Hà Tiên qua các phong bì bưu chính

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi người Pháp chiếm toàn bộ các tỉnh miền đông và miền tây của phía nam nước ta, bộ máy hành chánh Pháp bắt đầu phát triển về phương diện giao dịch thư từ. các văn phòng bưu điện lần lượt được mở ra tại nhiều địa phương, lúc đầu chủ yếu phục vụ sự chuyển thư từ trong giới nhà binh của Pháp.  Sau đây là một vài chi tiết về ngày tháng ra đời của các văn phòng bưu điện ở các tỉnh thành miền đông, tây Cochinchine (lúc đó gọi la Nam Ký):

Sài Gòn: văn phòng bưu điện được mở ra ngày 01/01/1863
Bà Rịa, Trảng Bàng, Tây Ninh, Biên Hòa, Gò Công, Mỹ Tho: 15/07/1863
Chợ Lớn: 1864
Tân An: 01/03/1866
Sa Đéc: 05/07/1867
Thủ Dầu Một: 15/07/1867
Châu Đốc: 1867
Trà Vinh: 21/02/1868
Vĩnh Long: 01/01/1869
Mỏ Cày: 1869, đến tháng 09/1871 thì đóng cửa nhập vào bưu điện Bến Tre, đến năm 1878 thì mở cửa lại ở Mỏ Cày.
Bến Tre: 09/1871
Vũng Tàu: giữa 1868 và 1871
Rạch Giá: 1873
Long Xuyên: 1874
Sóc Trăng: 21/05/1875
Trà Ôn: 1875, đến năm 1877 thì đóng cửa và nhập vào bưu điện Cần Thơ (văn phòng ở Cần Thơ được mở ra năm 1877).
Poulo-Condore (Đảo Côn Sơn): 23/02/1882 lúc đầu chỉ là văn phòng điện tín.

Hà Tiên: Trước hết có một văn phòng điện tín mở ra ở Hà Tiên khoảng năm 1870, sau đó ngày 25/03/1873 văn phòng bưu điện được mở ra.

Đến năm 1882 các văn phòng bưu điện nầy được nhập vào với các văn phòng máy đánh điện tín và làm việc hành chánh chung về lảnh vực thư từ và điện tín. Trước đó các văn phòng bưu điện nầy phục vụ việc lưu chuyển thư từ trong giới nhà binh, để giúp cho những viên lính Pháp xa nhà gửi thư từ về nước với giá rẻ, có khi miển phí, dấu đóng trên các phong bì thư nầy thay thế cho việc dán con tem thư, ngay cả khi có dán tem thư thì người ta cũng dùng các con dấu trong nhà binh nầy để đóng dấu thư. Việc đóng dấu trên phong thư là để xác đinh ngày tháng năm gởi thư, vì thế các con dấu dùng trong giới nhà binh nầy được gọi là các « tem thư ngày nhà binh » (Les cachets à date de correspondances d’armée).

Một con « tem thư ngày » dùng trong nhà binh của Pháp của văn phòng bưu điện Hà Tiên, trên tem thư nầy có ghi: CORR. D. ARMEES (Correspondance d’Armées = Thư tín Quân Đội), tháng hai năm 1876, phía dưới là hai chữ HATIEN. (Hình: Florent Tricot)

Một « tem thư ngày » khác của văn phòng bưu điện Sài Gòn, xưa hơn, dấu ghi ngày 27 tháng 5 năm 1863. (Hình: Florent Tricot)

Sau đây là một số phong bì do người Pháp và người Việt Nam liên lạc với nhau qua hệ thống văn phòng bưu điện Hà Tiên:

A/ Năm 1900:

