có tả với câu: « Trên nền trời đen thẩm, những tia chớp ngoằn ngoèo sáng lên như những con đường đưa ta lên Trời… », khi chấm bài cô phê vào bên cạnh câu đó là « Ý hay »…!!  (làm mình rất thích…)

Vào khoảng những năm cuối của thập niên 70, mình bắt đầu rời Hà Tiên để học lớp Đệ Nhất ở Rạch Giá và học Đại Học Cần Thơ nên mình mất dần tin tức của Cô Loan. Rồi thời gian đưa đẩy mỗi người tìm một con đường mưu sinh, học trò năm xưa không còn biết tin về Cô nữa,…đến bây giờ định mệnh đẩy đưa có cháu gái của Cô cho chúng ta biết tin về Cô. Hiên nay Cô Hà Thị Hồng Loan sống tại Hốc Môn Sài Gòn, Cô vẫn độc thân, không con cái, Cô thực hành con đường tu tại gia, Cô đã lớn tuổi nên không dùng máy vi tính, vì vậy Cô không có dịp xem hình và đọc bài vở trên Blog Trung Học Hà Tiên Xưa của chúng ta. Tuy nhiên mình mong rằng cháu gái của Cô nếu có dịp sẽ chỉ cho Cô xem hình ảnh, bài vở để Cô tìm lại một chút khung trời xa xưa và để Cô thấy rằng học trò ngày xưa của Cô vẫn không bao giờ quên Cô. Mình viết những dòng chữ nầy với lòng mong ước rằng chính Cô sẽ đọc được và xin Cô nhớ lại em học trò thân của Cô ngày xưa nhé,..

              Trần Văn Mãnh (viết theo chi tiết của cháu gái Khiet Nha Huynh cung cấp)

Tái bút: Cô Hà Thị Hồng Loan dạy Trường Trung Học Hà Tiên đến năm 1969 thì đổi về Sài Gòn dạy Trường Trung Học Gia Long. Tại đây Cô dạy được một thời gian dài và đến lúc nghỉ hưu trí. Sau đó các đồng nghiệp Trường Gia Long có lập một làng Giáo Viên ở Hóc Môn (gần Sài Gòn) và mời Cô về cất nhà ở. Cô sinh sống tại đó luôn cho đến hiên nay.., Cô sống chỉ có một mình với một nỗi buồn cô đơn, không có phương tiện gì để giải trí cả, Cô nói Cô không có máy móc để lên mạng, thường ngày chỉ vui với kinh kệ mà thôi. Mình được dịp nói chuyện trực tiếp với Cô qua điện thoại, nghe tiếng nói của Cô mình cũng rất buồn cho hoàn cảnh của Cô, Cô rất ít về Hà Tiên nữa vì không còn bao nhiêu người thân quyến, vả lại Cô nói Cô đã 75 tuổi rồi, đi đứng khó khăn, sức khỏe sút kém nên chỉ sống với hiện tại một mình mà thôi. Mình cũng có hỏi Cô sao không thương yêu ai để lập gia đình thì Cô nói đó là vì định mệnh sắp đặt như vậy Cô cũng không sao thay đổi được,…Mình thấy rất là thương Cô…

hathihongloan_7Cô Hà Thị Hồng Loan trẻ đẹp…

ha_thi_hong_loan-2Cô Hà Thị Hồng Loan trẻ đẹp

ha_thi_hong_loan-3Cô Hà Thị Hồng Loan trước cữa lớp học (thứ nhì từ phải sang trái). Nếu mình nhìn không lầm thì bên phải là Cô Trần Diệu Hiền Giám Thị, bên bìa trái là Cô Nguyễn Minh Nguyệt dạy Pháp Văn và kế Cô Nguyệt là Cô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn.

ha_thi_hong_loan-4Cô Hà Thị Hồng Loan trong văn phòng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái là Cô Trần Diệu Hiền đang làm việc, bên phải có thể là Thầy Nguyễn Tấn Ngoan

hathihongloan_5Trái sang phải: Cô Hà Thị Hồng Loan, Cô Nguyễn Minh Nguyệt và Cô Vương Thị Lành

hathihongloan_6Cô Hà Thị Hồng Loan và Cô Vương Thị Lành chụp hình trước Thach Động Hà Tiên

vuongthilanhCô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn Trường Trung Học Hà Tiên

ha_thi_hong_loan-1Cô Hà Thị Hồng Loan hiện nay (chụp với con trai lúc 3 tuổi của cháu gái Khiet Nha Huynh)

Hình ảnh: Khiet Nha Huynh (thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, chân thành cám ơn cháu gái Khiet Nha Huynh đã nhiệt tình cung cấp tin tức và hình ảnh rất quý giá cho bài viết để mình được giới thiệu Cô Hà Thị Hồng Loan trên Blog nầy.

Nhớ Trường Trung Học Hà Tiên xưa (Trương Thanh Hùng)

                             NHỚ TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀ TIÊN XƯA

Trường Trung học Hà Tiên của chúng ta được thành lập từ khoảng năm 1955-1956, lúc đầu còn mượn cơ sở của trường Tiểu Học, theo thầy Trương Minh Đạt, đến năm 1956 mới bắt đầu xây dựng cơ sở mới gồm 4 phòng học trên đường Mạc Thiên Tích (cổng chính) và phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba.

DuongThiDiemHa (5)DuongThiPhuongHa (10)

Học trò chụp hình trong sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa (giữa hình là « Ao xà lách », phía xa là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba)

Tôi vào học đệ thất năm 1965, lúc đó trường đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì 1 môn phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng đến năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có thêm 1 lớp 6 và phân ra 6A (Anh văn), 6P (Pháp văn) mà chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học cho 1 lớp 6, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích. Sau đó tôi đi Rạch Giá học nên không biết phát triển thế nào.

Khoảng cách từ dãy phòng học chính và phòng thí nghiệm khá xa, chính giữa có 1 cái ao nước ngọt được gọi là “Ao xà lách” vì trước đây ao nước này vừa cung cấp nước dùng cho xóm dân dưới chân Lầu Ba, đồng thời cũng là ao nước tưới cho vườn rau xung quanh nên mới có tên là Ao xà lách.

TH_HaTien_1968Thầy Cô giáo và nhân viên Trường Trung Học Hà Tiên xưa

Theo cảm nhận của tôi, trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, sau này thêm từ “Công lập” là một ngôi trường nhỏ êm đềm nằm trong một thị trấn cũng êm đềm, bởi Hà Tiên là nơi “Đất Phật, người hiền”. Bạn học tôi, các lớp đàn anh cũng như những lớp học sau đều hiền lành, dễ thương và rất gắn bó với nhau. Các anh Trần Tấn Công, Trần Văn Danh, Trần Tiên, Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Cui, Lý Văn Tấn, Huỳnh Văn Năm. . . học chung với anh Trương Thái Minh của tôi đều rất dễ thương và gần gũi. Đặc biệt có anh Trần Tấn Công hay chở tôi trên chiếc xe đạp của anh đi rong trong thị trấn. Khoảng năm các anh học đệ tứ làm bích báo, tôi rất thích và học theo làm cho lớp mình. Trong lớp tôi có Trần Tuấn Anh (ở nhà tên Quới), anh của Trần Yến Phượng vẽ khá hay, hai anh em tôi cũng ra sức “o” cho tờ bích báo của lớp mình. Còn lớp sau cũng có bích báo đăng thơ của Quách Ngọc Điền mà tôi rất phục. Thú thật, còn với anh Mãnh thì tôi chỉ ngưỡng mộ từ xa mà thôi chứ ít gần.

TranVanManh_Hippy10TranVanManh_Hippy7

Phải: Gốc cây Bàng trước sân Trường Trung Học Hà Tiên xưa. Trái: Ao xà lách và trại lính bên hông Trường.

Tuy nhiên, “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, hình như anh em chúng ta phá phách cũng không ít, mà chủ yếu là lên Núi Lăng giởn hớt, bẻ dừa, xoài, mít ăn. . . Ông Từ Nguơn hình như cũng dung túng cho sự phá phách đó. Có lần ông nói đại khái: « Tụi bây bẻ mít rồi dấu, tới khi mít chín thơm thì tao nghe mùi ra đem về, bắt chi mất công ». Mà thật như vậy.