1a/ Phong bì một lá thư gởi ông Hộ Hoạch, ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Ngày tháng đóng dấu trên phong bì là: 17/06/1900. Dấu đóng trên con tem màu xanh phía trên là văn phòng khởi hành của phong thư, tại Sài Gòn (Saigon Port Cochinchine = Cảng Sài Gòn Nam Kỳ). dấu đóng trên hai con tem phía dưới là văn phòng đến, Hà Tiên (Hatien Cochichine = Hà Tiên Nam Kỳ), không thấy rỏ ngày đến. Trên phong bì còn có ghi câu « Art. 9 de la loi du 29 juin 1856 » bằng màu đỏ, tức là « Điều 9 của luật ngày 29 tháng 6 năm 1856« . (Hình: La Gazette Drouot)

Chú ý: Vào thời nầy tên Mỹ Đức chỉ làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành, là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên, ngày nay đổi tên là phường Đông Hồ, không phải phường Mỹ Đức ngoài Thach Động hiện nay.

1b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Hà Tiên Cochinchine (Nam Kỳ) ngày 21/06/1900 (21/juin/1900). (Hình: La Gazette Drouot)

B/ Năm 1903:

2a/ Phong bì để tang có viền đen (có lẽ để báo tin người mất) từ Hà Tiên gởi cho ông Folly, địa chỉ số 24, đường Daniel, Asnières, Seine, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 24 tháng chín năm 1903. (Hình: La Gazette Drouot)

2b/ Bìa sau của phong bì để tang trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Seine, nước Pháp ngày 30/10/1903. (Hình: La Gazette Drouot)

C/ Năm 1911:

3a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông Max Mautelin, sinh viên Nghệ thuật thương mại (étudiant ès-arts Commerciaux), địa chỉ số 5, đường Sala, Lyon, Rhône, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 28 tháng 2 năm 1911. Trên góc trái của phong bì còn có chữ in: Indochine Française, Province de Hatien (Đông Dương Pháp, tỉnh Hà Tiên).

3b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Rhône, nước Pháp ngày 01/04/1911.

D/ Năm 1932:

4a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho nhà L’Illustration, địa chỉ số 13 đường Saint Georges, Paris, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 1 tháng 2 năm 1932. Phía trên góc trái có đề hàng chữ Par Avion Saigon Marseille = Bằng đường máy bay Sài Gòn Marseille. (Hình: Delcampe)

4b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư đến Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam kỳ ngày 2/2/1932 (Saigon Central Cochinchine) và đến văn phòng Paris, quận 9 đường Hyppolyte Lebas ngày 16/2/1932 (Paris IX Rue Hyppolyte Lebas). (Hình: Delcampe)

E/ Năm 1946:

5a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm hình Block và Lux (Central Photo Block et Lux), địa chỉ số 5, đường Merrcière, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 9 tháng 7 năm 1946. Phía trên cao có đề tên người gởi: exp: Quach Ngoc Ba Hatien (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, Hà Tiên). Bên trái có dâu hiệu thư gởi theo đuòng máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). (Hình: Delcampe)

F/ Năm 1947:

6a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 15 tháng 3 năm 1947. Trên góc phải của phong bì có hai chữ -FM- = Franchise Militaire (có nghĩa là « nhượng quyền nhà binh » tức là thư nầy trong giới nhà binh, được miển cước phí). Bên dưới góc trái có dề tên người gởi thư: Garde Janton André, 1ère Légion de Garde Républicaine de Marche, Brigade d’Hatien par BPM 405 T-O-E Indochine (Quân đoàn 1 của Vệ binh Cộng hòa Marche, Lữ đoàn Hà Tiên của BPM 405 T-O-E Đông Dương). Ba chữ T.O.E = Théâtre des Opérations Extérieures (Nơi những chiến dịch bên ngoài). BPM 405 = Bureaux Postaux militaires (Bưu điện nhà binh), số 405 là số của văn phòng bưu điện nhà binh thuộc Saigon. Bên phải phía trên có dấu hiệu Par Avion tức là thư nầy được chuyển đi bằng đường máy bay. (Hình: Delcampe)