TVM_ClasseTrái: Học trò chụp hình trước sân ngay tại cột cờ nhà Trường (Trần Tấn Công ở hàng trên bên trái)

Có lần tôi theo đàn anh lên Núi Lăng chơi trò rượt bắt rồi đến vườn xoài phía sau mộ Mạc Cửu hái trộm khá nhiều mang đến dưới gốc cây đa trước chùa Lò Gạch ăn. Đổ mồ hôi, khát nước, cắn miếng xoài thanh ca chua nó ngon ngọt làm sao. Tôi ăn hết 2 trái. Nhưng rồi nó ê răng, mấy ngày sau ăn cơm cũng còn bị ê. Tởn luôn.

Đến năm học đệ ngũ, lớp lớn nhất của buổi chiều, lại thêm tâm, sinh lý thay đổi nên hầu hết các bạn đệ ngũ đều có chút tự hào là lớp đàn anh nên có phần “lên mặt”, quậy nhiều hơn một chút. Nhiều bạn “có bồ” làm tôi cũng bắt chước, nhưng vì không có duyên nên sớm bị bỏ rơi !!!

Tôi nhớ năm này trường tổ chức cắm trại bên Thất Cao Đài với nhiều sinh hoạt rất vui. Lại có một lần tàu hải quân (hình như số hiệu HQ607) chở học sinh ra Hòn Nghệ tắm biển, chui vào hang đầu hòn rồi ăn tôm nhúng nước dừa tươi rất ngon. Khi về hầu hết anh em bị say sóng ói tùm lum, vào cả phòng hạm trưởng nằm la liệt.

P1190191 P1190192Một vài kỷ niệm nhỏ với trường Trung Học Hà Tiên xưa viết ra để Thầy Cô và các bạn đọc cho vui. Hẹn sẽ viết tiếp nếu các bạn không chê và anh Mãnh cho phép.

                                                                          TruongThanhHung

Giá Khê Trương Thanh Hùng 

(Sài Gòn 24-1-2016)                     



Giới thiệu Lê Công Hưởng

Thầy Cô và các bạn thân mến, một trong những người học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên xưa có ảnh hưởng nhiều nhất đến nền ca nhạc của Hà Tiên là bạn Lê Công Hưởng,…Vì bạn Lê Công Hưởng có một thời là trưởng ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương ».

Ngày trước, Hà Tiên vào đầu những năm 60, có ban nhạc « Sao Đêm » do bạn Tống Châu Thành làm trưởng ban và hoạt động rất sôi nổi, thính giả Hà Tiên (đa số là học sinh Trung Học) rất ủng hộ…Sau một thời gian ngắn, lại có thêm một ban nhạc mới xuất hiện, lấy tên là « Tiếng Hát Quê Hương », ban nầy do Lê Công Hưởng làm trưởng ban, thường xuyên tập hợp ở nhà Lý Mạnh Thường để tập dợt..Tống Châu Thành, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Nhan Hồng Hà, Lý Cảnh Tiên, anh Trần văn Dõng … đều học chung một lớp và trên mình một lớp. Hôm nay xin viết về bạn Lê Công Hưởng.

Nhà Hưởng ở đường Đống Đa, gần về phía đường Mạc Tữ Hoàng và sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Hưởng có người anh trai tên là anh Chung ngày xưa có đi lính Biệt Đông Quân, có một em trai và một em gái tên là Lê Thị Tám.  Mình có hai người bạn cũng đặc biệt, Nguyên thì không cao lắm còn Hưởng thì rất cao,..hai người rất tương phản với nhau về hình dáng bề ngoài. Lúc lập ban nhạc, mỗi người chọn một tên hiệu, Nguyễn Đình Nguyên là « Duyên Đình », Lê Công Hưởng là « Song Nguyên », (mình còn nhớ trước đó bạn Lý Cui chọn tên hiệu là « Hoài Thảo »), Lý Mạnh Thường vì tên đã nghe hay rồi nên giữ tên là « Mạnh Thường », còn mình thì là « Tô Huyền Linh » (tên nầy mình vẫn còn giữ đến bây giờ trong các kênh Youtube của mình, tại sao « Tô Huyền Linh », vì trước đó mình có xem tạp chí « Điện Ảnh » thời xưa, thấy có một đạo diển tên là « Tô Huyền Vân » nên nảy ý ra là « Tô Huyền Linh », tên thì nghe hay nhưng vẫn thường bị trêu chọc là « Tô Cơm Nguội »…!! và sau nầy nhiều người không biết thường viết nhận xét dưới các clips nhạc của Youtube mình là « Cô Tô Huyền Linh »…có lẻ tên giống tên con gái…)…Ban nhạc mới thành lập do Hưởng điều khiển, có quy luật rỏ ràng, mỗi tuần phải tập dợt đàng hoàng không ai được lười biếng bỏ phiên dợt,..Ban nhạc cũng chiêu mộ được một số ca sĩ nữ là học sinh các lớp sau: Dương Hồng Minh (tên hiệu là « Khánh Linh »,..Như Liên,..Tiền Ngọc Dung,…), ngoài ra trong lớp mình còn có Phù Ngọc Anh cũng tham gia (Phù Ngọc Anh nhà đường Tuần Phủ Đạt, tên hiệu tiệm may là Hoa Tân, em gái của anh Tùng Phương, Tùng Trang là các bậc đàn anh một thời nỗi tiếng trong làng ca nhạc đất Hà Tiên (thời anh Tùng Phương có anh Hồ Hãi đàn rất hay, và có chị Thái Cẩm Hà nhà trước nhà Mạnh Thường, chị Cẩm Hà là một nữ ca sĩ nỗi tiếng và cũng là bậc đàn anh, đàn chị đi trước các ban nhạc mình sau nầy, anh Tùng Phương nỗi tiếng với bài « Buồn Mà Chi Em »…..)

Hồi đó không có điều kiện thâu cả chương trình nhạc trước và cho phát thanh sau, nên đến mỗi ngày thứ bảy trong tuần là phải kéo nhau cả nhóm lên trụ sở Chi Thông Tin đường Bạch Đằng (phía đầu trên đối diện với trại lính cũ) và đàn, ca trực tiếp tại chổ trong một phòng phát thanh cũng khá nhỏ hẹp. Đầu tiên thì mình đàn một đoạn nhạc không lời và có Mạnh Thường (sau nầy có một giọng nữ thay thế là giọng của chị Hằng con Thầy Giáo Lộc) đọc lời chào mở màn cho chương trình (đại khái còn nhớ là « Sau những ngày hành quân mệt nhọc, xin mời các anh lính chiến….). Tiếp đến thường xuyên là một bài hợp ca (Cho Tôi Được Một Lần, Từng Bước Chân Âm Thầm, Giả Từ Đêm Mưa,…). Sau một thời gian hoạt động, ban nhạc rất được sự ủng hộ của các bạn học sinh và có nảy ra sự viết thơ gởi đến Lê Công Hưởng để yêu cầu nhạc,..và có đọc tên của những người yêu cầu trong lúc giới thiệu tựa bài nhạc,..

Để ủng hộ thiết thực cho ban nhạc, ông Quận Trưởng Hà Tiên có cấp cho ban nhạc mỗi tháng một số tiền nhỏ là 500 đồng (gọi là để uống nước, cà phê,…). Hưởng quản lý số tiền nầy và dỉ nhiên là để tiêu xài chung cho trong ban nhạc. Mục tiêu xài thông dụng nhất là để trả tiền uống cà phê quán Quãng Phát gần nhà mình. Lúc đó cả nhóm rất thường kéo nhau đi uống cà phê, mỗi lần uống xong Hưởng nói với Ông Quãng Phát ghi sổ để đó và cuối tháng lảnh tiền hát ra trả…