6b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy có sự kiểm tra của cơ quan SAX (CENSURE SAX 2 ). (Hình: Delcampe)

7a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 2 tháng 5 năm 1947. Các chi tiết người nhận và người gởi cũng y như trường hợp trên (4a). (Hình: Delcampe)

G/ Năm 1951:

8a/ Đây là một trường họp phong bì có tên hiệu riêng của người gởi: Hatien-Photo, Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm xuất cảng hình (Central Photo Export), địa chỉ số 6, đường Ch. Schmidt, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 26 tháng 5 năm 1951. Phía trên cao bên trái có đề tên người gởi: Quach Ngoc Ba, Place du Marrché, Hà Tiên (Sud-Viêtnam (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, công trường chợ, Hà Tiên, miền nam Việt Nam). Phía dưới phải có dấu hiệu thư gởi theo đường máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). Dấu đóng trên bìa thư không còn là Hatien Cochinchine mà ghi là Hatien Sud Vietnam. (Hình: Delcampe)

H/ Năm 1958:

9a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho bà Võ Thành Đức, nhũ danh Ong Thị bạch Vân, địa chỉ Nha Thanh Tra Trung Ương Dân Vệ, số 163 đại lộ Chi Lăng, Saigon. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên (Hatien Viet-Nam) ngày 29 tháng 3 năm 1958. PHía trên góc phải có đề chữ: Dán tem phía sau. Góc dưới bên trái là tên người gởi: Trung Úy Võ Thành Đức, bưu tín lưu trử Hà Tiên.

9b/ Bìa sau của phong bì trên, có dán tem giá 2 đ như đã viết ở mặt trước, dấu đóng trên con tem cho thấy thư đến Sài Gòn ngày 9 tháng 4 năm 1958. (Saigon Viet-Nam)

I/ Năm 1964:

Ngoài các phong bì mà nơi xuất phát thư đi hay thư đến có liên hệ đến người gởi hoặc người nhận là người Hà Tiên, Hà Tiên còn được nhắc đến qua lần xuất bản đầu tiên con tem về Hòn Phụ Tử, con tem được phát hành ngày đâu tiên 7 tháng 9 năm 1964.

10a/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 Premier Jour d’Emission First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi cho địa chỉ Alhambra Club, Apartado 109, Granada, Espana. (Câu lạc bộ Alhambra, căn số 109, Granada, Tây Ban Nha).

10b/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi về địa phương Stanford-le-Hope, hạt Essex, England (nước Anh)

Chú thích: Mời xem thêm bài có giới thiệu rất nhiều phong bì kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử ngày 7-9-1964.

« Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên) »

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 27/02/2020

 

 

Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay mình sẽ kể một câu chuyện vui:  Đầu tiên thì một bên đã định cư ở nước Pháp nầy từ những năm đầu của thập niên 80, còn một bên thì định cư ở Pháp vào những năm giữa thập niên 80…cùng ở ngoại ô thủ đô Paris mà rốt cuộc không hay biết gì cả…Mấy chục năm trôi qua, nhờ vừa rồi có bài vở, hình ảnh và clip nói về cuộc họp mặt của Hội Đồng Hương Hà Tiên, người nầy nhìn ra người kia,…thật là hay và rất quý. Số là vì mình có giới thiệu cho quý hội viên đồng hương Hà Tiên xem bài vở và hình ảnh trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của mình, rốt cuộc có người chị ở Hà Tiên ngày xưa nhìn ra hình mình và đã liên lạc được với nhau. Đó là chị Tô Thanh Phượng, chị Phượng là chị của bạn Tô Vĩnh Tuấn, bạn Tô Vĩnh Tuấn là bạn học cùng lớp các các bạn « Đệ Tứ Quốc Tế »: Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trang Lệ Thủy,….và còn nhiều bạn khác nữa…Ngày xưa nhà của chị Phương và Tuấn ở đường bến Trần Hầu, nhìn ra Đài Kỷ Niệm, gần quán nhà của Nguyễn Thúy Vân đó…Má của chị Phượng và Tuấn là cô Loan, ngày xưa thường hay giữ tiệm thuốc tây Thanh Bình, bạn nào ngày xưa có mua thuốc tây ở tiệm Thanh Bình thì sẽ nhớ rỏ. Ngày xưa tuy mình và Tô Vĩnh Tuấn học khác lớp (hai người học cách nhau một lớp) nhưng cũng có một thời gian mình và Tuấn cũng thường đi chơi với nhau. Chị Tô Thanh Phượng thì thuộc thế hệ đàn chị của Trung Học Hà Tiên, chị học trên mình rất nhiều lớp, chị Phượng học ở Trung Học Hà Tiên vài năm rồi sau đó chị lên Sài Gòn tiếp tục học và sau đó về sinh sống với gia đình ở Long Xuyên.