Trong thời gian học Trung Học, thường là cuối năm vào dịp trường làm lễ phát thưởng, có văn nghệ hẳn hoi, dỉ nhiên là phần văn nghệ thì do nhóm mình lảnh phần phục vụ. Trong năm đó, trong lúc lễ phát thưởng, có một vở kịch do Hưởng đóng vai chánh. Nội dung của vở kịch ra sao thì mình quên rồi, chỉ nhớ là Hưởng đóng vai một anh chàng học sinh hiền, có yêu một cô bạn gái cùng lứa, nhưng vì có hiềm khích với một nhóm khác (bây giờ gọi là « xã hội đen »…), nên cuối vở kịch thì Hưởng phải bị đâm chết trên sân khấu. Lúc đó sân khấu của buổi lễ phát thưởng làm trong dảy phòng thí nghiệm dưới chân núi Lầu Ba…Để chuẩn bị trước, Hưởng lấy một cái hột gà, soi một lổ nhỏ và rút hết tròng trắng, trong đỏ ra, lấy phẩm (mực) đỏ bơm vào hột gà rỏng đó và Hường cất kỷ trong túi áo. Trong lúc diển kịch, lúc bị bọn côn đồ đâm Hưởng lấy tay ôm bụng và trong tay đã có hột gà sẳn, và Hưởng bóp mạnh cho hột gà bể ra, phẩm đỏ chảy ra y như là máu chảy ra,…nhưng chưa chịu chết lền, lúc đó theo như màn kịch soạn rồi, Hưởng còn đứng lại, lấy tay ôm bụng đầy máu và ca bài « Tình Yêu Trả lại Trăng Sao » (Thôi hết rồi người đã xa tôi,….chách.. chách .chách chách .chách chách bùm chách bum..vì bài nầy đánh theo điệu Habanera, lúc đó là mình đang đứng trong hậu trường đàn cho Hưởng ca…). Hưởng ca xong hết bài rồi mới chịu ngả xuống chết, lúc đó là màn kịch kết thúc, màn kéo lại….Không biết sau đó Hưởng tính cho cái áo sơ mi như thế nào vì áo đã bị ướt đỏ hết,….

Hà Tiên ngày trước thường có những dịp tiếp đón Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị đến để trình diển văn nghệ phục vụ đồng bào trong quận. Sân khấu được dựng lên phía khoảng đất trống đối diện với tiệm cơm Xuân Thạnh, kế đồn cảnh sát và song song với dải tiệm hớt tóc dọc theo mé sông. Vì mình là dân chơi nhạc nên rất thích những dịp như vậy, và vì Hưởng là một đại diện cho làng chơi nhạc Hà Tiên nên cả nhóm bàn là Hưởng phải lên ca trong dịp nầy,…Quyết định xong, tập dợt lai rai trong buổi chiều rồi màn đêm kéo xuống, Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị bắt đầu trình diển, bọn mình có mặt đầy đủ phía trước sân khấu, trong lòng vừa hăng hái vừa hơi lo…(hồi xưa đi xem văn nghệ ngoài trời ở Hà Tiên thì phải đứng trước sân khấu thôi chớ không có xếp ghế ngồi như trong rạp hát…). Chương trình tiến hành được một lúc, cả bọn di chuyển đến bên hông sân khấu và Hưởng đề nghị với người lính phụ trách điều khiển chương trình là lên ca giúp vui một bài…Bây giờ nghĩ lại không biết tại sao mà hồi đó người ta cũng quá dể dải chấp thuận cho Hưởng lên ca liền,…(đúng là chiến tranh tâm lý…). Lập tức Hưởng leo lên sân khấu cầm lấy micro, mình cũng leo tiếp ngay sau đó xin « mượn » cây đàn điện của anh lính nhạc sĩ, rồi đang loay hoay máng dây treo đàn vào cổ thì nhìn lại sau lưng mình đã thấy Nguyễn Anh Tài (Tài bưu điện học lớp mình chuyên phụ trách dàn trống…) đã ngồi vào dàn trống…Tóm lại là chỉ trong vòng 30 giây đồng hồ mà các bạn trẻ Hà Tiên đã chiếm hết các nhạc cụ của ban nhạc Tiểu Đoàn 40 chiến tranh chánh trị…Sau đó người ta giới thiệu tên Song Nguyên, một ca sĩ địa phương sẽ trình bày nhạc phẩm « Nhớ Người Viễn Xứ »…..Đây là bài ruột của Lê Công Hưởng « Dựa đồi thông riêng ai một bóng,… »…Sau khi hát xong, khán giả Hà Tiên vổ tay nhiệt liệt vì thấy ca sĩ địa phương của mình cũng không thua ai,….!!!

Ngay trước mặt hông của bót Cảnh Sát nầy (khu chợ cá Hà Tiên ngày xưa), chỗ có bản đồ đó là nơi ngày xưa có Tiểu Đoàn 40 Chiến Tranh Chánh Trị đến dựng sân khấu trình diễn văn nghệ. Hình: Truman Library do Arthur Z. Gardiner Papers sưu tầm 1961

Trong suốt những năm trung học, mỗi buổi chiều nào mình cũng thường đi chơi với Nguyên, Hưởng..Đến tối khuya sửa soạn chia tay ai về nhà nấy, thường là cả ba đưa Nguyên về tới đầu đường Đống Đa trước, sau đó chia tay với Hưởng để ra về, nhưng khổ nỗi là Hưởng thường lấy một chiếc dép của mình và không chịu trả cho mình mang dép về,…Không có dép thì đâu có về được nên mình phải năn nỉ rất lâu Hưởng mới chịu trả dép,…nhưng chứng nào vẫn tật nấy, sau khi được dép mang vào chân chắc chắn xong, thì mình lại chưa chịu về, chạy ra đứng xa xa bắt đầu chọc ghẹo Hưởng…khiêu khích kêu Hưởng lại đây lấy dép,…nhưng chỉ dám đứng xa xa thôi chớ không dám cho Hưởng lấy được dép một lần nữa, nếu không sẽ không về nhà được…

Suốt những năm trung học trôi qua, thắm thoát đến cuối năm lớp Đệ Nhị (lúc đó mình Đệ Tam), các bạn lớp anh Dõng, Hưởng khăn gói đi Long Xuyên thi Tú Tài một,…Anh nào thi đậu thì tiếp tục qua Rạch Giá hay lên Sài Gòn học tiếp, anh nào không may thì ngưng lại và chuẩn bị chờ nhập ngủ với chức vụ khi ra trường là Trung Sĩ,…Hưởng ở trong trường hợp nầy,…sau đó Hưởng chọn quân chủng « Quân cảnh », Hưởng phục vụ tại Cần Thơ. Đến năm mình sang Rách Giá học lớp Đệ Nhất, ở trọ nhà người quen phía sau rạp chiếu bóng Châu Văn. Có lúc Hưởng lái xe jeep về Rach Giá đi công tác và Hưởng ghé lại nhà trọ để thăm mình, Hưởng đậu xe jeep có uy hiệu Quân Cảnh trước nhà, lúc đó chủ nhà trọ có người cháu đi lính Thiết Giáp trốn đơn vị về thăm nhà, anh tên Long, anh Long kể là khi anh vừa đi chơi về tới nhà, mới tới đầu hẻm sắp sửa quẹo vô nhà, anh thấy chiếc xe jeep của Quân Cảnh, anh Long hoảng hồn quay gót trở lại đi tuốt luốt vì tưởng là Quân Cảnh kiếm anh bắt về tội trốn đơn vị về nhà,…sau nầy kể lại cho anh nghe đó là xe jeep của bạn đến thăm mình làm anh tức cười. Chưa hết chuyện, rồi lúc đó Hưởng rủ mình lên xe jeep Hưởng chở đi vài vòng Rạch Giá chơi, mình ngồi với Hưởng phía trước, Hưởng lái xe…chạy một lúc sao thấy ai cũng nhìn mình cả,…sao lạ thế, suy nghĩ ra thì mới hiểu là người ta tưởng mình bị lính Quân Cảnh bắt lên xe chạy về đồn…(vì thời đó xe Quân Cảnh thường đi rảo bắt thanh niên trốn lính hay học sinh tóc dài,…)..Nghĩ ra nguyên cớ tại sao mình bị người ta nhìn nên mình sửa kiểu ngồi lại, gát tay gát chân làm ra vẻ là bạn của Quân Cảnh chớ không phải người bị bắt lên xe chở đi,….

Chưa hết chuyện về Lê Công Hưởng, sau đó mình lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm, anh Dõng vào học Cao Đẳng Nông Nghiệp trước đó một năm, hai anh em ở chung một nhà trọ trong một con hẻm gần chổ đóng quân của Hưởng. Lúc đó Hưởng vẫn còn làm Quân Cảnh ở Cần Thơ, bạn bè gặp lại mừng quá và tối nào Hưởng cũng về ngủ tại nhà trọ của mình. Nhờ có Hưởng ngủ trong nhà, thường là máng cái nón sắc có Uy Hiệu Quân Cảnh lên tường nhà, nên thỉnh thoảng cũng có vụ lính xét nhà ban đêm, (thời đó thường có lính Quân Cảnh xét nhà ban đêm xem có ai lạ mặt ở không khai báo,…), khi lính vào nhà xét mới thấy nón Quân Cảnh thì thôi, bỏ qua không xét nữa…