Khi đã liên lạc được với nhau rồi, chị có nhã ý mời mình và Ngọc Tiếng đến nhà chị chơi, chị khao cho một bữa cơm có rất nhiều món ăn độc đáo đầy hương vị quê hương Hà Tiên: canh nấm tràm, mấm chưng, ăn tráng miệng thì có món « xôi nước » và các loại trái cây,…Tất cả đều do chính tay chị làm nấu nướng ra, nguyên liệu nấm tràm và mấm thì chính gốc ở Việt Nam (Hà Tiên) đem qua…Bữa ăn rất ngon, hòa lẫn với niềm vui được gặp lại người đồng hương, đồng trường nên mọi người rất vui vẻ, rất mến nhau, cùng nhắc lại chuyện ngày xưa và những người quen biết ở Hà Tiên. Qua bài viết nầy mình xin gởi đến chị Tô Thanh Phượng lời cám ơn và lòng cảm kích sự tiếp đón thân tình của chị và công khó của chị đã bỏ thời giờ chuẩn bị các món ăn ngon.

Vì mình vốn là « con mọt » hình ảnh Hà Tiên xưa nên cũng không quên hỏi thăm chị xem chị có còn giữ một số hình ảnh ngày xưa, thời đi học hay không…Chị vui vẻ mở ra xem vài tập hình ảnh cũ và cuối cùng mình cũng được phép chị chia sẻ vài hình ảnh để thầy cô và các bạn xem lại để nhớ thầy cô và bạn xưa.

Chị Tô Thanh Phượng

Ngoài ra chị Tô Thanh Phượng còn có vài tấm hình thầy cô thời Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên như sau đây:

H1: Bức hình xưa chụp trước ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đường Mạc Công Du, thầy đứng giữa hình là thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, từ trái qua phải: chị Nguyệt (con của thầy Trịnh Học Ký, em của các anh Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng), kế là chị Lâm Xuân Hương (chị Chín Hương chị của chị Lâm Xuân Cúc), thứ nhì bìa bên phải là chị Tô Thanh Phượng. Còn các vị thầy và học trò khác thì không nhìn ra.

H2: Bức hình nầy hình như chụp ở Đài Kỹ Niệm Hà Tiên, phía sau là chiếc tàu của Quan Thuế Hà Tiên, xa xa là Pháo Đài. Bìa phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy Lý Hóa Trung Học Hà Tiên xưa), cô mang kiếng đen quần áo trắng là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa), đứng bìa trái là anh Đỗ Thành Tâm.

H3: Hình như bức hình chụp ở bãi Mũi Nai Hà Tiên, cô trong hình hình như là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

H4: Hình thầy cô và học sinh đi chơi bãi biển Hà Tiên, người mặc áo đen có thể là thầy Bùi Hữu Trí (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm..Trần Văn Mãnh, chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (07/2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm.. chị Tô Thanh Phượng và Trần Văn Mãnh (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)