Còn một chuyện nữa mới hết, có một chiến dịch hành quân qua đất Kampuchia (bây giờ là Cambodge) do Tướng Ngô Quang Trưởng lảnh đạo, Lê Công Hưởng được phái theo phái đoàn bảo vệ ông Tướng. Hình như là hết mấy tháng mới xong, sau đó Hưởng trở lại đơn vị cũ ở Cần Thơ được lảnh tiền thưởng rất nhiều số tiền là 60.000 đồng (so với lương giáo sư thời đó là khoảng 12.000 đồng/tháng..). Ngày Hưởng lảnh xong tiền, lúc về nhà trọ của mình, Hưởng không nói tiếng nào, thấy có vẻ rất lạ,…Hưởng cứ tới cái bàn rồi móc túi lấy tờ giấy 500 đồng ra để xuống bàn, tới cái ghế cũng móc thêm tờ 500 đồng khác để xuống ghế, cứ thế mà phủ hết bàn, ghế, giường ngủ trong nhà đầy giấy 500 đồng cả,…!! Mình và anh Dõng không hiểu gì cả, sau đó mới biết là Hưởng lảnh được tiền thưởng cho chiến dịch đi Kampuchia…rồi sau đó cả bọn ra ngoài quán Hưởng khao cho một chầu…Vài ngày sau nhân dịp về nghỉ hè và được phép, Hưởng và mình cùng mua vé xe về thăm nhà Hà Tiên. Tới bến xe mới Cẩn Thơ, mua vé xong xuôi, lên xe ngồi, mình ngồi kế Hưởng, ngoài ra còn một ghế trống Hưởng để cái giỏ xách rất nặng vì bên trong chứa nhiều chai rượu Tây quý và đắt tiền Hưởng đã mua trước để đem về cho Ba Hưởng. Có một ông khách muốn ngồi trên ghế có giỏ xách của Hưởng, Hưởng nói ghế nầy tôi đã mua vé rồi,….té ra là vì Hưởng sợ xe chạy dằn bể mấy chai rượu quý đắt tiền nên mua thêm một vé cho chiếc ghế trống để giỏ xách chứa rượu cho êm…

Đến những ngày sau ngày 30/04/1975, lính tráng bắt đầu trở về địa phương sau khi  tan hàng rả ngũ cả mà sao không thấy Hưởng về nhà,…Về sau lâu lắm mới biết Lê Công Hưởng đã hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến,…Không ai biết rỏ tin tức cụ thể ra sao,…Nghe kể lại là sau nầy Ba Má Hưởng có lên đến tận chổ để tìm hài cốt, nhờ nhìn ra chiếc răng khểnh mới biết chắc là con mình…Hiện nay bạn Lê Công Hưởng có hình thờ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên,..Mình viết những dòng nầy để tưởng nhớ người bạn đã một thời chia sẻ cùng nhau từng nốt nhạc, từng lời ca, từng ly cà phê và từng nỗi vui buồn trong thời đi học cũng như thòi gian ra đời làm lính …Cầu mong bạn Lê Công Hưởng yên nghỉ bình an nơi cỏi vĩnh hằng…….

TranVanManh_Hippy4LeCongHuong_1972

 

Lê Công Hưởng và Trần Văn Mãnh                                                              Lê Công Hưởng thời học sinh

LeCongHuong_aLê Công Hưởng thời đi học Trung Học Hà Tiên

LeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_ManhLeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_Dong_b

Lưu bút của Lê Công Hưởng sau những tấm ảnh đề tặng bạn

Le_Cong_Huong_QuanCanhLê Công Hưởng khi còn ở Quân Trường Chi Lăng (Châu Đốc)

Lê Công Hưởng trong bộ áo Quân Cảnh (Vũng Tàu)

Lưu bút của Lê Công Hưởng đề tặng mặt sau hình

Le_Cong_HuongLê Công Hưởng trong bộ áo Quân cảnh

TranVanDong_LeCongHuong_QuanCanh LeCongHuong_Viet_Tang_Hinh_Dong

Trần Văn Dõng và Lê Công Hưởng    Chữ viết của Lê Công Hưởng tặng hình Dõng

LeCongHuong_Ve_TranvanManhLê Công Hưởng vẻ hình Trần Văn Mãnh (vẻ xong ngày 09/06/1972)

LeCongHuong_Ve_TranVanDongLê Công Hưởng vẻ hình Trần Văn Dõng

LeCongHuong_ChuaTamBaoHình Lê Công Hưởng thờ tại Chùa Tam Bảo Hà Tiên

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng

Chơi văn nghệ thời học sinh (Trần Văn Mãnh)

Các bạn thân mến, mình còn nhớ lúc học lớp Đệ Thất (1964), vào khoảng cuối năm, thường có tổ chức tập dợt văn nghệ đàn ca,…lúc đó mình chưa biết chơi đàn, khi thấy các bạn cùng lớp nhất là bạn Lý Cui (lúc đó làm trưởng lớp) đem đàn guita vào lớp và đệm nhạc cho các bạn hát rất là hay. Lại có bạn Nguyễn Văn Tài (thường gọi một cách thân mật là « Tài lùn »)…đem cây đàn nhỏ xíu, đó là cây đàn Mandoline, bạn Tài đàn bài « Nỗi Buồn Gác Trọ » của Mạnh Phát & Hoài Linh rất lưu loát làm mình rất khâm phục,…Từ lúc đó khi về nhà mình nhớ ở nhà mình có cây đàn Mandoline của người chị thường chơi lúc trước, sau đó thì đã đem cất vào tủ lớn, mình liền hỏi mẹ mình lấy ra cho mình bắt đầu tập đàn chơi,…Vậy cho đến một thời gian sau, mình đàn nghe cũng được lắm, bắt đầu đọc sách về Nhạc Lý và mua những bản nhạc có nốt về tập đàn…

Sau những tháng hè qua, mình thấy các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Tống Châu Thành (học trên mình một lớp) đàn guita rất điêu luyện và rất hay, mình rất thích và bắt đầu chuyển qua học đàn guitar. Đàn Mandoline và đàn guitar rất khác nhau, đàn Mandoline thì chỉ cần tập đàn cho nhanh, trúng nốt, tay phải sử dụng miếng médiator, tay trái chỉ bấm từng nốt nhạc, còn đàn guitar thì phức tạp hơn nhiều, tay phải có khi đánh từng nốt, có khi phải đánh cả nhiều dây một lúc để đi họp âm, còn tay trái thì chẳng những phải bấm nốt mà thường thì phải bấm cả họp âm nhiều ngón tay cùng một lúc,…Bạn Lý Cui chỉ vẻ cho mình, lúc đó mình chưa hiểu nhiều cho lắm, nào là La thứ, Do trưởng, nào là Boléro, Rumba, Slow Rock,…Vậy mà thời đó cứ theo nhóm bạn học hỏi thì lại thành công rất nhanh chóng,..Bắt đầu vào lớp Đệ Lục năm sau (1965) thì tay nghề đàn của mình cũng kha khá, đã bỏ hẳn đàn Mandoline và chuyên chơi đàn guitar, thường tụ tập ở các nhà bạn (Lý Mạnh Thương, Lý Văn Tấn, Lý Cui…để chơi đàn tập thể rất vui.

Tại nhà bạn Lý Văn Tấn (đường Mạc Thiên Tích), bạn Lý Cui đang đệm đàn cho bạn Lý Văn Tịnh hát bài

Tại nhà bạn Lý Văn Tấn (đường Mạc Thiên Tích), bạn Lý Cui đang đệm đàn cho bạn Lý Văn Tịnh hát bài « Giữa Lòng Đất Mẹ »

Lê Công Hưởng (lúc đó là trường ban nhạc

Lê Công Hưởng (lúc đó là trường ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » và Trần văn Mãnh đang tạo dáng…

Nhóm bạn chơi guitar sau lúc dợt nhạc Trần văn Yến, Lý Văn Tịnh, Lý Cui và Trần Văn Mãnh (cầm đàn)

Nhóm bạn chơi guitar sau lúc dợt nhạc Trần văn Yến, Lý Văn Tịnh, Lý Cui và Trần Văn Mãnh (cầm đàn)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh